Học thuyết giá trị thặng dư là một trong hai phát kiến vĩ đại của Mác. Trên cơ sở lý luận giá trị, Mác đã phân tích một cách khách quan khoa học, dưới chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, quá trình sản xuất hàng hoá là quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư và tích lũy tư bản. Nguồn gốc duy nhất của giá trị thặng dư là do lao động làm thuê của người công nhân làm ra, việc thu được ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên giai cấp tư sản đã tìm mọi cách, mọi thủ đoạn, mọi phương tiện để đạt mục đích ấy. Khi mục đích đạt được thì càng có điều kiện để sử dụng thủ đoạn, phương tiện, cách thức tốt hơn và do đó khả năng tích lũy tư bản ngày càng tăng, đời sống của người lao động ngày càng bị giảm sút, bần cùng hoá giai cấp công nhân ngày càng trở nên phổ biến.
Trang 1QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA LÀ QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT GIÁ
TRỊ THẶNG DƯ LỜI NÓI ĐẦU
Học thuyết giá trị thặng dư là một trong hai phát kiến vĩ đại của Mác Trên
cơ sở lý luận giá trị, Mác đã phân tích một cách khách quan khoa học, dưới chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, quá trình sản xuất hàng hoá
là quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư và tích lũy tư bản Nguồn gốc duy nhất của giá trị thặng dư là do lao động làm thuê của người công nhân làm ra, việc thu được ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên giai cấp tư sản đã tìm mọi cách, mọi thủ đoạn, mọi phương tiện để đạt mục đích ấy Khi mục đích đạt được thì càng có điều kiện để sử dụng thủ đoạn, phương tiện, cách thức tốt hơn và do đó khả năng tích lũy tư bản ngày càng tăng, đời sống của người lao động ngày càng bị giảm sút, bần cùng hoá giai cấp công nhân ngày càng trở nên phổ biến
Hiểu rõ vấn đề này nhằm giúp người học củng cố, nâng cao kiến thức, xây dựng lập trường bản chất giai cấp công nhân và xây dựng niềm tin vào sự nghiệp đổi mới của Đảng ta
1 SỰ CHUYỂN HOÁ CỦA TIỀN THÀNH TƯ BẢN VÀ SỨC LAO ĐỘNG TRỞ THÀNH HÀNG HOÁ
1.1 Sự chuyển hoá của tiền thành tư bản
- Công thức chung của tư bản
Tiền là sản phẩm của lưu thông hàng hoá, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản Trên thị trường, tư bản lúc đầu đều biểu hiện bằng một số tiền nhất định Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản
Sự vận động của tiền trong lưu thông hàng hoá giản đơn được xác định theo công thức H-T-H (1) Tức là người sản xuất hàng hoá mang hàng hoá sản xuất được ra thị trường bán thu tiền về và dùng tiền đó để mua những hàng hoá khác theo nhu cầu (cũng có thể là nhu cầu tiêu dùng hoặc là nhu cầu sản xuất và giá trị không thay đổi)
Để tiền chuyển hoá thành tư bản thì phải vận động theo công thức: '
T
H
T (2) Tức là người chủ tiền mua hàng hoá, rồi bán hàng hoá đó để thu về với số tiền lớn hơn (giá trị đã thay đổi) Công thức (2) được gọi là công
Trang 2thức chung của tư bản vì đối với mọi tư bản (tư bản sản xuất, tư bản thương nghiệp, tư bản tiền tệ) đều là giá trị mang lại giá trị thặng dư
So sánh giữa hai công thức (1) và (2) có những điểm giống và khác nhau Điểm giống nhau thể hiện ở chỗ, đều cấu thành bởi hai nhân tố hàng và tiền; đều chứa đựng hai hành vi đối lập nhau là mua và bán; đều biểu hiện quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán Nhưng, giữa hai hình thức lưu thông này có những điểm khác nhau về chất Có thể biểu hiện ở bảng so sánh như sau:
Về trình tự sự
vận động Bắt đầu bằng hành vi bán, kếtthúc bằng hành vi mua Hàng
hoá vừa là điểm bắt đầu, vừa
là điểm kết thúc Còn Tiền tệ
là môi giới trung gian.
Bắt đầu bằng hành vi mua, kết thúc bằng hành vi bán Tiền tệ vừa là điểm bắt đầu, vừa là điểm kết thúc Còn Hàng hoá là môi gới trung gian.
Về mục đích sự
vận động Người mua những thứ hànghoá theo nhu cầu sử dụng nên
mục đích là giá trị sử dụng.
