Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, công tác giáo giáo dục và đào tạo đóng một vai trò quan trọng. Do đó, công tác giáo giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta nhấn mạnh: “Phát triển KHCN thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững” 10, tr.132. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định:
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI
1.2 Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
1.3 Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động nghiên cứu
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
2.1 Khái quát về trường Đại học Hà Nội và cách thức tổ
2.2 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
2.4 Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng hoạt
động nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt động nghiêncứu khoa học của sinh viên trường Đại học Hà Nội 522.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học của sinh viên ở trường Đại học
Chương 3 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN Ở
3.1 Yêu cầu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học của sinh viên trường ở Đại học Hà Nội 623.2 Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
3.3 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xu thế hộinhập toàn cầu hiện nay, công tác giáo giáo dục và đào tạo đóng một vai tròquan trọng Do đó, công tác giáo giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước
ta đặc biệt quan tâm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta nhấnmạnh: “Phát triển KH&CN thực sự là động lực then chốt của quá trình pháttriển nhanh và bền vững” [10, tr.132] Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát triển và ứng dụng KH&CN là một nộidung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động củacác ngành, các cấp” [12, tr.120]
Quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, các trường đại học đã khẳngđịnh lại mục tiêu của mình là đào tạo các nhà chuyên môn giỏi, có trình độ trithức khoa học vững vàng, có khả năng tư duy năng động, sáng tạo để giảiquyết các vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi Nhằm thực hiện mục tiêu đó, cáctrường đại học không ngừng tìm tòi các biện pháp nâng cao chất lượng đàotạo, một trong trong những biện pháp quan trọng là đưa sinh viên tham giavào các hoạt động NCKH
Nghiên cứu khoa học là một hình thức tổ chức dạy học đặc thù ở đạihọc có tác dụng giúp sinh viên chủ động học tập, tìm tòi sáng tạo, vừa nắmvững tri thức mới Hình thức này vừa giúp sinh viên luyện tập vận dụng cácphương pháp nhận thức mới, vừa rèn luyện thói quen và hình thành các kỹnăng NCKH của sinh viên Điều này có tác dụng rất lớn đến quá trình học vàkết quả học tập của sinh viên Tuy nhiên, hiện nay việc tổ chức đưa sinh viênvào hoạt động NCKH còn nhiều khó khăn, vướng mắc, các biện pháp tổ chứccòn chưa đạt được kết quả như mục tiêu đã đề ra
Trong các trường đại học yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chấtlượng giáo dục đại học chính là lòng say mê học hỏi, năng lực sáng tạo, nănglực tự nghiên cứu của sinh viên - những người chủ tương lai của đất nước
Trang 3Mục đích giáo dục đại học là đào tạo ra những sinh viên có tri thức, biết sửdụng và làm chủ được những thành tựu của NCKH, đáp ứng nhu cầu pháttriển của xã hội Mặt khác, chất lượng giáo dục đại học cũng phụ thuộc nhiềuvào việc tổ chức NCKH của sinh viên Bởi vì, NCKH không chỉ là một chứcnăng thứ yếu của giáo dục đại học mà còn là điều kiện không thể thiếu trongkết hợp giữa GD&ĐT của nhà trường với nhu cầu của xã hội
Qua thực tiễn giảng dạy và hướng dẫn sinh viên NCKH cho thấy: Sinhviên trường Đại học Hà Nội chưa tích cực trong NCKH, tỷ lệ sinh viên thamgia các hoạt động NCKH còn thấp, kết quả nghiên cứu chưa tương xứng vớikhả năng và kiến thức được trang bị Hoạt động ngoại khoá, hội thảo khoahọc chưa được tổ chức thường xuyên Cơ chế khuyến khích, động viên tạođộng lực để sinh viên tham gia NCKH nâng cao kiến thức chuyên môn chưaphù hợp Chính thực trạng này đã làm hạn chế kết quả NCKH của sinh viên,chất lượng đào tạo của nhà trường
Thực tế tại trường Đại học Hà Nội đã có các công trình nghiên cứu vềquản lý hoạt động đào tạo, quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, tổ chức cáchoạt động NCKH của sinh viên như: viết luận văn, thi Olympic, nghiên cứu
đề tài khoa học cấp khoa, cấp trường dưới sự hướng dẫn của giảng viên…nhưng chưa có nghiên cứu nào về quản lý hoạt động NCKH của sinh viênnhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Trên cơ sở tầm quan trọng của hoạt động NCKH của sinh viên đối vớicông tác GD&ĐT ở trường đại học Hà Nội, cần phải coi trọng công tác quản
lý hoạt động NCKH của sinh viên Thông qua đó nhằm phát huy tốt nhất nănglực trí tuệ vốn có của mỗi sinh viên; hình thành kỹ năng, phương pháp NCKHcho sinh viên; giúp sinh viên có thói quen làm việc độc lập, sáng tạo, nângcao chuyên môn, đóng góp những giá trị mới cho xã hội Chính vì vậy, lựa
chọn vấn đề " Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở trường Đại học Hà Nội" làm đề tài luận văn có tính thiết thực và cấp bách đối
Trang 4với công tác GD&ĐT và quản lý hoạt động NCKH của sinh viên ở trường Đạihọc Hà Nội hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn có thể thâu tómtrên hai hướng sau:
2.1 Các công trình nghiên cứu, bài viết về hoạt động NCKH
Theo hướng nghiên cứu này có các công trình, bài viết ở ngoài nước vàtrong nước sau:
Công trình Tổ chức công việc tự học của sinh viên của tác giả
M.T.Lubixưna và A.A Gơroxepxki Sách chuyên khảo này cho rằng, NCKHcủa sinh viên đại học là một trong những hình thức hoàn thiện nhất về mặtđào tạo khoa học, có hiệu quả thiết thực đối với việc nâng cao trình độ củasinh viên
Tác giả P.T.Prikhodko trong tác phẩm Tổ chức và phương pháp công tác NCKH đã giới thiệu những nét đặc trưng cơ bản của hoạt động NCKH của
sinh viên Tác giả đánh giá tầm quan trọng của việc tổ chức cho sinh viên làmniên luận, khóa luận tốt nghiệp, coi đây là những hình thức NCKH ban đầunhờ đó mà sinh viên có năng tự học và học suốt đời
Trong Chiến lược 1998 - 2000 của Bộ Giáo dục Hoa kỳ đã ghi nhậnNCKH giáo dục góp phần cải thiện nền giáo dục quốc gia Hoa kỳ đã xác định
những vấn đề ưu tiên tổ chức cho sinh viên NCKH Trong tác phẩm Research and Report Writing (Kỹ năng viết và báo cáo), tác giả Francesco Cordasco và
Elliots S.M.Galner đã chỉ ra những hoạt động cụ thể để hình thành kỹ năngNCKH cho sinh viên Năm 1990, Gary Anderson (New York), trong tác phẩm
Fundamentals of Educational Research (Nguyên lý nghiên cứu giáo dục), tác
giả chú trọng đến việc tìm tòi các nguyên tắc, phương pháp cũng như công cụ,
kỹ thuật NCKH để huấn luyện cho sinh viên
Công trình “How to Study Science” (Phương pháp NCKH) (2000) của
Brown Publisher và tác phẩm “Be a Scientist” (Nhà khoa học) (2000) của
Trang 5Daniel, J.Hackett; cuốn sách “Social Research Methods: Qualitative and Quantitative Approaches” (Phương pháp NCKH xã hội: định lượng và định tính) (2000), Fourth edition, W Lawrence Newman Univercity of Wisconsin
at Whitewater, Publisher: Aliyn and Bacon
Năm 1996, tác giả Brian Allison trong cuốn Research Skills for Students - National Institute of Education (Kỹ năng NCKH cho sinh viên) đã
giúp cho sinh viên những lý thuyết về NCKH, cung cấp kỹ năng tiến hànhmột cuộc điều tra, thiết kế một bảng hỏi và những kỹ thuật khi sử dụngphương pháp phỏng vấn
Ở Việt Nam, nhiều tác giả, các nhà khoa học đã cho ra đời các giáo
trình hướng dẫn sinh viên đại học, cao đẳng NCKH dưới các tiêu đề “Phương pháp luận NCKH”, “Phương pháp luận NCKH giáo dục” của Phạm Viết Vượng; “Phương pháp luận nghiên cứu học tập - nghiên cứu” của Nguyễn Văn Lê; “Phương pháp luận NCKH” của Vũ Cao Đàm; “Phương pháp luận khoa học giáo dục” của Đặng Vũ Hoạt; Hà Thị Đức; “Phương pháp học tập nghiên cứu của sinh viên Cao đẳng, Đại học” của Phạm Trung Thành với
mục đích cung cấp cho sinh viên cơ sở phương pháp luận, phương phápNCKH, trang bị cho sinh viên những vấn đề lý luận cơ bản về NCKH để họrèn luyện, thực hành NCKH có hiệu quả Các giáo trình mà các nhà khoa họccho xuất bản ngày càng khai thác, cập nhật bổ sung thông tin khoa học, tăngcường sự chính xác hoá loại bỏ những thông tin khoa học lạc hậu, đưa vàogiáo trình các thông tin khoa học mới, bên cạnh đó có tính tới trình độ nghiêncứu của sinh viên Các tác giả, các nhà khoa học chủ yếu đề cập đến vấn đềNCKH, còn nội dung quản lý NCKH và đặc biệt là quản lý hoạt động NCKHcủa sinh viên chưa được đề cập
Khi bàn về vai trò của NCKH giáo dục, Dương Thiệu Tống khẳngđịnh: Công cuộc cải tổ giáo dục ở Việt Nam không thể không tiến hànhNCKH nói chung và NCKH giáo dục nói riêng; đồng thời cho rằng, vai tròcủa các nhà NCKH giáo dục rất quan trọng
Trang 6Ngoài ra, còn có các đề tài của Viện Nghiên cứu Phát triển giáo
dục: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường” (1991),
mã số B91-38-14, do tác giả Vũ Tiến Thành làm chủ nhiệm; đề tài cấp Bộ của
Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục: “Điều tra đánh giá hiện trạng tiềm lực khoa học và công nghệ của các trường đại học và cao đẳng Việt Nam” (1995); “Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động NCKH của học viên trong các nhà trường quân đội”, do Học viện Kỹ thuật Quân sự chủ trì, Trần Văn Lộc làm chủ nhiệm, thực hiện năm 1999; “Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động NCKH của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự hiện nay”, Học viện Chính trị chủ trì, Vũ Quang Đạo làm chủ nhiệm đề tài, thực hiện năm 2002 Luận văn thạc sĩ “Thực trạng và biện pháp nâng cao chất lượng NCKH giáo dục cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Bình” (2001) của Bùi Thị Kim Phượng và “Biện pháp nâng cao chất lượng NCKH giáo dục của sinh viên Đại học Sư phạm” (2005)
của Lê Thị Thanh Chung
Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu
khoa học về NCKH, như bài viết: “Hãy coi NCKH như một phương pháp đào tạo đại học” của tác giả Võ Xuân Đàn, đăng trên Kỷ yếu hội thảo - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất Bản Giáo dục (2003); “NCKH giáo dục trong giai đoạn tới” của tác giả Nguyễn Hữu Châu, đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 98, 10-2004; “Sinh viên NCKH - Động lực chính để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” của tác giả Trần Văn Nhung, đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 130, kỳ 2, 1-2006; “Nâng cao chất lượng NCKH ở trường đại học”
