Trong những năm gần đây, trước sự biến động phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực, trước yêu cầu đổi mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, công tác GDQP AN cho học sinh, sinh viên được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị định về GDQP AN. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam tiếp tục khẳng định:“Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp” 22, tr.123 cho học sinh, sinh viên.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC MÔN QUÂN SỰ CHUNG Ở TRUNG
1.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Quân sự chung ở
1.3 Những yếu tố tác động đến quản lý hoạt động dạy học môn
Quân sự chung ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng- An
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC MÔN QUÂN SỰ CHUNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH, ĐẠI
2.1 Một số nét về Trung tâm Giáo dục quốc phòng- An ninh,
2.2 Thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy
học môn Quân sự chung ở Trung tâm Giáo dục quốc
Chương 3 YÊU CẦU, BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC MÔN QUÂN SỰ CHUNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH, ĐẠI
3.1 Yêu cầu quản lý hoạt động dạy học môn Quân sự chung ở
Trung tâm Giáo dục quốc phòng- An ninh, Đại học Quốc
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Quân sự chung
ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng- An ninh, Đại học Quốc
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp 87
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, trước sự biến động phức tạp của tình hìnhquốc tế và khu vực, trước yêu cầu đổi mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc,công tác GDQP - AN cho học sinh, sinh viên được Đảng, Nhà nước đặc biệtquan tâm và đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị định về GDQP - AN Nghị quyếtHội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục Việt Nam tiếp tục khẳng định:“Tăng cường giáo dục
thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp” [22, tr.123] cho
học sinh, sinh viên Những chủ trương, giải pháp, văn bản quy phạm phápluật về quản lý GDQP - AN đã tạo thành cơ sở pháp lý cho công tác GDQP -
AN ở các Trung tâm giáo dục quốc phòng, cũng như mỗi nhà trường trong hệthống giáo dục quốc dân, nhằm góp phần đào tạo con người phát triển toàndiện, giúp cho học sinh, sinh viên hiểu biết một số nội dung cơ bản về QP -AN; truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc, trách nhiệm vànghĩa vụ của công dân với bảo vệ Tổ quốc; nâng cao lòng yêu nước, yêu chủnghĩa xã hội; có ý thức cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thùđịch; có kiến thức cơ bản về đường lối QP - AN và công tác quản lí nhà nước
về QP - AN; có kĩ năng quốc phòng, quân sự, an ninh cần thiết để tham giavào sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dânsẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trung tâm GDQP - AN, Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong nhữngTrung tâm GDQP lớn của cả nước, có nhiệm vụ tổ chức GDQP - AN cho sinhviên các trường đại học thành viên, đào tạo sĩ quan dự bị từ sinh viên và đàotạo giáo viên GDQP - AN cho các trường trung học phổ thông và trung cấpchuyên nghiệp trên địa bàn Thủ đô Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện,trong những năm qua trên cơ sở chương trình, nội dung của Bộ, Trung tâm đãchủ động nghiên cứu, đổi mới nội dung, chương trình GDQP - AN nói chung,
Trang 3môn QSC nói riêng cho phù hợp với nhiệm vụ QP - AN của địa bàn Thủ đô
và khu vực phía Bắc Xuất phát từ tính đặc thù của môn QSC, Trung tâm đãxây dựng được quy trình và môi trường dạy học phù hợp với tính chất, đặcđiểm môn học và tâm lý của sinh viên Trung tâm luôn coi trọng đổi mới tổchức và PPDH, kết hợp chặt chẽ giữa giảng dạy và rèn luyện, giữa học tậpchính khoá với hoạt động ngoại khoá Qua học tập môn QSC, ý thức quốcphòng, tri thức, kỹ năng quân sự của sinh viên được nâng lên; sinh viên đượcrèn luyện về kỷ luật, lễ tiết tác phong, hình thành phẩm chất tốt đẹp của “Bộđội Cụ Hồ”, xác định rõ trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, biết vận dụng những kiến thức đã lĩnh hội được vào cuộcsống học tập, rèn luyện tại trường và công tác sau này
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động dạy học môn QSC ởTrung tâm còn bộc lộ một số hạn chế như: Đội ngũ giảng viên còn thiếu về sốlượng và chất lượng Việc đầu tư, khai thác cơ sở vật chất, phương tiện dạy họccủa môn QSC chưa ngang tầm nhiệm vụ, đặc biệt việc ứng dụng công nghệthông tin trong dạy học chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức Chưa động viênkhuyến khích được giảng viên tích cực đổi mới, nội dung phương pháp giảngdạy bộ môn Bên cạnh đó, thái độ, động cơ học tập môn QSC của một bộ phậnsinh viên chưa tốt, dẫn đến kết quả học tập chưa cao Nguyên nhân dẫn đếnthực trạng trên là do công tác quản lý HĐDH môn QSC có mặt còn hạn chế.Nhận thức về quản lý HĐDH môn QSC ở một bộ phận giảng viên, cán bộ quản
lý giáo dục và sinh viên còn chưa thống nhất Việc quản lý đổi mới nội dung,phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên còn nhiều bất cập, cơ sở vậtchất đảm bảo cho HĐDH môn QSC còn thiếu và chưa ổn đinh Do đó, hiệuquả HĐDH môn QSC ở Trung tâm còn chưa được như mong muốn Vì vậy, đề
tài “Quản lý hoạt động dạy học môn quân sự chung ở Trung tâm giáo dục
quốc phòng - an ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội” có ý nghĩa lý luận, thực tiễn
cấp thiết, được tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu
Trang 42 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Có nhiều công trình nghiên cứu về HĐDH, quản lý HĐDH nói chung
và quản lý hoạt động dạy học GDQP-AN nói riêng, đó là:
Nghiên cứu về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học
Trong hướng nghiên cứu về quản lý HĐDH trong nhà trường hiện naymột số đề tài đã được nghiên cứu như:
Tác giả Nguyễn Văn Châu [13] với đề tài Luận án Tiến sĩ: “Những giải
pháp tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT” đã chỉ ra tương đối toàn diện về quản lý HĐDH của hiệu trưởng ở các
trường THPT Theo tác giả khi nói đến hiệu quả giáo dục là phải nói đến hiệuquả HĐDH và phải nói tới hiệu quả quản lý HĐDH của hiệu trưởng, ngườithuyền trưởng tài năng đảm nhận trọng trách quản lý nhà trường, thực hiệncác mục tiêu giáo dục Do đó, để tăng cường hiệu quả quản lý, hiệu trưởngcần thực hiện đồng bộ các giải pháp như: tăng cường hiệu lực của chế địnhGD&ĐT trong quản lý HĐDH; tạo động lực cho bộ máy tổ chức và nhân lựcdạy học của nhà trường; huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn tài lực
và vật lực dạy học; nâng cao hệ thống thông tin và môi trường Mặc dù cònmột số hạn chế trong luận giải mối quan hệ giữa vai trò của hiệu trưởng vớiquản lý nâng cao chất lượng, hiệu quả HĐDH, các biện pháp đưa ra chưa thực
sự toàn diện và đồng bộ nhưng đề tài đã làm rõ được tính cấp thiết của nộidung nghiên cứu, làm cơ sở, tiền đề định hướng, thúc đẩy các nghiên cứu tiếptheo toàn diện và thiết thực hơn
Tác giả Nguyễn Thế Bình [4] trong đề tài luận văn QLGD: “Các giải
pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục các trường THPT vùng khó khăn ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái” cho rằng: Giáo
dục THPT có nhiệm vụ cung cấp kiến thức, phát triển và hoàn thiện nhâncách, chuẩn bị một cách tốt nhất cho thế hệ trẻ có đủ bản lĩnh, năng lực và thểchất sẵn sàng tham gia vào các lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế - xã hội
Trang 5Đặc biệt với huyện nghèo và còn nhiều khó khăn như huyện Lục Yên, tỉnhYên Bái đa phần HS là con em đồng bào các dân tộc thiểu số thì trườngTHPT là nơi tạo nguồn cán bộ, chuẩn bị cho các em những kiến thức cơ bản,bản lĩnh, năng lực, thể chất để các em sẵn sàng tham gia hoạt động xã hộihoặc học cao hơn để phục vụ dân tộc mình, góp phần xây dựng quê hương đấtnước Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đã chỉ ra các biện pháp: quản lýhoạt động dạy của giảng viên; quản lý hoạt động học của HS; Công tác kiểmtra, đánh giá và thi đua khen thưởng; Tạo điều kiện thuận lợi cho HĐDH;Nâng cao năng lực của chủ thể quản lý.
Tác giả Nguyễn Chí Thanh [45] với đề tài luận văn QLGD: “Biện pháp
quản lý hoạt động dạy học của trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn” đã nghiên cứu và đề xuất một hệ thống biện pháp quản
lý việc tổ chức HĐDH Từ việc phân tích thực trạng, tác giả đã chỉ ra nhữngnguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng của các trung tâm giáo dục thườngxuyên cấp THPT Trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, tác giả đã đề xuất cácbiện pháp tương đối phù hợp và khả thi như: Chỉ đạo xây dựng nề nếp dạyhọc; Chỉ đạo đổi mới cải tiến PPDH; Tăng cường kiểm tra hoạt động chuyênmôn của giảng viên; Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao trình độ;Tăng cường quản lý phương tiện, kĩ thuật hỗ trợ cho HĐDH; Chú trọng phân loại
HS để có phương pháp giảng dạy sát với đối tượng; Tăng cường tính kháchquan, đổi mới kiểm đánh giá kết quả học tập của HS
Tác giả Nguyễn Đức Hiền [31] với công trình “Biện pháp quản lý học
tập của sinh viên các lớp liên kết đào tạo hệ không chính quy ở trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định”, đã xác định một số biện pháp quản lý
học tập của sinh viên hệ không chính quy để nâng cao chất lượng đào tạo,nghĩa là đồng thời vừa để đảm bảo việc thực hiện quy chế đào tạo, vừa tạođiều kiện thuận lợi cho người học tức là vừa phù hợp với yêu cầu của chươngtrình đào tạo và vừa phù hợp với đặc thù của đối tượng người học;
Trang 6Ngoài ra, còn có các công trình của các tác giả: Lại Thanh Tú “Quản
lý QTDH lý luận chính trị tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị quận Hà Đông, thành phố Hà Nội”, luận văn QLGD năm 2013; Nguyễn Phong Tân
“Quản lý quá trình dạy học ở Trường Trung cấp Công thương Hà Nội hiện nay”, luận văn QLGD năm 2014; Phùng Ngọc Thưởng “Quản lí quá trình dạy học ở các trường trung học phổ thông huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc”, luận văn QLGD năm 2014 Các đề tài trên đã làm rõ hơn cơ sở lý luận
về quản lý HĐDH nói chung và quản lý HĐDH các môn học nói riêng, đặcbiệt các công trình chỉ ra được đặc điểm HĐDH phù hợp với điều kiện thực tế
ở từng cơ sở đào tạo, đồng thời đánh giá thực trạng quản lý HĐDH, làm rõnguyên nhân của thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý quan trọngnhằm nâng cao hiệu quả quản lý HĐDH, các giải pháp mà các tác giả quantâm thực hiện như: Xây dựng kế hoạch; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụcho đội ngũ giảng viên, tổ chức chỉ đạo chặt chẽ các khâu các bước củaQTDH và đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả dạy học
Nghiên cứu về hoạt động dạy học GDQP-AN và quản lý hoạt động dạy học GDQP-AN
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài biết về công tác giáo dục, quản
lý hoạt động giáo dục quốc phòng - an ninh cho các đối tượng, dưới các góc
độ, khía cạnh khác nhau:
Bàn về vai trò của hoạt động giáo dục quốc phòng - an ninh trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, giáo dục ý thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, học sinh, sinh viên các trường Đảng, trường đại học, cao đẳng và trung học nói riêng Tiêu biểu là các công trình của các tác giả: Nguyễn Thị
Doan, “Trường đại học với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng”, Tạp chí Quốcphòng toàn dân, 12/1998 Nguyễn Nghĩa, “Một số vấn đề nâng cao chất lượnggiáo dục quốc phòng cho cán bộ, học sinh, sinh viên”, Tạp chí Khoa học quân
sự, số 11/2000 Vương Đình Huệ, “Trường Đại học Tài chính - Kế toán HàNội nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng toàn dân trong thời kỳ mới”,
Trang 7Tạp chí giáo dục quốc phòng toàn dân 4/2000 Phan Ngọc Liên, “Giáo dụcquốc phòng cho thế hệ trẻ trong các nhà trường - những vấn đề cần lưu tâm”.