Mục đích không phải là giá trị sử dụng mà lá giá trị và là giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Phần giá trị lớn hơn đó, Mác gọi là giá trị thặng dư Tiền lúc này trở thành tư bản.
Như vậy, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư
Giới hạn của sự
vận động Có giới hạn, tức là khi muađược hàng hoá cần sử dụng
thi sự vận động sẽ kết thúc
Không có giới hạn, bởi vì mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư và là giá trị thặng dư ngày càng nhiều.
Với tính cách là tư bản, công thức vận động T-H-T’; trong đó T’=T+t; với t là lượng tiền dôi ra so với T ban đầu, gọi là giá trị thặng dư và ký hiệu bằng m
- Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản
Nhìn vào công thức chung của tư bản (T-H-T’), dường như giá trị không chỉ được tạo ra trong lao động sản xuất mà cả trong lưu thông, đây chính là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản Vậy, lưu thông có tạo
ra giá trị và làm tăng thêm giá trị hay không?
C.Mác viết: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không
thể xuất hiện ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông”1
Vậy phải chăng lưu thông cũng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư Mác khẳng định lưu thông trong mọi trường hợp đều không tạo ra giá trị và do đó cũng không tạo ra giá trị thặng dư
1 C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 23, tr 294.
Trang 3Lưu thông là quá trình trong đó diễn ra các hành vi mua và bán Trong trường hợp trao đổi ngang giá, tức là giá cả bằng giá trị Chỉ thay đổi hình thái giá trị là hàng hoá thành tiền tệ, hoặc tiền tệ thành hàng hoá Còn tổng số giá trị cũng như phần giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi
Ví dụ:
1 kg thịt có giá trị 30.000đ thì:
Khi là người bán: bán 1kg thịt thì thu về 30.000đ Khi là người mua: mua 1kg thịt thì bỏ ra 30.000đ
Số tiền mà người bán thu về và người mua bỏ ra là như nhau Tổng giá trị không có gì thay đổi
Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, tức trao đổi với giá cả cao hơn hoặc thấp hơn giá trị, nếu hàng hoá được bán cao hơn giá trị thì người bán sẽ được thêm một số tiền, nếu hàng hoá bán thấp hơn giá trị thì người mua sẽ được thêm một số tiền
Nhưng trong nền kinh tế hàng hoá, người sản xuất hàng hoá vừa là người mua vừa là người bán Không thể chỉ có người bán mà không mua hoặc ngược lại Vì vậy, cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua Nên tổng giá trị cũng không thay đổi
Ví dụ:
A là người bán thịt và B là người mua thịt Giả sử giá trị 1kg thịt
là 30.000đ, nhưng khi bán chỉ là 28.000đ thì A mất 2000đ, còn B được 2000đ Được và mất là như nhau nên tổng giá trị không thay đổi
Trong trường hợp với người chuyên mua rẻ bán đắt thì tổng giá trị toàn
xã hội cũng không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua chỉ là sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của người khác
Ví dụ:
Giá trị 1 tấn thóc là 4.000.000đ Khi họ mua của A thấp hơn giá trị với giá 3.900.000đ Khi họ bán cho B cao hơn giá trị với giá 4.100.000đ Như vậy, họ được 200.000đ Còn A và B mất 200.000đ
Được và mất là như nhau, tổng giá trị không có gì thay đổi
Trang 4Tóm lại, lưu thông hay trao đổi không hề tạo ra giá trị và do đó không tạo ra giá trị thặng dư Nhưng mặt khác, nếu không có lưu thông thì cũng không thu được giá trị thặng dư Bởi vì nhờ lưu thông mà nhà tư bản mua được thứ hàng hoá đặc biệt, mà khi sử dụng nó thì nó tạo ra giá trị lớn hơn giá trị chính bản thân nó Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư Và hàng hoá đặc biệt đó chính là hàng hoá sức lao động
Như vậy, giá trị thặng dư vừa sinh ra trong quá trình lưu thông, lại vừa không thể sinh ra trong quá trình ấy Đó chính là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản C.Mác là người đầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn
đó bằng lý luận về hàng hoá sức lao động
1.2 Hàng hoá Sức lao động
- Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá
Sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) tồn tại trong một con người và được người đó sử dụng để sản xuất của cải vật chất
Như vậy, để có của cải vật chất phục vụ nhu cầu cuộc sống thì trước hết cần phải có sức lao động Song không phải sức lao động lúc nào cũng là hàng hoá
Sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có những điều kiện sau đây:
