1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục kỹ NĂNG SỐNG của học VIÊN học VIỆN CẢNH sát NHÂN dân

123 434 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 865 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc sống hiện đại đòi hỏi mỗi cá nhân phải không ngừng cập nhật giá trị và hoàn thiện giá trị của mình. Để tồn tại và phát triển, với bất kỳ ai, việc có công việc làm để đảm bảo sự tồn tại của cuộc sống là vô cùng quan trọng. Đồng thời với đó là yêu cầu học tập, bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng để nâng cao chất lượng đời sống đó, để đời sống thực sự là “sống” chứ không là “tồn tại”.

Trang 1

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Cuộc sống hiện đại đòi hỏi mỗi cá nhân phải không ngừng cập nhật giá trị

và hoàn thiện giá trị của mình Để tồn tại và phát triển, với bất kỳ ai, việc cócông việc làm để đảm bảo sự tồn tại của cuộc sống là vô cùng quan trọng Đồngthời với đó là yêu cầu học tập, bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng để nâng caochất lượng đời sống đó, để đời sống thực sự là “sống” chứ không là “tồn tại”

Trong một môi trường thay đổi liên tục về CNTT, toàn cầu hóa ảnhhưởng đến mọi mặt đời sống kinh tế - chính trị - xã hội, kỹ năng sống là mộtphần thiết yếu của việc có thể để đáp ứng những thách thức của cuộc sốngngày nay Để đối phó với tốc độ ngày càng tăng và sự thay đổi của cuộc sốnghiện đại, sinh viên cần có kĩ năng như khả năng để đối phó với sự căng thẳng

và thất vọng Ngày nay, học viên, sinh viên sẽ phải tham gia nhiều hoạt độngmới trong quá trình tham gia giáo dục của mình, đối mặt với nhiều áp lực củaviệc học tập và giao tiếp xã hội

Do vậy, để giúp học viên, sinh viên thích ứng với môi trường giáodục và xã hội hiện nay cần trang bị và đào tạo cho các em những kĩ năng cần

thiết để các em học tập và sinh hoạt trong môi trường hiện đại ngày nay Ở

Việt Nam chúng ta hiện nay, Giáo dục - đào tạo còn đang quá chú trọng đếntrang bị kiến thức mà chưa chú trọng đến trang bị kĩ năng nói chung và kĩnăng sống nói riêng Nguyên nhân căn cốt đó là: Việc nhận diện cái cần rènluyện để trở thành chuyên nghiệp chưa được xác định đúng, kĩ năng cần có thìkhông đảm bảo Tại Mỹ, từ những năm 1916, người Mỹ đã nhận ra rằng trithức nhân loại là rất lớn nhưng để thực hành thành thạo và áp dụng, ứng dụngvào cuộc sống thì thường không như mong muốn Cho nên mỗi người dân laođộng tại Mỹ phải đảm bảo thực hành và phải được các tổ chức công nhận là

đã qua 13 kĩ năng bắt buộc Đã đến lúc giáo dục Việt Nam cần nhìn nhận vàđưa vấn đề giáo dục kĩ năng nói chung và kĩ năng sống nói riêng vào các môn

Trang 2

học nhà trường, đây là một vấn đề mang tính chiến lược và cấp thiết trongthời kì hội nhập quốc tế của nước ta.

Xác định nhiệm vụ chính trị trong tình hính mới, các Học viện, nhà trườngCông an nhân dân đã cùng với sinh viên xác định được trách nhiệm của mình làphải học tập rèn luyện tốt để xứng đáng với sự tin tưởng của Đảng và của nhândân Nhận thức được điều đó sinh viên đã nỗ lực phấn đấu học tập nâng cao trình

độ về mọi mặt, thường xuyên rèn luyện đạo đức, nhân cách của mình Trong họctập và rèn luyện sinh viên đã khắc phục được những khó khăn, thử thách để tựvươn lên Học viên, sinh viên là người giữ vai trò quyết định đến quá trình rènluyện kĩ năng sống, bản lĩnh chính trị của mình Họ hiểu rằng nhà trường là yếu

tố tạo cho mình có sự nhận thức đúng đắn về kĩ năng sống, bản lĩnh chính trị và

nó mang tính định hướng, còn có được kĩ năng sống, bản lĩnh chính trị haykhông thì phải có quá trình giáo dục và quá trình tự nhận thức đó thành hànhđộng của bản thân mình thì mới có kĩ năng sống, bản lĩnh chính trị

Bên cạnh những học viên, sinh viên tốt nghiệp ra trường có kĩ năngsống, bản lĩnh chính trị vững vàng, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao dù

ở bất cứ cương vị nào, địa bàn công tác nào thì vẫn có những học viên, sinhviên không đạt được những tiêu chí chung đó “Trong quá trình học tập, rènluyện, một số học viên, sinh viên không chú trọng đến rèn luyện nhân cách,đạo đức, kĩ năng sống của mình, coi thường kỷ cương kỷ luật, tự do buông thảmình Lối sống thực dụng, vị kỷ, vì tiền đã làm cho một số sinh viên xa rời lýtưởng của mình, chạy theo những ham muốn tầm thường Tình trạng uốngrượu bia say, đánh nhau, đánh bạc, vi phạm nội quy của nhà trường trong sinhviên còn nhiều”[2] Với tình hình trên, cho chúng ta thấy việc cần thiết quản

lý giáo dục kĩ năng sống cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay, và kĩ năngsống cần được coi như một kĩ năng thiết yếu trong các trường nói chung vàcác Học viện, nhà trường Công an nhân dân nói riêng

Trang 3

Trên góc độ này, Học viện Cảnh sát nhân dân, đã nhận thức khá rõ vaitrò trong việc quản lý giáo dục kĩ năng sống của sinh viên Học viện Đặctrưng của lực lượng vũ trang, đặc điểm đào tạo theo quy chế ngành, điều lệnhnội vụ Công an nhân dân, yêu cầu công tác của ngành là thế mạnh đặc trưng

để giáo dục kĩ năng sống cho sính viên của các trường thuộc lực lượng vũtrang nói chung

Tuy nhiên, trên thực tế kĩ năng sống của học viên vẫn chưa được đào tạo

để phát huy hết giá trị của nó trong hoạt động học tập của học viên và thựctiễn công tác ngoài xã hội Do vậy, quản lý giáo dục kĩ năng sống góp phầnphát triển toàn diện nhân cách cho học viên Học viện Cảnh sát nhân dân làvấn đề cấp thiết đặt ra trong bối cảnh đổi mới giáo dục đào tạo

Có thể nói, vấn đề giáo dục kĩ năng sống và quán lý giáo dục kĩ năngsống nói chung đã được xã hội hết sức quan tâm nghiên cứu, nhưng chưa cócông trình nào đề cập tới vấn đề quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viênngành Công an nói chung và học viên Học viện Cảnh sát nhân dân nói riêng

Chính vì vậy, vấn đề “Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên Học viện Cảnh sát nhân dân” được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành

Quản lý giáo dục góp phần tăng cường phát triển toàn diện nhân cách cho họcviên Học viện trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tintruyền thông và hội nhập quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

* Những nghiên cứu ở nước ngoài

Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI cho thấy chỉ thôngqua con đường giáo dục, giá trị mới có thể tạo nên cơ sở bền vững cho việcgiải quyết khủng hoảng trong quá trình phát triển nhân cách của sinh viên

Hội thảo Bali khái quát báo cáo tham luận của các quốc gia tham giahội thảo về giáo dục kĩ năng sống cho thanh niên đã xác định mục tiêu củagiáo dục kĩ năng sống cho giáo dục của các nước trong vùng Châu Á – Thái

Trang 4

Bình Dương nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng

và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi các tình huống của cuộc sốnghàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống

Tại nhiều nước phương Tây, thanh thiếu niên đã được học những kĩnăng sống về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện vàđương đầu với những khó khăn, và cách vượt qua những khó khăn đó cũngnhư cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người và người.Tại Hàn Quốc, học sinh tiểu học được học cách đối phó thích ứng với cáctai nạn như cháy, động đất, thiên tai tại Trung tâm điều hành tình trạngkhẩn cấp Seoul..

Nghiên cứu về quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, sinh viêncũng đã có một số công trình đề cập đến và cho rằng đây là một biện pháp,con đường để nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình giáo dục kĩ năngsống Tuy nhiên các nghiên cứu đó còn chưa nhiều và chưa thật sự có hệthống, chưa thấy rõ được tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề quản lý giáo dục

kĩ năng sống

Trong khi học viên, sinh viên học tập chăm chỉ để có được điểm cao,phấn đấu để có việc làm khi ra trường Theo nghiên cứu của CBI (Liên đoànCông nghiệp Anh) vào năm 2011 người sử dụng lao động yêu cầu người laođộng ngoài trình độ chuyên môn còn phải chú trọng đến việc rèn luyện các kĩnăng trong làm việc, bao gồm: Khả năng tự quản lý, giải quyết các vấn đề vàhiểu được môi trường làm việc; Khả năng làm việc nhóm; Quản lý thời gian

và con người; Sự nhanh nhẹn và khả năng thích ứng với những vai trò khácnhau và môi trường làm việc linh hoạt

Mặc dù, giáo dục kĩ năng sống cho sinh viên đã được nhiều nước quantâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về kĩ năng sống của Tổ chức y tếthế giới hoặc của Unesco, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục kĩ năngsống ở các nước không giống nhau Ở một số nước, nội hàm của khái niệm kĩ

Trang 5

năng sống được mở rộng, trong khi một số nước xác định nội hàm của kháiniệm kĩ năng sống chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội

Quan niệm, nội dung giáo dục kĩ năng sống được triển khai ở các nướcvừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù (những nét riêng) của từng quốcgia Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục kĩ năng sống tronglĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau Dophần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục kĩ năng sống nênnhững nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưatoàn diện và sâu sắc Cho đến nay chưa có quốc gia nào đưa được kinhnghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng

*Các nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, kĩ năng sống đang được quan tâm, tuy nhiên trong nhàtrường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kĩ năng học tập và chính trị, còn việcgiáo dục kĩ năng sống chưa được quan tâm nhiều Theo chuyên viên tâm lýHuỳnh Văn Sơn, cố vấn Trung tâm chăm sóc tinh thần Ý tưởng Việt: "hiệnnay, thuật ngữ kĩ năng sống được sử dụng khá phổ biến nhưng có phần bị

"lạm dụng" khi chính những người huấn luyện hay tổ chức và các bậc cha mẹcũng chưa thật hiểu gì về nó" Theo Vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh Sinhviên (Bộ Giáo Dục và Đào tạo) Phùng Khắc Bình, trong tương lai và về lâudài cần xây dựng chương trình môn học giáo dục kĩ năng sống cho học sinhlớp 1 đến lớp 12

Thuật ngữ kĩ năng sống được người Việt Nam bắt đầu biết đến từchương trình của Unicef (1996) “giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe vàphòng chống HIV/ AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường [10].Thông qua quá trình thực hiện chương trình này Nội dung của khái niệm kĩnăng sống và giáo dục kĩ năng sống ngày càng được mở rộng

Tác giả Hà Nhật Thăng, trong cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” (1998), đã nghiên cứu, đề xuất trang bị cho học sinh, sinh

Trang 6

viên hệ thống giá trị cốt lõi, cơ sở cở bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệtrẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi,phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại.