Lê Doãn Thuật, “Giáo dục quốc phòng trong các trường Đại học và cao đẳng
- bốn vấn đề bức xúc cần tháo gỡ từ cơ sở, Tạp chí Quốc phòng toàn dân,12/2002 Nguyễn Trường Vỹ “Trung tâm giáo dục quốc phòng, Đại học Quốcgia thành phố Hồ Chí Minh - 5 năm xây dựng và phát triển”, Tạp chí Quốcphòng toàn dân, số 4/2002 Hội đồng Giáo dục Trung ương, Kỷ yếu Hội nghị
sơ kết 5 năm thực hiện Nghị định 15/2001/NĐ-CP về giáo dục quốc phòng(2000-2005), tháng 12/2005
Nghiên cứu về vấn đề việc đổi mới nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp dạy học giáo dục quốc phòng - an ninh có các công trình tiêu biểu như:
Công trình “Đổi mới giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia”,Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 2007 và công trình “Đổi mới nângcao chất lượng giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia hiệnnay” của Lê Minh Vụ Tác giả Vũ Quang Lộc với công trình “Tư duy mới vềbảo vệ Tổ quốc và yêu cầu đổi mới giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáodục quốc gia hiện nay”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 2006 Bàn
về tính tất yếu của đổi mới giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốcgia hiện nay của Nguyễn Bá Dương “Vị trí, vai trò và ý nghĩa của đổi mớigiáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia đối với sự nghiệp bảo
vệ Tổ quốc hiện nay” của Vũ Quang Đạo “Đổi mới chương trình, nội dung
và phương pháp giáo dục quốc phòng hiện nay” của Trần Đình Đích “Thựctrạng và giải pháp đổi mới giáo dục quốc phòng trong các trường đại học, caođẳng” của Hà Văn Công “Giải pháp đổi mới giáo dục quốc phòng cho sinhviên hiện nay” của Lê Ngọc Cường “Đổi mới nâng cao chất lượng giáo dụcquốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia” của Phạm Xuân Hảo “Giáodục quốc phòng cho các lớp cử nhân chính trị trong hệ thống Học viện Chínhtrị quốc gia Hồ Chí Minh” của Nguyễn Văn Cần “Xây dựng đội ngũ giáoviên giảng dạy giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc gia - một
Trang 8vấn đề cấp thiết hiện nay” của Nguyễn Văn Thế “Những yêu cầu cơ bản vềđổi mới mục tiêu giáo dục quốc phòng cho cán bộ, học sinh, sinh viên trong
hệ thống giáo dục quốc gia” của Vũ Đức Huấn “Quán triệt quan điểm đồng
bộ, hệ thống trong đổi mới giáo dục quốc phòng cho cán bộ, học sinh, sinhviên ở nước ta hiện nay” của Đỗ Minh Châu “Trung tâm giáo dục quốcphòng - an ninh với việc đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp giáo dụcquốc phòng cho học sinh, sinh viên” của Lê Văn Nghệ “Nhóm giải pháp đổimới, nâng cao chất lượng công tác tổ chức giáo dục quốc phòng cho cán bộ,học sinh, sinh viên hiện nay” của Nguyễn Trọng Xuân
Nghiên cứu về đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả môn giáo dục quốc phòng, an ninh có các công trình tiêu biểu như: Công trình “Những căn cứ để
đánh giá chất lượng, hiệu quả đổi mới giáo dục quốc phòng trong hệ thốnggiáo dục quốc gia thời gian qua” của Phạm Văn Việt “Giải pháp đổi mới nộidung, phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả giáo dục quốc phòng chocán bộ, học sinh, sinh viên hiện nay” của Bùi Ngọc Quỵnh; Công trình:
“Đánh giá kết quả giáo dục quốc phòng - an ninh ở các trung tâm giáo dụcquốc phòng - an ninh hiện nay” của Nguyễn Đức Duy; “Thực trạng chấtlượng giáo dục quốc phòng - an ninh ở các trường cao đẳng, đại học hiệnnay” của Ngô Thùy Trang ; Tác giả Vũ Đức Huấn với công trình: “Tiêu chíđánh giá chất lượng giáo dục quốc phòng ở các nhà trường hiện nay”, Tạp chíKhoa học Quân sự, số 354/2009
Nghiên cứu công tác quản lý giáo dục quốc phòng - an ninh có các
công trình tiêu biểu như: “ Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lýcủa Nhà nước đối với công tác giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dụcquốc gia” của Nguyễn Minh Khải; Tư duy mới của Đảng ta về giáo dục quốcphòng trong hệ thống giáo dục quốc gia của Nguyễn Mạnh Hưởng; Tư duy líluận về quốc phòng, giáo dục quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ViệtNam và của Đảng ta - giá trị và ý nghĩa, của Nguyễn Bá Dương Tăng cườngvai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vai trò của các tổ chức xãhội, nghề nghiệp trong giáo dục quốc phòng cho cán bộ, học sinh, sinh viên
Trang 9hiện nay của Nguyễn Phương Đông Xây dựng chương trình khung giáo dụcquốc phòng cho các đối tượng và phương pháp tiếp cận của Trần ĐăngThanh Xây dựng chương trình khung phải phù hợp với đối tượng giáo dục,bồi dưỡng kiến thức quốc phòng của Nguyễn Đức Hạnh Đặc biệt, một sốcông trình luận văn, luận án cũng đề cập đến công tác quản lý GDQP - AN,tiêu biểu là “Quản lý hoạt động đào tạo giáo dục quốc phòng - an ninh ở trungtâm giáo dục quốc phòng Hà nội 2”, Luận văn Thạc sĩ, Hà Nội 2014, củaPhạm Văn Sơn; “Quản lý giáo dục quốc phòng - an ninh cho sinh viên cáctrường đại học Việt Nam trong bối cảnh mới”, Luận án Tiến sĩ Quản lý giáodục, Hà Nội 2013, của tác giả Hoàng Văn Tòng
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhaucủa giáo dục quốc phòng - an ninh cho cán bộ, học sinh, sinh viên trong cáctrường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề, trung học phổthông hiện nay Nhìn chung, các tác giả đã đề cập tới tầm quan trọng của giáodục quốc phòng - an ninh cho cán bộ, học sinh, sinh viên trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đồng thời đã đề xuất cácgiải pháp khác nhau nhằm nâng cao chất lượng quản lý giáo dục quốc phòng -
an ninh ở các nhà trường Kết quả của các công trình trên tác giả tiếp thu làmtiền đề nghiên cứu
Tóm lại, Nhìn chung đây là những công trình nghiên cứu góp phần
làm giàu tri thức chuyên ngành QLGD Đồng thời những nghiên cứu này đã
và đang góp phần vận dụng những hiểu biết về quản lý, QLGD vào công tácquản lý dạy học GDQP-AN đối với cán bộ, giảng viên và sinh viên nhằmgóp phần nâng cao chất lượng quản lý và dạy học GDQP-AN đáp ứng yêucầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các công trình nghiên cứu trên đã gópphần nêu bật được những tồn tại, khó khăn và bất cập về nội dung chươngtrình, PPDH và cả quản lý dạy học hiện nay, đề xuất được nhiều biện phápquản lý dạy học hiệu quả và thiết thực ở các nhà trường khác nhau với cácđối tượng sinh viên và ở các bậc học khác nhau Đây chính là các căn cứkhoa học cho tác giả xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 10nghiên cứu Mặc dù vậy, vẫn chưa có đề tài nào tập trung đi sâu nghiên cứuquản lý HĐDH môn QSC ở TTGDQP-AN, Đại học Quốc gia Hà Nội Chonên, chúng tôi đã chọn đề tài này với mong muốn đề xuất được một số biệnpháp quản lý dạy học môn QSC, hướng tới nâng cao chất lượng dạy họcGDQP-AN trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về quản lý HĐDH mônQSC, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý HĐDH môn QSC đáp ứng yêucầu nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo ở Trung tâm GDQP-AN, Đại họcQuốc gia Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lý HĐDH môn QSC ở Trung tâm
GDQP-AN, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đánh giá thực trạng quản lý HĐDH môn QSC ở Trung tâm
GDQP-AN, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐDH môn QSC ở Trung tâm
GDQP-AN, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học các môn GDQP-AN ở Trung tâm GDQP-AN, Đạihọc Quốc gia Hà Nội
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý HĐDH môn QSC ở Trung tâm GDQP-AN, Đại học Quốc gia Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý HĐDH môn QSC cho sinh viên hệ
chính quy ở Trung tâm GDQP-AN, Đại học Quốc gia Hà Nội Số liệu nghiêncứu điều tra khảo sát từ 2010 đến nay
5 Giả thuyết khoa học
Trang 11Quản lý HĐDH môn QSC ở Trung tâm GDQP-AN, Đại học Quốc gia
Hà Nội phụ thuộc vào những nhân tố chủ quan và khách quan xác định Trongquá trình đó nếu: Xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch dạy học môn QSC củagiảng viên; quản lý thực hiện đầy đủ chương trình, nội dung dạy học mônQSC; tổ chức có hiệu quả HĐDH môn QSC; phát huy vai trò, trách nhiệm cácchủ thể trong quản lý HĐDH; tăng cường quản lý HĐHT của sinh viên theomôi trường quân đội và đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học chất lượngquản lý HĐDH môn QSC ở Trung tâm GDQP-AN, Đại học Quốc gia Hà Nội
sẽ được nâng lên, đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện sinh viên hệ chính quyĐại học Quốc gia Hà Nội
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩaMác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về công tác GDQP-AN và quản lý dạy học GDQP-AN Trong quátrình nghiên cứu, tác giả tiếp cận vấn đề theo quan điểm hệ thống - cấu trúc;quan điểm phức hợp: hoạt động - giá trị - nhân cách; quan điểm lịch sử - lôgíc; quan điểm thực tiễn để xem xét, phân tích những vấn đề liên quan
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập các tài liệu khoa học, tạpchí, sách báo, trang tin điện tử có liên quan để phân tích, khái quáthóa các lý thuyết, quan điểm khoa học để xây dựng cơ sở lý luận về quản lýHĐDH môn QSC ở Trung tâm giáo dục quốc phòng - an ninh, Đại học Quốcgia Hà Nội hiện nay
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực tế: Dùng kỹ thuậtnghiên cứu xã hội học như phỏng vấn bằng phiếu hỏi, phỏng vấn trực tiếp, tọađàm, khảo sát để thu thập thông tin, đánh giá thực trạng công tác quản lýHĐDH môn QSC ở Trung tâm giáo dục quốc phòng - an ninh, Đại học Quốcgia Hà Nội hiện nay
Trang 12Dự kiến tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi 40 giảng viên tại Trung tâmgiáo dục quốc phòng - an ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội Phỏng vấn và điềutra 200 sinh viên bằng trả lời phiếu hỏi trực tiếp.
