1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY

137 318 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 204,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý giáo dục là khâu then chốt đảm bảo sự thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, chỉ rõ Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp...

Trang 1

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 11

1.1 Những khái niệm cơ bản của đề tài 11

1.2 Nội dung của quản lý quá trình dạy học ở trường đại học Công

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN

30

2.1 Một số nét khái quát về trường Đại học Công đoàn 30

2.2 Thực trạng và nguyên nhân quản lý quá trình dạy học ở trường

Đại học Công đoàn hiện nay

34

Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU QUẢN LÝ QUÁ

TRÌNH DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN

HIỆN NAY

65

3.2 Các biện pháp quản lý quá trình dạy học ở Trường Đại học

Công đoàn

67

3.3 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

quản lý quá trình dạy học ở trường Đại học Công đoàn

87

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quản lý giáo dục là khâu then chốt đảm bảo sự thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, chỉ rõ "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp "

Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển, lịch sử đã cho thấy mỗi quốc gia muốn phát triển và hưng thịnh đều phải coi trọng công tác giáo dục Đối với nước ta giáo dục luôn được coi là quốc sách – nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay, điều đó được thể hiện trong các kỳ đại hội đại biểu của Đảng cộng sản Việt Nam Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phấn đấu đến năm 2020 cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp và chỉ ra: “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố

cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” Như vậy có thể thấy Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng và đầu tư cho giáo dục, đào tạo nói chung, giáo dục đại học nói riêng trong giai đoạn hiện nay khi mà trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng đòi hỏi công tác giáo dục đào tạo của chúng ta không chỉ mở rộng về quy mô mà còn phải được nâng cao về chất lượng như văn kiện đại hội Đảng lần thứ XI đã chỉ rõ: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng

Trang 3

yêu cầu về chất lượng…” Sau hơn 25 năm đổi mới cùng với sự phát triển đi

lên của đất nước, ngành giáo dục đã đạt được nhiều thành tích hết sức to lớn

và đã có bước phát triển mới, góp phần chuẩn bị tiền đề cho những bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc hơn của sự nghiệp giáo dục trong thế kỷ 21 vì mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Dạy học là một hoạt động trung tâm, một nhiệm vụ chính trị của mỗi nhà trường Tiếp cận dạy học là một quá trình, trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của GV, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học đặt ra QLGD nhà trường là sự điều khiển, chỉ đạo của các chủ thể quản lý tới toàn bộ quá trình giáo dục, trong đó có đối tượng quản lý Trong QLGD nhà trường thì quản lý dạy học là một nhiệm vụ dung quản lý

cơ bản, tồn tại cùng với quá trình đào tạo của mỗi trường

Trong đề án xây dựng Nghị quyết về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới của Tổng Liên đoàn Lao động trình lên Ban chấp hành trung ương Đảng, Đoàn Chủ tịch giao cho trường Đại học Công đoàn nhiệm vụ đặc biệt sau: “Nhà trường cần chú trọng nâng cao chất lượng giảng dạy, trình độ chuyên môn của cán bộ giảng viên; xây dựng cơ sở vật chất; thay đổi cách đào tạo đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội” GD&ĐT nói chung, dạy học nói riêng ở Trường Đại học Công đoàn đã cơ bản đáp ứng yêu cầu đặt ra Tuy nhiên trong thời gian qua, tổ chức quá trình dạy học của Nhà trường còn nhiều hạn chế như: trình độ và tay nghề sư phạm đội ngũ GV chưa cao, chương trình nội dung dạy học còn hàn lâm, chưa thật gắn với nhu cầu xã hội, phương pháp, phương tiện dạy học còn lạc hậu quản lý dạy học chưa khoa, thiếu chặt chẽ, còn can thiệp theo lối quản lý hành chính, đang làm hạn chế chất lượng dạy học cần sớm được khắc phục

Đã có một số công trình nghiên cứu về dạy học với cách tiếp cận dạy học là quá trình, dạy học là hoạt động, ở những phương diện lý luận dạy học, QLGD ở một trường nhất định, nhưng chưa có công trình nghiên cứu về quá trình dạy học ở trường Đại học Công đoàn

Trang 4

Hiện nay chất lượng SV tại trường Đại học Công đoàn được nâng lên đáng kể Trường Đại học Công đoàn đào tạo nhiều ngành nghề trình độ đại học và sau đại học Bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ chủ chốt công đoàn các cấp và các cá nhân có yêu cầu Nghiên cứu những vấn đề công nhân

và hoạt động công đoàn để từ đó biên soạn giáo trình và tài liệu huấn luyện cán bộ công đoàn Nghiên cứu, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng một số ngành, nghề, cung ứng lực lượng lao động chất lượng cao cho xã hội Thực hiện đào tạo theo chỉ tiêu Bộ GD&ĐT

Việc nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo cho SV nói chung là điều trăn trở của các cấp quản lý của trường Đai học Công đoàn và đang đặt ra những yêu cầu mới trong quản lý quá trình dạy học ở Trường Đại học Công

đoàn Chính vì lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý quá

trình dạy học ở Trường Đại học Công đoàn hiện nay”.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề QLGD nói chung và quản lý quá trình dạy học đã được các nhà nghiên cứu, các học giả trên thế giới và trong nước hết sức quan tâm Trong cuốn “Effective Literacy Instruction” (2005) của Leu, DJ & Kinzer bàn luận tương đối cụ thể đến vấn đề QLGD Đó là các tiềm năng để học tập, nghiên cứu [academic capacities] (dựa trên việc đào tạo chuyên môn, nhưng còn bao gồm tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, có năng lực đổi mới tư duy [un-learn] và học lại [re-learn] trong suốt cuộc đời ), các kỹ năng phát triển cá nhân gắn kết với xã hội (tự tin, quyết tâm cao, tôn trọng các giá trị đạo đức, hiểu biết rộng về xã hội và thế giới), các kỹ năng sáng nghiệp [entrepreneurial skill] (các tiềm năng đáp ứng cả việc lãnh đạo và làm việc đồng đội, làm chủ công nghệ thông tin truyền thông và các công nghệ khác v.v ) Trong số những công trình nghiên cứu về QLGD của các tác giả trên thế giới, đáng chú

ý là cuốn “Teaching for Quality Learning at University: What Student Does” (2004) của tác giả Biggs, J.B, 2nd ed Buckingham, Society for Research into High er Education Nội dung cuốn sách đã nêu được những đặc điểm cơ bản

và phân tích bản chất đặc trưng của quá trình quản lý dạy học trong các

Trang 5

trường Đại học, đồng thời đưa ra những gợi ý, chỉ dẫn về quá trình quản lý dạy học đối với SV

Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo những người lao động có trình độ cao phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội chung và đáp ứng nhu cầu phát triển cho chính hệ thống giáo dục.Việc đổi mới có đạt được kết quả như mong muốn hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực dạy học của đội ngũ giảng viên trong các trường đại học Để giúp các giảng viên tự nghiên cứu nâng cao năng lực dạy học ở bậc đại học, cuốn sách“ Hướng dẫn Dạy và Học trong Giáo dục đại học” từ nguyên bản tiếng Anh có tiêu đề “ Guide to Teaching and Learning in Higher Education” tại Website có địa chỉ http://www.breda-guide.tripod.com do các tác giả: Pai Obanya, Juma Shabani, Peter Okebukola với sự giúp đỡ của Văn phòng UNESCO vùng của Châu Phi bao trùm hầu hết các lĩnh vực liên quan đến hoạt động của giảng viên đại học

và những kinh nghiệm giảng dạy của các chuyên gia giáo dục đại học của thế giới TS Hoàng Ngọc Vinh - Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm biên tập và hiệu đính chung năm 2007

Gần đây nhiều tác giả đã lựa chọn vấn đề quản lý quá trình dạy học

làm đề tài, luận văn, luận án, tiêu biểu như đề tài Quản lý phương pháp dạy

và học bậc Đại học, Cao đẳng ở nước ta hiện nay của Nguyễn Thu Hà trường

Đại học KT- CN Long An” (2005); “Quản lý quá trình dạy học ở trường Đại

học Quốc gia Hà Nội” của Trần Văn Hải (2007); Luận văn thạc sỹ Giải pháp quản lý chất lượng dạy học ở trường sỹ quan pháo binh của tác giả Kim Văn

Thanh (2008).Nội dung của đề tài này tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận dạy học trong nhà trường quân sự, đánh giá những ưu, khuyết điểm trong giáo dục – đào tạo, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học ở

trường sỹ quan Pháo Binh Quản lý dạy học trong quá trình đào tạo nghề ở

trường trung cấp nghề cơ khí số 1 Hà Nội (2009) của Nguyễn Văn Hoàng

Tác giả Vũ Thị Quỳnh Hoa, luận văn thạc sĩ QLGD Biện pháp quản lý hoạt

động dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Kim Động – tỉnh Hưng Yên năm 2012 Tác giả Nguyễn Đức Lợi, luận văn thạc sĩ QLGD Quản

Trang 6

lý hoạt động dạy học ở trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014 …nội dung của hai luận văn trên đã vạch

ra các nội dung quản lý và đề xuất được một số biện pháp về quản lý kế hoạch, về quản lý tổ chức thực hiện, về quản lý kết quả và kiểm tra đánh giá kết quả dạy học

Bên cạnh đó có nhiều bài viết đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu khoa

học, như bài viết “Người dạy là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học”

của tác giả Lê Hoàng Giang ,Viện NCGD - ĐHSP Tp HCM, Bài viết được

đăng lại từ Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 3-2011 Nói "người dạy là "nhân

vật" trung tâm của quá trình dạy học" là đề cập đến vai trò người thầy của giảng viên khi đứng trên bục giảng, bởi quá trình dạy học cũng giống như một tác phẩm điện ảnh, được xây dựng bởi những nhân tố như: nhà biên kịch, đạo diễn, diễn viên Trong đó, giảng viên kiêm rất nhiều nhiệm vụ, vừa là nhà biên kịch, vừa là đạo diễn, và là diễn viên thể hiện tốt vai trò nhân vật trung tâm mà mình phải đảm nhiệm Thực tế dạy học đại học hiện nay yêu cầu rất cao về trình độ của giảng viên, đó là người dạy phải biết tổ chức dạy học, biết dạy cho học trò cách nghiên cứu, giúp sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học, tự nghiên cứu của mình Trong quản lý dạy - học, đặc biệt là dạy – học đại học, vai trò của người thầy có một vị trí quan trọngđặc biệt