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn

Tính, Vũ Phương Liên trong cuốn sách “Phương pháp giáo dục giá trị sống

và kĩ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” (2012) đã luận giải vấn đề

lồng ghép giữa giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống, trong đó giáo dục giá trịsống luôn là nền tảng, kĩ năng sống là công cụ và phương tiện để tiếp nhận vàthể hiện giá trị sống Nghiên cứu của các tác giả đã giúp cho giáo viên trunghọc định hướng tổ chức thực hiện giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống trongnhà trường, chỉ ra rằng giáo viên có thể tổ chức các giờ dạy hay hoạt độnggiáo dục giá trị sống và kĩ năng sống một cách riêng biệt hoặc lồng ghéptrong dạy học các môn học mà giáo viên đảm nhận

Tác giả Nguyễn Công Khanh trong cuốn “Phương pháp giáo dục giáo trị sống, kĩ năng sống” (2012) đã nghiên cứu về đổi mới, đa dạng hóa phương

pháp giáo dục giá trị sống và phát triển kĩ năng sống đáp ứng nhu cầu, hứngthú, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh, sưu tầm các câu chuyện ẩnchứa trong đó các triết lí, các bài học giáo dục giá trị sống…

Các tác giả Bùi Văn Trực, Phạm Thế Hưng – Trung tâm huấn luyện Kĩnăng sống Phù Sa Đỏ, đã tập hợp các chuyên đề, bài giảng, phương pháp,truyện ngụ ngôn… về giá trị sống, kĩ năng sống

Chương trình phát triển giáo dục trung học cho lưu hành “Tài liệu tập huấn giáo viên chủ nhiệm với công tác tư vấn tâm lí – giáo dục cho học sinh trung học” Nhằm trang bị cho giáo viên quy trình, công cụ tư vấn và các loại

hình tư vấn học sinh một số vấn đề tâm lí mà học sinh có thể gặp phải, cáchgiúp đỡ các em phòng ngừa, đối mặt và giải quyết trong các quan hệ xã hội

Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành tài liệu tập huấn

“Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị, kĩ năng sống và

Trang 7

giao tiếp ứng xử trong quản lí” do các tác giả Lục Thị Nga và Nguyễn Thanh

Bình biên soạn để triển khai trong ngành giáo dục

Từ năm 2010 đến nay, nhiều tác giả đã chọn các đề tài có liên quan đếnquản lý giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh làm luận văn tốtnghiệp cao học chuyên ngành quản lý giáo dục

Tác giả Nguyễn Hữu Đức, với đề tài luận văn quản lý giáo dục : “Quản

lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo – Nam Định trong giai đoạn hiện nay” (2010).

Đề tài: “Giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh trung học phổthông” - Mã số B2005-75-126, (Nguyễn Thanh Bình chủ nhiệm) cho thấyrằng: học sinh trung học phổ thông có nhu cầu rất cao về kỹ năng sống;(THPT Nguyễn Tất Thành, Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) và THPT Mỹ Hào(Hưng Yên) Trong đó có 4 kỹ năng được học sinh xác định là rất cần đượcgiáo dục như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng raquyết định, giải quyết vấn đề và đã thiết kế một số chủ đề cốt lõi như: Kỹnăng tự nhận thức; Kỹ năng xác định mục tiêu cho cuộc sống; Kỹ năng raquyết định và giải quyết vấn đề; Kỹ năng kiên định

Tóm lại, trong những năm qua, giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường

đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu Các công trình trên rất đa dạng,phong phú, đã phân tích vấn đề giáo dục giá trị sống dưới nhiều góc độ khácnhau và có chiều sâu Đã làm rõ được nhiều vấn đề về cơ sở lý luận và thựctiễn của giáo dục kĩ năng sống

Qua việc nghiên cứu, tham khảo các công trình nghiên nêu trên, có thểrút ra một số nhận xét sau đây:

Một là, vấn đề giáo dục kĩ năng sống và quản lý giáo dục kĩ năng sống

đã được đề cập và nghiên cứu rất lâu ở nước ngoài và ở nước ta Các côngtrình nghiên cứu, giáo trình, tài liệu đều nhấn mạnh tầm quan trọng, tính cấpthiết của thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, giáo dục kĩ năng

Trang 8

sống và quản lý giáo dục kĩ năng sống luôn là một trong những mối quan tâmhàng đầu của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý giáo dục, các nhà khoa học.

Hai là, vấn đề giáo dục kĩ năng sống và quản lý giáo dục kĩ năng sốngđược nhiều tác giả nghiên cứu ở góc độ lý luận, cá biệt, có những công trìnhmang tính kinh viện, chỉ đề cập đến những vấn đề chung nhất, mổ xẻ những cáchhiểu khác nhau về kĩ năng sống và những nội dung chung nhất của kĩ năng sống.Chưa có nhiều công trình quan tâm giải quyết những đòi hỏi cấp bách của thựctiễn là làm thế nào để giáo dục kĩ năng sống một cách có hiệu quả, hình thành kĩnăng sống tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường

Ba là, đã có một số công trình nghiên cứu, hướng dẫn của Bộ giáo dục

và Đào tạo về giáo dục kĩ năng sống và quản lý giáo dục kĩ năng sống cho cáccấp các bậc học cụ thể, trên một địa bàn cụ thể Cho tới thời điểm hiện tại,chưa có công trình nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống và quản lý giáo dục

kĩ năng sống cho sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân

Do vậy, đề tài” Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho sinh viên Học việnCảnh sát nhân dân” là một nội dung mới, đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết từthực tế giáo dục tại Học viện Cảnh sát nhân dân

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn quản lý giáo dục kĩ năng sốngcho học viên; đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng sống cho họcviên ở Học viện Cảnh sát nhân dân một cách khoa học, thiết thực, khả thi; qua

đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở Học viện Cảnh sát nhân dân

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ một số vấn đề lý luận quản lý giáo dục kĩ năng sống cho họcviên, sinh viên ở các trường đại học;

- Phân tích thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học viên và quản lýgiáo dục kĩ năng sống cho học viên ở Học viện Cảnh sát nhân dân;

Trang 9

- Đề xuất hệ thống biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng sống cho họcviên ở Học viện Cảnh sát nhân dân hiện nay.

- Khảo nghiệm tính cần thiết và tính 3khả thi của các biện pháp đã đề xuất

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục kĩ năng sống cho học viên hệ đào tạo chính quy ởHọc viện CSND

* Đối tượng nghiên cứu

Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên sỹ quan Cảnh sát, hệ chínhquy ở Học viện CSND

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn đi sâu nghiên cứu về biện pháp quản lý giáo dục

kĩ năng sống cho học viên ở Học viện CSND

- Về không gian, địa điểm: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về quản lý giáodục kĩ năng sống cho học viên sỹ quan Cảnh sát, hệ chính quy ở Học viện CSND

- Về thời gian, các số liệu điều tra, khảo sát được giới hạn từ năm 2013đến nay

5 Giả thuyết khoa học

Giáo dục kĩ năng sống là một vấn đề rộng lớn và phức tạp Chất lượnggiáo dục kĩ năng sống bị chi phối và phục thuộc vào nhiều yếu tố trong đó cóquản lý giáo dục Nếu trong quá trình quản lý giáo dục kĩ năng sống cho họcviên Học viện CSND, các chủ thể quản lý thực hiện đồng bộ và hiệu quả cácvấn đề như: kế hoạch hóa quá trình giáo dục kĩ năng sống; tổ chức bồi dưỡngnâng cao nhận thức, kiến thức, kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năngsống cho các lực lượng giáo dục và đội ngũ sinh viên; tổ chức các lực lượnggiáo dục thực hiện có chất lượng hoạt động giáo dục kĩ năng sống; hoàn thiện

cơ chế quản lý, xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy quản lý giáo dục

kĩ năng sống; phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội trong

Trang 10

giáo dục kĩ năng sống cho học viên; thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quảgiáo dục kĩ năng sống thì sẽ quản lý có hiệu quả giáo dục kĩ năng sống củaNhà trường góp phần phát triển toàn diện nhân cách của học viên, sinh viên,đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, giáo dục - đào tạo trong giai đoạn hiện nay.

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng kết hợpcác phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn, cụ thể là:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:

Hệ thống hóa, khái quát hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách củaĐảng, nhà nước, các cơ quan chức năng về giáo dục kĩ năng sống và quản lýgiáo dục kĩ năng sống cho sinh viên

Nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp các số liệu, cácbáo cáo về giáo dục kĩ năng sống và quản lý giáo dục kĩ năng sống của Học viện

Nghiên cứu các giáo trình, sách tham khảo, tài liệu về khoa học quản lý vàquản lý giáo dục; các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học có liên quan đến

đề tài nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí, báo, kỷ yếu hội thảo khoa học…

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra: Điều tra xã hội học đối với 15 cán bộ quản lý,

200 giảng viên, 300 sinh viên để làm cơ sở đánh giá thực trạng, tìm nguyênnhân và đề xuất các biện pháp trong quản lý giáo dục kĩ năng sống

Trang 11

Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động lãnh đạo, hoạt động dạy

học của giảng viên, hoạt động học tập, rèn luyện của sinh viên để rút ra nhữngkết luận về nội dung nghiên cứu

Phương pháp tọa đàm, trao đổi: Tọa đàm, trao đổi với cán bộ quản lý,

giảng viên và sinh viên từ đó rút ra những kết luận cho nhiệm vụ nghiên cứu

Phương pháp tổng kết thực tiễn: Nghiên cứu từ những vấn đề đã và

đang diễn ra nhằm đúc rút thành những kinh nghiệm về quản lý giáo dục kĩnăng sống cho sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân

Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản

lý về một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan trong quá trình nghiêncứu đề tài

Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán

học để xử lý, phân tích, tổng hợp kết quả điều tra Các phương pháp này được

sử dụng ở chương 2 và 3 của luận văn

7 Ý nghĩa của đề tài

- Luận văn góp phần phát triển và làm phong phú thêm cơ sở lý luận vềgiáo dục kĩ năng sống và quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinhviên Đồng thời đóng góp những luận cứ khoa học cho lãnh đạo, giảng viên,học viên, sinh viên, các lực lượng tham gia giáo dục kĩ năng sống và quản lýgiáo dục kĩ năng sống cho học viên Học viện CSND

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong giao dục kĩnăng sống cho các trường đại học trong lực lượng Công an nhân dân nói riêng

và các trường đại học nói chung, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ởcác Học viện, nhà trường

8 Kết cấu của đề tài

Luận văn gồm: phần mở đầu, phần nội dung với 3 chương (8 tiết), phầnkết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG

CHO HỌC VIÊN, SINH VIÊN ĐẠI HỌC 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học

* Khái niệm kĩ năng sống

“Kĩ năng sống” là phạm trù mới được đưa vào nước ta và dã được nghiêncứu, luận giải dưới nhiều bình diện khác nhau

Trước hết khái niệm kĩ năng được hiểu là “khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy” [42].

