Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt. Cụ thể hóa quan điểm trên, tại Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương (khóa XI), Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 29NQTƯ, trong đó, đã xác định nhiệm vụ và giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo như sau
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI
1.2 Nội dung quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các
1.3 Những yếu tố tác động đến quản lý phát triển đội ngũgiáo viên mầm non, quận ba Đình, thành phố Hà Nộiđáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay 28
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON, QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ
2.3 Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm
Chương 3 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON, QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 643.1 Yêu cầu quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở cáctrường mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 643.2 Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở cáctrường mầm non, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đápứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay 663.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 86
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Đổi mớicăn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đạihoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chếquản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục làkhâu then chốt Cụ thể hóa quan điểm trên, tại Hội nghị lần thứ Tám Ban chấphành Trung ương (khóa XI), Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TƯ,trong đó, đã xác định nhiệm vụ và giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo
như sau: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo” [13, tr.137].
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN được coi là nền tảng, là nềnmóng của ngôi nhà giáo dục, nhằm hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên củacon người mới trong xã hội mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nền móng khôngvững chắc thì ngôi nhà khó có thể xây dựng lên cao được Điều 22 Luật Giáodục 2005 của nước ta đã ghi rõ: “Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em pháttriển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiêncủa nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” [43, tr.29] GVMN khácvới giáo viên các cấp học khác là phải tổ chức cho trẻ làm quen đủ các mônhọc thông qua việc tổ chức các hoạt động CSGD trẻ ở trường mầm non.Trong trường mầm non, giáo viên vừa dạy, vừa dỗ học sinh cho nên mỗi giáoviên không chỉ đóng vai cô giáo mà còn ẩn chứa trong mình vai trò là người
mẹ thứ hai của trẻ Vì vậy đòi hỏi người GVMN phải am hiểu sâu, rộng vềcác lĩnh vực tự nhiên, xã hội cũng như tâm lý giáo dục
Quận Ba Đình được Chính phủ xác định là Trung tâm hành chính chính trị quốc gia, nơi tập trung các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà
Trang 3-nước, Quốc hội, Chính phủ Đây còn là trung tâm ngoại giao, đối ngoại BaĐình có trụ sở nhiều tổ chức quốc tế, sứ quán các nước, nơi thường xuyêndiễn ra các hội quan trọng của Nhà nước, quốc tế và khu vực Nhắc đến BaĐình lịch sử là nghĩ ngay đến một vùng đất địa linh nhân kiệt với nhiều làngnghề cổ truyền đậm dấu ấn lịch sử, có gần một nghìn năm gắn bó với sự pháttriển thăng trầm của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, có truyền thống hiếuhọc, có nhiều học sinh giỏi đạt giải Quốc gia và Quốc tế
Song thực tế đội ngũ giáo viên của Quận vẫn còn nhiều bất cập, nhất làđội ngũ giáo viên các trường MN Hiện nay, vẫn còn nhiều giáo viên có nănglực, nghiệp vụ kỹ năng sư phạm hạn chế, khả năng tiếp cận với đổi mới cònchậm, một số giáo viên có tuổi đời cao, một số giáo viên khó thay đổi trongnếp nghĩ, cách làm nên hiệu quả công việc chưa cao Công tác quản lý và xâydựng đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp còn mang tính hình thức, chưa
có chiến lược cụ thể và chưa xác định đầy đủ nội dung của công việc này Các biện pháp xây dựng đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp thiếu tính hệthống, đồng bộ Vì vậy, biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trongcác nhà trường đóng vai trò rất quan trọng, là nhân tố quyết định cho sự pháttriển của mỗi nhà trường
Với mong muốn nghiên cứu để chỉ ra các biện pháp thích hợp cho việcquản lý phát triển đội ngũ giáo viên, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao mà
xã hội đặt ra, cũng như được góp phần xây dựng ngành Giáo dục và Đào tạotrong quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày càng phát triển vững mạnh,
chúng tôi đã chọn nghiên cứu vấn đề: “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở
các trường mầm non, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đãđược nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước với nhiều công trình
Trang 4nghiên cứu ở các góc độ tiếp cận khác nhau Trong phạm vi đề tài này có thểtổng quan các công trình đề tài nghiên cứu trên các hướng như sau:
* Những công trình, đề tài nghiên cứu cơ bản về giáo viên và quản lý phát triển đội ngũ giáo viên.
Trong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo, công nhân viên, họcsinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968,
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Giáo dục nhằm đào tạo những người
kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới” [35], “Cán bộ và giáo viên cũng phải tiến bộ cho kịp thời đại thì mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho
là giỏi rồi thì dừng lại” [36].
Vấn đề nghiên cứu xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên đến nay đãđược một số nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong nước quan tâm Nhiềutác giả đã tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng, qui hoạch, phát triển đội ngũgiáo viên nhằm tìm ra những giải pháp, biện pháp thiết thực để làm tốt côngtác phát triển đội ngũ giáo viên Đã có một số công trình khoa học mang tính
đề tài cấp nhà nước hoặc dưới các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí giáodục và một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này như:
Nguyễn Thị Phương Hoa (2010), Con đường nâng cao chất lượng cải
cách các cơ sở đào tạo giáo viên;
Đinh Quang Báo (2005), Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên;
Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007), Cẩm nang
nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên;
Trần Đình Tuấn (2006), Chất lượng đội ngũ nhà giáo – nhân tố quyết định
chất lượng giáo dục đại học;
Trang 5Trần Đình Tuấn (2005), Chuẩn hóa quy trình đào tạo nhà giáo quân đội; Trần Đình Tuấn (2005), Chuẩn hóa chất lượng đội ngũ nhà giáo quân đội;
Trần Đình Tuấn (2012), Tư tưởng Hồ Chí Minh về người giáo viên;
Phạm Trịnh (2009), Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các
trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đắc Lắc;
Hà Thị Quyến (2010), Các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn
của hiệu trưởng các trường mầm non quận cầu Giấy - Hà Nội;
Doãn Thanh Phương (2006), Hoàn thiện biện pháp quản lý chuyên
môn của hiệu trưởng các trường mầm non quận cầu Giấy - Hà Nội;
Nguyễn Thị Thuỷ (2007), Biện pháp quản lý việc sử dụng phương tiện
dạy học của hiệu trưởng các trường mẫu giáo quận Hai Bà Trưng - Hà Nội;
Nguyễn Thị Thanh Thuý (2007), Các biện pháp đổi mới quản lý hoạt
động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của hiệu trưởng trường mầm non quận cầu Giấy, Hà Nội;
Đào Ngọc Oanh (2007), Biện pháp quản lý công tác chăm sóc nuôi
dưỡng của hiệu trưởng các trường mầm non quận Hai Bà Trưng - Hà Nội,
Cuốn sách “Vấn đề giáo viên - Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Bá Hoành;
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây dựng đội ngũ giảng viên
đại học hiện nay” của tác giả Ngô Văn Hà;
Trang 6Luận án tiến sĩ “Xây dựng đội ngũ giảng viên các trường đại học thuộc
ngành giao thông vận tải đáp ứng yêu cầu của thời kì mới” của tác giả Phạm
Văn Toàn;
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu mô hình quản lý đội ngũ giảng viên các
trường đại học, cao đẳng ngoài công lập”của tác giả Nguyễn Thị Anh Đào;
Bài hội thảo “Một số vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên trong các
trường/khoa sư phạm kỹ thuật”của tác giả Trần Khánh Đức;
“Biện pháp bồi dưỡng giảng viên trẻ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
giai đoạn 2010-2015” của tác giả Cao Tuấn Anh;
“Đổi mới rèn luyện nghiệp vụ sư phạm- giải pháp nâng cao chất lượng
đào tạo giáo viên” của tác giả Phạm Thị Kim Anh;
“Phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng giảng viên đại học tiếp
cận khung năng lực” của tác giả Phạm Xuân Hùng
Các tác giả đã đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm thực hiện tốt hơncông tác phát triển đội ngũ giáo viên ở địa phương mình, đơn vị mình Tuynhiên, các vấn đề đề cập đến ở nhiều góc độ khác nhau, các bậc học khácnhau, điều kiện kinh tế chính trị khác nhau Trong thực tiễn, mỗi bậc học khácnhau, ở mỗi địa phương, mỗi đơn vị có những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xãhội khác nhau nên công tác quản lý xây dựng phát triển đội ngũ trong giáodục cũng khác nhau
* Các công trình nghiên cứu về phát triển và quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non.
Sau nhiều năm đổi mới, nhiều giải pháp nhằm xây dựng và phát triểnđội ngũ giáo viên ở các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng rộngrãi Đặc biệt từ khi có chủ trương của Đảng và Nghị quyết Đại hội XII củaĐảng và Nghị quyết số 29/NQTW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo thì một số dự án, công trình nghiên cứu khoa học lớn liên quan đếnđội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học đã và đang được thực hiện
Trang 7Trong đó nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về đội ngũ giáo viên mầmnon Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau đây:
Luận văn của tác giả Vũ Thị Minh Hà với đề tài "Biện pháp quản lý
công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non Hà Nội" (2004);
- Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Lý với đề tài “Một số giải pháp
phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Bắc Giang đến 2010” (2006);
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Lê Hữu Huyên với đề tài “Thực
trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh” (2011).
