1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU CHUYÊN đề TRIẾT học vật CHẤT ý THỨC và mối QUAN hệ vật CHẤT ý THỨC TRONG CHỦ NGHĨA DUY vật BIỆN CHỨNG

24 361 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 172 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại dù cho hệ thống quan niệm về thế giới được các học thuyết đưa ra như thế nào chăng nữa, nhưng theo Ph.Ăngghen thì: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”. Việc giải quyết vấn đề cơ bản đó đã hình thành nên hai trường phái triết học là chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và hai phương pháp nhận thức thế giới là phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa duy vật đã có lịch sử hình thành và phát triển từ thời cổ đại, song chỉ có chủ nghĩa duy vật biện chứng mới giải quyết đúng đắn, triệt để nhất vấn đề vật chất, ý thức cũng như mối quan hệ vật chất và ý thức.

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại dù cho hệ thống quan niệm

về thế giới được các học thuyết đưa ra như thế nào chăng nữa, nhưng theoPh.Ăngghen thì: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triếthọc hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” Việc giải quyết vấn đề

cơ bản đó đã hình thành nên hai trường phái triết học là chủ nghĩa duy vật,

chủ nghĩa duy tâm và hai phương pháp nhận thức thế giới là phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng Chủ nghĩa duy vật đã có lịch sử hình

thành và phát triển từ thời cổ đại, song chỉ có chủ nghĩa duy vật biện chứngmới giải quyết đúng đắn, triệt để nhất vấn đề vật chất, ý thức cũng như mốiquan hệ vật chất và ý thức

1 VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

1.1 Phạm trù vật chất

Vật chất với tư cách là phạm trù triết học (tiếng La-tinh là meteria) đã cólịch sử khoảng 2500 năm, quá trình phát sinh và phát triển của nó gắn liền vớihoạt động thực tiễn của con người và với sự hiểu biết của con người về giới tựnhiên Ngay từ lúc mới ra đời, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộcđấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy tâm coi thực thể của thế giới, cơ sở mọi sự tồn tại là một

bản nguyên tinh thần nào đó Theo Duy tâm khách quan thì thế giới vật chất

tồn tại do lực lượng siêu nhiên sinh ra, có thể là "ý niệm" hay "ý niệm tuyệt

đối" Platon quan niệm vật chất bắt nguồn từ "ý niệm", sự vật cảm tính là cái bóng của "ý niệm"; còn Hêghen thì coi vật chất là do "ý niệm tuyệt đối sinh

ra" Đồng thời, các ông đều có thái độ căm thù chủ nghĩa duy vật, cố tình

xuyên tạc, vu khống triết học duy vật Duy tâm chủ quan cho rằng tồn tại là

do ý niệm chủ quan của con người Béccơly đã hệ thống hoá một số quan

điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan đưa ra công thức “Tồn tại tức là được

tri giác” Makhơ lại coi sự kết hợp, phức hợp các yếu tố tạo thành thế giới và

cho đó là phátkiến vĩ đại cao hơn cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâmnhưng cái gì tạo ra các yếu tố thì Makhơ cho đó là cảm giác

Trang 3

Như vậy, chủ nghĩa duy tâm trong mọi thời đại và dưới mọi hình thứcđều tìm mọi cách phủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất Trên thực

tế quan điểm của chủ nghĩa duy tâm đã bị thực tiễn và khoa học bác bỏ

Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật trước Mác đã cónhững quan niệm tương đối thống nhất về phạm trù vật chất: Thừa nhận sựtồn tại khách quan của thế giới vật chất; giải thích sự vận động phát triển củathế giới vật chất như một hiện tượng tự thân; bác bỏ vai trò sáng tạo thế giớicủa thần linh thượng đế, của lực lượng siêu nhiên Tuy nhiên, họ lý giải rấtkhác nhau