Một là, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, nghĩa là
người có sức lao động có khả năng chi phối sức lao động ấy, kể cả tự do bán sức lao động của mình
Hai là, người có sức lao động không có những tư liệu sản xuất cần thiết
để tự mình đảm bảo cuộc sống nên họ phải bán sức lao động của mình cho người khác sử dụng
Quá trình lịch sử tách hàng loạt những người sản xuất nhỏ khỏi tư liệu sản xuất bằng bạo lực là khởi điểm của sự thiết lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Việc sức lao động trở thành hàng hoá đánh dấu một bước ngoặt cách mạng trong phương thức kết hợp người lao động với tư liệu sản xuất, là một bước tiến lịch sử so với chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến Sự cưỡng bức lao động bằng biện pháp phi kinh tế đã được thay bằng việc ký kết hợp đồng mua và bán giữa hai người bình đẳng về hình thức: giữa người sở hữu sức lao động với người sở hữu tư liệu sản xuất Sự bình đẳng về hình thức
ấy che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chế độ bóc lột được xây dựng trên sự đối kháng lợi ích kinh tế giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột
Trang 5- Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động
Cũng như mọi hàng hoá, hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động là công dụng của hàng hoá sức lao động, thể hiện trong qúa trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá sức lao động để sản xuất ra hàng hoá
Tính chất đặc biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động ở chỗ khi sử dụng thì nó tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư bị nhà tư bản chiếm đoạt
Giá trị của hàng hoá sức lao động là thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất và tái sản xuất sức lao động Sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động được thực hiện thông qua tiêu dùng của công nhân Bởi vậy, giá trị hàng hoá sức lao động là toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động, để duy trì đời sống của công nhân làm thuê, gia đình
họ và những chi phí đào tạo cần thiết theo yêu cầu sản xuất tư bản chủ nghĩa
Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ là nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử Nhu cầu của công nhân không chỉ có những nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả nhu cầu về tinh thần (giải trí, sách báo, đào tạo …) Nhu cầu đó còn phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, trình độ văn minh, vào điều kiện lịch sử hình thành giai cấp công nhân và cả điều kiện địa lý, khí hậu
Nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển thì một mặt nhu cầu về lao động phức tạp ngày càng tăng, chi phí đào tạo càng lớn; mặt khác, nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ mới cũng sẽ tăng theo sự tiến bộ của sản xuất, do đó bản thân giá trị sức lao động cũng tăng theo Nhưng theo đà phát triển của năng suất lao động, giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ lại có xu hướng giảm Như vậy giá trị hàng hoá sức lao động vận động theo hai xu hướng đối lập nhau Để xác định giá trị sức lao động ở một thời điểm nào đó cần phân tích
cụ thể sự vận động của hai xu hướng này
Tóm lại, tư bản xuất hiện trong lưu thông để mua được hàng hoá sức lao động, nhưng tiêu dùng sức lao động lại ở trong quá trình sản xuất, chính trong lĩnh vực này giá trị và giá trị thặng dư được tạo ra đồng thời với việc tạo
ra những giá trị sử dụng
Trang 62 SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA LÀ SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 2.1 Qúa trình sản xuất giá trị thặng dư
Mục đích của sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa là sản xuất giá trị thặng dư Nhưng, để sản xuất giá trị thặng dư, trước hết nhà tư bản phải tổ chức sản xuất ra những hàng hoá có giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hoá, là vật mang giá trị và giá trị thặng dư Đây cũng chính là quá trình tiêu dùng hàng hoá sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra giá trị thặng dư Trong đó, tư liệu sản xuất là của nhà tư bản, công nhân là những người làm thuê, nên đặc điểm của qúa trình sản xuất hàng hoá
tư bản chủ nghĩa là công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản
Để hiểu rõ quá trình sản xuất giá trị thặng dư, ta lấy qúa trình kéo bông thành sợi để làm ví dụ
