Và đến khi giai đoạn công nghiệp hóa phát triển cao hơn một bậc thì một lầnnữa, mô hình phân công vai trò trong gia đình lại biến đổi, nền sản xuất xã hội ởquy mô công nghiệp hóa cao đã
Trang 1KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2011
TIỀU LUẬN MÔN: GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI:
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN MIỀN NÚI HUYỆN EA SÚP – TỈNH ĐĂK LĂK TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA
Trang 2Nhận xét của giáo viên
ĐIỂM
CHỮ KÝ GIÁO VIÊN
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với quá trình đổi mới đất nước thì mô hình vai trò giới mới cũng có sựbiến đổi và phân công giữa vợ và chồng nhưng chưa thấy rõ nét của sự bình đẳng,người chồng đi làm và người vợ ở nhà nội trợ Người chồng là trụ cột về kinh tếđem lại thu nhập, người vợ chăm sóc và phục vụ chồng con Mô hình này dườngnhư vẫn chưa thoát khỏi hệ lụy của chế độ phong kiến trước đó
Và đến khi giai đoạn công nghiệp hóa phát triển cao hơn một bậc thì một lầnnữa, mô hình phân công vai trò trong gia đình lại biến đổi, nền sản xuất xã hội ởquy mô công nghiệp hóa cao đã kéo người phụ nữ ra khỏi công việc nội trợ thamgia vào lao động sản xuất xã hội, vì nhu cầu của nền sản xuất hay vì nhu cầu tiêudùng của gia đình tăng lên, vì quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực
Dù người phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động sản xuất vì nguyên nhân
gì thì bản chất của hôn nhân trong gia đình này đã biến đổi : từ hôn nhân bổ sungsang hôn nhân song hành Vợ chồng làm những công việc giống nhau ở bên ngoàigia đình và cùng chia sẻ công việc nội trợ trong gia đình
Khi đã có công việc, xã hội Việt Nam mong đợi phụ nữ có gia đình, và dànhthời gian chăm sóc cho gia đình Khái niệm "hạnh phúc" cũng gắn liền với quanniệm này Ngày nay, phụ nữ tham gia vào việc tạo thu nhập ở nhiều lĩnh vực nhưnam giới nhưng xã hội vẫn mong đợi họ phải làm tốt cả công việc nội trợ trong giađình, chăm sóc con cái, chăm lo việc họ hàng, trong khi nam giới chỉ cần đi làmkiếm thu nhập là đủ Điều này lại không được coi là quá sức đối với phụ nữ hay làbất bình đẳng trong khi họ được coi là "phái yếu" Việc tham gia vào những quyếtđịnh trong những công việc gia đình thể hiện địa vị và quyền lực của nội giới
Với những lý do trên nên tôi đã chọn đề tài: “Vấn đề bình đẳng giới trong
gia đình nông thôn miền núi huyện Ea Súp – tỉnh Đăk Lăk trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa” là đề tài tiểu luận môn Giới và phát triển.
2/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu thực trạng bình đẳng giới trong phân công lao động trong các giađình miền núi của huyện Ea Súp – tỉnh Đăk Lăk trong bối cảnh công nghiệphóa – hiện đại hóa hiện nay;
- Những nguyên nhân ảnh hướng tới việc thực hiện bình đẳng giới trong cácgia đình miền núi;
2
Trang 4- Đề ra biện pháp nâng cao bình đẳng giới.
3/ ĐỐI TƯỢNG - KHÁCH THỂ - PHẠM VI - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – NGUỒN SỐ LIỆU
3.1 Đối tượng: Vấn đề bình đẳng giới.