Chủ nghĩa duy vật cổ đại: Đi tìm bản nguyên thế giới từ những sự vật

cụ thể cảm tính nên đã đồng nhất vật chất với vật thể, vật chất là những vậthữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài Do vậy, họ không phân

biệt được vật chất với vật thể Talét coi vật chất là Nước, Anaximen coi vật

chất là Không khí Hêraclit coi vật chất là Lửa Đỉnh cao của chủ nghĩa duy

vật cổ đại trong quan niệm về vật chất là thuyết nguyên tử của Lơxíp và

Đêmôcrít Theo Lơxíp và Đêmôcrít thì thực thể của thế giới là nguyên tử Đó

là những phần tử cực kỳ nhỏ, cứng tuyệt đối không thâm nhập được, khôngquan sát được Nguyên tử chỉ có thể nhận thức được nhờ tư duy Đêmôcríthình dung nguyên tử có nhiều loại: có loại góc cạnh, xấu xí; có loại cong,nhẵn; có loại tròn, hình cầu… Sự kết hợp hoặc tách rời nguyên tử theo cáctrật tự khác nhau của không gian sẽ tạo nên toàn bộ thế giới

Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII, XVIII: Trên cơ sở nền khoa học tự

nhiên - thực nghiệm Châu Âu, họ đã có những kiến giải đúng đắn về sự vậnđộng phát triển của thế giới vĩ mô như: Tính phổ biến của quy luật cơ học;

tính khách quan của nguyên tử Tuy nhiên nổi lên ba vấn đề: Thứ nhất:

Thuyết nguyên tử cổ đại tuy có những hạn chế lịch sử nhất định, song nó vẫngiữ vai trò định hướng cho sự phát triển của khoa học, đặc biệt là khi vật lý

học lý thuyết phát hiện ra sự tồn tại thực của nguyên tử Thứ hai: Do sự chi

phối bởi phương pháp siêu hình và sự thống trị của cơ học cổ điển Niu-tơn đãkhiến các nhà triết học lúc đó đồng nhất vật chất với khối lượng, coi nhữngđịnh luật cơ học như những chân lý hoàn hảo không thể thêm bớt, tuyệt đốihoá nó, giải thích tính tất yếu khách quan trong hiện thực theo những quy luật

Trang 4

ấy; coi vận động của vật chất chỉ là biểu hiện của vận động cơ học, nguồn gốcvận động nằm ngoài vật chất, chưa thấy được vận động là một thuộc tính của

vật chất Thứ ba: Xuất hiện những trào lưu triết học phủ nhận thuyết nguyên

tử và chống lại việc dùng cơ học cổ điển như một cẩm nang tuyệt đối để giải

thích thế giới Họ đưa ra quan niệm khác về vật chất: Phranxi Bêcơn coi thế

giới vật chất tồn tại khách quan, vật chất là tổng hợp các hạt, vận động là

thuộc tính không thể tách rời của vật chất; Hônbách coi vật chất là tất cả những cái gì bằng một cách nào đó tác động vào giác quan chúng ta; Điđrô coi trong vũ trụ chỉ có một thực thể duy nhất là vật chất Đềcáctơ nhà vật lý

học đồng thời là nhà triết học Pháp đã coi vật chất gồm những hạt nhỏ có thểphân chia đến vô tận, các hạt vật chất luôn vận động thay đổi vị trí trongkhông gian Các nhà triết học pháp thế kỷ XVIII nói chung họ cho rằng vậtchất là toàn bộ thế giới hiện thực, coi sự vận động không gian, thời gian làphương thức tồn tại của vật chất Triết học cổ điển Đức cũng lý giải một cách

hiện thực về vật chất mà tiêu biểu là Phoiơbắc, ông đã quan niệm: “Vật chất

là tất cả những gì cảm giác con người có thể cảm nhận được” Như vậy,Phoiơbắc đã quan niệm được vật chất là cơ sở mọi cái đang tồn tại