Chuyên đề Quản lý hoạt động dạy học của TS Trần Thị Hương,

trường ĐHSP TP HCM Quản lý HĐDH là những tác động của chủ thể quản

lý vào HĐDH được tiến hành bởi GV, HS và sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục khác nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học Chủ thể quản lý HĐDH là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, TTCM, đối tượng QL là hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS Mục tiêu, nhiệm vụ dạy học: HS nắm vững hệ thống tri thức khoa học; Rèn luyện KN, KX; Phát triển toàn diện nhân cách Nhiệm vụ quản lý hoạt động dạy học là gắn HĐDH với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tạo động lực, môi trường, điều kiện thuận lợi, kích thích tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ CB, GV, kết hợp phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của mỗi thành viên với sự QL thống nhất

Trang 7

của đội ngũ CBQL nhà trường, đảm bảo chất lựơng dạy học một cách bền vững, xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp phát huy tối đa nội lực đi đôi với

sự tranh thủ tiềm lực các LLGD ngoài nhà trường Bài báo ‘Đổi mới quản lý giáo dục đại học - Khó khăn do chưa làm đúng quy luật’ của ThS Nguyễn Thị Quỳnh Nga, ThS Ngô Trung Học đã đặt ra nhiều câu hỏi cho QLGD đại học cần phải tháo gỡ

Gần đây, bài giảng quản lý hoạt động dạy học của PGS.TS Nguyễn Phúc Châu (2014) đã nêu vấn đề quản lý dạy học tiếp cận theo quá trình dạy học Trong đó nêu rõ các vấn đề về quản lý mục tiêu dạy học, quản lý quá trình và nội dung dạy học, quản lý phương pháp dạy học, quản llys hình thức tổ chức dạy học, quản lý phương tiện và điều kiện dạy học, quản lý đánh giá kết quả dạy học, quản lý môi trường dạy học, quản lý công tác tài chính giáo dục

Tóm lại, các công trình đã tổng quan trên tập trung nghiên cứu trên

nhiều khía cạnh khác nhau về dạy học; từ phương diện nghiên cứu các nhân

tố của quá trình dạy học, trong đó đi sâu nghiên cứu về hoạt động dạy học GV; trong đó có một số công trình tập trung nghiên cứu về quản lý QTDH dưới góc độ QLGD nhà trường như là một nhiệm vụ, nội dung quản lý nhà trường Các đề tài trên cơ bản đi sâu nghiên cứu vấn đề biện pháp quản lý quá trình dạy học ở các trường Đại học, Cao đẳng, TCCN hoặc ở một trường cụ thể, cấp học cụ thể với những cách tiếp cận khác nhau

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý quá trình dạy học, đề xuất các biện pháp nhằm quản lý hiệu quả và nâng cao chất lượng quá trình dạy học của Trường Đại học Công đoàn, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát, hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc quản lý quá trình dạy học đại học nói chung, quản lý quá trình dạy học của Trường Đại học Công đoàn hiện nay

Trang 8

- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc dạy học và công tác quản lý quá trình dạy học hệ chính quy của Trường Đại học Công đoàn.

- Đề xuất một số biện pháp chủ yếu quản lý quá trình dạy học, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Công đoàn trong giai đoạn hiện nay

Các số liệu khảo sát, thống kê, minh chứng từ 2009 đến nay

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Khách thể nghiên cứu:

Quá trình dạy học ở trường Đại học Công đoàn

* Đối tượng nghiên cứu

Quản lý quá trình dạy học ở trường Đại học Công đoàn

* Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc dạy học và việc quản lý quá trình dạy học hệ chính quy tại trường Đại học Công Đoàn

5 Giả thuyết khoa học

Quản lý quá trình dạy học tốt, có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong hoạt động giáo dục của trường Đại học Chất lượng, hiệu quả của quản lý quá trình dạy học ở trường Đại học Công đoàn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó yếu tố liên quan trực tiếp đến người dạy và người học giữ vai trò trọng yếu Nếu thực hiện tốt quy trình quản lý hoạt động dạy của

GV, quản lý tốt, chặt chẽ hoạt động học và rèn luyện của sinh viên đồng thời

tổ chức quản lý chặt chẽ nề nếp dạy và học trong trường thì hiệu quả quá trình dạy học được nâng cao, góp phần to lớn cho sự phát triển sự nghiệp GD&ĐT của Nhà trường

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, quán triệt quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục, quản lý giáo dục Đồng thời, tác giả vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc, lôgic – lịch sử và quan điểm thực tiễn để phân tích, đánh giá, xem xét các vấn đề nghiên cứu

Trang 9

* Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận: Bao gồm phương pháp phân tích,

tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề lý luận Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; văn kiện, nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam về GD&ĐT, quản lý GD&ĐT; các chủ trương chính sách của nhà nước, các chỉ thị hướng dẫn của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; các quy chế, quy định trong công tác quản lý dạy học của Bộ GD&ĐT, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Công đoàn về GD&ĐT v.v

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Điều tra bằng phiếu hỏi đối với Cán bộ quản lý, giảng viên các khoa, phòng, bộ môn trong Nhà trường về vấn đề nghiên cứu

Thống kê và xử lý số liệu, tổng kết kinh nghiệm dạy học của Nhà trường trong thời gian qua

Phương pháp chuyên gia Xin ý kiến một số nhà khoa học, cán bộ quản lý của trường Đại học Công đoàn về những nội dung nghiên cứu

7 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động dạy học của trường Đại học Công đoàn, cung cấp các luận cứ khoa học, giúp cho Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường cùng các cấp chuyên môn chỉ đạo, quản lý hoạt động dạy và học của GV, SV từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở Nhà trường

Sản phẩm của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ quản

lý giáo dục đại học nói chung, cán bộ quản lý, giảng viên trường Đại học Công đoàn nói riêng

8 Kết cấu của luận văn

Đề tài gồm phần mở đầu, nội dung của luận văn được trình bày trong

3 chương, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC

1.1 Những khái niệm cơ bản của đề tài

1.1.1 Quá trình dạy học

DH là một quá trình, trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học đặt ra QTDH gồm hoạt động dạy và hoạt động học liên hệ mật thiết với nhau, diễn ra đồng thời và phối hợp chặt chẽ, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học, sự tác động hai chiều từ phía người dạy (giảng viên) và người học (sinh viên), từ đó tạo nên hiệu quả cho QTDH

Khi xem xét QTDH ở một thời điểm nhất định, nó bao gồm những thành tố như: Mục đích DH, nội dung DH, PP, PT DH, giáo viên, học sinh… Các thành tố này có quan hệ mật thiết với nhau: MĐ dạy học định hướng cho các thành tố khác trong QTDH, mục đích này được hiện thực hóa bằng nội dung DH Người GV với hoạt động dạy của mình, với những PP, PT HTTC

DH tác động đến động cơ của người học để thúc đẩy người học học tập Sự tác động lẫn nhau giữa GV và HS sẽ tạo nên kết quả dạy – học Mặt khác hoạt động dạy và học còn chịu sự tác động của môi trường bên ngoài xã hội (kinh

tế, văn hóa, KHCN…) Môi trường tạo nên sự thuận lợi hay không thuận lợi cho QTDH

Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của người học, ở môi trường đại học đó là sinh viên Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người – đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng tượng Sự học tập của sinh viên cũng là quá trình như vậy Đó là sự phản ánh đi trước, có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất là sự sáng tạo Sự phản ánh đó bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người (như qua kinh nghiệm, nhu cầu, hứng thú…), và đó là sự phản ánh tích cực của mỗi chủ thể

Trang 11

Dạy học thực hiện các nhiệm vụ sau: Điều khiển, tổ chức người học nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội – nhân văn, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng; Tổ chức, điều khiển người học hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo: Tổ chức, điều khiển người học hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung.

QTDH tồn tại như một hệ thống toàn vẹn, nó luôn phát triển để đạt đến chất lượng mới Có điều đó là do trong lòng nó luôn chứa đựng các mâu thuẫn và các mâu thuẫn này luôn được giải quyết Logic của QTDH là trình tự vận động hợp quy luật của quá trình đó, nhằm đảm bảo cho người họcđi từ trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ tương ứng từ lúc bắt đầu nghiên cứu môn học (hay một đề mục nào đó), đến trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và trình độ nhận thức, đặc biệt là năng lực trí tuệ, tương ứng với lúc kết thúc môn học

Có thể khái niện QTDH như sau: Quá trình dạy học là quá trình tác

động có mục đích, có tổ chức của GV đến SV nhằm hình thành kiến thức, rèn luyện kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp, góp phần phát triển các phẩm chất cần thiết của người cán bộ công đoàn đáp ứng yêu cầu hoạt động thực tiễn.

Xét theo quan điểm hệ thống, QTDH ở trường Đại học Công đoàn là một chỉnh thế có cấu trúc gồm nhiều thành tố với vị trí, chức năng, quan hệ biện chứng với nhau tạo nên QTDH toàn vẹn

Mục đích dạy học nhằm cung cấp tri thức lý luận, nâng cao nhận thức

chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên

Chủ thể dạy học là đội ngũ GV chuyên trách và GV thỉnh giảng của Trường Đối tượng dạy học là SV và tập thể SV các loại hình đào tạo của Nhà trường Nội dung dạy học ở trường Đại học Công đoàn tập trung vào những

nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng

tư tưởng của Đảng; quan điểm, đường lối của Đảng qua Cương lĩnh, các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và trọng tâm là các môn học chuyên ngành

Trang 12

Phương pháp, hình thức tổ chức dạy học ở trường Đại học Công đoàn:

Trong giảng dạy ở Nhà trường hiện nay GV sử dụng đa dạng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học như: thuyết giảng, nêu vấn đề, dạy học cùng tham gia, xêmina, thảo luận nhóm và tham quan, thực tế

Kết quả của dạy học ở là kết quả hình thành, phát triển thế giới quan

khoa học, nhân sinh quan cộng sản, phương pháp luận duy vật biện chứng, bản lĩnh chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn nghề nghiệp chuyên môn đang được đào tạo của SV công đoàn

QTDH ở trường Đại học Công đoàn diễn ra dưới sự tác động thường xuyên, trực tiếp của môi trường kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa và khoa học - công nghệ Dạy học gắn liền với toàn bộ thực tiễn của hệ thống chính trị và các hoạt động của các tổ chức công đoàn, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và thực tiễn sinh động ở cơ sở

1.1.2 Quản lý quá trình dạy học ở trường Đại học Công Đoàn

Quản lý QTDH tức là quản lí quá trình thực hiện các nhiệm vụ, nội dung dạy học thông qua các hoạt động dạy học của thầy và trò trong môi trường và với các điều kiện bảo đảm nhất định Sự vận động và tác động qua lại của các thành tố của QTDH (mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức

tổ chức, đánh giá, hoạt động dạy học của thầy và trò ) là đối tượng của quản

lý quá trình dạy học

Quản lý theo quan niệm chung nhất là hoạt động hay tác động có định

hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý

(người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt

được mục đích của tổ chức

Cũng như quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Quản lý giáo dục bao gồm hai cấp độ chủ yếu, đó là vĩ mô và vi mô Quản lý vĩ mô tương ứng với khái niệm quản lý một nền giáo dục (hệ thống giáo dục) và quản lý vi

mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nhà trường Tác giả Trần Kiểm quan niệm: QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích

Trang 13

của hệ thống nhằm đạt mục đích quản lý nhất định Ở cấp độ vi mô, QLGD được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào quá trình GD&ĐTcủa cơ sở đào tạo nhằm hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách của người học theo mô hình, mục tiêu GD&ĐT.

Hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm cho QTDH vận hành theo dường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thực hiện những yêu cầu của nền giáo dục xã hội trong việc đào tạo con người theo mẫu người của thời đại, phát triển đồng đều các yếu tố của QTDH, tập trung chú ý vào hoạt động dạy học, vào giáo dục, đưa

hệ thống vận động từ trạng thái ban đầu đến mục tiêu xác định

Bao gồm hoạt động của GV, SV và các tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình dạy học đại học nhằm đạt MTDH đã qui định với chất lượng cao

Như vậy có thể hiểu bản chất của quản lý QTDH đại học là các hoạt động dạy học đại học hay các QTDH đại học trong trường bao gồm nhiều thành tố hợp thành

Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Quản lý QTDH là những tác động có

mục đích, kế hoạch của chủ thể quản lý đến toàn bộ QTDH, nhằm đảm bảo chất lượng cho quá trình đó diễn ra theo đúng mục tiêu, chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy do Nhà trường đề ra.

Hoạt động quản lý QTDH ở Trường Đại học Công đoàn là quá trình diễn ra hệ thống những tác động nối tiếp nhau của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, bao gồm các nhân tố cơ bản sau:

Mục tiêu quản lý là những kết quả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt

được do quá trình vận động của đối tượng quản lý dưới sự điều khiển của chủ thể quản lý, là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng quản lý Như trên đã xác định , bản chất của quản lý QTDH đại học là hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò, … QTDH đại học là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố cùng vận động trong mối quan hệ mật thiết với nhau Để đảm

Trang 14

bảo thực hiện một cách đày đủ các kế hoạch đào tạo và các nội dung chương trình giảng dạy đúng tiến độ qui định với chất lượng cao.Mục tiêu quản lý là đảm bảo cho toàn bộ QTDH ở trường Đại học Công đoàn được thực hiện theo

kế hoạch, đạt chất lượng, hiệu quả tốt nhất, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng của trung tâm

Chủ thể quản lý: Ban Giám hiệu, các cơ quan đào tạo, khoa học, quản

lý SV, các khoa và bộ môn và trực tiếp là các GV Chủ thể hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động quản lý là Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam; Ban Giám hiệu Nhà trường, cơ quan đào tạo, các khoa GV trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn và điều hành QTDH, quản lý QTDH cho SV Chủ thể trực tiếp quản lý QTDH là đội ngũ cán bộ, GV chuyên trách và GV của Nhà trường Các chủ thể quản lý có

sự phối hợp và quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành hệ thống tổ chức bộ máy lãnh đạo để thực hiện việc quản lý QTDH có chất lượng

Đối tượng quản lý: Quản lý con người (giảng viên, sinh viên), quản lý

quá trình (việc dạy, việc học) hay quản lý vật chất (phòng học, …) là quản lý nội dung của các hoạt động tương ứng với từng nhiệm vụ quản lý ở các đối tượng quản lý SV chịu sự tác động, điều khiển của các chủ thể quản lý trong QTDH Nói cách khác, nói đến quản lý quá trình dạy học đại học, suy cho cùng là quản lý hoạt động của con người hay tập thể con người, hoạt động dạy của người giảng viên và hoạt động học của sinh viên liên quan tới việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, dạy học được giao nhất định Do giới hạn về qui mô nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quản lý con người và quản

lý việc dạy và việc học ở trường Đại học Công đoàn hiện nay SV vừa là khách thể quản lý, vừa là chủ thể tự quản lý, tự tổ chức thực hiện việc học tập

lý luận chính trị theo mục tiêu bồi dưỡng cán bộ

Phương thức và phương pháp quản lý: Phương thức quản lý bao gồm

những cách thức, biện pháp quản lý nhằm đảm bảo chất lượng dạy học đạt được mục đích đề ra và đáp ứng yêu cầu xây dựng đào tạo SV trong tình hình mới Để nâng cao chất lượng dạy học, cần sử dụng các phương thức quản lý trực tiếp, gián tiếp và phương thức quản lý kết hợp Để thực hiện mục tiêu

Trang 15

quản lý đã xác định, chủ thể quản lý sử dụng các phương pháp tác động đến đối tượng quản lý Căn cứ đặc điểm tính chất dạy học, đặc điểm quản lý, đặc điểm đối tượng học ở trường Đại học Công đoàn, có thể sử dụng các phương pháp quản lý cụ thể khác như: phương pháp kiểm tra; phương pháp rút kinh nghiệm, phương pháp phát huy vai trò của đội ngũ GV và cán bộ quản lý SV

và phương pháp quản lý theo mục tiêu

Biện pháp quản lý: là tổng hợp những cách thức, con đường, phương

tiện của cơ quan quản lý, cán bộ khoa, mộ môn, cán bộ QLGD để tổ chức, điều khiển, theo dõi, kiểm tra hoạt động dạy của GV và hoạt động học của SV theo mục tiêu, nhiệm vụ dạy học đã xác định

1.2 Nội dung của quản lý quá trình dạy học ở trường Đại học Công Đoàn

* Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình đào tạo và kế hoạch giảng dạy

Mục tiêu của đào tạo đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có kiến thức và kỹ năng (kỹ năng tư duy, kỹ năng vận dụng, kỹ năng giao tiếp…) tương xứng với trình độ được đào tạo, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo, có khả năng tìm việc làm và tạo việc làm cho người khác

Từ mục tiêu đào tạo đó, hiển nhiên dạy học ở đại học phải rất coi trọng mục tiêu năng lực (năng lực tư duy, năng lực hành động) cho người học Theo khuyến cáo của các nhà tâm lý học sư phạm, năng lực người học hình thành tốt nhất trong quá trình hoạt động nhận thức của mình, nếu dạy học quan tâm thích đáng đến hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của người học thì người học sẽ có cơ hội hình thành năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

Nội dung đào tạo ở đại học phải có tính hiện đại và phát triển, đảm bảo

cơ bản và chuyên sâu Đảm bảo cho SV có những kiến thức khoa học cơ bản

và chuyên ngành cần thiết; chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn, chính vì vậy tính cập nhật của nội dung đào tạo ở đại học cần được quan tâm đúng mức

Quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung đào tạo được tiến hành trong suốt quá trình đào tạo, thông qua việc quản lý hoạt động dạy và hoạt động

Trang 16

học, sao cho các kế hoạch đào tạo, nội dung chương trình giảng dạy được thực hiện một cách đầy đủ, đúng về nội dung và tiến độ thời gian, cùng với phương pháp phù hợp, nhằm đạt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo Công

cụ chủ yếu của công tác quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung đào tạo chính là các chương trình khung, chương trình đào tạo cụ thể, đề cương học phần, giáo trình, sách giáo khoa… và hệ thống các văn bản pháp quy hiện hành khác

*Quản lý quá trình giảng dạy của GV

Quản lý hoạt động dạy của GV thực chất là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ GV và của từng GV, gồm các nội dung chủ yếu sau:

Đánh giá được các mặt biểu hiện chính trị - tư tưởng, phẩm chất đạo đức, trình độ nghề nghiệp của từng GV

Theo dõi, đôn đốc thực hiện, đánh giá được kết quả thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy của toàn thể đội ngũ GV và của từng GV

Theo dõi, chỉ đạo thực hiện và đánh giá được kết quả thực hiện việc tự học tập, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và trình độ sư phạm của đội ngũ GV và của từng GV

*Quản lý quá trình học tập và kết quả học tập của SV

Quản lý hoạt động học của SV là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của SV trong quá trình đào tạo, gồm các nội dung chủ yếu sau:

Tìm hiểu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện, những biến đổi nhân cách của tập thể

SV và của từng SV

Khuyến khích SV phát huy các yếu tố tích cực, khắc phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập ngày càng cao

Trang 17

Tổ chức hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của

SV theo mục tiêu yêu cầu dạy học của mỗi môn học, với những tiêu chuẩn, tiêu chí đã xác định

*Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy, kết quả học

Trong quá trình đào tạo, việc kiểm tra đánh giá là một khâu cơ bản, là một nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường, là một yếu tố thúc đẩy việc điều chỉnh quá trình dạy học trong môi trường nhà trường

Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá là xác định mức độ kết quả giảng dạy và học tập của GV và SV sau khi kết thúc một bài, một phần, một chương hay cả một khoá học, làm cơ sở cho việc điều chỉnh quá trình dạy học theo hướng tích cực đảm bảo chất lượng

Trong giáo dục đại học, tổ chức và quản lý việc xây dựng mục tiêu đào tạo chuẩn nói chung, mục tiêu dạy học – giáo dục chuẩn cụ thể ở từng môn học nói riêng là công việc đầu tiên Gắn với việc xây dựng mục tiêu dạy học – giáo dục chuẩn, các khoa, bộ môn và GV cần lựa chọn các hình thức, phương pháp, công cụ kiểm tra, đánh giá phù hợp nhằm đo đạc, xác định mục tiêu dạy học – giáo dục đã đạt đến mức độ nào

- Các nguyên tắc của quản lý quá trình dạy học

Việc quản lý quá trình dạy học đại học phải tuân thủ những nguyên tắc QLGD nói chung và áp dụng những nguyên tắc đó vào quản lý QTDH đại học ở phạm vi một nhà trường

Thống nhất giữa quản lý và chính trị: Đây là nguyên tắc cơ bản của quản lý giáo dục nói chung và quản lý QTDH đại học nói riêng QLGD là trung tâm của hoạt động có ý nghĩa chính trị được tiến hành trong giáo dục Chính trị tồn tại và được thực hiện trong các mối quan hệ QLGD Nguyên tắc này đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách giáo dục, những quy định đề ra phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn

Tập trung dân chủ: Nguyên tắc này thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa sự quản lý của Nhà nước về giáo dục và việc phát huy tối đa sáng kiến đóng góp của đông đảo quần chúng nhân dân vào công tác tổ chức và QLGD

Trang 18

Nguyên tắc này đòi hỏi thực hiện một cách nghiêm túc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trong quản lý quá trình đào tạo.

