1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ VAI TRÒ của bảo HIỂM xã hội đối với bảo đảm AN SINH xã hội ở VIỆT NAM

119 441 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc sống hàng ngày, con người có thể gặp những biến cố bất thường, những rủi ro xảy ra làm giảm hoặc mất khả năng tiếp tục lao động bình thường đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình họ. Để khắc phục những khó khăn khi tình tình huống đó diễn ra, nhân loại đã tìm được một cơ chế thích hợp. BHXH “sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quĩ BHXH” 43, chính là cơ chế thích hợp đó.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BẢO

HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐẢM BẢO AN

1.1 Những vấn đề chung về an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội 121.2 Quan niệm, nội dung biểu hiện vai trò của bảo hiểm xã

hội đối với đảm bảo an sinh sinh xã hội ở Việt Nam 24

Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI

ĐỐI VỚI ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT

2.1 Kết quả, hạn chế biểu hiện vai trò của chính sách bảo

hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam 382.2 Nguyên nhân và v n đ đ t ra c n gi i quy t v vaiấn đề đặt ra cần giải quyết về vai ề đặt ra cần giải quyết về vai ặt ra cần giải quyết về vai ần giải quyết về vai ải quyết về vai ết về vai ề đặt ra cần giải quyết về vai

trò c a b o hi m xã h i đ i v i đ m b o an sinh xãủa bảo hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã ải quyết về vai ểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã ội đối với đảm bảo an sinh xã ối với đảm bảo an sinh xã ới đảm bảo an sinh xã ải quyết về vai ải quyết về vai

h i Vi t Nam ội đối với đảm bảo an sinh xã ở Việt Nam ệt Nam 54

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT HUY

VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

3.1 Phương hướng, mục tiêu phát huy vai trò của bảo hiểm

xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội ở nước ta trong

3.2 Giải pháp cơ bản phát huy vai trò của bảo hiểm xã hội

đối với đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống hàng ngày, con người có thể gặp những biến cố bất thường,những rủi ro xảy ra làm giảm hoặc mất khả năng tiếp tục lao động bình thường đảmbảo cuộc sống cho bản thân và gia đình họ Để khắc phục những khó khăn khi tìnhtình huống đó diễn ra, nhân loại đã tìm được một cơ chế thích hợp BHXH - “sựbảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bịgiảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quĩBHXH” [43], chính là cơ chế thích hợp đó

Ở nước ta, BHXH là trụ cột chính, nằm trong hệ thống các chính sáchASXH của Nhà nước ta có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ nguồntài chính đối với các cá nhân tham gia khi họ không may gặp rủi ro, ốm đau,thất nghiệp và lúc tuổi già Đối tượng của BHXH là người lao động, hoạt độngBHXH đảm bảo, duy trì và phát triển nguồn lao động cho nền sản xuất xã hội;đảm bảo sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thànhphần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển; giúp ổn định và trợ giúpcuộc sống khi người lao động khi gặp rủi ro; là công cụ đắc lực của Nhà nước,góp phần vào việc phân phối lại thu nhập một cách công bằng, hợp lý giữa cáctầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước [52]

Trong những năm qua, BHXH Việt Nam đã phát huy vai trò là trụ cộtchính trong đảm bảo ASXH Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được,thực tiễn cũng cho thấy những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường cùngmột số nguyên nhân khách quan và chủ quan khác, làm nảy sinh những vấn đềmới, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và toàn xã hội cùng chung tay giải quyết nhiềuvấn đề liên quan đến việc thực thi pháp luật về BHXH, BHYT, thực hiện cácchính sách về BHXH chưa được thật sự tốt Thực tiễn cho thấy để đảm bảoASXH, còn nhiều việc phải làm để ý nghĩa nhân văn của chính sách đó thực

sự tỏa sáng và để BHXH thực sự là trụ cột chính của ASXH

Trang 3

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài “Vai trò của bảo hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam” làm luận

văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị của mình, dưới góc độ nghiên cứuviệc thực thi chính sách, pháp luật về các chính sách BHXH, sự ảnh hưởngcủa nó đối với đảm bảo ASXH ở Việt Nam trong những năm qua Từ đó đưa

ra phương hướng mục tiêu thực hiện nhằm phát huy vai trò đảm bảo củaBHXH đối với ổn định ASXH ở Việt nam đến năm 2020

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vai trò của chính sách BHXH đối với ASXH ở nước ta hiện nay là mộtvấn đề cần có biện pháp thực hiện đã được Đảng và Nhà nước ta luôn quantâm; đã được các cơ quan khoa học, các học giả, nhà quản lý quan tâm nghiêncứu trên nhiều góc độ, dưới các hình thức như: Đề tài khoa học các cấp, sáchtham khảo và chuyên khảo, các đề tài luận văn, luận án, các bài báo được đăngtải trên các báo, tạp chí, Có thể khái quát thành các loại dạng sau:

* Các công trình nghiên cứu về an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội.

- “Y học xã hội và an sinh xã hội ở Việt Nam” của đồng tác giả Phó

giáo sư -Tiến sĩ Nguyễn Đức Trọng và Tiến sĩ Đỗ Văn Dung, Nxb Dân trí, Hànội, 2014 Trong công trình nghiên cứu này các tác giả đã đề cập đến giảiquyết các vấn đề y học xã hội và các vấn đề xã hội khác hướng tới ASXHcông bằng, đa dạng, bao phủ toàn dân và hiệu quả Các tác giả đã giành mộtchuyên đề nghiên cứu về an sinh xã hội, nêu nên tổng quan cơ bản của an sinh

xã hội, chức năng, vai trò và cấu trúc của ASXH, đưa ra nội dung xây dựng hệthống ASXH công bằng, đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Các tác giảcũng đưa ra thực trạng và những thách thức đối với ASXH ở Việt Nam, đồngthời cũng đề ra một số giải pháp cơ bản hướng tới ASXH công bằng, đa dạng,bao phủ toàn dân và hiệu quả Nhưng các tác giả chưa nghiên cứu đến hệthống các chính sách BHXH là chính sách trụ cột của ASXH có ảnh hưởng vàtác động rất mạnh mẽ đến ổn định và bảo đảm ASXH

Trang 4

-“Phát triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020” của nhóm tác

giả: Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim Chung, Lưu Quang Tuấn Viện,Nguyễn Bích Ngọc, Đặng Hà Thu - Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Hànội 11/2013, các tác giả đã khái quát những vấn đề chung về ASXH và đưa ramột số định hướng phát triển chính sách ASXH ở Việt Nam đến năm 2020theo Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ươngĐảng về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”; tổng hợpnhững kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại của chính sách an sinh xã hộihiện hành, đồng thời đưa ra những định hướng chính sách đến năm 2020 Cáctác giả đã nêu nên tầm quan trọng của ASXH là hệ thống chính sách xã hội cơbản trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường của mỗi quốc gia, tầmquan trọng ấy được thể hiện ở chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng

về bảo đảm ASXH cho người dân trong lãnh đạo đất nước Tuy nhiên, để đảmbảo và ổn định ASXH nhóm tác giả chưa đi sâu và nghiên cứu tầm quan trọngcủa hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội, sự ảnh hưởng và tác động của nóđến ổn định và đảm bảo ASXH

-“Đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội” tác giả Đồng

Thị Hồng, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

2015 Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đảm bảo ASXH, phân tích thực trạngđảm bảo ASXH trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận án đề xuất phươnghướng và giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo tốt ASXH trên địa bàn thành phố

Hà Nội trong thời gian tới

- “An sinh xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” bài viết của tác giả

Phạm Xuân Năm, tạp chí BHXH số 2(118), năm 2012, trình bày nhận thức chung

về ASXH trên nhiều góc độ; chủ trương quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam

về ASXH trong thời kỳ đổi mới; thực trạng đảm bảo ASXH trong sự gắn bó mậtthiết với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội nhữngnăm qua; đề xuất một số phương hướng giải quyết cho thời gian tới

Trang 5

- “Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020”, sách

từ nhiều tác giả thuộc Viện khoa học lao động và xã hội, Tiến sĩ Nguyễn ThịLan Hương (Viện nghiên cứu chính sách và phát triển (Insititute foe foliviesand development) biên soạn Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ấnhành tháng 11/2013, sách dày 147 trang trình bày những vấn đề chung vềASXH, nội dung cơ bản của Nghị quyết số 15-NQ/TW các kết quả đạt được,những tồn tại của chính sách ASXH hiện hành và các định hướng chính sáchcho giai đoạn từ nay đến năm 2020

- “Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chính sách ASXH ở nước ta” của tác giả Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí cộng sản điện

tử 09/6/2008 Tác giả cho rằng kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và thựchiện chính sách ASXH là xu hướng cùng tiến bộ của nhân loại, là mối quantâm của nhiều quốc gia Đây thực chất là thực hiện một chính sách phát triển

và tăng trưởng kinh tế cộng đồng tạo cơ hội cho mọi người phát triển và đượcthụ hưởng đầy đủ các thành quả của phát triển và tăng trưởng kinh tế, phòngngừa và khắc phục rủi ro trong kinh tế thị trường và rủi ro khác trong xã hội.Không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người ở nước ta đặc biệtquan tâm và coi trọng chính sách ASXH trong cải thiện nền kinh tế đất nướcvận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN trên cơ sở phân tích một

số tồn tại về phát triển và tăng trưởng kinh tế, tác giả đề xuất một hệ thốnggiải pháp về bảo đảm ASXH trong phát triển kinh tế thị trường định hướngXHCN ở nước ta hiện nay

