1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU CHUYÊN đề KINH tế CHÍNH TRỊ BA GIAI đoạn PHÁT TRIỂN của CHỦ NGHĨA tư bản

16 326 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 106 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản là quá trình tăng cường bóc lột giá trị thặng dư tương đối bằng con đường tăng năng suất lao động. Nghiên cứu ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp, không những để hiểu quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn thấy rõ phương pháp nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư của giai cấp tư sản đối với công nhân lao động làm thuê.

Trang 1

BA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

LỜI NÓI ĐẦU

Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản là quá trình tăng cường bóc lột giá trị thặng dư tương đối bằng con đường tăng năng suất lao động Nghiên cứu ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp, không những để hiểu quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn thấy rõ phương pháp nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư của giai cấp tư sản đối với công nhân lao động làm thuê Đồng thời, rút ra những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về tăng năng suất lao động xã hội, về xã hội hóa lao động, về cách mạng kỹ thuật trong quá trình chuyển từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa Trong chừng mực nhất định, những vấn đề đó cũng có ý nghĩa đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

1 HIỆP TÁC GIẢN ĐƠN TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

1.1 Hiệp tác giản đơn và ưu thế của hiệp tác giản đơn

Hiệp tác giản đơn là hình thức hiệp tác của nhiều người lao động cùng làm một công việc giống nhau Là khởi điểm của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, xét về mặt lịch sử cũng như về mặt lôgíc Những xí nghiệp tư bản chủ nghĩa đầu tiên là do thương nhân, bọn cho vay nặng lãi, thợ cả giàu có và người thủ công phát tài dựng lên trên cơ sở lao động làm thuê của những người thủ công phá sản, thợ bạn, dân nghèo nông thôn Những xí nghiệp đó được tổ chức dưới hình thức hiệp tác giản đơn, cơ sở kỹ thuật vẫn là thủ công, chỉ khác với phường hội

và nghề thủ công độc lập ở quy mô sản xuất lớn hơn, với số người lao động nhiều hơn mà thôi Điều kiện tồn tại và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là nhà tư bản phải bóc lột cùng một lúc nhiều công nhân làm thuê

để có một khối lượng giá trị thặng dư đủ để đảm bảo tái sản xuất mở rộng và nuôi sống bản thân và gia đình nhà tư bản một cách bình thường Chính điều kiện này đòi hỏi quy mô sản xuất phải lớn, hiệp tác giản đơn tư bản chủ nghĩa lúc đầu đã đáp ứng được yêu cầu đó Quy mô sản xuất của xí nghiệp hiệp tác giản đơn phát triển từ nhỏ đến lớn và ngay từ đầu cũng đã lớn hơn nhiều so với quy mô sản xuất của phường hội của người sản xuất cá thể riêng lẻ

Những ưu thế của hiệp tác giản đơn so với sản xuất cá thể:

Trang 2

- Có thể san đi bù lại những chênh lệch cá nhân về thể lực và tài nghệ giữa những người công nhân sản xuất, do đó, dẫn đến kết quả là tiêu hao lao động cá biệt của xí nghiệp hiệp tác gần sát với tiêu hao lao động xã hội cần thiết trung bình

- Tiết kiệm được tư liệu sản xuất, giảm bớt được phần tư bản bất biến chuyển vào sản phẩm

- Tạo ra một sức sản xuất mới hoạt động như một sức sản xuất tập thể,

do đó, dễ dàng hoàn thành những việc mà cá nhân riêng lẻ hoặc một số ít người không làm được hay làm rất khó khăn

- Sự tiếp xúc xã hội sinh ra thi đua, kích thích và tăng cường khả năng lao động của mọi người