Kết hợp nhà trường và xã hội: Thực hiện nguyên tắc này có vai trò quan trọng trong quản lý giáo dục, nó đòi hỏi phải kết hợp QLGD mang tính chất nhà trường với quản lý giáo dục mang tính xã hội Quần chúng nhân dân, các tổ chức đoàn thể, xã hội cần tham gia tích cực vào quản lý sự nghiệp giáo dục nói chung và quản lý QTDH đại học nói riêng, trên cơ sở của cơ chế phối hợp giáo dục

Đảm bảo tính khoa học Quản lý QTDH đại học cần phải được xây dựng trên những cơ sở khoa học, đặc biệt là khoa học quản lý, vận dụng những thành tựu của nhiều khoa học khác như tâm lý học, giáo dục học, điều khiển học, tổ chức lao động khoa học, …Nguyên tắc này đòi hỏi phải đảm bảo tính hệ thống và tính tổng hợp trong quản lý QTDH đại học Ví dụ như tính tiên quyết, liên quan kiến thức giữa các môn học Môn học trước làm cơ sở cho môn học sau, môn học sau kế thừa và phát triển kiến thức môn học trước

Đảm bảo tính kế hoạch: Bất cứ hoạt động nào cũng đều cần đến kế hoạch, hoạt động quản lý nói chung, quản lý QTDH đại học nói riêng luôn đòi hỏi phải đảm bảo tính kế hoạch Bởi vì kế hoạch là cơ sở của quản lý QTDH đại học Nguyên tắc này đòi hỏi quản lý QTDH đại học phải có kế hoạch chính xác, phù hợp với trình độ yêu cầu quản lý thực tế, đồng thời cũng phải

có dự kiến việc kiểm tra giám sát thực hiện các kế hoạch đó

1.3 Các yếu tố tác động tới quản lý quá trình dạy học ở trường đại học Công Đoàn

1.3.1 Đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội đối với nhiệm vụ GD&ĐT ở trường đại học

Đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hiện nay đã tác động ảnh hưởng rất lớn đến nhiệm vụ GD&ĐT của các trường đại học, trong

đó có trường Đại học Công đoàn

Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đại học là một yêu cầu bức xúc của xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta Việc Nhà nước quy định

Trang 19

các trường đại học phải thực hiện sự kiểm định chất lượng thông qua biện pháp tự đánh giá và đánh giá ngoài để xác định vị trí và khả năng đào tạo của mình trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, càng khẳng định quyết tâm của Nhà nước ta trong việc không ngừng đổi mới

và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

Cần phải có một sự đánh giá thật nghiêm túc, một cái nhìn toàn diện, một sự điều chỉnh đồng bộ ở tất cả các khâu trong quản lý quá trình dạy học của trường đại học Sự thật hiện nay là sinh viên thường xuyên tìm cách vắng mặt, hoặc nếu có đến lớp thì thường có thái độ học đối phó, thi cử chưa nghiêm túc, không cầu thị kiến thức, chất lượng nhận thức yếu v.v… trách nhiệm này không phải chỉ ở khâu quản lý sinh viên - thuộc các đơn vị làm công tác quản lý học viên mà còn có một nguyên nhân trực tiếp rất sâu xa tác động rất lớn vào quá trình quản lý sinh viên đó là nội dung chương trình học, phương pháp giảng dạy, năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình yêu thích, say mê học tập của sinh viên

Hiện nay khi đất nước ngày càng hội nhập sâu vào tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật…của khu vực ASEAN và thế giới thì những thách thức đặt ra cho sự phát triển KT-XH của đất nước, những đòi hỏi khắc nghiệt của cải cách, đổi mới nền giáo ducjn]ơcs nhà trong đó có đổi mới quản lý quá trình dạy học ở trường đại học ngày càng gay gắt hơn trước

1.3.2 Yêu cầu cao về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ cao trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

Chưa khi nào GD&ĐT được các cấp, các ngành, toàn xã hội quan tâm sâu sắc như hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại các Đại hội đại biểu toàn quốc và gần đây, tại Đại hội Đảng lần thứ XI đã nhấn mạnh, phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế

Trang 20

và bền vững Các hội nghị của Ban chấp hành trung ương Đảng sau đó cũng nhấn mạnh phương hướng phát triển GD&ĐT trong giai đoạn hiện nay:

Nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống QLGD; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội” Mở rộng hợp lý quy

mô GD ĐH, làm chuyển biến rõ nét về chất lượng và hiệu quả đào tạo Sửa đổi chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của sự nghiệp CNH, HĐH

Mục tiêu của giáo dục thể hiện bằng phương châm chung là: nâng cao dân trí, phát huy dân khí, đào tạo nhân lực, trọng dụng nhân tài Nhân tài không xuất hiện trong quá trình đào tạo ở nhà trường, mà chỉ thể hiện trong quá trình sử dụng đúng người có trình độ kiến thức sâu rộng trong môi trường kinh tế - xã hội thích hợp Biết trọng dụng nhân tài, biết tạo điều kiện để nhân tài phát huy tác dụng, thì nhiều nhân tài sẽ xuất hiện và khi nhân tài xuất hiện thì phải được tiến cử đúng lúc, đúng chỗ

Hiện nay, hầu như tất cả các nước đều đề ra và thực hiện chương trình cải cách giáo dục, đặc biệt là đối với hệ thống đại học Tất nhiên, chúng ta cần nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Nhưng ở mọi quốc gia, nền giáo dục đều có lịch sử phát triển, truyền thống và kinh nghiệm riêng Do đó, trên thế giới không thể tìm thấy hai quốc gia nào có hệ thống giáo dục hoàn toàn đồng nhất Chính vì thế mới có chuyện phải tiến hành các thủ tục công nhận bằng cấp và học vị của nhau, như chúng ta đều biết, mặc dù xu thế hoà nhập về nội dung đào tạo và cấu trúc đại học đang được quan tâm ở nhiều nước

Đối với nước ta các nhân tố khách quan bên ngoài hệ thống giáo dục hiện hữu tác động vào hệ thống giáo dục bao gồm: Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Do vậy, đòi hỏi hệ thống giáo dục và đào tạo phải cung cấp đủ nhân lực có trình độ cao chậm nhất cũng trước năm

Trang 21

2010 Chính vì thế, cuộc cách mạng giáo dục mới phải bắt đầu từ bậc đại học

- cao đẳng

Nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu và rộng vào thị trường và nền kinh tế thế giới Cơ chế kinh tế đã thay đổi đòi hỏi phải thay đổi cơ chế quản lý và tổ chức hệ thống giáo dục, đặc biệt là cơ chế quản lý bậc đại học

và cao đẳng, bậc học có mục tiêu cung cấp lực lượng lao động có trình độ cao cho thị trường nhân lực Hệ quả đương nhiên là thị trường nhân lực có trình

độ cao đòi hỏi phải hình thành thị trường đại học - cao đẳng

Các trường đại học và cao đẳng phải cạnh tranh để thu hút SV Do đó các trường phải có quyền tự chủ cao trong việc tuyển sinh, thành lập và giải thể các Khoa, các Bộ môn, tuyển giáo sư, giảng viên tuỳ theo nhu cầu của trường Các trường đại học và cao đẳng dần dần không còn có chủ quản như hiện nay, mà hoạt động theo Luật giáo dục mới và các quy định của pháp luật Điều này sẽ có tác dụng rất lớn trong việc phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học, nếu chúng ta có thể đánh giá xếp hạng (accreditation) các trường như nhiều nước đã làm đặc biệt là ở Hoa Kỳ Với một cơ chế thích hợp, các Hội khoa học - kỹ thuật quốc gia kết hợp với các Hội doanh nghiệp và các Hội nghề nghiệp khác hoàn toàn có thể đánh giá khách quan và xếp hạng các trường đại học và cao đẳng Khi đó vai trò và trách nhiệm xã hội của các Hội nghề nghiệp sẽ được nâng cao

Xu hướng phát triển các hệ thống đại học - cao đẳng trên thế giới có tác động rất lớn đến quá trình đổi mới hệ thống đại học - cao đẳng ở nước ta Các

xu hướng dễ dàng nhận thấy bao gồm: đào tạo đại trà, tuyển sinh dễ dàng và sàng lọc chặt chẽ trong quá trình đào tạo học suốt đời, thường xuyên bằng các hình thức đào tạo khác nhau, đào tạo liên ngành, kết hợp chức năng đào tạo với chức năng nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức công nghệ

Chính vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ cao trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Muốn thực hiện được điều này thì chúng ta phải có những phương hướng cụ thể như:

Trang 22

- Tập trung mọi nguồn lực tạo sự chuyển biến đột phá cho bậc đại học - cao đẳng Khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức và cá nhân thành lập nhiều trường đại học và cao đẳng ở các vùng kinh tế - văn hoá - xã hội Có các chính sách và giải pháp ưu tiên để huy động mọi nguồn lực trong xã hội cho sự phát triển về số lượng và chất lượng bậc đại học và cao đẳng với hai hình thức tổ chức công lập và tư thục Sẽ có người đặt câu hỏi: Đội ngũ giảng dạy đại học và cao đẳng hiện nay vừa yếu lại vừa thiếu, thì làm sao bảo đảm chất lượng đào tạo? Chúng ta có thể đặt câu hỏi ngược lại: Đã có bao nhiêu phần trăm đội ngũ khoa học và công nghệ có trình độ cao được tham gia đào tạo? Đó là chưa kể một lực lượng khá đông đảo các nhà khoa học và kỹ sư về hưu theo luật lao động có thể tham gia đào tạo ở các trường đại học và cao đẳng Về mặt chất lượng đào tạo chúng ta cũng cần có cách đánh giá mới Chính người sử dụng nhân lực mới đánh giá đúng chất lượng đào tạo của nhà trường Một tổ chức chỉ bao gồm các giáo sư cũng không thể làm điều đó Nói khác đi, thị trường nhân lực khoa học - công nghệ sẽ điều chỉnh chất lượng đào tạo, cũng như quy mô đào tạo Vả lại, để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh bản thân nhà trường phải nâng cao chất lượng đào tạo để thu hút sinh viên và đứng vững trên thị trường đại học - cao đẳng.

