Nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển của đất nước, Nghị quyết số 29NQTW ngày 04112013 của Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI khẳng định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục cũng là đầu tư phát triển” 20. Chính vì vậy, trong văn kiện Nghị Quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 28012016,
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự pháttriển của đất nước, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấphành Trung ương 8 khóa XI khẳng định “Giáo dục và đào tạo là quốc sáchhàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáodục cũng là đầu tư phát triển” [20] Chính vì vậy, trong văn kiện Nghị QuyếtĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam ngày28/01/2016, Đảng ta xác định một trong ba đột phá chiến lược đó là phải “đổimới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo” [22] Mục tiêu của giáo dục ViệtNam là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và nănglực của công dân, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Công tác GDQPAN ở các trường ĐHCĐ cũng góp phần vào việc hìnhthành và bồi dưỡng, phát tiển nhân cách toàn diện của học sinh, sinh viênnhằm hướng tới mục tiêu giáo dục
Ngày nay, đất nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, côngtác GDQPAN càng phải được tăng cường và củng cố hơn nữa, nhằm tạo sựchuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân vàtoàn dân đối với sự nghiệp quốc phòng an ninh, xây dựng và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam XHCN Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có sựđầu tư, đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực GDQPAN Điều đó đã được cụ thể hóakhông chỉ ở các Nghị định, Thông tư, văn bản chỉ thị, hướng dẫn về GDQPAN,
mà hơn thế nữa ngày 19/6/2013 Quốc Hội đã thông qua Luật số:30/2013/QH13, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, Luật có hiệu lực thihành từ ngày 01/01/2014 [32] Điều này càng khẳng định rõ vị thế của môn
Trang 2Thông qua môn học, HSSV đã nhận thức đầy đủ hơn chủ trương, quanđiểm, đường lối của Đảng về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, có nhậnthức rõ hơn về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; có kỹnăng quân sự cần thiết để phát triển phẩm chất, nhân cách toàn diện, phát huytinh thần yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm,
tự giác, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, bên cạnhkết quả đạt được, công tác giáo dục quốc phòng và an ninh vẫn còn một sốhạn chế Đó là, tiến độ xây dựng một số văn bản, hướng dẫn thi hành LuậtGiáo dục quốc phòng và an ninh còn chậm, thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao.chất lượng dạy - học môn học ở một số cơ sở giáo dục chưa cao, kỹ năng thựchành của học sinh, sinh viên có nội dung chưa đáp ứng yêu cầu đề ra Việctriển khai xây dựng các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh theo Quyếtđịnh 161/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ chưa bảo đảm tiến độ [36] Côngtác quản lý quá trình dạy học còn nhiều hạn chế, bất cập; đội ngũ giáo viên,giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh còn thiếu về số lượng, chất lượngchưa đáp ứng so với yêu cầu của môn học; cơ sở vật chất phục vụ dạy họcchưa đầy đủ; chất lượng môn học ở một số Trung tâm giáo dục quốc phòng và
an ninh nói chung và Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – An ninh, ĐHQGHNnói riêng còn hạn chế, mặc dù lãnh đạo các Trung tâm đã có sự đầu tư, quantâm đến môn học song hiệu quả đạt được vẫn chưa cao Điều này đòi hỏi cầnsớm có giải pháp khắc phục trong thời gian tới
Thêm vào đó, khoa học trong quản lý nói chung, trong quản lý giáo dụcnói riêng và đặc biệt là khoa học về quản lý quá trình dạy học GDQP&ANđang có những bước phát triển cả về lý luận và thực tiễn, đặt ra những yêucầu nhiệm vụ mới trong nghiên cứu cần được giải quyết
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý quá trình dạy học ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn nâng cao hơn nữa hiệu quả của
Trang 3QTDH GDQPAN tại các Trung tâm GDQPAN nói chung và Trung tâmGDQPAN, ĐHQGHN nói riêng.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
GDQPAN là một nội quan trọng trong chiến lược giáo dục đối vớiHSSV nói riêng và đối với thế hệ trẻ nói chung nhằm xây dựng con ngườitoàn diện cho các thế hệ tương lai của đất nước để sẵn sàng xây dựng và bảo
vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN Trải qua hơn 50 năm, môn học huấnluyện quân sự phổ thông đã được đưa vào dạy học cho HSSV từ bậc THPTđến ĐHCĐ Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu, bàiviết về vai trò của giáo dục quốc phòng trong hệ thống giáo dục quốc dân.Tiêu biểu là công trình của các tác giả: Nguyễn Nghĩa, “Một số vấn đề nângcao chất lượng GDQP cho cán bộ, học sinh, sinh viên”, Tạp chí Khoa họcquân sự, số 11/2000; Lê Doãn Thuật, “GDQP trong các trường đại học và caođẳng - bốn vấn đề bức xúc cần tháo gỡ từ sở”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân
số 01/2002; Hoàng Văn Tòng, “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáodục quốc phòng – an ninh cho học sinh trung học phổ thông”, Tạp chí Quốcphòng toàn dân, (Số 8 – 2008), tr.79; Trần Đăng Thanh, Giáo dục lòng yêunước – Một nội dung quan trọng trong giáo dục quốc phòng cho học sinh sinhviên, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 03/2005; Đinh Trọng Tuấn, “Biệnpháp quản lý hoạt động dạy học cho sinh viên tại Trung tâm Giáo dục Quốcphòng an ninh Hà nội 1” năm 2009 Tôn Bảo, “Xây dựng nền quốc phòng –
an ninh vững mạnh – Nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay” năm
2012 Nguyễn Thiện Minh, “Đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng – anninh cho học sinh, sinh viên trong tình hình mới” năm 2013 Đỗ Bá Tỵ, “Đẩymạnh công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổquốc” năm 2014 Nguyễn Thiện Minh, “Tăng cường giáo dục quốc phòng và
an ninh cho học sinh, sinh viên trong tình hình hiện nay” năm 2016 Nguyễn
Trang 4trong tình hình mới” năm 2016 Hà Đình Soát, “Vai trò của công tác giáo dụcquốc phòng cho sinh viên giai đoạn hiện nay” năm 2016 Ngoài các bài báokhoa học đã đăng tải trên các tạp chí còn có một số đề tài nghiên cứu khoa học,các tài liệu, chuyên đề về công tác GDQP cho cán bộ, học sinh, sinh viên hiệnnay Nổi bật như Lê Minh Vụ (chủ nhiệm đề tài): “Đổi mới Giáo dục Quốcphòng trong hệ thống giáo dục quốc gia”, đề tài khoa học cấp nhà nước, 2006;Phạm Xuân Hảo (chủ nhiệm đề tài): “GDQP cho cán bộ, học sinh, sinh viên cáctrường đại học hiện nay” đề tài khoa học cấp Viện Khoa học Nhân văn Quân sự,
Bộ Quốc phòng, 2002;Hoàng Văn Tòng: “Một số biện pháp quản lý nhằm nângcao kết quả giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên tại các trung tâm giáodục quốc phòng” - Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục, 2004; Nguyễn ĐứcĐăng: “Quản lý công tác GDQPAN cho sinh viên hệ chính quy tại trường Đạihọc Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN” - Luận văn thạc sĩ Quản lý giáodục, 2011 Vương Quang Thái: “Biện pháp quản lý hoạt động tự học tại Trungtâm Giáo dục quốc phòng Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay – Đề tài nghiêncứu khoa học cấp cơ sở, 2015 Nguyễn Đức Đăng: “Quản lý hoạt động giáo dụcquốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học theo tiếp cậnquản lý chất lượng tổng thể” – Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục, 2016 Lại
Thanh Tú “Quản lý quá trình dạy học lý luận chính trị tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị quận Hà Đông, thành phố Hà Nội”, luận văn chuyên ngành QLGD năm 2013; Phùng Ngọc Thưởng “Quản lí quá trình dạy học ở các trường trung học phổ thông huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc”, luận văn chuyên ngành QLGD năm 2014; Nguyễn Phong Tân “Quản lý quá trình dạy học ở Trường Trung cấp Công thương Hà Nội hiện nay”, luận văn chuyên
ngành QLGD năm 2014; Các đề tài trên đã làm rõ hơn cơ sở lý luận về quản
lý quá trình dạy học nói chung và quản lý quá trình dạy học các môn học nóiriêng, đồng thời đánh giá thực trạng quản lý QTDH, làm rõ nguyên nhân củathực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
Trang 5QTDH, các giải pháp mà các tác giả quan tâm thực hiện như: Xây dựng kếhoạch; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên, tổ chức chỉđạo chặt chẽ các khâu các bước của QTDH và đổi mới kiểm tra đánh giá kếtquả dạy học.