3.2 Khách thể: Gia đình miền núi huyện Ea Súp – tỉnh Đăk Lăk.
3.3 Phạm vi: Các hộ gia đình thuộc các xã của huyện Ea Súp – tỉnh Đăk Lăk.
3.4 Phương pháp nghiên cứu: Vì thời gian ngắn và điều kiện có hạn nên tiểu luận
chủ yếu sử dụng các phương pháp như: phương pháp phỏng vấn, phương phápnghiên cứu lượng giá, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tíchtổng hợp
3.5 Nguồn số liệu: Thông tin thu thập được trong một cuộc khảo sát về thực hiện
bình đẳng giới do Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Ea Súp – tỉnh Đăk Lăk thực hiệnnăm 2009
4/ KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Đề tài của tiểu luận được kết cấu với 03 chương chính như sau:
Chương I: “Những vấn đề lý luận chung” đưa ra những lý luận chung nhất vềvấn đề bình đẳng giới nói chung và trong các gia đình miền núi huyện Ea Súp –tỉnh Đăk Lăk, cũng như nêu rõ tầm quan trọng của đề tài
Chương II: “Kết quả nghiên cứu” cho thấy một bức tranh toàn cảnh về thựctrạng bình đẳng giới ở các gia đình thuộc huyện miền núi
Chương III: “Nguyên nhân và giải pháp” tìm hiểu nguyên nhân và nêu ramột số biện pháp góp phần nâng cao bình đẳng giới ở khu vực miền núi nói riêng
và cả nước nói chung
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1/ Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1.1 Cơ sở lý luận
Vấn đề giải phóng phụ nữ được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin
đề cập rất sớm trong nhiều tác phẩm Trong tiến trình cách mạng, được sự quan tâmcủa Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam không chỉ gópsức mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, mà còn tự giải phóng bản thân mình.Trong hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, phụ
nữ đã không chỉ được giải phóng, đóng góp sức mình cho sự nghiệp cách mạngnhư Người từng nhấn mạnh: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũngnhư già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”, mà còn từng bước chiến thắngnhững tập tục, những quan niệm cổ hủ và tự chiến thắng chính bản thân mình, đểthực sự hướng tới quyền bình đẳng thực sự, vì đó luôn là “một cuộc cách mạng to
và khó”
Tuy nhiên cũng theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù quyền bình đẳng của phụ
nữ đã được ghi rõ trong các văn bản pháp lý quan trọng, song giải phóng người phụ
nữ triệt để, thực hiện sự bình quyền, thì không có nghĩa là chỉ thực hiện một sựphân công mới, bình đẳng giữa vợ và chồng trong những công việc gia đình Điềucăn bản là phải có sự phân công, sắp xếp lại lao động của toàn xã hội, đưa phụ nữtham gia vào nhiều ngành nghề như nam giới Cần tổ chức lại đời sống công nông,cũng như sinh hoạt gia đình để phụ nữ giảm nhẹ công việc bếp núc, chăm lo concái, có điều kiện học tập nâng cao trình độ mọi mặt và tham gia công tác xã hội Từ
đó, chị em mới có đủ khả năng làm nhiều công việc chuyên môn và đảm nhiệmđược những chức vụ công tác ngang hàng với nam giới
1.2 Cơ sở thực tiễn
Xuất phát từ những lý thuyết nữ quyền cho rằng nam giới và nữ giới trảinghiệm thực tế cuộc sống và cảm nhận về đời sống gia đình rất khác nhau Từ quanđiểm giới, gia đình không phải là một đơn vị hài hòa, hợp tác, dựa trên cơ sở lợi íchchung và giúp đỡ lẫn nhau, gần giống quan điểm tiếp cận xung đột mà đây là nơi
4
Trang 6diễn ra sự phân công lao động theo giới, quyền lực và cơ hội tiếp cận nguồn lựckhông ngang nhau và luôn bất lợi cho phụ nữ.
Trong quá trình phân tích sự biến đổi gia đình, quan điểm giới và phươngpháp luận phân tích giới sẽ được lồng ghép vào các nội dung nghiên cứu Nhữngvấn đề cơ bản sẽ được chú trọng phân tích là : sự phân công lao động theo giới; sựtiếp cận với nguồn lực, quyền ra quyết định, sự đóng góp và thụ hưởng của cácthành viên trong gia đình
2/ Các khái niệm công cụ
2.1 Giới và giới tính
2.1.1 Giới
Giới là sự khác biệt giữa nữ giới và nam giới xét về mặt xã hội Nói cáchkhác, nói đến giới là nói đến các quan niệm, thái độ, hành vi, các mối quan hệ vàtương quan về địa vị xã hội của nữ giới và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụthể
Theo Luật Bình đẳng giới thì giới được hiểu là “Đặc điểm, vị trí, vai trò củanam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”
Trang 7Vai trò giới thể hiện trong những công việc và hoạt động cụ thể mà nữ giớihoặc nam giới thực tế đang làm Nói cách khác, vai trò giới còn được hiểu là cácchức năng của nam và nữ theo quan niệm của xã hội Vai trò giới gồm:
- Vai trò sản xuất là những công việc do nữ giới hoặc nam giới làm nhằm tạo
ra thu nhập bằng tiền hoặc bằng hiện vật
- Vai trò tái sản xuất sức lao động, hay còn gọi là vai trò sinh sản và nuôidưỡng, là những hoạt động tạo ra nòi giống, duy trì và tái tạo sức lao động
- Vai trò cộng đồng là những công việc do nữ giới hoặc giới thực hiện ở cấpcộng đồng như làng, bản, khối phố, họ hàng… nhằm đáp ứng các nhu cấuchung như xây dựng đường làng, ngõ xóm, giữ trật tự vệ sinh hoặc trao đổithông tin, họp hành, lễ hội, đám cưới, đám ma…
2.5 Nhu cầu giới
Nhu cầu giới là nhu cầu của giới nam hoặc giới nữ, nó có thể là những thứnhìn thấy được, thiết thực, cụ thể, giúp cho họ tồn tại như cơm ăn, áo mặc, nhà ở,điện nước, chất đốt hoặc có thể là những thứ khó nhận thấy, trừu tượng nhằm giúpcho mỗi giới phát triển trí tuệ, phát huy năng lực bản thân, nâng cao địa vị và vị thếtrng xã hội như thông tin, được đến trường, học hành, tham gia bầu cử hội họp
2.6 Phân biệt đối xử
Theo Luật Bình đẳng giới thì phân biệt đối xử về giới được hiểu là “việc hạnchế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ,gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và giađình”
2.7 Bất bình đẳng
“Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điềukiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của giađình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.(Theo Điều 5Khoản 3 Luật Bình đẳng giới)
2.8 Công bằng giới
Công bằng giới là sự đối xử hợp lý với nam và nữ dựa trên việc thừa nhậncác khác biệt giới tính nhằm đảm bảo cho nam và nữ có cơ hội và điều kiện thamgia và hưởng lợi
2.9 Phân công lao động trên cơ sở giới
6
Trang 8Phân công lao động trên cơ sở giới là sự phân chia các loại công việc khácnhau cho nam và nữ trong gia đình và xã hội.