+ Phương pháp quan sát: Thăm và dự giờ một số buổi học môn QSC tại
Trung tâm giáo dục quốc phòng - an ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý HĐDH môn QSC ở Trungtâm giáo dục quốc phòng - an ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội
+ Phương pháp chuyên gia: Tham khảo các ý kiến tư vấn của các chuyên gialàm công tác quản lý đào tạo, quản lý giáo dục, các chuyên gia về nghiên cứu vềgiáo dục quốc phòng - an ninh và quản lý giáo dục quốc phòng - an ninh để đúcrút kinh nghiệm về biện pháp quản lý HĐDH môn QSC ở Trung tâm giáo dụcquốc phòng - an ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
- Phương pháp phân tích thống kê có sử dụng phần mềm SPSS: Thôngqua các số liệu thu thập được qua quá trình khảo sát, điều tra, xử lý bằngthống kê nhằm đảm bảo độ chính xác, tin cậy của các kết luận
7 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu cung cấp những luận cứ, cơ sở khoa học góp phần phục
vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng quản lý HĐDH môn QSC ởTrung tâm giáo dục quốc phòng - an ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội, đồng thời đềtài có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm phần mở đầu, ba chương (8 tiết), kết luận, kiến nghị danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục
Chương 1
Trang 13CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN QUÂN SỰ CHUNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN
NINH, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Hoạt động dạy học môn Quân sự chung
Nhiều nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm dạy học từ cơ sở của lý luậncủa quá trình giáo dục tổng thể Mặt khác, xét quan hệ giữa các thành tố cấutrúc của hoạt động, một số tác giả đã luận giải về nội hàm của khái niệm dạyhọc từ những góc độ khoa học khác nhau như: giáo dục học, tâm lý học, điềukhiển học, dưới đây:
Tiếp cận dạy học từ góc độ tâm lý học: Dạy học được hiểu là sự biếnđổi hợp lý hoạt động và hành vi của người học trên cơ sở cộng tác hoạt động
và hành vi của người dạy và người học
Tiếp cận dạy học từ góc độ điều khiển học: “Dạy học là quá trình cộngtác giữa thầy và trò nhằm điều khiển- truyền đạt và tự điều khiển- lĩnh hội trithức nhân loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục” [24, tr.519]
Tiếp cận dạy học từ góc độ giáo dục học “ Dạy học - một trong các bộphận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn- là quá trình tácđộng qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thứckhoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, đểtrên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây
Trang 14dựng phát triển các phẩm chất của nhân cách người học theo mục đích giáodục” [38, tr.22].
Theo tác giả Hà thế Truyền: “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộcác thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có nănglực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinhthần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được
để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trongtoàn bộ cuộc sống của mỗi người học”[48, tr.21]
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh “Quá trình DH là sự thống nhất biệnchứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học - hoạt động dạy và hoạtđộng học” [39, tr.134]
Như vậy, tùy vào cách tiếp cận khác nhau, các tác giả luận giải kháiniệm dạy học theo các hướng khác nhau, tuy nhiên, nhìn chung, các tác giảđều khẳng định: HĐDH là hoạt động kép bao gồm hoạt động dạy của giáoviên và hoạt động học của học sinh Hoạt động dạy và hoạt động học thốngnhất biện chứng với nhau trong HĐDH Nếu thiếu một trong hai hoạt động thìkhông có HĐDH Nếu không có hoạt động dạy thì chỉ còn hoạt động tự họccủa học sinh, nếu không có hoạt động học thì hoạt động dạy cũng không diễn
ra Quá trình dạy học thực chất là thể hiện toàn bộ hoạt động có chủ định, có
kế hoạch của thầy và trò, làm cho học sinh nắm vững hệ thống kiến thức về tựnhiên và xã hội, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thói quen hành động
Hoạt động dạy: Là điều khiển quá trình trò chiếm lĩnh khái niệm khoa
học, bằng cách đó phát triển, hình thành nhân cách trò Dạy của thầy có chứcnăng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ranhau, đó là truyền đạt thông tin cho người học và điều khiển HĐDH
Hoạt động học: Học là quá trình hoạt động dưới sự định hướng của
người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm,
từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình
Trang 15thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngàycàng hoàn thiện
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học: Hoạt động dạy và học mang
tính chất hai chiều, gồm HĐDH và hoạt động học, đó là hai mặt của một quátrình luôn tác động qua lại và bổ xung cho nhau, phối hợp chặt chẽ thống nhấtbiện chứng với nhau giữa người dạy và người học Hoạt động dạy và học diễn ratrong những điều kiện xác định, trong đó hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo,điều khiển, hướng dẫn, hoạt động học đóng vai trò chủ động, tích cực, tự giác vàsáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theo mục tiêu giáo dục đã xác định; đó là phát triểnnhân cách người học đáp ứng yêu cầu của xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử nhấtđịnh Có thể khái quát HĐDH luôn thể hiện mối quan hệ biện chứng của haihoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh; giữa truyền đạt vàđiều khiển trong dạy; giữa lĩnh hội và tự điều khiển trong học
HĐDH là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động khác trongnhà trường Hoạt động dạy, học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa họcmột cách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong họctập, lao động và đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sángtạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của HS,hình thành ở thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính
là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của HS
HĐDH diễn ra theo từng quá trình, sau mỗi quá trình, học sinh đạtđược những tiến bộ mới về kiến thức, kỹ năng và thái độ, nhân cách học sinhđược hoàn thiện dần Theo tiếp cận hệ thống thì quá trình dạy học là một hệthống gồm các thành tố cơ bản là: Mục tiêu dạy học; Nội dung; Phương pháp;phương tiện; Hình thức tổ chức dạy học; Giáo viên với hoạt động dạy; Họcsinh với hoạt động học; Kết quả dạy học Các thành tố trên của quá trình dạyhọc tác động qua lại, quan hệ biện chứng với nhau và đặt trong sự tương tácvới môi trường tạo nên tính trồi của hệ thống
Trang 16* Dạy học môn Quân Sự chung
Môn học (học phần) Quân sự chung là một trong những nội dung cơ bản
và đặc trưng của chương trình GDQP-AN được thực hiện trong nội dungchương trình đào tạo của các trường đại học, cao đẳng nói chung, Trung tâmGDQP-AN, ĐHQGHN nói riêng nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạotoàn diện của nhà trường và đáp ứng yêu cầu trong thực hiện hai nhiệm vụchiến lược của cách mạng nước ta hiện nay, đó là xây dựng thành công chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Môn học Quân sự chung bao gồm cả nội dung lý thuyết kết hợp với
thực hành nhằm trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về bản đồ, địahình QS, các phương tiện chỉ huy để phục vụ cho nhiệm vụ học tập chiếnthuật và chỉ huy chiến đấu; tính năng, tác dụng, cấu tạo, sử dụng, bảo quảncác loại vũ khí bộ binh AK, CKC, RPĐ, RPK, B40, B41; đặc điểm, tính năng,
kỹ thuật sử dụng thuốc nổ, phòng chống vũ khí hạt nhân, hoá học, sinh học,
vũ khí lửa; vết thương chiến tranh và phương pháp xử lý; luyện tập đội hìnhlớp, khối; kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK, chiến thuật từng người Ngoài ra,môn học còn giành thời gian giới thiệu 3 môn quân sự phối hợp để sinh viêntham gia hội thao điền kinh, thể thao QP
Môn học QSC đề cập vấn đề phạm vi rộng; trang bị cho người học một
số nội dung cơ bản vừa mang tính lý luận, lý thuyết, vừa mang tính thực hành,
kỹ năng, kỹ xảo nhằm đáp ứng yêu cầu GDQP-AN trong thời kỳ mới, đặc biệtmôn học chú trọng giáo dục ý thức, tri thức và kỹ năng quân sự cần thiết chosinh viên, kết hợp giáo dục lý thuyết với thực hành và vận dụng vào thực tiễncông tác sau khi sinh viên tốt nghiệp ra trường
Dạy học môn QSC là quá trình có mục đích rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ,
có chương trình, nội dung xác định, có cơ sở vật chất, vũ khí thiết bị kỹ thuậtđảm bảo kết quả dạy học theo mục tiêu xác định Dấu hiệu nổi bật của dạyhọc môn QSC là sự phối hợp thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động
Trang 17học Đây là mối liên hệ sinh thành trong dạy học, qui định sự vận động, pháttriển của HĐDH.