Những công trình nghiên cứu và các bài viết trên đã thể hiện tầm quantrọng của công tác GDQPAN cho cán bộ, HSSV các trường chính trị, hànhchính, đoàn thể, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạynghề và THPT đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.Nhìn chung đây là những công trình nghiên cứu góp phần làm giàu tri thứcchuyên ngành QLGD Đồng thời những nghiên cứu này đã và đang góp phầnvận dụng những hiểu biết về quản lý, QLGD vào công tác quản lý quá trìnhdạy học GDQPAN đối với cán bộ, giảng viên và sinh viên nhằm góp phầnnâng cao chất lượng công tác GDQPAN Mặc dù vậy, vẫn chưa có đề tài nàotập trung đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống công tác quản lý quá trìnhdạy học ở Trung tâm GDQPAN, Đại học Quốc gia Hà Nội Do đó, tác giả đãlựa chọn đề tài này với mong muốn đề xuất được một số biện pháp quản lýquá trình dạy học, hướng tới nâng cao chất lượng dạy học GDQPAN ởTrung tâm trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu khái quát những vấn đề lý luận và làm rõ thực trạng quản
lý quá trình dạy học, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp quản lý QTDH ởTrung tâm GDQPAN, ĐHQGHN nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chấtlượng giáo dục đào tạo ở Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN trong giai đoạnhiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về QTDH, quản lý QTDH ở Trung tâm
Trang 6- Nghiên cứu, khảo sát thực trạng QTDH và quản lý QTDH ở Trungtâm GDQPAN, ĐHQGHN
- Đề xuất biện pháp quản lý QTDH ở Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHNhiện nay
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý quá trình dạy học ở các Trung tâm GDQPAN
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý QTDH ở Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN
* Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu quá trình dạy học vàquản lý quá trình dạy học ở Trung tâm GDQPAN, Đại học Quốc gia Hà Nội
từ năm 2013 đến nay
5 Giả thuyết nghiên cứu
Chất lượng dạy học ở Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN phụ thuộc vàonhiều yếu tố trong đó quản lý quá trình dạy học là một trong những yếu tốquan trọng Nếu đề xuất và triển khai các biện pháp quản lý phù hợp với yêucầu thực tiễn, đặc biệt tác động đồng bộ đến các khâu của quá trình dạy họcthì chất lượng quản lý quá trình dạy học ở Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN sẽđược nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong giáo dục đào tạo
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài dựa trên quan điểm lí luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn bản, chỉ thị, nghịquyết các cấp về giáo dục - đào tạo, quản lý giáo dục - đào tạo, GDQPAN chosinh viên Đồng thời, đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm của Phép biệnchứng, quan điểm hệ thống - cấu trúc (xem xét đối tượng nghiên cứu coi đónhư một hệ thống được cấu trúc bởi các thành phần có mối quan hệ tác động
Trang 7qua lại với nhau có cấu trúc thứ bậc Hệ thống đó luôn vận động và phát triểntrong những điều kiện hoàn cảnh nhất định), quan điểm lịch sử - lôgic, quanđiểm thực tiễn để nghiên cứu, phân tích những vấn đề liên quan.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu lý thuyết vàthực tiễn như:
- Tìm hiểu các khái niệm, thuật ngữ, tài liệu lý luận có liên quan đếnquá trình dạy học, quản lý quá trình dạy học
- Nghiên cứu các văn bản (chỉ thị, quyết định, quy chế …) của BộGD&ĐT, ĐHQGHN có liên quan đến quá trình dạy học, quản lý quá trìnhdạy học
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu đối với một sốđối tượng là sinh viên, cán bộ lãnh đạo quản lý, giảng viên ở trung tâmGDQPAN, ĐHQGHN
- Điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành nghiên cứu lấy phiếu điều tra dànhcho các đối tượng là cán bộ quản lý, giảng viên trực tiếp dạy học và sinh viên
đã học ở Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN
- Phương pháp quan sát, tổng kết thực tiễn
- Phương pháp thống kê toán học: áp dụng xử lý các kết quả điều tra
7 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài: “Quản lý quá trình dạy học ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và
An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội” đã làm rõ cả về lí luận và thực trạng vềcông tác quản lý QTDH ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh, Đạihọc Quốc gia Hà Nội Đề tài đã đề xuất được những biện pháp quản lý phùhợp với yêu cầu thực tiễn, tác động đồng bộ đến các khâu của QTDH gópphần nâng cao chất lượng dạy học tại Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN Đềtài có thể cung cấp những luận cứ khoa học cho đội ngũ cán bộ quản lý quá
Trang 8trình dạy học ở các Trung tâm GDQPAN khác, đồng thời cũng có thể là tàiliệu tham khảo cho các đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu.
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo, luận văn được trình bày 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý quá trình dạy học ở các Trung tâm
giáo dục quốc phòng và an ninh
Chương 2: Thực trạng quản lý quá trình quá trình dạy học ở Trung tâm
Giáo dục Quốc phòng và An Ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý quá trình dạy học ở Trung tâm Giáo dục
Quốc phòng và An Ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1 Quá trình dạy học
* Hoạt động dạy học
Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học,nhằm giúp cho người học lĩnh hội những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt độngnhận thức và thực tiễn, phát triển năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đóhình thành thế giới quan, phẩm chất nhân cách của người học theo mục tiêugiáo dục
Mục tiêu giáo dục là một hệ thống các chuẩn mực của một mẫu hìnhnhân cách cần hình thành ở một đối tượng người được giáo dục nhất định Đó
là một hệ thống cụ thể các yêu cầu xã hội trong mỗi thời đại, trong từng giaiđoạn xác định đối với nhân cách một loại đối tượng giáo dục Do đó, mục tiêugiáo dục phụ thuộc vào mỗi thời kỳ nhất định của quá trình phát triển xã hội
và mỗi giai đoạn của quá trình giáo dục con người
Dạy học được diễn ra chủ yếu trong nhà trường giúp học sinh tiếp thunhững kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại của nhân loại, hình thành những
kỹ năng, kỹ xảo và những năng lực, phẩm chất trí tuệ cần thiết của ngườicông dân, dạy học cũng là con đường cơ bản để hình thành thế giới quan khoahọc, phẩm chất đạo đức và phát triển nhân cách học sinh
Theo tác giả Hà thế Truyền: “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ cácthao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực
tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần,các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để
Trang 10trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trongtoàn bộ cuộc sống của mỗi người học” [38, tr.21].
Trong nhà trường, hoạt động dạy học hướng tới thực hiện mục tiêu giáodục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và nănglực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc(Điều 2 Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung 2009)
Hoạt động dạy (cũng còn được gọi là hoạt động giảng dạy) là hoạt động của người dạy tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của người học, giúp họ lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những giá trị theo mục tiêu giáo dục Hoặc cũng có thể hiểu: giảng dạy là quá trình hoạt động của nhà sư phạm với tư cách của người đi trước được đào tạo có phương pháp sư phạm, có kiến thức, có kinh nghiệm, làm nhiệm vụ tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học Hoạt động dạy có chức năng truyền đạt thông tin dạy - học và chỉ đạo hoạt động học[23;tr.7].
Trang 11Hoạt động học (cũng còn được gọi là hoạt động học tập) là hoạt động đặc thù của con người, diễn ra có ý thức, có đối tượng nhằm vào mục đích lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những giá trị và phương thức hành động, học tập để phát triển và hoàn thiện bản thân Hoặc cũng có thể hiểu: Học là quá trình nhận thức độc đáo của người học những kinh nghiệm lịch sử, xã hội, nhận thức lại những điều mà nhân loại đã nhận thức vào thực tiễn đương thời và thông qua đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động chủ động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan Hoạt động học có chức năng lĩnh hội, tiếp thu thông tin dạy của thầy và tự chỉ đạo, điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm của mình một cách tự giác, chủ động, tích cực, tự lực [23, tr.7].
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học: Hoạt động dạy và học mangtính chất hai chiều, đó là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và bổxung cho nhau, phối hợp chặt chẽ thống nhất biện chứng với nhau giữa ngườidạy và người học Hoạt động dạy và học diễn ra trong những điều kiện xác định,trong đó hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo, điều khiển, hướng dẫn, hoạt độnghọc đóng vai trò chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theomục tiêu giáo dục đã xác định; đó là phát triển nhân cách người học đáp ứng yêucầu của xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Có thể khái quát HĐDH luônthể hiện mối quan hệ biện chứng của hai hoạt động dạy của giáo viên và hoạtđộng học của học sinh; giữa truyền đạt và điều khiển trong dạy; giữa lĩnh hội và
tự điều khiển trong học
QTDH là một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù Xét vềbản chất, QTDH có thể hiểu như sau: QTDH là quá trình nhận thức độc đáocủa HSSV nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Quá trình đó luôn vậnđộng và phát triển theo những quy luật nhất định Hoạt động nhận thức đượctiến hành trong QTDH với những điều kiện sư phạm nhất định có sự hướngdẫn, tổ chức, điều khiển của giáo viên thông qua việc lựa chọn nội dung,
Trang 12phương pháp và các hình thức dạy học phù hợp để thực hiện đầy đủ nhiệm vụcủa QTDH với sự hợp tác chủ động, tích cực của người học nhằm đảm bảochất lượng và hiệu quả dạy học theo mục tiêu đã định.