3/ Vai trò của đề tài
Ngày nay, sự tiến bộ của con người được xem là tiêu chuẩn cao nhất củaphát triển xã hội Sự phát triển xã hội đòi hỏi phải đem lại công bằng, bình đẳngcho mọi người (cả nam và nữ) trong cơ hội và điều kiện cống hiến cũng như hưởngthụ các thành quả của phát triển Điều này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu củacuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN), cuộc cách mạng được xem là triệt đểnhất trong lịch sử nhân loại
Trong công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN, Đảng cộng sản Việt Namluôn coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, việc chăm lophát triển nguồn lực con người là một nhân tố quyết định thành công của công cuộcđổi mới theo định hướng XHCN ở Việt Nam Chăm lo phát triển nguồn lực conngười hướng vào cả nam và nữ với các tiêu chí: phát triển cao về trí tuệ, cườngtráng về thể chất, phong phú về tình cảm, đạo đức
Cuối thế kỷ XX, các quốc gia đều đạt các thành tựu quan trọng về phát triểncon người Nhưng đem so sánh chỉ số phát triển giữa nam và nữ, chúng ta nhậnthấy rằng sự phát triển năng lực của phụ nữ ở tất cả các quốc gia còn thấp hơn namgiới, đặc biệt tại các quốc gia chậm phát triển
Là một nước nông nghiệp, sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa (CNH HĐH) ở Việt Nam trong những thập kỷ tới tập trung trước hết cho nông nghiệp vànông thôn, quá trình này đòi hỏi phải phát huy mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lựccon người Các thống kê cho thấy, phụ nữ chiếm 56% lao động trong nông, lâmnghiệp, đảm đương 75% công việc của nhà nông, họ đang góp phần quan trọng đưaViệt Nam vào hàng thứ hai về xuất khẩu gạo và cà phê trên thế giới Phụ nữ nôngthôn không chỉ tham gia sản xuất mà còn làm phần lớn công việc gia đình đồngthời họ cũng tham gia tích cực vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội Tuy nhiên, sovới nam giới, phụ nữ nông thôn nói chung và phụ nữ nông thôn ở miền núi nóiriêng còn rất hạn chế về trình độ, năng lực, họ đang gặp nhiều khó khăn, thách thứctrong quá trình đưa nông nghiệp, nông thôn bước vào nền kinh tế hàng hóa Mặc dù
-có sự đóng góp lớn cho phát triển nhưng xã hội cũng như gia đình chưa đánh giáhết cống hiến của người phụ nữ, họ còn chịu nhiều thiệt thòi trong phát triển cánhân Chẳng hạn, phụ nữ chiếm số đông trong những người mù chữ, những ngườimắc bệnh tật và ít có cơ hội, điều kiện học hành, vui chơi giải trí Sự hạn chế cơhội phát triển ở phụ nữ trực tiếp làm giảm sút phúc lợi gia đình và xã hội đồng thời
là một cản trở đối với quá trình CNH - HĐH hiện nay
Trang 9Khu vực miền núi Tây Nguyên với bề dày lịch sử phát triển cùng đất nướctuy không nổi bật với những vựa lúa như đồng bằng sông Hồng hay sông CửuLong, cũng không đóng góp nhiều vào tỷ trọng kinh tế của cả nước nhưng nơi đâynổi tiếng với những rừng cây nhiều tuổi và những loài động vật quý hiếm của nước
ta Tuy nhiên, ngày nay khu vực này cũng là nơi chuyển mình khá mạnh mẽ trongcông cuộc đổi mới Truyền thống và hiện đại (bao gồm cả yếu tố tích cực và tiêucực) đang được phản ánh trong cuộc sống gia đình, đặc biệt trong quan hệ về giới