Từ những vấn đề trên, chúng tôi quan niệm: Dạy học môn Quân sự chung là
một quá trình có mục đích, có tổ chức, phối hợp thống nhất giữa hoạt động của giảng viên và sinh viên nhằm trang bị tri thức, bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng,
kỹ xảo quân sự và hình thành phẩm chất, nhân cách cần thiết để họ sẵn sàng làm tốt nghĩa vụ quốc phòng -an ninh bảo vệ Tổ quốc theo chức trách.
Mục đích của dạy môn QSC là hình thành hệ thống tri thức khoa học
quân sự, rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng thực hành các hoạt đông quân sự, qua đó
bồi dưỡng năng lực tư duy và năng lực hành động, đồng thời phát triển năng
lực tư duy, năng lực hành động và bản lĩnh quân sự, phẩm chất nhân cách cầnthiết khác cho sinh viên
Chủ thể và đối tượng của dạy học môn QSC là đội ngũ giảng viên môn
QSC và sinh viên ở ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng- An ninh, Đại học Quốcgia Hà Nội, trong đó đội ngũ giáo viên là chủ thể tổ chức, điều khiển, chỉ đạoquá trình dạy học QSC; sinh viên vừa là đối tượng chịu sự tác động, chỉ đạo vừa
là chủ thể tiếp nhận, tự tổ chức, tự điều khiển quá trình dạy học môn QSC
Nhiệm vụ dạy học môn QSC cho sinh viên là giúp họ có bản lĩnh chính
trị vững vàng, hình thành thái độ, hành vi đúng đắn trong các hoạt động quân
sự, nâng cao thể lực, trí lực, kỹ năng quân sự, biết gắn kết nhiệm vụ QP, AN
với nghề nghiệp chuyên môn được đào tạo Bên cạnh đó, dạy học môn QSCcòn xây dựng cho sinh viên những phẩm chất cơ bản của hoạt động quân sự
về trí tuệ, tình cảm và ý chí Phẩm chất trí tuệ, đó là khả năng linh hoạt trong
tư duy quân sự, khả năng tiếp nhận nhanh những tri thức quân sự, tính sángtạo, quyết đoán trong xử lý các tình huống Phẩm chất trí tuệ phải chuyển hóathành cảm xúc, tình cảm và ý chí trong hoạt động quân sự, giúp sinh viên hìnhthành thái độ, biểu tượng đúng về hoạt động quân sự, tạo động lực mạnh mẽtrong hoạt động quân sự
Trang 18Ngoài ra, thông qua dạy học môn QSC còn phải hướng tới rèn luyện
cho sinh viên phẩm chất đặc thù quân sự, lòng trung thành vô hạn với Đảng,
Tổ quốc và nhân dân; tinh thần, ý chí chiến đấu; tinh thần dũng cảm, đức dám
hy sinh vì sự nghiệp cách mạng; khả năng tổ chức khoa học các hoạt độngquân sự; tính kỷ luật cao, trình độ kỹ, chiến thuật và nghệ thuật quân sự; sựtinh nhạy, quan sát, phán đoán
Nội dung dạy học môn QSC: bao gồm đội ngũ đơn vị; sử dụng bản đồ,
địa hình QS, một số loại vũ khí bộ binh; thuốc nổ; phòng chống vũ khí huỷdiệt lớn; cấp cứu ban đầu các vết thương; kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK;từng người trong chiến đấu tấn công; từng người trong chiến đấu phòng ngự
và giới thiệu 3 môn quân sự phối hợp để sinh viên tham gia hội thao điềnkinh, thể thao QP
Phương pháp dạy học môn QSC
Phương pháp dạy: Phương pháp giảng dạy môn QSC kết hợp dùng
được nhiều phương pháp như: phương pháp thuyết trình, phương pháp thuyếttrình kết hợp với phương pháp thực hành, phương pháp trực quan Với quanđiểm và nguyên tác “lấy thực hành làm chính” và do đó chủ yếu dùng phươngpháp trực quan, phương pháp giảng giải lý thuyết với thực hành làm mẫuđộng tác, hướng dẫn cho sinh viên luyện tập Phương pháp giảng dạy mônQSC không giống như môn học khác, nó đòi hỏi chặt chẽ hơn, khắt khe hơn,kết quả cụ thể hơn Thông qua kinh nghiệm thực hành trong các cuộc chiếntranh, thực tế giảng dạy, giáo viên có thể lồng ghép nhiều phương pháp,truyền thụ nhiều kinh nghiệm học tập cho sinh viên
Phương pháp học tập, ôn luyện: Do đặc thù của môn QSC nên Phương
pháp học tập, ôn luyện của sinh viên có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết vàthực hành, giữa nói và làm Trong ôn luyện lý thuyết về các loại súng bộ binh,ngoài việc nắm được nội dung bài giảng, hiểu tính năng, tác dụng các bộ phậncòn phải nhớ đến từng chi tiết, từng vị trí của các bộ phận đó Trong ôn luyện
Trang 19các kỹ năng thực hành động tác bắn súng, băng bó vết thương phải thấy đượcmục đích, ý nghĩa của từng cử động, động tác Quá trình ôn luyện phải tuântheo thứ tự các bước: Tự nghiên cứu, tự luyện tập các cử động, tự biết phântích các cử động và biết làm tổng hợp các cử động Ôn luyện động tác phảitheo tuần tự từng động tác một, không làm lẫn lộn giữa động tác này với độngtác khác, cử động, động tác trước, sau phải rõ ràng, cụ thể.
Hình thức dạy học môn QSC: Dạy học môn QSC cho sinh viên ở
Trung tâm GDQP-AN, Đại học quốc gia Hà Nội hiện nay được tổ chức thựchiện chủ yếu theo hình thức dạy học tập trung được giảng dạy trong 1 hoặc 2tuần Tại Trung tâm GDQP-AN tổ chức học tập, huấn luyện, ăn, ở tập trung,quản lý toàn diện theo nếp sống QS Kết hợp chặt chẽ việc học tập với rènluyện kỷ luật, lễ tiết tác phong, nếp sống khoa học, thông qua việc duy trì cácchế độ trong ngày, trong tuần theo Điều lệnh Quản lý bộ đội
Phương tiện, cơ sở vật chất dạy học môn QSC: Phương tiện chủ yếu
của HĐDH là giấy, bút, sách, giáo trình, máy tính, thao trường, bãi tập, vũ khítrang bị, dụng cụ thực hành; các giáo cụ trực quan cần thiết đòi hỏi của mônhọc, bài học như mô hình, sơ đồ, các biểu bảng…, có các máy móc hỗ trợ chocác thao tác sư phạm của thầy: máy đèn chiếu, máy chiếu hình, sơ đồ, video,máy vi tính…Điều kiện dạy học có sự hướng dẫn của đội ngũ giảng viên, cán
bộ quản lý các cấp, phương tiện học tập và sự tích cực, tự giác của chính bảnthân người học
Kết quả dạy học môn QSC : Là hệ thống kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng,
quân sự, kỹ chiến thuật, về sử dụng vũ khí, điều lệnh, thuốc nổ, băng bó vếtthương… góp phần nâng cao trình độ quân sự, an ninh cho sinh viên
1.1.2 Quản lý hoạt động dạy học môn Quân sự chung
* Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý là một thuật ngữ được tiếp cận dưới nhiều bình diện khác nhau.Theo F.F Aunpu: “Quản lý là một khoa học và nghệ thuật tác động vào một
Trang 20hệ thống nhằm mục tiêu biến đổi hệ thống đó” [1, tr.16] Từ điển Giáo dục họcViệt Nam: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích củachủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trongmột tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[56, tr.326] Trong tác phẩm: “Khoa học tổ chức và quản lý” của Trung tâmnghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý, chủ biên Đặng Quốc Bảo: “Quản lý làmột nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp,hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác” [3, tr.176].
Về quản lý giáo dục, tác giả Trần Kiểm cho rằng được hiểu theo nhiềucấp độ khác nhau: Xét theo cấp độ vĩ mô được hiểu: “Là những tác động tựgiác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủthể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ
sở giáo dục là Nhà trường) để thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêuphát triển GD&ĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [35, tr.36].Xét theo cấp độ vi mô: “Là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, cómục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tậpthể giảng viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lựclượng xã hội trong và ngoài Nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệuquả mục tiêu giáo dục của Nhà trường” [30, tr.37]
Tuy cách diễn đạt khác nhau, song các khái niệm đều có điểm chungquản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội vàcác hoạt động của con người để đạt được mục đích đề ra; trong đó, quản lýNhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục, bản chất của quản lý trongNhà trường là quản lý HĐDH và học tập, tức là làm sao đưa hoạt động đó từtrạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu GD&ĐT
HĐDH là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng
và phức tạp của nhà trường đều hướng vào hoạt động trung tâm đó Vì vậytrọng tâm của việc quản lý nhà trường là quản lý HĐDH Đó chính là quản lý
Trang 21hoạt động lao động sư phạm của người thầy và HĐHT, rèn luyện của trò đượcdiễn ra chủ yếu trong HĐDH.
Quản lý nhà trường khác với quản lý xã hội, được qui định với các đặctrưng riêng về lao động sư phạm của giáo viên và quá trình tiếp thu của họcsinh là cả quá trình dậy và học, trong đó các thành viên của nhà trường vừa làchủ thể vừa là đối tượng quản lý Sản phẩm của các hoạt động trong nhàtrường là nhân cách, là kiến thức của người học, được hình thành trong cả quátrình học tập tu dưỡng và phát triển
Tác giả Phạm Viết Vượng, đã nhấn mạnh quản lý nhà trường với trọngtâm là quản lý HĐDH và cho rằng đây là “hoạt động của cơ quan quản lý nhằmtập trung và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và cac tổ chức giáodục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chấtlượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [57, tr 55]
Theo tác giả Đỗ Bích Ngọc “Quản lý quá trình dạy học là một bộ phậncấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lý quá trình giáo dục và đào tạotrong trường học Quá trình thực hiện các chức năng tổng hợp, phát triển nhâncách, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài’’[37, tr.41]
Như vậy, trong trường học mọi hoạt động đều hướng vào phục vụ HĐDH
và quản lý trường học trọng tâm là quản lý HĐDH Quản lý HĐDH là một hoạtđộng quản lý với tư cách là một hệ thống toàn vẹn, bao gồm quản lý các thành tố
cơ bản: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò vớihoạt động học, các phương pháp và các phương tiện dạy học, các hình thức tổchức dạy học, phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập Đây là quá trình làquá trình quản lý hoạt động sư phạm của người thầy và HĐHT rèn luyện của trò,
để hình thành và phát triển nhân cách học sinh
Quản lý HĐDH là quản lý một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tạinhư là một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố cấu trúc như: mục đích, nhiệm
vụ dạy học, nội dung dạy học, PPDH và phương tiện dạy học, thầy với hoạt
Trang 22động dạy, trò với HĐHT và kiểm tra, đánh giá kết quả dạy - học để điều chỉnhcho hiệu quả ngày càng tốt hơn HĐDH.