* Các công trình nghiên cứu về bảo hiểm xã hội và chính sách bảo hiểm xã hội

- “Đổi mới và phát triển Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” chủ biên Tiến sĩ

Dương Văn Thắng, Nxb Văn hóa -Thông tin Cuốn sách đã tổng hợp lý luận,quan điểm và thực tiễn lịch sử hình thành và hoạt động BHXH trong các giaiđoạn kinh tế - xã hội của đất nước Tác giả đã tổng hợp đánh giá thực tiễn hìnhthành và thực hiện các chính sách BHXH qua từng giai đoạn, trong sự nghiệp

Trang 6

đấu tranh cách mạng, kháng chiến kiến quốc Từ những năm trước Cách mạngTháng Tám (đây là thời kỳ hình thành các hoạt động mang tính chất BHXH) đếnthời kỳ kháng chiến chống Pháp và trong thời kỳ kháng chiến chỗng Mỹ Rồi đếnthực tiễn hoạt động BHXH giai đoạn 1975 – 1994 đây là thời kỳ chưa có tổ chứcBHXH nhưng các chính sách về BHXH đã hình thành từ sự đóng góp của ngườilao động trong một số ngành kinh tế tập thể và bắt đầu thực hiện thí điểm tại Thủ

đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và lan rộng ra một số tỉnh, thành trong cảnước như Hải Phòng, Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai và Yên Bái), Thái Bình,

Bà Rịa-Vũng Tàu…Tác giả đã dành nhiều thời lượng nghiên cứu, đúc kết lýluận, quan điểm và thực tiễn tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam giaiđoạn 1995-2002, đây là giai đoạn tổ chức BHXH ra đời, đánh dấu một bướcngoặt quan trọng lớn sự phát triển chính sách BHXH cả về lý luận, quan điểm vànhu cầu thực tế đối với sự phát triển KT-XH của Đất nước Tuy nhiên, côngtrình nghiên cứu này tác giả không đề cập đến sự ảnh hưởng của chính sáchBHXH với ổn định ASXH ở Việt Nam

- “Hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam” của Hoàng Bích Hồng, luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường

Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, năm 2011, tác giả chỉ đề cập đến chế độ tainạn LĐ và bệnh nghề nghiệp nằm trong hệ thống các chế độ của BHXH ở ViệtNam với mục đích nghiên cứu là: Hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận vềchế độ BHXH tai nạn LĐ và bệnh nghề nghiệp; nghiên cứu chế độ, chính sách

và tình hình thực hiện chế độ BHXH tai nạn LĐ, bệnh nghề nghiệp ở ViệtNam, chỉ ra những mặt tồn tại và nguyên nhân; Đưa ra những giải pháp hoànthiện chế độ BHXH tai nạn LĐ, bệnh nghề nghiệp nhằm phát huy hơn nữa vaitrò của chế độ BHXH tai nạn LĐ, bệnh nghề nghiệp trong việc đảm bảo đờisống người LĐ sau khi không may bị tai nạn LĐ và mắc bệnh nghề nghiệp.Tác giả phân tích vai trò của chế độ này với các bên tham gia trong điều kiệnkinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nghiên cứu chế độ tai nạn LĐ, bệnh

Trang 7

nghề nghiệp ở một số nước, đánh giá những ưu, nhược điểm và rút ra bài họckinh nghiệm để hoàn thiện chế độ BHXH tai nạn LĐ, bệnh nghề nghiệp ở ViệtNam Hệ thống hóa các qui định hiện hành về chế độ bồi thường, trợ cấp đốivới người bị tai nạn LĐ và mắc bệnh nghề nghiệp, từ đó chỉ ra những hạn chếcủa các qui định hiện hành Đồng thời, tác giả phân tích tình hình thực hiệnchế độ BHXH tai nạn LĐ, bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2005-2009,phát hiện những tồn tại trong quá trình tổ chức thực hiện, từ đó đề xuất nhữngquan điểm, giải pháp để hoàn thiện chế độ BHXH tai nạn LĐ, bệnh nghềnghiệp ở Việt Nam Tại công trình nghiên cứu này tác giả cũng không nghiêncứu đến tầm quan trọng, sự ảnh hưởng và tác động của chế độ đến bảo đảmASXH ở Việt Nam

* Các công trình nghiên cứu về chính sách bảo hiểm xã hội liên quan đến an sinh xã hội

- “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Chính, Luận án tiến sĩ kinh

tế, Trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà nội, năm 2010, tác giả chỉ nghiên cứugóc độ về vấn đề hoàn thiện công tác tổ chức và tổ chức chi trả các chế độBHXH Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hệ thống tổ chức và hoạt độngchi trả các chế độ BHXH, tổ chức chi trả chế độ BHXH cho người LĐ củamột số nước trên thế giới và những bài học đối với Việt Nam Phân tích thựctrạng hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam,nêu lên những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại của hệ thống tổchức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH cho người LĐ ở Việt Nam giaiđoạn 2003-2008, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệthống tổ chức và hoàn chi trả thiện các chế độ BHXH ở Việt Nam thời giantiếp theo Ở công trình ngiên cứu này tác giả cũng không nêu được tầm quantrọng và vai trò của các chính sách BHXH đến đảm bảo ASXH ở Việt Nam.Lao động thương bình và Xã hội

Trang 8

- “Cần xử lý nghiêm các doanh nghiệp quỵt tiền BHXH” của tác giả

Chu Kim Long (binhminhle262@gmail.com); Nguyễn Văn Dưỡng, quận 12,thành phố Hồ Chí Minh; Trương Văn Trường, quận Gò Vấp, thành phố HồChí Minh đăng trên báo thanh niên onine ngày 07/4/2015 các ý kiến tập trungvào việc phân tích, chỉ trích hành vi quỵt tiền BHXH đối với người lao độngcủa các doanh nghiệp đề nghị Nhà nước phải mạnh tay xử lý kể cả việc truy tốtheo Luật hình sự

Cùng với các đề tài, sách, luận án, các bài báo khoa học còn có một sốcác báo cáo tổng kết hàng năm của ngành BHXH Việt Nam, giúp tác giả nhậnthức rõ hơn về việc thực hiện các chính sách BHXH, từ đó nghiên cứu, phântích vấn đề một cách xác thực hơn về vai trò của chính sách BHXH đối với ổnđịnh ASXH ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Theo đó, đưa ra những giảipháp thực hiện cho thời gian tới có tính khoa học và thực tiễn hơn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về vai trò của BHXH đối với đảm bảoASXH; trên cơ sở đó đề xuất phương hướng, giải pháp phát huy vai trò củaBHXH đối với đảm bảo ASXH ở Việt Nam thời gian tới

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày, phân tích những vấn đề chung về ASXH và BHXH - với tínhcách là một bộ phận hợp thành của hệ thống ASXH; trên cơ sở đó luận giải làmquan niệm nội dung biểu hiện và những nhân tố ảnh hưởng tới vai trò củaBHXH đối với đảm bảo ASXH ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng biểu hiện vai trò của BHXH đối vớiđảm bảo ASXH ở Việt Nam những năm qua, chỉ rõ nguyên nhân và nhữngvấn đề đặt ra cần giải quyết

- Đề xuất phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của BHXH đốivới đảm bảo ASXH ở nước ta thời gian tới

Trang 9

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH

* Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Đề tài nghiên cứu vai trò của BHXH với

tính cách là các chính sách BHXH (bao gồm BHXH, BHYT và BHTN) và việc hiệnthực hóa chúng biểu hiện ở những dấu hiệu, chỉ số cụ thể trong thực tiễn dưới góc độcủa khoa học kinh tế chính trị, không nghiên cứu vai trò của cơ quan BHXH

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: trên phạm vi cả nước.