- Bảo đảm tính liên tục trong lao động, đẩy nhanh tốc độ tiến triển của thao tác, và do đó, rút ngắn thời gian để tạo sản phẩm Bảo đảm tính thời vụ

và thời gian khẩn cấp của công việc

Hiệp tác giản đơn đã từng tồn tại trong các chế độ công xã nguyên thủy, nô lệ, phong kiến Những công trình kiến trúc đồ sộ được xây dựng trong thời kỳ cổ đại và thời kỳ trung cổ đều phải dựa vào hiệp tác giản đơn Đến thời đại tư bản chủ nghĩa, những ưu thế của hiệp tác giản đơn được chủ nghĩa tư bản nắm lấy và sử dụng Nhờ đó, trong buổi đầu, nó đã tạo nên một sức sản xuất mới và đưa năng suất lao động lên cao hơn sản xuất nhỏ, cá thể, khiến cho sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa lúc mới xuất hiện dưới hình thức hiệp tác giản đơn đã tỏ ra hơn hẳn sản xuất nhỏ, cá thể

1.2 Tính chất tư bản chủ nghĩa của hiệp tác giản đơn

Hiệp tác giản đơn được xây dựng trên cơ sở chế độ chiếm hữu tư nhân

tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sự bóc lột công nhân làm thuê Trong

xã hội tư bản, dưới quyền lực của tư bản, hiệp tác giản đơn với những ưu thế của sự tập trung và xã hội hóa lao động, tạo ra năng suất lao động cao, không những không mang lại phúc lợi cho người lao động, mà lại trở thành công cụ

để tăng cường bóc lột người lao động và là một phương pháp sản xuất giá trị

thặng dư tương đối C.Mác viết: “Vì vậy, nếu một mặt, phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử để biến quá trình lao động thành một quá trình xã hội, thì mặt khác, hình thức xã hội đó của quá trình lao động lại

Trang 3

là một phương pháp mà tư bản đã dùng để bóc lột quá trình đó một cách có lợi hơn bằng cách nâng cao sức sản xuất của quá trình đó”1

Sự chỉ đạo và kiểm soát của nhà tư bản đối với quá trình sản xuất Sự chỉ đạo và kiểm soát đó xuất phát từ hai yêu cầu khác nhau, nhưng lại thống

nhất với nhau Một mặt, quá trình lao động tập thể đòi hỏi phải có sự chỉ đạo

tập trung thống nhất để điều hòa những hoạt động cá nhân Yêu cầu này không phụ thuộc vào hình thái xã hội của sản xuất, và đối với lao động cá thể

riêng lẻ không cần phải đặt ra Mặt khác, sự hiệp tác lao động trong điều kiện

của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ có thể tiến hành dưới sự chi phối và kiểm soát của tư bản đối với công nhân làm thuê, vì nó nhằm bóp nặn giá trị thặng dư Vì vậy, sự chỉ đạo và kiểm soát quá trình sản xuất trở thành quyền lực của nhà tư bản đối với công nhân, và tất yếu phải mang tính chất cưỡng bức, chuyên chế của đối kháng giai cấp Sự hiệp tác tư bản chủ nghĩa phát triển thì những hình thức đặc biệt của sự chuyên chế ấy cũng phát triển theo Mặc dù hiệp tác giản đơn được chủ nghĩa tư bản sử dụng vào mục đích giai cấp của nó, song với tính chất là lao động tập thể, sự hiệp tác ấy là một tất yếu đối với sự hình thành và phát triển của nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa

2 CÔNG TRƯỜNG THỦ CÔNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

2.1 Công trường thủ công, đặc điểm và ưu thế của công trường thủ công

Công trường thủ công là hình thức xí nghiệp tư bản thực hiện sự hiệp tác có phân công dựa trên kỹ thuật thủ công Công trường thủ công được hình thành bằng cách tập hợp những thợ thủ công khác nghề, hoặc những thợ thủ công cùng một nghề vào trong một xưởng để tiến hành sản xuất ra hàng hóa Công trường thủ công xuất hiện từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, là giai đoạn chuẩn bị chuyển từ sản xuất nhỏ của những người thủ công nghiệp

và thợ thủ công sang đại công nghiệp cơ khí tư bản chủ nghĩa

- Đặc điểm về tổ chức và kỹ thuật của công trường thủ công

Một là, quá trình sản xuất được phân chia thành những giai đoạn,

những công việc sản xuất bộ phận để hoàn thành sản phẩm, mỗi công nhân

chỉ chuyên làm một việc: “Chính vì sự khéo léo về chân tay vẫn là cơ sở của quá trình sản xuất, cho nên một công nhân chỉ thích ứng với một chức năng

