1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu và lựa chọn thị trường trong marketing dịch vụ

22 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 162,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ có marketing mới có vai trò quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp với thị trường, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp hướng theo th

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại kinh tế thị trường ngày càng phát triển và mở rộng hội nhậpquốc tế, sự cạnh tranh trở nên gay gắt và quyết liệt hơn bao giờ hết Chất lượng đờisống tăng dẫn đến nhu cầu của người sử dụng phong phú, đa dạng hơn, đồng thời

sự đòi hỏi đối với sản phẩm và dịch vụ cũng cao hơn Hàng loạt doanh nghiệp rađời nhằm thõa mãn mọi nhu cầu và mong muốn của thị trường.Tuy nhiên khôngphải doanh nghiệp nào cũng có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường khốc liệt

ấy Marketing là một trong những công cụ hữu hiệu đối với một doanh nghiệp Chỉ

có marketing mới có vai trò quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp với thị trường, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp hướng theo thị trường, lấy nhu cầu và ước muốn của khách hàng làmchỗ dựa vững chắc cho mọi quyết định kinh doanh Để chiến lược marketing đạthiệu quả, việc đầu tiên mà mỗi doanh nghiệp phải làm đó là nghiên cứu, phân đoạnthị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu.Nó giúp cho doanh nghiệp có nhữngchiến lược marketing tập trung được thế mạnh của mình vào đúng thị trường Vàcũng để hiểu hơn về nghiên cứu và thị trường mục tiêu trong ngành dịch vụ , nhóm

chúng em xin trình bày bài tiểu luận về “Nghiên cứu và lựa chọn thị trường trong Marketing dịch vụ” mà đại diện của lĩnh vực này là dịch vụ đồ ăn nhanh của KFC.

Trang 2

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Nghiên cứu thị trường

1.1.1 Nghiên cứu thị trường là gì?

Nghiên cứu thị trường (NCTT) là hoạt động của con người diễn ra trong mối quan hệ với thị trường nhằm tìm hiểu, xác định các thông tin về thị trường, từ đó

có thể nắm bắt được những cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị trường.

1.1.2 Mục tiêu của NCTT

 Thu thập các thông tin cần thiết cho việc tìm kiếm những cơ hội kinh doanhmới trênthị trường và khai thác triệt để thời cơ khi chúng xuất hiện

 Cung cấp cho DN những thông tin nhằm phòng tránh và giảm bớt những rủi

ro do sự biến đổi không ngừng của thị trường hoạt động kinh doanh, đồngthời đề ra những biện pháp ứng phó kịp thời đối với những biến động đó

 Thông qua NCTT để thu thập thông tin cần thiết phục vụ cho hoạch địnhchiến lược và kế hoạch Mar, tổ chức và thực hiện

 NCTT hỗ trợ cho mọi hoạt động kinh doanh của công ty thông qua việcnghiên cứu thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm của DN

1.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu

1.2.1 Thị trường mục tiêu

Thị trường mục tiêu là một số nhóm khách hàng mà doanh nghiệp muốn tập trung các nỗ lực Marketing vào đó.

1.2.2 Lý do lựa chọn thị trường mục tiêu

Phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu được đánh giá là cốt lõicủa marketing hiện đại Có thể thấy rằng đây là bước đầu tiên không thể thiếu vớimỗi doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường Marketing phải tiến hành phân đoạnthị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu bởi 3 lý do chính sau đây:

 Thị trường tổng thể là một thị trường lớn về số lượng khách hàng, đa dạng vềnhu cầu, đặc tính mua, sức mua, về những đòi hỏi riêng

Trang 3

 Một doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh với sự khác biệtnhau về khả năng phục vụ nhu cầu và ước muốn của những nhóm kháchhàng khác nhau của thị trường

 Trong khi đó, một doanh nghiệp chỉ có một hoặc một vài thế mạnh,không thểđáp ứng được toàn bộ nhu cầu và ước muốn của thị trường tổng thể vốn rấtrộng lớn và đa dạng ấy