Để hình thành được kĩ năng năng trước hết cần có kiến thức làm cơ sở choviệc hiểu biết, luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện được mộthành động theo đúng mục đích yêu cầu

Kĩ năng sống (life skill) là các kĩ năng con người cần có để tồn tại và pháttriển khi xem xét con người trên ba mối quan hệ:

- Con người với chính bản thân mình;

- Con người với các mối quan hệ xã hội;

- Con người trong các mối quan hệ với tự nhiên

Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia, Kĩ năng sống là một tập hợp các

kĩ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người.

Theo tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa “kĩ năng sống là "khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày" Trong giáo

dục tiểu học và giáo dục trung học, kĩ năng sống có thể là một tập hợpnhững khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc

Trang 13

sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân),chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn đạt, và kĩ năng tổ chức Đôi khi kĩnăng sống, nhưng không phải luôn luôn, khác biệt với các kĩ năng nghiệp

vụ (trong nghề nghiệp)

Theo UNICEF, giáo dục dựa trên Kĩ năng sống cơ bản là sự thay đổitrong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiếnthức, thái độ và hành vi Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức(phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởngvào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào)

Theo WHO, kĩ năng sống được chia thành 2 loại là kĩ năng tâm lý xãhội và kĩ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tưduy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứngphó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bìnhluận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết

Theo UNESCO, kĩ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục:

- Học để biết (learn to know) gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy

phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định giải quyết vấn đề, nhận thứcđược hậu quả…;

- Học để làm (learn to do) gồm các kĩ năng thực hiện công việc và làm

nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm….;

- Học để cùng chung sống (learn to live toghether) gồm các kĩ năng xã

hội như giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm,thể hiện sự cảm thông;

- Học làm người (learn to be) gồm các kĩ năng cá nhân như ứng phó

với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…

+ Kĩ năng cơ bản: Lắng nghe; Đặt câu hỏi; Trả lời; Ghi nhớ; Phân tích;Tổng hợp; Học quên; Học thất bại;

Trang 14

+ Kĩ năng nâng cao: Làm cha mẹ; Sáng tạo; Làm việc độc lập; Quản lýthời gian; Giao tiếp; Giải quyết xung đột; Làm việc; Ứng phó cảm xúc; Ứngphó nguy biến; Ra quyết định.

* Khái niệm giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học

- Quan niệm về học viên, sinh viên đại học

Học viên, sinh viên đại học là những người đã trúng tuyển kỳ thi tuyểnsinh đại học hoặc được xét tuyển, cử tuyển theo quy chế của Bộ Giáo dục -Đào tạo; có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ học vấn, đạo đức, sức khoẻvào học tập, rèn luyện ở các cơ sở giáo dục đại học để đào tạo trình độ bậc đạihọc theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học và của cácngành nghề tương ứng Học viên, sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng đại học

Theo Điều 60 của Luật Giáo dục Đại học: Học viên, sinh viên đại học

có các nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản sau đây:

+ Học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện theo quy định

+ Tôn trọng giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức và nhân viên của cơ

sở giáo dục đại học; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và rèn luyện

+ Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môitrường, bảo vệ an ninh, trật tự, phòng, chống tiêu cực, gian lận trong học tập

và thi cử, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội

+ Được tôn trọng và đối xử bình đẳng, không phân biệt nam nữ, dântộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, được cung cấp đầy đủ thông tin về việchọc tập, rèn luyện

+ Được tạo điều kiện trong học tập, tham gia hoạt động khoa học vàcông nghệ, các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao

+ Đóng góp ý kiến, tham gia quản lý và giám sát hoạt động giáo dục vàcác điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục

Trang 15

+ Được hưởng chính sách đối với người học thuộc đối tượng hưởng ưu tiên và chính sách xã hội.

+ Các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật

* Khái niệm Giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học

KNS không phải là một vấn đề mới nảy sinh mà là nhu cầu từ lâunhưng chưa thật sự được quan tâm đúng mức trong trường học Giáo dụcKNS cho học viên, sinh viên là vấn đề đòi hỏi sự quan tâm, đánh giá đúng củangành giáo dục - đào tạo và toàn xã hội

Kĩ năng sống là khái niệm xuất hiện trong thời hiện đại và có tính chấttoàn cầu Kỹ năng sống là năng lực, là cách thức, là công cụ mọi người cầnphải có để đối phó và vượt qua những nguy cơ thời hiện đại, đồng thời gópphần tích cực nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng, bảo vệ ngôi nhà

chung thế giới “Giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học là một quá trình tác động thống nhất giữa nhà giáo dục và sinh viên nhằm hình thành ở sinh viên có những hiểu biết và những kĩ năng sống cơ bản của người sinh viên đáp ứng đòi hỏi của xã hội và của ngành nghề được đào tạo trong

xã hội hiện nay”.

Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học là nhằmhình thành, phát triển ở họ những hiểu biết và có những kĩ năng sống cơ bảntrong xã hội Đồng thời hình thành cho học viên, sinh viên khả năng tự hìnhthành, tự phát triển, tự hoàn thiện những kĩ năng sống cơ bản, cần thiết đểthích nghi nhanh với sự phát triển của xã hội, của ngành nghề, của cuộc sống,qua đó, góp phần quan trọng tới sự hình thành, phát triển nhân cách của ngườicông dân trong xã hội hiện đại

Chủ thể giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên là các nhà giáodục và bản thân học viên, sinh viên Học viên, sinh viên đại học vừa là đốitượng tác động của nhà giáo dục đồng thời họ vừa là chủ thể tự học tập, tựgiáo dục, rèn luyện để hình thành kĩ năng sống cho chính bản thân

Trang 16

Đối tượng tác động của giáo dục kĩ năng sống chính là học viên, sinhviên Đây là đội ngũ xét về tuổi đời còn trẻ từ 18 - 24 tuổi; có trình độ nhậnthức tốt, nhanh nhạy trong tiếp thu tri thức mới, có sức khoẻ, thể lực tốt, cơbản đã hoàn thiện các chức năng tâm, sinh lý Tuổi trẻ là lứa tuổi sáng tạocao, có ước mơ, hoài bão và ý chí phấn đấu Những vấn đề đó tạo điều kiệnthuận lợi trong quá trình giáo dục kĩ năng sống.

Tuy nhiên với học viên, sinh viên đại học, độ trải nghiệm trong thực tiễncuộc sống, nghề nghiệp còn ít, dễ có tâm lý chán nản trước những khó khăn,trắc trở trong cuộc sống Điều này đòi hỏi các nhà giáo dục, quản lý giáo dụccần nghiên cứu, nắm chắc để xác định nội dung, chương trình, lựa chọn hìnhthức, phương pháp, biện pháp giáo dục, quản lý giáo dục phù hợp mới bảo đảmcho quá trình giáo dục kĩ năng sống đạt được kết quả như mong muốn

Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên bao gồm nhiềuvấn đề cả về nhận thức, thái độ, hành vi; đồng thời đó còn là các kĩ năng sống

cơ bản của con người trong xã hội hiện nay và những kĩ năng cơ bản củangành nghề mà họ đang được đào tạo Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh,sinh viên được thông qua con đường chủ yếu trong nhà trường, kết hợp vớicác hoạt động xã hội và trong thực tiễn cuộc sống, thực tiễn hoạt động củacon người

1.1.2 Khái niệm quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học

Từ quan niệm về QLGDKNS cùng với các khái niệm công cụ trình bàytrên có thể khái quát:

Quản lý là “Hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định củachủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý)trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của

tổ chức” [42,tr.326]

Trang 17

Quản lý giáo dục (cấp vĩ mô) là “Những tác động tự giác (có ý thức, cómục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cảcác mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường)nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạothế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [24 tr.36,37]

Quản lý giáo dục (cấp vi mô): là “Hệ thống những tác động tự giác (có

ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản

lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh vàcác lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng

và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [24, tr.37,38]

Thực chất của quản lý giáo dục là những tác động có định hướng, cómục đích, được xác lập kế hoạch cụ thể nhằm thực hiện các biện pháp quản lýhướng tới hiệu quả cao nhất trong việc hình thành, phát triển và hoàn thiệnphẩm chất nhân cách của người học theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo

Từ cách tiếp cận về kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống cho học viên,sinh viên đại học, quản lý giáo dục như đã đề cập ở trên, chúng tôi quan niệm:

Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học là tổng hợp những tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý đến quá trình giáo dục kĩ năng sống cho sinh viên, nhằm đảm bảo cho quá trình giáo dục kĩ năng sống đó được tiến hành một cách chặt chẽ, khoa học, thiết thực đạt chất lượng, hiệu quả, hình thành cho sinh viên những kĩ năng sống cơ bản , qua

đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các nhà trường đại học.