Nội dung của QTDH là nội dung của các quá trình bộ phận hợpthành QTDH Các quá trình bộ phận này có những mục tiêu, nhiệm vụriêng nhưng tất cả đều phải đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu đào tạochung của nhà trường
Các yếu tố dạy học bao gồm: MTDH, NDDH, hình thức tổ chức dạyhọc, phương pháp, phương tiện dạy học, giáo viên và học sinh trong đó giáoviên là yếu tố chủ đạo và học sinh là yếu tố trung tâm của QTDH
* Quá trình dạy học môn giáo dục quốc phòng và an ninh
GDQPAN là một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàndân, an ninh nhân dân, là môn học chính khoá trong chương trình giáo dục từTHPT đến đại học
Học tập, bồi dưỡng kiến thức QPAN là quyền lợi và nghĩa vụ của cán
bộ, công chức, HSSV và của toàn dân Đối với cán bộ nhà nước, kiến thứcquốc phòng và an ninh tương ứng với chức danh cán bộ là một trong các tiêuchuẩn bắt buộc và là một trong những tiêu chí để xem xét, đề bạt, bổ nhiệm đốivới người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan, tổ chức các cấp, cácngành [10,tr27] Đối với HSSV, GDQP là một nội dung bắt buộc để có kiếnthức và kỹ năng về QPAN sẵn sàng tham gia bảo vệ Tổ quốc
Quá trình dạy học môn GDQPAN là quá trình có mục đích rõ ràng, có
tổ chức chặt chẽ, có chương trình, nội dung xác định, có cơ sở vật chất, vũ khíthiết bị kỹ thuật đảm bảo kết quả dạy học theo mục tiêu xác định Ở đó có sựphối hợp thống nhất chặt chẽ giữa hoạt động dạy và hoạt động học Đây làmối liên hệ sinh thành trong quá trình dạy học, qui định sự vận động, pháttriển của QTDH
Trang 13Từ những vấn đề trên, tác giả quan niệm: Quá trình dạy học môn GDQPAN là một quá trình có mục đích, có tổ chức, phối hợp thống nhất giữa hoạt động của giảng viên và sinh viên nhằm trang bị tri thức, bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo quân sự và hình thành phẩm chất, nhân cách cần thiết để
họ sẵn sàng làm tốt nghĩa vụ quốc phòng -an ninh bảo vệ Tổ quốc theo chức trách.
Mục tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh: Giáo dục cho công dân về
kiến thức quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thốngdựng nước và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, tráchnhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốcViệt Nam XHCN [32]
- QTDH môn GDQPAN cho sinh viên được thể hiện ở các mục tiêu cơbản như sau:
+ Về kiến thức: Có kiến thức cơ bản về đường lối quân sự của Đảng
trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; các quan điểm của Đảng về xây dựng nềnquốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân nhân, an ninh nhân dân; đấu tranh,phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lựcthù địch với cách mạng Việt Nam trong tình hình mới
+ Về kĩ năng: Thuần thục trong thao tác các kỹ năng quân sự cần thiết,
biết sử dụng một số loại vũ khí bộ binh, thành thạo trong sử dụng súng tiểuliên AK (CKC)
+ Về thái độ: Rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh chính trị vững vàng,
yêu nước, yêu yêu chủ nghĩa xã hội; xây dựng tác phong nhanh nhẹn; hìnhthành nếp sống có kỷ luật trong sinh hoạt tập thể, ý thức cộng đồng ởtrường, lớp và khi ra công tác
Những yêu cầu giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh:
Tiến hành đồng bộ bằng nhiều hình thức, nội dung phù hợp với từng đối
Trang 14tượng; xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy thống nhất bảođảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực và có hệ thống.
Nguyên lý giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh: Thực
hiện đúng đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước, có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lý thuyết đi đôi vớithực hành; GD trong nhà trường kết hợp tuyên truyền trên các phương tiệnthông tin đại chúng, trong các tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư
Nguyên tắc GDQPAN: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; Giáo dục quốc phòng và
an ninh là trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Nhà nướcgiữ vai trò chủ đạo; Kết hợp giáo dục quốc phòng và an ninh với giáo dụcchính trị tư tưởng, phổ biến, giáo dục pháp luật và gắn với xây dựng cơ sởvững mạnh toàn diện; Giáo dục toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm bằng cáchình thức phù hợp; kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa lý thuyết và thựchành; Chương trình, nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh phải phù hợpvới từng đối tượng, đáp ứng kịp thời tình hình thực tế; Bảo đảm bí mật nhànước, tính kế hoạch, kế thừa, phát triển, khoa học, hiện đại, dễ hiểu, thiết thực
và hiệu quả (Điều 5 Luật giáo dục quốc phòng và an ninh) [32]
1.1.2 Quản lý quá trình dạy học ở các Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh
Trang 15Theo từ điển Hán Việt, thuật ngữ “quản lý” bao gồm hai quá trình,
“quản” là việc coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, “lý” là việc sửasang, sắp xếp đổi mới đưa hệ thống (tổ chức) vào thế phát triển Nếu chỉ
“quản” thì tổ chức dễ trì trệ, còn chỉ “lý” thì tổ chức phát triển không bềnvững, không có hệ thống Do đó, trong “quản” phải có “lý” và ngược lại đểlàm cho tổ chức ở trạng thái cân bằng động, phù hợp, thích ứng và hiệu quảtrong mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bênngoài tổ chức
Theo từ điển Giáo dục học Việt Nam: “Quản lý là hoạt động hay tác động
có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thểquản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành vàđạt được mục đích của tổ chức” [42, tr.326]
Theo H.Koontz (Người Mỹ): Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằmđảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích củanhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đócon người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất [26, tr.46]
Theo F.W Taylor: “Quản lý là biết chính xác điều muốn người kháclàm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻnhất” [24, tr.12]
H.Fayol (1841-1925) coi quản lý là một loại công việc đặc thù, ông đã nói
về nội hàm của khái niệm như sau: "quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉhuy, phối hợp và kiểm tra" Fayol còn chứng minh được rằng khoa học quản lý -
"quản lý hành chính", không những cần thiết cho các các tổ chức công nghiệp vàhãng kinh doanh mà có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức, kể cả cơ quan củaChính phủ vì quản lý ở một tổ chức đều có chung những chức năng trên
M.T.Follet (1868-1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú trọng
Trang 16yếu tố tinh thần và tình cảm Theo Bà "Quản lý là nghệ thuật khiến cho côngviệc được thực hiện thông qua người khác".
C.I.Bamard (1886 - 1961) quan tâm đến đối tượng quản lý là các cánhân con người đơn nhất và coi tổ chức như một hệ thống mở tức là nhấnmạnh đến mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận với hệ thống, giữa hệ thốngvới môi trường đặc thù của tổ chức và đối tượng của quản lý không phải làhoạt động của các cá nhân hoặc bộ phận mà là một hệ thống - tổ chức nhấtđịnh Do vậy "Quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việcchuyên môn duy trì hoạt động của tổ chức”
Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: "Quản lý là những tác động có địnhhướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổchức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định"
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình địnhhướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là quá trình tác độngđến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [25, tr.28]
Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Nguyễn Quốc Chí: “Quản lý là quá trìnhđạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)
kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”[27, tr.1]
Trong tác phẩm: “Khoa học tổ chức và quản lý” của Trung tâm Nghiêncứu Khoa học tổ chức, quản lý, tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý làmột nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp,hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác” [1, tr.176]
Từ các cách định nghĩa trên ta thấy: Quản lý dù nhìn ở góc độ nào thì
nó cũng là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến kháchthể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung Quá trình tác động này được vận hànhtrong một môi trường xác định Sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thểquản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu của quản lý đặt ra thông qua cáccông cụ và phương pháp của chủ thể quản lý trong môi trường của nó
Trang 17Như vậy, khái niệm quản lý thường được hiểu như sau: Quản lý là sựtác động có chủ đích, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý tớiđối tượng quản lý thông qua kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để nhằmđạt tới những mục tiêu nhất định.
* Các chức năng cơ bản của quản lý
Với tư cách là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong việc duytrì và phát triển một tổ chức, quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức,chỉ đạo và kiểm tra
Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của quản lý
vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai vàcác chức năng còn lại của quản lý cũng phải dựa trên nó Nhà công tác lập kếhoạch, người lãnh đạo của hệ thống sẽ tổ chức, điều khiển và kiểm tra nhằmđảm bảo việc thực hiện các mục tiêu trong kế hoạch
Lập kế hoạch là một phương pháp tiếp cận hợp lý để hướng tới các mụctiêu định trước Vì phương pháp tiếp cận này không tách rời khỏi môi trường,nên việc lập kế hoạch phải xét tới bản chất của môi trường
Lập kế hoạch là quyết định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khinào làm và ai làm Nó đòi hỏi người lãnh đạo của tổ chức phải xác định cácđường lối chiến lược một cách có ý thức và đưa ra các quyết định dựa trên sựhiểu biết và những đánh giá thận trọng
Tổ chức là quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực
để đạt được mục tiêu đã xác định Đó là sự liên kết giữa các cá nhân trongnhững quá trình, những hoạt động trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề
ra trên cơ sở các nguyên tắc của hệ thống
Chức năng tổ chức còn là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lýtrong mối quan hệ đan xen giữa chúng Cơ cấu tổ chức quản lý là hình thức phâncông nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý, có tác động đến quá trình hoạt động của hệthống quản lý Cơ cấu tổ chức quản lý, một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của
Trang 18mỗi người trong hệ thống, mặt khác có tác động tích cực trở lại đến việc phát triểncủa hệ thống nếu tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức quản lý.
Chỉ đạo có nguồn gốc từ hai thuật ngữ: lãnh đạo và điều hành.