Quản lý HĐDH trong nhà trường là phải tổ chức thực hiện các nhiệm
vụ cơ bản sau đây: cụ thể hóa mục tiêu chương trình dạy học qua các nhiệm
vụ dạy học nhằm nâng cao tri thức, kỹ năng, bồi dưỡng thái độ và hình thànhphát triển những năng lực, phẩm chất tốt đẹp cho người học; quản lý việc xâydựng kế hoạch và thực hiện nội dung chương trình dạy học; nội dung chươngtrình dạy học phải bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo màngười học cần phải nắm vững trong quá trình học; quản lý chương trình giảngdạy của giảng viên (xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, giáo án,chuẩn bị đồ dùng dạy học, lên lớp, kiểm tra sinh viên học tập); quản lý HĐHTcủa sinh viên (nề nếp, thái độ, kết quả học tập) và quản lý cơ sở vật chất kỹthuật phục vụ cho HĐDH
* Quản lý hoạt động dạy học môn quân sự chung
Ở Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN, HĐDH môn QSC cho sinh viên
hệ chính quy được tiến hành trong quá trình đào tạo với quy trình tổ chức chặtchẽ Phương tiện chủ yếu của HĐDH là giấy, bút, sách, giáo trình, máy tính,thao trường, bãi tập, vũ khí trang bị, dụng cụ thực hành…Điều kiện dạy học
có sự hướng dẫn của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cấp, phương tiệnhọc tập và sự tích cực, tự giác của chính bản thân người học Kết quả dạy học
là hệ thống kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng, quân sự về chiến thuật, điều lệnh, bắnsúng, thuốc nổ, góp phần nâng cao trình độ quân sự, an ninh cho sinh viên
Quản lý HĐDH môn QSC nằm trong chương trình quản lý HĐDH mônGDQP-AN Đây là hoạt động quản lý trọng tâm của Trung tâm GDQP-ANvới tư cách là một trường đại học
Quản lý HĐDH môn QSC là toàn bộ điều khiển, chỉ đạo của các chủ thểgiáo dục theo một chương trình, nội dung, kế hoạch cụ thể nhắm làm cho ngườihọc tự giác cao lĩnh hội tri thức, củng cố và vận dụng các kiến thức kỹ xảo, kỹ
Trang 23năng quân sự quốc phòng - an ninh, phát triển bản lĩnh quân sự cần thiết để họsẵn sàng làm tốt nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Từ những luận giải về dạy học môn QSC, quản lý, quản lý HĐDH
chúng tôi cho rằng: Quản lý hoạt động dạy học môn quân sự chung ở Trung
tâm Giáo dục quốc phòng - an ninh là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý đến quá trình tổ chức thực hiện hoạt động giảng dạy của giảng viên, học tập của sinh viên nhằm đảm bảo cho hoạt động dạy học môn quân sự chung đạt được mục đích đã xác định
Quan niệm trên cho thấy, tính hướng đích của quản lý HĐDH mônQSC là tập trung nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể quản lý,nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy của giảng viên, học tập của sinh viên,
từ đó đạt được mục tiêu quản lý HĐDH môn QSC đã xác định Quản lý
HĐDH môn QSC là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống quản lý HĐDH mônGDQP-AN của Trung tâm, gắn bó chặt chẽ với quá trình quản lý GD&ĐT
Một là, mục đích quản lý HĐDH môn QSC, nhằm đảm bảo, giữ vững
và nâng cao chất lượng giảng dạy môn QSC của giảng viên, chất lượng họctập môn QSC của sinh viên, tối ưu hóa các điều kiện đảm bảo thuận lợi chohoạt động dạy học môn QSC, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy họcGQP-AN của Trung tâm GDQP-AN
Hai là, chủ thể quản lý HĐDH môn QSC là Cấp uỷ, BGĐ Trung tâm
GDQP-AN, ĐHQGHN, Phòng Đào tạo & Quản lý sinh viên, Phòng Hànhchính tổ chức, Ban thanh tra, trực tiếp quan trọng nhất là Khoa Quân sự, tổ bộmôn QSC và chính bản thân đội ngũ giảng viên, sinh viên
Ba là, đối tượng quản lý HĐDH môn QSC là toàn bộ các thành tố của quá
trình dạy học môn QSC, trong đó giảng viên tổ bộ môn QSC và sinh viên là đốitượng cơ bản, chịu sự tác động, điều khiển của chủ thể quản lý Như vậy, giảngviên và sinh viên vừa là chủ thể vừa là khách thể trong hệ thống quản lý
Bốn là, nội dung quản lý HĐDH môn QSC thực chất là quản lý việc thực
hiện tốt các thành tố của quá trình dạy học Đó là quản lý thực hiện tốt mục tiêuchương trình, nội dung, kế hoạch dạy học; quản lý HĐDH của giảng viên; quản lý
Trang 24HĐHT của sinh viên; quản lý tốt các điều kiện bảo đảm cho HĐDH môn QSC.Đồng thời quản lý tốt việc kiểm tra, đánh kết quả dạy học, góp phần nâng cao chấtlượng dạy học môn QSC, đạt được mục đích quản lý của Trung tâm đã xác định.
Năm là, phương pháp quản lý HĐDH môn QSC rất phong phú, đa
dạng, bao gồm toàn bộ những cách thức, biện pháp tác động, điều khiển củachủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiệnnhằm đạt được mục tiêu quản lý đã xác định Việc xác định phương phápquản lý HĐDH môn QSC phải đảm bảo tính khoa học, thống nhất, khả thi,phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của giảng viên, đặc điểm HĐHT của sinhviên, tăng cường hiệu quả quản lý nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, trong đóphương pháp quản lý hành chính quân sự, phương pháp giáo dục - tâm lý,phương pháp kích thích là những phương pháp chủ đạo, được sử dụng phổbiến HĐDH môn QSC là hoạt động trí tuệ, hết sức căng thẳng, do đó cần lựachọn và sử dụng các phương pháp quản lý phù hợp với đối tượng quản lý làcon người mới mang lại tác dụng, hiệu quả cao
Sáu là, công cụ quản lý HĐDH môn QSC đã và đang sử dụng các công
cụ chủ yếu như: Luật Giáo dục, Luật Giáo dục Đại học; Luật GDQP-AN; Quychế GDĐT của Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN; Nghị quyết Đại hội đảng
bộ Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN, nhiệm kỳ 2015- 2020; Kế hoạch điềuhành huấn luyện của Trung tâm, thông qua chỉ đạo, hướng dẫn của các phòng,ban chức năng; kết luận của BGĐ Trung tâm GDQP-AN về thực hiện nhiệm
vụ giảng dạy, học tập môn QSC trong chương trình tổng thể về dạy họcGDQP-AN; các quy định về quản lý hành chính
1.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Quân sự chung ở trung tâm giáo dục quốc phòng - an ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội
1.2.1 Quản lý xây dựng kế hoạch dạy học môn Quân sự chung
Việc xây dựng kế hoạch dạy học môn QSC là quan trọng, cần thiếttrong quá trình quản lý HĐDH Đây là một quá trình xác định những mục tiêu
và các biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó Việc xây dựng kế
Trang 25hoạch dạy học giúp người quản lý tư duy một cách có hệ thống để tiên liệucác tình huống có thể xảy ra, phối hợp mọi nguồn lực trong và ngoài Trungtâm để tổ chức dạy học môn QSC có hiệu quả hơn.