- Gắn đào tạo với sử dụng lực lượng lao động được đào tạo Có chính sách tuyển chọn và sử dụng lao động hợp lý dựa theo năng lực và hiệu quả, thì vấn đề mâu thuẫn giữa đào tạo và sử dụng, hiện tượng tiêu cực trong bằng cấp hoặc kiếm bằng theo các cách phi đạo đức sẽ được giải quyết Trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, lấy hiệu quả làm thước đo, không tổ chức kinh

tế, tổ chức quản lý, tổ chức xã hội nào lại chỉ dựa vào mảnh bằng để tuyển chọn, sắp xếp và đề bạt cán bộ, nhân viên Bằng cấp chỉ có giá trị thông tin cho biết người có bằng trải qua một quá trình đào tạo nhất định Do đó, cần phải xây dựng và thực hiện chính sách sử dụng nhân lực được đào tạo theo quan điểm mới Thực ra vài chục năm trước đây chúng ta đã từng thực hiện điều này

- Trong giai đoạn cách mạng khoa học và công nghệ sôi động như hiện nay, nhất là khi nền kinh tế nhiều nước lần lượt phát triển lên bậc thang kinh

Trang 23

tế tri thức, một vấn đề lớn được đặt ra đối với hệ thống đào tạo đại học và cao đẳng là đào tạo chuyên sâu (specialized training) hay đào tạo rộng (generalized training) Ngày nay hiện tượng: "đổi nghề" nhiều lần trong đời làm việc đã trở nên phổ biến Ngoài ra, những vấn đề phải giải quyết trong thực tiễn đều có tính liên ngành Do đó, hệ thống đại học và cao đẳng nước ta nên chọn cách đào tạo rộng là chủ yếu, thời gian đào tạo có thể rút ngắn bớt Nhà nước chỉ nên tập trung phát triển một số trường, một số khoa đào tạo chuyên sâu để tạo ra đội ngũ có tài năng cung cấp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển văn hóa - nghệ thuật, tạo ra và phát triển công nghệ mới

- Để đổi mới bản thân hệ thống GD&ĐT đại học và cao đẳng, nhiều nhà giáo và nhà khoa học có tâm huyết đó đưa ra nhiều biện pháp rất thiết thực và khá cụ thể Về lĩnh vực này, để hoàn thiện hơn cần tổ chức thi tuyển đối với một số trường đào tạo chuyên sâu, trường năng khiếu Việc tuyển sinh nên để cho các trường chủ động thực hiện Việc xây dựng chương trình và nội dung kiến thức phải do một tập thể các nhà giáo, các nhà khoa học và kỹ sư ở các viện nghiên cứu và trong các doanh nghiệp thực hiện để gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn

Gần 20 năm đổi mới và phát triển, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc và không ngừng khẳng định vị thế trên trường quốc tế và trong khu vực Những lợi thế của nền kinh tế trong những ngày đầu đổi mới giờ đây không còn nhiều và những khó khăn thách thức đang xuất hiện

Hội nhập kinh tế quốc tế bao hàm nhiều nội dung phức tạp, quan hệ chặt chẽ với nhau Các hoạt động cơ bản là thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và tạo môi trường thu hút đầu tư nước ngoài và tựu chung lại là tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Trong quá trình cạnh tranh lao động quốc

tế, ở các quốc gia đang phát triển có nguồn nhân lực nhiều về số lượng nhng nghèo về chất lượng sẽ bị thua thiệt nhiều và dần dần sẽ bị dồn vào những lĩnh vực sản xuất đòi hỏi nhiều lao động và thấp về công nghệ, kỹ thuật và vốn Xu hướng sử dụng lao động rẻ và thị trường nội địa của các nhà đầu tư đang dần tác động vào lực lượng lao động của Việt Nam

Trang 24

Về chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam trong quá trình hội nhập, bên cạnh những tiến bộ đạt được, theo một nghiên cứu gần đây đánh giá chất lượng lao động của lao động Việt Nam đạt 32 điểm (32/100) và theo nhận định chung nếu dưới 35 điểm lực lượng lao động đang có nguy cơ mất thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế Nếu chất lượng đội ngũ lao động không tốt, không ứng dụng và sản xuất trên nền công nghệ tiên tiến, sẽ dẫn đến sản xuất ra những hàng hóa chất lượng không cao, không giảm được chi phí sản xuất khó khăn trong cạnh tranh với hàng nhập khẩu.

Trong một thị trường lao động cạnh tranh trực tiếp, nếu lực lượng lao động Việt Nam không đảm nhiệm được các công nghệ sản xuất hiện đại, kỹ thuật cao, buộc nhà nước phải cho phép thuê nhân công nước ngoài (kỹ thuật cao, quản lý) vào làm việc ngay trên thị trường lao động trong nước Trong trường hợp ngược lại, chất lượng lao động chúng ta cao, dồi dào lao động kỹ thuật cao, chúng ta sẽ xuất khẩu những lao động này ra thị trường lao động quốc tế

Những thành công hay thất bại trong cạnh tranh dành giật được việc làm trên thị trường lao động trong nước và quốc tế phụ thuộc chính vào lực lượng lao động của chúng ta Như vậy, việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ cao trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là một yêu cầu cấp

thiết hiện nay đối với giáo dục.

1.3.3 Đặc điểm của quá trình dạy học ở trường đại học và những đòi hỏi cao về chất lượng người dạy (GV) và chất lượng người học (SV)

Trước đây, giáo dục được coi là phúc lợi xã hội, có đến đâu làm đến đó, giáo dục là một trong các nhân tố thúc đẩy phát triển KT – XH nhưng chưa được xem trọng Từ sau khi đất nước ta mở cửa hội nhập, Đảng và Nhà nước

đã nhận thức sâu sắc rằng muốn cho đất nước phát triển thì phải làm công nghiệp, muốn phát triển công nghiệp thì phải có trang thiết bị, có người điều khiển trang thiết bị đó Muốn tiếp cận với công nghệ cao thì phải cần một đội ngũ cán bộ, công nhân trình độ cao Mà đội ngũ này chỉ có được từ GD&ĐT

mà đặc biệt là từ GDĐH Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã đặt giáo dục lên

Trang 25

hàng đầu, coi giáo dục là động lực phát triển KT - XH Điều này được thể hiện rõ nhất trong phương hướng phát triển GD&ĐT được đưa ra tại các Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, với các tinh thần coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH Đổi mới hệ thống GDĐH, kết hợp đào tạo với nghiên cứu, tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình đào tạo; phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp.

Giáo dục với vị trí hàng đầu, nó không còn là phúc lợi xã hội nữa mà là một bộ phận quan trọng thúc đẩy phát triển KT-XH Chính vì điều này mà mục tiêu, nội dung, phương pháp, đối tượng của quá trình đào tạo phải được thay đổi Mục tiêu đào tạo phải đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH Các trường Đại học có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong mỗi thời kỳ phát triển KT-XH của đất nước về cả số lượng và chất lượng Nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học phải cập nhật được những thành tựu mới về khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trên thế giới Phải có đội ngũ giảng viên có trình độ khoa học cao, có phẩm chất tốt, hết lòng cống hiến cho sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động giỏi, người công dân tốt Đó là đội ngũ những người trí thức ham học hỏi để không ngừng trau đồi kiến thức, năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học Phải có đội ngũ sinh viên năng động, chủ động, sáng tạo, hăng say học tập, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, công nghệ; có ý thức lập thân, lập nghiệp và cống hiến tài năng cho sự nghiệp xây dựng đất nước, phát triển KT-XH

QTDH ở đại học có trình độ khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao, có sứ mạng đào tạo đội ngũ lao động có trình độ cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng và chất lượng, phục vụ đắc lực cho công cuộc CNH, HĐH đất nước QTDH bao gồm nhiều thành tố, các thành tố có quan

hệ tương hỗ với nhau, tạo ra một quá trình toàn vẹn Tuy nhiên, người dạy và người học là những thành tố quan trọng nhất Người học là trung tâm của quá

Trang 26

trình dạy học, người dạy đóng vai trò chủ đạo, tổ chức, dẫn dắt quá trình, phát huy tính chủ động, tích cực của người học chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng các môn học để tiếp cận mục tiêu đào tạo QTDH ở đại học trước đây nhằm đào tạo những tinh hoa trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay nó đang trở thành quá trình đào tạo phổ cập cho những thanh niên có đủ trình độ nhập học vào các trường đại học mà họ lựa chọn.

Trước đây, kiến thức của người thầy được coi là uyên bác nhất, rộng nhất, còn người học thì giống như những chiếc bình rỗng, thầy rót bao nhiêu kiến thức vào thì được từng đấy Thầy dạy cái mình có, còn trò thụ động tiếp thu kiến thức, không có sự sáng tạo, năng động trong quá trình học tập Nhưng giờ đây mọi điều đã dần được đổi khác Nền giáo dục của nước ta đã

và đang hướng tới tác động trực tiếp vào người học, một nền giáo dục cho mọi người, tạo điều kiện để mọi người đều được học tập, biết cách tự học và học tập liên tục, học tập suốt đời Kiến thức trong sách vở nhà trường là hữu hạn, còn kiến thức ở ngoài đời và tri thức của nhân loại là vô hạn Người thầy cung cấp cho người học kiến thức có trong sách giáo khoa, nhưng quan trọng hơn là phải dạy cho người học biết cách tự học, tự học suốt đời để có thể tự mình tiếp thu tri thức của nhân loại

Nếu người học không có khả năng tự học thì sau này ra đời các em sẽ rất hạn chế, không thể hội nhập, không thể đáp ứng yêu cầu năng động của

xã hội và về lâu dài không thể phát triển đọc Muốn dạy cho người học biết cách tự học và tự học có hiệu quả thì trước hết người thầy phải là tấm gương

về tự học Vì vậy, việc tự học, tự đào tạo, bồi dưỡng của thầy là rất cần thiết Thầy giáo phải là người có kiến thức sâu ở bộ môn mình phụ trách, ngoài ra thầy phải có kiến thức rộng, càng hiểu biết càng tốt Thầy giáo phải là người

“biết mười dạy một” chứ không phải “biết hai dạy một” Có như thế bài giảng trên lớp của thầy mới phong phú, sinh động; thầy phải biết được cái

“thần” của bài học là ở đâu, vì thế phải giảng như thế nào để học sinh nắm được bài, hiểu được bài Nếu trình độ của thầy chỉ là “cơm chấm cơm” thì

Trang 27

bài giảng của thầy chỉ là đọc lại sách giáo khoa, không gây được hứng thú học tập cho người học.