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Là các tư liệu có được trong khoảng

thời gian từ năm 2011 đến 2015 cho đánh giá thực trạng và 2020 và nhữngnăm tiếp theo cho phương hướng, giải pháp

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn bản pháp quy củanhà nước về chính sách ASXH và BHXH;

* Cơ sở thực tiễn

Đề tài sử dụng số liệu báo cáo của BHXH Việt Nam, tham khảo các tàiliệu có liên quan; các báo tổng kết của BHXH Việt Nam, và kế thừa kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã công bố

* Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành công trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử dụng tổng

hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị học: trừu tượnghóa khoa học, kết hợp logic với lịch sử, phương pháp nghiên cứu sản phẩmhoạt động Đồng thời sử dụng một số phương pháp bổ sung khác như: khảosát thực tiễn, thống kê, phỏng vấn chuyên gia, phân tích tổng hợp, so sánh…

Trang 10

6 Ý nghĩa của đề tài

Sau khi việc nghiên cứu hoàn thành, những kết quả được trình bày trongluận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nghiêncứu, cơ quan quản lý thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong nghiên cứu đềxuất chủ trương chính sách về BHXH với Nhà nước Kết quả nghiên cứu cũng

có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo về BHXH,các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ ngành Bảo hiểm xã hội trong toànquốc Luận văn cũng có thể sử dụng tham khảo cho các lớp đào tạo giảngviên, các lớp cao học chuyên ngành kinh tế chính trị tại Học viện Chính trị

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài mở đầu, kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương (6 tiết),danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI

ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề chung về an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội

1.1.1 Những vấn đề chung về an sinh xã hội

* Quan niệm về an sinh xã hội

An sinh xã hội là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trên thế giới và ởViệt Nam Nguyên từ tiếng Anh của ASXH là Social Security Trong tiếngViệt thuật ngữ Social Security còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xãhội, an ninh xã hội, hay an toàn xã hội… ASXH có nội dung rất rộng và ngàycàng hoàn thiện về nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn về tổ chứcthực hiện trong những năm gần đây Chính vì vậy có nhiều quan niệm khácnhau xung quanh phạm trù ASXH

Theo Ngân hàng thế giới (WB) “An sinh xã hội là những biện phápcông cộng nhằm giúp cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu vàkiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổnthương và những bấp bênh về thu nhập” Trong khi đó, tổ chức Lao động quốc

tế (ILO) lại cho rằng: “An sinh xã hội là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ giađình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn

sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp”; còn Ngân hàng pháttriển châu Á (ADB) lại quan niệm, “An sinh xã hội là một hệ thống chính sáchcông nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ giađình và cá nhân” [59]

Mặc dù cùng đề cập đến quan niệm về ASXH, cùng có điểm chung làhướng tới mục tiêu chung trong quan điểm của Liên hiệp quốc đề cập trongTuyên ngôn quốc tế nhân quyền, theo đó xác định quyền được an sinh xã hộicủa người dân., nhưng các quan niệm trên lại có sự khác nhau trên những khíacạnh nhất định Trong khi Ngân hàng thế giới (WB) nhấn mạnh đến các giải pháp

Trang 12

nhằm kiềm chế nguy cơ làm giảm thu nhập của cá nhân, gia đình và cộng đồng, thì

tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại nhấn mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi, bảohiểm và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chínhthức; còn Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) lại nhấn mạnh vai trò của nhà nướctrong việc bảo đảm an sinh xã hội, giảm nhẹ những tác động bất lợi đến các cánhân và hộ gia đình

Ở nước ta, ASXH được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Quan niệm

là một hệ thống chính sách và giải pháp được áp dụng rộng rãi để trợ giúp các thànhviên trong xã hội đối phó với những rủi ro và khó khăn khi gặp phải, dẫn đến mấtviệc làm hoặc làm suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập và cuộc sống

Đảng ta xác định ASXH là một bộ phận trong chiến lược phát triển

KT-XH, gắn với từng bước đi, từng giai đoạn phát triển của đất nước Xây dựngnền kinh tế thị trường định hướng XHCN là đảm bảo những điều kiện thựchiện ASXH Do đó, trong mỗi chính sách phát triển kinh tế phải đảm bảoASXH, gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, vừa tạo động lựctăng trưởng kinh tế vừa thực hiện công bằng xã hội, vì mục tiêu phát triển conngười, phát huy tối đa nguồn lực con người

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác định: "Hoànthiện hệ thống chính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế vớicác mục tiêu chính sách xã hội; thực hiện tiến bộ công bằng xã hội trong từngchính sách phát triển, phù hợp với điều kiện cụ thể Phát triển hệ thống ASXH đadạng ngày càng mở rộng và hiệu quả Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm nhưbảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp…” [25, tr.124, 125] Chủ trương về ASXH trên đây thể hiện rõ quanđiểm, tư tưởng hướng tới con người, vì con người của Đảng, nó không chỉ bảotrợ cho các đối tượng, mà còn trao cơ hội để những người dân, nhóm xã hội có

hoàn cảnh khó khăn vươn lên làm chủ cuộc sống.

Thể chế hóa quyền được an sinh của Đảng nói trên Hiến pháp nước ta

đã xác định quyền ASXH là quyền quan trọng của con người được quy định

Trang 13

tại các điều 14, 57 và 58 trong Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam

Hệ thống ASXH ở nước ta được thiết kế theo nguyên tắc: Nhà nước giữvai trò chủ đạo đồng thời phải được xã hội hóa cao, huy động sự tham gia rộngrãi của mọi tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và của toàn xã hội; xây dựng hệthống ASXH đa dạng, đa tầng, hướng tới bao phủ toàn dân; nâng cao năng lực

tự an sinh của người dân và cộng đồng; chú trọng đến nhóm dễ bị tổn thương,người nghèo, vùng nghèo, vùng dân tộc, miền núi, nông thôn, khu vực phichính thức; từng bước tiếp cận với chuẩn quốc tế

An sinh xã hội là một vấn đề phức tạp, vì thế cho đến nay chưa thể đưa ramột khái niệm chuẩn xác Tuy nhiên, từ góc độ nghiên cứu, từ những trình bày đã

nêu ở trên có thể hiểu: ASXH là hệ thống các chính sách và biện pháp của nhà nước

và cộng đồng xã hội nhằm bảo vệ, giúp đỡ các thành viên trong xã hội chống lại những khó khăn phải gánh chịu để họ có mức sống tối thiểu trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường

Quan niệm ASXH ở trên, cho thấy, xét về mặt bản chất ASXH trước

hết đó là sự bảo vệ, sự trợ giúp từ phía của xã hội (nhà nước và cộng đồng)đối với các thành viên của mình Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua cácbiện pháp công cộng (các chính sách của chính phủ và trợ giúp của xã hội)

Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước

những biến cố, những “rủi ro" (các tình huống bất thường xảy ra) mà họ phảigánh chịu, dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập và những khó khăn khác trong

cuộc sống.….Những hình thức để thực hiện ASXH, tùy theo mỗi quốc gia, có

thể có nhiều dạng nhưng tập trung ở hai hình thức chủ yếu là những chính sách(chế độ) và sự trợ giúp của nhà nước, từ phía cộng đồng

Như vậy, có thể nói, ASXH không gì khác hơn đó là cơ chế vận hành từphía xã hội trong việc bảo vệ, giúp đỡ cho các thành viện nhằm đảm bảo thunhập và đời sống của họ với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp

Trang 14

công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” (an ninh sinh tồn) cho mọi thành viêntrong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc.

Ở Việt Nam hiện nay hệ thống ASXH phải đáp ứng được ba chức năng

cơ bản là phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro và khắc phục rủi ro

Để có thể hiểu đầy đủ về đảm bảo ASXH, cần bắt đầu từ cấu trúc của hệthống ASXH

Các bộ phận cấu thành hệ thống ASXH

Phù hợp với quan niệm chung của thế giới và tính đến đặc điểm của đời sốngkinh tế - xã hội nước ta, hệ thống ASXH của nước ta được cấu trúc từ ba trụ cộtchủ yếu sau:

Trụ cột thứ nhất: hệ thống bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là một trong ba trụ cột cơ bản của ASXH BHXH dựatrên sự đóng góp của các bên tham gia, gồm người lao động, người sử dụnglao động và Nhà nước (trong một số trường hợp)

Người lao động, đóng góp các khoản BHXH theo quy định của pháp

luật khi còn trong độ tuổi lao động và đang có việc làm

Người sử dụng lao động, phối hợp với cơ quan tổ chức thực hiện các

chính sách BHXH (cơ quan BHXH Việt Nam) đóng và đảm bảo các quyềnlợi về bảo hiểm cho người lao động khi người lao động được thụ hưởng cácchế độ bảo hiểm theo qui định

Nhà nước trong một số trường hợp, ở nước ta hiện nay nhà nước mua

bảo hiểm y tế cho một số đối tượng (khoản 1 Điều 87 Luật Bảo hiểm xã hội cóquy định: Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sáchnhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thờiđiểm hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tham gia bảo hiểm

xã hội tự nguyện [43]

Thông qua các trợ cấp BHXH, người lao động có được một khoản thunhập bù đắp hoặc thay thế cho những khoản thu nhập bị giảm hoặc mất trongnhững trường hợp họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm

Trang 15

Trụ cột thứ hai, hệ thống chính sách, giải pháp và các chương trình phát triển thị trường lao động.

Hệ thống chính sách, giải pháp và các chương trình phát triển thị trườnglao động mà trọng tâm là trợ giúp đào tạo nghề, tạo việc làm cho các đốitượng yếu thế, chưa có việc làm trong thị trường lao động; trợ cấp đào tạo lạinghề cho số lao động dôi dư do quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp, cổphần hóa các doanh nghiệp nhà nước; đào tạo nghề, giải quyết việc làm gắnvới các chương trình phát triển kinh tế xã hội

Trụ cột thứ ba, các loại trợ giúp xã hội.