Từ khái niệm trên cho thấy:

Mục tiêu quản lý: Tạo dựng môi trường giáo dục tích cực, thuận lợi

nhằm phát huy tối đa các nguồn lực, sự năng động, sáng tạo, tính “tích cực”của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục, cũng như của chủ thể quẩn lý vàđối tượng quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình giáo dục

kĩ năng sống cho sinh viên, qua đó hình thành cho sinh viên những kĩ năngsống cơ bản, bền vững, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách cuả sinh viên

Trang 18

Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý là tập thể, cá nhân được giao nhiệm

vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc gián tiếp trong lãnh đạo, quản lý quá trình giáodục, rèn luyện kĩ năng sống cho sinh viên trong suốt quá trình đào tạo Chủthể quản lý quá trình giáo dục kĩ năng sống cho sinh viên đại học là: các cấp

uỷ đảng các cấp, Hội đồng trường, các cơ quan chức năng, khoa giáo viên, độingũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục và bản thân các tập thể học viên, sinhviên và từng học viên, sinh viên

Đối tượng quản lý: Là những cá nhân, tập thể học viên, sinh viên và

hoạt động học tập, rèn luyện của họ chịu sự tác động, điều khiển, quản lý củacác chủ thể quản lý trong suốt quá trình đào tạo Như vậy, học viên, sinh viên

và tập thể học viên, sinh viên vừa là đối tượng chịu sự quản lý của chủ thể,vừa là chủ thể trong quá trình tổ chức tự quản lý những hoạt động học tập, rènluyện hình thành kĩ năng sống cho chính bản thân

Phương pháp quản lý: bao gồm toàn bộ hệ thống những cách thức, biện

pháp tác động, điều khiển của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng hệthống công cụ, phương tiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã xác định Hệthống công cụ quản lý gồm: các chỉ thị, nghị quyết của các tổ chức đảng; hiếnpháp, pháp luật của nhà nước; quy chế giáo dục - đào tạo Sử dụng đồng bộ cácchức năng quản lý với các phương pháp quản lý cơ bản là: Phương pháp hànhchính; phương pháp giáo dục, thuyết phục, nêu gương; phương pháp kích thíchbằng vật chất, tinh thần

Thời gian quản lý: bao gồm toàn bộ thời gian chính khoá, ngoại khoá, tự

học, tự rèn, thực hành trong suốt quá trình đào tạo

1.2 Nội dung quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học

Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên đại học có nhiềunội dung, dưới đây là những nội dung cơ bản:

Trang 19

1.2.1 Kế hoạch quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên

Kế hoạch là sự sắp xếp công việc cụ thể cho một thời gian nhất định:tuần, tháng, học kỳ, năm học Kế hoạch QLGDKNS cho học viên, sinh viên làmột nội dung rất cần thiết cho các nhà quản lý giáo dục Xây dựng được kếhoạch chính là thiết kế trước được bước đi, biện pháp thực hiện các hoạt độngQLGDKNS cho học viên, sinh viên Xây dựng kế hoạch phải dựa trên chỉ đạocủa Phòng GD&ĐT, chương trình môn học, nhiệm vụ chính trị, các chủ đề,chủ điểm sinh hoạt Xây dựng kế hoạch QLGDKNS phải trên cơ sở kế hoạchchung và có sự phối hợp với kế hoạch của các bộ phận khác trong nhà trườngnhư: kế hoạch dạy học, kế hoạch cơ sở vật chất,…và phải căn cứ kết quả điềutra cơ bản để xác định yêu cầu, nhiệm vụ, đề ra chỉ tiêu phấn đấu cho phù hợpvới điều kiện thực tại của nhà trường Kế hoạch phải có tính xuyên suốt thờigian cả năm học, có nguồn tài chính để tổ chức hoạt động được chỉ ra trong

kế hoạch, huy động nhiều lực lượng giáo dục tham gia Đặc biệt kế hoạch nàyđược sự tham gia góp ý của cán bộ, giảng viên và học viên Học viên, sinhviên là chủ thể chính trong hoạt động, nên cần có sự lôi cuốn và phù hợp vớitâm sinh lí lứa tuổi để thu hút sự tham gia tích cực của học viên, khi đó hoạtđộng GDKNS mới đạt được mục tiêu giáo dục

Kế hoạch QLGDKNS cho học viên, sinh viên bao gồm:

- Quản lý việc xây dựng GDKNS cho học viên, sinh viên, gồm: kếhoạch hoạt động giáo dục thường xuyên; kế hoạch hoạt động giáo dục theochủ đề; kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên

- Quản lý kế hoạch đầu tư xây dựng và sử dụng cơ sở vật chất, trangthiết bị giáo dục kĩ năng sống

- Quán lý kế hoạch tổ chức thực hiện GDKNS bao gồm các hoạt độngxác định lực lượng giáo dục, nội dung giáo dục, các hoạt động lồng ghép giáodục trong dạy học

Trang 20

- Quản lý kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục; Quản lý tiến độthực hiện GDKNS; Quản lý kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả GDKNS.

1.2.2 Quản lý chương trình, nội dung giáo dục kĩ năng sống

Chương trình, nội dung GDKNS cần linh hoạt, phù hợp với trình độ,đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, sở thích của học sinh, giúp các em chủ động,tích cực, tự giác tham gia hoạt động GDKNS

Chương trình, nội dung GDKNS là một vấn đề lớn của lí luận GDKNS,

là thành tố quan trọng của quá trình GDKNS, nó quy định toàn bộ hoạt độngGDKNS trong thực tiễn Nội dung GDKNS trong Học viện, Nhà trường rấttoàn diện, được xuất phát từ mục đích giáo dục xã hội và yêu cầu khách quancủa đất nước, thời đại Nội dung GDKNS cần quan tâm đến các giá trị truyềnthống của con người Việt Nam và giá trị phổ quát của nhân loại, những KNScần thiết cho học viên trong thời kì mới giúp các em phát triển hoàn thiệnnhân cách

Tiếp cận giáo dục kĩ năng sống đề cập đến quá trình tương tác giữa dạyhọc và học tập trung vào kiến thức, thái độ và kĩ năng cần đạt được để cónhững hành vi giúp con người có trách nhiệm cao đối với cuộc sống bằngcách lựa chọn cuộc sống lành mạnh, kiên định từ chối sự ép buộc tiêu cực vàhạn chế tối đa những hành vi có hại Như vậy đổi mới nội dung, phương phápdạy học là cách tiếp cận với kỹ năng sống trong giai đoạn hiện nay Đi học làniềm vui của con người, đi học để hưởng lợi từ giáo dục, học là để sống tốtvới thời đại Thông qua lồng ghép, tích hợp kĩ năng sống vào chương trình ởcác cấp học từ tiểu học đến trung học phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp làcách tiếp cận giáo dục kĩ năng sống khá phổ biến hiện nay

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và những biến đổinhanh chóng của đời sống xã hội hiện đại, trong công cuộc đổi mới căn bản

và toàn diện giáo dục, các nhà giáo dục phải chú ý đến chương trình, nội dung

Trang 21

giáo dục môi trường, giáo dục dân số, giáo dục giới tính, giáo dục tâm lí, giáodục phòng chống ma túy đặc biệt là giáo dục kĩ năng sống cho học viên.Những nội dung giáo dục này còn mới mẻ, nên trong công tác quản lý cònnhiều bất cập cần tìm cách tháo gỡ và giải quyết.

Nội dung quản lý chương trình, nội dung giáo dục kĩ năng sống baogồm: Quản lý việc khảo sát thực tiễn KNS của học viên làm cơ sở cho xâydựng nội dung GDKNS; Quản lý việc tổ chức xây dựng chương trình, nộidung GDKNS; Quản lý việc thử nghiệm các nội dung được xây dựng để rútkinh nghiệm và hoàn chỉnh nội dung; Quản lý việc tổ chức, thực hiện chươngtrình, nội dung GDKNS; Quản lý việc kiểm tra,đánh giá kết quả thực hiện nộidung, chương trình…

1.2.3 Quản lý các lực lượng giáo dục kĩ năng sống

Quản lý các lực lượng và sự phối hợp của các lực lượng GDKNS tạo ra

sự đồng bộ nâng cao hiệu quả giáo dục học viên, sinh viên Các nhà trườngcần xây dựng phương hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất, nhằmđộng viên và phát huy tối đa khả năng các lực lượng giáo dục trong và ngoàinhà trường để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trình GDKNS Cần chỉđạo phối hợp tốt các lực lượng sau:

Quản lý giảng viên các khoa, bộ môn trong việc tích hợp GDKNS vàomôn học, vai trò của giảng viên là hết sức quan trọng trong công tác giáo dụcnày Nhưng việc tích hợp GDKNS vào môn học là vấn đề mới đối với nhiềugiảng viên, vì vậy nhà quản lý ngoài việc lập kế hoạch chi tiết cụ thể cho hoạtđộng còn phải tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm để nâng cao nhận thức, ýthức trách nhiệm cho đội ngũ giáo viên, đồng thời phân cấp quản lý cho độingũ lãnh đạo các khoa, bộ môn để thống kê việc tích hợp GDKNS vào từngchương, từng bài cụ thể Tổ chức làm điểm, rút kinh nghiệm và triển khai đạitrà Theo dõi sát sao việc tích hợp vào bài dạy của đội ngũ giảng viên, đánhgiá giờ dạy và kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của học viên

Trang 22

Quản lý giáo viên chủ nhiệm lớp trong hoạt động GDKNS cho họcviên Để đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thực thi tốt nhiệm vụ của mình, nhàquản lý cần chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm căn cứ vào kế hoạch tổng thể củanhà trường xây dựng kế hoạch GDKNS phù hợp với từng đối khóa, lớp triểnkhai kế hoạch và tổ chức hoạt động cho học viên, quản lý phát huy hiệu quảcủa giờ sinh hoạt lớp, đôn đốc, kiểm tra đánh giá thi đua kết quả rèn luyện củahọc viên bằng các tiêu chí cụ thể.

Quản lý và phối hợp chặt chẽ với Ban chấp hành Đoàn thanh niêntham gia GDKNS Để nâng cao hiệu quả hoạt động GDKNS trong hoạt độngcủa Đoàn thanh niên, nhà quản lý cần nhận đầy đủ các yếu tố ảnh hướng tớiviệc GDKNS ở Đoàn viên thanh niên Học viện, từ đó có những biện phápquản lý để tác động vào những yếu tố tích cực, phát huy hiệu quả giáo dục,khắc phục và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực Đồng thời quản lý tốt cácgiờ sinh hoạt chi đoàn, các buổi chào cờ đầu tuần, các hoạt động chủ điểm,chủ đề nhân các ngày lễ lớn trong năm, các hoạt động phối hợp với hội phụhuynh học sinh, với giáo viên chủ nhiệm, giảng viên bộ môn, với các tổ chứctập thể và cá nhân trong và ngoài Học viện

Để tạo nên sức mạnh tổng thể trong công tác giáo dục đạo đức cho họcviên nói chung và GDKNS cho học viên nói riêng, học viện cần huy động cáclực lượng giáo dục trong và ngoài Học viện tham gia vào quá trình giáo dụcnhư hội phụ huynh học sinh, các cấp ủy Đảng, chính quyền nơi đơn vị đóngquân, các cơ quan đoàn thể trên địa bàn Có như vậy nhân cách và lý tưởngsống của học viên được giáo dục và rèn luyện mọi lúc, mọi nơi, đồng thờigiúp các học viên củng cố bổ sung và nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực khácnhau của đời sống xã hội, hoàn thiện các tri thức đã được học trên giảngđường, mở rộng nhãn quan với thế giới xung quanh, biết vận dụng những trithức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra Chính vìvậy, để công tác GDKNS cho học viên Học viện đạt hiệu quả cao Học viện

Trang 23

cần tạo dựng được sự chung tay ủng hộ và tham gia của các lực lượng xã hộitrong và ngoài Học viện.