Trang 4

bộ phận, và sức lao động của anh ta suốt đời biến thành một khí quan của chức năng bộ phận ấy”2

Hai là, cơ sở kỹ thuật của sự phân công lao động vẫn là thủ công, công

cụ lao động thủ công, phương pháp sản xuất theo kinh nghiệm cổ truyền

Ba là, cơ cấu tổ chức của công trường thủ công gồm hai yếu tố cơ bản

là người lao động bộ phận và công cụ lao động của người đó

- Những ưu thế của công trường thủ công so với hiệp tác giản đơn

Sự hiệp tác có phân công trong công trường thủ công, xét về mặt hiệu quả so với hiệp tác giản đơn có những ưu thế sau:

Thứ nhất, sự phân công lao động trong công trường thủ công tạo ra

năng suất lao động cao hơn so với hiệp tác giản đơn

Thứ hai, phân công công trường thủ công làm cho sản xuất và tiêu thụ

hàng hóa có cơ sở kinh tế vững chắc hơn

2.2 Tính chất tư bản chủ nghĩa của công trường thủ công

Tính chất tư bản chủ nghĩa của công trường thủ công biểu hiện rõ nhất

ở mục đích của sản xuất và những hậu quả tai hại mà sự phân công trong công trường thủ công đã gây ra cho những người lao động làm thuê

- Nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư đối với công nhân làm thuê

Sự phân công công trường thủ công làm hạ thấp giá trị sức lao động

trên hai mặt: Một mặt, năng suất lao động tăng lên làm cho giá trị tư liệu sinh hoạt giảm xuống, và do đó, giá trị sức lao động hạ xuống; mặt khác, chi phí

đào tạo công nhân làm công việc bộ phận cũng giảm đi so với trước Như vậy,

sự phân công công trường thủ công là một phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư tương đối mà trình độ của nó cao hơn hẳn trong hiệp tác giản đơn

- Công nhân bị lệ thuộc vào nhà tư bản cả về mặt kinh tế lẫn về mặt kỹ thuật và nghề nghiệp

Phân công công trường thủ công gây ra một sự đảo lộn trong lao động, làm cho công nhân có nghề nghiệp hoàn chỉnh biến thành công nhân bộ phận Công việc bộ phận của họ chỉ có thể tiến hành được và chỉ có tác dụng trong công trường thủ công Thế là họ mất điều kiện làm ăn độc lập, và càng bị lệ thuộc vào tư bản cả về kinh tế lẫn kỹ thuật

- Công nhân bị què quặt cả về thể chất lẫn tinh thần

2 Sách đã dẫn, tr.492

Trang 5

Do suốt đời bị cột chặt vào một công việc bộ phận, thân thể của người công nhân không thể phát triển cân đối mà bị què quặt về thể chất và còn bị nhiều bệnh nghề nghiệp khác Về mặt tinh thần và xã hội, công trường thủ công

đã tách rời và đối lập lao động chân tay và lao động trí óc, tạo nên đẳng cấp về sức lao động với giá cả khác nhau, một sự phân chia đơn giản những người lao động thành lao động thành thạo và lao động không thành thạo, và đối với cả hai, sức lao động đều bị giảm giá trị Lao động chân tay là lao động bộ phận và đơn điệu, nó làm mất hứng thú và tính sáng tạo vốn có trước đây của nghề thủ công hoàn chỉnh làm cho sự suy nghĩ và tính toán của người lao động trở thành không cần thiết Trong lúc đó thì lao động trí óc thuộc về những nhà tư bản và những người giúp việc cho chúng nhằm mục đích bóc lột giá trị thặng dư