Chỉ đạo vừa có ý nghĩa chỉ thị để điều hành, vừa là tác động ảnh hưởngtới hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ chức trên cơ sở sử dụng đúngcác quyền lực của người quản lý
Chỉ đạo là quá trình tác động, gây ảnh hưởng đến thành viên trong tổchức để công việc của họ làm hướng tới các mục tiêu chung đề ra Nhà quản
lý phải có khả năng truyền đạt và thuyết phục các mục tiêu cho nhân viên vàthúc đẩy họ đạt được mục tiêu bằng nhiều con đường, biện pháp khác nhau
Chỉ đạo là một chức năng quan trọng trong công tác quản lý nói chung,quản lý nhà trường nói riêng Công tác chỉ đạo quản lý của mỗi cấp học phụthuộc vào mục tiêu của cấp học đó Mục tiêu quản lý nhà trường phải đượcxác định trên cơ sở nhiệm vụ của nhà trường và xuất sứ tình hình thực tế nhàtrường Từ nhiệm vụ đó xác định rõ mục tiêu quản lý cho từng giai đoạn pháttriển của nhà trường Để đạt được mục tiêu quản lý nhà trường người quản lýnhà trường phải thể hiện vai trò của người quản lý biến trạng thái hiện tại củanhà trường sang trạng thái mục tiêu
Nhiệm vụ của người quản lý khi thực hiện chức năng chỉ đạo là: Raquyết định, thông báo truyền đạt quyết định, hướng dẫn động viên giúp đỡcấp dưới thực hiện quyết định, hướng dẫn điều chỉnh những lệch lạc sai sótxuất hiện trong quá trình thực hiện huấn luyện cán bộ và nhân viên dướiquyền
Sự chỉ đạo trong nhà trường phải đảm bảo các nguyên tắc:
Nguyên tắc đảm bảo quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước trong nhàtrường là quản lý bằng Pháp luật, điều lệ, quy định, quy chế
Nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân: Trong công tác quản lý nhàtrường, quản lý dạy học là quan trọng nhất Đề xác định trách nhiệm của giáo
Trang 19viên, người quản lý cần phải dựa vào các quy định có tính chất nhà nước đốivới các công việc cụ thể của người giáo viên.
Nguyên tắc phân công công việc, giao nhiệm vụ hợp lý, phù hợp vớinăng lực giáo viên, sát với thực tế Để đảm bảo nguyên tắc này người quản lýcần nắm chắc thực trạng tình hình nhà trường, đội ngũ giáo viên, điều kiện,năng lực của mỗi giáo viên trong nhà trường
Nguyên tắc phối hợp tốt giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường.Phối hợp các đoàn thể: Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Chính quyền dưới sựlãnh đạo thống nhất của Đảng bộ nhà trường sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp trên
cơ sở xây dựng tốt các mối quan hệ
Về nội dung công tác chỉ đạo bao gồm: Chỉ đạo lập kế hoạch, chỉ đạo
tổ chức thực hiện kế hoạch và chỉ đạo kiểm tra đánh giá Giữa chúng có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau
Kiểm tra là quá trình thiết lập và thực hiện cơ chế thích hợp để thu thập
và xử lý thông tin đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức Một phần quantrọng của kiểm tra là đánh giá tiến trình thực thi và điều chỉnh hệ thống trongquá trình hoạt động để có giải pháp xử lý, đồng thời tìm kiếm các cơ hội, cácnguồn lực có thể khai thác để tận dụng, thúc đẩy hệ thống sớm đạt được mụctiêu dự định
Quy trình kiểm tra của người quản lý là: Người quản lý đặt ra nhữngchuẩn mực của hoạt động, sau đó đối chiếu, đo lường kết quả hoạt động đạtđược so với chuẩn mực đã đặt ra; người quản lý tiến hành điều chỉnh nhữngsai lệch và cuối cùng là hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực khi thấy nó không cònphù hợp với thực tiễn
* Quản lý quá trình dạy học
Theo tác giả Đỗ Bích Ngọc “Quản lý quá trình dạy học là một bộ phậncấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lý quá trình giáo dục và đào tạo
Trang 20trong trường học Quá trình thực hiện các chức năng tổng hợp, phát triển nhâncách, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài’’[30, tr.41].
“Quản lý quá trình dạy học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm cho QTDH vận hành theo đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thực hiện những yêu cầu của nền giáo dục xã hội trong việc đào tạo con người theo mẫu người của thời đại, phát triển đồng đều các yếu tố của QTDH, tập trung vào hoạt động dạy học, vào giáo dục, đưa hệ vận động từ trạng thái ban đầu đến trạng thái mục tiêu xác định”.
- Mục tiêu của quản lý quá trình dạy học
Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đốitượng quản lý hay một số yếu tố cấu thành nào đó Nói cách khác, mục tiêuquản lý là những kết quả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt được do quá trìnhvận động của đối tượng quản lý dưới sự điều khiển của chủ thể quản lý thôngqua các công cụ quản lý
- Đối tượng của quản lý quá trình dạy học
Toàn bộ các yếu tố của QTDH nhưng chủ yếu là sự hoạt động củagiảng viên, HSSV và các tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thựchiện các kế hoạch và chương trình dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học đã quiđịnh với chất lượng cao Đối tượng của quản lý QTDH có thể được coi nhưmột hệ thống mang tính xã hội bao gồm bốn thành tố:
Tư tưởng (quan điểm, chủ trương, chính sách, chế độ…)
Con người (giảng viên, sinh viên)
Hoạt động (việc học, việc dạy)
Vật chất (phòng học, thao trường, bãi tập, thư viện, nhà kho, trang thiết
bị, nguyên vật liệu)
Trang 21Trong cách nói thông dụng, khi nói đến quản lý con người (giảng viên,sinh viên), quản lý hoạt động (việc dạy, việc học) hay quản lý vật chất(trường sở, trang thiết bị…) thì cần phải hiểu là quản lý nội dung của các họatđộng tương ứng với từng nhiệm vụ quản lý ở các đối tượng quản lý Ví dụ,khi nói đến quản lý cơ sở vật chất thì cần xác định rõ quản lý sự bảo quản hay
sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường Nói cách khác, mặc dùđối tượng quản lý QTDH theo cách nói thông thường có thể là người, là việchay vật, nhưng thực chất của đối tượng quản lý trong các trường học phảihiểu là sự họat động của một người hay tập thể với những mục tiêu và nhiệm
vụ nhất định của họ
- Nội dung của quản lý quá trình dạy học
Để đạt được mục tiêu và yêu cầu quản lý nói trên, công tác quản lýQTDH phải thực hiện các nội dung quản lý bộ phận là:
Quản lý nội dung chương trình giảng dạy
Quản lý hoạt động dạy của giảng viên
Quản lý hoạt động học của sinh viên
Quản lý nền nếp dạy học
Quản lý việc kiểm tra, đánh giá
Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Từ những luận giải về quá trình dạy học, quản lý quá trình dạy học, tác
giả cho rằng: “Quản lý QTDH ở Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch và hợp quy luật của các chủ thể quản lý tới toàn bộ QTDH ở Trung tâm nhằm đảm bảo QTDH đó diễn ra một cách bình thường và đạt được mục đích đã xác định”
Quan niệm trên thể hiện tính hướng đích của quản lý QTDH là tậptrung nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể quản lý, nhằm thực
Trang 22hiện tốt nhiệm vụ dạy của giảng viên, học của sinh viên, từ đó đạt được mục
tiêu quản lý QTDH đã xác định Điều đó được thể hiện trên sáu mặt
Một là, mục đích quản lý QTDH nhằm đảm bảo, giữ vững và nâng cao
chất lượng dạy học GDQPAN của Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN
Hai là, chủ thể quản lý QTDH là Cấp uỷ, BGĐ Trung tâm GDQPAN,
ĐHQGHN, Phòng Đào tạo & Quản lý sinh viên, Phòng Hành chính tổ chức,Phòng Hậu Cần, Kỹ thuật, Khoa Quân sự, Khoa Chính trị và chính bản thânđội ngũ giảng viên, sinh viên
Ba là, đối tượng quản lý QTDH là giảng viên và sinh viên, chịu sự tác
động, điều khiển của chủ thể quản lý Như vậy, giảng viên và sinh viên vừa làchủ thể vừa là khách thể trong hệ thống quản lý
Bốn là, nội dung quản lý QTDH chính là quản lý việc thực hiện tốt các
thành tố của quá trình dạy học Đó là quản lý thực hiện tốt mục tiêu chương trình,nội dung, kế hoạch dạy học; quản lý hoạt động dạy của giảng viên; quản lý hoạtđộng học của sinh viên; quản lý tốt các điều kiện bảo đảm cho QTDH Đồng thờiquản lý tốt việc kiểm tra, đánh kết quả dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạyhọc, đạt được mục đích quản lý của Trung tâm đã xác định
Năm là, phương pháp quản lý QTDH phong phú, đa dạng, bao gồm