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Thị Diệu Thủy với đề tài “Biện pháp
quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên các trường mầm non thành phố Đà Nẵng đáp ứng chuẩn nghề nghiệp” (2012).
Các đề tài này chủ yếu tập trung nghiên cứu về phát triển đội ngũGVMN dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực; trên cơ sở phân tích thực trạngvới những thế mạnh của từng địa phương, mỗi tác giả đề xuất những giảipháp tích cực khác nhau đảm bảo tính phù hợp và khả thi Nhưng các tác giảđều có chung mục đích là muốn quản lý quá trình phát triển đội ngũ GVMN
để nâng cao chất lượng đội ngũ nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển đội ngũgiáo viên mầm non, đề xuất những biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáoviên ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầuđổi mới giáo dục hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận quản lý phát triển đội ngũ giáo viên cấp họcmầm non
Trang 8- Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ giáo viên và thực trạngquản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non, quận Ba Đình,thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở cáctrường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mớigiáo dục hiện nay
4 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu: Quản lý đội ngũ giáo viên ở trường mầm
non, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
* Đối tượng nghiên cứu: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các
trường mầm non, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
* Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu quản lý phát triển đội ngũ
giáo viên ở các trường mầm non dưới góc độ của khoa học quản lý giáo dục
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề quản
lý phát triển đội ngũ giáo viên của các trường mầm non (22 trường) trên địabàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
- Giới hạn về khách thể khảo sát, thời gian khảo sát và số liệu thu thập: Khảo sát 10 cán bộ quản lý (05 hiệu trưởng, 05 phó hiệu
trưởng), 90 giáo viên trong 22 trường mầm non trên địa bàn quận Ba Đình, thànhphố Hà Nội
Số liệu được thu thập trong các năm học 2013 2014, năm học 2014
-2015 và năm học -2015 - 2016
5 Giả thuyết khoa học
Đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non trên địa bàn quận Ba Đình,thành phố Hà Nội đã có nhiều phát triển mới cả về số lượng, chất lượng, cơcấu, tuy nhiên trong quá trình phát triển đó đang bộc lộ những mâu thuẫn mớicòn hạn chế, bất cập so với yêu cầu đổi mới hiện nay Nếu xây dựng được hệ
Trang 9thống biện pháp quản lý phát triển đội ngũ GVMN như: Tổ chức giáo dụcchính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của người giáoviên mầm non trong tình hình mới; Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triểnđội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay; Phân công, sửdụng giáo viên mầm non phù hợp với năng lực, sở trường riêng, tạo điều kiệnphát triển năng lực cá nhân giáo viên; Đào tạo và bồi dưỡng, khuyến khích tựđào tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên mầm nonđáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; Đổi mới đánh giá chất lượng và kết quảhoạt động chuyên môn của giáo viên mầm non theo tiếp cận phát triển; Xâydựng môi trường sư phạm thuận lợi, tạo động lực cho sự phát triển của cánhân và tập thể thì đội ngũ giáo viên của các trường mầm non quận Ba Đình,thành phố Hà Nội sẽ được phát triển hoàn thiện cả về số lượng, chất lượng, cơcấu đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Để hoàn thành công trình nghiên cứu, tác giả đã dựa trên nền tảng cácquan điểm, tư tưởng về phát triển đội ngũ giáo viên và quản lý phát triển độingũ giáo viên của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh và của Đảng Cộngsản Việt Nam, đồng thời quán triệt và vận dụng sâu sắc quan điểm hệ thống, cấutrúc, lôgíc, lịch sử và quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục
* Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận về quản lý phát triểnđội ngũ giáo viên; các văn kiện Đại hội Đảng các cấp; các văn bản pháp quy
về giáo dục và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ đó rút
ra cơ sở lý luận để đề xuất các giải pháp quản lý
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 10- Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra về thực trạng đội ngũ giáo
viên và biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường mầm nontrên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Khách thể điều tra gồm 100người là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và giáo viên thuộc 03 trường: Mẫugiáo Số 10, Mẫu giáo Chim Non và Mầm non Tuổi Thơ
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn hiệu trưởng, phó hiệu trưởng,
giáo viên ở một số trường mầm non trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố HàNội, để làm rõ hơn thực trạng và lý giải nguyên nhân thực trạng
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm của các
cán bộ quản lý và bản thân về vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
- Phương pháp khảo nghiệm: Tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đã
đề xuất để khẳng định tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đó
Nhóm phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệuthu được
7 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài này đã xây dựng các khái niệm công cụ, xác định nội dung vànhững nhân tố tác động đến quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trườngmầm non và làm sáng tỏ thực trạng vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở đó, đề xuấtnhững biện pháp mang tính khả thi cao nhằm áp dụng cho quản lý phát triểnđội ngũ giáo viên ở các trường mầm non trên địa bàn quận Ba Đình, thànhphố Hà Nội trong thời gian tới đạt kết quả và hiệu quả cao nhất Kết quảnghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp quản lý giáo dục vàGVMN trong toàn thành phố
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu; kết luận và kiến nghị; tài liệu tham khảo; phụ lục;nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON 1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1 Giáo viên mầm non và đội ngũ giáo viên mầm non
* Giáo viên mầm non
Theo Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1999, địnhnghĩa: Giáo viên (danh từ) là người dạy học ở bậc học phổ thông hoặc tươngđương Điều 70 Luật giáo dục năm 2005, qui định đối với nhà giáo: “Nhàgiáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáodục khác… Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổthông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên”[43]
Theo điều 34, Điều lệ Trường mầm non (Ban hành kèm theo Quyếtđịnh số: 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07/4 /2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo): Giáo viên mầm non là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập GVMN là những người được đào tạo qua nghiệp vụ sư phạm mầm non,
có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm mầm non trở lên, có đủ các tiêu chuẩn
về đạo đức, nhân cách và năng lực chuyên môn để thực hiện mục tiêu giáodục mầm non
* Đội ngũ giáo viên mầm non
Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục,được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức) cùng chung một nhiệm vụ làthực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập thể đó, tổ chức đó Họ làmviệc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thầntrong khuôn khổ qui định của pháp luật, thể chế xã hội
Trang 12Từ những quan niệm chung về đội ngũ giáo viên, chúng ta có thể hiểuđội ngũ giáo viên mầm non như sau:
Đội ngũ GVMN là tập hợp những người làm công tác chăm sóc, giáo
dục trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non, được tổ chức thành một tập thể
sư phạm, đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển GDMN trong tình hình mới.
Đặc trưng nổi trội của đội ngũ GVMN là ở tính tổ chức của đội ngũ về
số lượng, chất lượng và cơ cấu Đội ngũ GVMN mạnh hay yếu, một phần phụthuộc vào phẩm chất, năng lực cá nhân của mỗi giáo viên, phần quan trọnghơn phụ thuộc vào tổ chức biên chế đội ngũ đó Thực tiễn sư phạm cho thấy,đôi khi một cơ sở giáo dục mầm non không thực hiện được các mục tiêu,nhiệm vụ giáo dục đã đề ra, không phải vì thiếu các giáo viên có phẩm chất
và năng lực tốt mà do khâu tổ chức biên chế không hợp lý về số lượng và cơcấu, không khai thác, phối hợp được năng lực của các cá nhân trong đội ngũ
Vì vậy, xây dựng, phát triển đội ngũ GVMN phải kết hợp thống nhấtbiện chứng giữa hoạt động xây dựng phát triển phẩm chất, năng lực cá nhânvới hoạt động xây dựng, phát triển đội ngũ về tổ chức Hai mặt hoạt động nàyluôn tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển Trong đó, tổchức đội ngũ GVMN hợp lý về số lượng, chất lượng, cơ cấu là cở sở để xâydựng, phát triển phẩm chất, năng lực của mỗi cá nhân GVMN Ngược lại, bồidưỡng, phát triển phẩm chất, năng lực cá nhân của mỗi GVMN là điều kiện
để xây dựng, phát triển đội ngũ
* Vai trò, nhiệm vụ của giáo viên mầm non
GVMN là nhà giáo đang tham gia các hoạt động giáo dục ở một bậchọc cụ thể trọng hệ thống giáo dục quốc dân Trước hết, GVMN có vai trò,
nhiệm vụ và những yêu cầu chung của nhà giáo Đảng ta chỉ rõ: “Nhà giáo
giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học Nhà
Trang 13nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo dục thực hiện nhiệm vụ của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”.