Vì vậy, để kinh doanh có hiệu quả, duy trì và phát triển được thị phần thìtừng doanh nghiệp phải xác định cho mình những đoạn thị trường mà tại đó họ cókhả năng đáp ứng nhu cầu và ước muốn của khách hàng hơn hẳn các đối thủ cạnhtranh Những đoạn thị trường như vậy sẽ được doanh nghiệp chọn làm thị trườngmục tiêu hay thị trường trọng điểm

1.2.3 Các bước cơ bản của Marketing mục tiêu

Marketing mục tiêu bao gồm ba bước cơ bản sau:

 Phân đoạn thị trường

 Lựa chọn thị trường mục tiêu

1.3.2 Các yêu cầu phân đoạn thị trường

Có nhiều cách để phân đoạn thị trường.Tuy nhiên không phải tất cả các cáchphân đoạn thị trường đều có hiệu quả Đoạn thị trường có hiệu quả được hiểu làmột nhóm các khách hàng mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được nhu cầu vàước muốn của họ, đồng thời có số lượng đủ lớn để tạo ra dòng tiền thu lớn hơn

Trang 4

dòng tiền chi cho những nổ lực kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy đòi hỏi việcphân đoạn thị trường phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:

 Đo lường được: Quy mô, sức mua và các đặt điểm của khách hàng đều đo được.

 Có quy mô đủ lớn: Việc phân đoạn thị trường phải hình thành được những

nhóm khách hàng có quy mô đủ lớn, hứa hẹn khả năng sinh lời

 Có tính khả thi: Các đoạn thị trường phải tiếp cận được và phục vụ có

hiệu quả

 Có thể phân biệt được: Các đoạn thị trường này khác biệt nhau về quan niệm

và đáp ứng khác nhau đối với các yếu tố Marketing mix và chương tìnhmarketing khác nhau

 Có thể hoạt động được: có thể xây dựng những chương trình có hiệu quả để

thu hút và phục vụ những thị trường đó

1.4 Lựa chọn thị trường mục tiêu.

Lựa chọn thị trường mục tiêu là việc xác định một hoặc vài đoạn thị trường

mà doanh nghiệp tập trung nỗ lực marketing vào đó nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của mình.

Có 5 phương án lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu như sau:

Chọn một đoạn thị trường duy nhất: DN chọn một đoạn thị trường đơn lẻ

làm điểm xuất phát, làm đà cho sự mở rộng tiếp theo

Chuyên môn hóa tuyển chọn: DN có thể chọn một số đoạn thị trường riêng

biệt làm thị trường mục tiêu

Chuyên môn hóa theo đặc tính sản phẩm: DN tập trung sản xuất một chủng

loại sản phẩm để đáp ứng cho nhiều đoạn thị trường

Chuyên môn hóa theo đặc tính thị trường: DN chọn một nhóm khách hàng

riêng biệt làm thị trường mục tiêu và tâp trung nỗ lực vào việc thõa mãn nhucầu đa dạng của một nhóm khách hàng đó

Trang 5

Bao phủ toàn bộ thị trường: DN đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng về

những chủng loại sản phẩm họ cần

Mục đích của lựa chọn thị trường: Để kinh doanh có hiệu quả, duy trì và

phát triển được thị phần, từng doanh nghiệp phải tìm cho mình những phân đoạnthị trường, mà ở đó họ có khả năng đáp ứng nhu cầu Những đoạn thị trường sẽđược doanh nghiệp chọn làm thị trường mục tiêu hay thị trường trọng điểm

1.5 Định vị dịch vụ

1.5.1 Khái niệm.

Định vị dịch vụ là căn cứ vào đặc điểm nhu cầu thị trường doanh nghiệp tạo

ra dịch vụ có sự khác biệt các thuộc tính cạnh tranh và bằng các giải pháp Marketing khắc họa hình ảnh dịch vụ vào trí nhớ khách hàng, nhằm đảm bảo cho dịch vụ được thừa nhận ở mức cao hơn và khác biệt hơn so với đối thủ cạnh tranh.