toàn bộ những cách thức, biện pháp tác động, điều khiển của chủ thể quản lýđến đối tượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện nhằm đạt đượcmục tiêu quản lý đã xác định Việc xác định phương pháp quản lý QTDH phảiđảm bảo tính khoa học, thống nhất, khả thi, phù hợp với chức năng, nhiệm vụcủa giảng viên, đặc điểm hoạt động học của sinh viên, tăng cường hiệu quảquản lý nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, trong đó phương pháp quản lý hànhchính quân sự, phương pháp giáo dục - tâm lý, phương pháp kích thích lànhững phương pháp chủ đạo, được sử dụng phổ biến
Sáu là, công cụ quản lý QTDH là toàn bộ hệ thống văn bản như: Luật
Giáo dục, Luật Giáo dục Đại học; Luật GDQP-AN; Quy chế GDĐT của
Trang 23Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN; Nghị quyết Đại hội đảng bộ Trung tâmGDQP-AN, ĐHQGHN, nhiệm kỳ 2015- 2020; Kế hoạch điều hành huấnluyện của Trung tâm, thông qua chỉ đạo, hướng dẫn của các phòng, ban chứcnăng; kết luận của BGĐ Trung tâm GDQP-AN về thực hiện nhiệm vụ giảngdạy, học tập GDQPAN
1.1.3 Nội dung quản lý quá trình dạy học ở Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội
* Quản lý nội dung chương trình môn học
Quản lý nội dung chương trình môn học là quản lý việc giảng dạy của các
cơ sở GDQPAN có đúng, đủ nội dung chương trình đã được ban hành theoThông tư số 31/2013/TT-BGDĐT ngày 12/9/2012 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐThay không [6]; quản lý học tập, rèn luyện, kiểm tra, đánh giá kết quả học tậpcủa sinh viên Trong quản lý quá trình đào tạo, quản lý thực hiện nội dungchương trình đúng, đủ về thời lượng là quan trọng nhất; tránh tình trạng cắnxén trong giảng dạy, từ đó dẫn tới không bảo đảm chất lượng môn học
Thực hiện chương trình dạy học là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo kế hoạchđào tạo theo đúng mục tiêu, đó là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ GD&ĐT, BộQuốc Phòng ban hành BGĐ các Trung tâm GDQPAN trước hết phải nắm chắcchương trình môn học, quán triệt cho mọi giảng viên thực hiện nghiêm túc Đểlàm được điều này, BGĐ Trung tâm GDQPAN phải yêu cầu giảng viên lập kếhoạch giảng dạy bộ môn, thường xuyên theo dõi việc thực hiện chương trình.BGĐ Trung tâm GDQPAN cần phải: hiểu nguyên tắc, cấu tạo chương trìnhmôn học; nắm vững phương pháp đặc trưng bộ môn để điều hành và giúp bộphận cũng như cá nhân giảng viên chuẩn bị phương tiện phù hợp; chỉ đạo tổ bộmôn thảo luận những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giảng dạy và thống nhất trongnhóm, tổ bộ môn sau khi đã bàn bạc thảo luận; phổ biến kịp thời những thay đổinội dung chương trình, phương pháp giảng dạy bộ môn … BGĐ Trung tâm
Trang 24GDQPAN phải xây dựng kế hoạch điều hành chung để đảm bảo cân đối chocác hoạt động, trong đó có việc thực hiện chương trình môn học
* Quản lý hoạt động dạy của giảng viên
Quản lý hoạt động dạy môn GDQPAN thực chất là quản lý nhiệm vụgiảng dạy của đội ngũ giảng viên Thầy truyền đạt cho trò kiến thức cơ bản vềđường lối quốc phòng, an ninh và công tác quản lý nhà nước về quốc phòng,
an ninh; về truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc,về nghệ thuậtquân sự Việt Nam; về chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của cácthế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam, đồng thời với đó là hệ thống kỹnăng quân sự cần thiết đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố nền quốc phòngtoàn dân, an ninh nhân dân, sẵn sàng bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN vànhững giá trị về tư tưởng, phẩm chất khác Đồng thời thầy có nhiệm vụ luôntrau dồi, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng giảngdạy của mình Trong quá trình GD&ĐT, giảng viên vừa là đối tượng quản lý,vừa là chủ thể quản lý của hoạt động dạy Quản lý hoạt động dạy mônGDQPAN bao gồm:
Quản lý việc lập kế hoạch công tác giảng dạy của giảng viên
Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giảng viên
Quản lý việc sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học của giảng viên Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Quản lý việc tự học, tự bồi dưỡng của giảng viên
* Quản lý hoạt động học của sinh viên
Quản lý sinh viên học tập GDQPAN thực hiện như sinh viên học cácmôn học khác; song do tính chất đặc thù của môn học nên sinh viên họcmôn GDQPAN vừa học tập lĩnh hội kiến thức vừa rèn luyện lễ tiết, tácphong, tính kỷ luật gần như trong môi trường quân đội
Quản lý sinh viên học tập GDQPAN: sinh viên phải nghiêm chỉnh
Trang 25chấp hành đầy đủ các quy định trong học tập Sinh viên có đủ số lần kiểmtra cho mỗi học phần theo quy định; mỗi lần kiểm tra đạt từ 5 điểm trở lên
và có đủ 80% thời gian có mặt nghe giảng lý thuyết trên lớp và thực hànhtại thao trường sẽ được dự thi kết thúc học phần lần thứ nhất Mỗi sinh viênphải dự thi đủ các học phần quy định trong chương trình
Sinh viên thuộc đối tượng được miễn học, miễn thi, miễn học các nộidung thực hành và tạm hoãn học là:
- Đối tượng được miễn học môn học GDQPAN:
a) Học sinh, sinh viên có giấy chứng nhận sĩ quan dự bị hoặc bằng tốtnghiệp do các trường quân đội, công an cấp;
b) Học sinh, sinh viên đã có chứng chỉ GDQPAN tương ứng với trình
độ đào tạo;
c) Học sinh, sinh viên là người nước ngoài
- Đối tượng được miễn học, miễn thi học phần, nội dung trong chương trình GDQPAN, gồm: học sinh, sinh viên có giấy xác nhận kết quả học tập
các học phần, nội dung đó đạt từ 5 điểm trở lên theo thang điểm 10
- Đối tượng được miễn học, các nội dung thực hành kỹ năng quân sự:
a) Học sinh, sinh viên là người khuyết tật, có giấy xác nhận khuyết tậttheo quy định của pháp luật về người khuyết tật;
b) Học sinh, sinh viên không đủ sức khỏe về thể lực hoặc mắc nhữngbệnh lý thuộc diện miễn làm nghĩa vụ quân sự theo quy định hiện hành;
c) Học sinh, sinh viên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, công an nhân dân
- Đối tượng được tạm hoãn học môn học GDQPAN:
a) Học sinh, sinh viên vì lý do sức khỏe phải dừng học trong thời giandài để điều trị, phải có giấy xác nhận của bệnh viện nơi học sinh, sinh viênđiều trị;
b) Học sinh, sinh viên là nữ đang mang thai hoặc trong thời gian nghỉ
Trang 26Các đối tượng này phải được sự đồng ý của giám đốc, hiệu trưởng.Hết thời gian tạm hoãn, các cơ sở giáo dục bố trí cho sinh viên vào học cáclớp phù hợp để hoàn thành chương trình.
Sinh viên học GDQPAN tại các trung tâm được học tập, rèn luyện
và sống trong môi trường gần với môi trường quân đội Sinh viên được biênchế theo từng tiểu đội, trung đội (lớp), được ăn, ở và học tập tập trung nhưcác đơn vị quân đội; thực hiện 11 chế độ trong ngày và 3 chế độ trong tuần
Sinh viên học GDQPAN tại khoa hoặc bộ môn GDQP, AN chỉ đượchọc kiến thức trong nội dung chương trình môn học, không có điều kiện
và môi trường học tập, rèn luyện gần như môi trường quân đội Đây cũng lànhững hạn chế trong học tập GDQPAN tại các nhà trường, không tạo được ýthức tập thể, sát thực tế, tính cộng đồng
* Quản lý nền nếp dạy - học
Quản lý nề nếp dạy học là quản lý việc chấp hành các qui định (điều lệ,nội qui, quy chế, chế độ,…) do Nhà nước, các Bộ, cơ quan ban ngành, cơ sởgiáo dục quy định về quá trình dạy học đảm bảo cho các hoạt động đó đượctiến hành có nền nếp, ổn định, có kỷ cương phép tắc, nghiêm chỉnh, tự giác,
có hiệu suất và chất lượng cao Quản lý nề nếp dạy học bao gồm quản lý nềnếp trong hoạt động dạy của giảng viên và quản lý nề nếp trong hoạt độnghọc của sinh viên
* Quản lý việc kiểm tra, đánh giá
Trong quá trình đào tạo, việc kiểm tra đánh giá là một khâu cơ bản,một nhiệm vụ thường xuyên của các cơ sở giáo dục đào tạo, là một yếu tố thúcđẩy sự nỗ lực trau dồi kiến thức và nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ nhà giáo và
sự rèn luyện, học tập của người học, kiểm định chất lượng dạy và học giữ vaitrò quan trọng đối với chất lượng đào tạo Nhiều nhà lý luận và thực tiễn quản lý
đã khẳng định: Không kiểm tra cũng có nghĩa là không quản lý; Không quản lýthì quá trình dạy học sẽ diễn ra một cách tự phát, diễn biến sẽ khó có thể kiểmsoát, dẫn tới một số khâu kết quả không cao kéo theo cả quá trình khó có thể
Trang 27hoàn thành được mục tiêu như mong muốn Ngược lại, kiểm tra giúp cho ngườiquản lý nắm chắc được tình hình và đưa ra những quyết định chính xác.
* Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ quá trình dạy học
CSVC, trang thiết bị dạy học có vai trò quan trọng trong dạy học nóichung và trong dạy học GDQPAN nói riêng CSVC, trang thiết bị dạy họctốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả môn học, tạo sự say mê, hứngthú trong giảng dạy và học tập
GDQPAN cho sinh viên trong các trường ĐHCĐ trước kia vốn đượcxem là môn học khô khan đến nay do được đầu tư CSVC, PTDH và ứngdụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đã góp phần giúp giảng viêntruyền tải kiến thức tới người học một cách hiệu quả, người học hứng thú,say mê trong học tập Với vị trí, tầm quan trọng của CSVC, t r a n g thiết bịdạy học thì việc mua sắm và quản lý để việc sử dụng được giữ tốt, dùng bềnđóng vai trò rất quan trọng đối với nhà quản lý
GDQPAN là môn học đặc thù do đó về cơ sở vật chất, PTDH cũngđược quản lý chặt chẽ từ khâu mua sắm, sử dụng và bảo quản Sản xuất thiết
bị dạy học môn GDQPAN chủ yếu do các đơn vị quân đội đảm nhiệm, cónhững chủng loại chỉ có một nhà máy sản xuất do vậy trong mua sắm khôngthể áp dụng mời thầu cạnh tranh mà thực hiện theo chỉ định thầu; trong khaithác sử dụng và quản lý có sự chỉ đạo thống nhất giữa Bộ GD&ĐT, Bộ Quốcphòng, Bộ Công an và các cơ sở GDQPAN
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý quá trình dạy học ở các Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh
1.3.1 Đặc điểm đội ngũ giảng viên
Đây là vấn đề chi phối, tác động trực tiếp đến kết quả giáo dục quốcphòng và an ninh Hiện nay, do số lượng sinh viên nhiều, nên nhu cầu giảngviên giảng dạy môn giáo dục quốc phòng và an ninh rất lớn Trong khi đó,công tác đào tạo giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh chưa đáp ứng
Trang 28được yêu cầu đặt ra Phần lớn giảng viên các trung tâm giáo dục quốc phòng
và an ninh là sĩ quan quân đội biệt phái Tuy họ có kinh nghiệm, kiến thức vềcông tác này và tâm huyết, trách nhiệm với công việc, nhưng chưa thực sựđảm bảo mặt bằng chuẩn về trình độ so với giảng viên các trường đại học.Qua khảo sát cho thấy, sĩ quan biệt phái có trình độ đại học trở lên khoảng88% (có 8% là thạc sĩ, chưa có tiến sĩ), còn lại là trình độ cao đẳng; cá biệtvẫn còn giảng viên chưa có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm Mặt khác, giảngviên giáo dục quốc phòng và an ninh chưa cân đối về chuyên môn quân sự.Trong đó, khoa học quân sự quân binh chủng chiếm 49,5%, chính trị và quân
sự chỉ là 27,5%, binh chủng hợp thành: là 23% Như vậy, tỷ lệ sĩ quan biệtphái được đào tạo thuộc quân chủng, binh chủng chiếm gần 50%, tươngđương với chuyên ngành chính trị, quân sự Điều này sẽ ảnh hưởng đến việcsắp xếp, phân công giảng viên giảng dạy, bởi nội dung lý luận, đường lốiquân sự và công tác quốc phòng - an ninh chiếm 90 tiết/165 tiết Thêm vào
đó, do lưu lượng sinh viên hằng năm lớn, nên sĩ quan biệt phái phải đảmnhiệm số giờ giảng dạy lớn (bình quân gấp 2 lần so với quy định - 800tiết/năm) Điều đó, ảnh hưởng không nhỏ đến việc tự nghiên cứu, bồi dưỡng
và đào tạo lại để nâng cao trình độ của giảng viên
1.2.2 Đặc điểm đối tượng sinh viên của Trung tâm
Sinh viên ở các trường đại học về độ tuổi còn trẻ, có sức khỏe, năng động.Tuy nhiên, đây cũng là lứa tuổi dễ bị tác động, ảnh hưởng từ những tiêu cực củamặt trái nền kinh tế thị trường, có thái độ học tập rèn luyện chưa đúng đắn, nhất
là đối với nhiệm vụ học tập môn GDQPAN, chưa thấy rõ được trách nhiệm củamình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ đó nảysinh tư tưởng chủ quan, thiếu tích cực trong học tập, rèn luyên bản thân, có lốisống thực dụng, đề cao tự do cá nhân chưa biết khép mình vào tổ chức, tôn trọngtập thể, chưa có ý thức tổ chức kỷ luật Dẫn đến hành vi thiếu chuẩn mực, ảnhhưởng không nhỏ đến việc rèn luyện hình thành những phẩm chất nhân cách, kỹnăng kỹ xảo của sinh viên
Trang 29Thực tế hiện nay, do đối tượng đầu vào đa dạng (có đối tượng phải thituyển, có đối tượng được cử tuyển, xét tuyển, liên kết đào tạo ) dẫn đến trình
độ nhận thức không đồng đều, về khả năng lĩnh hội tri thức khoa học đặc biệt lànhững tri thức khoa học quân sự là rất khác nhau, khiến quá trình dạy học chosinh viên ở cácTrung tâm gặp nhiều khó khăn, giảng viên mất nhiều thời gian đểcủng cố, lấp lỗ hổng về kiến thức cho sinh viên, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quảQTDH ở Trung tâm
1.2.3 Nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo
Chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh ban hành cho đối tượngđại học, cao đẳng hiện nay về cơ bản là phù hợp với mục tiêu, yêu cầu củamôn học Tuy nhiên, cũng có một số nội dung, chuyên đề không còn phùhợp; hơn nữa, có nhiều sinh viên cho rằng môn học khô khan, khó hiểu, khónhớ (nhất là phần về đường lối, quan điểm) Vì vậy, trên cơ sở nội dung,chương trình khung giáo dục quốc phòng và an ninh do Bộ Giáo dục và Đàotạo ban hành, các trung tâm, khoa giáo dục quốc phòng và an ninh cần phảixây dựng nội dung, chương trình phù hợp, đảm bảo sát với chuyên ngành màsinh viên theo học; kịp thời cập nhật tình hình thời sự, chính trị trong nước
và quốc tế trong từng bài giảng để gây hứng thú cho người học Trong đó,tập trung vào điều chỉnh các chuyên đề: “Xây dựng nền quốc phòng toàndân, an ninh nhân dân”, “Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân”, “Kết hợpkinh tế với quốc phòng”, “Phòng, chống chiến lược Diễn biến hòa bình”,
“Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia”, “Về dân tộc,tôn giáo”, “Chống tội phạm, tệ nạn xã hội”,… bám sát chủ trương, quanđiểm của Đảng và sự phát triển của tình hình Đặc biệt, phải chú ý phân tíchthêm tình hình biển, đảo và biên giới quốc gia hiện nay, nguy cơ chiến tranh
và xung đột vũ trang trên thế giới để vừa minh họa cho các chuyên đề, vừađịnh hướng tư tưởng cho sinh viên Bên cạnh đó, cũng cần điều chỉnh cấutrúc bài giảng để tránh sự trùng lặp, v.v
Trang 301.2.4 Điều kiện đảm bảo cho quá trình dạy học
Về lãnh đạo, chỉ huy: Năng lực lãnh đạo, quản lý của cấp uỷ, chỉ huy các
cấp; năng lực bảo đảm các điều kiện cho HĐDH của giảng viên; sự liên kết, phốihợp giữa các cơ quan, các khoa giáo viên và các đơn vị quản lý học viên; truyềnthống đoàn kết, bầu không khí dân chủ, mối quan hệ ứng xử, hợp tác trongHĐDH của các tổ chức với các khoa giáo viên, từng giảng viên, đảm bảo chocác HĐDH, quản lý HĐDH môn QSC đạt kết quả tốt nhất
Về các thiết chế đảm bảo quá trình dạy học: Là hệ thống văn bản pháp
quy bảo đảm cho sự vận hành và phát triển quá trình dạy học như: Quy chế, quyđịnh, chỉ thị, công văn, hướng dẫn để chỉ đạo, điều hành HĐDH đạt được mụctiêu quản lý của Trung tâm
Về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học: Giáo dục quốc phòng và an ninh là
môn học có tính đặc thù, cần có cơ sở vật chất và điều kiện đảm bảo cho hoạtđộng dạy học riêng biệt, nhất là khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực
Để ứng dụng có hiệu quả các phần mềm tin học hiện đại, cần phải có cácphòng học chuyên dùng được trang bị thiết bị âm thanh, tranh ảnh, mô hình,học cụ, máy chiếu, máy tính, v.v Các phòng học như thế sẽ dễ dàng giúp chosinh viên hiểu rõ các nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh, như: về kỹthuật, chiến thuật và nghệ thuật quân sự Đặc biệt, nếu phòng học được trang
bị máy bắn điện tử, máy bắn laze, thiết bị tập bắn MBT-03, TB-95, sẽ tạocho các bài giảng về đường đạn, góc bắn, uy lực của vũ khí huỷ diệt lớn, kỹthuật bắn súng trở nên hấp dẫn, sát với thực tế chiến đấu, không những làm cơ
sở để người học nắm chắc, hiểu sâu từng nội dung, mà còn có thể tự mình biếtkết quả để điều chỉnh từng phát bắn Ứng dụng công nghệ thông tin không chỉtạo được sự hứng thú, say mê, rèn luyện bản lĩnh, tâm lý cho học viên, mà còngóp phần quản lý chặt chẽ, đánh giá chính xác, trung thực kết quả học tập, rènluyện của từng sinh viên
Trang 311.3 Định hướng đổi mới công tác giáo dục quốc phòng và an ninh ở các Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh trong giai đoạn hiện nay
GDQPAN cho sinh viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng gópphần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Qua đó tạo điều kiện cho thế hệtrẻ - những trí thức, chủ nhân tương lai của đất nước có điều kiện rèn đức,luyện tài để sẵn sàng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thànhcông và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN
GDQPAN góp phần xây dựng, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tácphong làm việc khoa học Giảng dạy và học tập có chất lượng môn họcGDQPAN là góp phần đào tạo cho đất nước một đội ngũ cán bộ khoa học kỹthuật, cán bộ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ có ý thức, có trình độ năng lựcsẵn sàng tham gia thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa trên mọi cương vị công tác
* Mục tiêu chương trình môn học
- GDQPAN là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung
cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, là mônhọc chính khoá trong chương trình giáo dục của cấp THPT và trình độ đào tạotrung cấp chuyên nghiệp, ĐHCĐ
- Môn học GDQPAN góp phần giáo dục cho sinh viên về lòng yêunước, yêu yêu chủ nghĩa xã hội, niềm tự hào và sự trân trọng đối với truyềnthống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, của các lực lượng vũ trangnhân dân Việt Nam; có ý thức cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn của các thếlực thù địch; có kiến thức cơ bản về đường lối quốc phòng, an ninh và côngtác quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh; có kỹ năng quân sự, an ninh cầnthiết để tham gia vào sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân,
an ninh nhân dân, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của môn học bao gồm đường lối quân sự củaĐảng, công tác quốc phòng, an ninh, quân sự và kỹ năng quân sự cần thiết
Trang 32- Nghiên cứu về đường lối quân sự của Đảng: Nghiên cứu những quanđiểm cơ bản có tính chất lý luận của Đảng về đường lối quân sự, bao gồm:những vấn đề cơ bản của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vềchiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc; quan điểm của Đảng về xây dựngnền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lựclượng vũ trang nhân dân, an ninh nhân dân; về kết hợp phát triển kinh tế - xãhội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và một số nội dung cơ bản
về lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam qua các thời kỳ
Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quânđội và bảo vệ Tổ quốc mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc Đó là cơ sở
lý luận để Đảng Cộng Sản Việt Nam đề ra chủ trương, đường lối chiến lượcxây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vàtiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốctrong giai đoạn hiện nay không chỉ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùngbiển, hải đảo mà còn phải bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nền văn hoácủa dân tộc Các quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân,xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiến hành chiến tranh nhân dân đều cótính kế thừa và phát triển những truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc “cảnước một lòng chung sức đánh giặc”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ chốnglớn” Đó cũng chính là đặc trưng nghệ thuật quân sự Việt Nam đã chiến thắngcác kẻ thù hung hãn nhất Nghiên cứu đường lối quân sự của Đảng góp phầnhình thành niềm tin khoa học, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng và lýtưởng cho sinh viên
- Nghiên cứu về công tác QPAN: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản vềnhiệm vụ, nội dung công tác quốc phòng, an ninh của Đảng hiện nay, baogồm: xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, tăngcường tiềm lực cơ sở vật chất, kỹ thuật quốc phòng, phòng chống chiến tranhcông nghệ cao, đánh bại chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ củacác thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam; một số vấn đề dân tộc, tôn giáochống phá cách mạng Việt Nam; xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chủ
Trang 33quyền biển đảo, an ninh quốc gia; đấu tranh phòng chống tội phạm và giữ gìntrật tự, an toàn xã hội
Nhà nước quy định nhiệm vụ về cong tác quốc phòng, an ninh cho các
bộ, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương và đơn vị cơ sở Do vậy, nghiêncứu về công tác quốc phòng, an ninh thực chất là nghiên cứu hệ thống vănbản quy phạm pháp luật của Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự, antoàn xã hội và an ninh chính trị Mọi công dân đều có trách nhiệm tham giacông tác quốc phòng, luyện tập quân sự, giữ gìn bảo vệ an ninh, trật tự antoàn xã hội Tăng cường tiềm lực quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dânphòng, chống có hiệu quả chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạt lật đổ củacác thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam, kể cả việc phòng, chống chiếntranh công nghệ cao trong tương lai Nghiên cứu và thực hiện tốt công tácquốc phòng, an ninh để xây dựng long tin chiến thắng trước mọi âm mưu, thủđoạn của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam
- Nghiên cứu về quân sự và kỹ năng quân sự cần thiết: Nghiên cứu các
kiến thức, kĩ năng chiến thuật, kĩ thuật quân sự cần thiết như: Những kiếnthức cơ bản về bản đồ, địa hình quân sự, các phương tiện chỉ huy chiến thuật
và chiến đấu: tính năng, tác dụng, cấu tạo, sử dụng, bảo quản các loại vũ khí
bộ binh AK, CKC, RPD, B40, B41; tính năng, kĩ thuật sử dụng thuốc nổ,phòng chống vũ khí hạt nhân, hoá học, sinh học, vũ khí lửa; vết thương chiếntranh và phương pháp xử lí; một số vấn đề về điều lệnh đội ngũ đơn vị vàchiến thuật chiến đấu bộ binh cấp từng người
Kiến thức về quân sự trong môn học là những kiến thức phổ thông, sinhviên cần quan tâm nghiên cứu đặc điểm, nguyên lí, tác dụng… hiểu rõ bảnchất các nội dung kĩ thuật, chiến thuật bộ binh, về khả năng sát thương, vớicác phương pháp phòng tránh đơn giản, hiệu quả Trên cơ sở đó nghiên cứuthực hành luyện tập sát với thực tế, thành thạo các thao tác kĩ thuật, chiếnthuật trong chiến đấu Đồng thời có thể ứng dụng các kĩ thuật này khi thamgia dân quân tự vệ theo quy định của pháp luật
Trang 34Việc nghiên cứu chương trình môn học Giáo dục quốc phòng và anninh đòi hỏi phải nắm vững cơ sở phương pháp luận, các phương phápnghiên cứu cụ thể phù hợp với đối tượng, phạm vi và tính chất đa dạng củanội dung môn học này
* Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận chung nhất của việc nghiên cứu giáo dục quốcphòng và an ninh là học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Trong
đó những quan điểm của các nhà kinh điển Mác – Lênin và của Chủ tịch HồChí Minh về chiến tranh, quân đội, về xây dựng lực lượng vũ tranh nhân dân,
về xây dựng nền quốc phòng toàn dân… là nền tảng thế giới quan, nhận thứcluận của sự nghiên cứu, vận dụng đường lối quân sự của Đảng và những vấn
đề cơ bản khác của GDQPAN
Việc xác định học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ
sở phương pháp luận của sự nghiên cứu, vận dụng đường lối quân sự củaĐảng và những vấn đề cơ bản khác của giáo dục quốc phòng và an ninh, đòihỏi quá trình nghiên cứu, phát triển GDQPAN phải nắm vững và vận dụngđúng đắn các quan điểm tiếp cận khoa học sau đây:
- Quan điểm hệ thống: Đặt ra yêu cầu nghiên cứu, phát triển các nội
dung của GDQPAN một cách toàn diện, tổng thể, trong mối quan hệ pháttriển giữa các bộ phận, các vấn đề của môn học
- Quan điểm lịch sử, logic: Trong nghiên cứu GDQPAN đòi hỏi phải
nhìn thấy sự phát triển của đối tượng, vấn đề nghiên cứu theo thời gian, khônggian với những điều kiện lịch sử, cụ thể để từ đó giúp ta phát hiện, khái quát,nhận thức đúng những quy luật, nguyên tắc của hoạt động quốc phòng, an ninh
- Quan điểm thực tiễn: Chỉ ra phương hướng cho việc nghiên cứuGDQPAN là phải bám sát thực tiễn xây dựng quân đội nhân dân và công annhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phục vụ thiết thực cho sựnghiệp bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay
* Các phương pháp nghiên cứu
Trang 35Với tư cách là bộ môn khoa học nằm trong hệ thống khoa học quân sự,
an ninh, phạm vi nghiên cứu của GDQPAN rất rộng, nội dung nghiên cứu đadạng, được cấu trúc theo hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạpluôn có sự kế thừa và phát triển Vì vậy GDQPAN được tiếp cận nghiên cứuvới nhiều cách thức, phù hợp với tính chất của từng nội dung và vấn đềnghiên cứu cụ thể