Mỗi bậc học khác nhau, có đặc điểm cụ thể không giống nhau, do đóvai trò của nhà giáo trong các nhiệm vụ cụ thể cũng khác nhau NgườiGVMN là người thầy đầu tiên đặt nến móng cho việc đào tạo nhân cách conngười trong tương lai Nhân cách của con người trong xã hội tương lai nhưthế nào phụ thuộc rất nhiều vào nền móng ban đầu này Trong trường mầmnon, giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức các hoạt động chăm sóc,giáo dục trẻ Người giáo viên không chỉ là người thầy mà còn là người mẹ,người bạn lớn tuổi đáng tin cậy và gần gũi với trẻ nhiều nhất GVMN có cácnhiệm vụ cơ bản như sau:
1 Bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em
ở nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập
2 Thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theochương trình GDMN: lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục; xây dựng môi trườnggiáo dục, tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; đánhgiá và quản lý trẻ em; chịu trách nhiệm về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc,giáo dục trẻ em; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn, của nhà trường,nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập
3 Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo;gương mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách củatrẻ em; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; đoàn kết, giúp đỡđồng nghiệp
4 Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha
mẹ trẻ Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dụctrẻ em
Trang 145 Rèn luyện sức khỏe; học tập văn hoá; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em
6 Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và củangành, các quy định của nhà trường, quyết định của Hiệu trưởng
Quyền của GVMN được đảm bảo các điều kiện để thực hiện nhiệm vụnuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em Được đào tạo nâng cao trình độ, bồidưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, được hưởng lương, phụ cấp và các chế độkhác theo quy định của pháp luật khi được cử đi học để nâng cao trình độ,chuyên môn, nghiệp vụ Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần vàđược chăm sóc, bảo vệ sức khỏe theo chế độ, chính sách quy định đối với nhàgiáo Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự Được thực hiện các quyền khác theoquy định của pháp luật
* Đặc điểm lao động của giáo viên mầm non
GDMN là cấp học đầu tiên rất quan trọng trong hệ thống giáo dụcquốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm
mỹ của trẻ em, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của các cấp học sau Trong
đó, yếu tố quan trọng quyết định chất lượng GDMN là đội ngũ GVMN vì họ
là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ, là người đặt nền móng cho sự pháttriển toàn diện của trẻ và là người mẹ thứ hai của trẻ Lao động của GVMN
là lao động mang tính khoa học và nghệ thuật đòi hỏi công phu vì cô giáo làtấm gương cho trẻ học và bắt chước Chính vì vậy mà cô giáo mầm non phảihội tụ đầy đủ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực chuyên môn để thựchiện mục tiêu chương trình GDMN mới nhằm phát triển nhân cách toàn diệncho trẻ
Lao động của GVMN là một loại hoạt động sư phạm đặc biệt Trẻ emvừa là đối tượng tác động, vừa là chủ thể của lao động sư phạm Đây là yếu tốquan trọng để biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quá trìnhlao động này sẽ mang lại hiệu quả cao khi cô giáo biết cách hướng dẫn trẻ
Trang 15khám phá để trẻ hiểu biết nhưng phải phù hợp với tuổi của trẻ Có thể nói laođộng của cô giáo mầm non là loại hình lao động vừa mang tính khoa học vừamang tính nghệ thuật cao Cô giáo mầm non vừa là mẹ, vừa là bác sĩ và lànghệ sĩ.
Đặc điểm trên đây đặt ra những yêu cầu riêng cho đội ngũ GVMN.Ngoài các tiêu chí của các yêu cầu được quy định trong Chuẩn nghề nghiệpGVMN, người GVMN cần phải có một số năng lực và phẩm chất sau:
Người GVMN phải có xu hướng nghề nghiệp sư phạm phát triển cao
Xu hướng đó được thể hiện ở tình yêu thiết tha, hứng thú với nghề nghiệp,phải yêu nghề và mến trẻ, tôn trọng trẻ, là tấm gương hằng ngày đối vớichúng Người GVMN cần có ý chí cao, tính tình cởi mở, cứng rắn nhưng lạikiên nhẫn và biết tự kiềm chế
Người GVMN phải có năng lực sư phạm để thực hiện tốt chức năng,nhiệm vụ chăm sóc của GDMN Người GVMN cần có năng lực tổ chức cuộcsống và các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ một cách linh hoạt, sáng tạo vàphải có khả năng khéo léo trong xử lý sư phạm Người GVMN phải có một sốnăng lực sư phạm riêng biệt như múa, hát, đọc và kể diễn cảm, ứng dụng côngnghệ thông tin trong soạn bài và tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp vớikhả năng của trẻ…
Người GVMN phải lấy đạo đức làm gốc cho mọi hoạt động chuyênmôn Đạo đức là phẩm chất tối cần thiết của bất kỳ người lao động chânchính nào trong công việc, nhưng riêng đối với những người làm công tácgiáo dục thì yếu tố đạo đức luôn là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong việcđánh giá năng lực toàn diện của một nhà giáo Nhà giáo phải là người có đạođức tốt thì mới có đầy đủ vị thế truyền đạt những kiến thức, những kỹ năng,những kinh nghiệm sống đến học sinh, giúp học sinh hình thành và pháttriển nhân cách
Trang 16Đặc trưng của giáo dục là nơi truyền đạt những tinh hoa của văn hóa
nhân loại, là “lò rèn đạo đức, nhân cách” cho thế hệ trẻ, do đó yếu tố đạo đức
phải là chuẩn đầu tiên của bất kỳ ai nếu muốn đứng trong hàng ngũ nhữngngười làm công tác giáo dục, đồng thời phải luôn duy trì, phát huy, rèn luyệnphẩm chất tốt đẹp này để mãi là tấm gương sáng cho học sinh noi theo
GDMN là một bậc học đòi hỏi khắc nghiệt phẩm chất đạo đức ở cácthầy, cô giáo Khi chấp nhận vào ngành mầm non, các tố chất cần thiết nhấtcho người công tác ở bậc học này là lòng yêu nghề, yêu người, là sự kiên trìnhẫn nại, giàu đức hy sinh, sẵn sàng bỏ thời gian, công sức, thậm chí cả tiềnbạc cho sự nghiệp giáo dục trẻ như lời Bác Hồ đã từng nói với lớp đào tạo cán
bộ mẫu giáo năm 1955: “…Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ Muốn làm
được thế thì trước hết phải yêu trẻ Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu Dạy trẻ cũng như trồng cây non Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt… Điều trước tiên là dạy các cháu về đạo đức Anh chị em giáo viên và mẫu giáo cần luôn luôn gương mẫu về đạo đức để các cháu noi theo” [36, tr.263].