Kế thừa những tư tưởng về vật chất của các nhà duy vật trước đó.C.Mác - Ph.Ăngghen tuy chưa đưa ra một định nghĩa về vật chất nhưng đãđưa ra tư tưởng về vật chất đó là: Cần phải phân biệt vật chất với các vật thể

cụ thể tức không lẫn lộn, đồng nhất chúng nếu đồng nhất sẽ rơi vào chủ nghĩaduy vật cổ đại; Phạm trù vật chất phải bao quát được những thuộc tính chungcủa tất cả các sự vật, hiện tượng đang tồn tại cảm tính; Con người có thể nhậnthức được qua phản ánh của các giác quan; Tính vô tận, vô hạn và tính khôngthể sáng tạo, không thể diệt vong của vật chất; Tính thống nhất vật chất củathế giới; Đồng thời nêu lên các hình thức vận động của vật chất

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khoa học tự nhiên có những bước pháttriển vĩ đại, xuất hiện những phát minh mới, nhờ đó mà con người có những

hiểu biết căn bản, sâu sắc hơn về nguyên tử Năm 1895 Rơnghen phát hiện ra tia X Năm 1896 Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ Với những hiện

tượng này quan niệm về sự bất biến của nguyên tử bị bác bỏ Năm 1897

Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh điện tử là một thành phần cấu tạo

Trang 5

nên nguyên tử Nhờ đó, lần đầu tiên trong khoa học, sự tồn tại thực của nguyên

tử đã được chứng minh bằng thực nghiệm, đồng thời cũng bác bỏ nguyên tử là

phần tử nhỏ nhất không thể phân chia được Năm 1901 Kau fman chứng minh

khối lượng điện tử không bất biến mà thay đổi theo tốc độ vận động của điện

tử Bác bỏ vật chất là khối lượng và khối lượng là bất biến Năm 1905 và 1916

Thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối rộng của Anh xtanh ra đời đã chứng

minh không gian, thời gian, khối lượng của sự vật không bất biến mà phụ thuộcvào vận tốc Như vậy, các thành tựu khoa học tự nhiên đó đã bác bỏ một cáchtrực diện quan niệm siêu hình về vật chất Những quan niệm đương thời về giớihạn tột cùng của vật chất - nguyên tử hoặc khối lượng - đều bị sụp đổ trướckhoa học Vấn đề ở chỗ, trong nhận thức lúc đó, các hạt điện tích và trường

điện từ lại bị coi là cái gì đó phi vật chất Lợi dụng sự phát triển đó của của

khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy tâm đã tấn công chủ nghĩa duy vật xuyên tạcquan niệm về vật chất Họ cho rằng vật chất đã tiêu tan, thế giới chỉ còn lại mộtthực thể duy nhất là tinh thần ý thức, chủ nghĩa duy vật không còn chỗ đứng.Các nhà khoa học dao động, một số chuyển sang lập trường duy tâm Tình hình

đó đặt ra cho các nhà duy vật phải khái quát, giải thích về mặt triết học cácthành tựu đó của khoa học tự nhiên

V.I.Lênin đã phân tích tình hình phức tạp đó và chỉ rõ: Những phátminh có giá trị to lớn của Vật lý học cận đại không hề bác bỏ chủ nghĩa duyvật mà thực chất khủng hoảng vật lý học là khủng hoảng về thế giới quan;Nguyên nhân khủng hoảng là hạn chế bởi phương pháp siêu hình Từ đóV.I.Lênin khẳng định “Điện tử cũng vô cùng, vô tận như nguyên tử, tự nhiên

là vô tận”1; Đồng thời chỉ ra con đường thoát khỏi khủng hoảng là thay chủnghĩa duy vật siêu hình bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng: "tinh thần duy vật

cơ bản của vật lý học, cũng như của tất cả các khoa học tự nhiên hiện đại, sẽchiến thắng tất cả mọi thứ khủng hoảng, nhưng với điều kiện tất yếu là chủnghĩa duy vật biện chứng phải thay thế chủ nghĩa duy vật siêu hình"2 Điềukiện thực hiện sự thay thế này, theo V.I.Lênin đến nay khoa học tự nhiên đã

có đủ điều kiện thực hiện cuộc thay thế đó: “Vật lý học đang nằm trên giường

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.323.