Khi lập kế hoạch dạy học môn QSC, người CBQL cần lưu ý: Đảm bảotính thống nhất giữa mục tiêu dạy học môn QSC với mục tiêu dạy học GDQP-
AN, đồng thời thống nhất với mục tiêu giáo dục nói chung ở Trung tâm AN; nắm vững thực trạng dạy học môn QSC; phối hợp chặt chẽ, hữu cơ với kếhoạch huấn luyện trên lớp và kế hoạch hoạt động ngoại khóa sau bài giảng; lựachọn nội dung, hình thức dạy học môn QSC đa dạng, thiết thực và phù hợp vớihoạt động tâm, sinh lý sinh viên để đạt hiệu quả cao trong dạy học
GDQP-1.2.2 Quản lý mục tiêu, kế hoạch, chương trình nội dung dạy học môn Quân sự chung
Quản lí mục tiêu là là quá trình quản lí những kết quả dự kiến sẽ đạtđược trong dạy học môn QSC, đó là nhằm giáo dục cho sinh viên kiến thức
cơ bản về đường lối AN của Đảng và công tác quản lý nhà nước về AN; về truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc, về nghệthuật QS Việt Nam; về chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ củacác thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam Trang bị kỹ năng QP - ANcần thiết đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, anninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
QP-Quản lí nội dung chương trình là quản lí việc dạy học môn QSC cóđúng, đủ nội dung chương trình đã được ban hành theo Quyết định số81/2007/QĐ-BGDĐT ngày 24/12/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT haykhông; quản lí học tập, rèn luyện, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinhviên Trong quản lý quá trình đào tạo, quản lý thực hiện nội dung chươngtrình đúng, đủ về thời lượng là quan trọng nhất; tránh tình trạng cắn xén tronggiảng dạy, từ đó dẫn tới không bảo đảm chất lượng môn học
Trang 26Thực hiện chương trình dạy học là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo kế hoạchđào tạo theo đúng mục tiêu, đó là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ GD&ĐT, BộQuốc Phòng ban hành BGĐ Trung tâm GDQP-AN trước hết phải nắm vữngchương trình môn học theo qui định của Bộ, quán triệt cho mọi giảng viên thựchiện nghiêm túc, không được tuỳ tiện thay đổi, cắt xén, làm sai lệch chươngtrình đó Để làm được điều này, BGĐ Trung tâm GDQP-AN phải yêu cầugiảng viên lập kế hoạch giảng dạy bộ môn, thường xuyên theo dõi việc thựchiện chương trình hàng tuần, hàng tháng BGĐ Trung tâm GDQP-AN cầnphải: hiểu nguyên tắc, cấu tạo chương trình môn học; nắm vững phương phápđặc trưng bộ môn để điều hành và giúp bộ phận cũng như cá nhân giảng viênchuẩn bị phương tiện phù hợp; chỉ đạo tổ bộ môn thảo luận những vấn đề nảysinh trong thực tiễn giảng dạy và thống nhất trong nhóm, tổ bộ môn sau khi đã bànbạc thảo luận; phổ biến kịp thời những thay đổi nội dung chương trình, phươngpháp giảng dạy bộ môn … BGĐ Trung tâm GDQP-AN phải xây dựng kếhoạch điều hành chung để đảm bảo cân đối cho các hoạt động, trong đó cóviệc thực hiện chương trình môn học
1.2.3 Quản lí hoạt động giảng dạy môn Quân sự chung của giảng viên
Trong toàn bộ quản lý ở Trung tâm GDQP thì quản lý hoạt động dạy củagiảng viên bộ môn nói chung và quản lý hoạt động dạy của giảng viên mônQSC nói riêng là hoạt động cơ bản Thực chất của quản lý HĐDH là quản lýviệc thực hiện nhệm vụ dạy học của từng giảng viên và cả đội ngũ giảng viên.Các biện pháp quản lý có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống cácbiện pháp Quản lý HĐDH môn QSC bao gồm những nội dung cụ thể như:quản lý việc xây dựng kế hoạch; quản lý việc chuẩn bị lên lớp của giảng viên;quản lý giờ lên lớp của giảng viên (quản lý nội dung, phương pháp, hình thứctổ chức dạy học của giảng viên môn QSC) Kết quả hoạt động dạy phụ thuộcvào việc soạn bài và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho bài giảng, việclựa chọn các PPDH, hình thức tổ chức dạy học Do đó BGD Trung tâm cần
có biện pháp quản lý các hoạt động trên của giảng viên
Trang 271.2.4 Quản lý hoạt động học tập môn quân sự chung của sinh viên
HĐHT của sinh viên là một hoạt động song song tồn tại cùng với HĐDHcủa người giảng viên Quản lý HĐHT môn QSC của sinh viên là phải chú ýđến các tác động sau: Phải làm cho sinh viên có động cơ và thái độ đúng đắntrong học tập, rèn luyện, ham học hỏi môn học sinh viên phải tự giác tìm tòi,phát hiện vấn đề, chủ động lĩnh hội kiến thức, biến quá trình dạy học QSCthành quá trình tự học; tổ chức hướng dẫn sinh viên học tập môn QSC, giúpsinh viên nắm được phương pháp học tập ở môn QSC; làm cho sinh viên có
nề nếp, tư tưởng, tư thế tác phong
Kết quả kiểm tra, xếp loại phản ánh được khả năng học tập của sinhviên Kết quả này phải giúp sinh viên nhận ra mặt mạnh, mặt hạn chế để vươnlên, đồng thời nó giáo dục cho sinh viên tính trung thực trong học tập Việcquản lý HĐHT môn QSC của sinh viên phải được thực hiện đầy đủ, toàn diện
và mang tính giáo dục cao Nội dung cơ bản của nó bao gồm: Quản lý phươngpháp học tập môn QSC của sinh viên; quản lý nề nếp, thái độ học tập của sinhviên; quản lý các HĐHT, vui chơi, giải trí và quản lý việc phân tích đánh giákết quả học tập của sinh viên
1.2.5 Quản lý các điều kiện đảm bảo cho dạy học môn Quân sự chung
Cơ sở vật chất, TBDH và ứng dụng CNTT trong dạy học có vai tròquan trọng trong dạy học GDQP-AN nói chung và trong dạy học môn QSCnói riêng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả môn học, tạo sự say mê, hứngthú trong giảng dạy và học tập Với vị trí, tầm quan trọng của CSVC, TBDH
và ứng dụng CNTT trong dạy học thì việc mua sắm, bảo quản và quản lý đểgiữ tốt, dùng bền đóng vai trò rất quan trọng đối với nhà quản lý
Môn QSC là học phần đặc thù do đó về cơ sở vật chất, PTDH mônGDQ học cũng được quản lí chật chẽ từ khâu mua sắm, sử dụng và bảo quản.Sản xuất TBDH môn QSC chủ yếu do các đơn vị quân đội đảm nhiệm, cónhững chủng loại chỉ có một nhà máy sản xuất do vậy trong mua sắm không
Trang 28thể áp dụng mời thầu cạnh tranh mà thực hiện theo chỉ định thầu; trong khaithác sử dụng và quản lí có sự chỉ đạo thống nhất giữa Bộ GD&ĐT, Bộ QuốcPhòng, Bộ Công An và Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN
1.2.6 Quản lý về kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Quân sự chung
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một bộ phận hợpthành trong các khâu của chu trình quản lý, là một thành tố quan trọng củaquá trình dạy học Kiểm tra được coi như một nguyên tắc của mối liên hệngược Nguồn thông tin này giúp cho BGĐ có cơ sở điều chỉnh kế hoạch,biện pháp chỉ đạo, bổ sung kế hoạch
BGĐ cần có kế hoạch cụ thể quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả họctập của sinh viên Quá trình lĩnh hội tri thức của sinh viên từ biết đến thônghiểu, biết vận dụng, biết phân tích, tổng hợp và đánh giá Kết quả các bàikiểm tra, bài thi của sinh viên phải được đánh giá thực chất về kiến thức, kỹnăng, khả năng vận dụng của sinh viên
BGĐ phải quản lý việc kiểm tra của giảng viên đối với sinh viên và kếtquả giảng dạy của giảng viên, tránh kiểm tra qua loa, hình thức, không đưa ra
hệ thống tiêu chuẩn để trên cơ sở ấy đánh giá BGĐ cần phải quản lý kếhoạch kiểm tra của giảng viên; đồng thời, BGĐ cần phân công bộ máy quản
lý tổng hợp việc kiểm tra đánh giá kết quả theo định kỳ và chính BGĐ Trungtâm cần phải có kế hoạch định kỳ kiểm tra, đánh giá hệ thống của mình đốichiếu với kế hoạch đã vạch ra Đánh giá xếp loại sinh viên phải đảm bảo tínhcông bằng, khách quan thông qua việc quán triệt và vận dụng đầy đủ các bảnhướng dẫn về đánh giá xếp loại của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Quốc Phòng
và Trung tâm GDQP-AN
Quản lý HĐDH môn QSC có vai trò rất quan trọng, góp phần nâng caochất lượng dạy học bộ môn Hoạt động này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốtác động như chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, của Ngành; đội ngũ
Trang 29giảng viên, sinh viên và các yếu tố điều kiện đảm bảo Để quản lý tốt dạy họcmôn QSC người quản lý cần triển khai đầy đủ các nội dung, cập nhật các yêucầu mới và đánh giá đầy đủ các tác động của các yếu tố liên quan để có nhữngcách thức quản lý phù hợp Những nội dung trên đây là cơ sở lý luận quantrọng để phân tích thực trạng quản lý dạy học môn QSC hiện nay tại Trungtâm GDQP-AN, ĐHQGHN, từ đó đề xuất biện pháp nâng cao chất lượngquản lý HĐDH môn QSC ở Trung tâm.
1.3 Các yếu tố tác động tới quản lý hoạt động dạy học môn quân sự chung ở Trung tâm giáo dục quốc phòng - an ninh, Đại học quốc gia Hà Nội
1.3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ dạy học giáo dục quốc phòng - an ninh của Trung tâm
Thực hiện việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam vàchiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011- 2020, đã và đang tạonhững cơ hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn đòi hỏi các Trung tâmGDQP-AN nói chung, Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN nói riêng phải khôngngừng đổi mới, phát triển về mọi mặt Từ đó, đặt ra nhiều vấn đề có tính cấpthiết đối với Trung tâm trong quản lý HĐDH để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ củađất nước và của Trung tâm trong tình hình mới
Hiện nay và những năm tiếp theo, Đảng bộ Trung tâm GDQP-AN,ĐHQGHN sẽ: “Tập trung lãnh đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc vềchất lượng dạy học GDQP-AN, xây dựng Trung tâm chính quy, tiên tiến, mẫumực ; nâng cao vị thế của Trung tâm trong hệ thống Trung tâm GDQP-ANtrong cả nước” [54, tr.28] Vì vậy, trong tương lai, mục tiêu xây dựng và pháttriển Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN sẽ có những bước phát triển mới, đó làphấn đấu trở thành cơ sở hàng đầu về chất lượng giảng dạy và nghiên cứukhoa học GDQP-AN để đến năm 2018 trở thành một cơ sở đào tạo Đại học,ngoài việc giảng dạy GDQP - AN cho học sinh, sinh viên sẽ còn mở mã
Trang 30ngành đào tạo giáo viên GDQP - AN cho các trường Đại học, Cao đẳng,Trung cấp và giáo viên bậc Trung học phổ thông.
Như vậy mục tiêu đào tạo được mở rộng quy mô, đối tượng, loại hình đàotạo ngày càng tăng theo nhiều cấp học, bậc học Đây là những mục tiêu lớn, chiphối và tác động mạnh mẽ, toàn diện đến quá trình dạy học GDQP-AN củaTrung tâm mà trực tiếp là giảng dạy và quản lý HĐDH; đồng thời đặt ra nhữngyêu cầu cao hơn đối với quá trình giảng dạy và đổi mới quản lý dạy họcGDQP-AN nói chung và dạy học môn QSC của để đáp ứng với sự phát triểnmới của nhiệm vụ GD-ĐT ở Trung tâm hiện nay
1.3.2 Chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học môn Quân sự chung
Chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học môn QSC là khâu trọngyếu, tác động toàn diện, sâu sắc tới toàn bộ quy trình quản lý, tới nhận thức
và hành động của giảng viên và sinh viên trong HĐDH, thúc đẩy việc đổimới chương trình, nội dung kế hoạch dạy học một cách phù hợp, đảm bảochất lượng, hiệu quả HĐDH của Trung tâm Do đó, Trung tâm phải thiết kếđược hệ thống chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học cụ thể, rõ ràng,chính xác, thiết thực và khả thi Chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học,nhất là chương trình, nội dung kế hoạch dạy học môn QSC phải được sắpxếp theo hệ thống thống nhất, bảo đảm tính ổn định, lâu dài và phù hợp với
xu thế dạy học GDQP-AN hiện nay, đồng thời phù hợp với đối tượng đàotạo và nhiệm vụ dạy học của Trung tâm và phải được đạt được mục tiêuquản lý của Trung tâm
Chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học môn QSC phải sát với mụctiêu dạy học bộ môn nói riêng và dạy học GDQP-AN nói chung, thuận lợi choquá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ và kiểm tra đánh giá kết quả giảng dạycủa giảng viên, học tập của sinh viên Cấu trúc của chương trình, nội dung, kếhoạch dạy học môn QSC phải mang tính mềm dẻo, linh hoạt và khoa học,trong đó được chỉ rõ khối lượng kiến thức dạy học, các kỹ năng, kỹ xảo thực
Trang 31hành và các giá trị tinh thần khác mà giảng viên, sinh viên cần đạt được trongtừng bài học của môn môn học.