Người GVMN phải tự học, tự rèn luyện thường xuyên Hoạt động củaGVMN đòi hỏi phải có kiến thức văn hóa cơ bản và một hệ thống tri thứckhoa học nuôi dạy trẻ, phải nhiệt tình, chu đáo và dễ hòa nhập cùng với trẻ.Những năng lực sư phạm này là kết quả của một quá trình học tập, rèn luyệntại trường và tự học tập một cách nghiêm túc, thường xuyên
1.1.2 Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non
Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1999, định nghĩa
“Phát triển (động từ) là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹpđến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”[23] Theo quan niệm này thìtất cả các sự vật, hiện tượng, con người và xã hội tự thân biến đổi hoặc bên
Trang 17ngoài làm cho biến đổi tăng lên cả về số lượng hoặc chất lượng thì đó chính là
sự phát triển
Như vậy “phát triển” là một khái niệm rất rộng Nói đến phát triển làngười ta nghĩ ngay đến sự đi lên của sự vật, hiện tượng, con người trong xãhội Sự đi lên đó thể hiện ở việc tăng lên về số lượng và chất lượng, thay đổi
Làm cho sự vật, hiện tượng biến đổi lại thuộc khái niệm “phát triển”
Do vậy khái niệm “xây dựng, phát triển” tự bản thân nó đã bao hàm nhau,không tách rời nhau, có mối quan hệ biện chứng với nhau Thực tiễn chứngminh rằng, trong xây dựng có phát triển, trong phát triển có xây dựng
Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội hoặc là biến đổi đểtăng tiến số lượng, thay đổi chất lượng hoặc dưới tác động của bên ngoài làmcho biến đổi tăng lên đều được coi là phát triển
Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trong giáo dục là quá trình tổ chức, điều khiển, tác động của nhà quản lý vào đội ngũ giáo viên, làm cho đội ngũ giáo viên tăng trưởng về số lượng, chất lượng và cơ cấu phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ giáo dục của nhà trường mầm non, phát huy được thế mạnh của cá nhân và tập thể giáo viên
Trang 18Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non thực chất là thực hiện các chứcnăng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm xây dựngđội ngũ giáo viên ổn định có đủ về số lượng; mạnh về chất lượng và đồng bộ
về cơ cấu, có tính kế thừa góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dụctrong nhà trường mầm non
Phát triển về số lượng đội ngũ giáo viên mầm non
Số lượng đội ngũ giáo viên trường mầm non được xác định bởi số lớphọc và định mức biên chế giáo viên theo thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BGD&ĐT-BNV ngày 16/3/2015, và Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BGD&ĐT-BNV-BTC hướng dẫn một số chính sách phát triển giáo dục mầmnon công lập, ngoài công lập, thực hiện xã hội hóa đối với giáo dục mầm non,định mức biên chế đối với cấp học mầm non là không quá 2,2 giáo viên/lớp,
số lượng lớp trong trường được tính theo số trẻ/lớp (mỗi lớp không quá 35trẻ) [8] Căn cứ vào kế hoạch phát triển số lớp học, chúng ta dễ dàng xác địnhđược số lượng giáo viên cần có cho một trường theo định mức sau:
Số giáo viên cần có = Số lớp x 2,2 giáo viên/lớp
Từ việc xác định số giáo viên hiện có và số giáo viên sẽ thôi hợp đồng,nghỉ ốm, thai sản, bỏ việc, chuyển đi hoặc chuyển đến để lập kế hoạch bổsung giáo viên Trong thực tế, có nhiều biến động, liên quan chi phối đến việctính toán số lượng giáo viên như việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ, tình trạng bốtrí số học sinh/lớp cũng như định mức lao động của giáo viên, chương trìnhmôn học đều có ảnh hưởng đến số lượng đội ngũ giáo viên
Như vậy, phát triển số lượng đội ngũ giáo viên mầm non là sự quyhoạch, điều chỉnh số lượng giáo viên theo sự vận động phát triển của thực tiễnđáp ứng yêu cầu phát triển về chất lượng giáo dục của nhà trường Nghĩa làphát triển số lượng nằm trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển vềchất lượng Khi xem xét số lượng giáo viên, cần chú ý đến một yếu tố đó là:giáo viên trong trường thường chấp nhận một định mức cao hơn qui định để
Trang 19tăng thu nhập nâng cao đời sống, vì vậy sẽ làm sai lệch chuẩn tính toán lýthuyết Do đó, Hiệu trưởng cần phải luôn rà soát số lượng giáo viên đã đủtheo yêu cầu của qui mô đào tạo hay chưa Nếu thiếu tìm sự bổ sung; nếu thừaphải tạo thêm việc làm, cân đối lao động để tránh lãng phí và nảy sinh các vấn
đề liên quan
Phát triển về chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non
Chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường bao gồm nhiều yếu tốcấu thành, tựu chung lại chất lượng giáo viên hiện nay thể hiện ở ba khía cạnhnhư sau:
Chuẩn về trình độ chuyên môn: đạt chuẩn hay vượt chuẩn, đào tạochính qui hay không chính qui…
Chuẩn về trình độ nghiệp vụ sư phạm: được thể hiện ở hiệu quả hoạtđộng chăm sóc giáo dục học sinh, khả năng thích ứng với thay đổi trong thựctiễn, khả năng giao tiếp, xử lý tình huống sư phạm…
Chuẩn về đạo đức tư cách người giáo viên: được thể hiện ở đạo đức, tưtưởng tốt, có nhân cách xã hội chủ nghĩa, có tâm hồn cao thượng, yêu nghề,mến trẻ, có lý tưởng nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa,trung thực, giản dị
Phát triển về cơ cấu đội ngũ giáo viên mầm non
Cơ cấu đội ngũ giáo viên mầm non được xem xét trên các yếu tố sau:
Cơ cấu về trình độ nghiệp vụ sư phạm: Là sự phân chia giáo viên theo
tỉ lệ của trình độ đào tạo như trung cấp, đại học, thạc sĩ Việc xác định một cơcấu trình độ hợp lý cũng là một biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáoviên, số giáo viên chưa đạt chuẩn cần phải chuẩn hóa, nhưng để có tỉ lệ vượtchuẩn cần xem xét thực trạng của nhà trường để vừa đảm bảo hiệu quả kinh
tế, vừa nâng cao chất lượng đội ngũ Trong khi ngân sách còn hạn chế nhưhiện nay thì một đội ngũ có phẩm chất tốt và đủ năng lực đáp ứng việc giảng
Trang 20dạy và giáo dục có lẽ tốt hơn một đội ngũ trên chuẩn mà không phát huy đượchết khả năng của họ trong công việc.
Cơ cấu về tuổi đời: Việc phân tích đội ngũ giáo viên theo độ tuổi nhằmxác định cơ cấu đội ngũ theo từng nhóm tuổi, là cơ sở để phân tích thực trạng,chiều hướng của tổ chức và khoảng cách chuyên môn để từ đó có cơ sở khoahọc cho việc xây dựng kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng, sử dụng
Cơ cấu về giới tính: Xem xét cơ cấu giới tính của đội ngũ giáo viên để
có kế hoạch phân công sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, thời gian học tập của từng
cá nhân, thời gian nghỉ dạy do sinh đẻ, con ốm, sức khỏe yếu … tất cả các yếu
tố đó đều có tác động đến chất lượng đội ngũ giáo viên và là yếu tố quantrọng liên quan đến chất lượng giáo dục và đào tạo
Tóm lại, phát triển đội ngũ giáo viên không chỉ đơn thuần là duy trì độingũ giáo viên, là những giải pháp tình thế mà phải được thực hiện trong một
kế hoạch tổng thể có tính chiến lược lâu dài, vừa mang tính ổn định vừa pháttriển dựa trên những cái đã có làm cho đội ngũ ngày càng mạnh lên về sốlượng, nâng cao chất lượng và cơ cấu hợp lý theo sự phát triển của nhà trường
và của xã hội
1.1.3 Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non
Trong thời đại ngày nay, quản lý đã trở thành một nhân tố của sự pháttriển xã hội Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnhvực ở mọi cấp độ và có liên quan đến tất cả mọi người Khái niệm quản lý làmột khái niệm rất chung và rộng Nó được dùng cho cả quá trình quản lý xãhội, quản lý giới vô sinh cũng như quản lý giới sinh vật Có nhiều cách tiếpcận và quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý Qua phân tích các tài liệukhác nhau, chúng ta có thể rút ra khái niệm quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý(người quản lý) theo kế hoạch chủ động và phù hợp với qui luật khách quan
Trang 21tới khách thể quản lý (người bị quản lý) nhằm tạo ra hiệu quả cần thiết vì sựtồn tại, ổn định và phát triển của tổ chức.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một quá trình, một hoạt động của xãhội, vì thế nó cần và phải được quản lý Từ đó, hình thành một dạng quản lýtrong hệ thống quản lý xã hội Dạng quản lý này có tên gọi là “Quản lý giáodục” Quản lý giáo dục cũng được biểu đạt một cách rất đa dạng tùy theophương tiện nghiên cứu và cách tiếp cận của nhà nghiên cứu về quản lý giáodục Dựa trên sự phân tích các khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý nhàtrường của các tác giả trong nước và trên thế giới, chúng ta rút ra khái niệmquản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non như sau:
Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp qui luật của chủ thể quản lý đến quá trình vận động, biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu của đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non, đảm bảo cho quá trình vận động, biến đổi đó diễn ra đồng bộ, đạt được kết quả tốt nhất, nhằm thúc đẩy đội ngũ giáo viên phát triển tiến lên một trạng thái mới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Bản chất của quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non là tổ chức,điều khiển quá trình vận động, biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu của
đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non đảm bảo cho quá trình vận động,
biến đổi đó diễn ra đồng bộ trong một hệ thống giáo dục nhất quán nhằm đạtđược các mục đích, mục tiêu giáo dục đã xác định Theo quan điểm triết học,phát triển là sự tự vận động bên trong của mọi sự vật hiện tượng, mọi sự vật,hiện tượng sinh ra đều vận động theo xu hướng phát triển Theo quan điểm
đó, đội ngũ giáo viên mầm non cũng tự nó luôn vận động theo xu hướng pháttriển Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non là tổ chức, điều khiển quátrình vận động, phát triển đó diễn ra đúng quy luật, đạt được mục đích theochủ định với hiệu quả cao nhất
Trang 22Mục đích quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non nhằm đảm bảo
cho quá trình vận động, biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu của đội ngũgiáo viên mầm non diễn ra đồng bộ, thống nhất với nhau, thúc đẩy lẫn nhau,đạt được kết quả tốt nhất, làm cho đội ngũ giáo viên phát triển toàn diện lênmột trạng thái mới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non đáp ứngyêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Chủ thể quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non ở các nhà trường
là Ban Giám hiệu, Phòng Giáo dục và Đào tạo quận và tổ chức đảng, chínhquyền quận Trong đó, Ban Giám hiệu nhà trường mầm non là chủ thể quản lýtrực tiếp về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên trong nhà trường.Phòng Giáo dục và Đào tạo quận là chủ thể quản lý về số lượng, chất lượng
cơ cấu của đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn quận Mọi hoạt động quyhoạch, phát triển về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên mầm nontrong từng nhà trường do Ban Giám hiệu nhà trường mà đứng đầu là Hiệutrưởng phải chịu trách nhiệm và đặt dưới sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục –Đào tạo quận Phòng Giáo dục – Đào tạo quận có chức năng tổ chức quyhoạch phát triển đội ngũ giáo viên mầm non của quận theo yêu cầu phát triểngiáo dục mầm non của quận, đồng thời tham mưu cho tổ chức Đảng và chínhquyền quận ban hành những quyết định về phát triển giáo dục mầm non Tổchức Đảng, chính quyền quận có chức năng lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành cácquyết định phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trong quận
Đối tượng quản lý là quá trình phát triển đội ngũ giáo viên mầm non
về số lượng, chất lượng và cơ cấu Đối tượng quản lý chịu sự tác động vàthay đổi dưới những tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lý.Đối tượng quản lý là con người (cá nhân và tập thể) trong tổ chức và cácyếu tố được sử dụng là nguồn lực của tổ chức (thông qua việc khai thác, tổchức thực hiện)
Trang 23Mỗi cấp quản lý khác nhau, có cương vị quản lý khác nhau thì cóđối tượng quản lý cũng khác nhau Hiệu trưởng, Ban Giám hiệu nhàtrường có đối tượng quản lý là quá trình phát triển về số lượng, chấtlượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên trong một nhà trường mầm non PhòngGiáo dục và Đào tạo quận có đối tượng quản lý là quá trình phát triển về
số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên trong tất cả các nhà trườngmầm non trên địa bàn quận
1.2 Nội dung quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non
1.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên
Quy hoạch phát triển giáo dục là quy hoạch ngành và là một bộ phậncủa quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung Trên cơ sở lý luận chung,thì quy hoạch phát triển Giáo dục và Đào tạo là một bản luận chứng khoa họcdựa trên cơ sở đánh giá phân tích thực trạng giáo dục hiện tại, dự đoán nắmbắt những cơ hội, tiên đoán xu thế phát triển giáo dục của đất nước để xácđịnh quan điểm, phương pháp, mục tiêu giáo dục của đơn vị từ đó đưa ranhững giải pháp phát triển và phân bố hệ thống Giáo dục và Đào tạo của cáctrường mầm non, chỉ rõ yêu cầu về chất lượng Giáo dục và Đào tạo, phát triểnđội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý
Xây dựng kế hoạch là sự sắp đặt, hoạch định đường lối có hệ thống củanhững công việc dự định làm Kế hoạch là chương trình dự định làm, là sự cụthể hóa một việc hoặc nhằm mục tiêu trong phạm vi không gian, thời gian vànguồn lực nhất định Kế hoạch là sự tiên đoán những sự kiện cụ thể, chi tiếtcủa tương lai bằng việc xác định các mục tiêu cụ thể, chính xác; nêu rõ nhiệm
vụ, con đường và phương tiện thực hiện Có sự cân đối giữa các mục tiêu vànguồn lực để đạt được kết quả, có thể đánh giá và định hướng được với nguồnlực để sử dụng một cách tối ưu Ngoài việc sử dụng tối ưu các nguồn lực, kế
Trang 24hoạch phải đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, hợp lý giữa các lực lượng tham giathực hiện kế hoạch.
1.2.2 Tuyển dụng giáo viên mầm non
Tuyển dụng là quá trình sử dụng các phương pháp nhằm xem xét, đánhgiá, lựa chọn, quyết định trong số những người được tuyển dụng ai là người
đủ tiêu chuẩn làm việc trong nhà trường Tuyển dụng thực chất là sự lựa chọnngười theo tiêu chuẩn cụ thể rõ ràng do tổ chức đặt ra, để đạt được mục đích:
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu về chất lượng và trình độ,thái độ với công việc được giao Quá trình tuyển dụng phải đáp ứng được cácyêu cầu sau: Tuyển dụng phải xuất phát từ quy hoạch của nhà trường Tuyểndụng được những người có chuyên môn cần thiết cho công việc để đạt hiệuquả công tác tốt Tuyển dụng được những người có phẩm chất tốt, yêu nghề,gắn bó với công việc và am hiểu đặc thù của nhà trường Tuyển dụng giáoviên có trình độ đào tạo đạt chuẩn để bổ sung vào đội ngũ giáo viên cáctrường mầm non là một công việc quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình pháttriển đội ngũ giáo viên theo hướng đảm bảo cho tăng nhanh về số lượng với
cơ cấu hợp lý và có chất lượng đáp ứng theo yêu cầu Điều này còn giúp chonhà trường giảm được các chi phí phải bồi dưỡng lại, đào tạo lại trong quátrình thực hiện công việc
1.2.3 Bồi dưỡng giáo viên mầm non
Bồi dưỡng là các hoạt động làm tăng thêm trình độ hiện có về kiếnthức, kỹ năng, thái độ nhằm giúp cho cán bộ, giáo viên, nhân viên thực hiệncông việc đạt kết quả tốt hơn Chủ thể bồi dưỡng là người lao động đã đượcđào tạo và đã có một trình độ chuyên môn nhất định Bồi dưỡng thực chất làquá trình bổ sung kiến thức, kĩ năng để nâng cao trình độ trong một lĩnh vựchoạt động chuyên môn nhất định Bồi dưỡng giúp cho giáo viên được bồidưỡng có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kĩ năng,
Trang 25kĩ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả côngviệc đang làm.
Nội dung bồi dưỡng: Bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, đường lối, quanđiểm giáo dục của Đảng, đạo đức, lối sống; Bồi dưỡng những kiến thức phápluật, kiến thức về quản lý, về văn hóa, ngoại ngữ, tin học, sức khỏe, thể dụcthể thao, văn nghệ; Bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ: bồi dưỡng theo chu
kỳ thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hóa, trên chuẩn, bồi dưỡng thay sách, bồidưỡng chuyên đề nâng cao, đổi mới phương pháp dạy học, những kiến thứctâm lý học, giáo dục học…
Hình thức bồi dưỡng: Bồi dưỡng thường xuyên là hình thức được ápdụng rộng rãi và phổ biến nhất vì nó phù hợp với đặc điểm công việc của giáoviên và điều kiện các nhà trường, nhất là việc bố trí thời gian để giáo viên tựbồi dưỡng, nghiên cứu các nội dung học tập và liên hệ thực tế vào bài học cụthể Việc bồi dưỡng thường thông qua các hội nghị khoa học, báo cáo chuyên
đề, hội thảo, seminar, các đợt tập huấn, thao giảng, dự giờ, kèm cặp
Bồi dưỡng định kỳ: Giúp giáo viên vượt qua sự lạc hậu về tri thức dokhông được cập nhật tri thức thường xuyên
Bồi dưỡng nâng cao: Là hình thức bồi dưỡng các giáo viên nòng cốttrong nhà trường để làm hạt nhân cho sự phát triển của đơn vị cũng như tạonguồn cán bộ quản lý trong tương lai
1.2.4 Sử dụng giáo viên mầm non
Theo từ điển Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội,1999: Sử dụng là đem dùng vào một công việc; Sử dụng là việc bố trí, sắp xếpgiáo viên thực hiện các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo theo chuyên môn đượcđào tạo, trong quá trình sử dụng còn bao hàm cả đào tạo, đào tạo lại, bồidưỡng và luân chuyển để đạt hiệu quả sử dụng cao nhất; Trong sử dụng phảibiết trọng dụng người tài, đồng thời cũng phải thường xuyên kiểm tra, sànglọc, chuyển những người không đủ khả năng giảng dạy sang làm công tác
Trang 26khác; Khuyến khích đội ngũ giáo viên say mê học tập và tu dưỡng để pháttriển nghề nghiệp của bản thân cũng như sự nghiệp giáo dục của nhà trường,của đất nước.