- Quản lý đội ngũ cán bộ quản lý trong việc quản lý hoạt động GDKNS

- Quản lý đội ngũ giảng viên trong hoạt động GDKNS

- Quản lý đội ngũ cán bộ Đoàn và hoạt động Đoàn thanh niên tronghoạt động GDKNS

- Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp trong hoạt động GDKNS

- Quản lý các lực lượng cộng tác tổ chức thực hiện hoạt động GDKNScho học viên

- Quản lý phối hợp của các lực lượng trong và ngoài Học viện, cácđoàn thể, tổ chức đoàn thể chính trị xã hội củ phụ huynh và cộng đồng xã hộitrong GDKNS cho học viên

1.2.4 Quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện kĩ thuật đảm bảo cho giáo dục kĩ năng sống

Cũng như trong giảng dạy các môn văn hóa, hoạt động GDKNS cần có

cơ sở vật chất, phương tiện, tài liệu để đạt hiệu quả giáo dục mong muốn.Trên thực tế, đại đa số giảng viên Học viện chưa được đào tạo một cách cănbản về GDKNS Phương tiện, tài liệu dành cho hoạt động này còn nhiều thiếuthốn, vì vậy, ngoài việc giao trách nhiệm cho giảng viên, Học viện cũngthường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng nâng cao kĩ năng và nghiệp

vụ tổ chức các hoạt động cho giảng viên, động viên khích lệ tinh thần và cóchế độ thỏa đáng, kịp thời, từ đó khơi dậy lòng nhiệt tình và ý thức tráchnhiệm trong giảng viên, có như vậy tính hiệu quả trong hoạt động mới cao

Học viện ngoài việc quản lý tận dụng những cơ sở vật chất hiện có đểphát huy tính hiệu quả giáo dục của hoạt động, cần phải tiết kiệm, cân đốinguồn ngân sách được giao hàng năm để mua sắm cơ sở vật chất, tài liệu chohoạt động, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức khác như hội phụhuynh học viên, các doanh nghiệp trên địa bàn hỗ trợ cho hoạt động

Trang 24

Quản lý các điều kiện cơ sở vất, trang thiết bị và phương tiện kĩ thuậtđảm bảo cho giáo dục kĩ năng sống gồm các nội dung chính sau: Quản lý việcđầu tư, mua sắm cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật dạy họcphục vụ cho GDKNS; Quản lý việc sử dụng trang thiết bị hiện có phục vụ choGDKNS; Quản lý, mức độ đáp ứng, tính hiệu quả của từng loại công cụ,phương tiện phục vụ cho GDKNS.

1.2.5 Quản lý về phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho học viên, sinh viên

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho họcviên, sinh viên trong nhà trường Công tác này cần được tiếp tục tiến hànhthường xuyên,liên tục, phù hợp với đặc điểm về tâm sinh lí lứa tuổi, hoàncảnh, hoạt động của từng loại đối tượng, hệ đào tạo và mang tính mềm dẻo,dưới nhiều hình thức, qui mô, loại hình hoạt động khác nhau qua hoạt độngcác tổ chức đoàn thể với các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục kĩnăng sống như sau:

- Các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên:

+ Có thể tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông qua khai thác tiềm nănggiáo dục trong nội dung môn học (Học phần hoạt động giáo dục ngoài giờ lênlớp), qua phương pháp dạy học tích cực khuyến khích sự tương tác, cùngtham gia, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo của học viên, sinh viên

+ Giáo dục thông qua các chủ đề chuyên biệt về KNS dưới hình thứchoạt động ngoài giờ lên lớp của các tổ chức Đoàn thanh niên, hội sinh viên

+ Giáo dục KNS thông qua các tình huống giáo dục và các tình huốngtrong thực tiễn cuộc sống

+ Giáo dục KNS qua tiếp cận 4 trụ cột: Học để biết (Kỹ năng nhậnthức) Học đẻ làm (Các kỹ năng thực tiễn) Học để cùng chung sống (Các kỹnăng xã hội) Học để tự khẳng định bản thân (Các kỹ năng cá nhân)

+ Thông qua tham vấn trực tiếp với cá nhân hoặc nhóm học sinh, sinh viên

Trang 25

- Nội dung:

Tập trung vào những vấn đề xã hội đang diễn ra trong thực tiễn hiệnnay như: Giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, giáo dục phòng tránh ma túy, giáodục môi trường, giáo dục dân số, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục bìnhđẳng giới Tổ chức cho học sinh sinh viên được trực tiếp trải nghiệm bằngcác hoạt động, các tình huống trong thực tiễn

- Các hình thức hoạt động:

+ Tiến hành học tập KNS trong chương trình kế hoạch đào tạo của nhà trường+ Tổ chức các câu lạc bộ kỹ năng sống trong nhà trường thông qua:Diễn đàn thanh niên về kỹ năng sống; Các lớp tập huấn nhằm giới thiệu nângcao nhận thức hiểu biết và ý thức rèn luyện KNS cho sinh viên; Các buổi nóichuyện chuyên đề - tư vấn trực tiếp của các chuyên gia tâm lí giáo dục; Cácbuổi sinh hoạt đoàn, hội sinh viên; Tổ chức các nhóm công tác xã hội

+ Tổ chức các hội thi đóng vai tình huống cụ thể gắn với kỹ năng cầnhình thành

+ Thi tiểu phẩm theo chủ đề

1.2.6 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kĩ năng sống

Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét Đánh giá lànhận định giá trị Muốn có đánh giá chính xác phải dựa trên kết quả kiểm tra.Mục đích cuối cùng của kiểm tra đánh giá là nhằm tích cực hóa nhận thức,nâng cao chất lượng công tác, tăng cường ý thức trách nhiệm của giáo viên.Lãnh đạo mà không có kiểm tra đánh giá là buông lỏng quản lý Kiểm trađánh giá là một việc làm bình thường của nhà quản lý Muốn kiểm tra, đánhgiá, trước hết phải giao việc cho đối tượng được kiểm tra, đánh giá kèm theonhững yêu cầu khi giao việc

Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động GDKNS góp phần đánh giá chấtlượng giáo dục chung trong các nhà trường, qua đánh giá cán bộ quản lý nhàtrường đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên, mức độ

Trang 26

hưởng ứng tham gia của học viên, quá trình thực hiện trong nhà trường diễn

ra có đảm bảo kế hoạch hay không, đó là cơ sở để cán bộ quản lý học viênxây dựng chiến lược giáo dục về mục tiêu, nội dung, đội ngũ, phương pháp vàhình thức tổ chức hoạt động

Để việc đánh giá đạt mục tiêu đề ra, cán bộ quản lý cần phải bám sátvào những nội dung đánh giá, các mức đánh giá, sử dụng các hình thức đánhgiá phù hợp và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học

Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kĩ năng sống gồmcác yếu tố chính sau:

- Quản lý các tiêu chí đánh giá GDKNS;

- Quản lý kết quả nhận thức (điểm số đánh giá nhận thức của học viên

Hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước và địa phương thời kì hội nhập

có những ảnh hưởng tích cực học viên Tính năng động và khẳng định giá trịbản thân trong cộng đồng, xã hội là một trong những biểu hiện khá rõ nét sựchuyển biến trong tư duy, lối sống của giới trẻ trong thời kỳ đất nước hộinhập với thế giới Những hệ giá trị mới của nhân loại được hình thành, giaolưu văn hóa ngày vàng được mở rộng là điều kiện tốt cho giới trẻ mở rộngtầm nhìn, tiếp cận hưởng thụ, sản phẩm, thành tựu văn hóa đa dạng hơn trongthời kỳ hội nhập

Trang 27

Thế nhưng, nếu không có đủ khả năng chọn lọc, giới trẻ dễ bị nhấnchìm trong các hệ giá trị “không phù hợp” với xã hội, con người Việt Nam.Ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường làm cho môi trường văn hóa xã hội

có nhiều thay đổi, thậm chí làm cho nhiều thang giá trị đảo lộn, lấy giá trị vậtchất làm thước đo Toàn cầu hóa và hội nhập, mặt trái của khoa học kĩ thuật,công nghệ thồng tin kéo theo sự xâm lấn của văn hóa ngoại lai, đặc biệt là vănhóa đồi trụy, bạo lực, chủ nghĩa thực dụng, hiện sinh, sự yếu kém của nềnkinh tế làm cho không gian học đường hạn chế

1.3.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học viên, sinh viên đại học

- Đặc điểm nhận thức của học viên, sinh viên trong học tập

Lứa tuổi học viên, sinh viên nổi bật ở độ chín của những điều kiện tâm

lí trong hoạt động trí tuệ và nhận thức Các em thể hiện tính độc lập và logictrong tư duy, các lập luận, phân tích, so sánh và khái quát hóa cũng tương đốiđịnh hình, có định hướng khá rõ nét Học viên, sinh viên có kinh nghiệm nhậnthức khá hệ thống nhờ đã trải qua trường phổ thông và đang học tập ở trình độcao tại các học viện, nhà trường Về phương diện nhận thức thuần túy, các emhoàn toàn tiếp nhận được và hiểu sâu sắc những vấn đề của cuộc sống cá nhân

và xã hội, trong đó có những vấn đề giá trị và lối sống, quan hệ của đời sống

cá nhân với đời sống kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức và văn hóa củacộng đồng

Đa số học viên, sinh viên có khát vọng nhận thức và học tập, rènluyện để phát triển Nếu chương trình và môi trường học tập ở trường thiếuhấp dẫn thì các em tuy thiếu động lực học tập song không phải là yếu về nhucầu học tập và phát triển Các em vẫn khát khao học tập nhưng sẽ học tựphát, chủ yếu học những gì từ cuộc sống, thậm chí trong đó có cả nhữngđiều không tốt, sai lầm và có hại Số đông học viên, sinh viên thường biểuhiện lập trường dung hòa, vừa cố gắng học vừa không say mê học lắm, dẫn