1.5.2 Mối quan hệ giữa định vị và dịch vụ

Giữa định vị và dịch vụ có mối quan hệ với nhau, hỗ trợ nhau trong 1 hệthống, định vị cung cấp cơ hội để phân biệt dịch vụ Định vị tốt giúp người muaphân biệt kỹ càng, chính xác dịch vụ của DN và các dịch vụ cạnh tranh khác

Mục tiêu là tạo ra sự khác biệt về dịch vụ trong tâm trí của khách hàng

1.5.3 Định vị và cấu trúc dịch vụ.

Cấu trúc dịch vụ là kết quả của việc thực hiện kịch bản dịch vụ, các hoạt động

hệ thống cấu trúc vận hành với mục tiêu đạt được định vị trên thị trường cho dịch

vụ chủ yếu của hệ thống Cấu trúc dịch vụ là sự kết hợp có logic các hệ thống sảnxuất cung cấp dịch vụ

 Các hướng thay đổi cấu trúc để xác định vị trí:

- Giảm sự khác biệt: Giảm sự khác biệt sẽ tạo cho ta một dịch vụ đơn giản,

đồng đều hơn Dịch vụ có xu hướng tiến tới mức trung bình xã hội Chi phí có xuhướng hạ thấp, sản xuất phân phối có hiệu quả, dễ dàng hơn, tạo cơ hội cho nhàcung cấp mở rộng quy mô cung ứng và xác định vị trí dịch vụ Trên cơ sở tăngnăng suất, hạ chi phí mở rộng quy mô, doanh nghiệp có khả năng thõa mãn được

Trang 6

nhiều khách hàng hơn.Tuy nhiên giảm sự khác biệt sẽ không tác động lớn vào thịtrường, hoạt động điều hành sẽ trở nên đơn giản và ít linh hoạt.

- Tăng sự khác biệt: Là tạo ra nhiều hoạt động riêng biệt trong các bước của

quá trình, tạo ra những dịch vụ khác nhau Vị trí của dịch vụ này trên thị trường lànhững dịch vụ khan hiếm, số lượng ít và nhấn mạnh cá nhân hóa, tập quán hóa.Khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn đầu ra Dịch vụ sẽ có chất lượng cao hơnsong chi phí cao, năng suất thấp, khó khăn trong việc kiểm tra kiểm soát và thựchiện phân phối Do đó có sự giới hạn về mặt lượng để đảm bảo tính hiệu quả củadoanh nghiệp

- Giảm sự phức tạp: Giảm sự phức tạp có thể làm giảm tính chuyên môn

hóa Đưa ra dịch vụ hẹp có quy mô nhỏ hơn Giảm sự phức tạp là làm giảm cácbước , các chức năng trong hệ thống và cung cấp một dịch vụ phù hợp có chi phíthấp nhất, tạo được thuận lợi trong phân phối, kiểm tra và giám sát Tuy nhiên,giảm sự phức tạp có thể rơi và trạng thái dịch vụ đơn giảm cạnh tranh gay gắt hơn,

dễ gặp rủi ro trong kinh doanh và tiêu dùng

- Tăng sự phức tạp: là tăng thêm các bước, các chức năng của hệ thống cấu

trúc, tăng độ phức tạp của chúng.Tăng sự phức tạp đồng nghĩa vơi việc tăng chiphí, song khả năng bù đắp chi phí là hiện thực Tăng sự phức tạp có tác động tốttới cực đại hóa tới lợi nhuận của doanh nghiệp, tuy nhiên nếu lợi dụng tăng sựphức tạp sẽ làm cho khách hàng nhầm lẫn, khó cảm nhận dẫn tới chất lượng củatoàn bộ quá trình dịch vụ giảm

 Những yếu tố chi phối cấu trúc trong chiến lược định vị:

- Nhận biết, đánh giá, lựa chọn: Các dịch vụ được đánh giá về cấu trúc trên cơ

sở đơn lẻ hoặc tổng thể Marketing trong chiến lược định vị dịch vụ dựa vào sự bổsung cấu trúc, dựa vào sự khác nhau về cấu trúc và toàn bộ hướng phát triển củacấu trúc trong quá trình dịch vụ