Sự nghiệp CNH - HĐH ở khu vực miền núi sẽ như thế nào nếu như phụ nữ vẫnphải chịu những thiệt thòi, bất công ngay từ trong gia đình; nếu sự phát triển nănglực của phụ nữ còn gặp nhiều trở ngại ngay từ trong gia đình, cộng đồng Đây lànhững câu hỏi đang đặt ra bức thiết cho các nhà hoạch định chiến lược phát triểnnông thôn miền núi, phát triển nguồn nhân lực ở nông thôn miền núi cũng như pháttriển gia đình khi nhân loại đang bước vào nền văn minh trí tuệ
Mạnh dạn nghiên cứu và tìm hiểu đề tài ở bước đầu nên đề tài chỉ giới hạntìm hiểu về vấn đề bình đẳng giới trong sự phân công lao động theo giới, vai tròcủa của nam và nữ giới, cách tiếp cận nguồn lực về y tế, kinh tế , văn hóa và giáodục; quyền và tạo quyền trong gia đình ở gia đình nông thôn miền núi huyện EaSúp – tỉnh Đăk Lăk trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa Tuy đang đinhững bước nhỏ trong con đường cùng toàn dân nâng cao bình đẳng giới nhưng tôirất mong đề tài sẽ được mở rộng hơn nữa trong tương lai, nhằm góp phần chonhững gia đình ở khu vực miền núi khó khăn cũng như thế hệ tương lai sau này cónhững cái nhìn đúng đắn về vấn đề bình đẳng giới
8
Trang 10CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1/ Sơ lược vài nét về huyện Ea Súp – tỉnh Đăk Lăk
Ea Súp (hay Ea Suop) là một huyện của tỉnh Đăk Lăk (thuộc khu vực TâyNguyên) cách thành phố Buôn Ma Thuột 85 km theo đường tỉnh lộ 1 đi về phíaTây Bắc Huyện thuộc vùng sâu, vùng xa của tỉnh, dân cư thưa thớt, đời sống củanhân dân còn gặp nhiều khó khăn Dân cư ở đây ngoài bộ phận là dân tộc Kinh thìcòn có các dân tộc khác như: Gia Rai, Êđê, có một phần dân số là người dân tộcthiểu số di dân từ miền Bắc Việt Nam (xã như Cư K'Bang gồm 100% cư dân làngười Tày) Huyện Ea Súp gồm 1 thị trấn và 9 xã: Thị trấn Ea Súp, xã Ea Lê, xã EaBung, xã Ea Rốc, xã Cư MLan, xã Cư KBang, xã Ia Rvê, xã Ia Jlơi, xã Ia Lốp, xã
Ya Tờ Mốt
Ở Ea Súp rừng nối tiếp rừng và là huyện còn nhiều rừng nhất ở Đăk Lăk Với
độ cao trung bình thấp nhất tỉnh và địa hình là một bình nguyên tương đối bằngphẳng, sau khi được nhà nước cho xây dựng ở đây 2 công trình thủy lợi tầm cỡ lớnnhất cả nước là (Ea Súp Thượng và Ea Súp Hạ) thì Ea Súp đã thay đổi hẳn; nơi đâygiờ lại có thêm những cánh đồng cò bay mỏi cánh không khác gì đồng bằng Nam
Bộ Xoài là một trong những đặc sản của vùng đất này Sản lượng xoài của huyệncũng cao không kém bất cứ một vùng chuyên canh xoài nào ở Nam Bộ
Điểm tham quan đáng chú ý khi đến với Ea Súp là hồ Ea Súp thượng vớidung tích chứa lên đến 150 triệu m³ và tháp Chàm Yang Prong, hay còn gọi là thápChàm Rừng xanh, cách thị trấn khoảng 15 km thuộc địa bàn xã Ea Rốk Là mộtđiều đặc biệt, bởi đây là tháp Chàm duy nhất không được xây dựng trên nhữngngọn đồi cao, không bóng cây như những ngọn tháp khác mà lại nằm chìm lấp dướinhững tán cổ thụ của rừng già Ea Súp và bên dòng sông Ea H'leo
Đây cũng chính là ngọn tháp Chàm duy nhất được tìm thấy trên Tây Nguyên.Tháp có chiều cao 9 m, đáy vuông mỗi cạnh dài 5 m, có 1 cửa mở về phía đông,thờ thần Shiva Trong thời gian chiến tranh tháp đã bị đánh mìn nên đã hư hỏngnhiều Hiện nay tháp đã được tu bổ để trở thành một điểm tham quan quan trọngtrong các tuor du lịch đến Đăk Lăk
2/ Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình
2.1 Phân công lao động theo giới nam và giới nữ trong gia đình
Trang 11sự thay đổi.