Sử dụng giáo viên phải gắn với mục tiêu phát triển phẩm chất, nănglực của giáo viên Nghĩa là phải căn cứ vào quy hoạch phát triển giáo viên
và căn cứ vào năng lực cụ thể của từng giáo viên mà sử dụng Thông qua sửdụng để rèn luyện giáo viên, đưa giáo viên vào các loại hình hoạt động, tạo
cơ hội cho giáo viên phát triển phẩm chất, năng lực của bản thân trong thựctiễn công việc
1.2.5 Kiểm tra, đánh giá giáo viên mầm non
Kiểm tra là một khâu quan trọng trong quản lý nói chung và quản lýphát triển đội ngũ giáo viên nói riêng nhằm kiểm tra khả năng, năng lựcchuyên môn của đội ngũ giáo viên, là dịp để họ thể hiện những khả năng,phẩm chất và rèn luyện kĩ năng Kết quả kiểm tra không chỉ để phục vụ choviệc đánh giá xếp loại giáo viên mà còn là một kênh thông tin quan trọng đểhiệu trưởng nắm bắt thực tế kết quả làm việc của đội ngũ giáo viên, từ đó cónhững điều chỉnh, uốn nắn kịp thời về nội dung, phương pháp giảng dạy
Đánh giá là việc dùng các phương pháp thu thập thông tin, phân tích,đánh giá kết quả công việc theo các mục tiêu đã xác định của tập thể hay cánhân trong nhà trường Việc đánh giá có ý nghĩa rất quan trọng nó giúp nhàquản lý một số nội dung sau:
Có được thông tin một cách tương đối đầy đủ và khách quan về thựctrạng tình hình hoạt động của nhà trường mà trọng tâm là đội ngũ giáo viên
Giúp giáo viên điều chỉnh, sửa chữa các thiếu sót trong quá trình làmviệc, đồng thời kích thích động viên, tạo động lực làm việc cho họ
Đánh giá năng lực thực hiện công việc sẽ giúp nhà trường có cơ sở chocác vấn đề về nhân sự như: bồi dưỡng, khen thưởng, đề bạt, thuyên chuyển,cải tiến cơ cấu tổ chức…
Trang 27Thông qua đánh giá năng lực làm việc, hiệu trưởng có thể điều chỉnhviệc phân công giáo viên cho phù hợp với công việc giúp họ phát triển toàndiện Tăng cường quan hệ tốt đẹp giữa cấp trên và cấp dưới.
Đánh giá của giáo viên với giáo viên
Cá nhân mỗi cán bộ, giáo viên tự đánh giá
Nội dung đánh giá bao gồm: Phẩm chất đạo đức, lối sống; hoạt độnggiảng dạy; thực hiện qui chế chuyên môn; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
và các công tác khác (công tác chủ nhiệm, công tác xã hội, đoàn thể )
Như vậy, việc đánh giá hoàn thành nhiệm vụ của giáo viên là rất quantrọng và cần thiết, nếu đánh giá được tiến hành nghiêm túc, đúng đắn sẽ cótác động tích cực, mạnh mẽ tới tinh thần, thái độ và trách nhiệm của giáo viêngiúp họ làm việc hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Tóm lại, phát triển đội ngũ giáo viên là yêu cầu cấp thiết, là yếu tố đảmbảo cho sự phát triển của nhà trường thông qua việc tuyển dụng, bồi dưỡngnâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và thái độ nghề nghiệp,phân công sử dụng; kiểm tra đánh giá; tạo môi trường làm việc Công việcnày không chỉ đơn thuần là duy trì kế hoạch mà phải có định hướng lâu dàitrong tương lai và quá trình đó phải được liên tục phát triển
1.3 Những yếu tố tác động đến quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non, quận ba Đình, thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
1.3.1 Tác động từ những yêu cầu chung nhằm thực hiện chủ trương chuẩn hóa đội ngũ giáo viên
Trang 28Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chuẩn hóa đội ngũgiáo viên, trong Chỉ thị số 40/CT-TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng đãnêu rõ: “Mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục là xây dựng đội ngũ nhàgiáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị,phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản
lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng caochất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Luật giáo dục năm 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 đã quy định rõ nhiệm
vụ và quyền hạn của giáo viên Điều 70 nói rõ tiêu chuẩn của nhà giáo: Nhàgiáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáodục khác, phải có đủ tiêu chuẩn: Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt; Đạt trình độchuẩn đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghềnghiệp; Lý lịch bản thân rõ ràng
Nghị quyết số 29/NQ-TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo; Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã vạch ra phương hướng cho lộtrình đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng Đó là nhữngyêu cầu chung về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non hiện nay
Nghị quyết số 29/NQ-TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo đã xác định: “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứngyêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế.Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo”
Về giáo dục mầm non, Nghị quyết đã khẳng định: “Từng bước chuẩn hóa hệ
Trang 29thống các trường mầm non Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chấtlượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục” Đó lànhững quan điểm định hướng cho cho lộ trình đổi mới giáo dục nói chung vàgiáo dục mầm non nói riêng Đó là những yêu cầu chung về phát triển đội ngũgiáo viên mầm non hiện nay.
Những chủ trương quan điểm trên chính là cơ sở để tiến hành pháttriển đội ngũ giáo viên mầm non và quản lý phát triển đội ngũ giáo viênmầm non, quận ba Đình, thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáodục hiện nay
1.3.2 Tác động từ những yêu cầu cụ thể về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non hiện nay
Theo Quyết định số: 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22 tháng 01 năm 2008hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy định Chuẩn nghềnghiệp giáo viên mầm non thì có những điểm sau:
Một là, giáo viên mầm non phải đáp ứng các yêu cầu về lĩnh vực chính
trị, đạo đức, lối sống
Giáo viên mầm non phải có nhận thức tư tưởng chính trị, thực hiệntrách nhiệm của một công dân, một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Bao gồm các tiêu chí như: Tham gia học tập, nghiên cứu cácNghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước; Yêu nghề, tận tụyvới nghề, sẵn sàng khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ; Giáo dục trẻyêu thương, lễ phép với ông bà, cha mẹ, người lớn tuổi, thân thiện với bạn bè
và biết yêu quê hương; Tham gia các hoạt động xây dựng bảo vệ quê hươngđất nước góp phần phát triển đời sống kinh tế, văn hoá, cộng đồng
Giáo viên mầm non phải có ý thức chấp hành pháp luật, chính sách củaNhà nước Bao gồm các tiêu chí như: Chấp hành các quy định của pháp luật,chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Thực hiện các quy định củađịa phương; Giáo dục trẻ thực hiện các quy định ở trường, lớp, nơi công cộng;
Trang 30Vận động gia đình và mọi người xung quanh chấp hành các chủ trương chínhsách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương.
Giáo viên mầm non phải có ý thứ chấp hành các quy định của ngành,quy định của trường, kỷ luật lao động Gồm các tiêu chí như: Chấp hành quyđịnh của ngành, quy định của nhà trường; Tham gia đóng góp xây dựng vàthực hiện nội quy hoạt động của nhà trường; Thực hiện các nhiệm vụ đượcphân công; Chấp hành kỷ luật lao động, chịu trách nhiệm về chất lượng chămsóc, giáo dục trẻ ở nhóm lớp được phân công
Giáo viên mầm non phải có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh,
trong sáng của nhà giáo; có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp.
Bao gồm các tiêu chí như: Sống trung thực, lành mạnh, giản dị, gương mẫu,được đồng nghiệp, người dân tín nhiệm và trẻ yêu quý; Tự học, phấn đấunâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, khỏemạnh và thường xuyên rèn luyện sức khoẻ; Không có biểu hiện tiêu cực trongcuộc sống, trong chăm sóc, giáo dục trẻ; Không vi phạm các quy định về cáchành vi nhà giáo không được làm
Giáo viên mầm non phải trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan
hệ với đồng nghiệp; tận tình phục vụ nhân dân và trẻ Bao gồm các tiêu chínhư: Trung thực trong báo cáo kết quả chăm sóc, giáo dục trẻ và trong quátrình thực hiện nhiệm vụ được phân công; Đoàn kết với mọi thành viên trongtrường; có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp trong các hoạt động chuyên mônnghiệp vụ; Có thái độ đúng mực và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cha
mẹ trẻ em; Chăm sóc, giáo dục trẻ bằng tình thương yêu, sự công bằng vàtrách nhiệm của một nhà giáo
Hai là, giáo viên mầm non phải đáp ứng các yêu cầu về kiến thức
Giáo viên mầm non phải có kiến thức cơ bản về giáo dục mầm non.Bao gồm các tiêu chí như: Hiểu biết cơ bản về đặc điểm tâm lý, sinh lý trẻ lứatuổi mầm non; Có kiến thức về giáo dục mầm non bao gồm giáo dục hoà nhập
Trang 31trẻ tàn tật, khuyết tật; Hiểu biết mục tiêu, nội dung chương trình giáo dụcmầm non; Có kiến thức về đánh giá sự phát triển của trẻ.