2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr 379.

Trang 6

đẻ và nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biện chứng”1 nhưng nó đẻ ra tự phát vàngập ngừng Khái quát những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, đồng thờitổng kết những thành tựu mới nhất của khoa học, V.I.Lênin đã đưa ra định

nghĩa vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách

quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng

ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”2.

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan: Trước hết, với tư cách là phạm trù triết học, vật chất là phạm trù rộng lớn vô

cùng vô tận, có tính trừu tượng hoá và khái quát hoá cao, dùng để chỉ vật chấtnói chung vô hạn, vô tận, không ai sinh ra và không tự mất đi Còn các đốitượng vật chất mà các khoa học cụ thể khác nghiên cứu đều có giới hạn, cósinh ra và có mất đi hoặc chuyển hoá thành cái khác Là phạm trù triết họcvừa có tính cụ thể vừa có tính trừu tượng, nó không đồng nhất với vật thểnhưng không tách rời vật thể Thông qua vật thể cụ thể mà con người nắm bắtđược, hiểu biết được về vật chất Vì vậy, không thể quy vật chất nói chung vềvật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với các dạng cụ thể như các

nhà duy vật cổ đại, cận đại đã làm Đồng thời, trong nhận thức luận, đặc trưng quan trọng nhất để phân biệt vật chất là thực tại khách quan Khách quan là

cái độc lập với cảm giác con người Theo V.I.Lênin, khách quan là “cái đangtồn tại độc lập với loài người và cảm giác của con người"1 Thực tại khách

quan là những sự vật, hiện tượng tồn tại thực độc lập với ý thức con người.

Trong đời sống xã hội, vật chất theo ý nghĩa là “tồn tại xã hội không phụthuộc vào ý thức xã hội của con người"2 Thực tại khách quan là cái để phânbiệt vật chất và ý thức, là tiêu chuẩn để phân biệt đâu là vật chất đâu là ý thức

về mặt nhận thức luận Vì cả vật chất và ý thức đều hiện thực cả, song vậtchất là hiện thực khách quan còn ý thức là hiện thực chủ quan

Thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác Nghĩa là

vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người bằng cách nào đó (trực tiếp hoặc

gián tiếp) tác động lên giác quan con người Tức là: Thứ nhất: Khi tác động

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr 388.

2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.151.

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.374.

2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.403.

Trang 7

vào các giác quan cho ta cảm giác mới là vật chất Như vậy, vật chất tác độngvào các giác quan gây nên cảm giác, nhờ cảm giác mà ta nhận thức được nó.

Do đó, muốn có cảm giác trước hết phải có vật chất tác động Vì vậy, vật chất

có trước cảm giác hay vật chất có trước ý thức Thứ hai: Tất cả những gì mà

cảm giác đem lại cho chúng ta đều từ thực tại khách quan, những gì thông quacảm giác chúng ta có được đều phải có trong hiện thực khách quan và chínhchúng quy định nội dung cảm giác Do đó mà vật chất quyết định ý thức Nhưvậy, về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất không có nghĩa gì khác hơn

"thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và được ý thức conngười phản ánh"3 Với nội dung này Lênin đã giải quyết một cách khoa họcmặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học Điều cần lưu ý là không phảimọi hiện tượng tượng vật chất tác động lên các giác quan con người đều đượccon người nhận biết một cách trực tiếp Trong tự nhiên có nhiều quá trình vậtchất mà con người chỉ nhận biết được thông qua các công cụ và phương phápđặc thù của khoa học

Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của thế giới vật chất Tức

vật chất tồn tại khách quan nhưng không phải tồn tại thần bí, vô hình mà nó tồntại hiện thực dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể cảm tính mà cảm giác conngười nhận thức được thông qua các phương pháp cụ thể như: chép, chụp, phảnánh Nên vật chất vừa là nguồn gốc vừa là đối tượng của nhận thức, là cái conngười hướng tới nhận thức nó và con người có thể nhận thức được

Như vậy, V.I.Lênin đã giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triếthọc, với nội dung này thì về nguyên tắc không có sự vật, hiện tượng nào màcon người không nhận thức được, chỉ có những cái con người chưa nhận thứcđược mà thôi Nhưng sẽ biết, từ biết chưa đầy đủ đến đầy đủ, chưa sâu sắcđến sâu sắc, chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn

Với những nội dung cơ bản như trên, phạm trù vật chất trong địnhnghĩa của V.I.Lênin có nhiều ý nghĩa to lớn Khi khẳng định vật chất là "thựctại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác", "tồn tại không lệthuộc vào cảm giác" thì chúng ta khẳng định trong nhận thức luận, vật chất làtính thứ nhất, là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức Khi khẳng định

3 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.322.

Trang 8

vật chất là cái "được cảm giác chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh " tức làV.I.Lênin muốn nhấn mạnh con người cĩ thể nhận thức được thế giới vật

chất Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã giải quyết đúng đắn vấn

đề cơ bản của triết học theo lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng; chống

chủ nghĩa duy tâm, bác bỏ thuyết khơng thể biết, khắc phục triệt để thiếu sĩtcủa chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất

Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin cĩ ý nghĩa định hướng đối với các khoa

học cụ thể trong việc tìm kiểm các dạng hoặc các hình thức mới của vật chất khi

khẳng định tính vơ cùng, vơ tận của thế giới vật chất "tự nhiên là vơ tận"

Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin cịn tạo cơ sở khoa học cho quan

niệm duy vật về xã hội, thống nhất giữa duy vật về tự nhiên và duy vật về xã hội Từ đĩ mà lý giải một cách duy vật các hiện tượng của đời sống xã hội,

tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động xã hội đạt hiệu quả cao

Đối với người chỉ huy cấp phân đội cần nhận thức rõ lĩnh vực quân sự,khơng gian và thời gian của một trận chiến đấu là lĩnh vực đặc thù nhưngcũng là một bộ phận của đời sống xã hội Do đĩ, nhận thức nĩ nhất thiết phảituân theo quan điểm duy vật về xã hội Đồng thời khẳng định con người vẫn

cĩ thể nhận thức và cải tạo được nĩ theo quy luật khách quan để giành thắnglợi trong từng trận đánh hoặc loại bỏ chiến tranh khỏi đời sống xã hội

1.2 Các hình thức tồn tại của vật chất

1.2.1 Vận động của vật chất

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động khơng chỉ

là sự thay đổi vị trí trong khơng gian (Hình thức vận động thấp, giản đơn của

vật chất) mà theo nghĩa chung nhất, Vận động là mọi sự biến đổi nĩi chung.

Ph.Ăngghen viết: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất bao gồm tất cả mọi

sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ kể cả sự thay đổi vị trí đơngiản cho đến tư duy”1

Với cách hiểu vận động như vậy thì vận động cĩ những đặc trưng sau:

Thứ nhất, vận động "là phương thức tồn tại của vật chất" Tức là, vật

chất tồn tại thơng qua vận động, trong vận động và thơng qua vận động màcác dạng vật chất biểu hiện, bộc lộ sự tồn tại của mình Khơng thể cĩ vật chất

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H 1994, tập 20, tr.519.

Trang 9

khơng cĩ vận động và khơng thể cĩ sự vận động nào lại khơng phải là vậnđộng của vật chất Chính thơng qua vận động mà con người nhận thức đượcvật chất.