- Phát triển lao động gia công gia đình, một hình thức bóc lột tàn khốc Lao động gia công phát triển rộng rãi ở giai đoạn công trường thủ công

vì: Một mặt, công trường thủ công chia nhỏ và đơn giản hóa công việc sản

xuất, khiến cho những người lao động không chuyên nghiệp cũng có thể làm

được tại nhà; mặt khác, nhà tư bản dựng lên một xưởng nhỏ để gia công lần

cuối cùng và lắp ráp những bộ phận do lao động gia công cung cấp Như vậy, đối với chúng có lợi hơn là lập nên nhà xưởng lớn và tập trung rất đông công nhân làm đủ mọi thao tác của quá trình sản xuất Những người lao động gia công cho nhà tư bản bị bóc lột nặng nề: Tiền công thấp, điều kiện lao động rất tồi tệ, ngày lao động bị kéo dài qúa đáng, hình thức bóc lột giá trị thặng dư xen kẽ với những hình thức bóc lột tiền tư bản chủ nghĩa như cho vay nặng lãi, mua rẻ bán đắt Lao động phụ nữ và trẻ em bắt đầu được sử dụng khá rộng rãi, làm cho cả người đàn ông chủ gia đình lẫn vợ con của họ đều bị ném vào guồng máy bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa

Khi phân tích tính chất tư bản chủ nghĩa của sự phân công trong công

trường thủ công, C.Mác đã chỉ ra rằng “Với tư cách là một hình thức đặc thù

tư bản chủ nghĩa của quá trình sản xuất xã hội, - và trên cơ sở có tính lịch sử

mà nó xuất hiện trên đó thì không thể phát triển một cách nào khác trừ việc phát triển dưới hình thức tư bản chủ nghĩa, - sự phân công lao động trong công trường thủ công chỉ là một phương pháp đặc biệt để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối, hay đẩy nhanh việc tự tăng thêm giá trị của tư bản – tức

Trang 6

là của cải mà người ta thường gọi là của cải xã hội, “của cải quốc dân”, … ở trên lưng người công nhân”1

Công trường thủ công tuy tạo ra một năng suất lao động cao hơn, do đó tăng cường được sự bóc lột và thống trị của tư bản đối với lao động, nhưng vẫn dựa trên cơ sở kỹ thuật thủ công, nên cũng có những nhược điểm sau đây:

- Công trường thủ công không đủ sức lấn át sản xuất hàng hóa nhỏ, cá thể đến mức có thể chiếm ưu thế tuyệt đối trong nền kinh tế Bởi vì, với kỹ thuật vẫn là thủ công thì chỉ có thể tăng năng suất lao động trong những giới hạn nhất định Một số lớn công nhân vẫn cố tìm cách duy trì nghề thủ công hoàn chỉnh của mình, điều đó hạn chế mức độ lệ thuộc của họ vào tư bản

- Việc thiết lập và củng cố kỷ luật lao động tư bản chủ nghĩa còn gặp khó khăn, bởi vì tư bản chưa sáng tạo ra được một cái cốt vật chất của cơ cấu sản xuất độc lập đối với công nhân và chi phối được chặt chẽ hoạt động của công nhân

Những nhược điểm nói trên làm cho công trường thủ công ngày càng

tỏ ra bất lực trong việc thỏa mãn nhu cầu tăng lên nhanh chóng của thị trường

và tăng cường bóc lột giá trị thặng dư Vì vậy, công trường thủ công từ chỗ là nhân tố thúc đẩy sản xuất tư bản phát triển dần dần biến thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

Sự phân công công trường thủ công đã tạo tiền đề và điều kiện cho sự

ra đời của đại công nghiệp cơ khí đưa chủ nghĩa tư bản lên giai đoạn cao hơn

- Do phân công thành lao động bộ phận, nên nhiều công việc phức tạp được phân hóa thành các công việc giản đơn, nhờ đó có thể cải tiến công cụ lao động và tạo ra những công cụ lao động chuyên môn hóa có năng suất cao; trên cơ sở đó dần dần có thể chế tạo ra máy móc thay thế công cụ thủ công