Giáo viên mầm non phải có kiến thức về chăm sóc sức khỏe trẻ lứa tuổimầm non Bao gồm các tiêu chí như: Hiểu biết về an toàn, phòng tránh và xử
lý ban đầu các tai nạn thường gặp ở trẻ; Có kiến thức về vệ sinh cá nhân, vệsinh môi trường và giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ; Hiểu biết về dinhdưỡng, an toàn thực phẩm và giáo dục dinh dưỡng cho trẻ; Có kiến thức vềmột số bệnh thường gặp ở trẻ, cách phòng bệnh và xử lý ban đầu
Giáo viên mầm non phải có kiến thức cơ sở chuyên ngành Bao gồmcác tiêu chí như: Kiến thức về phát triển thể chất; Kiến thức về hoạt động vuichơi; Kiến thức về tạo hình, âm nhạc và văn học; Có kiến thức môi trường tựnhiên, môi trường xã hội và phát triển ngôn ngữ
Giáo viên mầm non phải có kiến thức về phương pháp giáo dục trẻ lứatuổi mầm non Bao gồm các tiêu chí như: Có kiến thức về phương pháp pháttriển thể chất cho trẻ; Có kiến thức về phương pháp phát triển tình cảm - xã hội
và thẩm mỹ cho trẻ; Có kiến thức về phương pháp tổ chức hoạt động chơi chotrẻ; Có kiến thức về phương pháp phát triển nhận thức và ngôn ngữ của trẻ
Giáo viên mầm non phải có kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế,văn hóa xã hội liên quan đến giáo dục mầm non Bao gồm các tiêu chí như:
Có hiểu biết về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và giáo dục của địa phươngnơi giáo viên công tác; Có kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục
an toàn giao thông, phßng chèng một số tệ nạn xã hội; Có kiến thức phổ thông
về tin học, ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc nơi giáo viên công tác; Có kiến thức
về sử dụng một số phương tiện nghe nhìn trong giáo dục
Ba là, giáo viên mầm non phải đáp ứng các yêu cầu thuộc lĩnh vực kỹ
năng sư phạm
Giáo viên mầm non phải biết cách lập kế hoạch chăm sóc, giáo dụctrẻ Bao gồm các tiêu chí như: Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ theo
Trang 32năm học thể hiện mục tiêu và nội dung chăm sóc, giáo dục trẻ của lớp mìnhphụ trách; Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ theo tháng, tuần; Lập kếhoạch hoạt động một ngày theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực củatrẻ; Lập kế hoạch phối hợp với cha mẹ của trẻ để thực hiện mục tiêu chămsóc, giáo dục trẻ.
Giáo viên mầm non phải có kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt độngchăm sóc sức khoẻ cho trẻ Bao gồm các tiêu chí như: Biết tổ chức môitrường nhóm, lớp đảm bảo vệ sinh và an toàn cho trẻ; Biết tổ chức giấc ngủ,bữa ăn đảm bảo vệ sinh, an toàn cho trẻ; Biết hướng dẫn trẻ rèn luyện một số
kỹ năng tự phục vụ; Biết phòng tránh và xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạnthường gặp đối với trẻ
Giáo viên mầm non phải có kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ.Bao gồm các tiêu chí như: Biết tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo hướngtích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ; Biết tổ chức môi trường giáodục phù hợp với điều kiện của nhóm, lớp; Biết sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồchơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự làm) và các nguyên vật liệu vào việc tổ chứccác hoạt động giáo dục trẻ; Biết quan sát, đánh giá trẻ và có phương phápchăm sóc, giáo dục trẻ phù hợp
Giáo viên mầm non phải có kỹ năng quản lý lớp học Bao gồm các tiêuchí như: Đảm bảo an toàn cho trẻ; Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lýnhóm, lớp gắn với kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; Quản lý và sửdụng có hiệu quả hồ sơ, sổ sách cá nhân, nhóm, lớp; Sắp xếp, bảo quản đồdùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp với mục đích chăm sóc, giáo dục
Giáo viên mầm non phải có kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồngnghiệp, phụ huynh và cộng đồng Bao gồm các tiêu chí như: Có kỹ năng giaotiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm; Có kỹ năng giao tiếp, ứng xửvới đồng nghiệp một cách chân tình, cởi mở, thẳng thắn; Gần gũi, tôn trọng
Trang 33và hợp tác trong giao tiếp, ứng xử với cha mẹ trẻ; Giao tiếp, ứng xử với cộngđồng trên tinh thần hợp tác, chia sẻ.
Theo Thông tư số 02/2014/TT-BGDĐT ngày 08 tháng 02 năm 2014của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế công nhận trườngmầm non đạt chuẩn quốc gia Tại điều 5 Tiêu chuẩn 2, Quy định về: Cán bộquản lý, giáo viên và nhân viên, thì: Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng đạttiêu chuẩn theo quy định hiện hành của Điều lệ trường mầm non; thực hiện tốtquy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; được cấp quản lý giáo dụctrực tiếp xếp loại từ khá trở lên theo qui định hiện hành về chuẩn hiệu trưởngtrường mầm non Trường phải có đủ số lượng giáo viên, nhân viên theo quyđịnh Đảm bảo 100% giáo viên và nhân viên đạt chuẩn trở lên về trình độ đàotạo, trong đó có ít nhất 40% số giáo viên đạt trên chuẩn về trình độ đào tạo.
Chính vì vậy khi tiến hành phát triển đội ngũ giáo viên mầm non vàquản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non, quận ba Đình, thành phố HàNội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay phải bám chắc vào các quyđịnh trên
1.3.3 Tác động từ những yêu cầu đặc thù quận Ba Đình, thành phố
Hà Nội và các trường mầm non
Công tác phát triển đội ngũ giáo viên căn cứ trên chuẩn nghề nghiệpgiáo viên và yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia nhưng cũng cần phảitính đến đặc điểm tình hình của địa phương và yêu cầu phát triển của từngnhà trường Với mỗi vùng miền đều có những lợi thế cũng như những khókhăn khác nhau ảnh hưởng tới vấn đề phát triển đội ngũ Quận Ba Đình làtrung tâm của Thủ Đô Hà Nội, mức độ phát triển về kinh tế, văn hóa, giáo dục
và chính trị xã hội có tác động mạnh mẽ đến phát triển giáo dục mầm non vàphát triển đội ngũ giáo viên mầm non Giáo viên mầm non trên địa bàn quậnphải không những phải đạt chuẩn theo quy định chung của ngành mà phải
Trang 34phát triển về mọi mặt tương thích với tốc độ phát triển chung về kinh tế, chínhtrị, văn hóa, giáo dục và vị thế của quận trung tâm
Các yêu cầu về lĩnh vực chính trị, đạo đức, lối sống, không chỉ nhậnthức đúng, chấp hành nghiêm đường lối chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước mà trên cương vị công tác của mình, phải tích cực đấu tranh chốnglại các khuynh hướng quan điểm tư tưởng sai trái dưới mọi hình thức, kiênquyết bảo vệ sự đoàn kết, trong sáng của Đảng, của chế độ
Có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo;
có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp, đồng thời phải ra sức học tập,rèn luyện giữ vững truyền thống thanh lịch của người Thủ Đô, có ý thứctuyên truyền cho đồng nghiệp và học sinh về những giá trị truyền thống tốtđẹp của người Hà Nội
Mỗi nhà trường, đứng đầu là người Hiệu trưởng đặt ra cho nhà trườngmình một mục tiêu phát triển, gắn với sứ mạng và tầm nhìn được chia sẻ vớimọi thành viên trong nhà trường Mục tiêu ưu tiên, quy mô phát triển của mỗinhà trường đặt ra những vấn đề đặc thù cho sự phát triển đội ngũ giáo viêncủa nhà trường ấy Ví dụ với những trường đặt mục tiêu đạt chuẩn quốc gia sẽhướng sự phát triển đội ngũ giáo viên tới chuẩn này Với những trường đã đạtchuẩn, nhà trường có thể sẽ đặt những mục tiêu mới, đáp ứng yêu cầu hộinhập, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
*
Để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu xã hội phải thật sựcoi phát triển đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ trọng tâm trong mỗi nhà trường
Do vậy, việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên đủ
về số lượng, cơ cấu hợp lý, có trình độ chuyên môn cao, có tính ổn định lâudài là vô cùng quan trọng, cấp thiết và mang tính tất yếu
Trang 35Để làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề, tác giả đã nêu và phân tích các kháiniệm cơ bản có liên quan như: Quản lý, phát triển ; giáo viên; đội ngũ giáoviên, biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên; nội dung biện pháp phát triểnđội ngũ giáo viên; vị trí, vai trò, chức năng và trách nhiệm của Hiệu trưởngtrường mầm non trong công tác phát triển đội ngũ giáo viên Tuy nhiên, để có
