3.1.3 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế và thực thi các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán bảo đảm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học nêu trong Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
TÁC GIẢ
VÕ THỊ MỸ HƯƠNG
Trang 3DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
QĐTCK: Quỹ đầu tư chứng khoán
TTCK: Thị trường chứng khoán
UBCKNN: Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Danh mục các thuật ngữ viết tắt
Mục lục
Mở đầu
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG
KHOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1 Những vấn đề chung về quỹ đầu tư chứng khoán 1
1.1.1 Khái niệm và phân loại quỹ đầu tư chứng khoán 1
1.1.2 Đặc điểm của quỹ đầu tư chứng khoán 8
1.1.3 Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán 12
1.1.4 Các nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển của
Quỹ đầu tư chứng khoán
15
1.2 Những vấn đề cơ bản về pháp luật quỹ đầu tư chứng
khoán
18
1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với tổ chức và
hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
19
1.2.2 Yêu cầu của pháp luật về quỹ đầu tư chứng khoán 22
1.3 Pháp luật về quỹ đầu tư chứng khoán của một số nước và
bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM 2.1 Pháp luật quỹ đầu tư chứng khoán trước khi Luật chứng 39
Trang 5khoán có hiệu lực (1998 – 2006)
2.1.1 Một số đặc điểm về nội dung của pháp luật quỹ đầu tư chứng
khoán giai đoạn 1998 – 2006
39
2.1.2 Những hạn chế pháp luật quỹ đầu tư chứng khoán giai đoạn
1998 – 2006
52
2.2 Luật chứng khoán 2006 và các văn bản hướng dẫn thi
hành – Bảo đảm pháp lý mới cho hoạt động của quỹ đầu
tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
56
2.2.1 Tác động của sự ra đời Luật chứng khoán 2006 và các văn
bản hướng dẫn thi hành đối với sự phát triển quỹ đầu tư
chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
56
2.2.2 Hoạt động xây dựng và một số nội dung cơ bản của pháp luật
về Quỹ đầu tư chứng khoán từ 2006 đến nay
3.1.1 Thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển
nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán
82
3.1.2 Xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
với tính chất ngày càng phức tạp, chủ thể tham gia thị trường
tham gia ngày càng đông
84
Trang 63.1.3 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán
Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế và thực thi các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán bảo đảm khuyến khích nhà đầu tư tổ chức tham gia thị trường
87
3.1.4 Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức để thị trường chứng
khoán Việt Nam trở thành kênh huy động vốn hữu hiệu, an toàn, ổn định cho các doanh nghiệp và là “hàn thử biểu” cho nền kinh tế đang trong giai đoạn hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu
90
3.1.5 Nâng cao hơn nữa vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán trong
việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, trong việc nâng cao tính minh bạch, khắc phục tình trạng đầu tư “bầy đàn” trên thị trường chứng khoán Việt Nam
92
3.1.6 Chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để cùng với các nước thành
viên ASEAN tiến tới thành lập một thị trường vốn ASEAN
94
3.1.7 Tạo đà cho thị trường phục hồi sau khủng hoảng tài chính
toàn cầu hiện nay
96
3.2 Một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật quỹ đầu tƣ chứng khoán ở Việt
97
3.2.1 Về phương diện lập pháp 97 3.2.1.1 Khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn các quy định về
công ty đầu tư chứng khoán
98
3.2.1.2 Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của khối
công ty quản lý quỹ
102
3.2.1.3 Cần có những nghiên cứu để bảo đảm hài hoà trong việc thực
thi chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh
104
Trang 7doanh chứng khoán
3.2.1.4 Bổ sung thêm những chi tiết cần thiết, đảm bảo cho hoạt động
của quỹ đầu tư được an toàn và hiệu quả
105
3.2.2 Một số giải pháp khác 107 3.2.2.1 Nâng cao nhận thức của nhà đầu tư cá nhân về QĐTCK và