Theo kết quả khảo sát cho thấy: Ngoài công việc nội trợ, phụ nữ cũng thamgia lao động kiếm sống như làm việc tại công sở, nhà máy, trên đồng ruộng, buônbán, chăn nuôi, làm mướn… Người phụ nữ thường chọn việc buôn bán nhỏ vì côngviệc này có nhiều thời gian chăm sóc con cái, quán xuyến nhà cửa và có thể tạo rathu nhập thêm cho gia đình Ngoài ra họ còn chăn nuôi heo, gà để tạo thêm thunhập
Trong những gia đình làm ruộng, người vợ thường phụ giúp chồng các côngviệc như làm cỏ, bán sản phẩm, người chồng thường làm công việc kiếm sống,đóng vai trò trụ cột gia đình như lao động sản xuất trên đồng ruộng ( cày bừa, bónphân, phun thuốc sâu, thu hoạch ), làm việc tại công sở, nhà máy…
Việc làm nhiều nghề cùng với sự đảm bảo trách nhiệm theo sự phân công laođộng xã hội – việc nội trợ đã mang lại nhiều bất lợi cho phụ nữ Đối với nhữngngười bị buộc phải làm thêm, ngày làm việc của họ sẽ bị kéo dài hơn, đồng thời đốivới những người có nghề nghiệp chuyên môn, những trách nhiệm gia đình có thể là
sự cản trở đối với tiến bộ nghề nghiệp
Trang 12Người vợ vừa làm nội trợ vừa tham gia vào lĩnh vực sản xuất vì nhu cầu sảnxuất của xã hội, vì sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc đóng góp thu nhậpvào hộ gia đình, thì trong lĩnh vực nội trợ cũng cần đến sự chia sẻ, tuy nhiên tìnhhình không hoàn toàn như vậy.
Kết quả phân tích ấy người vợ vẫn là người làm chính các công việc nội trợ
và làm thêm các công việc lao động sản xuất khác trong gia đình như: làm ruộng,chăn nuôi, buôn bán… Đây là một lĩnh vực của đời sống gia đình thể hiện sự bấtbình đẳng giới Người phụ nữ gắn liền với vai trò người vợ, người mẹ, người nộitrợ trong gia đình, người phụ nữ phải chịu gánh nặng kép
2.1.2 Lao động tái sản xuất
Trong khung cảnh kinh tế việt nam đang chuyển sang nền kinh tế thị trường,đời sống gia đình có nhiều lĩnh vực đang biến đổi như quyền quyết định hôn nhân,dàn xếp nơi ở sau khi kết hôn, chức năng sinh đẻ chủa gia đình Và ngay trong lĩnhvực nội trợ không phải không có những biến đổi so với mô hình phân công laođộng truyền thống là người chồng là trụ cột về kinh tế và người vợ là nội trợ
Trong một lần phỏng vấn cán bộ xã Cư Mlan, khi được hỏi “Trong gia đình
có sự phân công công việc không? Ví dụ ai làm những việc gì?”, anh Nguyễn VănNghi suy nghĩ và trả lời: “Cái này thì có vì trong quá trình sinh hoạt cộng đồng thì
đã dẫn tới vấn đề bình đẳng Đã có sự phân công các việc, ví dụ những người là nữ
ở nhà làm nội trợ thì người ta sẽ làm công việc nội trợ, người chồng thì sẽ làmnhững công việc gánh vác việc ruộng vườn hoặc là kiếm tiền nhiều hơn Nói chungphụ nữ thì nội trợ và chăm sóc con cái cũng như chăn nuôi thêm trong gia đìnhthôi Ngoài ra theo vận động thì cũng tham gia các hoạt động xã hội trong xã này.Còn đối với những cặp vợ chồng cả hai cùng đi làm thì cũng tùy gia đình mà hai vợchồng người cùng làm việc nhà hoặc là chỉ có vợ làm nhiều hơn cả”
Ở Việt Nam phụ nữ thường có vai trò đặc biệt quan trọng trong công việc nộitrợ, vừa là người thực hiện, vừa là người trực tiếp “tay hòm chìa khóa” Vì vậy sựphân công lao động theo giới đưa tới việc nam là nguồn lao động, nguồn lao động
Còn ngoài xã hội thì vị trí việc làm người phụ nữ cũng có cái giới hạnhơn như tỉ lệ nữ tham gia công tác xã hội ít hơn nam, thứ hai nữa là nữ tham giacông tác lãnh đạo các ban ngành đoàn thể cũng ít hơn
(Phỏng vấn sâu: Chị Nguyễn Thị Ba - Cán bộ phụ nữ xã Ea Lê)
Trang 13Rất đồng ýĐồng ýTạm đồng ýKhông đồng ý
vợ, người nội trợ Quan niệm đó cũng cho rằng công việc nội trợ là công việc nhẹ,không căng thẳng và điều quan trong là không có giá trị về kinh tế
Phụ nữ Việt Nam trong gia đình được trông đợi là phải sinh con, quán xuyếnviệc nhà, cho dù chị ấy có tham gia vào lao động tăng thu nhập hay không Đó làvai trò tái sản xuất, bao gồm trách nhiệm sinh đẻ hoặc nuôi con và công việc nhà dophụ nữ đảm nhiệm để duy trì tái sản xuất sức lao động Vai trò đó không chỉ baogồm sự sản xuất sinh học mà còn bao gồm cả việc chăm lo và duy trì lực lượng laođộng (con cái và chồng đang làm việc) và lực lượng lao động sau này( trẻ nhỏ vàtrẻ đang đi học)