Như vậy, chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học là những định hướng,điều khiển, chỉ đạo việc xác lập và thực hiện các biện pháp quản lý nâng caochất lượng HĐDH môn QSC ở Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN hiện nay
1.3.3 Đặc điểm đối tượng sinh viên của Trung tâm
Sinh viên ở các trường đại học thành viên thuộc ĐHQGHN đến học tập,rèn luyện tại Trung tâm GDQP-AN được tuyển chọn từ nhiều nguồn khác nhau,nên về độ tuổi còn trẻ, có sức khỏe, năng động Tuy nhiên, đây cũng là lứa tuổi
dễ bị tác động, ảnh hưởng từ những tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường,
có thái độ học tập rèn luyện chưa đúng đắn, nhất là đối với nhiệm vụ học tậpmôn GDQP-AN, chưa thấy rõ được trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ đó nảy sinh tư tưởng chủ quan,thiếu tích cực trong học tập, rèn luyên bản thân, có lối sống thực dụng, đề cao tự
do cá nhân chưa biết khép mình vào tổ chức, tôn trọng tập thể, chưa có ý thức tổchức kỷ luật dẫn đến hành động thiếu chuẩn mực, ảnh hưởng không nhỏ đếnviệc rèn luyện hình thành những phẩm chất nhân cách của người sinh viên, từđặc điểm trên đòi hỏi phải quản lý tốt hơn HĐHT, rèn luyện của sinh viên thôngqua dạy học môn QSC ở Trung tâm
Bên cạnh đó, trong thực tế hiện nay, do đối tượng đầu vào đa dạng (cóđối tượng phải thi tuyển, có đối tượng được cử tuyển, xét tuyển, liên kết đàotạo ) dẫn đến trình độ nhận thức không đồng đều, về khả năng lĩnh hội tri thứckhoa học đặc biệt là những tri thức khoa học quân sự là rất khác nhau, khiến quátrình dạy học cho sinh viên ở Trung tâm gặp nhiều khó khăn, giảng viên mấtnhiều thời gian để củng cố lấp lỗ hổng về kiến thức cho sinh viên, gây ảnhhưởng lớn đến hiệu quả HĐDH ở Trung tâm
1.3.4 Đặc điểm hoạt động của đội ngũ giảng viên ở Trung tâm
Trang 32Để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ giảng dạy, giảng viên Trung tâmphải được biên chế đủ về số lượng, đạt chuẩn về trình độ học vấn, có kinhnghiệm, tuổi đời, tuổi quân phù hợp với vị trí, nhiệm vụ giảng dạy, nhất là trình
độ chuyên môn vững, nghiệp vụ sư phạm tốt, đặc biệt là trình độ thực hành kỹxảo, kỹ năng đông tác trong dạy học GDQP-AN, đây là vấn đề đáng quan tâmtrong quá trình dạy học của đội ngũ giảng viên ở Trung tâm GDQP-AN,ĐHQGHN Hiện nay, trình độ giảng dạy của đội ngũ giảng viên ở Trung tâm
cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Theo kết quả thống kê, 100% giảngviên công tác tại Trung tâm đều được đào tạo cơ bản tại các học viện, nhàtrường quân đội, một số đồng chí đã trải qua thực tế quản lý và giảng dạy tạicác học viện, nhà trường quân đội và các đơn vị quân đội Nhiều đồng chí có
bề dày kinh nghiệm trong giảng dạy GDQP - AN, số giảng viên được côngnhận là giảng viên dạy giỏi cấp Bộ Đây là thuận lợi đặt ra đối với quá trìnhquản lý HĐ DH của đội ngũ giảng viên
Tuy nhiên, phần lớn giảng viên của Trung tâm là SQBP, theo quy định sĩquan biệt phái cứ 10 năm công tác ở Trung tâm phải chuyển công tác khác,điều này tác động đến tâm lý của mỗi giảng viên, ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng dạy học GDQP-AN nói chung và dạy học môn QSC nói riêng Hiện nay,việc quan tâm đến vấn đề cử giảng viên đi đào tạo để nâng cao trình độ cònchưa kịp thời, việc phát triển đội ngũ giảng viên là SQBP của Trung tâm gặpnhiều khó khăn do đặc thù của biệt phái là có thời hạn Chính điều đó dẫn đếnthực trạng giảng viên của Trung tâm có học vị còn thấp so với các trường đạihọc thành viên thuộc ĐHQGHN, đặc biệt là học vị TS Hơn nữa, đội ngũ cán
bộ, giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy tại Trung tâm còn thiếu trong khi
đó lưu lượng sinh viên đến Trung tâm học tập lại đông trên 10.000 sinh viênmột năm nên đã ảnh hưởng phần nào đến chất lượng dạy học GDQP-AN củaTrung tâm Những vấn đề trên đã và đang tác động một cách cơ bản, toàn diệnđến chất lượng giảng dạy và quản lý HĐDH của giảng viên ở Trung tâm
Trang 331.3.5 Điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy học môn Quân sự chung
Về lãnh đạo, chỉ huy: Năng lực lãnh đạo, quản lý của cấp uỷ, chỉ huy các
cấp; năng lực bảo đảm các điều kiện cho HĐDH của giảng viên; sự liên kết, phốihợp giữa các cơ quan, các khoa giáo viên và các đơn vị quản lý học viên; truyềnthống đoàn kết, bầu không khí dân chủ, mối quan hệ ứng xử, hợp tác trongHĐDH của các tổ chức với các khoa giáo viên, từng giảng viên, đảm bảo chocác HĐDH, quản lý HĐDH môn QSC đạt kết quả tốt nhất
Về các thiết chế đảm bảo HĐDH: Là hệ thống văn bản pháp quy bảo đảm
cho sự vận hành và phát triển quá trình dạy học như: Quy chế, quy định, chỉ thị,công văn, hướng dẫn để chỉ đạo, điều hành HĐDH đạt được mục tiêu quản lýcủa Trung tâm
Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ dạy học môn QSC (gồm hệ thống hạ tầng
cơ sở, phương tiện trang bị kỹ thuật, hệ thống phòng học, thao trường, bãi tập,đội ngũ, hệ thống cung ứng tài liệu ) đóng vai: “Người minh chứng khách quan”những vấn đề lý luận, liên kết lý luận và thực tiễn, góp phần rất lớn vào khả năng
sư phạm của giảng viên trong việc cải tiến và đổi mới phương pháp giảng dạy,các hình thức lao động sư phạm, khả năng tổ chức một cách khoa học và điềukhiển HĐDH môn QSC đạt hiệu quả cao
*
* *
Quản lý HĐDH môn QSC ở Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN, là nội
dung rất quan trọng nhằm đảm bảo cho việc tổ chức và thực hiện các HĐDHmôn QSC vận hành theo đúng mục tiêu, yêu cầu dạy học GDQP-AN của Trungtâm, đáp ứng yêu cầu quản lý giảng dạy, học tập, yêu cầu GD&ĐT của Trung tâmtrong tình hình mới Đây là quá trình hoạt động có mục đích, có kế hoạch của cảchủ thể và đối tượng quản lý; xác định rõ quan niệm, chủ thể, đối tượng, nội dung,hình thức, phương pháp, các yếu tố tác động đến quản lý HĐDH môn QSC là cơ
sở nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên, học tập của sinh viên ở Trung
Trang 34tâm GDQP-AN, ĐHQGHN, đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển cả về lý luận vàthực tiễn dạy học GDQP-AN hiện nay của các Trung tâm GDQP-AN trong cảnước nói chung, Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN nói riêng.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm
- Ngày 02/3/2004, Giám đốc ĐHQGHN đã kí Quyết định số 97/TCCB
về việc thành lập Trung tâm Giáo dục Quốc phòng trực thuộc ĐHQGHN.Trung tâm được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai Khoa Giáo dục Quốc phòngcủa Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (do Binh chủng Hoá họcquản lí) và Khoa Giáo dục Quốc phòng của Trường Đại học Ngoại ngữ (doTrường Sĩ quan Lục quân 1 quản lí)
- Thực hiện Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chínhphủ về GDQP-AN và Quyết định số 82/2007/QĐ-BGDĐT ngày 24/11/2007
về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDQP-AN,ngày 11/5/2009 Giám đốc ĐHQGHN Nội ký Quyết định số 1737/QĐ-TCCB
về việc đổi tên Trung tâm Giáo dục Quốc phòng thành Trung tâm GDQP-AN,ĐHQGHN Trung tâm có nhiệm vụ giảng dạy GDQP-AN cho sinh viênĐHQGHN và một số cơ sở giáo dục đại học theo phân luồng của Bộ Giáo dục
và Đào tạo; tham mưu cho ĐHQGHN về công tác bồi dưỡng kiến thức
QP-AN cho cán bộ, viên chức trong ĐHQGHN và công tác quân sự địa phương
- Ngày 25/5/2011, Tổng Cục chính trị, Bộ Quốc phòng có Công văn
số 493/CB-NS thông báo ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vềviệc điều động và quản lí sĩ quan biệt phái tại Trung tâm GDQP-AN,
Trang 35ĐHQGHN Theo đó, Bộ Quốc phòng giao cho Trường Sĩ quan Lục quân 1quản lí SQBP tại Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN
- Ngày 24/ 7/2012 Giám đốc ĐHQGHN đã ký Quyết định số
2454/QĐ-XD về việc giao cho Trung tâm GDQP-AN làm chủ dự án “Quản lí, khai thác, sửdụng cơ sở vật chất tại ký túc xá số 4 Hòa Lạc vào nhiệm vụ giảng dạy GDQP-
AN cho sinh viên” Trong thời gian này, với sự chỉ đạo quyết liệt của Giám đốcĐHQGHN và các Ban chức năng, Trung tâm đang tích cực triển khai mọi điềukiện cần thiết để tổ chức giảng dạy cho sinh viên ĐHQGHN theo hình thứctập trung, chính qui theo đợt bắt đầu từ năm học 2014-2015 tại cơ sở Hòa Lạc.Đây không những chỉ là nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị trong những năm 2014,
2015, 2016 mà còn là bước chuyển quan trọng trong lộ trình thực hiện sứ mạng
và các nhiệm vụ trọng tâm của “Chiến lược phát triển Trung tâm đến năm
2020, tầm nhìn 2030”
- Đến nay, Trung tâm đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy cho hơn90.000 lượt sinh viên đạt chất lượng chuẩn đầu ra của môn học Cùng vớithực hiện nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên, từ năm 2009 Trung tâm đượcgiao nhiệm vụ phối hợp với Trường Quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô tổ chức bồidưỡng kiến thức QP-AN cho cán bộ, viên chức thuộc các đối tượng 3;4;5trong ĐHQGHN; đến nay đã có hơn 1500 CBVC hoàn thành các lớp bồidưỡng kiến thức QP-AN thuộc các đối tượng nói trên được cấp giấy chứngnhận); tham mưu kịp thời, có hiệu quả cho lãnh đạo ĐHQGHN chỉ đạo thựchiện tốt công tác quốc phòng-an ninh trên địa bàn