Các loại trợ giúp xã hội (cung cấp tiền, hiện vật ) cho những người córất ít hoặc không có tài sản (người nghèo khó), những người cần sự giúp đỡđặc biệt cho các gánh nặng gia đình ASXH cũng bao quát cả những loại trợgiúp như miễn giảm thuế, trợ cấp về ăn, ở, dịch vụ đi lại sự giúp đỡ của Nhànước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối vớimọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèođói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và giađình Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiềnhoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ

có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòanhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng

Ngoài ba trụ cột trên, phát triển hệ thống dịch vụ xã hội và hệ thốngphúc lợi xã hội, nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, trước hết là cácdịch vụ công cộng cơ bản như dịch vụ nhà ở, điện, nước sạch, y tế, giáo dục,văn hóa thông tin, cho mọi người dân, nhất là người nghèo vùng nghèo, nhằmbảo đảm cho họ tái tạo được sức lao động, duy trì và phát triển nền sản xuất xãhội, đồng thời phát triển mọi mặt cuộc sống của con người, kể cả phát triểnbản thân con người, cũng là nội dung cấu thành ASXH

Trang 16

Các trụ cột trên, mỗi trụ cột có vai trò và nội dung biểu hiện cụ thểriêng, nhưng mỗi trụ cột bằng những dấu hiệu chỉ số cụ thể của mình thể hiệnvai trò là sự đóng góp và có tác dụng làm cho ASXH được thực hiện (sự đảmbảo ASXH được thể hiện trong thực tiễn)

* Đảm bảo an sinh xã hội

- Quan niệm đảm bảo an sinh xã hội

Bàn về đảm bảo ASXH cũng như để có thể đưa ra khái niệm về đảmbảo ASXH, trước hết cần có sự thống nhất về mặt quan niệm đối với thuật ngữ

“đảm bảo” Thế nào là đảm bảo, đảm bảo là gì theo hàm nghĩa tiếng Việt,cũng như về mặt khoa học

Xét về mặt từ nguyên, thuật ngữ “đảm bảo” trong tiếng Việt được hiểucùng nghĩa với thuật ngữ “bảo đảm”, được hiểu là “làm cho chắc chắn thựchiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [61, tr.36, 272]

Thật ngữ này được dùng nhiều trong lĩnh vực quân sự, kinh tế quân sự.như “đảm bảo” hậu cần, kỹ thuật, “đảm bảo” kinh tế cho chiến tranh, nên cácnhà khoa học trong hai lĩnh vực trên quan niệm đảm bảo là thuật ngữ nhằmdiễn đạt là những quá trình kinh tế, những biện pháp kinh tế nhằm thỏa mãncác nhu cầu kinh tế cho quốc phòng chiến tranh của nhà nước và nhân dân.Như vậy, có thể thấy nói đến “đảm bảo”, hay “bảo đảm” một cái gì đấy, thìkhông chỉ là những khả năng, mà còn bao gồm cả những hành động của chủthể nào đó trong việc biến những khả năng ấy thành hiện thực

Chính các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB),Ngân hàng Châu Á (ADB) và tổ chức lao động quốc tế (ILO) khi đề cập đếnASXH đều đã nói đến vai trò của nhà nước và cộng đồng, nghĩa là bàn vềASXH đã hàm chứa ý nghĩa về sự đảm bảo ASXH trong đó

Trên cơ sở quan niệm về ASXH đã dẫn ra ở trên, cấu trúc của ASXH vànhận thức chung về thuật ngữ “đảm bảo”, có thể đưa ra quan niệm về đảm bảo

ASXH như sau: Đảm bảo ASXH là tổng thể những chính sách, biện pháp cơ

Trang 17

chế vận hành và hoạt động thực tiễn các chủ thể liên quan đến các trụ cột hợp thành ASXH (BHXH, BHYT, BHTN và những hỗ trợ khác), thông qua những phương thức thích hợp nhằm bảo vệ, giúp đỡ các thành viên trong xã hội vượt qua những khó khăn phải gánh chịu để họ có mức sống tối thiểu trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường

Quan niệm về đảm bảo ASXH trên đây chỉ rõ:

Chủ thể của đảm bảo ASXH là nhà nước và cộng đồng xã hội.

Mục đích của Đảm bảo ASXH là bảo vệ, giúp đỡ các thành viên trong

xã hội vượt qua những khó khăn phải gánh chịu để họ có mức sống tối thiểutrước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường

Phương thức của đảm bảo ASXH bao gồm cả các hoạt động bảo vệ, giúp đỡ mang tính trực tiếp thường xuyên và các hoạt động bảo vệ, giúp đỡ

mang tính gián tiếp không thường xuyên

Ở nước ta hiện nay, đảm bảo ASXH chủ yếu được thực hiện theophương thức thực hiện trực tiếp thông qua các chính sách ASXH của Chínhphủ, trong đó có hệ thống các chính sách BHXH Ngoài ra, vấn đề đảm bảoASXH còn được thực hiện thông qua các hoạt động cứu trợ xã hội cả nhànước và cộng đồng cùng tiến hành mang tính không thường xuyên cả trực tiếp

và gián tiếp

Như vậy, có thể thấy thực chất của đảm bảo ASXH là hệ thống các chínhsách và biện pháp với hàm nghĩa là việc hiện thực hóa các chính sách đó trongthực tiễn của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm thực hiện sự ổn định và đảmbảo tính bền vững của ASXH Do vậy, yêu cầu đối với các chính sách của hệthống ASXH phải đảm bảo tính hệ thống ; tính công bằng, bình đẳng trong đối xửvới các đối tượng thụ hưởng ; tính xã hội hóa; tính bền vững về tài chính; tính linhhoạt: một hệ thống ASXH tốt sẽ tiến triển phù hợp theo thời gian (cấu trúc phùhợp của các chương trình, chính sách sẽ thay đổi theo sự phát triển của nền KT-

XH hoặc thay đổi để ứng phó với những biến cố xảy ra)

Trang 18

- Nội dung đảm bảo an sinh xã hội

Một là, có hệ thống chính sách về BHXH phù hợp với điều kiện thực

tiễn và đảm bảo hệ thống các chính sách BHXH đã ban hành được thực hiệnđúng, kịp thời và đầy đủ

Hai là, đảm bảo các chính sách về trợ giúp xã hội được thực hiện tích

cực và kịp thời khi có tình huống nảy sinh

Ba là, các chính sách và trợ giúp xã hội về lao động, việc làm, đào tạo

và đào tạo lại, chuyển đổi nghề, chính sách về xóa đói giảm nghèo và các dịch

vụ xã hội về nhà ở, điện, nước sạch, y tế, giáo dục, văn hóa thông tin đượcđúng, kịp thời và đầy đủ

Việc ban hành ba hệ thống chính sách đó mới là sự đảm bảo về khả năng

Để biến khả năng đó thành hiện thực, cả ba hệ thống chính sách đó phải được tổchức thực hiện đúng đắn, đầy đủ, kịp thời trong thực tiễn

1.1.2 Những vấn đề chung về bảo hiểm xã hội

* Khái niệm bảo hiểm xã hội

Cho đến nay, định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận

do được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau với những quan điểm khác nhau

Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1948 đã

xác nhận “Tất cả mọi người, với tư cách là thành viên của xã hội, có quyền hưởng

BHXH” BHXH là một bộ phận cấu thành (có ý kiến coi là bộ phận quan trọng, bộ

phận chủ yếu, bộ phận chính, là cơ chế chính …) hệ thống ASXH [11, tr.384]

Theo tổ chức lao động thế giới (ILO) thì BHXH là sự bảo vệ của cộngđồng xã hội với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đónggóp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật,già yếu, thất nghiệp đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con

để ổn định đời sống của các thành viên và bảo đảm an toàn xã hội [16, tr.10]

Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước với vấn đề trên đây không dừng lại ở việc đề ra những chủ

Trang 19

trương chính sách mà còn cả ở bình diện nghiên cứu, khái quát lý luận và tổchức thực tiễn.

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, BHXH là sự thay thế hoặc bù đắpmột phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do

ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp,tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bêntham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo antoàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo

an toàn xã hội”[60,tr.150]

Kỳ họp thứ 9 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa

XI, Luật BHXH của nước ta đã được ban hành (Luật số 71/2006/QH11), theo

đó BHXH được xác định, BHXH “là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp mộtphần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốmđau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi laođộng hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quĩ BHXH” [42]

Quan niệm trên sau đó được tiếp tục xác định tại điều 3 Luật số58/2014/QH13 Luật Bảo hiểm xã hội (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam Khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm2014) “Bảo hiểm xã hội là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập củangười lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vàoquỹ bảo hiểm xã hội” [43]

Cơ sở của BHXH là dựa trên sự đóng góp nhằm bảo vệ sức khỏe và thunhập, gồm các phương pháp thoát khỏi rủi ro và đóng góp tài chính vào quĩbảo hiểm BHXH là nhu cầu tất yếu của người lao động, được ra đời và pháttriển cùng với sự phát triển của xã hội

Biện pháp bảo đảm thay đổi hoặc bù đắp một phần thu nhập của người laođộng do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc

Trang 20

làm thông qua một quĩ trên cơ sở được tập hợp từ sự đóng góp của người lao động

và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm ASXH BHXH là một trong ba trụ cộtchính trong hệ thống ASXH, các chế độ của BHXH đã hình thành từ khá lâu trướckhi xuất hiện thuật ngữ ASXH Hệ thống BHXH đầu tiên được thiết lập ở nướcPhổ (nay là cộng hòa liên bang Đức) từ năm 1850 sau đó được hoàn thiện ở giaiđoạn 1883-1889 lúc đó đã gồm bảo hiểm ốm đau, bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp,bảo hiểm tuổi già tàn tật và sự hiện diện của 3 chủ thể (3 thành viên xã hội): ngườilao động, người sử dụng lao động và Nhà nước