- Thay đổi trong thực hiện: Quá trình cấu trúc dịch vụ thiết kế qua hoạt động

chuyển giao sẽ cung cấp dịch vụ thực tế cho người tiêu dùng Hoạt động chuyểngiao thông qua con người và hàng hóa bổ sung Quá trình này diễn ra có sự sailệch, tác động tới phức tạp và mức độ khác biệt so với thiết kế và chi phối vị trí

Trang 7

dịch vụ trên thị trường Sự sai lệch bao gồm nhận thức sai lệch và sai lệch do điềukiện khách quan môi trường gây nên.

- Vai trò nhân viên và khách hàng:

Nhân viên: Nhận thức cấu trúc dịch vụ, kỹ năng lao động chuyển từ cấu trúc

thiết kế tới cấu trúc dịch vụ thực tế cung cấp cho khách hàng, từ kỹ năng cảm nhậndịch vụ tới cá nhân hóa dịch vụ

Khách hàng: Sự tham gia của khách hàng vào sản xuất cung ứng dịch vụ ảnh

hưởng tới chất lượng và lợi ích mà họ nhân được

- Vai trò hàng hóa bổ sung: Hàng hóa bổ sung chi phối việc nâng cao chất

lượng dịch vụ Nó có thể trở thành một bộ phận của sản phẩm dịch vụ hoặc trởthành phương tiện cho cung cấp dịch vụ

Thời điểm tiêu dùng dịch vụ

Đặc điểm quyết định mua đối tượng từng khách hàng

 Bố trí các đặc tính trên bản đồ định vị

 Xác định và đánh giá vị trí được chọn.

 Thực thi định vị

Trang 8

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ

LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG CỦA KFC 2.1.Tổng quan về thị trường thức ăn nhanh

2.1.1.Khái quát về thị trường thức ăn nhanh tại Việt Nam

Hiện nay, thức ăn nhanh đang trở nên hợp thời với nhịp sống hiện đại, khitiền bạc, công việc đều có thể gia tăng trừ thời gian Năm 2013, tổng doanh sốngành thức ăn nhanh tại Việt Nam ước đạt 500 tỉ đồng, tăng 35-40% so với nămngoái Dù kinh tế đang trong giai đoạn khủng hoảng nhưng thị trường thức ănnhanh vẫn là một trong số ít ngành hàng giữ được mức tăng trưởng cao

Hàng loạt cửa hàng thức ăn nhanh ra đời khiến cho thị trường thức ăn nhanhkhá phong phú Có thể kể đến những thương hiệu khá nổi trong lĩnh vực này nhưKFC, Lotterria, Jollibee, PizzaHut, BBQ chicken…Trên thị trường thức ăn nhanhViệt Nam, KFC vẫn chiếm thị phần đáng kể Mấy năm trở lại đây, sự xuất hiện củamột số nhãn hiệu thức ăn nhanh của Việt Nam như Bánh mì Ta, Phở 24 đang mongmuốn cạnh tranh trên thị trường đầy tiềm năng này Những món ngon vỉa hè đượcnâng cấp với chất lượng và phục vụ khác biệt đang mở ra xu hướng kinh doanh hấpdẫn cho các nhà đầu tư Việt Nam

2.1.2.Quá trình hình thành và phát triển nhãn hiệu KFC

KFC là viết tắt của cụm từ Kentucky Fried Chicken – thịt gà rán Kentucky,

là nhãn hiệu với hàng loạt cửa hàng ăn nhanh được được đánh giá nổi tiếng thứ haitrên thế giới Nhãn hiệu này được tiên phong bởi ông Harland Sanders, sau đó pháttriển và trở thành một trong những hệ thống phục vụ thức ăn nhanh lớn nhất thếgiới, với hơn 1 tỷ bữa ăn được phục vụ hàng năm trong hơn 80 quốc gia khác nhau

Khi có nhiều người biết đến các món ăn của ông Harland Sanders, ôngchuyển sang một nhà hàng và khách sạn với 142 chỗ ngồi Hơn 9 năm sau ông đãhoàn thành một thực đơn hoàn chỉnh và các kỹ thuật nấu ăn căn bản ấy vẫn được sửdụng cho đến tận ngày hôm nay