Khi được hỏi về quan niệm về sự phân công lao động trong gia đình củanhững người chủ hộ, chính người phụ nữ lại luôn nhận phần trách nhiệm cao hơn
về mình
Theo kết quả của cuộc điều tra, về ý kiến công việc gia đình cần có sự chia
sẻ của người chồng có 237/635 người (cả nam và nữ) chiếm 59,7% đồng ý là côngviệc gia đình cần có sự chia sẻ của người chồng chỉ có 02 người nam chiếm 0.3%không đồng ý
12
Biểu đồ 1: Tỷ lệ về ý kiến công việc gia đình cần có sự
chia sẻ của người chồng
Trang 142.1.3 Hoạt động cộng đồng
Người phụ nữ ngày càng tham gia vào nhiều vào lao động sản xuất, làm choứng xử độc lập về kinh tế, giao tiếp xã hội rộng rãi hơn, tăng cường khả năng dựđoán rủi ro hơn Trước đây thường thì nam giới tham gia các công việc cộng đồngnhư : họp xóm, tổ dân phố, đi dự đám hiếu, hỉ, tổ chức các lễ hội… Còn phụ nữ thìtham gia các công việc cộng đồng như dọn dẹp vệ sinh ngõ xóm, đường phố… Vàcàng ngày người phụ nữ tham gia vào các hoạt động cộng đồng nhiều hơn Tuynhiên, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại và phụ nữ cũng có ít thời gianhơn nam giới để tham gia các hoạt động cộng đồng
Theo kết quả khảo sát phần lớn nam giới tham gia vào các hoạt động xã hộinhiều hơn nữ giới như tham gia hội nông dân, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên,hôi người cao tuổi, bầu cử trong tổ, ấp… Có 80.4% nam giới tham gia họp tổ dânphố Trong khi đó chỉ có 49.2% nữ giới tham gia họp tổ dân phố mà thôi Vì mải locông việc gia đình nên phụ nữ ít có thời gian tham gia các hoạt động cộng đồng vàcũng do tư tưởng “việc đó là của đàn ông”
Hỏi: Tại địa phương mình khi xã hoặc thôn ấp có cuộc họp, bầu cử thì tỉ
lệ nữ tham gia nhiều không chị?Biểu đồ 2: Đánh giá tỷ lệ tham gia công việc cộng đồng
Trang 15Trả lời: Số lượng nữ tham gia trong những lần bầu cử có tỉ lệ ít hơn nam Tỉ
lệ nữ đạt bầu vào các ban chấp hành hoặc nhiệm vụ chủ chốt thì tỉ lệ cũng thấp hơnnam
Hỏi: Chị có biết nguyên nhân vì sao không ạ?
Trả lời: Có lẽ nguyên nhân là do quan niệm tập quán ở một số bà con cứ nghĩrằng nữ mình thì không có điều kiện để tham gia công tác cho nên tỉ lệ đó thấp
(Phỏng vấn sâu: Chị Lương Thị Son - Cán bộ hội phụ nữ xã Ea Rốc)
Chỉ có hội phụ nữ là nữ giới tham gia nhiều hơn nam giới Càng ngày thì sốlượng phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội ngày càng tăng lên, vì xã hội ngàycàng phát triển người phụ nữ dần tự khẳng định được chính mình trong xã hội
Tuy nhiên do “yêu chồng thương con” người phụ nữ dành toàn bộ thời gianrảnh của mình cho công việc nhà, việc chăm sóc gia đình nhỏ của mình nên khôngcòn nhiều thời gian tham gia các hoạt động xã hội nữa Còn một nguyên nhân khácnữa đó chính là tư tưởng gia trưởng, phong kiến cho rằng tham gia các công việc xãhội chỉ dành cho nam giới, việc của người phụ nữ là trong bếp với vai trò nội trợcủa mình
Nam giới sở dĩ có nhiều thời gian để tập trung cho công việc sản xuất và hoạtđộng cộng đồng là do có phụ nữ - vợ hoặc mẹ, chị, em gái lo mọi công việc nhưcơm nước, giặt giũ, chăm sóc con cái…Phụ nữ ngày nay không chỉ làm nội trợ, sựthành công của họ trong sản xuất, kinh doanh do đó phụ thuộc ở mức độ lớn vào sựchia sẻ vai trò tái sản xuất với các thành viên khác trong gia đình
3/ Vai trò giới của nam và nữ giới trong bối cảnh hiện nay và sự biến đổi vai trò qua từng thời kỳ
Từ bao đời nay, trong gia đình, người phụ nữ có vai trò vô cùng quan trọng
và không thể thiếu được Ảnh hưởng của người phụ nữ đã tác động đến hầu hết cáclĩnh vực trong cuộc sống gia đình và ngày càng trở nên quyết định hơn
Vai trò người vợ - người nội trợ thể hiện phụ nữ vẫn là người quyết định chủyếu chi tiêu ăn uống hàng ngày – trong việc chi tiêu chữa bệnh, chăm sóc con cái