Trang 28

đến tình trạng học hành đối phó Cần lưu ý rằng học viên, sinh viên rất quantâm đến việc học tập những điều ngoài chương trình đào tạo, nhất là quan hệ

xã hội, tình cảm và giao tiếp nhóm

Do có kinh nghiệm khá phong phú về giao tiếp nên nhận thức của họcviên, sinh viên không chỉ hạn hẹp ở hoạt động học tập cá nhân miệt mài, biệtlập, đọc và nghiên cứu sách vở, mà còn diễn ra rất mạnh trong các hình thứchợp tác, chia sẻ, trao đổi với bạn bè Đây là điểm ưu thế của lứa tuổi Các emrất thích chia sẻ ý tưởng, tài liệu học tập và thể hiện lí trí phê phán cao Tưduy phê phán cũng là nét đặc trưng của lứa tuổi sinh viên, nhất là khi tiếpnhận những vấn đề xã hội như đạo đức, văn hóa, chính trị, kinh tế và quan hệbạn bè (nhất là tình yêu – quan hệ luyến ái), và phần nào về những vấn đề họcthuật, nghề nghiệp tương lai Về nghề nghiệp với nghĩa chuyên môn tuy các

em chưa quan tâm sâu sắc, song việc làm và vị trí kinh tế của nó luôn là vấn

đề nóng bỏng trong ý thức và tình cảm của sinh viên hiện nay

- Đặc điểm xã hội của học viên, sinh viên trong học tập

Học viên, sinh viên có sự phát triển tự ý thức rất cao trong quan hệ xãhội Các em có khả năng đánh giá được những mặt mạnh, mặt yếu của bảnthân, khả năng tự điều chỉnh bản thân theo hướng phù hợp với yêu cầu xã hộikhá rõ nét Sinh viên rất coi trọng cái đẹp bên trong (tâm hồn) nhưng cũng rấtngưỡng mộ vẻ đẹp hình thức và những hành vi xã hội thời thượng, sôi nổi, cótính công chúng, và những gì có liên quan đến sự nổi tiếng, công danh, tìnhcảm, quan hệ xã hội rộng, các phong trào và sinh hoạt cộng đồng Một bộphận không nhỏ học viên, sinh viên tỏ ra nhiệt thành với công tác xã hội, hoạtđộng nhân đạo, từ thiện, hoạt động văn hóa - nghệ thuật và thể thao quầnchúng Các em tham gia không hẳn là để vui, để giải trí hay vụ lợi mà có ýthức rõ ràng nhằm học hỏi kinh nghiệm mọi người, rèn luyện bản lĩnh sống(kĩ năng sống) và giá trị xã hội cần thiết cho mình

Trang 29

Nhu cầu giao tiếp xã hội của học viên, sinh viên rất cao và đa dạng.Học tập là bổn phận, nhưng giao tiếp với mọi người mới thực sự là nhu cầunổi bật của các em Thường là giao tiếp cùng lứa tuổi, nhưng nhiều học viên,sinh viên vẫn thích giao du với các em nhỏ hơn Phần lớn học viên, sinh viênchưa thể hiện được nhu cầu giao tiếp với người lớn tuổi hơn, nhất là các thầy

cô giáo, các bậc phụ huynh, các công chức và người lao động ngoài xã hội.Tuy về nhận thức khá đầy đủ, nhưng kĩ năng giao tiếp với người lớn tuổi hơnvẫn là chỗ yếu của đa số sinh viên, chủ yếu là thái độ thiếu tự tin, cách ứng xửthiếu hài hòa, ngôn ngữ thiếu mạch lạc và nhất là hành vi giao tiếp lúng túng

Khát vọng muốn trở thành người thành đạt trong công việc là một nétđặc trưng ở lứa tuổi này, song trong học tập rất nhiều học viên, sinh viên thựchiện thiếu kiên trì, thiếu phương pháp nên kết quả chưa cao Cố gắng học tập

để có kết quả cao, sau khi ra trường có việc làm ổn định và được ở gần nhà làđặc điểm chung của họ Có một vấn đề rất mừng nhưng rất lo là học viên,sinh viên rất trung thành với nghề mình đã chọn, trong khi đó cơ hội có việclàm không phải là 100% Các em đánh giá cao những nghề và việc làm có ýnghĩa xã hội và có môi trường giao tiếp xã hội phong phú, phong cách hiệnđại

- Những đặc điểm sinh hoạt của học viên, sinh viên tại khu nội trú

Khu nội trú (hay còn gọi là kí túc xá) là nơi ở của học viên, sinh viên,được xem như một xã hội thu nhỏ Cư dân của xã hội đó là thanh niên của vùngnông thôn là chủ yếu Nghề nghiệp của học viên là lao động trí óc, công việcchính là học tập Mặc dầu có đội ngũ cán bộ quản lí, song học viên, sinh viên

tự quản là chính, giờ giấc làm việc và sinh hoạt không chặt chẽ Tuy quản líhành chính và nội qui kí túc xá có phần khe khắt, tương đối khác biệt với môitrường quanh đó, nhưng thực tế các điều kiện sinh hoạt bên trong không đáp

Trang 30

ứng được nhu cầu của học viên nên không duy trì được đúng các chế độ Chonên khu nội trú luôn có tính chất nửa vời, vừa nghiêm vừa không nghiêm.

Trang thiết bị phục vụ cuộc sống và học tập tuy có nhưng không đủ Chế

độ giường tầng là muôn thuở, cơm ăn, nước uống Xét về phạm vi thì ký túc xáđều được quy hoạch tương đối độc lập nhất là kí túc xá trong đơn vị lực lượng

vũ trang, nhưng mọi quan hệ xã hội hàng ngày, hàng giờ xâm nhập vào đời sốnghọc viên, trong đó có cả tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, rượu chè…

Những hiện tượng tiêu cực trong sinh hoạt nội trú rất nhiều vẻ, từ quan

hệ nam nữ thiếu lành mạnh cho đến đánh nhau, cãi nhau, trộm cắp tài sản, bỏ

bê học hành, bê tha trong ăn uống và vui chơi…

Chỗ mạnh căn bản nhất của đời sống nội trú là ảnh hưởng chung củatập thể, của cộng đồng Bất kì hành vi sinh hoạt cá nhân nào của học viênnhư tắm giặt, ăn uống, kết bạn, giờ giấc, trang phục, trang điểm, tiêu xài…cũng gắn bó mật thiết với cộng đồng gần gũi nên dễ dàng trở nên công khai

Dư luận xã hội trong khu nội trú có tác dụng điều chỉnh cá nhân rất nhiều và

đó là sức mạnh giáo dục mà nhà trường rất cần quan tâm trong giáo dục kĩnăng sống cho sinh viên

Với vị thế là Học viện đầu ngành trong lực lượng Công an, nơi đào tạonguồn nhân lực có trình độ đại học trở lên về các lĩnh vực bảo vệ an ninh, trật

tự xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm Sinh viên thuộc Học viện cũng cónhững điểm khác biệt so với sinh viên các trường đại học khác Ngoài nhữngđặc thù về tâm sinh lý lứa tuổi, học viên Học viện còn có những đặc điểmkhác do tác động của môi trường đào tạo vũ trang, có tính chất nghề nghiệp.Học viên được quản lý khắt khe hơn, bắt buộc nội trú trong doanh trại, cáchoạt động sinh hoạt ăn, ở đều phải thực hiện theo qui định khá chặt chẽ theothời gian biểu nhất định Trong quá trình học tập, học viên được bao cấp toàndiện về sinh hoạt phí Sau khi ra trường học viên được đảm bảo phân côngcông tác trong biên chế của lực vũ trang nhân dân

Trang 31

Mô hình lớp học cũng có sự khác biệt so với bên ngoài, được tậptrung theo đơn vị trung đội Quản lý theo điều lệnh của lực lượng vũtrang; thời gian sinh hoạt được qui định theo hiệu lệnh thống nhất Vớiđặc điểm này, quá trình học tập và tích lũy kiến thức của mỗi cá nhândiễn ra độc lập tương đối, bởi quá trình này gắn liền với tập thể, mangtính đồng đội cao trong sẻ chia kiến thức và sẵn sàng hợp đồng chiến đấucủa lực lượng vũ trang.

Với những đặc điểm trên, đã tạo nên đặc điểm khác biệt của học viênthuộc Học viện so với học viên được đào tạo tại các trường đại học khác Sựkhác biệt đó có tác động lớn tới tư duy và thói quen sinh hoạt, cũng như cáchoạt động học tập và rèn luyện Đồng thời đã để lại nhiều dấu ấn tích cựckhác nhau trong tập quán giao tiếp, ứng xử của học viên Có thể nói, môitrường đào tạo này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho phát triển KNS cho họcviên thuộc Học viện

Ngoài chịu sự tác động của môi trường học tập đặc biệt, học viên Họcviện cũng thuộc lứa tuổi trẻ, tất nhiên cũng phải chịu ảnh hưởng của các yếu

tố tâm sinh lý lứa tuổi nói chung Mỗi lứa tuổi đều có các đặc điểm tâm sinh

lý riêng bị chi phối bởi hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó Tâm sinh lý lứatuổi có ảnh hưởng lớn tới nội dung và phương thức tiếp thu GDKNS khácnhau Một trong các đặc trưng tâm sinh lý của học viên nói chung và học viênHọc viện nói riêng, đó là sự trưởng thành nhất định cả về tâm sinh lý và quan

hệ xã hội, có sự hoàn chỉnh về thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân Nhu cầurèn luyện thể chất, tư chách đạo đức, học tập và nghiên cứu của sinh viên cótác động tích cực đến sự phát triển nhân cách của họ, giúp họ nâng cao hiểubiết, trau dồi tri thức, hình thành ý thức tự giác và sáng tạo Ở điểm này,GDKNS trong học viên là vấn đề cấp thiết nhằm giúp họ hoàn thiện giá trịbản thân

Trang 32

Như vậy, có thể nói, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi kết hợp với tính đặcthù của học viên thuộc Học viện đã đòi hỏi GDKNS đa dạng của các nhómđối tượng học viên khác nhau thuộc Học viện

1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống của học viên, sinh viên

- Nề nếp quản lí và văn hóa chung của các trường đại học và chất lượng học tập chính khóa trên lớp của học viên, sinh viên

Đây là yếu tố chi phối lâu dài đến chất lượng kĩ năng sống và hiệu qủagiáo dục kĩ năng sống của nhà trường Khi nề nếp quản lí ổn định, hợp lí,nhân văn, dân chủ và cởi mở với những qui tắc nghiêm minh cần thiết thì tự

nó đã giúp sinh viên rất nhiều về phương hướng và nhu cầu rèn luyện, tự hoànthiện Văn hóa nhà trường lại càng có vai trò quan trọng Nếu các truyềnthống, quan điểm, tầm nhìn chung của trường cũng như văn hóa giao tiếp, vănhóa giảng dạy, văn hóa học tập, văn hóa giải trí, văn hóa sinh hoạt… sáng sủa,lành mạnh, có triển vọng tốt, tự chúng thúc đẩy sinh viên rèn luyện tích cực

Các môn học và các hoạt động đào tạo của trường ảnh hưởng căn bản

và lâu dài đến sự hình thành và rèn luyện kĩ năng sống của học viên, tạo thuậnlợi hoặc cản trở giáo dục kĩ năng sống Nếu học tập xa rời cuộc sống và hoạtđộng nghề nghiệp, trong đó nảy sinh những tiêu cực về đánh giá, cư xử lẫnnhau giữa giảng viên và sinh viên, giữa sinh viên với nhau, nếu có những hiệntượng giảng viên chưa gương mẫu trong lối sống và trách nhiệm nhà giáo…thì học viên sẽ mất tin tưởng, thiếu động lực phấn đấu và mất phưong hướngrèn luyện kĩ năng sống