Ngày nay, khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiến nhanh và mạnh như vũ bão Nếu không tự học thường xuyên, không đọc tài liệu tham khảo, không tự mình “đào tạo lại” thì kiến thức của thầy sẽ lạc hậu Muốn có kiến thức thật, thì tự học mới là khâu quyết định Tự học xuất phát

từ nhu cầu cần được bổ sung kiến thức, chiếm lĩnh kiến thức, và khi đã có kiến thức thì sẽ có cơ hội để sử dụng có hiệu quả cho quá trình dạy học của mình Bác Hồ ddax dạy: “Một người phải biết học nhiều người”, “Học lẫn nhau và học nhân dân”, “Đối với mọi vấn đề, thầy trò cùng nhau thảo luận, ai

có ý kiến gì, phải thật thà phát biểu Điều gì chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt” GV phải có ý thức cầu thị, tự biết kiến thức của mình còn hạn chế ở đâu hoặc chưa nắm vững về một vấn đề cụ thể nào đó thì nên học hỏi; không bảo thủ, không chủ quan, phải vừa là thầy của HS, nhưng lại là trò trước kiến thức mênh mông của nhân loại Tự học đi liền với đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt coi trọng sự sáng tạo của thầy Thế hệ trẻ tiếp thu và sử dụng công nghệ, nhất là công nghệ thông tin rất nhanh Vì vậy, thầy giáo nếu như không muốn bị lạc hậu phải nắm bắt được công nghệ thông tin và dành thời gian nghiên cứu để ứng dụng vào QTDH của mình Đổi mới PPDH, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường thực hành, thí nghiệm để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục được xem là khâu đột phá trong giáo dục hiện nay

1.3.4 Tính tất yếu của đổi mới quản lý quá trình dạy học là yêu cầu cấp thiết đối với các trường đại học hiện nay, trong đó có Trường Đại học Công Đoàn

QTDH đã có những thay đổi nhất định để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay về nguồn nhân lực do các trường đại học đào tạo ra thì việc quản lý QTDH không tránh khỏi sự thay đổi để cho phù hợp với tình

Trang 28

hình thực tế Đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu tất yếu và cấp bách của xã hội Giáo dục đại học muốn đổi mới được thì phải đổi mới từ mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp…Và mục tiêu cuối cùng mà giáo dục đại học cần hướng tới đó

là chất lượng và hiệu quả của đầu ra

Khách hàng của giáo dục đại học là những đối tượng nào? Đó là sinh viên, gia đình sinh viên, là các doanh nghiệp, là các cơ quan Nhà nước, các cộng đồng dân cư và các mặt hoạt động xã hội… Rõ ràng khách hàng của nhà trường rất đa dạng, có khách hàng trực tiếp và khách hàng gián tiếp Nhu cầu của họ vì thế mà cũng rất đa dạng phong phú; có loại nhu cầu ngắn hạn, có loại dài hạn

Vậy một trường có thể đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng hay không? Rõ ràng là không thể Mỗi trường cần phải tự chọn cho mình một hay một số loại khách hàng nhất định và đáp ứng những nhu cầu của họ; nói cách khác là đáp ứng một số nhu cầu của khách hàng mà nhà trường có khả năng thực hiện tốt Nói chung cần phải ưu tiên cho những nhu cầu có tính đại diện cho số đông và hướng tới tương lai

Với sự bùng nổ về thông tin và biến động nhanh chóng của nền kinh tế như hiện nay thì giáo dục đại học phải là một quá trình giúp cho người học tìm được cách học suốt đời cho mình, biết lựa chọn, xử lý, tổng hợp, phân tích đánh giá và phê phán thông tin, biết cộng tác và sáng tạo trong công việc, biết

tự rèn luyện bản thân, dám đưa ra những quyết định về tương lai của chính mình và có trách nhiệm cao đối với xã hội

Để làm được như vậy trước hết phải có sự chuyển biến về công tác lãnh đạo và quản lý của mỗi trường Một câu hỏi đặt ra làm các nhà quản lý giáo dục đại học hiện nay khó trả lời đó là “QTDH đang được thực hiện tại trường

có đem lại thành công cho sinh viên khi họ tốt nghiệp ra trường hay không?

Trang 29

Làm sao biết được điều đó? Rõ ràng sinh viên ra trường chỉ thành công khi đáp ứng được đòi hỏi thực tế của xã hội Nếu nhà trường chỉ đào tạo bằng những gì mình có và quen làm thì làm sao sinh viên đáp ứng được những nhu cầu cần thiết của xã hội? Đào tạo hiện tại để đáp ứng nhu cầu ở tương lai Vậy

là cần phải có chiến lược phát triển chung cho cả nhà trường, chiến lược phát triển này phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của xã hội, phải thực sự gắn kết với sự phát triển của từng cá nhân, từng đơn vị trong trường và phải vì sự học tập và phát triển của sinh viên Muốn xây dựng được chiến lược phát triển QTDH của nhà trường thì phải điều tra, phân tích, đánh giá được chất lượng của từng thành tố của quá trình đó; trên cơ sở các dữ liệu đó mà tìm ra những con đường đổi mới, hoàn thiện từng thành tố của QTDH sao cho nó bắt kịp sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, lại phù hợp với điều kiện chủ quan và khách quan của nhà trường, đặc biệt là sản phẩm đào tạo của

nó phải đáp ứng được nhu cầu của xã hội, của đất nước trong tiến trình CNH, HĐH đất nước

* *

*

Tóm lại, chương 1 đã trình bày cơ sở lý luận của quản lý QTDH ở trường đại học, làm rõ nội dung của quản lý QTDH bao gồm quản lý việc thực hiện mục tiêu chương trình đào tạo và kế hoạch giảng dạy, quản lý quá trình giảng dạy của giáo viên, quản lý quá trình học tập và kết quả học tập của sinh viên, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả dạy, kết quả học Chương 1 cũng đã đề cập đến các yếu tố tác động ảnh hưởng tới quản lý quá trình dạy học ở trường Đại học Công đoàn

Trang 31

ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN 2.1 Một số nét khái quát về trường Đại học Công đoàn

2.1.1 Bối cảnh ra đời và một số thành tựu nổi bật

Ngày 15/5/1946, lớp đào tạo cán bộ công vận đầu tiên của “Hội công nhân cứu quốc” Bắc bộ được khai mạc Ngày này được ghi nhận như ngày ra đời của trường Công đoàn (Trường Đại học Công đoàn ngày nay) Tháng 2 năm 1950, trường Công đoàn được đổi tên thành Trường Công đoàn Hoàng Quốc Việt Tháng 10 năm 1954, được sự đồng ý của Ban Tổ chức Trung ương Đảng, trường Công đoàn Hoàng Quốc Việt được đổi tên thành Trường Cán bộ Công đoàn Trong giai đoạn này trường đã đào tạo được hơn 1200 cán bộ cho

tổ chức Công đoàn Việt Nam Tháng 8 năm 1961 trường Cán bộ Công đoàn đổi tên thành trường Công đoàn Trung ương Trong giai đoạn 1961-1965, trường Công đoàn Trung ương đã đào tạo, bồi dưỡng được gần 3000 cán bộ cho tổ chức công đoàn theo các loại hình ngắn hạn, dài hạn, bồi dưỡng, tập huấn theo chuyên đề Ngày 29/9/1991, Ban bí thư Trung ương Đảng ra quyết định số 97-QĐ/TW chuyển trường Công đoàn Trung ương thành trường Cao cấp Công đoàn Giai đoạn 1981-1986, mặc dù trong bối cảnh khó khăn, trường Cao cấp Công đoàn đã đào tạo, bồi dưỡng được hơn 5000 cán bộ công đoàn Ngày 19/05/1992, Trường Cao cấp Công đoàn được Chủ tịch Hội đồng

Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ra quyết định đổi tên thành Trường Đại học Công đoàn Trường Đại học Công đoàn là trường đại học đa ngành,

đa cấp trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và chịu sự quản lý về chuyên môn của Bộ GD&ĐT

Hiện nay, trường đã có: 03 chuyên ngành đào tạo trình độ Thạc sĩ, 08 ngành đào tạo trình độ đại học, 03 ngành đào tạo đại học bằng II, 03 ngành đào tạo cao đẳng, 02 ngành đào tạo liên thông từ trung cấp lên đại học, 03 ngành đào tạo liên thông từ cao đẳng lên đại học, 02 ngành trung cấp chuyên nghiệp Nhà trường đang tiếp tục xây dựng đề án đào tạo thạc sỹ ngành Xã hội học Tổng quy mô sinh viên hệ chính quy và không chính quy hàng năm

Trang 32

của Nhà trường là hơn 15.000 sinh viên Ngoài ra, Trường còn đào tạo ngắn hạn và bồi dưỡng, tập huấn cho hàng ngàn cán bộ Công đoàn hàng năm Bên cạnh đó, hàng năm, Trường đã tham gia đào tạo trình độ đại học chính quy cho sinh viên Lào, Camphuchia và đào tạo ngắn hạn cho cán bộ Trung ương Liên hiệp Công đoàn Lào.