và học hành cho con, mặc dù người chồng có sự chia sẻ chịu trách nhiệm, phụ nữvẫn quyết định chính
14
Trang 16Theo quan niệm truyền thống, phụ nữ gắn liền với vai trò chăm sóc gia đình,còn nam giới đảm nhận những việc lớn Quan niệm này được thể hiện thông quacâu ngạn ngữ “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”
Người phụ nữ giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ giađình Nam giới sau một ngày công tác bận rộn, mệt nhọc có lúc vui nhưng cũng cónhững lúc thật sự căng thẳng Khi về nhà, họ cần được nghỉ ngơi, cần được hưởngkhông khí ấm cúng của gia đình, cần nhìn thấy những đứa con sạch sẽ, ngoanngoãn, họ cũng cần có những bữa cơm ngon, cần thấy nhà cửa ngăn nắp, gọn sạch
và nhất là người vợ dịu dàng, ân cần chăm sóc cho cha mẹ chồng cũng như xử sự tếnhị với gia đình bên chồng sẽ làm cho tan biến đi những lo toan, vất vả Rõ ràng,tất cả những công việc trên phụ thuộc vào tính cách của người phụ nữ Để điều hòađược các mối quan hệ gia đình, nó đòi hỏi những đức tính đảm đang, dịu dàng, biếtthông cảm, chịu khó và sự tinh tế ở người phụ nữ
Qua cuộc khảo sát điều tra của Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Ea Súp cho thấynam giới được coi là trụ cột, chịu trách nhiệm về kinh tế gia đình Phụ nữ có tráchnhiệm trước hết với công việc gia đình, chăm sóc con cái và được trông đợi làngười duy trì sự hòa hợp và hạnh phúc gia đình
Phụ nữ là người quyết định giữ không
Nam giới là người quyết định giữ
không khí hòa thuận trong gia đình 19,2% 8,5% 12,6%
Bảng 1: Nhận định về người quyết định giữ không khí hòa thuận trong
gia đình theo giới tính
Với nhận định “Phụ nữ là người quyết định giữ không khí hòa thuận tronggia đình” thì đa số nam giới và nữ giới đều đồng ý với nhận định này Có 467/632người chiếm 73,9% đồng ý với nhận định phụ nữ là người quyết định giữ khôngkhí hòa thuận trong nhà Chỉ có 52/632 người chiếm 8,2% không đồng ý nhận địnhphụ nữ là người quyết định giữ không khí hòa thuận trong nhà Số còn lại là113/632 người chiếm 17,9% trả lời là tùy từng người Song tỷ lệ nữ giới đồng ýnhiều hơn nam giới, cụ thể là 78,7% so với 66,1%
Ngược lại với nhận định “Nam giới là người quyết định giữ không khí hòathuận trong gia đình”, tỷ lệ nam giới đồng ý nhận định này nhiều hơn so với nữ giới19.2% so với 8.5%
Trang 17Như vậy cho thấy, người phụ nữ được đánh giá là người quyết định giữkhông khí hòa thuận trong nhà nhiều hơn nam giới, thường thì chúng ta chỉ nghe
“Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa cả đời chẳng khê”, chưa nghe ai nói
“Vợ giận thì chồng bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa cả đời chẳng khê” bao giờ! Chính vìquan niệm này mà khi vợ chồng có xích mích, cãi nhau, người đàn ông to tiếng với
vợ thì được phần đông dư luận chấp nhận là “dạy vợ”, người phụ nữ to tiếng vớichồng thì được thiên hạ gán cho là “đàn bà mất nết, cãi chồng” Vì vậy phụ nữ luônnhẫn nhịn để giữ hòa khí trong nhà
Đánh giá về năng lực lo toan công việc gia đình, phần lớn nữ giới 78,8%đồng ý với nhận định “Nữ giới biết lo toan công việc gia đình hơn nam giới” Sovới nữ, nam giới đồng ý với nhận định này thấp hơn, có 75,1% đồng ý với nhậnđịnh này Ngược lại, với nhận định “Nam giới biết cách lo toan công việc gia đìnhhơn nữ giới” thì tỷ lệ nam giới đồng ý với nhận định này cao hơn nữ giới Chỉ có11,6% nữ giới đồng ý với nhận định này trong khi tỷ lệ ở nam giới là 13,4%
Nữ giới biết cách lo toan công việc gia
Nam giới biết cách lo toan công việc gia
Bảng 2: Nhận định về người lo toan công việc gia đình theo giới tính