Thứ hai, vận động "là thuộc tính cố hữu của vật chất" Vì, vật chất tồn

tại khách quan vốn cĩ mà vận động là vận động của vật chất nên vận độngcũng vốn cĩ Đồng thời vận động là tự thân vận động của vật chất, được tạonên từ sự tác động lẫn nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc vật

chất V.I.Lênin viết: “Khơng phải thí dụ, khơng phải dài dịng, bản thân sự vật

tự nĩ”2

Thứ ba, vận động là vĩnh viễn, bất diệt, được bảo tồn cả về số lượng

và chất lượng Nếu một hình thức vận động nào đĩ của sự vật mất đi thì tấtyếu nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế nĩ Các hình thức vậnđộng chuyển hố lẫn nhau, cịn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tạicùng với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất Kết luận này đã được khẳng địnhbởi định luật bảo tồn chuyển hố năng lượng trong vật lý

Dựa trên những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph.Ăngghen đãphân chia vận động thành 5 hình thức cơ bản:

Vận động cơ học: Chuyển dịch vị trí các vật thể trong khơng gian Vận động vật lý: Vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động

của điện tử, các quá trình nhiệt điện

Vận động hố học: Sự hố hợp phân giải các chất, vận động của

nguyên tử

Vận động sinh học: Sự trao đổi chất giữa cơ thể với mơi trường.

Vận động xã hội: Mọi biến đổi cĩ thể cĩ của con người xã hội

Các hình thức vận động cĩ mối quan hệ biện chứng với nhau, mỗi hìnhthức vận động gắn liền kết cấu vật chất đặc thù, các hình thức vận động caonảy sinh trên hình thức vận động thấp, giữa cao thấp cĩ hình thức trung gian

và sự chuyển hình thức này sang hình thức khác cĩ bước nhảy vọt

Khi khẳng định thế giới vật chất tồn tại trong sự vận động vĩnh viễncủa nĩ, triết học Mác - Lênin khơng loại trừ mà mà cịn bao hàm trong nĩhiện tượng đứng im tương đối, khơng cĩ hiện tượng đứng im tương đối thì

2 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 29, tr.235.

Trang 10

không có sự vật nào tồn tại được "trong vận động của các thiên thể, có vậnđộng trong cân bằng và cân bằng trong vận động (một cách tương đối).Nhưng bất kỳ vận động tương đối riêng biệt nào cũng đều có xu hướngkhôi phục lại sự đứng im tương đối, sự cân bằng Khả năng đứng im tươngđối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là điều kiện chủ yếu của sựphân hoá của vật chất"1 Đứng im tương đối là một trạng thái ổn định tương

đối về chất hay cân bằng tạm thời của sự vật, hiện tượng trong vận động ở một thời điểm và trong một quan hệ xác định

Đứng im tương đối có những đặc điểm là: Thứ nhất, đứng im tương đối

chỉ xảy ra trong một mối quan hệ xác định chứ không phải trong mọi mối

quan hệ cùng một lúc Thứ hai, đứng im tương đối chỉ xảy ra trong một hình

thái vận động, chứ không phải xảy ra trong mọi hình thức vận động cùng một

lúc Thứ ba, đứng im tương đối là trạng thái cụ thể của vận động, vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối Thứ tư, vận động cá biệt có xu

hướng hình thành sự vật, vận động nói chung làm cho các sự vật không ngừngbiến đổi

1.2.2 Không gian và thời gian

Trên cơ sở các thành tựu của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vậtbiện chứng khẳng định: Bất kỳ một khách thể vật chất nào cũng chiếm một vịtrí nhất định, một kích thước nhất định, ở vào một khung cảnh nhất định Hìnhthức tồn tại như vậy của vật thể gọi là không gian V.I.Lênin đã nhận xétrằng: "trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chấtđang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian"1 Từ

đó ta có thể khái quát: Không gian là phạm trù triết học chỉ vị trí kết cấuquảng tính của sự vật

Mặt khác, sự tồn tại của các khách thể vật chất còn được biểu hiện ởmức độ lâu dài hay mau chóng Các hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời

gian Như vậy,thời gian là chỉ quá trình diễn biến và sự kế tiếp nhau của các

sự vật.