phương thức đầu tư qua quỹ, đây là giải pháp cần tiến hành ngay
3.2.2.4 Cho phép thành lập Quỹ đầu tư trước, sau đó chuyển sang cho
Công ty quản lý quỹ quản lý
112
3.2.2.5 Tăng cường đội ngũ chuyên gia kinh tế tài chính, tính chuyên
nghiệp trong hoạt động của các QĐTCK
114
3.2.2.6 Tăng cường công tác phổ biến về quỹ đầu tư chứng khoán cho
nhà đầu tư trên thị trường
114
Tài liệu tham khảo
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế đã chứng minh là, khi TTCK phát triển đến một giai đoạn nhất định, các hoạt động đầu tư cần phải được tiến hành thông qua các nhà đầu tư có tổ chức,
có kinh nghiệm để nhà đầu tư nhỏ có thể đạt được lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro
và chi phí thấp nhất Người thực hiện hoạt động đầu tư thay cho các nhà đầu tư nhỏ, năng lực tài chính thấp, thiếu kỹ năng phân tích, đánh giá để đưa ra các quyết định đầu tư, đó là các QĐTCK Các QĐTCK chỉ có thể phát huy được vai trò của mình trong việc ổn định, phát triển thị trường theo hướng minh bạch, an toàn khi TTCK hoạt động theo những quy luật vốn có của nó
Khi TTCK mới xây dựng, nhà đầu tư nước ta còn khá e dè khi đầu tư vào thị trường, nhưng khi cảnh kiếm tiền trên TTCK quá dễ đã thôi thúc nhà đầu tư, bất kể
họ là ai lao vào kinh doanh chứng khoán Chứng khoán vượt quá giá trị thật Nhà đầu tư biết nhưng họ vẫn mua Họ chấp nhận mạo hiểm vì tin rằng trên thị trường
sẽ còn có người mua lại nó với giá cao hơn nữa Lòng tham của con người khiến
họ hành động, bởi khi còn nhìn thấy cơ hội kiếm lợi, họ còn nhảy vào Sự phát triển theo kiểu “bong bóng” của TTCK Việt Nam trong năm 2006 có mức tăng trưởng cao nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với 145% và đầu năm 2007 tăng thêm 46% - cao nhất trên thế giới [24] buộc các nhà hoạch định chính sách phải suy nghĩ bảo đảm sự phát triển bền vững của thị trường, đến mức Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 03/QĐ-NHNN về hạn chế cho vay kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng thương mại để tránh một cuộc khủng hoảng tài chính như đã xảy ra ở các nước Đông Nam á những năm 1997
Thực trạng trên kết hợp với tình trạng từ đầu năm 2008 tới nay, TTCK Việt
Trang 9Nam sụt giảm tới mức đáng lo ngại, nhiều nhà đầu tư đã mất hết nguồn vốn đầu tư, tài sản riêng do chứng khoán mất giá, hoặc có nhà đầu tư chuyển hướng sang kinh doanh vàng hoặc đô la Mỹ càng làm cho tình trạng rối ren trên thị trường tài chính nước ta
Để thị trường phát triển ổn định, an toàn, nhà nước cần có các biện pháp để khuyến khách nhà đầu tư chuyên nghiệp và các QĐTCK Muốn làm được điều này, cần nâng cao nhận thức của nhà đầu tư về những lợi ích thoong qua việc đầu
tư thông qua QĐTCK, các quy định pháp luật về mô hình QĐTCK, nhất là các quyền và nghĩa vụ pháp lý của nhà đầu tư để nhà đầu tư nhận thức được nếu đầu tư qua QĐTCK học sẽ được bảo đảm rằng nguồn vốn đầu tư sẽ mang lại lợi nhuận tối
đa và sự bảo vệ của các quy định pháp luật
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về QĐTCK hiện nay phần lớn mới chỉ tập trung vào các biện pháp nhằm khuyến khích, phát triển QĐTCK trong điều kiện TTCK Việt Nam
ngày càng phát triển, như Nguyễn Lê Cường (2007) Quỹ đầu tư chứng khoán – mô
hình tổ chức và giải pháp thúc đẩy phát triển trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính; Phương Hoàng Lan Hương
(2001), Hình thành và phát triển quỹ đầu tư chứng khoán và Công ty quản lý quỹ ở
Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ; Viện Hàn lâm khoa học Quốc gia
Ucraine, TS Nguyễn Minh Đức (2006), Thị trường chứng khoán trong nền kinh tế
chuyển đổi, Nxb Tài chính, Hà Nội; Viên Thế Giang, Võ Thị Mỹ Hương (2008),
“Quỹ đầu tư chứng khoán mô hình thích hợp để nhà đầu tư nhỏ tham gia thị trường
chứng khoán”, Tạp chí Ngân hàng số 19, tháng 9/2008; Viên Thế Giang, Võ Thị
Mỹ Hương (2009), “Phát triển quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng
khoán Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 82, tháng 3/2009;
Viên Thế Giang, Võ Thị Mỹ Hương (2009), Thực trạng pháp luật quỹ đầu tư
chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng số tháng 7/2009; Võ Thị