- Chuyên môn hóa lao động đã đào tạo được đội ngũ công nhân lành nghề cần thiết cho sự ra đời của đại công nghiệp cơ khí, nhất là công nhân chế tạo máy Hơn nữa cách tổ chức, điều khiển “người lao động tập thể” cho người ta ít nhiều kinh nghiệm về quản lý xí nghiệp để đi vào sản xuất lớn cơ khí hóa

- Sự phân công công trường thủ công trong sự tác động qua lại với sự phân công lao động xã hội làm tăng thêm nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng cần thiết trong xã hội, do đó thúc đẩy thị trường mở rộng giữa

1 Sách đã dẫn, tr.529

Trang 7

các ngành và các địa phương, một nhân tố không thể thiếu trong sự ra đời và phát triển của đại công nghiệp cơ khí

3 ĐẠI CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ

3.1 Máy móc và tác dụng của máy móc đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Trên cơ sở kỹ thuật thủ công, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể được sác lập một cách hoàn chỉnh và phát triển vững chắc Do đó, trong quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra cho nó một cơ sở vật chất - kỹ thuật tương xứng là máy móc, đưa chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn cao hơn là đại công nghiệp cơ khí

Máy móc là một cơ cấu tập hợp nhiều dụng cụ giống nhau hoạt động cùng một lúc, do một động lực duy nhất làm cho chuyển động Máy móc thật

sự xuất hiện vào thế kỷ XVIII, từ công cụ thủ công phát triển lên và do nhiều công cụ giản đơn kết hợp thành C.Mác đã khái quát tiến trình phát triển của

máy móc như sau: “Công cụ giản đơn, tích lũy công cụ phức hợp, việc chuyển động một công cụ phức hợp bằng một động cơ thủ công duy nhất, bằng con người, việc chuyển động những công cụ ấy bằng các lực lượng tự nhiên, máy móc, hệ thống các máy móc có một mô-tơ tự động, - đó là tiến trình phát triển của máy móc”1

Thông thường, máy móc đều gồm ba bộ phận cơ bản: Máy phát lực, phát ra nguồn động lực cung cấp cho máy móc hoạt động; máy chuyển lực làm nhiệm vụ chuyền lực do bộ phận phát lực cung cấp đến máy công tác, điều tiết tốc độ và thay đồi hình thức chuyển động theo yêu cầu của máy công tác; máy công tác là bộ phận trực tiếp tác động vào đối tượng lao động và làm thay đổi hình dạng của đối tượng lao động Chính máy công tác là bộ phận trực tiếp quyết định năng suất lao động của máy móc, thay thế con người sử dụng công cụ cầm tay để chế tạo ra sản phẩm

Máy móc không ngừng phát triển, từ thô sơ đến hiện đại, và hình thái phát triển nhất của máy móc sản xuất là máy tự động, người máy

Việc sử dụng rộng rãi máy móc có tác dụng vô cùng to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động lên một cách nhảy vọt Sản xuất được xã hội hóa hết sức mạnh mẽ và nhanh chóng, đẻ ra những xí nghiệp lớn tập trung hàng nghìn, hàng vạn công nhân; tạo ra nhiều

1 C.Mác: Sự khốn cùng của triết học, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.160

Trang 8

ngành và vùng sản xuất mới, thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, mở rộng thị trường, biến thị trường địa phương nhỏ hẹp thành thị trường quốc gia thống nhất và thị trường thế giới rộng lớn; thúc đẩy sự ra đời của những trung tâm công nghiệp và những thành thị lớn; làm cho lao động di chuyển và điều hòa dễ dàng trong toàn quốc và cả trong phạm vi quốc tế; đẩy mạnh sự phát triển của khoa học kỹ thuật và văn hóa nói chung