của tác giả Nguyễn Thị Hương Giang, đăng trên Tạp chí Quản lý giáo dục, số
37, 6-2012; “Trường đại học nghiên cứu và các tiêu chí nhận diện đại học nghiên cứu” của tác giả Phạm Thị Ly, đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục,
số 90, 3-2013; “Nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy ở các học viện, trường đại học công an nhân dân” của tác giả Vương Thị
Trang 7Ngọc Huệ, đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục, số 81, 6-2012; Các bài viết
tiêu biểu đăng trên tạp chí, như:“Cơ sở khoa học và giải pháp nâng cao năng lực NCKH cho giáo viên các trường sư phạm kỹ thuật” của tác giả Nguyễn Viết Sự, đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 13, 10-2006; “Đẩy mạnh NCKH của học viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo chính ủy ở Học viện Chính trị hiện nay” của tác giả Đỗ Minh Châu, đăng trên Tạp chí Giáo
dục Lý luận Chính trị quân sự, số 1, năm 2009
2.2 Các công trình nghiên cứu, bài viết về quản lý hoạt động NCKH
Các công trình, bài viết theo hướng nghiên cứu này bào gồm:
Hai tác giả Keith Howard và John A.Sharp đã biên soạn tài liệu The Management of a Student Research Project (Quản lý NCKH của sinh viên)
nhằm giúp sinh viên biết cách quản lý kế hoạch nghiên cứu Các tác giả đãtrình bày những vấn đề về chọn lựa đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tậphợp, phân tích, xử lý và đánh giá kết quả NCKH; “Quản lý công tác NCKH”(1983), K.Bexle, E.deisen, Xlasinxki, do Nguyễn Văn Lân dịch từ bản tiếngNga, Nguyễn Xuân Khoa hiệu đính; “Những vấn đề về quản lý trường học” củaP.V Zimin, M.I Kônđakốp đều là các nghiên cứu về vấn đề quản lý NCKH vàquản lý giáo dục nhà trường Ngoài ra, nhà giáo dục học Xô - viết V.A.Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh nghiệm quản lý chuyên môn trong vaitrò là Hiệu trưởng nhà trường cho rằng “Kết quả hoạt động của nhà trường phụthuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn các hoạt động dạy học” Côngtrình cũng đã nhấn mạnh đến sự phân công, phối hợp, thống nhất quản lý giữaHiệu trưởng và Phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu đề ra; công trình củaHarold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich với “Những vấn đề cốt yếu củaquản lý” đã đề cập đến các yêu cầu về chất lượng của người quản lý; Vương LạcPhu và Tưởng Nguyệt Thần với công trình “Khoa học lãnh đạo hiện đại” đã dànhhẳn một chương nêu lên vấn đề về chất lượng và hiệu quả quản lý của cán bộ lãnhđạo, quản lý
Trang 8Ở trong nước, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu của các viện vàtrường đại học từ lâu đã nhận thức được rằng: Sinh viên NCKH là điều kiện,phương tiện cần thiết để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tự học Trongquá trình đào tạo ở các trường đại học, coi hoạt động NCKH là một trong nhữnghình thức tổ chức dạy học có hiệu quả cao trong việc phát triển tư duy sáng tạo,tính độc lập suy nghĩ và chủ động trong quá trình học tập của sinh viên Tiểubiểu là các công trình, bài viết sau:
Đề tài của Viện Nghiên cứu Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Việt
Nam: “Tổ chức và quản lý nghiên cứu triển khai trong các trường Đại học phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng” (1989) do tác giả Lê Thạc Cán
làm chủ nhiệm, chương trình cấp Nhà nước, mã số 60A Đề tài tập trung làm
rõ lý luận và thực trạng tổ chức, quản lý NCKH trong các trường Đại học,nhưng chủ yếu là các NCKH phục vụ cho sản xuất, đời sống và quốc phòng
Đề tài “Một số giải pháp đổi mới công tác quản lý hoạt động khoa học
và công nghệ ở trường Đại học trong giai đoạn mới” (1998) của Ninh Đức
Nhận Tác giả bàn nhiều đến công tác quản lý hoạt động khoa học công nghệ
ở trường Đại học và đề ra một số giải pháp đổi mới công tác này Song, đây làcông tác quản lý các sản phẩm khoa học đã được hoàn thiện chứ không phảiquản lý hoạt động NCKH trong trường Đại học
Đề tài “Một số biện pháp cải tiến công tác quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An” (2006) của Trần Văn
Phước Đề tài này tuy cũng nói về công tác quản lý hoạt động NCKH trongnhà trường, nhưng đối tượng nghiên cứu của tác giả là sinh viên và phạm vinghiên cứu là trưởng Cao đẳng Sư phạm Nghệ An, không phải quản lý hoạtđộng NCKH của giảng viên Đại học Hà Nội
Cũng bàn về biện pháp quản lý hoạt động NCKH, thậm chí là quản lý
hoạt động NCKH của giáo viên, nhưng đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động NCKH của giáo viên trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên” (2007) của
Lê Thị Tuyết được nghiên cứu ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên
Trang 9Bên cạnh đó, còn có nhiều đề tài luận vặn nghiên cứu về biện pháp quản
lý hoạt động NCKH, như: “Biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động NCKH ở Trường Cao đẳng Sơn La” (2009) của Lê Thị Lý; “Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội” (2010) của Đặng Ngọc Phúc; “Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của học viên
ở Học viện Chính trị” (2010) của Nguyễn Quốc Hưng Các đề tài luận văn này
hoặc là đề cập vấn đề quản lý hoạt động NCKH của hiệu trưởng hoặc là quản lýhoạt động NCKH của sinh viên, học viên các trường Đại học, học viện, khôngphải vấn đề quản lý hoạt động NCKH của giảng viên Đại học Hà Nội
Ngoài các công trình, đề tài luận văn còn có các bài viết của Đỗ Xuân
Thao về Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn tại trường trung học cơ sở huyện Mê Linh, Hà Nội; Nguyễn Như Sơn với bài Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh bán trú trường Trung học phổ thông huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; Đỗ Anh Văn với Quản lý hoàn thiện chương trình đào tạo Đại học ngành Y đa khoa theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Y Dược Thái Bình; Nguyễn Thị Loan với Tổng quan nghiên cứu quản lý đánh giá kết quả học tập của sinh viên ngành quản lý giáo dục trong các cơ sở giáo dục Đại học theo tiếp cận quá trình; Trần Văn Cát với Quản lý quá trình đào tạo theo định hướng đảm bảo chất lượng tại Học viện Phật giáo Hà Nội
đăng trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 124, tháng 12/ 2015 Các bài viếtnày dù có đề cập đến góc độ NCKH quản lý giáo dục, nhưng lại phản ánhnhững vấn đề quản lý cụ thể của các trưởng trung học cơ sở, trung học phổthông, Đại học Y Dược, Học viện Phật giáo; hay quản lý kết quả học tập củasinh viên các trường Đại học nói chung, mà chưa bàn đến quản lý hoạt độngNCKH của giảng viên trường Đại học Hà Nội
Các công trình nghiên cứu và bài viết về hoạt động NCKH và quản lýhoạt động NCKH nhìn chung đã làm rõ được một số khía cạnh về lý luận vàthực tiễn, giúp đề tài luận văn có thể tham khảo, kế thừa trong quá trình triển
Trang 10khai nghiên cứu đề tài Nhưng một là, các công trình nghiên cứu, bài viết do các
tác giả nước ngoài thực hiện và có đối tượng, khách thể nghiên cứu khác với đề
tài luận văn; hai là, các công trình nghiên cứu, bài viết, dù được nghiên cứu ở
Việt Nam và do các tác giả trong nước thực hiện, song chúng cũng chỉ chú trọngđến nghiên cứu lý luận và thực tiễn NCKH, quản lý hoạt động NCKH nói
chung; ba là, nếu có công trình, bài viết liên quan đến quản lý hoạt động NCKH, thì cũng là: Tổ chức và quản lý nghiên cứu triển khai trong các trường đại học phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng; Một số giải pháp đổi mới công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở trường đại học trong giai đoạn mới; Biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động NCKH ở Trường Cao đẳng Sơn La; Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Quản lý hoàn thiện chương trình đào tạo Đại học ngành Y đa khoa theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Y Dược Thái Bình Do đó, có thể khẳng định, cho đến nay, chưa có một công trình, bài viết
nào nghiên cứu về quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Hà
Nội Vì thế, đề tài luận văn: “Quản lý hoạt động NCKH của sinh viên ở trường Đại học Hà Nội” không trùng lặp với các công trình, bài viết đã công bố.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động NCKH củasinh viên trường Đại học Hà Nội, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nângcao chất lượng hoạt động NCKH của đối tượng này
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động NCKH của sinh viên ởtrường đại học
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động NCKH của sinhviên ở trường Đại học Hà Nội
- Đề xuất hệ thống biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng NCKH của sinh viên ở trường Đại học Hà Nội
Trang 114 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Hà Nội
- Các số liệu sử dụng từ năm học 2012 -2013 đến nay
5 Giả thuyết khoa học
Chất lượng hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Hà Nội phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó phụ thuộc rất lớn vào yếu tố quản lý Nếu
trong quản lý các chủ thể thực hiện tốt các vấn đề như: Nâng cao nhận thứccho sinh viên, sinh viên về tầm quan trọng của hoạt động NCKH; Kế hoạchhóa, tổ chức, chỉ đạo khoa học, chặt chẽ hoạt động NCKH; Kết hợp chặt chẽhoạt động NCKH với hoạt động học tập; Quản lý có hiệu quả các điều kiện hỗtrợ cho hoạt động NCKH và kiểm tra, đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm về
hoạt động NCKH của sinh viên thì sẽ nâng cao được chất lượng NCKH của
sinh viên, góp phần thiết thực nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường,đáp ứng yêu cầu sự nghiệp giáo dục, đào tạo trong giai đoạn hiện nay
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài luận văn được tổ chức nghiên cứu dựa trên cơ sở phương phápluận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về giáo dục, đào tạo, NCKH, quản lý giáo dục, đào tạo,NCKH; mục tiêu và quan điểm chỉ đạo phát triển đội ngũ sinh viên hiện nay
Trang 12Đồng thời, đề tài còn tiếp cận vấn đề dựa trên các quan điểm cơ bản trongNCKH giáo dục như: quan điểm hệ thống - cấu trúc; quan điểm thực tiễn;quan điểm lịch sử, lôgíc để xem xem, luận giải các vấn đề có liên quan đến đềtài luận văn.
* Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp các cơ sở, tài liệu lý luận về quản lýgiáo dục và lý luận quản lý NCKH
Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu lịch sử vấn đề, tìm hiểu, khai thác cáccông trình nghiên cứu về quản lý công tác NCKH trong trường và quản lý nhàtrường để làm cơ sở tiếp tục cho các hoạt động nghiên cứu
Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng các mẫu phiếu điều
tra thu thập thông tin về thực trạng hoạt động NCKH và quản lý hoạt động
NCKH của sinh viên ở Trường Đại học Hà Nội.
Phương pháp thống kê số liệu các đề tài NCKH của sinh viên và các
nhận xét về kết quả nghiên cứu của các đề tài
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm khai thác kinh nghiệm, vốn
hiểu biết của các chuyên gia về các biện pháp quản lý
Phương pháp phỏng vấn để thu thập những thông tin về hoạt động quản
lý NCKH của sinh viên
Phương pháp quan sát để hỗ trợ cho các phương pháp khác trong quá
trình nghiên cứu, qua đó thấy rõ hơn quan lý hoạt động NCKH của sinh viên
Phương pháp phân tích tài liệu là các báo cáo khoa học, bài tập, đề tài
khoa học, khoá luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên
* Nhóm phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phép toán thống kê tính điểm trung bình, số lượng/ phầntrăm, hệ số tương quan Specman để xử lý số liệu thu được, góp phần làm chokết quả nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy
Trang 137 Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về hoạt động NCKH,quản lý hoạt động NCKH trên một đối tương cụ thể là sinh viên đại học
- Cung cấp luận chứng khoa học về thực trạng hoạt động NCKH củasinh viên và các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này ởtrường Đại học Hà Nội
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinhviên, cán bộ quản lý và sinh viên của nhà trường trong tổ chức và thực hiệncác hoạt động NCKH
8 Kết cấu của đề tài
Gồm 3 chương, 11 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Nghiên cứu khoa học
Khoa học là những tri thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư
duy Hay nói cách khác khoa học là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, pháthiện quy luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy để sángtạo ra các nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật hiện tượng nhằmbiến đổi trạng thái của chúng
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về khoa học Điều này phụthuộc vào cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu của mỗi tác giả, như: LuậtKhoa học và công nghệ: “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sựvật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động đếnthế giới xung quanh, nhận thức và làm biến đổi thế giới đó phục vụ lợi ích củacon người” [32, tr.16]; Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, của tác giả PhạmViết Vượng, Lưu Xuân Mới lại hiểu khoa học như là hệ thống các tri thức về
tự nhiên, xã hội và tư duy về những quy luật phát triển khách quan của tựnhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử vàkhông ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội
Về NCKH cũng có khá nhiều khái niệm khác nhau Theo Luật Khoahọc và công nghệ: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các
sự vật, hiện tượng, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giảipháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiêncứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng” [23, tr.8]
Giáo trình "Phương pháp luận NCKH" của Tác giả Vũ Cao Đàm cho
rằng: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động hướng xã hội vào việc tìm kiếmnhững điều mà khoa học chưa biết hoặc phát hiện ra bản chất sự việc, phát
Trang 15triển nhận thức khoa học về thế giới quan và cách vận dụng chúng vào việccải tạo thế giới” [8, tr20].
Ngoài ra, còn có các quan niệm của tác giả Phạm Viết Vượng:
"Nghiên cứu khoa học là hoạt động có mục đích, có kế hoạch, được tổ chứcchặt chẽ của các nhà khoa học nhằm khám phá ra bản chất và quy luật củathế giới khách quan và vận dụng chúng vào việc cải tạo thế giới" [47, tr21].Tác giả Lưu Xuân Mới quan niệm: “Nghiên cứu khoa học là quá trình nhậnthức chân lý khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng những phươngpháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và cómục đích những điều mà con người chưa biết đến (hoặc biết chưa đầy đủ)tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức mới có giá trị mới về nhận thứchoặc phương pháp” [27, tr25]
Từ các quan niệm trên, có thể hiểu NCKH là hoạt động có kế hoạch, có
tổ chức của tập thể hoặc cá nhân nhà khoa học phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn
Bản chất của NCKH
NCKH là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm tạo ra giá trịnhận thức mới chưa ai biết về đối tượng trong thế giới hiện thực Mục đíchcủa NCKH là nâng cao năng lực nhận thức của loài người, tạo ra hệ thống trithức mới góp phần cải tạo thực tiễn cuộc sống và sản xuất Chủ thể củaNCKH là các nhà khoa học với những phẩm chất trí tuệ và tài năng vượt trội
Sự sáng tạo khoa học thường được bắt đầu từ ý tưởng cá nhân sau đó được sự
hỗ trợ, hợp tác nghiên cứu của tập thể, theo định hướng của người chủ trì Vìvậy có thể nói chủ thể của NCKH vừa có tính cá nhân vừa có tính tập thể.Khách thể của NCKH là các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy
mà nhà khoa học nghiên cứu để khám phá, sáng tạo ra tri thức khoa học Đối
tượng của NCKH là tri thức khoa học Tri tức khoa học là “kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện
Trang 16đặc biệt, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện” [13, tr.16] Chức năng của
NCKH là nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận dạng, đánhgiá một sự vật, giải thích nguồn gốc, trạng thái cấu trúc, quy luật chung chiphối quá trình vận động của sự vật Đưa ra các giải pháp, các nhận dạng trạngthái của sự vật trong tương lai
Đặc trưng hoạt động NCKH
Hoạt động NCKH là để tìm đến cái mới Tính mới mẻ của NCKH thểhiện ở quan điểm tiếp cận, cách đặt vấn đề, phương pháp triển khai, phươngpháp thực nghiệm đến quá trình nhận thức để cải tạo thế giới Kết quả trongnghiên cứu còn là quá trình phát triển tư duy khoa học một cách mới mẻ, sảnphẩm khoa học còn chứa đựng yếu tố mới
Hoạt động NCKH mang tính đặc trưng thông tin, đòi hỏi phải có tínhchất khái quát cao, thông tin mới, có giá trị phục vụ cho nghiên cứu, thông tin
do nghiên cứu đem lại phải khách quan và có độ tin cậy cao
Hoạt động NCKH đòi hỏi phải mạnh dạn, mạo hiểm chính là ở chỗ chủthể nghiên cứu dám đi sâu vào nghiên cứu những lĩnh vực khó khăn, hoặc ítngười quan tâm, đó là các đề xuất các ý kiến mạnh dạn, thẳng thắn, có khi cảvấn đề nhạy cảm… các nhà khoa học phải dấn thân vào nghiên cứu với nhữnggiả thiết mới có luận cứ và sẵn sàng chấp nhận sự thất bại
Hoạt động NCKH còn mang tính “phi kinh tế” trong nghiên cứu Đặcđiểm này cho thấy thực tế trong NCKH không thể tính lời hay lãi, giá trị kinh
tế không thể đưa lên bàn cân để đong đếm, khó hạch toán về giá trị kinh tế,chúng ta chỉ xem xét kết quả hay sản phẩm nghiên cứu đóng góp cho sựnghiệp khoa học
Tính độc đáo của cá nhân kết hợp với vai trò của tập thể khoa học trong
xu thế hội nhập hiện nay sự hợp tác trong NCKH là rất quan trọng Nếukhông có đặc trưng này trong NCKH thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, không tạođược các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là sự thiếu hợp tác gắn kết giữa các nhàkhoa học, các chuyên ngành nghiên cứu với nhau là sự lãng phí rất lớn trong
Trang 17hoạt động NCKH, thể hiện sự thiếu đồng nhất chưa tìm được tiếng nói chungtrong NCKH.
1.1.2 Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Hoạt động NCKH của sinh viên đóng một vai trò quan trọng trong việchình thành kỹ năng nghiên cứu, tư duy khoa học cho mỗi nhà khoa học tươnglai Mục đích của các trường đại học là đào tạo các nhà chuyên môn có phẩmchất và năng lực, có khả năng tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh
tế, văn hoá, khoa học, công nghệ quốc gia Trong thời đại ngày nay, trên conđường phát triển của mỗi quốc gia, hội nhập toàn cầu, vấn đề nghiên cứu trởnên yêu cầu hàng đầu đối với mỗi chuyên gia Nghiên cứu không chỉ làm chocông việc đạt chất lượng, hiệu quả cao mà còn làm cho các chuyên gia đứngvững và làm chủ tốc độ phát triển của khoa học công nghệ
Sinh viên hôm nay chưa phải là nhà khoa học nhưng trong tương laigần họ sẽ có khả năng trở thành những chuyên gia năng động và sáng tạo
Họ có thể là những cán bộ công tác trong các viện NCKH, hoặc làm cácngành nghề liên quan đến nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vàothực tế cuộc sống Do đó, hoạt động NCKH đối với mỗi sinh viên đangngồi trên ghế nhà trường hiện nay được coi là một hình thức học tậpnhưng vô cùng cần thiết cho tương lai Hoạt động NCKH là loại hình laođộng đặc biệt, được tiến hành bởi các nhà khoa học, thông qua hệ thốngcác phương pháp, các phương tiện kỹ thuật phù hợp nhằm phát hiện nhữnghiểu biết mới mang tính quy luật, tạo ra sản phẩm mới phục vụ mục tiêuhoạt động động của con người
Vì vậy, hoạt động NCKH của sinh viên đại học là hoạt động nghiên cứucủa sinh viên trong quá trình học tập bao gồm tất cả các hoạt động phát hiện,tổng hợp các kiến thức có thể đóng góp cho kho tàng kiến thức của nhân loạihoặc cho chính bản thân sinh viên, giúp sinh viên hiểu biết sâu hơn, rộng hơn
về kiến thức, chuyên môn được đào tạo hoặc tìm ra kiến thức tổng hợp liênngành NCKH của sinh viên cũng giống như NCKH nói chung nhằm thỏa
Trang 18mãn nhu cầu nhận thức của con người, nhằm tìm ra lời giải cho các tìnhhuống có vấn đề, lời giải đó có thể là một thông tin, một phương pháp,…màtrước đó chưa có.