Trang 10Mỹ Hương (2009), Vài nét về pháp luật quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam, Tạp
chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 84, tháng 5/2009; Bùi Nguyên Hoàn
(2004), “Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ đầu tư”, Tạp chí Chứng khoán số 10,
tháng 11/2004
Như vậy, các nghiên cứu này phần lớn tập trung chỉ rõ mô hình tổ chức, cách thức vận hành QĐTCK hoặc khai thác những lợi ích từ việc đầu tư thông qua QĐTCK hoặc nghiên cứu QĐTCK song song với công ty quản lý quỹ Trong tác tài liệu giảng dạy tại các trường đại học hiện nay, QĐTCK được đề cập rất ít, chỉ là những nét khái quát hay được đề cập như một chủ thể kinh doanh trên TTCK, như
Học viện Tài chính (2008), Giáo trình thị trường chứng khoán, Nxb Tài chính, Hà Nội; TS Đào Lê Minh (Chủ biên, 2004) Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng
khoán và thị trường chứng khoán, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; PGS NGƯT
Đinh Xuân Trình, PTS Nguyễn Thị Quy (1998), Giáo trình thị trường chứng
khoán, Nxb Giáo dục, Hà Nội Các nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống các
quy định pháp luật về QĐTCK hiện nay hầu như chưa được đề cập nhiều
Với những suy nghĩ trên, việc lựa chọn nội dung “Pháp luật về Quỹ đầu tư
chứng khoán ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học luật là có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở khái quát hệ thống lý luận về QĐTCK, luận văn tập trung làm rõ hơn những vấn đề lý luận pháp luật QĐTCK, phân tích thực trạng và đề xuất các nhóm giải pháp sửa đổi, bổ sung những bất cập, hạn chế của pháp luật hiện hành
và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật QĐTCK trên thực tế
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Là luận văn chuyên ngành luật học, Luận văn không phân tích dưới giác độ kinh tế mà tập trung chủ yếu vào việc đánh giá, bình luận về các quy định pháp
Trang 11luật hiện hành về QĐTCK Để làm được điều này, Luận văn tập trung xây dựng hệ thống các vấn đề lý luận về QĐTCK, trong đó nhấn mạnh đến đặc điểm đặc thù của QĐTCK; những vấn đề lý luận pháp luật QĐTCK trên cơ sở phân tích, so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới Đồng thời Luận văn phân tích thực trạng của pháp luật QĐTCK qua các giai đoạn phát triển nhằm chỉ ra những bất cập, hạn chế và đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung phù hợp với tiến trình cải cách TTCK Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích so sánh tổng hợp để chỉ rõ mô hình pháp lý của QĐTCK, chỉ ra những bất cập, hạn chế trong các quy định để chỉ ra biện pháp sửa đổi, bổ sung Ngoài các phương pháp trên, tác giả cũng sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để chỉ rõ những khó khăn trong việc vận hành mô hình QĐTCK, đồng thời làm rõ nhu cầu, phương hướng xây dựng, vận hành QĐTCK theo quy định của pháp luật hiện hành, nhất là thành lập
và vận hành mô hình công ty đầu tư chứng khoán theo quy định của Luật chứng khoán 2006
6 Những đóng góp mới của Luận văn
- Luận văn đã khái quát được hệ thống các vấn đề lý luận về QĐTCK, lý luận pháp luật QĐTCK và nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số nước về QĐTCK và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Luận văn khái quát quá trình phát triển pháp luật QĐTCK Việt Nam qua các giai đoạn, chỉ rõ những nội dung, kết quả công tác lập pháp và những bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật QĐTCK làm tiền đề lý luận và thực tiễn đề xuất các nhóm giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật QĐTCK trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế;
- Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, Luận văn đã xây dựng cơ sở
lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật QĐTCK, đề xuất các nhóm giải
Trang 12pháp pháp lập pháp và thực thi pháp luật QĐTCK trên thực tế
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày bao gồm 3 chương Cụ thể như sau
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ
PHÁP LUẬT QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Khái niệm và phân loại quỹ đầu tư chứng khoán
1.1.1.1 Khái niệm quỹ đầu tư chứng khoán
Trên cơ sở khái quát sự ra đời của QĐTCK, luận văn đã chỉ ra cách tiếp cận QĐTCK trong pháp luật của các nước và QĐTCK tại Việt Nam QĐTCK được luận văn tiếp cận dưới ba góc độ:
Dưới góc độ kinh tế, QĐTCK là một loại hình quỹ đầu tư trên TTCK, trong
đó lượng vốn đầu tư của quỹ được tập trung vào chứng khoán các loại như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán
Dưới góc độ xã hội, QĐTCK là một chủ thể tham gia đầu tư vàoTTCK thông
qua việc tập hợp những nhà đầu tư nhỏ, ít kinh nghiệm lại với nhau để cùng chung vốn đầu tư thông qua các nhà đầu tư có kinh nghiệm, am hiểu thị trường nhằm đạt lợi nhuận cao nhất với chi phí và độ rủi ro thấp nhất tạo nên sự ổn định và phát triển bền vững của TTCK Trong trường hợp thị trường có những biến động xấu ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển, QĐTCK là sự lựa chọn tối ưu của nhà đầu
tư, vì các QĐTCK ít chịu tác động của tâm lý đám đông, tâm lý bầy đàn, nhất là ở
Trang 13các thị trường mới nổi
Dưới góc độ pháp lý, do bản chất hoạt động của mình, quỹ đầu tư chứng
khoán, được gọi tắt trong các nội dung dưới đây là các quỹ đầu tư đã trở thành một phần quan trọng của mọi thị trường chứng khoán và các nhà đầu tư nhỏ, ít kinh nghiệm thường dựa vào các định chế này để tham gia đầu tư trên thị trường Vì vậy, định nghĩa về quỹ đầu tư thường được các cơ quan pháp luật lựa chọn để thực hiện khả năng bảo hộ tối đa cho những người đầu tư, đảm bảo sự tin tưởng hoàn toàn của công chúng đầu tư vào thị trường chứng khoán
Đối với Việt Nam, khái niệm QĐTCK lần đầu tiên được quy định tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán được ban hành thay thế cho Nghị định 48/1998/NĐ-CP và Luật chứng khoán 2006 Luật chứng khoán quy
định, QĐTCK được hiểu là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích
kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác,
kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ
Với quy định này của Luật chứng khoán, QĐTCK không chỉ là QĐTCK dạng hợp đồng dạng tín thác đầu tư mà còn được thiết lập theo mô hình công ty – công
ty đầu tư chứng khoán Mô hình QĐTCK dù được thiết lập dưới dạng hợp đồng hay công ty đều có thể được thiết lập dưới dạng Quỹ đại chúng hay Quỹ thành viên Đây là cơ hội thuận lợi để phát triển mô hình QĐTCK trong điều kiện TTCK nước ta đang có những bước điều chỉnh theo hướng ngày càng hiện đại và chuyên nghiệp hơn
1.1.1.2 Phân loại quỹ đầu tƣ chứng khoán
a) Căn cứ vào nguồn vốn huy động, QĐTCK gồm hai loại:
- Quỹ đầu tư tập thể (quỹ công chúng)
Trang 14- Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên)
b) Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn, QĐTCK gồm
- Quỹ đóng
- Quỹ mở
c) Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ, QĐTCK gồm
- Quỹ đầu tư dạng công ty
- Quỹ đầu tư dạng hợp đồng
1.1.2 Đặc điểm của quỹ đầu tƣ chứng khoán
Một là, QĐTCK hoạt động trên cơ sở quan hệ ủy thác tài sản, theo đó, nhà
đầu tư – những người có tiền tạm thời nhàn rỗi chuyển giao tiền vốn của mình cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp thực hiện hoạt động đầu tư hộ mình
Hai là, hoạt động của QĐTCK được thực hiện thông qua các công ty quản lý
quỹ
Ba là, QĐTCK là loại quỹ đầu tư mà tỷ trọng vốn của quỹ được sử dụng chủ
yếu vào để đầu tư kinh doanh chứng khoán
Bốn là, mô hình hoạt động của QĐTCK rất đa dạng, linh hoạt, giúp cho các
nhà đầu tư lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình như quỹ đại chúng, quỹ thành viên, quỹ mở, quỹ đóng…
Năm là, QĐTCK là mô hình đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của nhà
đầu tư
1.1.3 Vai trò của quỹ đầu tƣ chứng khoán
Thứ nhất, QĐTCK cung cấp cho các nhà đầu tư riêng lẻ, cho công chúng cơ
hội đầu tư tốt hơn để đạt được mục đích tối đa hóa lợi ích
Thứ hai, QĐTCK góp phần quan trọng vào việc huy động vốn cho đầu tư
phát triển kinh tế
Thứ ba, QĐTCK góp phần quan trọng vào sự phát triển ổn định của TTCK 1.1.4 Các nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển của Quỹ đầu