Giả định: Nhà tư bản mua sức lao động của người công nhân là 60.000đ để làm việc trong 10 giờ Cứ 5 giờ thì người công nhân kéo được 1kg bông thành 1 kg sợi và mỗi giờ, giá trị sử dụng của sức lao động tạo ra được 12.000đ Hao mòn máy móc để kéo 1 kg bông thành 1kg sợi là 10.000đ, giá trị 1kg bông là 60.000đ Vậy giá trị 1kg sợi là:
Tiền hao mòn máy móc để kéo 1kg bông thành 1
Giá trị do giá trị sử dụng của sức lao động tạo ra
trong quá trình kéo 1kg bông thành 1kg sợi 60.000đ
Nhà tư bản mua sức lao động của người công nhân là để làm việc trong thời gian 10 giờ chứ không phải làm trong 5 giờ Nên người công nhân phải tiếp tục làm việc trong 5 giờ còn lại và cũng kéo được 1kg bông thành 1kg sợi
và giá trị của 1kg sợi lúc này là 130.000đ Giá trị 2kg sợi mà nhà tư bản thu
về là: 2 × 130.000đ = 260.000đ
Nhưng số tiến mà nhà tư bản chi ra để sản xuất được 2 kg sợi là:
Trang 7Tiền mua 2 kg bông 2 × 60.000đ = 120.000đ Tiền hao mòn máy móc để sản xuất 2 kg sợi 2 × 10.000đ = 20.000đ Tiền mua sức lao động để sản xuất 2 kg sợi 60.000đ
So sánh giữa thu (260.000đ) và chi (200.000đ) thì nhà tư bản thu về được một khoản dôi ra là 60.000đ Sở dĩ có khoản dôi ra này là do giá trị sử dụng sức lao động của người công nhân tạo ra không được trả công mà bị nhà
tư bản chiếm đoạt bỏ túi Phần giá trị đó gọi là giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư là giá trị mới do lao động của người công nhân tạo ra ngoài giá trị sức lao động, là kết quả lao động không công của công nhân cho
nhà tư bản
Vì vậy, C.Mác viết: “Bí quyết của sự tăng thêm giá trị của tư bản quy
lại là ở chỗ tư bản chi phối được một số lượng lao động không công nhất định của người khác”1 Bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản là ở đó Sở dĩ nhà tư bản chi phối được số lao động không công ấy vì nhà tư bản là người chiếm hữu tư liệu sản xuất Do điều kiện này mà nền sản xuất trở thành nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
- Tư bản bất biến, tư bản khả biến
Để có giá trị thặng dư, nhà tư bản ứng tư bản ra để mua tư liệu sản xuất
và sức lao động Số tiền mua tư liệu sản xuất và sức lao động gọi là tư bản Vai trò của tư liệu sản xuất và sức lao động trong qúa trình tạo ra giá trị thặng
dư là khác nhau Nên trong qúa trình nghiên cứu, C.Mác đã phân chia tư bản
thành 2 bộ phận, tư bản bất biến, ký hiệu là c và tư bản khả biến, ký hiệu là v.
Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản
xuất Trong quá trình sản xuất, giá trị của các tư liệu sản xuất được chuyển hoá, bảo tồn và tái hiện trong giá trị của sản phẩm mới Tức là giá trị của các
tư liệu sản xuất không lớn lên và cũng không mất đi
Tư bản khả biến là bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động Sau quá
trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một giá trị mới không những đủ bù đắp lại giá trị sức lao động do nhà tư bản đã trả cho công nhân, mà còn có bộ phận giá trị thặng dư cho nhà tư bản Và do vậy,
1 C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t.23, tr.735
Trang 8bộ phận tự bản dùng để mua sức lao động đã có sự biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất Sự biến đổi về lượng đó do tính đặc biệt của giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động Sức lao động là hàng hoá nên nó có 2 thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng Tức là khi sử dụng sức lao động, giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động đã tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó Từ đây, công thức giá trị của hàng hoá được viết như sau:
G = c + v + m Trong đời sống hiện thực, các xí nghiệp sử dụng máy móc và công nghệ hiện đại thì năng suất lao động cao hơn và nhờ đó thu được lợi nhuận nhiều hơn Điều đó gây ra cảm tưởng sai lầm là máy móc cũng tạo ra giá trị thặng dư Cũng như mọi bộ phận cấu thành khác của tư bản bất biến, máy móc không tạo ra giá trị mặc dù đó là một yếu tố không thể thiếu của bất cứ quá trình sản xuất hiện đại nào, yếu tố đó có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự tiến bộ của loài người Mấu chốt để nhận thức đúng vấn đề này là học thuyết về tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động cụ thể