Từ kết quả nghiên cứu trên đây, chúng tôi quan niệm: Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động có kế hoạch, có tổ chức của sinh viên hướng vào việc tìm kiếm tri thức khoa học hoặc là sáng tạo phương pháp mới, phương tiện kỹ thuật mới trong học tập góp phần phát triển nhân cách cho sinh viên.
Vai trò và các hình thức NCKH của sinh viên đại học
Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một nội dung quan trọng trongchương trình đào tạo ở trường đại học, qua đó hình thành tư duy và phươngpháp NCKH, đáp ứng yêu cầu: giảng dạy kết hợp với thực hành và NCKH, gópphần nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện; Phát huy tính năng động, sáng tạo,khả năng NCKH độc lập của sinh viên, hình thành năng lực tự học cho sinhviên; Góp phần tạo ra tri thức, sản phẩm mới cho xã hội
Các hình thức NCKH cơ bản của sinh viên Đại học
Bài tập nhỏ (bài tập môn học)
Bài tập nhỏ thuộc loại hình nghiên cứu, xử lý một số vấn đề khoa học
cụ thể, thường được thực hiện ngay từ năm thứ nhất và là dịp tổng kết nhữngkiến thức trọng tâm trong chương trình môn học Ở những bài tập này có thểliên hệ mở rộng thêm kiến thức ngoài nội dung giảng dạy và học tập được quyđịnh trong chương trình Giảng viên hướng dẫn cho sinh viên tìm hiểu, tracứu tài liệu, nghiên cứu thêm một số vấn đề nhằm mở rộng tầm hiểu biết, vậndụng và khai thác thêm tri thức mới Thời gian tiến hành bài tập cùng với thờigian học tập chương trình môn học Yêu cầu sinh viên tham gia nghiên cứu ởloại hình này chỉ là: phát hiện các vấn đề trọng tâm của môn học, có khi là tập
xử lý một đề tài mà người khác đã bàn tới hoặc tóm tắt các nội dung chính,sưu tầm tài liệu, ứng dụng thực tế có liên quan đến môn học Đưa ra nhữngđánh giá nhận xét với nhận thức chủ quan của mình trên cơ sở nắm bắt đầy đủ
Trang 19lý thuyết Vấn đề cốt lõi ở đây là để cho sinh viên hứng thú và có ý tưởngmới, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tạo phong cách của cá nhân trong quátrình học tập tiếp theo.
Bài tập lớn
Đây là loại bài tập chính thức được quy định trong chương trình đàotạo, sau khi sinh viên đã học kiến thức cơ sở ngành và kiến thức chuyên môn.Với hình thức bài tập này, tất cả sinh viên đều phải làm dưới sự hướng dẫncủa giảng viên Đây là loại hình nghiên cứu yêu cầu cao hơn bài tập nhỏ, thờigian nghiên cứu dài hơn và có quy định cụ thể về nội dung, thời gian hoànthành, hình thức đánh giá Việc tiến hành làm bài tập lớn thường gắn với việchọc tập chuyên đề từ năm thứ hai Những chuyên đề hỗ trợ rất tốt về chấtlượng cho việc làm bài tập lớn của sinh viên Mục đích chủ yếu của hình thứcnghiên cứu này là cho sinh viên thực hành với các thủ pháp NCKH, tìm hiểu,tra cứu tài liệu, phát hiện ứng dụng, liên hệ thực tế chứ chưa làm giàu chokhoa học bằng kết quả của các công trình nghiên cứu Bài tập lớn được hoànthành có thể được bảo vệ trước bộ môn hoặc do hội đồng đặc biệt được bộmôn thành lập Kết quả được đánh giá bằng điểm số của môn học Việc hoànthành bài tập lớn có ý nghĩa quan trọng đặt tiền cho các hình thức nghiên cứucao hơn như: làm khoá luận, đồ án tốt nghiệp
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận là hình thức nghiên cứu cao hơn làm bài tập lớn Đây là bàitập NCKH cuối khoá chỉ dành riêng cho những sinh viên có kết quả học tậpđạt từ loại khá trở lên đối với mọi sinh viên Đại học thuộc khoa học xã hội.Giá trị của khoá luận được tính từ 3 đến 4 đơn vị học trình Nếu sinh viênchọn đề tài khoá luận thuộc học phần thi tốt nghiệp nào thì họ được miễn thihọc phần đó để làm khoá luận Khi làm khoá luận, sinh viên phải đọc nhiềutài liệu có liên quan nhất là những sách chuyên khảo và phải được một giảngviên chính hướng dẫn trên cơ sở tinh thần chủ động, độc lập nghiên cứu của
Trang 20sinh viên là chủ yếu Việc đánh giá kết quả của khoá luận do một hội đồng doHiệu trưởng quyết định thành lập Sinh viên được dành khoảng thời gian 30phút để báo cáo tóm tắt khoá luận Sau khi phản biện đọc nhận xét, ngườihướng dẫn đánh giá kết quả và thái độ làm việc của sinh viên Toàn thể hộiđồng thảo luận kết quả kể cả việc chất vấn tác giả, cuối cùng là phần bỏ phiếukín cho điểm theo thang điểm 10 Điểm của khoá luận là điểm trung bình củacác thành viên hội đồng được công bố công khai ngay trong buổi nghiệm thu
Luận văn tốt nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp là bài tập NCKH có yêu cầu cao hơn khoá luận tốtnghiệp chỉ có sinh viên đạt loại giỏi mới có quyền chọn làm luận văn tốtnghiệp Nội dung luận văn do sinh viên đề xuất hoặc do giáo viên hướng dẫngợi ý, được hội đồng khoa học của khoa phê duyệt Nếu được làm luận văntốt nghiệp sẽ được miễn tất cả các môn thi tốt nghiệp Như vậy, giá trị củaluận văn được coi là kết quả của phần thi tốt nghiệp bằng 6 đơn vị học trình.Yêu cầu của luận văn phải thể hiện rõ tính sáng tạo của người nghiên cứu.Việc đánh giá và xếp loại kết quả luận văn cũng được thực hiện theo phươngthức tổ chức hội đồng nghiệm thu như đánh giá xếp loại khóa luận tốt nghiệpnhưng yêu cầu cao hơn
Đồ án tốt nghiệp (dành cho các sinh viên các ngành kỹ thuật).
Về tính chất và mức độ các yêu cầu của đồ án tốt nghiệp cũng như yêucầu của khoá luận, luận văn Song việc làm đồ án tốt nghiệp được thực hiệnbởi sinh viên các ngành kỹ thuật Đồ án tốt nghiệp được xem như chươngtrình nghiên cứu cuối cùng, khi sinh viên đã hoàn thành tất cả các môn học vàchương trình học tập khác Nội dung của đồ án tốt nghiệp đối với các khốingành kỹ thuật là những hình thức nghiên cứu hướng tới mục đích là để sinhviên thực hiện NCKH Đây là cơ sở nền móng giúp cho những chuyên gia saunày không những giỏi về chuyên môn, mà còn tham gia NCKH có hiệu quả,chủ động sáng tạo trong công việc Sinh viên làm đồ án tốt nghiệp tự chọn đề
Trang 21tài hoặc giảng viên hướng dẫn gợi ý đề tài nghiên cứu Quá trình thực hiện đềtài sinh viên phải tra cứu tài liệu, tìm hiểu sâu phần kiến thức chuyên ngành,
có ý tưởng, mô hình cụ thể để ứng dụng các nghiên cứu Đồ án tốt nghiệpgồm thuyết minh, số liệu tính toán, so sánh tính kinh tế kỹ thuật lựa chọnphương án, bản vẽ, mô hình và sản phẩm ứng dụng Đồ án tốt nghiệp đượcbảo vệ trước hội đồng do hiệu trưởng ra quyết định thành lập, kết quả đượctính là điểm tốt nghiệp của sinh viên
Ngoài các hình thức NCKH thuộc chương trình đào tạo trên, các sinhviên còn tham gia nhiều hình thức NCKH khác như: thi Olympic, thực tập tốtnghiệp tại doanh nghiệp, viết các bài báo khoa học đăng trên các báo và tạpchí, tham gia đề tài NCKH cấp khoa, cấp trường,… do giảng viên hướng dẫn
1.1.3 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học
Mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường đại học nhằmgóp phần giải quyết các nhiệm vụ cơ bản: Nâng cao chất lượng đào tạo đạihọc, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho CNH -HĐH của đất nước; kết hợp thực hiện các nhiệm vụ khoa học với các nhiệm
vụ đào tạo của nhà trường, ứng dụng các thành tựu khoa học, các tiến bộ kỹthuật phục vụ việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển sự nghiệp GD&ĐT,phát triển kinh tế xã hội Xây dựng và phát triển tiềm lực NCKH của trường,từng bước hội nhập với nền KHCN hiện đại của khu vực và trên thế giới
Khi nói đến quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường đại học,chúng ta có thể nói đến một quy trình tác động mang tính pháp lý, tính khoahọc, có mục tiêu rõ ràng của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý nhằmchỉ huy và điều hành đối tượng bị quản lý và hoạt động NCKH của họ theođúng mục tiêu của hoạt động NCKH đã đề ra, nhằm nâng cao chất lượng củahoạt động NCKH trong nhà trường nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung.Quản lý hoạt động NCKH sinh viên mang tính pháp lý được thực hiện dựatrên cơ sở pháp luật và các văn bản, thông tư hướng dẫn của Bộ GD&ĐT vàđiều lệ nhà trường về hoạt động NCKH của sinh viên
Trang 22Quản lý hoạt động NCKH của sinh viên là việc thực hiện các chứcnăng quản lý, có xét đến các đặc điểm phù hợp của sinh viên như: Năng lựctrí tuệ, hứng thú và nguyện vọng của sinh viên, nội dung chương trình đàotạo, yêu cầu thực tiễn của xã hội, định hướng của KHCN chuyên ngành,…đểnâng cao chất lượng đào tạo và chất lượng NCKH của sinh viên.