cơ sở thực tiễn, đề tài sẽ tiếp tục nghiên cứu phần thực trạng quản lý pháttriển đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố HàNội trong Chương 2
Trang 36Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON, QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI 2.1 Khái quát về quận Ba Đình và giáo dục mầm non quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội
2.1.1 Khái quát về quận Ba Đình
Với ưu thế là một quận trung tâm của Thủ đô Hà Nội, Ba Đình đã đạtđược nhiều thành tự to lớn trên tất cả các mặt, kinh tế, văn hóa, xã hội Tronglĩnh vực giáo dục, Ba Đình là quận đầu tiên trong cả nước đạt phổ cập giáodục tiểu học và THCS, xóa xong lớp học ca 3, phòng học cấp 4 Đến nay,quận đã có 10 trường đạt chuẩn quốc gia, 100% đội ngũ cán bộ giáo viên đềuđạt và vượt chuẩn Công tác xã hội hóa giáo dục từng bước được mở rộng vềquy mô và loại hình, tạo ra nguồn lực thúc đẩy giáo dục, đào tạo, dạy nghềphát triển
Qua nửa thế kỷ phát triển, với những thành tựu đạt được, Đảng bộ,nhân dân quận Ba Đình đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danhhiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang” (2000), Huân chương lao động hạng nhì(2003,2004) “Anh hùng lao động” trong thời kỳ đổi mới (2006) và Huânchương lao động Hạng Nhất (2011) Bề dày thành tích ấy chính là nguồn lực
to lớn để Đảng bộ, nhân dân quận Ba Đình luôn sáng tạo, vượt qua khó khăn
để vươn lên tiếp tục phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn mới vì sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô và đất nước
2.1.2 Khái quát chung về Giáo dục mầm non quận Ba Đình
Hiện nay (tính đến năm học 2015 – 2016) toàn Quận có 39 trường mầmnon, trong đó có 22 trường công lập, 17 trường tư thục
Nhà trẻ gồm có: 2305 trẻ (trong đó 1185 trẻ công lập, 1120 trẻ tư thục)
Số trẻ em huy động ra lớp trên địa bàn: Công lập 11,8%, Tư thục 10,7 Mẫu
Trang 37giáo: Số cháu đến trường 12.011 trẻ (trong đó Công lập: 9492 cháu; Tư thục:
719 cháu) Số lượng trẻ ở tuổi mẫu giáo được huy động đến trường đạt 95%(Trong đó: Công lập 75%; Tư Thục 25%) Trẻ em 5 tuổi huy động đến lớp:
1740 cháu trong tổng số 2195 cháu, đạt 99,9%
Bảng 2.1: Kết quả phát triển mạng lưới trường, lớp giáo dục mầm non Quận
Ba Đình (n m 2015 -2016)ăm 2015 -2016)
Loại hình
Tổng Số
Nhà trẻ
Mẫu giáo Lớn Nhỡ Bé
Cơm thường
Cơm nát
Bảng 2 2: Thống kê số lượng trẻ đến trường quận Ba Đình (năm học 2015 - 2016)
Lứa tuổi Tổng số Công lập Tư thục Tỷ lệ % so với độ
tuổi trẻ trên địa bàn
(Nguồn Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ba Đình)
Bảng thống kê trên đây cho thấy, mạng lưới trường mầm non trên địabàn quận là khá lớn, tuy nhiên số trẻ đến lớp còn thấp Để huy động số lượngtrẻ em ra lớp, hàng năm trước 5 tháng bước vào năm học mới, phòng Giáodục và đào tạo Quận đã chỉ đạo các cơ sở GDMN phối hợp với ủy ban nhândân các phường, điều tra số trẻ trên địa bàn, số trẻ đến các cơ sở tư thục,nhóm trẻ gia đình Từ đó xây dựng chỉ tiêu phát triển số lượng học sinh hàngnăm Mặc dù nhà trường và các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp đểhuy động trẻ em đến trường, nhưng có nhiều lý do để các gia đình còn giữ trẻ
ở nhà hoặc gửi người trông giữ với nhiều hình thức khác nhau
Chất lượng giáo dục của các trường mầm non quận Ba Đình là tương đối
ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực, kết quả năm sau cao hơn năm trước.Tuy nhiên vẫn còn tồn tại trẻ không đạt được yêu cầu của độ tuổi, vấn đề này rấtcần sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành nói chung và ngành giáo dục
Trang 38nói riêng, nhưng trước hết các nhà trường cần đánh giá, rà soát lại chất lượng độingũ giáo viên để tìm ra những bất cập trong quá trình dạy và học.
2.2 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non quận Ba Đình
2.2.1 Thực trạng phát triển về số lượng giáo viên mầm non
Với yêu cầu và nhu cầu ngày càng lớn về các hình thức, loại hìnhGDMN trong giai đoạn hiện nay cũng như những năm trước mắt Quận ủy, ủyban nhân dân quận, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã quán triệt sâu sắc quanđiểm: đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ, giáo viên một cách có hệthống, hợp lý Chú trọng việc nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cũngnhư năng lực chuyên môn nghiệp vụ Cho đến nay (năm học 2015 - 2016),đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên mầm non Quận gồm có:
Bảng 2.4: Tổng số đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên mầm non Quận Ba
(Nguồn Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ba Đình)
Theo số liệu thống kê của phòng Giáo dục - Đào tạo quận Ba Đình,năm học 2014 - 2015 có 99 người được đi học, năm học 2015 - 2016 có 136người Cho đến nay, đội ngũ cán bộ, giáo viên có trình độ học đào tạo: Trungcấp lý luận chính trị: 49 giáo viên; Cao đẳng Sư phạm nhà trẻ mẫu giáo : 10giáo viên; Cử nhân quản lý giáo dục: 50 giáo viên; Đại học mầm non (từ xa):
20 giáo viên; Đại học mầm non (tại chức): 120 giáo viên; Bồi dưỡng quản lýgiáo dục: 5 người; Trung cấp nấu ăn: 131 người; Nấu ăn: 3/7: 24 người Giáoviên công lập: 710 giáo viên đạt chuẩn 100% trong đó trên chuẩn 497 giáoviên (70%); Giáo viên tư thục: 250 giáo viên đạt chuẩn: 230 (92%); trênchuẩn: 107 giáo viên (43%)
Trang 39Phòng Giáo dục và đào tạo thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡngcán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo các chuyên đề, kết hợp với trungtâm giáo dục thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ nấu ăn mầmnon thời gian trung bình 3 tháng, kinh phí tự túc Ngoài ra đội ngũ cán bộ,giáo viên còn được bồi dưỡng trang bị kiến thức về ứng dụng công nghệthông tin; Tổ chức học tập và quản lý hồ sơ học tập và quản lý hồ sơ học tậpcủa giáo viên.
Thực hiện hướng dẫn của Sở giáo dục và đào tạo, Phòng Giáo dục vàĐào tạo đã chỉ đạo các trường phát động phong trào thi giáo viên giỏi trên tất
cả các môn học Tổng số giáo viên tham gia dự thi 215/269 (80%) Số đượcchọn tham gia thi cấp Quận 70/215 (32,6%) Việc ứng dụng công nghệ thôngtin hiện đại vào giờ dạy như: máy quay camera, máy vi tính, đầu đài Áp dụngchương trình Hepikid, Kítmart để dạy trẻ đạt kết quả cao Giáo viên còn dạytrẻ làm quen với các hoạt động, rèn luyện kỹ năng vệ sinh, các hoạt động laođộng, các hoạt động lễ hội, theo từng chủ đề,… Từ hình thức tổ chức thí điểmnày sẽ nhân rộng ra diện đại trà để tổ chức cho các trường, lớp thực hiệnchương trình giáo dục mầm non mới
Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên hưởng ứng và tham gia tích cựccuộc vận động: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích tronggiáo dục”, thực hiện sâu rộng phong trào “Dân chủ - kỷ cương - tình thương -trách nhiệm” trong nhà trường Nâng cao ý thức nghề nghiệp và đạo đức nhàgiáo xây dựng “Nhà trường Văn hóa - Nhà giáo mẫu mực - Học sinh chămngoan” Thường xuyên liên hệ mật thiết vơi các hội phụ huynh, không để xảy
ra các sai phạm, tiêu cực trong nhà trường, tạo được lòng tin và sự trân trọngcủa cha mẹ học sinh Cán bộ quản lý, giáo viên thực thụ là hạt nhân trong việctạo ra môi trường lành mạnh, kết hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong
sự nghiệp nuôi dưỡng - chăm sóc - giáo dục thế hệ trẻ ở tuổi mầm non
Trang 40Bảng 2.5: Bảng tổng hợp giáo viên 3 trường trên địa bàn quận
Tên
trường
Năm học 2013 - 2014 Năm học 2014 - 2015 Năm học 2015 - 2016
TS GV
TS Lớp
Tỷ lệ GV/Lớp
TS GV
TS Lớp
Tỷ lệ GV/Lớp
TS GV
TS Lớp
Tỷ lệ GV/Lớp
(Nguồn: Báo cáo thống kê của 3 trường)
Do quy mô số lớp, số học sinh hàng năm đều tăng và do hàng năm đều
có giáo viên thuyên chuyển đi nơi khác hoặc nghỉ chế độ, trong khi đó nguồntuyển không kịp thời, do vậy gây biến động về tình hình biên chế và chấtlượng đội ngũ nên các nhà trường chưa thể bổ sung số lượng giáo viên để đápứng kịp thời
2.2.2 Thực trạng cơ cấu đội ngũ giáo viên mầm non
- Cơ cấu tuổi
Bảng 2.6: Tổng hợp về tuổi đời của ĐNGV tính đến năm học 2016 - 2017STT Môn Số người
Đội ngũ cán bộ, giáo viên Dưới 30 tuổi Từ 30 – 40
tuổi
Từ 41 – 50 tuổi
Từ 51 – 60 tuổi
Biểu đồ 2.1: Tổng hợp về tuổi đời của ĐNGV tính đến năm học 2016 – 2017