và lao động trừu tượng Về phương diện lao động cụ thể, máy móc, công nghệ mới là phương tiện để nâng cao sức sản xuất của lao động Khi sức sản xuất của lao động được nâng cao thì một mặt, giá trị cá biệt của một sản phẩm được tạo ra sẽ thấp hơn giá trị xã hội của sản phẩm đó, và nhờ vậy, khi máy móc chưa được áp dụng phổ biến, nhà tư bản thu được lợi nhuận siêu ngạch; mặt khác, số lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ nhiều hơn, do đó, tổng khối lượng lợi nhuận mà nhà tư bản thu được cũng lớn hơn trước Máy móc dù hiện đại như thế nào cũng chỉ là lao động chết Nó phải được lao động sống “cải tử hoàn sinh” để biến thành yếu tố của quá trình lao động Nó chỉ là phương tiện – nhờ đó sức sản xuất của lao động tăng lên
Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến giúp ta hiểu sâu hơn về vai trò của từng bộ phận trong qúa trình sản xuất tư bản chủ nghĩa Giá trị của tư liệu sản xuất và sức lao động là những bộ phận cấu thành nên giá trị của hàng hoá Chỉ có sức lao động của người công nhân mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
- Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư
Trang 9Sau khi vạch trần bản chất bóc lột của nhà tư bản đối với người công nhân, C.Mác nghiên cứu trình độ và quy mô của sự bóc lột Tức là nghiên cứu
tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư (m) với
tư bản khả biến (v) Kí hiệu (m’)
Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với người công nhân Nó chỉ rõ, trong tổng số giá trị mới do sức lao động tạo
ra thì công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu Đồng thời, tỷ suất giá trị thặng dư còn chỉ rõ, trong một ngày lao động, phần thời gian lao động thặng dư (t’) mà công nhân làm cho nhà tư bản bằng bao nhiêu phần trăm so với phần thời gian lao động tất yếu họ làm cho mình Do
đó, công thức tỷ suất giá trị thặng dư còn có dạng:
Trong đó: t: Thời gian lao động tất yếu
t’: Thời gian lao động thặng dư Nếu chỉ xét dưới góc độ kinh tế thì (m’) chỉ là một chỉ tiêu nói lên hiệu qủa sử dụng lao động sống Sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển, tiến bộ khoa học, kỹ thuật càng được ứng dụng thì tỷ suất giá trị thặng dư càng tăng
Nhưng, tỷ suất giá trị thặng dư chỉ mới phản ánh mức độ bóc lột chứ chưa nói lên được quy mô bóc lột Phạm trù khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô của sự bóc lột
Khối lượng giá trị thặng dư (M) là số lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được trong một thời gian sản xuất nhất định và được tính bằng công thức:
Trong đó, V là tổng tư bản khả biến được sử dụng trong thời gian đó Khối lượng giá trị thặng dư tùy thuộc vào hai yếu tố (m’) và V Điều đó
có nghĩa là khối lượng giá trị thặng dư phụ thuộc vào thời gian, cường độ lao động của mỗi công nhân và số lượng công nhân mà nhà tư bản sử dụng
- Giá trị thặng dư tuyệt đối, tương đối và siêu ngạch
% 100 ' '
t
t m
% 100 '
v
m m
V m V v
m
Trang 10Để có được khối lượng giá trị thặng dư ngày càng lớn, nhà tư bản sử dụng nhiều phương pháp khác nhau tuỳ theo điều kiện kinh tế - kỹ thuật trong từng giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản Có hai phương pháp cơ bản để sản xuất giá trị thặng dư là tuyệt đối và tương đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày
lao động, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi
Trong đó, thời gian lao động tất yếu là thời gian mà lao động của người công nhân đã được trả công Ngày lao động là thời gian nhà tư bản đã thoả thuận với người công nhân phải làm việc trong 1 ngày Thời gian lao động thặng dư là thời gian mà lao động của người công nhân không được trả công
Ví dụ: Trong qúa trình kéo bông thành sợi ở mục (2.1), ngày lao động
là 10 giờ, thời gian lao động tất yếu là 5 giờ và thời gian lao động thặng dư là
5 giờ
Và
Khi nhà tư bản sử dụng phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối, kéo dài ngày lao động là 12 giờ thì thời gian lao động tất yếu vẫn là 5 giờ, còn thời gian lao động thặng dư lúc này sẽ là 7 giờ
Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư:
Nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày lao động của người công nhân, nhưng việc kéo dài đó không thể vượt qúa giới hạn sinh lý của người công nhân Vì họ còn phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe Việc kéo dài thời gian ngày lao động sẽ gặp còn bị sự phản kháng của giai cấp công nhân
Giai cấp tư sản muốn kéo dài ngày lao động, còn giai cấp công nhân lại muốn rút ngắn thời gian lao động Do đó, độ dài ngày lao động có thể co giãn
12 giờ
Thời gian lao động tất yếu
Thời gian lao động thặng dư
% 100
% 100 5
5
% 100
v
m m
% 140
% 100 5
7
% 100
v m m