Chúng tôi cho rằng: Quản lý hoạt động NCKH của sinh viên đại học là cách thức cụ thể mà chủ thể quản lý trường đại học thực hiện việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá hoạt động NCKH và các điều kiện hộ trợ cho hoạt động NCKH của sinh viên nhằm đạt mục tiêu NCKH và chất lượng đào tạo của nhà trường.
Theo quan niệm này, chủ thể quản lý hoạt động NCKH của sinh viêngồm cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên của trường đại học; các cách thức cụthể mà chủ thể tiến hành để quản lý hoạt động NCKH của sinh viên được thểhiện trong các nội dung dưới đây
1.2 Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học
Quản lý hoạt động NCKH sinh viên được triển khai theo hệ thống vănbản mang tính pháp lý Đòi hỏi sinh viên hướng dẫn, sinh viên NCKH phảituân thủ những quy định mang tính hành chính về quy trình đăng ký, xétduyệt đề tài, tổ chức nghiên cứu và nghiệm thu, đánh giá kết quả nghiên cứutheo sự chỉ đạo thực hiện của những người có trách nhiệm quản lý: trưởngKhoa, trưởng phòng Quản lý khoa học, chủ tịch Hội đồng khoa học trường.Nội dung quản lý hoạt động NCKH của sinh viên Đại học bao gồm:
1.2.1 Lập kế hoạch nghiên cứu khoa học cho sinh viên
Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý.Trong các trường đại học công lập thường áp dụng mô hình quản lý chínhquy Xây dựng kế hoạch NCKH cho sinh viên là quá trình bao gồm: xây
Trang 23dựng mục tiêu cho hoạt động NCKH (với số lượng đề tài các cấp, nội dung thực hiện); nguồn lực, biện pháp tổ chức; tiến độ thực hiện, thời gian hoàn
thành; tiêu chí đánh giá nghiệm thu theo một quy trình thống nhất và đượcphê duyệt
Hoạt động NCKH của sinh viên được tiến hành theo kế hoạch phù hợpvới kế hoạch năm học Tính kế hoạch trong hoạt động NCKH của sinh viênđược thể hiện qua các khâu trong tổ chức xét duyệt đề tài, tổ chức nghiên cứu
và đánh giá kết quả nghiên cứu
1.2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trong quản lý hoạt động NCKH của sinh viên chức năng tổ chức là xây
dựng vai trò nhiệm vụ, cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận liênquan đến hoạt động NCKH Sắp xếp phân bổ nguồn lực cho từng bộ phận,từng thành viên đảm bảo cho họ thực hiện nhiệm vụ của mình, qua đó thựchiện thành công mục tiêu NCKH Thông qua đó, chủ thể quản lý tác động đếnđối tượng quản lý một cách có hiệu quả bằng cách điều phối nguồn lực củađơn vị như: nhân lực, vật lực, tài lực Quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu
tổ chức phải đảm bảo các yêu cầu về tính tối ưu, tính linh hoạt, tính kinh tế và
độ linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ
Hoạt động NCKH của sinh viên được tổ chức theo mục tiêu định trướcvới những quy định chặt chẽ, được tiến hành theo định hướng NCKH của nhàTrường, của Khoa và giảng viên hướng dẫn
1.2.3 Chỉ đạo việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên
Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể quản lý, nhằm điều hành
tổ chức nhân lực đã có của đơn vị vận hành theo đúng kế hoạch đã vạch ra.Chỉ đạo là chức năng của quản lý, chủ thể quản lý phải trực tiếp ra quyết địnhcho nhân viên dưới quyền, theo dõi giúp đỡ, động viên để thúc đẩy hoạt độngthực hiện kế hoạch đã vạch ra, đạt các mục tiêu của tổ chức bằng những biệnpháp khác nhau Đây là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến
Trang 24đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của
họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của tổ chức
Trong các trường đại học, chỉ đạo việc ứng dụng kết quả NCKH củasinh viên là Ban giám hiệu nhà trường, Phòng khoa học và lãnh đạo các Khoa.Chỉ đạo việc ứng dụng kết quả NCKH của sinh viên nhằm giúp đưa các sảnphẩm NCKH của sinh viên như luận văn tốt nghiệp, đề tài, chuyên đề, bài báokhoa học… có chất lượng tốt, có tính ứng dụng cao được đưa ngay vào thựctiễn giảng dạy và học tập tại trường đại học
1.2.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Kiểm tra là hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản
lý thông qua một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức để xem xét thực tế,đánh giá, giám sát thành quả hoạt động, đồng thời uốn nắn, điều chỉnh cácsai lệch nhằm thúc đẩy hệ thống đạt tới mục tiêu đã định Để tiến hànhkiểm tra cần phải có tiêu chuẩn, nội dung và phương pháp kiểm tra Nhàquản lý phải thu thập thông tin từ các bộ phận, các thành viên trong tổ chức
để đánh giá, kịp thời phát hiện sai sót và điều chỉnh Đồng thời tìm ranguyên nhân của thành công và thất bại để rút ra bài học kinh nghiệm choquá trình quản lý tiếp theo
Kiểm tra hoạt động NCKH của sinh viên được căn cứ vào mục đích,nội dung, tiến độ thực hiện (kết quả từng giai đoạn) để kiểm tra, đánh giá theocác tiêu chí và yêu cầu đặt ra Kiểm tra được thực hiện bởi hội đồng khoa họccấp khoa, đối với đề tài NCKH cấp trường có sự tham gia của thành viên hộiđồng khoa học trường Các thông tin trong quá trình kiểm tra được sử dụng để
ra quyết định điều chỉnh phù hợp nhằm đạt mục tiêu đề ra
Trong kiểm tra, đánh giá cần chú ý đánh giá chính xác số lượng các sảnphẩm, công trình khoa học của sinh viên Bao gồm: số lượng sản phẩm, côngtrình khoa học mà sinh viên đã đăng ký tham gia; số lượng sản phẩm, công trìnhkhoa học đang triển khai thực hiện; số lượng sản phẩm, công trình khoa học đã
Trang 25hoàn thành, được nghiệm thu, công bố Đồng thời, đánh giá chất lượng các sảnphẩm, công trình khoa học của sinh viên, hiệu quả khoa học và hiệu quả xã hộicủa các sản phẩm, công trình khoa học, trên cả hai phương diện lý luận và thựctiễn Về lý thuyết, chất lượng các sản phẩm, công trình khoa học của sinh viênđược đánh giá, thẩm định thông qua các hội đồng đánh giá và được xếp loại theothứ bậc Trên phương diện thực tiễn, chất lượng các sản phẩm, công trình khoahọc của sinh viên được đánh giá thông qua kết quả quá trình triển khai ứng dụngcác sản phẩm, công trình khoa học đó vào các lĩnh vực hoạt động thực tiễn củaNhà trường Như vậy, đánh giá chất lượng các sản phẩm, công trình khoa họccủa sinh viên vừa phải làm tốt việc thẩm định, kiểm chứng chất lượng các sảnphẩm, công trình khoa học, vừa phải tính đến các khả năng tối ưu để sử dụng cácsản phẩm, công trình khoa học của sinh viên vào thực tiễn, nhằm đạt được mụcđích nghiên cứu đề ra.
Đánh giá việc ứng dụng kết quả NCKH của sinh viên bao gồm quá
trình triển khai các hoạt động ứng dụng; quản lý việc tổ chức thực hiện ứngdụng và quản lý kết quả ứng dụng Quá trình này bao gồm hệ thống các hoạtđộng: công bố, giới thiệu, định hướng sử dụng các sản phẩm, công trình khoahọc; xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp tổ chứcứng dụng; chỉ đạo các cơ quan, khoa, bộ môn và các đơn vị trong Nhà trường
tổ chức ứng dụng sản phẩm, công trình khoa học vào thực tiễn hoạt độngquản lý, giảng dạy, nghiên cứu, học tập, rèn luyện của cán bộ, giảng viên,sinh viên; kiểm tra, đánh giá kết quả ứng dụng của từng tổ chức, cá nhân vàđảm bảo các điều kiện cần thiết cho hoạt động ứng dụng
1.2.5 Quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một hoạt động đầy khó khăn, thửthách Đòi hỏi sinh viên phải kiên trì tập trung trí tuệ, sức lực, thời gian chocông trình nghiên cứu Vì vậy, cơ quan quản lý hoạt động NCKH, sinh viêncần phải có những biện pháp động viên, có cơ chế khuyến khích, hành động
Trang 26thuyết phục để khích lệ sinh viên tập trung cho hoạt động nghiên cứu, khôngnản chí hay bỏ giữa chừng, nhằm tạo động lực cho người học hoàn thànhnhiệm vụ nghiên cứu.
Quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động NCKH bao gồm: quản lý
bố trí sắp xếp để các giảng viên nhiều kinh nghiệm, năng lực chuyên môn tốt,nhiệt tình tham gia hướng dẫn sinh viên NCKH Đầu tư thỏa đáng có trọngđiểm về điều kiện, cơ sở vật chất như: thư viện, phòng thí nghiệm, phòng thựchành, hợp tác liên kết với cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, tổ chức các đoàntham quan doanh nghiệp cho sinh viên để từ đó sinh viên có cơ hội phát hiện
ra đề tài NCKH thiết thực, có ý nghĩa cho mình Tạo điều kiện thuận lợi đểsinh viên có thể tìm hiểu tiếp cận thực tế trong quá trình học tập, NCKH vàtìm kiếm việc làm khi ra trường
1.3 Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học
1.3.1 Các yếu tố thuộc về chủ thể quản lý
Quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học là quản lý quátrình phát triển hệ thống lý luận khoa học xã hội nhân văn, ngôn ngữ nướcngoài của sinh viên và quản lý quá trình tổ chức ứng dụng các sản phẩm khoahọc vào thực tiễn; góp phần nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩmNCKH của sinh viên; đồng thời, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý củaNhà trường
Chủ thể quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học là Bangiám hiệu và các Trưởng, Phó Khoa, Phòng nhà trường Đây là lực lượng trựctiếp tiến hành quản lý hoạt động NCKH của sinh viên
Đối tượng quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học lànhững hoạt động NCKH của sinh viên nhà trường
Khách thể quản lý là toàn bộ những hoạt động quản lý của Ban giámhiệu và các Trưởng, Phó Khoa, Phòng nhà trường với các hoạt động của sinhviên trường Đại học
Trang 27Phương pháp, hình thức quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trườngĐại học, sử dụng tổng hợp các phương pháp, hình thức quản lý như: theo dõi,nắm bắt quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện; chỉ đạo, kiểm tra, đánh giáhoạt động NCKH của sinh viên; phát huy vai trò của chủ thể quản lý
Nhận thức của người lãnh đạo, quản lý nhà trường về vấn đề NCKH
của sinh viên: Trong công tác quản lý nói chung, quản lý hoạt động NCKH
của sinh viên nói riêng, đòi hỏi nhà quản lý phải có tầm nhìn rộng, thấyđược vị trí, vai trò của nội dung quản lý hoạt động này đối với người học
Để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, trước hết nhà quản lý phải có nhận thứcđúng đắn về hoạt động này Sự nhận thức đó được thể hiện ở mọi khâu củachu trình quản lý, cả ở chủ trương, biện pháp, cách thức tổ chức trong quátrình quản lý
Cơ chế quản lý hoạt động NCKH của nhà trường: Nhìn từ góc độ hànhchính học và khoa học quản lý, là sự phản ánh các quan hệ của con ngườitrong một hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo và quản lý, có chấp hành và phụctùng Cơ chế có ảnh hưởng, chi phối rất lớn đến con người và tổ chức, đến cácquan hệ con người cũng như công việc, hoặc tích cực hoặc tiêu cực, tuỳ thuộcvào sự phù hợp hoặc không phù hợp của cơ chế đó
Cơ chế quản lý hoạt động NCKH của Đại học được hình thành do yêucầu khách quan của hoạt động NCKH, bao gồm: cơ chế thống nhất trong lãnhđạo, quản lý; cơ chế tự chủ trong quản lý; cơ chế phân công công việc; cơ chếphối hợp, liên kết giữa các khoa giáo viên, giữa sinh viên với tập thể khoahọc; cơ chế bảo đảm sự kết hợp giữa hoạt NCKH với hoạt động giảng dạy; cơchế bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ sinh viên trong lĩnh vực khoa học; cơ chế hợptác, liên kết giữa các nhà trường, Phòng, Khoa trong Nhà trường đối với hoạtđộng NCKH của sinh viên; cơ chế đánh giá, thi đua, khen thưởng và thựchiện chính sách đối với sinh viên trong hoạt động NCKH
Việc xác lập và tổ chức thực hiện cơ chế quản lý hoạt động NCKH làtrách nhiệm của Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường, cơ quan chức năng vàcác khoa giáo viên Cơ chế quản lý hoạt động NCKH của Nhà trường đượcxác lập và tổ chức thực hiện sẽ trực tiếp tác động đến sự vận hành các hoạt
Trang 28động của bộ máy quản lý, nguyên tắc quản lý, phương pháp quản lý và giảiquyết mối quan hệ giữa các chủ thể quản lý; đồng thời, tác động mạnh mẽ tớithái độ, trách nhiệm và động cơ ở trình độ tự giác cao của mỗi sinh viên đốivới hoạt động NCKH.
Trong các nhà trường nhận thức về tầm quan trọng của hoạt độngNCKH, tri thức kinh nghiệm, sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, chế độ độngviên khuyến khích, năng lực tài chính,… là yếu tố quan trọng trong việc thúcđẩy hoạt động NCKH của sinh viên Trong đó nhận thức về tầm quan trọngcủa lãnh đạo đơn vị (trưởng khoa, trưởng bộ môn) đối với hoạt động NCKH
có tầm ảnh hưởng trực tiếp đối với hoạt động NCKH của sinh viên
1.3.3 Các yếu tố thuộc về đối tượng quản lý
Đối tượng quản lý trong công tác quản lý hoạt động NCKH sinh viêntrường đại học chính là đội ngũ sinh viên của nhà trường Đây là đội ngũđông đảo những con người trẻ, có khả năng sáng tạo, tràn đầy nhiệt huyếtmuốn được cống hiến, trực tiếp tham gia NCKH và là nguồn nhân lực thúcđẩy hoạt động NCKH của trường phát triển Tuy nhiên kỹ năng, phương phápcòn nhiều hạn chế nên ảnh hưởng nhiều đến chất lượng NCKH Để NCKH cóhiệu quả, sinh viên phải có niềm đam mê với đề tài mình theo đuổi Hơn nữa,còn phải có nhiệt huyết và trăn trở, ứng dụng những kiến thức mình đã vàđang được học vào vấn đề mình nghiên cứu Sinh viên phải đưa được nhữngvấn đề thực tế vào trong những nghiên cứu của mình, nếu không có thực tế thìnhững vấn đề nghiên cứu của sinh viên sẽ không có giá trị và làm giảm hứngthú của sinh viên với hoạt động này
Chương trình đào tạo của các trường đại học hiện nay còn nặng về khốilượng môn học kiến thức đại cương, các môn chuyên ngành chưa được đầu tưthời gian thỏa đáng, không có chế độ khuyến khích sinh viên NCKH do vậychưa tạo được động lực, hứng thú NCKH của sinh viên
Trong những năm gần đây, việc đào tạo gắn với nhu cầu người sử dụngđược nhiều trường đại học quan tâm, nhất là các trường đại học khối kỹ thuật
Trang 29Việc sinh viên ra trường được các nhà tuyển dụng lựa chọn dựa vào năng lựcchuyên môn được đào tạo, khả năng đáp ứng công việc, có thể thích ứng vớilĩnh vực chuyên môn gần ngành đào tạo làm thay đổi nhận thức của sinh viên
về phương pháp học tập Chính vì vậy, nhận thức của sinh viên về tầm quantrọng của hoạt động NCKH ngày càng được nâng cao được thể hiện ở việcsinh viên tích cực hơn trong đăng ký tham gia đề tài NCKH cấp khoa, cấptrường, phấn đấu học tập có kết quả cao để được làm đồ án tốt nghiệp Quađiều tra cho thấy nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của hoạt độngNCKH có ảnh hưởng lớn đến quản lý hoạt động NCKH của sinh viên
1.3.3 Các yếu tố thuộc về môi trường quản lý
Hiện nay và những năm tiếp theo, Đại học “tập trung xây dựng Nhàtrường có sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về chất lượng giáo dục, đàotạo, NCKH, xây dựng Nhà trường có vị thế cao trong hệ thống giáo dục ViệtNam” Trong tương lai, mục tiêu xây dựng và phát triển Đại học sẽ có nhữngbước phát triển mới, đồng thời, mở rộng quy mô, đối tượng, loại hình đào tạo,từng bước thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá”, nâng cao chất lượng đào tạo
cử nhân ngoại ngữ Đây là những mục tiêu lớn, chi phối và tác động mạnh mẽđến quá trình quản lý hoạt động NCKH của sinh viên, từ việc xác định mụctiêu, nội dung, yêu cầu hoạt động NCKH, đến việc bảo đảm sự gắn kết chặtchẽ giữa hoạt động NCKH với hoạt động giảng dạy và hoạt động thực tiễn;đồng thời đặt ra những yêu cầu cần đáp ứng, sự cần thiết phải chuẩn hoá vềtrình độ, năng lực giảng dạy và NCKH của sinh viên
Môi trường NCKH của sinh viên là sự hợp thành của nhiều yếu tố,trong đó có một số yếu tố cơ bản sau: Cơ sở vật chất, điều kiện phục vụ chohoạt động NCKH của sinh viên; trình độ, kinh nghiệm, sự nhiệt tình của giảngviên với hoạt động NCKH của sinh viên; cơ chế, chính sách về NCKH trongtrường đại học; quan điểm, chủ trương đẩy mạnh NCKH gắn với giáo dục,đào tạo trong trường đại học
Trang 30Xét về mặt không gian, NCKH của sinh viên trường đại học là một bộphận trong toàn bộ các hoạt động của Nhà trường, trong sự phát triển hoạtđộng NCKH của đất nước Về mặt thời gian, NCKH của sinh viên trong thờigian qua đang dần đi vào nề nếp và từng bước ổn định Môi trường NCKHcủa sinh viên hiện nay được cải thiện rất nhiều so với trước Môi trường nàyliên hệ và gắn bó chặt chẽ với môi trường sư phạm, môi trường văn hoá, vừamang những nét chung của một trường Đại học, vừa mang những dấu ấnriêng của trường chủ yếu đào tạo ngôn ngữ nước ngoài.
Trình độ, kinh nghiệm của giảng viên trong hướng dẫn NCKH là yếu tốảnh hưởng nhiều đến quản lý hoạt động NCKH của sinh viên Giảng viên vừa
là người thầy hướng dẫn vừa là người bạn trong tìm tòi NCKH giúp sinh viên
tự tin, hăng hái hơn trong việc tìm kiếm, sáng tạo Các chuyên gia có trình độcao tham tham gia nghiên cứu, giảng dạy, tư vấn, đảm đương các chức vụquản lý NCKH và công nghệ làm phong trào NCKH phát triển hiệu quả
Cơ chế quản lý về KHCN còn nhiều bất cập, chế độ hỗ trợ trong việcthực hiện đề tài NCKH đã được cải tiến nhiều song vẫn còn thấp, thủ tụcthanh toán phức tạp Sinh viên những người mới bắt đầu làm NCKH, có nhiềukhó khăn từ tri thức hạn chế, chưa thành thạo trong công việc, đến thời giandành cho NCKH không nhiều, nên chế độ động viên, khuyến khích để tạođộng lực NCKH cho sinh viên có ảnh hưởng lớn đến quản lý hoạt độngNCKH của sinh viên
Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và NCKH là yếu tố cần thiết,không thể thiếu: thư viện, phòng thực hành, thí nghiệm, tuy nhiên việc đầu
tư mua sắm còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ, việc bố trí cán bộ hướng dẫn sửdụng thiết bị thực hành, thí nghiệm để có thể khai thác hiệu quả thiết bị hiện
có chưa đáp ứng được yêu cầu NCKH cũng làm ảnh hưởng tới chất lượnghoạt động này
Trang 31Môi trường hoạt động NCKH của sinh viên không trực tiếp quyết địnhđến chất lượng, hiệu quả quản lý hoạt động NCKH của sinh viên, nhưng cótác động sâu sắc đến nhận thức, thái độ, hành vi của chủ thể quản lý và độingũ sinh viên đối với hoạt động NCKH của sinh viên Điều này có thể thúcđẩy hoặc kìm hãm hoạt động NCKH của sinh viên.