- Môi trường kinh tế - xã hội địa phương bên cạnh các trường đại học

Trang 33

Môi trường bên ngoài trường và khu nội trú luôn có ảnh hưởng hai mặtđồng thời Mặt tích cực là giúp học viên có những cơ hội thực tế để thử tháchmình, để trải nghiệm và thực hành hành vi lối sống năng động, cởi mở, hiệuquả, thoát khỏi những hạn chế do nhận thức sách vở và những giá trị hạn hẹptrong nhóm sinh viên Mặt tiêu cực là tác động của môi trường thường kèmtheo nhiều thứ xô bồ, hỗn độn và méo mó về nhận thức, giá trị và lối sống.Những tác động này lại thường mang lại hậu quả nhanh chóng với những sinhviên non kém bản lĩnh, thiếu kĩ năng sống đúng đắn, thiếu hiểu biết pháp luật

và thiếu nguyên tắc đạo đức

- Hiệu quả công tác giáo dục của giáo viên chủ nhiệm

Các cơ sở vũ trang luôn đào tạo khép kín, do vậy các lớp do giáo viênchủ nhiệm phụ trách, đặc biệt về cuộc sống tập thể Hoạt động của giáo viênchủ nhiệm trực tiếp tác động đến kết quả giáo dục kĩ năng sống của sinh viênlớp mình Tại sao có lớp gọi là “tốt” và có lớp lại là “chưa tốt” chính là vìvậy Giáo viên chủ nhiệm qua trách nhiệm và nỗ lực của mình có thể ngăncản rất nhiều ảnh hưởng xấu từ ngoài, phát huy rất hiệu quả những ưu điểmcủa lớp, xây dựng cốt cán và môi trường nội trú tích cực cho lớp mình

- Công tác quản lí toàn diện khu nội trú và quản lí học viên, sinh viên

Đây cũng là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến kĩ năng sống của học viên,sinh viên và công tác giáo dục kĩ năng sống của nhà trường, của giáo viên chủnhiệm.Từ chế độ giờ giấc học tập, qui định sinh hoạt và giải trí, cho đến côngtác kiểm tra, giám sát thực hiện toàn hộ hoạt động trong kí túc xá và đội ngũnhân sự tham gia quản lí học viên đều tác động rất mạnh đến kĩ năng sống củacác em, tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho giáo dục kĩ năng sống Nếu điều kiệncủa khu nội trú tương đối đáp ứng được nhu cầu của các em thì đó là nhân tốthuận lợi để các em sống cởi mở, thân thiện, có nhiều hoạt động bổ ích, giảm

Trang 34

thiểu những thói xấu trong sinh hoạt, tăng cường hứng thú học tập và tráchnhiệm xã hội, nâng cao tính kỉ luật và tự quản trong đời sống cá nhân.

- Các hoạt động tập thể trong nhà trường và tại khu nội trú

Các hoạt động này làm nền cho việc rèn luyện kĩ năng sống của họcviên và các biện pháp giáo dục kĩ năng sống do nhà trường tiến hành Nếuchúng đủ sức thu hút tâm tư, tình cảm và nhu cầu của sinh viên thì đó là nhân

tố ngăn ngừa rất tích cực các ảnh hưởng xấu nảy sinh bên trong và dội vào từbên ngoài kí túc xá Các hoạt động bổ ích có vai trò mạnh mẽ định hướng choquá trình rèn luyện kĩ năng sống của sinh viên và tạo ra môi trường, cơ hộithuận lợi để các em học hỏi lẫn nhau, giáo dục lẫn nhau và tự giáo dục

1.3.4 Năng lực của cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên

- Chức năng người quản lý giáo dục toàn diện học viên, sinh viên một lớp

Trên cơ sở đó có phương hướng tổ chức hoạt động dạy học và giáo dụcphù hợp với người học Giáo viên chủ nhiệm cần không chỉ nắm được tên,tuổi, số lượng, trình độ, lực học và phẩm chất của học viên… mà còn dự báođược xu hướng nhân cách của sinh viên Muốn thực hiện được chức năng này,người giáo viên chủ nhiệm phải có những kiến thức về tâm lý học, giáo dụchọc như kỹ năng tiếp cận đối tượng, kỹ năng nghiên cứu tâm lý lứa tuổi, kỹnăng lập kế hoạch chủ nhiệm, kỹ năng tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp.Trong chức năng quản lý giáo dục, giáo viên chủ nhiệm cần đặc biệt quan tâmtới kỹ năng quản lý thời gian học tập và quản lý sự hình thành và phát triểnnhân cách

* Chức năng lãnh đạo và động viên tập thể học viên hoạt động tự quảnnhằm phát huy tính tích cực của mọi thành viên trong tập thể lớp

Trang 35

Đây là chức năng đặc trưng của giáo viên chủ nhiệm ở các trường caođẳng và đại học Để thực hiện tốt chức năng này người giáo viên chủ nhiệmcần phải:

+ Luôn luôn giữ vai trò cố vấn trong mọi hoạt động của lớp

+ Phải thường xuyên bồi dưỡng năng lực tự quản cho toàn lớp Đặc biệt

là đội ngũ cán bộ từ tổ trưởng trở lên, đội ngũ cán bộ lớp phải xuất phát từ đặcđiểm, nhiệm vụ năm học và tính chất phát triển của tập thể lớp Ví dụ: ở giaiđoạn đầu (tập thể mới hình thành) rất cần có một lớp trưởng, bí thư chi đoàn(thủ lĩnh) có uy tín, biết cảm hóa các bạn, không nhất thiết là người học giỏinhất lớp, khi tập thể học viên đã phát triển thì có cần có 1 thủ lĩnh năng động,sáng tạo, luôn luôn tìm tòi nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạtđộng để lôi kéo mọi thành viên của lớp tham gia

+ Vai trò “cố vấn” đòi hỏi phải sâu sát với mọi hoạt động của tập thểlớp, nếu có thể trực tiếp được thì càng tốt, nếu không thì hãy bằng mọi cách

để trao đổi thông tin giữa giáo viên chủ nhiệm - ban cán sự lớp, giữa giáo viênchủ nhiệm - các thành viên của lớp Không nắm bắt được thông tin, khôngbiết được những diễn biến của tập thể cũng như từng cá nhân trong lớp thì vaitrò “cố vấn” không được phát huy Vai trò “cố vấn” không có nghĩa là khoántrắng cho tập thể lớp, cố vấn là tham mưu, là chỉ đạo, là cổ vũ để mọi thànhviên lớp phát huy được tính năng động, sáng tạo của bản thân

- Chức năng làm cầu nối giữa tập thể lớp với các tổ chức xã hội trong

và ngoài nhà trường, tổ chức và phối hợp các lực lượng giáo dục

Giáo viên chủ nhiệm là người đại diện cho quyền lợi chính đáng củahọc viên trong lớp, bảo vệ học viên về mọi mặt một cách hợp lý, phản ánhvới Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, gia đình và các đoàn thể trong vàngoài trường về nguyện vọng chính đáng của học viên, để có giải phápkịp thời và phù hợp Giáo viên chủ nhiệm là nhà quản lý, nhà sư phạm đại

Trang 36

diện cho Hiệu trưởng truyền đạt đầy đủ nghị quyết của nhà trường tới sinhviên Trong hoàn cảnh hiện nay, do tác động của nền kinh tế thị trường,học viên sống trong các mối quan hệ xã hội rất đa dạng và vô cùng phứctạp Tuổi trẻ rất nhạy cảm với cái mới, cái lạ, trong đó có cả cái tốt lẫn cáixấu Giáo viên chủ nhiệm cần giúp các em thiết lập mối quan hệ đúngđắn, lành mạnh Đây là nhiệm vụ không đơn giản nhưng rất cần thiết đốivới công tác giáo viên chủ nhiệm.

- Chức năng giám sát và người đánh giá khách quan kết quả rèn luyệncủa mỗi học viên và phong trào chung của lớp

Giáo viên chủ nhiệm cần vạch ra những tiêu chí cụ thể và chi tiết đểđánh giá học viên và có thể thông qua trên lớp Giám sát và đánh giá kháchquan kết quả rèn luyện của từng học viên là một việc làm hết sức quan trọng và

có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình hoàn thiện nhân cách của học viên Muốnxây dựng được bộ tiêu chí đánh giá cần dựa vào mục tiêu đào tạo, kế hoạchchương trình năm học, khóa học và căn cứ vào các điều kiện khác Thực tiễnviệc đánh giá học viên hiện nay còn nhiều vấn đề phải kiện toàn, tiêu chí duynhất là dựa vào điểm số môn học, mà kết quả học tập chỉ là một phần nhỏ trongquá trình hình thành nhân cách, mặt khác điểm chưa phải là khách quan

Đánh giá là sự thừa nhận những cố gắng, những tiến bộ của người đượcđánh giá, cùng với nó là việc vạch ra phương hướng mới để học viên phấnđấu rèn luyện là việc làm cần được coi trọng Như vậy đánh giá, nhận định vàyêu cầu là 2 mặt của quá trình hình thành nhân cách cho học viên, yêu cầucàng cao và phù hợp là thể hiện sự tôn trọng nhân cách con người

* Nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp

- Nắm vững các văn bản, các nội quy của nhà trường để quán triệt toànthể lớp Nắm vững mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu đào tạo của lớp màmình chủ nhiệm, nắm vững chương trình giáo dục, dạy học của Học viện

Trang 37

Đây là nhiệm vụ đầu tiên, vì chỉ trên cơ sở nắm vững điều đó, giáo viên chủnhiệm mới xây dựng được kế hoạch hoạt động cho từng tháng, quý, năm và

cả khóa học cho lớp

- Tiếp nhận học viên lớp chủ nhiệm, nghiên cứu và phân tích mọi đặcđiểm tâm lý và hoàn cảnh sống của từng học viên Đây là nhiệm vụ trọng tâmcủa công tác giáo viên chủ nhiệm, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàndiện cho học viên Việc nắm vững đối tượng sẽ giúp cho người giáo viên chủnhiệm phác họa được mô hình nhân cách cụ thể của từng học viên, qua đó xâydựng mô hình nhân cách trong tương lai cho học viên Việc xây dựng mô hìnhnhân cách học viên là công việc không đơn giản chút nào nhưng không phải

là không làm được Nếu không xây dựng được mô hình nhân cách học viêncần đạt được thì công tác giáo viên chủ nhiệm dễ rơi vào tình trạng tùy tiện,

mơ hồ

- Không ngừng trau dồi phẩm chất đạo đức người thầy, đầu tiên phảinói đến lòng yêu thế hệ trẻ và cùng với nó lòng yêu nghề, đây là hai tiêu chíhàng đầu về đạo đức của người thầy nói chung và người giáo viên chủ nhiệmnói riêng Không quý mến học trò thì người thầy khó mà hết lòng vì sự nghiệp.Tình cảm dành cho học viên là động lực để giúp giáo viên chủ nhiệm vượt quamuôn vàn khó khăn, gian khổ của nghề dạy học nói chung và công tác giáoviên chủ nhiệm nói riêng

Người giáo viên chủ nhiệm là người phải gương mẫu trong cuộc sống,không chỉ ở trường lớp, mà trong cả gia đình, làng xóm, từ trang phục chođến việc làm, là người thường xuyên nêu gương về học tập, nghiên cứu cũngnhư các hoạt động xã hội v.v… Mặc dù học viên đã trưởng thành, tính độc lập

và khả năng lựa chọn rất cao những việc làm mẫu mực của giáo viên chủnhiệm luôn tác động một cách tích cực đến sự hình thành những phẩm chấtcần thiết cho đối tượng trong cuộc sống hiện tại và tương lai sau này Nếu

Trang 38

giáo viên chủ nhiệm thờ ơ với những biến đổi phong phú của thời đại toàn cầuhóa đã và đang diễn ra trong nước và toàn thế giới thì không thể làm công tácchủ nhiệm đạt kết quả cao được.