Trường Đại học Công đoàn đã thiết lập quan hệ hợp tác với Học Viện Quan hệ lao động Trung Quốc; Học Viện Lao động và Quan hệ xã hội Liên Bang Nga; tổ chức ILO; trường Đại học Carlifornia, Mỹ; Viện FES (Đức) và một số nước khác

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trường Đại học Công đoàn

Trường Đại học Công đoàn là trường đại học đa ngành, đa cấp và là trường đầu đàn của hệ thống trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn ở nước ta Nâng cao chất lượng đào tạo, sử dụng các phương tiện tiên tiến hỗ trợ cho việc dạy và học theo phương pháp tích cực, lý luận gắn với thực tế, đào tạo theo yêu cầu, nhu cầu của các cấp công đoàn và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội

Xây dựng đề án nâng cấp khoa Công đoàn thành trung tâm nghiên cứu

và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn, xây dựng đội ngũ giảng viên đủ mạnh, tăng cường nghiên cứu lý luận, gắn với thực tiễn về giai cấp công nhân, về tổ chức và hoạt động công đoàn, biên soạn giáo trình, tài liệu, sách tham khảo đáp ứng yêu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế

Phối hợp chặt chẽ với các Ban, đơn vị trực thuộc Tổng Liên đoàn, các trường công đoàn, Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương, công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng liên đoàn để thực hiện tốt chức năng đào tạo bồi dưỡng cán bộ công đoàn

Giúp các trường công đoàn đào tạo các ngành chuẩn, bằng cấp theo qui định của Bộ GD&ĐT

Trang 33

Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

* Ngành đào tạo

Đào tạo cao học các chuyên ngành:Quản lý nguồn nhân lực; Quản lý

an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, Quản trị kinh doanh

Đào tạo đại học chính quy gồm 9 ngành:Ngành Quản trị kinh doanh

(Business Administration), Ngành Bảo hộ lao động (Labour Protection), Ngành Xã hội học (Sociology), Ngành Công tác xã hội (Social work), Ngành

Kế toán (Accounting), Ngành Tài chính - Ngân hàng (Finance and Banking), Ngành Quản trị nhân lực (Human Resources Management), Ngành Luật (Law), Ngành Quan hệ lao động (Labor Relations)

Đào tạo đại học bằng hai: Xã hội học; Quản trị kinh doanh; Bảo hộ lao

động; Công tác xã hội; Quản trị nhân lực; Kế toán; Tài chính ngân hàng; Luật

Đào tạo đại học vừa làm vừa học: Quản trị kinh doanh; Xã hội học;

Công tác xã hội; Bảo hộ lao động; Kế toán; Tài chính - Ngân hàng

Đào tạo liên thông lên đại học, cao đẳng; từ trung cấp lên đại học; từ Cao đẳng lên Đại học; từ trung cấp lên cao đẳng; Đào tạo cao đẳng chính quy; Đào tạo trung cấp chính quy; Đào tạo bồi dưỡng tập huấn ngắn hạn.

* Qui mô đào tạo hệ chính qui của trường

Bảng 2.1: Qui mô đào tạo hệ chính qui của trường từ năm 2008 đến

Trang 34

2.2 Thực trạng và nguyên nhân quản lý quá trình dạy học ở Trường Đại học Công đoàn hiện nay

2.2.1 Phương pháp khảo sát thực trạng quản lý quá trình dạy – học

ở Trường Đại học Công đoàn

Để đánh giá được chất lượng đào tạo đại học hệ chính qui và thực trạng công tác quản lý quá trình dạy học tại trường Đại học Công đoàn, tác giả đã dựa vào những tài liệu lưu trữ về kết quả đào tạo các khóa học, các báo cáo của Nhà trường, thông tin khoa học của Nhà trường và kết quả điều tra, khảo sát phục vụ việc nghiên cứu

Để có thêm cơ sở đưa ra các giải pháp quản lý quá trình dạy và học của trường Đại học Công đoàn trong thời gian tới nhằm tăng cường chất lượng đào tạo, tác giả tiến hành điều tra ý kiến về những vấn đề liên quan đến đào tạo của Nhà trường trong thời gian vừa qua

Nội dung các Phiếu trưng cầu ý kiến tập trung vào những vấn đề chất lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, trang thiết bị phục vụ giảng dạy học tập, việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của sinh viên tốt nghiệp, mối liên hệ giữa Nhà trường và các cơ sở sử dụng lao động do Nhà trường đào tạo, sử lý kết quả các phiếu trưng cầu ý kiến này tạo cứ liệu để đưa ra các giải pháp quản lý quá trình dạy và học trong trường

Ba đối tượng chính tác giả tập trung lấy ý kiến là cán bộ quản lý và cán

bộ cốt cán của trường Đại học Công đoàn gồm cán bộ quản lý của trường, các khoa chủ quản, các phòng ban chức năng và một số cán bộ giảng dạy có uy tín của trường Đây là những người đã trực tiếp quản lý, chỉ đạo việc đào tạo của trường trong những năm vừa qua, nắm chắc những mục tiêu, yêu cầu, chương trình, quy trình đào tạo của trường và những mặt mạnh và yếu của công tác quản lý này; Đối tượng thứ hai là đội ngũ sinh viên tốt nghiệp trong

3 năm gần đây, họ là những sản phẩm đào tạo của Nhà trường đã trải qua toàn

bộ qui trình đào tạo của Nhà trường, đã có những năm đầu công tác tại các cơ

sở nên có điều kiện nhìn nhận lại quá trình mình được đào tạo trong trường và khi bước vào thực tiễn họ có thể đánh giá việc đào tạo của Nhà trường so với

Trang 35

yêu cầu của thực tiễn, vì vậy họ có thể có những ý kiến đóng góp cho trường nhằm cải tiến, hoàn thiện, bổ sung cho chương trình đào tạo, điều kiện đào tạo của Nhà trường, tác giả chỉ tập trung vào những sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy của trường; Các nhà quản lý các cơ sở sử dụng sản phẩm đào tạo của Nhà trường, họ là các giám đốc, thủ trưởng các đơn vị, các xí nghiệp, các cơ quan hành chính sự nghiệp… qua quá trình hoạt động của sinh viên tốt nghiệp từ đại học Công đoàn chắc chắn họ nắm chắc được những mặt mạnh đồng thời thấy rõ được những thiếu hụt của sinh viên mới tốt nghiệp mà đáng lý ra phải được đào tạo trong Nhà trường để đáp ứng tốt hơn với thực tiễn công việc họ phải đảm nhận.

Trên cơ sở so sánh đối chiếu những ý kiến của các đối tượng khác nhau

về cùng một lĩnh vực chúng ta có thể rút ra những vấn đề cần thiết để tăng cường công tác quản lý của trường nói chung và của quá trình quản lý giảng dạy và học tập nói riêng Để thực hiện được những mục tiêu đặt ra cho việc điều tra, tác giả đã đưa ra những nội dung cần hỏi phù hợp với các đối tượng được hỏi thông qua 3 phiếu trưng cầu ý kiến cho các đối tượng đã nêu (xem phần phụ lục) Tác giả đã soạn thảo 3 Phiếu câu hỏi phù hợp với mục tiêu, nội dung và đối tượng là:

- Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho cán bộ quản lý và cán bộ cốt cán của

trường Đại học Công đoàn, phiếu có 7 câu hỏi về các vấn đề chất lượng đào tạo của trường, các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo, về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên của trường, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập, sự hợp tác trong đào tạo của trường với các cơ sở sử dụng lao động Toàn bộ phiếu được chia thành các câu hỏi, mỗi câu hỏi tập trung vào một vấn

đề lớn bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau thông qua các câu hỏi nhỏ để tiện phân tích đánh giá

- Phiếu trưng cầu ý kiến sinh viên tốt nghiệp hệ chính qui trong 3 năm trở lại đây, phiếu có 14 câu hỏi trong đó có những phần câu hỏi mở để thu nhập thêm những ý kiến ngoài các phương án trả lời được đưa ra, các câu hỏi bao gồm nhiều nội dung liên quan đến đến việc đào tạo của trường: Đánh giá phù hợp của chương trình đào tạo so với yêu cầu thực tiễn, về các yếu tố ảnh

Trang 36

hưởng đến chất lượng đào tạo, về đội ngũ giảng viên của nhà trường, về trang thiết bị và các điều kiện phục vụ cho việc dạy và học của nhà trường, về việc làm và việc đào tạo bồi dưỡng sau tốt nghiệp…

- Phiếu trưng cầu ý kiến cán bộ quản lý các doanh nghiệp, các cơ sở kinh tế và các cơ quan hành chính sự nghiệp là các đơn vị sử dụng sản phẩm đào tạo của Nhà trường, nội dung bao gồm những vấn đề tuyển dụng SV tốt nghiệp của trường, những ý kiến đánh giá về chất lượng đào tạo, về sự gắn bó giữa các cơ sở sử dụng với trường đại học Công đoàn

Để có thể so sánh những ý kiến trả lời của các đối tượng khác nhau về cùng một vấn đề trong Phiếu trưng cầu ý kiến đã có một số câu hỏi trùng nhau

về cùng một vấn đề Vì không có điều kiện trực tiếp thu thập dữ liệu của từng người, không có điều kiện trực tiếp giải thích yêu cầu và cách trả lời cho từng người nên trong mỗi câu hỏi đều có những câu hướng dẫn trả lời thích hợp

Thu thập dữ liệu là vấn đề khó khăn rất lớn đối với cá nhân khi thực hiện

đề tài như thế này, với điều kiện không có kinh phí hỗ trợ, thời gian thực hiện ngắn, đối tượng điều tra khá đông nên tôi buộc phải chọn giải pháp tối ưu:

- Nhờ tới sự giúp đỡ của các Khoa, đã chọn được danh sách các đối tượng trả lời phiếu Vì số lượng sinh viên tốt nghiệp rất đông, hàng năm có hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp nên trong điều kiện không có kinh phí hỗ trợ nên cuộc điều tra chỉ tập trung vào nhóm đại diện sinh viên tốt nghiệp hệ chính qui trong 3 năm trở lại đây

- Tác giả đã chọn phương pháp gửi thư để trưng cầu ý kiến có kèm theo giấy giới thiệu của trường và các hướng dẫn cần thiết để các đối tượng trả lời tốt các câu hỏi, đúng nội dung đã đưa ra đảm bảo tính khách quan chính xác

Kết quả đã thu về được 100 phiếu của sinh viên trong đó có 42 nam và

58 nữ được phân chia như sau: Số tốt nghiệp năm 2010 chiếm 34%, năm 2011 chiếm 28% và năm 2012 chiếm 38%

Trang 37

Trong đó thành phần sinh viên tham gia trả lời câu hỏi như sau:

Đối với Phiếu hỏi cán bộ quản lý của Nhà trường, tác giả đã thu được

42 phiếu từ Ban giám hiệu, các Lãnh đạo Khoa, Phòng, Bộ môn trong trường

và một số cán bộ quản lý khác của trường, đều là những người có trách nhiệm

và nhiều năm công tác tại trường

Tác giả đã thu được 15 phiếu trả lời của các giám đốc, thủ trưởng các

cơ sở kinh tế xã hội và hành chính sự nghiệp

2.2.2 Thực trạng dạy học và quản lý quá trình dạy học ở Trường Đại học Công đoàn

2.2.2.1 Thực trạng về chương trình và quản lý chương trình, kế hoạch đào tạo

- Về chương trình đào tạo và xây dựng chương trình đào tạo

Để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường đã tổ chức nghiên cứu tiến hành cải tiến nội dung chương trình đào tạo Quy trình làm chương trình đào tạo phải căn cứ vào chương trình khung của Bộ GD&ĐT (phần cứng), trên cơ sở phần cứng bắt buộc, Hội đồng khoa học ngành (bao gồm Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo, đại diện các bộ phận liên quan, các chuyên gia về ngành đào tạo) sẽ nghiên cứu bổ sung các môn học khác (phần mềm) cho phù hợp với yêu cầu thực tế

Quá trình xây dựng chương trình đào tạo được coi là quá trình phát triển mà sản phẩm của quá trình là một bản kế hoạch mô tả chương trình đào tạo với đầy đủ mục tiêu, nội dung, phương pháp, các phương tiện hỗ trợ đào tạo và cách kiểm tra – đánh giá kết quả học tập

Trang 38

Việc xây dựng chương trình đào tạo theo cách tiếp cận phát triển phải được hiểu là một quá trình liên tục và khép kín, các bước (khâu) không phải được sắp xếp một cách thẳng hàng bước nọ kế tục bước kia mà chúng phải được sắp xếp theo một vòng tròn khép kín tạo thành một chu trình của quá trình đào tạo.