*
Trên cơ sở phân tích các tài liệu lý luận trong và ngoài nước, luận văn
đã xác định được khung lý luận cơ bản của đề tài bao gồm các vấn đề lý luận
về hoạt động NCKH và quản lý hoạt động NCKH của sinh viên Đại học cùngcác yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động NCKH của sinh viên Đại học
Nội dung quản lý hoạt động NCKH của sinh viên gồm: Lập kế hoạchcho hoạt động NCKH của sinh viên; tổ chức NCKH cho sinh viên; chỉ đạohoạt động NCKH của sinh viên; kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH của sinhviên và quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động NCKH
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động NCKH của sinh viên.Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động này có thể chia thành 3 nhóm:Yếu tố thuộc về môi trường quản lý; yếu tố thuộc về chủ thể quản lý và yếu tốthuộc về đối tượng quản lý Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để triểnkhai nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý nâng cao chất lượnghoạt động NCKH của sinh viên Trường Đại học Hà Nội
Trang 322.1.1 Khái quát về trường Đại học Hà Nội
Trường Đại học Hà Nội được thành lập ngày 16/07/1959 theo Nghịđịnh số 376/NĐ - BGD do thứ trưởng Nguyễn Khánh Toàn ký Hơn 50 nămxây dựng và phát triển, trường Đại học Hà Nội đã trải qua 3 giai đoạn chính:Giai đoạn 1959 - 1966: Trường bổ túc Ngoại ngữ - Xây dựng quy trình tối ưu
về chuyên tu ngoại ngữ cấp tốc và đặt cơ sở phương pháp đào tạo ngoại ngữcho người Việt; Giai đoạn 1966 - 2000: Trường Đại học Ngoại ngữ - Quátrình phấn đấu bền bỉ đạt chất lượng cao về đào tạo chuyên ngành ngoại ngữ;Giai đoạn từ 2000 đến nay: trường Đại học Hà Nội - Từ Đại học đơn ngànhtiến lên xây dựng Đại học đa ngành trên thế mạnh về ngoại ngữ
Trường Đại học Hà Nội có chức năng và nhiệm vụ: Đào tạo cử nhân
ngoại ngữ chuyên ngành I và II; Đào tạo cử nhân Quản trị kinh doanh, Quốc
tế học, Du lịch, Tài chính - Ngân hàng, Kế toán, Công nghệ thông tin (dạybằng ngoại ngữ); Đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành ngoại ngữ; Đào tạo cửnhân Việt Nam học và tiếng Việt cho người nước ngoài; Đào tạo chuyên tuĐại học, văn bằng 2; Bồi dưỡng ngoại ngữ cho lưu học sinh, nghiên cứu sinh,thực tập sinh đi học nước ngoài; bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ chocán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý của các bộ, ban, ngành trung ương và địaphương trong cả nước; NCKH ngoại ngữ, phương pháp và công nghệ dạyngoại ngữ Trường có khả năng giảng dạy các ngoại ngữ: Anh, Nga, Pháp,Trung Quốc, Đức, Nhật, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Hàn Quốc,Bungari, Hung-ga-ri, Séc, Slô-văk, Ru-ma-ni, Thái, A Rập v.v Trong số các
Trang 33ngoại ngữ nêu trên có 10 chuyên ngành tiếng đào tạo cử nhân ngoại ngữ, 4chuyên ngành tiếng đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ.
Từ năm 2002 đến nay, trường Đại học Hà Nội đã triển khai đào tạo cửnhân các chuyên ngành: ngành Quản trị kinh doanh, Du lịch, Quốc tế học,Khoa học máy tính, Tài chính-ngân hàng, Kế toán (giảng dạy bằng tiếngAnh); ngành Khoa học máy tính (giảng dạy bằng tiếng Nhật) Ngoài ra,Trường còn đào tạo cử nhân ngành Việt Nam học cho người nước ngoài.Trong tương lai sẽ mở thêm những chuyên ngành đào tạo khác bằng ngoạingữ mà thị trường lao động trong và ngoài nước đang có nhu cầu cao
Hiện nay, tổng số sinh viên của trường Đại học Hà Nội, năm học 2014– 2015 là 7.608 sinh viên, trong đó: Khoa Công nghệ thông tin 623 sinh viên,khoa Quản trị kinh doanh 440 sinh viên, khoa Kế toán 409 sinh viên, khoa Tàichính ngân hàng 413 sinh viên, khoa Quốc tế học 387 sinh viên, khoa Quảntrị dịch vụ du lịch và lữ hành 342 sinh viên, khoa Tiếng Anh 1068 sinh viên,khoa Tiếng Nga 314 sinh viên, khoa Tiếng Pháp 365 sinh viên, khoa TiếngTrung Quốc 857 sinh viên, khoa Tiếng Đức 321 sinh viên, khoa Tiếng Nhật
638 sinh viên, khoa Tiếng Hàn Quốc 487 sinh viên, khoa Tiếng Tây Ban Nha
179 sinh viên, khoa Tiếng Italia 359 sinh viên, khoa Tiếng Bồ Đào Nha 212sinh viên, khoa Việt Nam học 194 sinh viên
Trong những năm tới, trường Đại học Hà Nội phấn đấu trở thànhtrường Đại học nghiên cứu ngang tầm các nước có nền giáo dục phát triểntrong khu vực và trên thế giới Nghiên cứu ứng dụng là nhiệm vụ trọng tâmcủa nhà trường, trên cơ sở thế mạnh về NCKH ngoại ngữ Ngoài ra, Nhàtrường còn là cơ quan chủ quản của “Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ” - tạp chíchuyên ngành duy nhất của Việt Nam nghiên cứu về khoa học ngoại ngữ; cócác trung tâm đào tạo, viện nghiên cứu đáp ứng nhu cầu của xã hội như:Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam; Trung tâm Tư liệu và Tiếng AnhChuyên ngành; Trung tâm Đào tạo Từ xa; Trung tâm Dịch thuật; Trung tâmCông nghệ - Thông tin; Viện Nghiên cứu Xã hội và Phát triển
Trang 34Do vậy, bên cạnh cơ cấu tổ chức của trường Đại học Hà Nội gồm 15phòng ban, đơn vị phục vụ, 20 khoa và bộ môn trực thuộc, 11 viện nghiên cứu
và trung tâm; cùng với cán bộ, sinh viên của Nhà trường tính đến 8/2014 có
617 người, trong đó, hợp đồng là 311 người, biên chế là 297 người; 07 phógiáo sư, 27 tiến sỹ khoa học - tiến sỹ, 281 thạc sỹ, 249 cán bộ trình độ Đạihọc, 44 cán bộ thuộc các trình độ khác, 53 giảng viên chính và 392 giảng viênviên Nhà trường còn có một số lượng đông đảo sinh viên thuộc 20 khoachuyên ngành khác nhau Ngoài cán bộ, giảng viên, số đông sinh viên củatrường Đại học Hà Nội chính là lực lượng quan trọng nâng tầm GD&ĐT vàNCKH của nhà trường trong khu vực và trên thế giới
2.1.2 Cách thức tổ chức nghiên cứu thực trạng
* Mục đích khảo sát
Tìm hiểu đánh giá của sinh viên về hoạt động NCKH và quản lý hoạtđộng NCKH của sinh viên Qua đó, phân tích, đánh giá nhằm chỉ ra những ưuđiểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế về quản lý hoạtđộng NCKH của sinh viên trường Đại học Hà Nội hiện nay
* Nội dung khảo sát
Khảo sát hoạt động NCKH của sinh viên; quản lý hoạt động NCKH củasinh viên; tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt độngNCKH của sinh viên trường Đại học Hà Nội
* Phương pháp khảo sát và đối tượng khảo sát
Khảo sát bằng phiếu hỏi với 03 đối tượng là giảng viên, sinh viên thuộccác Khoa, Bộ môn và cán bộ quản lý thuộc Phòng, Khoa của trường Đại học
Hà Nội
Để đánh giá đúng, khách quan hoạt động NCKH của sinh viên; quản lýhoạt động NCKH của sinh viên; tính cần thiết và tính khả thi của các biệnpháp quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Hà Nội, cuộckhảo sát được tiến hành trên 03 mẫu:
Trang 35- Mẫu 1: Hoạt động NCKH của sinh viên Đối tượng khảo sát: 200 sinhviên thuộc các khoa (Anh, Trung, Pháp, Nga)
- Mẫu 2: Quản lý hoạt động NCKH của sinh viên Đối tượng khảo sát:
200 khách thể (80 sinh viên thuộc các Khoa, Bộ môn và 120 giảng viên, cán
bộ quản lý thuộc Phòng, Khoa của trường Đại học Hà Nội
Đánh giá mức độ thực hiện các nội dung của quản lý hoạt động NCKHcủa sinh viên Trường Đại học Hà Nội chúng tôi sử dụng phiếu đánh giá có 3mức độ và gán điểm theo các mức độ: Tốt: 3 điểm; Trung bình: 2 điểm; ChưaTốt: 1 điểm
* Thang đánh giá (k = n 1 n ) = 3 31= 0,66
Chất lượng quản lý Tốt: X ≥ 2,34 ÷ 3,0 điểm;
Chất lượng quản lý Trung bình: X ≥ 1,66 ÷ <2,34 điểm;
Chất lượng quản lý Chưa tốt: X ≥ 1,0 ÷ < 1,67 điểm
- Mẫu 3: Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạtđộng NCKH của sinh viên Đối tượng khảo sát: 30 sinh viên thuộc các Khoa,
Bộ môn và 70 giảng viên, cán bộ quản lý thuộc Phòng, Khoa của trường Đạihọc Hà Nội Tổng số khách thể khảo sát là 100 người
2.2 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Hà Nội
2.2.1 Nhận thức của sinh viên về nghiên cứu khoa học
Quán triệt phương châm đổi mới của Đảng và Nhà nước về hiện đạihoá, hội nhập để phát triển, đồng thời bảo tồn được bản sắc riêng; cùng với trítuệ và kinh nghiệm chuyên môn của đội ngũ cán bộ lão thành kết hợp vớiphát huy tính năng động, sáng tạo của lực lượng chuyên môn trẻ, Đảng uỷ vàBan giám hiệu đã xây dựng chiến lược phát triển Nhà trường từ năm 2010 đến
2020 như sau: “Xây dựng trường Đại học Hà Nội thành một trường trọngđiểm quốc gia về ngoại ngữ - xã hội nhân văn có hệ thống chương trình, chấtlượng đào tạo, NCKH và tư vấn đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đồng thời
Trang 36từng bước phát triển theo hướng một trường Đại học đa ngành trên cơ sở tậndụng tối đa thế mạnh vốn có về ngoại ngữ” [31, tr.15] Do đó, về cơ bản sinhviên trường Đại học Hà Nội đều có nhận thức đúng trong thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ NCKH, đóng góp vào công tác giáo dục, đào tạo và NCKHcủa Nhà trường.