3.2 Cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII và quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa

Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên diễn ra ở nước Anh từ nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX Cho thấy tính quy luật nội tại của sự phát triển kỹ thuật là bắt đầu từ máy công tác, bộ phận trực tiếp tác động vào đối tượng lao động, có tác dụng quyết định đến năng suất lao động C.Mác

viết: “Chính bộ phận này của máy móc, tức máy công cụ, là điểm xuất phát của cuộc cách mạng công nghiệp trong thế kỷ XVIII Ngay cả hiện nay, nó cũng vẫn là điểm xuất phát mỗi một khi có bước chuyển từ sản xuất thủ công hoặc sản xuất công trường thủ công sang sản xuất máy móc”1

Máy công tác mở đầu cách mạng công nghiệp, nhưng nó chỉ mới là cách mạng công cụ, chưa có sự biến đổi đồng bộ trong các yếu tố cấu thành của máy móc, bởi vì nguồn động lực làm cho máy chạy vẫn là sức người, và máy công tác vẫn yếu ớt, chừng nào mà con người còn là nguồn động lực của

nó Khi công cụ lao động đã được thay thế bằng một cái máy, thì việc sử dụng sức người, sức súc vật, sức gió, sức nước làm nguồn động lực không còn thích hợp nữa Người ta phải thay thế những hình thái động lực trên bằng một hình thái động lực mới, mạnh hơn và tiện lợi hơn Máy hơi nước ra đời đáp ứng được yêu cầu đó và được sử dụng phổ biến vào sản xuất Thế là một cuộc cách mạng về động lực lại diễn ra tiếp theo cuộc cách mạng về công cụ và thích ứng với cuộc cách mạng công cụ đó Tuy nhiên, máy hơi nước không dẫn tới một cuộc cách mạng nào trong công nghiệp cả, chỉ có máy công tác mới dẫn tới cuộc cách mạng đó

C.Mác chỉ rõ: “Ngay bản thân máy hơi nước, được phát minh vào cuối thế kỷ XVII, trong thời kì công trường thủ công, và tiếp tục tồn tại cho đến đầu những năm 80 của thế kỷ XVIII, cũng không gây ra một cuộc cách mạng

Trang 9

công nghiệp nào cả Trái lại, chính việc sáng tạo ra máy công cụ đã khiến cho việc cải biến các máy hơi nước trở thành cần thiết”1

Máy công tác, máy phát lực đã có sự thay đổi nhảy vọt đòi hỏi máy chuyền lực cũng phải có một sự thay đổi tương ứng Một khi máy phát lực có thể làm cho nhiều máy công tác hoạt động cùng một lúc thì cơ cấu sản xuất là

một hệ thống máy móc C.Mác viết: “Giờ đây chỉ một động cơ cũng có thể làm chuyển động nhiều máy công tác cùng một lúc Con số máy công tác chuyển động cùng một lúc mà tăng lên thì máy phát động lực cũng tăng lên,

và cơ cấu truyền lực cũng phát triển thành một bộ máy rộng lớn”2

Trong tiến trình phát triển của nó, cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu từ máy công tác, sau đó lan dần sang các bộ phận khác của máy móc là máy phát lực và máy chuyền lực Tiến trình phát triển của máy móc và của sản xuất bằng máy móc còn là tiến trình sản xuất đi từ thủ công lên nửa cơ khí rồi từ nửa cơ khí lên cơ khí Đó là cuộc cách mạng kỹ thuật đối với nền sản xuất xã hội, thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc một cách phổ biến

Tiến trình phát triển của sản xuất bằng máy móc diễn ra trong mối liên

hệ sản xuất giữa các ngành C.Mác viết: “Cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất của một lĩnh vực công nghiệp này, gây ra cuộc cách mạng trong các lĩnh vực khác Điều đó áp dụng trước hết cho những ngành công nghiệp tuy

bị cô lập do sự phân công lao động xã hội, thành thử mỗi một ngành sản xuất

ra một hàng hoá độc lập, nhưng vẫn quyện chặt với nhau thành những giai đoạn của một quá trình chung”3