- Không ngừng học tập để nâng cao chuyên môn và nghiệp vụ sư phạmnhằm đổi mới công tác tổ chức giáo dục, dạy học, góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện ở nhà trường Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc,đội ngũ thầy giáo tất cả các bậc học, cấp học đang đứng trước thử thách lớnlao như hiện nay, vì học là lực lượng chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực, làcủa cải “nội sinh” cho đất nước bước vào thế kỉ XXI, nhưng trình độ chungcủa đội ngũ thầy cô giáo chưa đáp ứng tốt những yêu cầu ngày càng cao của

xã hội, thực tế đó đòi hỏi đội ngũ thầy cô giáo phải tự hoàn thiện và phải đượcchăm lo bồi dưỡng về mọi mặt Đội ngũ thầy cô giáo nói chung và giáo viênchủ nhiệm nói riêng cần bồi dưỡng thường xuyên về một số nội dung sau:

+ Những tri thức mới và khả năng vận dụng tri thức khoa học đanggiảng dạy vào cuộc sống

+ Những tri thức khoa học công cụ: tin học, ngoại ngữ

+ Những tri thức về khoa học có tính phương pháp luận như triết học,phương pháp tiếp cận các vấn đề tự nhiên, xã hội

+ Những tri thức về lịch sử, văn học, nghệ thuật, pháp luật v.v…

Ngoài những nội dung đã nêu, người giáo viên chủ nhiệm không ngừngnâng cao bồi dưỡng nghiệp vụ sự phạm Trước hết nắm vững lý luận về giáodục như: Xã hội hóa giáo dục, giáo dục suốt đời, giáo dục về môi trường, giáodục về sức khỏe v.v… Và biết phát huy mọi lực lượng tham gia và giáo dụchọc viên trong mọi điều kiện có thể có

1.3.5 Nhận thức của giáo viên, học viên, sinh viên và xã hội

Trang 39

Nhận thức đúng đắn về kĩ năng sống và sự cần thiết giáo dục kĩ năngsống cho học viên, sinh viên: Khái niệm về kĩ năng sống tương đối mới mẻ

và mang tính quốc tế, mới phổ biến trong giáo dục Việt Nam từ năm 1996,tài liệu nghiên cứu về kĩ năng sống không nhiều Vì vậy hiểu cho đúng về kỹnăng sống và giáo dục kĩ năng sống cho sinh viên là nhiệm vụ tương đốiphức tạp đối với người giáo viên chủ nhiệm trong giai đoạn hiện nay Muốngiáo dục kĩ năng sống có hiệu quả, người giáo viên chủ nhiệm phải xác địnhđược hệ thống kĩ năng cần có cho tập thể và từng cá nhân Để có được điều

đó giáo viên chủ nhiệm phải điều tra, nghiên cứu về kĩ năng sống của sinhviên một cách khoa học

* Nắm vững mục tiêu giáo dục và thông qua mục tiêu đó để giáo dục

kỹ năng sống cho học viên, sinh viên

Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này giáo viên chủ nhiệm có thể tiến hànhmột số hoạt động sau:

+ Tiến hành lồng ghép kỹ năng sống vào bộ môn mình đang giảng dạy,động viên cán bộ giảng dạy ở lớp mình chủ nhiệm lồng ghép một số chủ đề về

kỹ năng sống theo gợi ý của giáo viên chủ nhiệm

+ Thông qua các hoạt động khác để giáo dục kỹ năng sống

+ Chủ động phối hợp với các tổ chức như: Đoàn thanh niên Cộng sản

Hồ Chí Minh, Hội sinh viên, Ban chủ nhiệm kí túc xá v.v… để xây dựngchương trình giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

+ Không ngừng nâng cao tầm hiểu biết của bản thân, ý thức được những

hy vọng và mối đe dọa của thời đại toàn cầu hóa, tìm tòi những giải pháp giúphọc viên, sinh viên rèn luyện kĩ năng sống

Con đường duy nhất đúng là tự học, tự nghiên cứu, cập nhật thông tinqua tài liệu, qua các bản tin thời sự, qua mạng Internet Bên cạnh đó việc học

Trang 40

hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp, với sinh viên và các chuyên gia làcon đường quan trọng để nâng cao hiệu quả tự học, tự bồi dưỡng Giáo viênchủ nhiệm cần thâm nhập vào cuộc sống thực tế của sinh viên, để tìm hiểu, đểnghiên cứu, để đưa ra những giải pháp phù hợp với đối tượng thanh niên nóichung, sinh viên đang sống ở ký túc xá nói riêng

* Giáo viên chủ nhiệm là tấm gương rèn luyện kĩ năng sống để học viên,

sinh viên noi theo

Kĩ năng sống được thể hiện hết sức đa dạng trong cuộc sống của giáoviên chủ nhiệm như: Kĩ năng thống nhất giữa lời nói và việc làm, kĩ năngquan hệ với mọi người, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng làm cho ngườikhác tin tưởng và ủng hộ bản thân, kĩ năng xây dựng gia đình hạnh phúcv.v… Tất cả những kĩ năng sống của người giáo viên chủ nhiệm sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến việc hình thành kĩ năng sống cho sinh viên Tuy nhiên cần phảitránh khuynh hướng áp đặt những kĩ năng của mình cho sinh viên Lứa tuổi

và đời sống sinh viên có đặc điểm riêng, khác những kĩ năng bản thân giáoviên cần Các em cần những kĩ năng thiết thực với chính mình

QLGDKNS là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là một hoạt độngquan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Để nâng caochất lượng công tác QL GDKNS cho học viên, sinh viên, người cán bộ quản lýcác nhà trường phải nắm vững cơ sở lý luận của khoa học QLGD, bản chất củacông tác GDKNS, hiểu sâu sắc tâm lý lứa tuổi, điều kiện kinh tế - xã hội, lập kếhoạch chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch GDKNS, phối hợp với các lực lượnggiáo dục thực hiện các chức năng quản lý theo quy trình, kế hoạch tổ chức điềuphôi, chỉ đạo đánh giá thông tin quản lý

Quy trình tổ chức hoạt động QLGDKNS phụ thuộc vào nhiều yếu tố.Phối hợp các yếu tốt để tạo nên hiệu quả giáo dục tại các nhà trường học đòihỏi vai trò quản lý của các nhà lãnh đạo nhà trường, làm tốt công tác GDKNS

Ngày đăng: 11/06/2017, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công an (2012), Văn hóa giao tiếp, ứng xử của cán bộ, giáo viên và sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa giao tiếp, ứng xử của cán bộ, giáo viên vàsinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2012
2. Bộ nội vụ (1997), Học sinh sinh viên các trường công an nhân dân với việc rèn luyện nhân cách người công an cách mạng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học sinh sinh viên các trường công an nhân dân với việcrèn luyện nhân cách người công an cách mạng đáp ứng yêu cầu củasự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Bộ nội vụ
Năm: 1997
3. Bộ Giáo dục và đào tạo (2007), Điều lệ trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
4. Bộ Giáo dục và đào tạo (2010), Giáo dục kĩ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học phổ thong, Tài liệu dành cho giáo viên, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kĩ năng sống trong hoạt độnggiáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học phổ thong
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
5. Bộ Giáo dục và đào tạo (2011), Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục2011 – 2020
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2011
7. Đặng Quốc Bảo (1995), Quản lý giáo dục, một số khái niệm và luận đề, Nxb Trường cán bộ quản lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục, một số khái niệm và luận đề
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Trường cán bộ quản lý
Năm: 1995
8. Đặng Quốc Bảo (2010), Chuyên đề phát triển nguồn nhân lực con người, Nxb Đại học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề phát triển nguồn nhân lực con người
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học Giáo dục
Năm: 2010
9. Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Lộc, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp (2009), Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục ViệtNam
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Lộc, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
10. Đỗ Tuyết Bảo (2001), Giáo dục đạo đức cho học sinh THCS tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới hiện nay, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức cho học sinh THCS tại thànhphố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới hiện nay
Tác giả: Đỗ Tuyết Bảo
Năm: 2001
11. Nguyễn Thanh Bình (2013), Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổthông
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2013
12. Chu Nam Chiếu, Tôn Văn Hiểu (2012), Tôi tin tôi có thể làm được, Nxb Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi tin tôi có thể làm được
Tác giả: Chu Nam Chiếu, Tôn Văn Hiểu
Nhà XB: NxbKim Đồng
Năm: 2012
14. Nguyễn Đức Chính (2011), Đo lường và đánh giá trong giáo dục và học, Nxb Đại học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và đánh giá trong giáo dục và học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: Nxb Đại học Giáo dục
Năm: 2011
15. Nguyễn Đình Chính, Phạm Ngọc Uyển (1998), Tâm lý học quản lý, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học quản lý
Tác giả: Nguyễn Đình Chính, Phạm Ngọc Uyển
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1998
17. Nguyễn Thị Đáp (2002), Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Long Thành, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dụcđạo đức cho học sinh THPT huyện Long Thành
Tác giả: Nguyễn Thị Đáp
Năm: 2002
18. Nguyễn Hữu Dũng (1998), Một số vấn đề cơ bản về giáo dục phổ thông trung học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về giáo dục phổ thôngtrung học
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
19. Đinh Xuân Dũng (2006), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2006
20. Nguyễn Hữu Đức (2010), Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường THPT Trần Hưng Đạo – Nam Định trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinhtrường THPT Trần Hưng Đạo – Nam Định trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hữu Đức
Năm: 2010
21. Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thếkỷ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w