- Mặc dù còn nhiều khó khăn về CSVC và hạ tầng kỹ thuật, songtrong những năm qua, bằng những giải pháp cụ thể, Trung tâm đã chủ độngkhắc phục mọi khó khăn để tổ chức thực hiện và hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ được giao, đơn vị nhiều năm liền đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc,
là một trong số các đơn vị dẫn đầu trong hệ thống các Trung tâm GDQP-ANcho sinh viên của cả nước về thực hiện nhiệm vụ GDQP-AN cho sinh viên.Với những kết quả và thành tích kể trên, Trung tâm đã nhiều lần được Giám
Trang 36đốc ĐHQGHN, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đàotạo tặng Bằng khen; Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen năm 2010, đặcbiệt, năm 2013, Trung tâm vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huânchương Lao động Hạng Ba
- Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ liên tục đạt Đảng bộ trong sạchvững mạnh, nhiều năm liền đạt Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu đượcĐảng bộ ĐHQGHN tặng Giấy khen Đội ngũ đảng viên luôn có bản lĩnhchính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,không có đảng viên mắc sai phạm phải xử lí Công đoàn Trung tâm nhiềunăm liền được công nhận là công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc, được Côngđoàn ngành và Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Khen
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm giáo dục quốc phòng an ninh Đại học Quốc gia Hà Nội
* Chức năng nhiệm vụ của Trung tâm GDQP - AN Đại học Quốc gia
Hà Nội: được quy định tại quyết định thành lập Trung tâm và Quy chế tổchức và hoạt động của Trung tâm giáo dục quốc phòng - an ninh, đó là:
- Tiếp nhận sinh viên từ các trường Đại học thành viên, ĐHQGHN và trongkhu vực Thành Phố theo kế hoạch đã thống nhất giữa các trường và Trung tâm
- Tổ chức đào tạo tập trung theo chương trình, nội dung do Bộ trưởng
- Tổ chức nghiên cứu phương pháp sư phạm quân sự trong GDQP - AN, thamgia biên soạn giáo trình GDQP - AN cho các đối tượng học tập tại Trung tâm
- Tổ chức nghiên cứu khoa học sư phạm quân sự
- Tổ chức bồi dưỡng giáo viên GDQP-AN
Trang 37* Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN ra đời với sứ mệnh quan trọng là:
- Tổ chức giảng dạy chương trình môn học GDQP - AN cho học sinh, sinhviên góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của ĐHQGHN Qua đó tạođiều kiện cho thế hệ trẻ có điều kiện tu dưỡng phẩm chất đạo đức và rèn luyệnnăng lực thực tế, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH để sẵn sàngthực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
- Phấn đấu trở thành cơ sở hàng đầu về chất lượng giảng dạy vànghiên cứu khoa học GDQP-AN bằng cách thu hút sự cộng tác chặt chẽ củacác nhà giáo giàu kinh nghiệm, tiếp thu những tinh hoa của các thành tựugiáo dục trong và ngoài nước, trong và ngoài quân đội
- Trung tâm GDQP - AN đang phấn đấu để đến năm 2018 trở thànhmột cơ sở đào tạo Đại học, ngoài việc giảng dạy GDQP - AN cho học sinh,sinh viên sẽ còn mở mã ngành đào tạo giáo viên GDQP - AN cho các trườngĐại học, Cao đẳng, Trung cấp và giáo viên bậc Trung học phổ thông (theoChiến lược phát triển giáo dục đến 2020)
Triết lý phát triển của Trung tâm là: Xây dựng một Tổ chức biết họchỏi, với một nền văn hoá đủ mạnh để mọi thành viên sẵn sàng chia sẻ, sẵnsàng làm việc và hiến dâng hết mình cho Tổ chức; chất lượng, hiệu quả,chuyên nghiệp cao trong mọi hoạt động; cam kết sự công bằng trong đội ngũcán bộ, giảng viên và sinh viên
2.2.3 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN ngoài BGĐ và 2 hội đồng,Trung tâm còn có 3 Phòng chức năng, 1 ban và 2 Khoa chuyên môn với 3 bộ môn
Trang 38Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDQP - AN, ĐHQG Hà Nội
Trung tâm GDQP-AN Đại học Quốc gia Hà Nội là một đơn vị đầumối trực thuộc trường Đại học Quốc gia Hà Nội Về cơ cấu, tổ chức bộ máycủa Trung tâm bao gồm:
- 2 Hội đồng: Khoa học và đào tạo và thi đua, khen thưởng
- BGĐ gồm: 01 giám đốc, 03 phó giám
- Dưới BGĐ gồm: 02 khoa giảng viên ( khoa Chính trị và khoa Quân sự); 03 phòng ( phòng đào tạo, quản lý sinh viên và đối tượng bồi dưỡng; phòng hành chính - tổ chức và Phòng Hậu cần, kỹ thuật, tài chính); khối cán
bộ quản lý sinh viên (08 -10 đại đội quản lý sinh viên)
2.2 Thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn Quân sự chung ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng - an ninh, Đại học quốc gia Hà Nội
2.2.1 Thực trang hoạt động dạy học môn Quân sự chung ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng - an ninh, Đại học quốc gia Hà Nội
* Thực trạng đội ngũ giảng viên của Trung tâm
Tổng số giảng viên của Trung tâm là 40 đ/c Trong đó cấp hàm đại tá
có 03 đ/c, thượng tá 01 đ/c, trung tá 08 đ/c, thiếu tá có 02 đ/c, đại úy 08đ/c;thượng úy 01 đ/c và giảng viên thỉnh giảng là 10 đ/c
Trang 39Về độ tuổi: số giảng viên dưới 40 tuổi chiếm 50% quân số đây là điều
thuận lợi với đối với Trung tâm vì đội ngũ giảng viên trẻ có sức khỏe, có tinhthần nhiệt huyết, có ý trí phấn đấu, ham học hỏi Bên cạnh đó, do tuổi đời còntrẻ nên kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy còn thiếu điều này ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng dạy học của Trung tâm
- Độ tuổi từ 41- 50 tuổi chiếm 47,5% quân số, đây là độ tuổi đạt độ chínnhất trong tuổi đời công tác của mỗi người, tuy nhiên chỉ có 50% giảng viên ở
độ tuổi này, điều này cũng tác động đến chất lượng dạy học của Trung tâm
- Độ tuổi trên 50 tuổi chỉ có 01 đ/c chiếm 2.5% Điều này cũng ảnhhưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học, vì ở độ tuổi này người giảng viên
có rất nhiều kinh nghiệm về dạy học và có thể truyền lại những kinh ngiệm đócho giảng viên trẻ
Về thâm niên công tác:
- Giảng viên có thâm niên dưới 5 năm chiểm tỷ lệ là 20% đây chủ yếu
là những giảng viên trẻ mới được tuyển vào Trung tâm và một số giảng viên
là SQQĐ Trong số này, nhiều giảng viên chưa qua giảng dạy tại các nhàtrường nên kinh nghiệm và PPDH còn hạn chế, điều này ảnh hưởng trực tiếpđến HĐDH của Trung tâm
- Giảng viên có thâm niên từ 5 - 10 năm chiếm tỷ lệ là 55% đây là sốgiảng viên có thâm niên chiếm tỷ lệ cao nhất nhưng số giảng viên này thuộcdiện là sỹ quan quân đội biệt phái nên thời gian công tác của học ở Trung tâm
là không quá 10 năm Có nghĩa là nhiều giảng viên sắp đến thời gian chuyểncông tác và điều này tác động đến tâm lý của mỗi giảng viên nên điều nàycũng ảnh hưởng trực tiếp đên chất lượng dạy học
- Giảng viên có thâm niên từ 11 đến 24 năm là 25% Vì số giảng viên làSQBP không được công tác ở Trung tâm quá 10 năm còn số giảng viên GDQPcủa trường thì đều mới được đi đào tạo về Đây chính là những khó khăn củaTrung tâm hiện nay
Trang 40* Về trình độ của giảng viên ở Trung tâm đã bước đầu đảm bảo theo
quy định chung của Bộ GD&ĐT đối với giảng viên Đại học
- Giảng viên ở Trung tâm có trình độ Th.S, TS, chiếm tỉ lệ trên 70%,trong đó có 01 TS chiếm tỷ lệ 2,5% Đây là điều kiện thuận lợi để nâng cáochất lượng dạy học
- Tỉ lệ giảng viên có trình độ cử nhân còn 30%, cũng do đặc thù củaTrung tâm nên việc cử cán bộ là SQBP đi học ThS là rất khó khăn vì họ chỉ
có thời hạn công tác ở Trung tâm là 10 năm nên họ không muốn đi học Hiệnnay chưa có cơ sở nào đào tạo trình độ ThS chuyên ngành GDQP - AN màchủ yếu là giảng viên đi học chuyên ngành khác
Như vậy, để hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ được giao, Trung tâm
đã và đang xây dựng cơ cấu tổ chức phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môncủa đội ngũ cán bộ giảng viên Hiện nay, Trung tâm rất quan tâm đến vấn đề cửgiảng viên đi đào tạo để nâng cao trình độ, tuy nhiên việc phát triển đội ngũgiảng viên là SQBP của Trung tâm gặp nhiều khó khăn do đặc thù của biệt phái
là có thời hạn Chính điều đó dẫn đến thực trạng giảng viên của Trung tâm cóhọc vị còn thấp so với các Trung tâm khác, đặc biệt là học vị TS Về đội ngũCBGV trực tiếp tham gia giảng dạy tại Trung tâm còn thiếu trong khi đó lưulượng sinh viên đến Trung tâm học tập lại đông trên 10.000 sinh viên một nămnên đã ảnh hưởng phần nào đến chất lượng giảng dạy của Trung tâm
* Thực trạng dạy học môn Quân sự chung của đội ngũ giảng viên
Hiện nay Trung tâm tổ chức dạy học môn QSC trong chương trìnhGDQP - AN theo hình thức tập trung, mỗi khóa học của sinh viên được họctrong 1-2 tuần Trung tâm tổ chức học tập, huấn luyện, ăn, ở tập trung, quản
lý toàn diện theo nề nếp chính quy của quân đội Kết hợp chặt chẽ việc họctập với rèn luyện kỷ luật, lễ tiết tác phong, nếp sống khoa học, thông qua việcduy trì, các chế độ trong ngày, trong tuần theo điều lệnh quản lý bộ đội