Có thể thấy, mặc dù các khái niệm về BHXH luôn thay đổi theo quátrình phát triển KT-XH từng giai đoạn của sự phát triển kinh tế, nhưng đềuphản ánh bản chất vấn đề BHXH đã được Đảng và nhà nước ta quan tâm

Từ những trình bày trên có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc

bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp rủi ro, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở những đóng góp tài chính của họ vào quỹ bảo hiểm xã hội

* Các hình thức của bảo hiểm xã hội

Hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên

cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Theo phươngthức đó, người lao động phải có đóng góp vào quỹ BHXH mới được quyền lợiBHXH Còn mối quan hệ giữa mức đóng và quyền lợi được hưởng lại chịu sựràng buộc của các nguyên tắc như: nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ rủi ro(thể hiện ở chính sách BHYT, chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnhnghề nghiệp ), nguyên tắc tương quan giữa đóng và hưởng có sự can thiệp nhờcách thức phân phối lại mang tính xã hội (chế độ hưu trí, tử tuất)

Bảo hiểm xã hội có hai hình thức cụ thể là bảo hiểm xã hội bắt buộc vàbảo hiểm xã hội tự nguyện

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ

chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia

Trang 21

Hình thức bắt buộc được Nhà nước tổ chức thực hiện thông qua LuậtBHXH, Luật BHYT, Luật việc làm qui định các điều kiện, các chế độ cũngnhư quyền và trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp có nghĩa

vụ phải thực hiện nhằm mục đích bảo vệ lợi ích chung và an toàn xã hội

Trong hình thức bắt buộc này, đối với BHXH: là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia; đối

với BHYT: bắt buộc áp dụng đối với các đối tượng theo qui định của Luật

BHYT để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ

chức thực hiện; đối với BHTN: người sử dụng lao động phải tham gia bảo

hiểm thất nghiệp cho người lao động tại tổ chức bảo hiểm xã hội theo qui địnhtại Luật Việc làm, kể từ ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc cóhiệu lực

Bảo hiểm xã hội tự nguyện: là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ

chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợpvới thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm

xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất

Ở nước ta hiện nay, hình thức tự nguyện chỉ được áp dụng đối với chế

độ BHXH được Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mứcđóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiềnđóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất được qui địnhtại Luật BHXH

Các nguồn lực tài chính huy động từ hai hình thức bảo hiểm nói trênđược tập trung thành quỹ bảo hiểm xã hội Theo quy định của Luật bảo hiểm,

Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được

hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự

hỗ trợ của Nhà nước

* Sự cần thiết của bảo hiểm xã hội

Trang 22

Con người muốn tồn tại và phát triển được trước hết phải ăn, mặc, ở và

đi lại v.v Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động đểlàm ra những sản phẩm cần thiết Khi sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều thì đờisống con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minhhơn Như vậy, việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của conngười phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ Nhưng trong thực tế,con người không chỉ lúc nào cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọiđiều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khănbất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thunhập hoặc các điều kiện sinh sống khác

Trong đời sống hàng ngày, khi con người rơi vào những trường hợp rủi ro,khó khăn bất lợi, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không mất đi, trái lại cócái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: cần đượckhám và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sócnuôi dưỡng v.v Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xãhội loài người phải tìm ra giải pháp để giải quyết hậu quả này Và thực tế đã tìm

ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộmột cộng đồng; đi vay, đi mượn hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v.v nhưng những cách đó là hoàn toàn thụ động và không ổn định

Để có giải pháp tốt, ổn định và bền vững cho sự phát triển của toàn xãhội, Nhà nước đã đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn, đồng thời làm tăngvai trò của Nhà nước, Nhà nước phải xây dựng một hệ thống các chính sáchnhằm buộc các giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất địnhhàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đốivới người làm thuê Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹtiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Quỹ này còn được bổ sung từ ngânsách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khigặp phải những biến cố bất lợi Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó

Trang 23

mà rủi ro, bất lợi của người lao động được bù đắp, cuộc sống của người laođộng và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định Giới chủ cũng thấymình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránhđược những xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung đượcthiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng để đảm bảo những vấn đề không may

bị rủi ro, tai nạn, ốm đau, thai sản, mất việc làm, hết khả năng lao động…xảy

ra đối với người lao động Đó là những chính sách được Nhà nước qui địnhnhằm điều chỉnh toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộcchặt chẽ được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động

Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhậpđối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khảnăng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệtập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phầnđảm bảo an toàn xã hội

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, yếu tố conngười phải được coi trọng bởi con người quyết định mọi vấn đề sinh tồn vàphát triển xã hội Vì vậy, các chính sách BHXH phải được coi trọng, xây dựng

hệ thống chính sách BHXH và tổ chức thực thi chính sách phù hợp, khoa học

là vấn đề cốt lõi tạo điều kiện cho người lao động tham gia có thể dễ dàng tiếpcận chính sách, đồng thời giúp cho công tác quản lý được chặt chẽ, khoa học,hiện đại đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước hoàn thiện

hệ thống chính sách BHXH góp phần chia sẻ cộng đồng và phát triển xã hộiđảm bảo ổn định ASXH

1.2 Quan niệm, nội dung biểu hiện vai trò của bảo hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh sinh xã hội ở Việt Nam

1.2.1 Quan niệm về vai trò của bảo hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội.

Trang 24

An sinh xã hội là vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển KT-XHcủa mỗi quốc gia, trong đó BHXH (BHXH, BHYT, BHTN) là một trong các trụcột của hệ thống ASXH BHXH vừa với tính cách là những chính sách, vừa vớitính cách là những hoạt động thực tiễn về bảo hiểm, sẽ giúp người dân giảiquyết những rủi ro trong cuộc sống xảy ra với con người theo qui luật sinh tồnnhư: ốm đau, tai nạn, thai sản, bệnh tật, thất nghiệp, tuổi già, mất đi… (sau đâygọi chung là BHXH) có vai trò nhất định, tác động đến đảm bảo ASXH.

Ở Việt Nam, vai trò trụ cột của BHXH đối với đảm bảo ASXH khôngnằm ngoài những quan niệm, những qui luật sinh tồn chung như đã nêu trên vànhững quan niệm đó đã được Đảng và Nhà nước ta hiện thực hóa bằng việcthể chế thành các văn bản pháp quy phù hợp với từng giai đoạn lịch sử KT-

XH cụ thể, đồng thời tổ chức hiện thực hóa các quy định pháp luật đó, đã từngbước đưa chính sách BHXH, BHYT, BHTN đi vào cuộc sống người dân vàdần hoàn thiện nhằm mục tiêu ổn định ASXH và phát triển KT-XH

Trong từ điển Tiếng Việt, vai trò được hiểu là “tác dụng, chức năngtrong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó” [61, tr 1057]

Điều đó có nghĩa là, khi nói đến vai trò của một sự vật, hiện tượng nào đó,hàm ý của người Việt Nam muốn nói đến sự vật, hiện tượng đó có tác dụng thúcđẩy gì, thúc đẩy như thế nào đối với sự hoạt động của một sự vật hiện tượngkhác Đối với vấn đề đang được bàn luận ở đây, đó là tác dụng, thúc đẩy củaBHXH có tác dụng thúc đẩy như thế nào đối với đảm bảo ASXH

Trên cơ sở quan niệm về ASXH, quan niệm về đảm bảo ASXH, quanniệm về BHXH và hàm nghĩa của thuật ngữ vai trò trong tiếng Việt, có thể hiểu

vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH là những kết quả đạt được trong thực hiện các chính sách BHXH, BHYT, BHTN, thể hiện sự đóng góp của BHXH đối với đảm bảo ASXH biểu hiện thông qua dữ liệu, số liệu thống kê tổng kết hàng năm trong thực tiễn; có tác dụng giúp các đối tượng được bảo hiểm vượt qua những khó khăn phải gánh chịu để họ có mức sống tối thiểu trước những rủi ro

Trang 25

về kinh tế, xã hội và môi trường; góp phần thúc đẩy chung để ASXH đạt được tính ổn định, tiến tới bền vững

Quan niệm trên chỉ rõ các thuộc tính đặc trưng về vai trò BHXH đối với đảm bảo ASXH gồm các vấn đề sau:

Thứ nhất, nói đến vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH là nói đến

vấn đề khi các chính sách BHXH được thực hiện sẽ tạo ra sự đóng góp đối

với đảm bảo ASXH trên thực tế Mục tiêu hướng tới của các hoạt độngBHXH (gồm cả BHXH, BHTN, BHYT) đều nhằm làm cho ASXH được đảmbảo tốt hơn do nội hàm của ASXH có hợp phần cấu thành của BHXH

Thứ hai, nội dụng của sự biểu hiện vai trò của BHXH đối với đảm bảo

ASXH đó là những kết quả cụ thể - những chỉ số hợp thành những dấu hiệunói lên sự đóng góp của BHXH đối với đảm bảo ASXH

Thứ ba, chủ thể làm nên (tạo ra) những chỉ số nói hợp thành những dấu

hiệu nói lên sự đóng góp của BHXH đối với đảm bảo ASXH là các đối tượngtham gia bảo hiểm (cả bên đóng và bên hưởng)