Còn về năng lực chăm sóc gia đình, hầu như cả hai giới đều cho rằng phụ nữbiết cách chăm sóc gia đình hơn nam giới Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ đồng ý với nhậnđịnh này cao hơn nam giới, cụ thể là 92,3% đồng ý phụ nữ biết cách chăm sóc giađình hơn nam giới so với 83,3% Ngược lại nhận định “Nam giới biết cách chămsóc gia đình hơn nữ giới” thì tỷ lệ nam giới đồng ý với nhận định này nhiều hơn nữgiới 5,7% so với 1,3% Tỷ lệ đồng ý cao này cho thấy sự tin tưởng khá chắc chắncủa người trả lời, cũng như tin vào năng lực của phụ nữ về việc liên quan đến giađình và ít tin tưởng hơn ở nam giới khi bàn đến việc chăm sóc và lo toan gia đình
16
Trang 18Phụ nữ biết cách chăm sóc gia đình hơn
Nam giới biết cách chăm sóc gia đình
Bảng 3: Nhận định về người chăm sóc gia đình tốt hơn theo giới tính
Qua ba nhận định trên về năng lực thực hiện các vai trò trong gia đình có thểthấy rõ là trong quan niệm của cả nữ giới và nam giới, phụ nữ được coi là người cókhả năng nhiều hơn so với nam giới Sự tin tưởng vào năng lực của người phụ nữthể hiện rõ trong việc chăm sóc gia đình, việc lo toan công việc gia đình và gìn giữkhông khí hòa thuận trong gia đình
Như vậy, nhìn chung không có sự khác biệt trong quan niệm hiện nay củahầu hết phụ nữ và nam giới với cách hiểu mang tính truyền thống về năng lực thựchiện vai trò giới trong gia đình Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt vềtuổi, trình độ học vấn, tôn giáo trong những nhận định về nam giới và phụ nữ Đặcbiệt là cả hai giới đều có xu hướng đánh giá giới mình có khả năng nhiều hơn trongcông việc gia đình, đó là yếu tố tâm lý muốn khẳng định bản thân mình hơn Nhìnchung, theo quan niệm truyền thống, nam giới vẫn thường được coi là trụ cột giađình về kinh tế, còn phụ nữ là người quán xuyến công việc trong gia đình và chămsóc con cái
Ngày nay, với những thay đổi của xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thịtrường và hội nhập kinh tế, quan niệm về trách nhiệm của phụ nữ và nam giới tronggia đình dần có sự chuyển biến
4/ Tiếp cận nguồn lực giữa nam và nữ trong gia đình
4.1 Tiếp cận nguồn lực thông tin kinh tế
Phần lớn nam giới tham gia vào các tổ chức xã hội và hoạt động cộng đồngnhư tập đoàn, đội sản xuất, là người tiếp cận các nguồn lực kinh tế để tiếp thu, họchỏi và phát triển kinh tế cho gia đình mình vì nam giới đóng vai trò trụ cột tronggia đình
Ở huyện Ea Súp với điều kiện thuận lợi về khí hậu, đất đai, rất thích hợp chovệc trồng lúa, các loại cây công nghiệp, đặc biệt là cây điều, chăn nuôi các loại giasúc, gia cầm (heo, bò, gà, vịt…)… Vì vậy tham gia các buổi tập huấn về các kỹthuật chăn nuôi, trồng trọt, quản lý kinh doanh… rất được nhiều người quan tâm, vìtiếp cận các nguồn thông tin kinh tế, kỹ thuật sẽ giúp cho công việc thuận lợi, năngsuất kinh tế cao hơn
Trang 19ChồngVợConNgười khác77%
4.2 Tiếp cận nguồn lực y tế
Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế thể hiện trong việc nâng cao vai trò củaphụ nữ trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến sức khoẻ của chính họ vàtrách nhiệm của nam giới trong việc chia sẻ thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ,
kế hoạch hoá gia đình
Trong vấn đề y tế khi được hỏi người thường đưa người bệnh đi khám, phần lớn là người chồng 233/634 người chiếm 36,8%, người vợ là 190/634 người chiếm chiếm 30%, cả vợ và chồng là 143/634 người chiếm 22,6% Người chồng là trụ cột gia đình, có sức khỏe và tham gia các hoạt động bên ngoài nhiều hơn nữ giới nên việc đưa người bệnh đi khám do người chồng đảm nhận nhiều hơn có thể lý giải
18
Biểu đồ 3: Người tham gia các buổi tập huấn về
kỹ thuật trồng trọt
Trang 20Trình độ học vấn của người mẹ có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của trẻ
em với dịch vụ y tế, đặc biệt là trẻ em gái Chỉ có 65% trẻ em gái dưới 6 tuổi có mẹkhông được học hành đi khám bệnh khi ốm đau Tỷ lệ trẻ em gái bị ốm được tiếpcận dịch vụ y tế tăng vọt lên tới 88% khi người mẹ mới chỉ đi học tăng từ 1 đến 4
Biểu đồ 4: Tỷ lệ người dành thời gian đưa người bệnh đi khám
Biểu đồ 5: Tỷ lệ người dành thời gian chăm sóc người bệnh