Trang 9

Năm 1939 ông Harland Sanders đưa ra các món gà rán chi thực khách với

một loại gia vị mới được pha trộn từ 11 nguyên liệu khác nhau Ông nói: “ Với loạigia vị thứ mười một đó, tôi đã được dùng miếng gà rán ngon nhất từ trước đến nay”

Năm 1950 Sanders phải bán lại cơ nghiệp ở Corbin, tiêu bang Kentucky, với

số tiền vừa đủ để đóng thuế Tự tin vào hương vị món ăn của mình nên tuy vào đọtuổi 65, với $105 USD tiền trợ cấp xã hội nhận được, ông lên dường bán những góigia vị và cáh chế biến gà rán đồng nhất cho những chủ nhà nằm độc lập trên toànnước Mỹ

Năm 1955 tự tin với chất lượng món gà rán của mình, ông đã tự phát triển và

thành lập Doanh nghiệp nhượng quyền thương hiệu Xấp sỉ 10 năm sau, Sanders đã

có hơn 600 nhượng quyền thương mại ở Hoa Kỳ và Canada

Năm 1964 ông đã bán phần lợi nhuận 2 triệu đô của mình trong công ty cho

ở Mỹ cho một nhóm các nhà đầu tư, trong đó có John Y Brown JR, người sau nàytrở thành thống đốc bang Kentucky Dưới sự quản lý của người sở hữu mới, tậpđoàn gà rán Kentucky đã phát triển một cách nhanh chóng

Năm 1966 Công ty đã thực hiện cổ phần hóa ra công chúng và được liệt kê

trên thị trường chứng khoán New York vào năm 1969 và được mua lại bởi Pepsicovào năm 1986

Đến năm 1997 Pepsico đã chuyển hệ thống nhà hàng thức ăn nhanh, bao

gồm cả nhãn hiệu KFC sang một công ty về nhà hàng độc lập, gọi là Tricon GlobalRestaur ant Ngày nay công ty này có tên là Yum và trở thành tập đoàn lớn nhất thếgiới về số lượng cửa hàng với gần 35.000 cửa hàng trên khắp 110 quốc gia

2.1.3 KFC tại Việt Nam.

KFC Việt Nam là một trong những chuỗi cửa hàng nhượng quyền củathương hiệu KFC trực thuộc tập đoàn Yum Restsurant International (Hoa Kỳ) vốn

là chủ sở hữu của một loat chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh thành công như KFC,Pizza Hut, …Trong đó, KFC là thương hiệu nổi tiếng trên thế giới cùng sự cómặt trên 109 quốc gia với gần 20.000 nhà hàng

Trang 10

KFC đã đạt được thành công tại rất nhiều thị trường đặc biệt là thị trườngChâu Á nói chung và thị trường Việt Nam nói riêng KFC xâm nhập thị trường ViệtNam 1997 Tại Việt Nam, KFC tham gia vào thị trường lần đầu tiên vào tháng12/1997 tại trung tâm thương mại Sài Gòn Super Bowl Và KFC đã mất 7 năm đểxây dựng thành công thương hiệu của mình trong lòng khách hàng Việt Nam chínhnhờ chiến lược kinh doanh phù hợp, sản phẩm uy tín, chất lượng, dịch vụ kháchhàng chu đáo và mục tiêu mang đến cho người tiêu dùng một thương hiệu hàng đầu

về thực phẩm, sáng tạo ra sự tươi sáng và vui nhộn cho tất cả moi người ở mọi lứatuổi