Thứ tư, phương thức biểu hiện vai trò của BHXH đối với đảm bảo

ASXH là tình hình, các dữ liệu và số liệu của BHXH công bố nói lên nghĩa vụtrách nhiệm đã được thực hiện của các bên tham gia bảo hiểm theo các quyđịnh của pháp luật

Có 4 lí do dẫn đến sự khẳng định vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH

Một là, đối tượng của BHXH rất rộng: là những người được điều chỉnh

bởi pháp luật BHXH (bao gồm những người tham gia đóng góp cho quỹBHXH và những người thụ hưởng BHXH) Ngoài bên tham gia BHXH, trongBHXH còn có bên được bảo hiểm và bên nhận bảo hiểm Chính vì đối tượngcủa BHXH rất rộng như vậy, nên BHXH có tác dụng thúc đẩy việc hiện thựchóa hệ thống chính sách ASXH, thậm chí đến toàn bộ xã hội

Hai là, quỹ BHXH góp phần ổn định tài chính vĩ mô và là một trong

các nguồn lực để thực hiện chính sách ASXH của Chính phủ Tính ổn định

Trang 26

của BHXH trong hệ thống ASXH thể hiện thông qua vấn đề tài chính để thựcthi các chính sách của hệ thống này Mặc dù mục tiêu của quỹ BHXH là để chitrả các chế độ BHXH, nhưng do tính đặc thù của BHXH là có độ trễ giữa thu

và chi BHXH, nên một phần quỹ được nhàn rỗi tương đối Phần nhàn rỗi nàycủa Quỹ BHXH được đầu tư vào một số lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân,góp phần phát triển kinh tế xã hội BHXH càng hoạt động tốt, quỹ BHXHcàng phát triển sẽ góp phần càng lớn vào việc ổn định đời sống của người laođộng và gia đình họ, đồng thời sẽ tạo ra sự vững mạnh của nền tài chính quốcgia Xét về tổng thể, quỹ BHXH tạo ra nguồn cung dồi dào và ổn định cho thịtrường tài chính; tạo điều kiện ổn định nền tài chính quốc gia và cuối cùng làgóp phần làm cho ASXH được đảm bảo hơn

Ba là, BHXH đảm bảo sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động

trong các thành phần kinh tế khác nhau và thúc đẩy sản suất phát triển Hoạtđộng BHXH, BHYT, BHTN dựa trên nguyên tắc “đóng – hưởng” đã tạo ra sựbình đẳng của người lao động về chính sách BHXH, BHYT, BHTN Mọi ngườilao động không phân biệt thành phần kinh tế, không phân biệt nghề nghiệp đó

là cơ sở đảm bảo sự bình đẳng cho mọi người lao động trước những chính sáchcủa BHXH tạo được sự an tâm tin tưởng và yên tâm lao động, sản xuất, kinhdoanh đối với người lao động

Bốn là, BHXH là công cụ đắc lực của Nhà nước góp phần phân phối lại

thu nhập một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảmchi ngân sách nhà nước Người lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTNđóng vào quĩ bảo hiểm và cũng được hưởng các chế độ trợ cấp bảo hiểm từquĩ này do cơ quan BHXH Việt Nam điều tiết mà không phải chi từ nguồnngân sách nhà nước nhưng vẫn thực hiện được mục tiêu ASXH góp phần pháttriển KT-XH

1.2.2 Nội dung biểu hiện của vai trò của bảo hiểm xã hội trong đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Trang 27

Xét vấn đề một cách tổng quát, nội dung biểu hiện vai trò của BHXHđối với đảm bảo ASXH thể hiện ở những dấu hiệu, chỉ số cho thấy sự đónggóp của BHXH đối với đảm bảo ASXH – những dấu hiệu chỉ số biểu hiện vaitrò của BHXH là một trong những trụ cột đối với đảm bảo ASXH.

Thứ nhất, những chính sách BHXH được ban hành góp phần làm cho hệ thống chính sách ASXH đồng bộ và hoàn chỉnh - dấu hiệu đầu tiên về vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH.

An sinh xã hội là một hệ thống các chính sách, trong đó có hợp phầncủa hệ thống các chính sách BHXH (gồm chính sách BHXH, BHYT BHTN)

Hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH ban hành luôn bám sát vàphù hợp với điều kiện thực tiễn, thể hiển rõ những giá trị cốt lõi, tính ưu việtcủa hoạt động BHXH, phát huy đầy đủ vai trò của BHXH, đảm bảo tính đồng

bộ trong thực hiện, bền vững và mang tính vượt trội thể hiện được vai trò trụcột trong hệ thống ASXH Do vậy, chính sách BHXH góp phần đảm bảo ổnđịnh cuộc sống cho người lao động, đảm bảo sự bình đẳng trong thực hiệnnhằm duy trì và phát triển nguồn lao động cho nền sản xuất xã hội, thúc đẩysản xuất phát triển Do đó, hệ thống chính sách và pháp luật về BHXH là điềukiện cơ bản nhằm hiện thực hóa BHXH, để đưa BHXH vào cuộc sống tạo nềntảng cho sự phát triển KT-XH của đất nước

Chính sách BHXH là do nhà nước ban hành và nhà nước sẽ thực hiệnđược quyền bảo hộ các hoạt động BHXH trên cơ sở các luật lệ mà nhà nước

đã ban hành tạo khung khổ cho các hoạt động BHXH diễn ra có trật tự kỷcương, dù là BHXH dựa trên cơ chế “đóng - hưởng” thì nó vẫn phải tạo dựng

và nhận được sự đồng thuận xã hội

Vì vậy, nếu không có hệ thống chính sách có tính khả thi, sẽ không

có bất kỳ một hoạt động BHXH nào được diễn ra trong đời sống thực tiễn

cả, và hệ quả tất yếu cũng sẽ là không thể có một nền ASXH nào theo đúng

Trang 28

nghĩa của nó được diễn ra Do đó, có thể thấy, sự đóng góp đầu tiên củaBHXH đối với đảm bảo ASXH phải bắt đầu từ đây, từ việc ban hành đượcmột hệ thống chính sách đồng bộ và hoàn chỉnh về BHXH phù hợp với tưtưởng ASXH và phù hợp với điều kiện thực tiễn

Thứ hai, những kết quả thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội phản ánh diện bao phủ của bảo hiểm xã hội và là một nhân tố biểu hiện vai trò của bảo hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội được hiện thực hóa trong thực tiễn và giữ được tính ổn định hàng năm.

Các chính sách BHXH được ban hành bên cạnh việc tạo khung khổpháp lý cho việc đóng BHXH, nó cũng tạo ra cơ chế thay thế hoặc bù đắpmột phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập,

do không may bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thấtnghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH

Bảo hiểm xã hội được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc cùng chia sẻ rủi

ro giữa những người tham gia bảo hiểm Nguyên tắc đó đòi hỏi tất cả mọingười tham gia BHXH phải đóng góp BHXH để tạo nên một quỹ chung Kếtquả đóng góp (thu) hình thành quỹ BHXH Quỹ này chỉ được sử dụng để chi trảcác trợ cấp BHXH và cho các hoạt động về BHXH

Về bản chất kinh tế, quĩ BHXH là một bộ phận của thu nhập quốc nội,

có quá trình phân phối thu nhập (dựa trên nguyên tắc lấy thu bù chi), đảm bảo

ổn định đời sống giữa những người tham gia BHXH Quĩ BHXH là một trongnhững nguồn lực chính để thực hiện chính sách ASXH của Nhà nước Do vậy,thông qua hệ thống các chính sách BHXH, với cơ chế người lao động, người

sử dụng lao động và nhà nước cùng bỏ tiền ra xây dựng quĩ sẽ là cơ sở tàichính để hiện thực hóa mục tiêu ASXH Bản chất đó quy định vai trò củaBHXH đối với đảm bảo ASXH

Do đó, kết quả thực hiện các chính sách BHXH thể hiện ở số người thamgia các hình thức bảo hiểm thể hiện ở kết quả thu và chi trả cho các đối tượng thamgia được bảo hiểm Do đó, thông qua các dấu hiệu, chỉ số này, cho phép xác định

Trang 29

được có hay không, tích cực hay hạn chế vai trò của BHXH đối với đảm bảoASXH trong đời sống hiện thực.

Những dấu hiệu cụ thể biểu hiện kết quả biểu hiện vai trò của BHXH đốivới đảm bảo ASXH trong nội dung này gồm:

Một là, kết quả số người tham gia BHXH BHYT, BHTN hàng năm

phản ánh tính ưu việt của chính sách và diện bao phủ của BHXH trong hệthống các chính sách ASXH

Hai là, kết quả thu BHXH, BHYT, BHTN hàng năm (bao gồm cả kết

quả về tình hình các bên tham gia BHXH đóng góp tài chính vào qũy BHXH,tình hình quỹ bảo hiểm… ) thể hiện nguồn tài chính BHXH đảm bảo ASXH

và vị trí của BHXH đối với đảm bảo ổn định cuộc sống người lao động

Ba là, kết quả chi BHXH, BHYT, BHTN hàng năm (chi trả các chế độ bảo

hiểm cho người tham gia) phản ánh hiệu quả của việc thực hiện chính sách BHXHtrong đảm bảo ASXH

Thứ ba, kết quả thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội biểu hiện là công cụ, giải pháp góp phần giúp nhà nước thực hiện được mục tiêu "an dân" đối với nhóm dân cư yếu thế nhất của xã hội.