Quá trình cách mạng công nghiệp cũng là quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa, làm cho công nghiệp nặng dần dần chiếm ưu thế trong nền kinh tế và làm cho nước nông nghiệp biến thành nước công nghiệp Công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa tự phát diễn ra do sự tác động của các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, chủ yếu là quy luật sản xuất giá trị thặng dư, đã tạo ra đại công nghiệp cơ khí - đỉnh cao nhất của chủ nghĩa tư bản phát triển Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập hoàn chỉnh và phát huy đầy đủ sức mạnh của nó, đồng thời cũng chính quá trình đó đã đánh dấu một bước ngoặt trong vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản Bởi nó đã chuẩn bị cơ

1 Sách đã dẫn, tr.542

2 Sách đã dẫn, tr.546

3 Sách đã dẫn, tr.553

Trang 10

sở vật chất kỹ thuật cho sự xuất hiện một xã hội tương lai, văn minh và tốt đẹp hơn chính nó Cũng chính trong qúa trình phát triển chủ nghĩa tư bản đã tạo ra trong lòng mình những nhân tố phủ định chính bản thân chủ nghĩa tư bản, đó là giai cấp vô sản và làm phát triển những mâu thuẫn cơ bản vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản tới mức độ gay gắt nhất

3.3 Giới hạn kinh tế của việc sử dụng máy móc dưới chủ nghĩa tư bản

Máy móc là sản phẩm của lao động, đồng thời là thành quả của sự phát triển khoa học - kỹ thuật Những thành tựu khoa học muốn ứng dụng vào sản xuất thì phải biến nó thành những máy móc rất tốn tiền Máy móc tuy có đắt hơn công cụ thủ công rất nhiều, nhưng lại lâu bền hơn, có phạm vi sản xuất rộng lớn hơn, hiệu quả sản xuất cao hơn do đó cũng chuyển vào sản phẩm một phần giá trị tương đối ít hơn Chính vì vậy, so với công cụ thủ công thì sự

phục vụ không công của máy móc lớn hơn nhiều C.Mác viết: “Chỉ có trong nền đại công nghiệp thì con người mới học được cách bắt buộc sản phẩm của lao động qúa khứ, đã vật hóa của mình, hoạt động không công trên một quy

mô to lớn, như là một lực lượng tự nhiên”1

Đứng về lợi ích chung của xã hội mà xét, máy móc được sử dụng khi nào

nó mang lại hiệu quả kinh tế là tiết kiệm được lao động, nghĩa là khi nào lượng lao động qúa khứ đã hao phí để sản xuất ra máy móc nhỏ hơn lượng lao động sống mà máy móc thay thế để sản xuất ra cùng một lượng sản phẩm nhất định

Nhưng đối với chủ nghĩa tư bản, hiệu quả kinh tế mà nhà tư bản đòi hỏi

ở việc sử dụng máy móc không phải là tiết kiệm lao động xã hội mà là tiết kiệm tư bản, và trên cơ sở đó mới có thể tăng cường bóc lột giá trị thặng dư Đối với nhà tư bản, máy móc chỉ được sử dụng khi nào nó làm giảm được tư bản hao phí để sản xuất cùng một lượng hàng hoá nhất định, khi nào lượng tư bản bất biến dùng để mua máy móc nhỏ hơn lượng tư bản khả biến tiết kiệm được nhờ sử dụng máy móc đó; nói cách khác, máy móc chỉ được sử dụng khi nào giá trị của máy móc nhỏ hơn giá trị sức lao động được máy móc thay thế

C.Mác viết: “Nếu coi máy móc chỉ là một phương tiện để làm cho sản phẩm rẻ đi, thì giới hạn sử dụng máy móc được quyết định bởi tình hình là:

số lao động tiêu phí để sản xuất ra máy móc phải ít hơn số lao động mà việc

sử dụng máy móc thay thế Song, đối với nhà tư bản thì giới hạn đó lại càng

Ngày đăng: 11/06/2017, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w