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, hiện nay KFC được hiểu như là một nhãn hiệuvui nhộn và bao hàm nhiều ý nghĩa Trẻ trung trong tâm hồn, năng động trong cuộcsống là tiêu chí và chiến lược của nhãn hiệu KFC tại Việt Nam Giờ đây, hệ thốngnhà hàng thức ăn nhanh này đã có mặt tại hầu hết các đường phố của Việt Nam.Tính đến nay, KFC đã có hơn 140 nhà hàng phục vụ cho người tiêu dùng trên 19tỉnh thành Thế nhưng, trong thời gian 17 năm có mặt tại thị trường Việt Nam thìKFC đã dàng tới 7 năm chỉ để tập trung phát triển thị trường đầy tiềm năng vớilượng khách hàng mục tiêu lớn là thành phố HCM với 53 cửa hàng tại 19 quậnhuyện Tuy nhiên, đời sống cũng như thu nhập của người Việt Nam đã được nângcao tai nhiều nơi và KFC đã chú trọng phát triển mạng lưới rộng khắp của mình ra

cả nước chứ không chỉ dừng lại ở những thành phố lớn như: Hồ Chí Minh, Hà Nội,Hải Phòng mà còn cả những địa phương khác như: An Giang, Quy Nhơn, Ban MêThuộc, Rạch Giá

2.2 Thực trạng việc nghiên cứu và lựa chọn thị trường của KFC:

2.2.1 Phân đoạn thị trường:

2.2.1.1 Phân đoạn thị trường theo vị trí địa lý:

KFC chủ yếu tập trung hệ thống cửa hàng của mình vào các thành phố lớn,tập trung đông dân như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng…Trong đóKFC lựa chọn cho mình hai thị trường trọng điểm là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh.KFC bắt đầu đặt chân vào thị trường Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh năm 1997 vàđến tận năm 2006 thì KFC mới phát triển hệ thống cửa hàng của mình ra Hà Nội

Trang 11

Việc phân đoạn thị trường này thể hiện cái nhìn tổng thể về thị trường củaKFC tại Việt Nam.KFC đã có bước xác định đoạn thị trường khá chính xác Vàonhững năm 1997, thức ăn nhanh vẫn là một khái niệm tương đối xa lạ với ngườidân Việt Nam Lúc đó những nhãn hiệu thức ăn nhanh không được biết đến nhiều.

Vì vậy, KFC tập trung vào thị trường tại TP Hồ Chí Minh bởi đây là khu vực đôngdân cư, đời sống tương đối cao trong nước

2.2.1.2 Phân đoạn thị trường theo nhân khẩu học:

KFC phân đoạn thị trường dựa trên các cơ sở là lứa tuổi, thu nhập và nghềnghiệp

 Lứa tuổi: KFC chủ yếu nhắm vào giới trẻ từ 17 đến 29 tuổi, gia đình có trẻ

em Do nhiều nguyên nhân mà KFC đã chọn thị trường là giới trẻ dưới độtuổi dưới 30 Đây là lứa tuổi năng động, có khả năng tiếp cận văn hóa nhanhnhất so với các lứa tuổi khác Với thị trường thức ăn nhanh còn đầy mới mẻ,việc phân đoạn thị trường này rất khôn ngoan, sáng suốt Không chỉ thế KFCcòn thể hiện tầm nhìn chiến lược của mình trong việc dành sự quan tâm đặcbiệt đối với trẻ em.Có thể thấy rằng họ muốn tác động và tạo được sự yêumến của các em ngay từ khi chúng còn nhỏ.Bằng cách tạo khách hàng trungthành nhỏ tuổi KFC thể hiện mục tiêu muốn chiếm lĩnh thị trường trongtương lai

 Thu nhập: Việt Nam là một nước đang phát triển với mức thu nhập bình

quân trên đầu người thấp so với các nước khác trong khu vực và trên thếgiới Vì vậy đây cũng chính là một khó khăn cho KFC khi xâm nhập vào thịtrường Việt Nam Những người có thu nhập khá, ổn định chính là đoạn thịtrường mà KFC chú trọng Với mức giá tương đối cao so với các sản phẩm

đồ ăn nhanh khác, KFC xác định những người có thu nhập khá thì việc sửdụng sản phẩm có thể thường xuyên song những người có thu nhập thấpcũng có thể trở thành khách hàng của KFC nhưng mức độ sử dụng sản phẩm

có thể không thường xuyên

Ngày đăng: 11/06/2017, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w