Trong kinh tế thị trường, do cơ chế tác động của các qui luật kinh tế vốn

có của mô hình kinh tế đó, luôn tồn tại xu hướng phân hóa hai cực, một bộ phậndân cư giàu lên và một bộ phận khác do nhiều nguyên nhân luôn ở trạng tháinghèo, đói (nhóm dân cư yếu thế nhất của xã hội) Trong nền kinh tế nước tahiện nay nhóm dân cư này tập trung chủ yếu vào các đối tượng là nông dân,

cư dân nghèo vùng nông thôn, vùng dân tộc, vùng sâu, vùng biên giới, hảiđảo… được Nhà nước hỗ trợ hoặc hỗ trợ một phần kinh phí tham gia BHYTđồng thời khi không may bị ốm đau được quĩ BHYT chi trả kinh phí khámchữa bênh Chính sách BHXH (BHYT) giúp nhóm dân cư này xóa đói, thoátnghèo, vươn lên từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống

Vấn đề nghèo đói thường kéo theo những khó khăn về thụ hưởng các chế

độ đối với người nghèo, vùng nghèo, về chăm sóc y tế, nên chính sách bảo hiểm y

tế đối với đối tượng này là nhà nước mua BHYT và hỗ trợ cho họ Biểu hiện cụ

thể của nội dung này thể hiện qua các chỉ tiêu về kết quả thực hiện bảo hiểm y tế.

Trang 30

Khi đảm bảo ASXH được quan niệm là tổng thể những chính sách, biệnpháp cơ chế vận hành và hoạt động thực tiễn các chủ thể liên quan đến các trụ cộthợp thành ASXH (BHXH, BHYT, BHTN và những hỗ trợ khác), thông quanhững phương thức thích hợp nhằm bảo vệ, giúp đỡ các thành viên trong xã hộivượt qua những khó khăn phải gánh chịu để họ có mức sống tối thiểu trướcnhững rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường, thì nhữngnội dung về biểu hiện vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH trên đây sẽ là

cơ sở để biến những tư tưởng nhân văn về ASXH trở thành hiện thực

Thứ nhất, những chính sách BHXH được ban hành góp phần làm cho

hệ thống chính sách ASXH đồng bộ và hoàn chỉnh - dấu hiệu đầu tiên về vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH.

An sinh xã hội là một hệ thống các chính sách, trong đó có hợp phầncủa hệ thống các chính sách BHXH (gồm chính sách BHXH, BHYT BHTN)

Hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH ban hành luôn bám sát vàphù hợp với điều kiện thực tiễn, thể hiển rõ những giá trị cốt lõi, tính ưu việtcủa hoạt động BHXH, phát huy đầy đủ vai trò của BHXH, đảm bảo tính đồng

bộ trong thực hiện, bền vững và mang tính vượt trội thể hiện được vai trò trụcột trong hệ thống ASXH Do vậy, chính sách BHXH góp phần đảm bảo ổnđịnh cuộc sống cho người lao động, đảm bảo sự bình đẳng trong thực hiệnnhằm duy trì và phát triển nguồn lao động cho nền sản xuất xã hội, thúc đẩysản xuất phát triển Do đó, hệ thống chính sách và pháp luật về BHXH là điềukiện cơ bản nhằm hiện thực hóa BHXH, để đưa BHXH vào cuộc sống tạo nềntảng cho sự phát triển KT-XH của đất nước

Chính sách BHXH là do nhà nước ban hành và nhà nước sẽ thực hiệnđược quyền bảo hộ các hoạt động BHXH trên cơ sở các luật lệ mà nhà nước

đã ban hành tạo khung khổ cho các hoạt động BHXH diễn ra có trật tự kỷcương, dù là BHXH dựa trên cơ chế “đóng - hưởng” thì nó vẫn phải tạo dựng

và nhận được sự đồng thuận xã hội

Trang 31

Vì vậy, nếu không có hệ thống chính sách có tính khả thi, sẽ không

có bất kỳ một hoạt động BHXH nào được diễn ra trong đời sống thực tiễn

cả, và hệ quả tất yếu cũng sẽ là không thể có một nền ASXH nào theo đúngnghĩa của nó được diễn ra Do đó, có thể thấy, sự đóng góp đầu tiên củaBHXH đối với đảm bảo ASXH phải bắt đầu từ đây, từ việc ban hành đượcmột hệ thống chính sách đồng bộ và hoàn chỉnh về BHXH phù hợp với tưtưởng ASXH và phù hợp với điều kiện thực tiễn

Thứ hai, những kết quả thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội phản ánh diện bao phủ của bảo hiểm xã hội và là một nhân tố biểu hiện vai trò của bảo hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội được hiện thực hóa trong thực tiễn và giữ được tính ổn định hàng năm.

Các chính sách BHXH được ban hành bên cạnh việc tạo khung khổpháp lý cho việc đóng BHXH, nó cũng tạo ra cơ chế thay thế hoặc bù đắpmột phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập,

do không may bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thấtnghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH

Bảo hiểm xã hội được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc cùng chia sẻ rủi

ro giữa những người tham gia bảo hiểm Nguyên tắc đó đòi hỏi tất cả mọingười tham gia BHXH phải đóng góp BHXH để tạo nên một quỹ chung Kếtquả đóng góp (thu) hình thành quỹ BHXH Quỹ này chỉ được sử dụng để chi trảcác trợ cấp BHXH và cho các hoạt động về BHXH

Về bản chất kinh tế, quĩ BHXH là một bộ phận của thu nhập quốc nội,

có quá trình phân phối thu nhập (dựa trên nguyên tắc lấy thu bù chi), đảm bảo

ổn định đời sống giữa những người tham gia BHXH Quĩ BHXH là một trongnhững nguồn lực chính để thực hiện chính sách ASXH của Nhà nước Do vậy,thông qua hệ thống các chính sách BHXH, với cơ chế người lao động, người

sử dụng lao động và nhà nước cùng bỏ tiền ra xây dựng quĩ sẽ là cơ sở tài

Trang 32

chính để hiện thực hóa mục tiêu ASXH Bản chất đó quy định vai trò củaBHXH đối với đảm bảo ASXH

Do đó, kết quả thực hiện các chính sách BHXH thể hiện ở số người thamgia các hình thức bảo hiểm thể hiện ở kết quả thu và chi trả cho các đối tượng thamgia được bảo hiểm Do đó, thông qua các dấu hiệu, chỉ số này, cho phép xác địnhđược có hay không, tích cực hay hạn chế vai trò của BHXH đối với đảm bảoASXH trong đời sống hiện thực

Những dấu hiệu cụ thể biểu hiện kết quả biểu hiện vai trò của BHXH đốivới đảm bảo ASXH trong nội dung này gồm:

Một là, kết quả số người tham gia BHXH BHYT, BHTN hàng năm

phản ánh tính ưu việt của chính sách và diện bao phủ của BHXH trong hệthống các chính sách ASXH

Hai là, kết quả thu BHXH, BHYT, BHTN hàng năm (bao gồm cả kết

quả về tình hình các bên tham gia BHXH đóng góp tài chính vào qũy BHXH,tình hình quỹ bảo hiểm… ) thể hiện nguồn tài chính BHXH đảm bảo ASXH

và vị trí của BHXH đối với đảm bảo ổn định cuộc sống người lao động

Ba là, kết quả chi BHXH, BHYT, BHTN hàng năm (chi trả các chế độ bảo

hiểm cho người tham gia) phản ánh hiệu quả của việc thực hiện chính sách BHXHtrong đảm bảo ASXH

Thứ ba, kết quả thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội biểu hiện là công cụ, giải pháp góp phần giúp nhà nước thực hiện được mục tiêu "an dân" đối với nhóm dân cư yếu thế nhất của xã hội.

Trong kinh tế thị trường, do cơ chế tác động của các qui luật kinh tế vốn

có của mô hình kinh tế đó, luôn tồn tại xu hướng phân hóa hai cực, một bộ phậndân cư giàu lên và một bộ phận khác do nhiều nguyên nhân luôn ở trạng tháinghèo, đói (nhóm dân cư yếu thế nhất của xã hội) Trong nền kinh tế nước tahiện nay nhóm dân cư này tập trung chủ yếu vào các đối tượng là nông dân,

cư dân nghèo vùng nông thôn, vùng dân tộc, vùng sâu, vùng biên giới, hảiđảo… được Nhà nước hỗ trợ hoặc hỗ trợ một phần kinh phí tham gia BHYTđồng thời khi không may bị ốm đau được quĩ BHYT chi trả kinh phí khámchữa bênh Chính sách BHXH (BHYT) giúp nhóm dân cư này xóa đói, thoát

Trang 33

nghèo, vươn lên từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống

Vấn đề nghèo đói thường kéo theo những khó khăn về thụ hưởng các chế

độ đối với người nghèo, vùng nghèo, về chăm sóc y tế, nên chính sách bảo hiểm y

tế đối với đối tượng này là nhà nước mua BHYT và hỗ trợ cho họ Biểu hiện cụ

thể của nội dung này thể hiện qua các chỉ tiêu về kết quả thực hiện bảo hiểm y tế.