Nhận thức đúng của sinh viên về thực hiện chức năng, nhiệm vụNCKH được thể hiện rõ ở việc chủ động lập kế hoạch nghiên cứu của cánhân; đề xuất kế hoạch NCKH với Khoa, Nhà trường về các vấn đề mới nảysinh có liên quan đến công tác giáo dục, đào tạo của Trường, Bộ Giáo dục &Đào tạo; đăng ký NCKH từ cấp bộ môn đến cấp trường, thậm chí còn tích cựctham gia phối hợp với các cơ quan, đơn vị ngoài Nhà trường Sinh viên củaTrường với thế mạnh về ngoại ngữ còn có nhiều đóng góp to lớn trong hợptác NCKH với các viện, trường ở nước ngoài
Nhận thức của sinh viên trường Đại học Hà Nội về NCKH được chínhđội ngũ này khẳng định Số liệu khảo sát 200 sinh viên Nhà trường về tầmquan trọng của hoạt động NCKH cho thấy, sinh viên có đánh giá khá cao đốivới hoạt động này Trong các mức đánh giá, có 41,5% (83 sinh viên) trả lờirất quan trọng và 47,5% (95 sinh viên) trả lời quan trọng, chỉ có 11,0% (22sinh viên) nói không quan trọng Nếu gộp mức đánh giá rất quan trọng vớiđánh giá quan trọng về hoạt động NCKH của sinh viên, thì tỷ lệ trả lời là rấtcao, với 89,0% (178 sinh viên); hay khi được hỏi về sự tham gia NCKH, phầnlớn sinh viên trường Đại học Hà Nội cũng cho biết đã tham gia, với 124người trả lời có, chiếm 62,0%; số sinh viên trả lời chưa từng tham NCKH là
76 người, chiếm 38,0% [Phụ lục, Bảng 1]
Nhận thức của sinh viên trường Đại học Hà Nội về NCKH còn đượcphản ánh ở chính những đánh giá của đối tượng này đối với việc thực hiện cáchoạt động NCKH, gồm: seminar, thực hành bộ môn, thực tập chuyên môn,bài báo khoa học, hội thảo, tọa đàm khoa học, chuyên đề khoa học, đề tài
Trang 37khoa học, bài tập chuyên đề, viết tiểu luận, tham gia các cuộc thi sáng tạokhoa học và công nghệ, viết khóa luận Nhìn chung, các hoạt động NCKH củasinh viên đều có mức đánh giá chưa tốt rất thấp (cao nhất chỉ khoảng 11,0%cho đánh giá về đề tài khoa học); mức đánh tốt có tỷ lệ đa số sinh viên trả lời,ứng với hoạt động: seminar là 62,0%, tham gia các cuộc thi sáng tạo khoa học
và công nghệ là 61,0%, thực tập chuyên môn là 59,5%, bài tập chuyên đề là57,5%, viết tiểu luận là 55,5%, bài báo khoa học là 54,5%, thực hành bộ môn
là 51,5% và viết khóa luận là 51,0%; mức đánh giá bình thường có 2 hoạtđộng tỷ lệ trả lời trên 50,0%: hội thảo khoa học là 58,5% và chuyên đề khoahọc là 55,5% (Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Hoạt động NCKH của sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hội thảo, tọa đàm khoa học 73 36,5 117 58,5 10 5,0
Nguồn: Kết quả khảo sát của luận văn
Với các đánh giá ở bảng 2.1 cho các hoạt động NCKH của sinh viên,
dù tỷ lệ trả lời ở mức chưa tốt thấp và rất thấp, nhưng ở mức đánh giá tốt, tỷ
lệ trả lời cũng không quá cao (cao nhất chỉ 62,0%), nhất là vẫn còn 2 hoạtđộng, tỷ lệ trả lời ở mức bình thường cao hơn mức đánh giá tốt và mức đánh
Trang 38giá cho hoạt động nghiên cứu đề tài khoa học ở mức tốt, chưa tốt xấp xỉ bằngnhau và cũng chỉ là 45,0%, 44,0%.
2.2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên trường đại học Hà Nội
Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết của Đảng uỷ trường Đại học Hà Nội
về NCKH và sự nhận thức đúng của sinh viên về thực hiện chức năng,nhiệm vụ NCKH, cho đến nay, đội ngũ sinh viên trong toàn trường Đại học
Hà Nội đã có đóng góp tích cực trên lĩnh vực NCKH, như: thực hiện trên
200 đề tài cấp, chuyên đề cấp Trường, Khoa; tổ chức hàng trăm Hội nghịkhoa học ngành và Hội nghị khoa học cấp Trường; có hàng chục bài viếttrên “Nội san Ngoại ngữ” và “Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ”
Ngoài ra, được sự cho phép của Trường, Khoa và sinh viên còn hợp tácNCKH với các cơ viện nghiên cứu và nhà trường bên ngoài Tính riêng nămhọc 2014 - 2015, Nhà trường đã Tổ chức 13 hội nghị, hội thảo khoa học sinhviên, với số bài báo đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội nghị, hội thảo sinh viên
là 196, với 398 sinh viên tham gia Tổ chức xét chọn và trao giải cho 32 côngtrình khoa học và công nghệ của sinh viên với 63 sinh viên tham gia, trong đó
có 2 công trình tham gia dự thi “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” [Báo cáotình hình NCKH của sinh viên năm học 2014-2015]
Không những vậy, thực trạng NCKH của sinh viên trường Đại học HàNội được chính đội ngũ này đánh giá Số liệu khảo sát sinh viên chỉ ra, trong
số những người đã tham gia NCKH có sự đa dạng, phong phú về loại hình,cấp độ và số lượng NCKH, cụ thể: trong tham gia NCKH, loại hình nghiêncứu của sinh viên gồm: seminar, thực hành bộ môn, thực tập chuyên môn, bàibáo khoa học, hội thảo, tọa đàm khoa học, chuyên đề khoa học, đề tài khoahọc, bài tập chuyên đề, viết tiểu luận, tham gia các cuộc thi sáng tạo khoa học
và công nghệ, viết khóa luận; cấp độ nghiên cứu: cá nhân, bộ môn, khoa; sốlượng nghiên cứu: dưới 3 sản phẩm, 3-5 sản phẩm, trên 5 sản phẩm Số lượng
Trang 39và tỷ lệ trả lời ở các hình thức này cho biết (trên tổng số 124 sinh viên trả lời
có tham gia NCKH):
Về loại hình NCKH: số lượng và tỷ lệ trả lời xếp từ cao xuống thấp của
sinh viên là seminar, với 93 người = 75,0%; viết tiểu luận, với 88 người =71,0%; thực hành bộ môn, với 86 người = 69,4%; bài tập chuyên đề, với 79người = 63,7%; thực tập chuyên môn, với 69 người = 55,3%; chuyên đề khoahọc, với 51 người = 41,3%; hội thảo, tọa đàm khoa học, với 40 người =32,4%; đề tài khoa học, với 39 người = 31,3%; thực hành bộ môn, với 38người = 30,6% Ngoài ra, số lượng và tỷ lệ sinh viên tham gia cuộc thi sángtạo khoa học và công nghệ, tham gia viết bài đăng báo, tạp chí rất thấp, chỉ có4,0% (5 sinh viên) và 7,3% (9 sinh viên) (Bảng 2.2)
Về cấp độ NCKH: chủ yếu sinh viên có cấp độ nghiên cứu cá nhân, với số
lượng là 79 người = 63,7%, chiếm ao nhất; số lượng và tỷ lệ sinh viên trả lời ởcấp bộ môn và khoa lần lượt là: 23,4% (29 sinh viên) và 12,9% (16 sinh viên);không có sinh viên nào nghiên cứu cấp trường và trên trường (Bảng 2.2)
Về số lượng nghiên khoa học của sinh viên cũng không nhiều Không
có sinh viên nào có số lượng NCKH từ 5 sản phẩm trở lên Số lượng và tỷ lệsinh viên trả lời chủ yếu ở mức dưới 3 sản phẩm, với 92 người = 74,2%; mức
Trang 40Viết bài đăng trên báo, tạp chí 9 7,3
Nguồn: Kết quả khảo sát của luận văn
Trong nghiên cứu các sản phẩm khoa học, đa phần sinh viên thực hiệnđúng với chuyên ngành được đạo tạo, với 109 người = 87,9%; không đúngchuyên ngành chỉ có 15 sinh viên, chiếm 12,1% (Bảng 2.2) Đội ngũ sinh viêntham gia NCKH cũng được đánh gia cao và rất cao về chất lượng Vớiphương án sinh viên trường Đại học Hà Nội đáp ứng tốt và rất tốt yêu cầuNCKH, trong tổng 200 sinh viên được điều tra, có tới 176 người trả lời, chiếm88,0%; số sinh viên chưa đáp ứng được yêu cầu NCKH chỉ là 24 người,chiếm 12,0% [Phụ lục, Bảng 2]
Những đánh giá trên của sinh viên cũng phần nào được làm rõ hơn khi
đa phần sinh viên trả lời có khả năng thực hiện rất tốt và tốt kế hoạch NCKH,với 191 người, chiếm 95,5% (chỉ có 9 người, chiếm 4,5% trả lời chưa tốt).Mặt khác, người trả lời cũng cho biết, sinh viên trường Đại học Hà Nội hiệnnay có khả năng xây dựng kế hoạch NCKH chặt chẽ và rất chặt chẽ, với 181người, chiếm 90,5% (chỉ 19 người, chiếm 9,5% trả lời không chặt chẽ); cókhả năng tổ chức NCKH chu đáo và rất chu đáo, với 180 người, chiếm 90,0%(chỉ 20 người, chiếm 10,0% trả lời không chu đáo); đa phần sinh viên chorằng, điều kiện kinh tế, vật chất là phù hợp với nhu cầu NCKH của sinh viên,với 87,2%, chỉ có 12,5% trả lời chưa phù hợp; trang thiết bị, kĩ thuật để sinhviên NCKH, tỷ lệ trả lời ở mức đầy đủ cũng là 71,0% và chưa đầy đủ chỉ là29,0% [Phụ lục, Bảng 2]