Quá trình xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo ở trường Đại học cần tạo ra được động cơ và hứng thú học tập cho sinh viên Đồng thời, kích thích, động viên sinh viên chủ động và tham gia tích cực vào mọi hoạt động của quá trình đào tạo đặc biệt là quá trình học tập Phòng Đào tạo Nhà trường

đã vận dụng qui trình xây dựng chương trình đào tạo cho các ngành Hiệu trưởng nhà trường đã chỉ đạo, phối hợp các bộ phận chức năng trong việc liên tục tổ chức nghiên cứu, tổ chức đào tạo các ngành

Cải tiến chương trình đào tạo ngành Quản trị Kinh doanh và Quản trị Kinh doanh - CĐ của nhà trường

Với mục đích nhằm phân biệt tương đối rõ các phần: kiến thức đại cương, kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành và kiến thức chuyên sâu của ngành Quản trị kinh doanh Đảm bảo thống nhất về môn học, số đơn vị học trình của phần kiến thức đại cương trong tất cả các ngành chuyên môn Quản trị kinh doanh (chuyên ngành Nhân lực, Kế toán, Tổng hợp) của trường Đại học Công đoàn Giảm một số học phần cho sát với mục tiêu đào tạo và nội dung chương trình của các ngành kinh tế Xây dựng chuyên ngành mới (Quản trị Bảo hiểm) đáp ứng yêu cầu đa dạng hoá ngành đào tạo, thực hiện đào tạo chuyên sâu và đáp ứng yêu cầu của người học

Kết quả đã ban hành quyết định mới (số 39/QĐ-ĐHCĐ ngày 12/3/2002 của Hiệu trưởng) thay thế quyết định cũ Theo đó đã xây dựng và ban hành chương trình chuyên ngành Quản trị Bảo hiểm và điều chỉnh nội dung chương trình các chuyên ngành của ngành Quản trị Kinh doanh Ngày 29/7/2004, Bộ GD&ĐT ban hành Bộ chương trình khung giáo dục đại học khối ngành Kinh

tế - Quản trị Kinh doanh trình độ đại học, cao đẳng theo Quyết định số 23/2004/QĐ-BGD&ĐT, nhà trường lại tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh

Trang 39

chương trình đào tạo theo chương trình khung của Bộ và phù hợp với yêu cầu mới của thực tiễn xã hội

Chương trình đào tạo ngành Bảo hộ lao động

Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, nhiệm vụ xây dựng một xã hội văn minh, bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ, duy trì khả năng lao động của người lao động, xây dựng một nền

“sản xuất sạch hơn vì an toàn vệ sinh lao động và chính sách, pháp luật của Nhà nước Vì thế, năm học 1993-1994, trường Đại học Công Đoàn được Bộ GD&ĐT cho phép tuyển sinh khoá đầu tiên đào tạo kỹ sư Bảo hộ lao động Đây là một ngành mới, lần đầu tiên được tổ chức đào tạo bậc đại học tại Việt Nam Trong quá trình đào tạo, nhà trường đã nhiều lần họp và sửa đổi nội dung chương trình cho phù hợp, nhằm phân phối lại thời gian các môn học, tổ hợp một học phần hoặc chuyển một số học phần thành các chuyên đề, để giảm tải sự căng thẳng trong quá trình thi và kiểm tra các học phần cho sinh viên

Nhà trường đã tổ chức nghiên cứu, xây dựng và điều chỉnh chương trình đào tạo kỹ sư Bảo hộ lao động, với thời lượng 4,5 năm (chương trình cũ

là 4 năm) và thực hiện từ khoá học 2003-2007, với mục tiêu đào tạo kỹ sư Bảo hộ lao động có phẩm chất chính trị, đạo đức, nắm vững những kiến thức

cơ bản về kỹ thuật, nhưng kỹ năng chuyên sâu về an toàn, vệ sinh lao động,

có khả năng quản lý và tổ chức phong trào an toàn lao động trong doanh nghiệp, làm kỹ sư an toàn - vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp, làm chuyên viên bảo hộ lao động công đoàn các cấp

Chương trình đào tạo ngành xã hội học

Để đáp ứng nhu cầu của xã hội, ngày 15/10/2005, Hiệu trưởng trường Đại học Công đoàn đã ký quyết định số 213/QĐ-ĐHCĐ về việc ban hành chương trình đào tạo ngành Xã hội học đã được sửa đổi được thực hiện từ năm học 2002

- 2003, với mục tiêu đào tạo cử nhân xã hội học, SV nắm vững phương pháp luận và kiến thức cơ bản về xã hội, có kỹ năng thực hành nghề nghiệp, có khả năng vận dụng kiến thức góp phần vào việc nghiên cứu giải quyết các vấn đề xã hội trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng

Chương trình đào tạo ngành Công tác xã hội

Trang 40

Để đáp ứng nhu cầu xã hội, với mục tiêu đào tạo cử nhân công tác xã hội, nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành nghề công tác xã hội, có khả năng phát hiện, giải quyết những vẫn đề trong mối quan hệ xã hội

và nâng cao năng lực con người Có khả năng cung ứng dịch vụ xã hội tại các

cơ sở và tổ chức xã hội, có thể làm việc trong các lĩnh vực xã hội khác nhau Năm 2004 Hiệu trưởng trường Đại học Công đoàn đã ký quyết định số 226/QĐ-ĐHCĐ về việc ban hành chương trình đào tạo ngành Công tác xã hội được thực hiện từ khoá học 2004 - 2008

Năm 2004, Bộ GD&ĐT ban hành Bộ chương trình khung giáo dục đại học ngành Công tác xã hội trình độ đại học, cao đẳng theo Quyết định số 35/2004/QĐ BGD&ĐT, nhà trường nghiên cứu, điều chỉnh chương trình đào tạo theo chương trình khung của Bộ và phù hợp với yêu cầu mới của thực tiễn

xã hội Ngoài việc xây dựng nội dung chương trình theo chương trình khung của Bộ GD&ĐT sau khi chương trình đưa vào giảng dạy đều được đánh giá,

bổ sung, cải tiến cho phù hợp với mục tiêu và yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo Theo kết quả điều tra xã hội (tháng 3/2014) ý kiến đánh giá về chương trình đào tạo của cán bộ quản lý nhà trường và SV đó tốt nghiệp, được thể hiện tại bảng sau:

Bảng 2.2: Ý kiến đánh giá của cán bộ Trường và sinh viên tốt nghiệp về

chương trình đào tạo của Trường

Đánh giá của CBQL Đánh giá của SV

Từ trung bình trở xuống

Khá, tốt

Từ trung bình trở xuống

Khá, tốt

1 Chương trình có mục tiêu rõ ràng 9.5 90.5 23 77

2 Cung cấp những kiến thức cơ bản 19 81 28 72

3 Chương trình đào tạo tạo điều kiện 73.8 26.2 93 7

Ngày đăng: 11/06/2017, 11:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Qui mô đào tạo hệ chính qui của trường từ năm 2008 đến - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 2.1 Qui mô đào tạo hệ chính qui của trường từ năm 2008 đến (Trang 33)
Bảng 2.2 còn cho thấy cả cán bộ quản lý và sinh viên đều cho rằng  những mặt sau đây của chương trình được đánh giá là yếu: Chương trình hiện - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 2.2 còn cho thấy cả cán bộ quản lý và sinh viên đều cho rằng những mặt sau đây của chương trình được đánh giá là yếu: Chương trình hiện (Trang 41)
Bảng 2.3: Ý kiến đánh giá trang thiết bị cơ sở hạ tầng của Trường - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 2.3 Ý kiến đánh giá trang thiết bị cơ sở hạ tầng của Trường (Trang 44)
Bảng 2.4: Đánh giá về năng lực, trình độ đội ngũ giảng viên - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 2.4 Đánh giá về năng lực, trình độ đội ngũ giảng viên (Trang 48)
Bảng 2.5: Kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Công đoàn - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 2.5 Kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Công đoàn (Trang 52)
Bảng 2.6: Đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp về các mặt - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 2.6 Đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp về các mặt (Trang 52)
Bảng 2.7: Nhu cầu bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của sinh viên sau tốt nghiệp - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 2.7 Nhu cầu bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của sinh viên sau tốt nghiệp (Trang 54)
Bảng 3.1: Thống kê kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp. - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 3.1 Thống kê kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp (Trang 87)
Bảng 3.2: Thống kê kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp. - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 3.2 Thống kê kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp (Trang 88)
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA (Trang 132)
Bảng 2.4: Đánh giá về năng lực, trình độ đội ngũ giảng viên - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 2.4 Đánh giá về năng lực, trình độ đội ngũ giảng viên (Trang 133)
Bảng 2.6: Đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp về các mặt - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 2.6 Đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp về các mặt (Trang 134)
Bảng 2.7: Nhu cầu bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của sinh viên sau tốt nghiệp - LUẬN văn THẠC sĩ   QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG đại học CÔNG đoàn HIỆN NAY
Bảng 2.7 Nhu cầu bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của sinh viên sau tốt nghiệp (Trang 135)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w