Trong nghiên cứu xây dựng, phát triển nội dung GDQPAN, với tư cách
là một bộ môn khoa học cần chú ý sử dụng kết hợp các phương pháp nghiêncứu khoa học
Trước hết cần chú ý sử dụng các phương pháp nghiên cứu lí thuyết nhưphân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, mô hình hoá, giả thuyết… nhằmthu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu vềquốc phòng, an ninh để rút ra các kết luận khoa học cần thiết, không ngừng bổsung, phát triển làm phong phú nội dung GDQPAN
Cùng với các phương pháp nghiên cứu lí thuyết, cần kết hợp sử dụngcác phương pháp nghiên cứu thực tiễn như quan sát, điều tra, khảo sát thực tế,nghiên cứu các sản phẩm quốc phòng, an ninh, tổng kết kinh nghiệm, thínghiệm, thực nghiệm… nhằm tác động trực tiếp vào đối tượng trong thựctiễn, từ đó khái quát bản chất, quy luật hoạt động quốc phòng, an ninh, bổsung làm phong phú nội dung cũng như kiểm định tính xác thực, tính đúngđắn của các kiến thức GDQPAN
Trong nghiên cứu các kiến thức, kĩ năng quốc phòng, an ninh cần sử
dụng kết hợp các phương pháp dạy học lí thuyết và thực hành nhằm bảo đảm
cho người học vừa có nhận thức sâu sắc về đường lối, nghệ thuật quân sự,nắm chắc lí thuyết kĩ thuật và chiến thuật, vừa rèn luyện phát triển được các
kĩ năng công tác quốc phòng, thuần thục các thao tác, hành động quân sự
Đổi mới phương pháp dạy học GDQPAN theo hướng tăng cường vậndụng các phương pháp dạy học tiên tiến kết hợp với sử dụng các phương tiện
Trang 36kỹ thuật, thiết bị quân sự hiện đại phục vụ các nội dung học tập, đẩy mạnhnghiên cứu, ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin nhằm nâng cao chấtlượng dạy học môn học GDQPAN
*
Nội dung chương 1 đã đề cập đến các khái niệm cơ bản liên quan đến cơ
sở lý luận về quá trình dạy học; quản lý QTDH, các yếu tố ảnh hưởng tới quản
lý quá trình dạy học ở các Trung tâm GDQPAN Các khái niệm cơ bản trên là
cơ sở để tác giả tiến hành khảo sát thực trạng, từ đó đề xuất các biện pháp quản
lý QTDH ở Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN trong giai đoạn hiện nay Vấn đềnày tác giả sẽ tiếp tục làm rõ ở chương 2
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH,
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu về Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm
Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN tiền thân là trung tâm GDQP đượcthành lập ngày 02/3/2004 theo Quyết định số 97/TCCB của Giám đốc ĐHQGHNtrên cơ sở sáp nhập 2 khoa GDQP của trường Đại học Khoa học xã hội & Nhânvăn (do Binh chủng Hoá học quản lý) và Khoa Giáo dục Quốc phòng của TrườngĐại học Ngoại ngữ (do Trường Sĩ quan Lục quân 1 quản lý)
Thực hiện Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chínhphủ về Giáo dục Quốc phòng - An ninh và Quyết định số 82/2007/QĐ-BGDĐT ngày 24/11/2007 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động củaTrung tâm Giáo dục Quốc phòng - An ninh sinh viên, ngày 11/5/2009 Giámđốc ĐHQGHN Nội ký Quyết định số 1737/QĐ-TCCB về việc đổi tên Trungtâm Giáo dục Quốc phòng thành Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN
Trang 37Ngày 25/5/2011, Tổng Cục chính trị, Bộ Quốc phòng có Công văn số493/CB-NS thông báo ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việcđiều động và quản lý sĩ quan biệt phái tại Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN.Theo đó, Bộ Quốc phòng giao cho Trường Sĩ quan Lục quân 1 quản lý sĩquan biệt phái tại Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN
* Vị trí, chức năng của trung tâm
Là đơn vị sự nghiệp công lập, có tư cách pháp nhân và tài khoản, condấu riêng; có chức năng giáo dục quốc phòng và an ninh, bồi dưỡng kiến thứcquốc phòng và an ninh cho các đối tượng theo quy định của pháp luật
* Nhiệm vụ, quyền hạn
1 Phối hợp với trường cao đẳng, cơ sở giáo dục đại học, cơ quan, tổchức liên quan xây dựng kế hoạch liên kết, kế hoạch thực hiện môn họcGDQPAN, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh (viết tắt làBDKTQPAN)
2 Ban hành nội quy, quy chế hoạt động của trung tâm
3 Tổ chức quản lý, học tập, rèn luyện, sinh hoạt tập trung tại trung tâmtheo nếp sống quân sự cho sinh viên, đối tượng BDKTQPAN
4 Tổ chức nghiên cứu khoa học, tham gia biên soạn giáo trình, giáokhoa, tài liệu về GDQPAN
5 Bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên, giáoviên, cán bộ quản lý; tổ chức hội thi, hội thao GDQPAN
6 Bảo đảm chế độ, chính sách cho cán bộ, viên chức, giảng viên, giáoviên, báo cáo viên, nhân viên, sinh viên, đối tượng BDKTQPAN và người laođộng của trung tâm
7 Thông báo kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên, đối tượngBDKTQPAN với đơn vị liên kết, và tổ chức liên quan; cấp chứng chỉGDQPAN cho sinh viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trìnhBDKTQPAN cho đối tượng bồi dưỡng tại trung tâm
8 Thực hiện chế độ báo cáo, sơ kết, tổng kết, khen thưởng và xử lý vi
Trang 389 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
* Sứ mệnh: Trung tâm ra đời với sứ mệnh là đơn vị đào tạo có uy tín
với trình độ và chất lượng cao về sản phẩm đào tạo nguồn nhân lực và nghiên
cứu khoa học thuộc lĩnh vực GDQPAN, là cơ quan tham mưu đắc lực cho
ĐHQGHN về công tác QPAN, góp phần xây dựng và củng cố tiềm lực quốc
phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn
* Tầm nhìn: Trở thành một Trung tâm mạnh, có uy tín và vị thế hàng
đầu của cả nước về quy mô và chất lượng đào tạo, NCKH, tạo dấu ấn trong
công tác đào tạo giáo viên GDQPAN trình độ đại học vào năm 2018, trình độ
sau đại học năm 2023, đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ GD&ĐT
và ĐHQGHN, một địa chỉ tin cậy cung cấp nguồn nhân lực cho các cơ sở
giáo dục khu vực phía Bắc
* Hệ thống các giá trị cơ bản.
- Vì sự phát triển toàn diện, ổn định và bền vững của Trung tâm
- Nề nếp, kỷ cương, trách nhiệm, môi trường thân thiện
- Tiên phong, đột phá, sáng tạo
- Chất lượng, hiệu quả, chuyên nghiệp
2.1.2 Về cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm gồm Ban Giám đốc, ba Phòng chứcnăng, hai Khoa chuyên môn và ba Bộ môn Có thể khái quát cơ cấu tổ chức
của Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN theo sơ đồ sau
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDQPAN
40
Hội đồngthi đua, khen thưởng
Ban Giám đốcTrung tâm
Tổ chức
Phòng Hậu cần,
Bộ môn Quân sự chung, chiến thuật và
kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK (CKC)
Phòng Đào tạo, Quản lý người học
Khoa Quân sự
Trang 39Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN
- Trung tâm có 01 tổ chức Công đoàn cơ sở.
* Tình hình đội ngũ cán bộ, giảng viên: Tổng số cán bộ, giảng viêntrong Trung tâm là 23 đ/c Tình hình cán bộ, giảng viên trong Trung tâm đượcthống kê theo bảng sau đây
Bảng 2.2: Thống kê về cán bộ, giảng viên Trung tâm GDQPAN, ĐHQGHN
Trang 40* Về chương trình, nội dung
Ngày 12/9/2012 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư
số 31/2012/TT-BGDĐT về Chương trình Giáo dục quốc phòng - an ninhChương trình bao gồm 3 học phần, thời lượng 8 tín chỉ [6] Cụ thể:
Học phần 1: Đường lối quân sự của Đảng, 3 tín chỉ;
Học phần 2: Công tác quốc phòng, an ninh, 2 tín chỉ;
Học phần 3: Quân sự chung và chiến thuật, kỹ thuật bắn súng tiểu liên
AK (CKC), 3 tín chỉ
* Tổ chức dạy học
Trung tâm tổ chức dạy học tập trung, giao cho Phòng Đào tạo xây dựng
kế hoạch, thời khoá biểu và điều hành dạy học thống nhất Hàng năm Trungtâm xây dựng kế hoạch thời gian dạy học cho sinh viên các khoá với cáctrường đại học thành viên Nhìn chung công tác giảng dạy được Trung tâmthực hiện chặt chẽ, nghiêm túc QTDH các giảng viên kết hợp giữa truyền thụkiến thức với quản lý, rèn luyện sinh viên để đáp ứng được với mục tiêuchương trình môn học
* Kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Công tác này được Trung tâm hết sức coi trọng Trung tâm tổ chức kiểmtra đánh giá kết quả môn học theo Thông tư liên tịch số 18/2015/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH ngày 08 tháng 9 năm 2015 của Bộ GD&ĐT và Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội [8] Các Khoa chuyên môn là đơn vị tổ chứckiểm tra đánh giá kết quả học tập, Phòng Đào tạo quản lý kết quả học tập của