1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.209-210.

Trang 11

Không gian và thời gian gắn bó mật thiết với nhau và gắn liền với vậtchất, là phương thức tồn tại của vật chất Đồng thời không gian và thời gian

có những tính chất sau:

Thứ nhất, là tính khách quan, bởi vì không gian và thời gian là thuộc

tính của vật chất mà vật chất tồn tại khách quan, do đó không gian và thờigian cũng tồn tại khách quan

Thứ hai, tính vĩnh cửu, vô tận, nghĩa là không gian, thời gian không có

về một bản nguyên cụ thể, cảm tính

Bằng sự phát triển lâu dài của bản thân triết học và sự phát triển của

khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Bản chất của thế giới là

vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất Ph.Ăngghen viết: "Tính thống

nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này đượcchứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, vàbằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tựnhiên"1 Biểu hiện cụ thể:

Thứ nhất, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật

chất Thế giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức củacon người

Thứ hai, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống

nhất với nhau, chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H 1994, tập 20, tr.67.

Trang 12

của vật chất hoặc có nguồn gốc từ vật chất, do vật chất sinh ra, cùng chịu sựchi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất.

Thứ ba, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn vô hạn và vô tận, không ai

sinh ra, không bị mất đi Trong thế giới không còn gì khác ngoài những quátrình vật chất đang biến đổi, chuyển hoá lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhânkết quả của nhau

Những phát minh của khoa học tự nhiên như thuyết tế bào, định luậtbảo toàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tiến hoá có ý nghĩa to lớn, phá

bỏ ranh giới giữa quả đất với các thiên thể, thực vật với động vật, giữa giới vôsinh và giới hữu sinh Khoa học hiện đại tiếp tục chứng minh cho nguyên lý

về tính thống nhất vật chất của thế giới bằng những thành tựu mới trong vật

lý, trong hoá học, trong khoa học vũ trụ cũng như các ngành khoa học tựnhiên khác Những thành tựu đó đã làm sâu sắc thêm nhận thức của con người

về thành phần, kết cấu của thế giới vật chất, về những đặc điểm hoạt động vàphát triển của nó trên các trình độ tổ chức khác nhau của vật chất

Trong giới tự nhiên vô sinh có hai dạng vật chất cơ bản là chất vàtrường Chất là cái gián đoạn, được tạo ra từ các hạt, có khối lượng Còntrường là môi trường vật chất liên tục, không có khối lượng tĩnh và chínhtrường làm cho các hạt liên kết với nhau nhờ đó mà tồn tại được Ranh giớigiữa chất và trường chỉ là tương đối, có thể chuyển hoá cho nhau Trong giới

tự nhiên hữu sinh có các trình độ tổ chức vật chất là sinh quyển, các ADN vàARN và chất đản bạch Sự phát triển của sinh học hiện đại đã tìm ra đượcnhiều mắt khâu trung gian chuyển hoá giữa các trình độ tổ chức vật chất, chophép nối liền vật chất vô cơ, hữu cơ và sự sống đó là: Vật chất sống bắt nguồn

từ vật chất không sống Thực vật, động vật, cơ thể con người có sự giốngnhau về thành phần vô cơ, cấu trúc và phân hoá tế bào, cũng như cơ chế ditruyền sự sống

Xã hội loài người là cấp độ cao nhất của cấu tạo vật chất, là cấp độ đặcbiệt của tổ chức vật chất Xã hội là một bộ phận của thế giới vật chất, có nềntảng tự nhiên, có kết cấu và quy luật vận động khách quan không phụ thuộcvào ý thức con người Vật chất dưới dạng xã hội là kết quả hoạt động của con

Ngày đăng: 11/06/2017, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w