Khi đảm bảo ASXH được quan niệm là tổng thể những chính sách, biệnpháp cơ chế vận hành và hoạt động thực tiễn các chủ thể liên quan đến các trụ cộthợp thành ASXH (BHXH, BHYT, BHTN và những hỗ trợ khác), thông quanhững phương thức thích hợp nhằm bảo vệ, giúp đỡ các thành viên trong xã hộivượt qua những khó khăn phải gánh chịu để họ có mức sống tối thiểu trướcnhững rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường, thì nhữngnội dung về biểu hiện vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH trên đây sẽ là

cơ sở để biến những tư tưởng nhân văn về ASXH trở thành hiện thực

1.2.3 Một số nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến vai trò của bảo hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội.

Để có thể xem xét một cách thuận lợi và thấu đáo các nhân tố ảnh hưởng

đến vai trò của bảo hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội cần đặt các nhân

tố đó trong bối cảnh kinh tế - xã hội của cả nước hiện nay nói chung, của BHXHViệt Nam cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về BHXH và thực hiệncác chính sách BHXH của Nhà nước nói riêng; và ý thức trách nhiệm của các đốitượng có trách nhiệm thực hiện các quy định đóng – hưởng BHXH các loại Do

đó, có ba nhóm nhân tố chủ yếu nổi lên đó là:

- Thứ Nhất là, nhóm nhân tố chính sách, khung khổ pháp lý của Nhà

nước về BHXH (việc ban hành các chính sách pháp luật về BHXH, BHYT,

BHTN): Chính sách pháp luật về BHXH ban hành nếu không đảm bảo nhữnggiá trị cốt lõi (bản chất) của BHXH, không đảm bảo nguyên tắc về BHXHhoặc không phù hợp với điều kiện thực tế xã hội sẽ dẫn đến khó khăn cho việctriển khai thực hiện, kết quả thực hiện không cao, không phát huy được vai tròtrụ cột của chính sách BHXH trong hệ thống chính sách ASXH Một chínhsách BHXH hoàn thiện, thể hiện rõ các nguyên tắc bình đẳng trong các quy

Trang 34

định, mở rộng diện bao phủ nhằm gia tăng hơn nữa tỷ lệ số người tham giaBHXH theo các loại hình BHXH một cách ổn định và bền vững, sẽ tạo dựngmột cơ chế tài chính, một mạng lưới an sinh xã hội thiết yếu, chia sẻ rủi ro,giảm gánh nặng cho người tham gia và tạo nguồn lực quan trọng để chăm sócsức khỏe cho nhân dân, đồng thời bảo đảm cho người lao động có thể giảiquyết, khắc phục những rủi ro trong cuộc sống và khi về già bảo đảm tốt hơnquyền lợi của người thụ hưởng trên cơ sở giảm dần sự chênh lệch về mứchưởng BHXH giữa các đối tượng tham gia BHXH thuộc khu vực tư và khuvực nhà nước; giữa người lao động khu vực dân sự và lực lượng vũ trang tiếndần tới sự công bằng về mức thụ hưởng cho mọi đối tượng tham gia BHXHđáp ứng đầy đủ nguyên tắc mức hưởng BHXH trên cơ sở mức đóng và thờigian đóng BHXH của người lao động Đây là nhân tố then chốt phát huy vaitrò của BHXH đối với đảm bảo ASXH

- Thứ Hai là, nhóm các nhân tố thuộc về BHXH Việt Nam - cơ quan được

giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và thực hiện các chính sách BHXH của Nhà nước (việc hiện thực hóa các chính sách pháp luật về BHXH):

Để chính sách pháp luật về BHXH đi vào cuộc sống, đòi hỏi Nhà nước phải cócông cụ và cơ chế hoạt động rõ ràng, đồng bộ Nếu không việc thực hiện sẽ bịtrồng chéo, không khoa học dẫn đến việc không quản lý được, hiệu quả thực hiệnkhông cao, không đưa hết được những giá trị nhân văn của BHXH đến với ngườidân làm ảnh hưởng đến việc đảm bảo an sinh xã hội Cơ quan “BHXH Việt Nam

là cơ quan nhà nước thuộc Chính Phủ, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độchính sách BHXH, BHYT, tổ chức thu, chi chế độ BHTN; quản lý và sử dụngcác quĩ BHXH, BHTN, BHYT; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHYT,BHTN, BHYT theo qui định của pháp luật” [13] Như vậy, cơ quan BHXH ViệtNam có vai trò đưa các chính sách BHXH thực sự đến với người dân, để cácchính sách BHXH đi vào cuộc sống của người dân và tăng dần diện bao phủ đòihỏi cơ quan BHXH Việt Nam từ trung ương đến địa phương trước hết phải hiểu

Trang 35

đúng, hiểu sâu bản chất của chính sách từ đó có những giải pháp đồng bộ, phùhợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, từ đó xây dựng chương trình,hành động dài hơi, ngắn hơi, có lộ trình, kế hoạch, mục tiêu cụ thể nhằm triểnkhai, thực hiện đảm bảo tính nhân văn, ưu việt, tính hiệu quả của chính sách vớimục tiêu phát triển hướng tới công bằng trong việc đóng và thụ hưởng Đây lànhân tố quyết định trong phát huy vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH

- Thứ Ba là, nhóm nhân tố ý thức trách nhiệm của các đối tượng có

trách nhiệm thực hiện các quy định đóng – hưởng quản lý quỹ bảo hiểm xã hội các loại: Đây là nhóm nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng trưc tiếp đến

vai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH Chính là ý thức trách nhiệm củacác đối tượng có trách nhiệm thực hiện các quy định đóng bảo hiểm xã hội.Nếu những đối tượng đó có hành vi tiêu cực sẽ ảnh hưởng ngay đến việc thựcthi các chính sách BHXH và ảnh hưởng đến vai trò của BHXH đối với đảmbảo ASXH nói chung Một mặt để nâng cao việc hiện thực hóa các chính sáchpháp luật về BHXH đòi hỏi phải có những chế tài áp dụng việc thực hiệnchính sách, pháp luật về BHXH đối với từng đối tượng cụ thể Nếu không sẽảnh hưởng đến kết quả thực hiện các chính sách BHXH, không phát huy hếtvai trò của BHXH đối với đảm bảo ASXH

Chính sách, pháp luật qui định việc đóng BHXH, BHYT, BHTN làtrách nhiệm và quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động laođộng Người sử dụng lao động, nếu không thực hiện trách nhiệm của mình thìkhông giữ chân được người lao động, không tạo cho người lao động sự yêntâm, nỗ lực phấn đấu hết mình, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp Đối vớiNgười lao động, nếu không hiểu biết chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT,BHTN không thực hiện nghĩa vụ của mình, không quan tâm đến trách nhiệmcủa người sử dụng lao động với mình về việc tham gia BHXH, BHYT, BHTN

mà không tham gia BHXH thì khi người lao động bị mất việc làm hoặc khôngmay bị rủi ro sẽ không nhận được các chế độ trợ cấp, các quyền lợi về khám

Trang 36

chữa bệnh, mọi chi phí sẽ tăng lên, đẩy người lao động vào cuộc sống khókhăn, túng quẩn, đói nghèo Do vậy, việc nâng cao nhận thức cho người laođộng, người sử dụng lao động thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi tham giaBHXH, BHYT, BHTN là việc làm cần thiết Đó không chỉ là trách nhiệm củacác cơ quan BHXH, cơ quan quản lý nhà nước về lao động mà đó còn là tráchnhiệm của các cơ quan, đoàn thể trong hệ thống chính trị, các tổ chức, cá nhân

sử dụng lao động Thực hiện tốt chính sách về BHXH, BHYT góp phần quantrọng trong việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị

và phát triển kinh tế - xã hội

Ngoài ra, tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước: nền KT-XH

phát triển đi đôi với việc đời sống nhân dân về mọi mặt được nâng cao, nhucầu ổn định và được bảo vệ cũng được quan tâm Do vậy, có tác động đến kếtquả thực hiện các chính sách BHXH như: tình hình nợ đọng, trốn đóng

BHXH, diện bao phủ của BHXH, BHYT…

cơ bản liên quan đến bản chất của ASXH và BHXH Đã hệ thống một số quanđiểm, khái niệm về ASXH, BHXH, vai trò của ASXH trong nền kinh tế quốc dânđồng thời cũng nêu được những vấn đề riêng của ASXH ở Việt Nam Trên cơ sởcác khái niệm công cụ đó, Luận văn đã phân tích làm rõ được phạm trù trung tâm

là vai tò của BHXH đối với đảm bảo ASXH ở Việt Nam từ quan niệm, cấu trúcđến những nội dung thể hiện của vai trò đó

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 2.1 Kết quả, hạn chế biểu hiện vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam

an sinh xã hội.

Dấu hiệu quan trong nhất đồng thời là dâu hiệu đầu tiên thể hiện vai trònnày được hiện tực hóa trong thực tiễn đó là số lượng người tham gia BHXH,BHYT, BHTN hàng năm đều tăng đã khẳng định chủ trương, chính sách, luậtpháp về BHXH ban hành là đúng đắn thể hiện vai trò then chốt trong triển khaithực hiện các chính sách BHXH nhằm đảm bảo ASXH, thể hiện ở kết quả thamgia BHXH dưới đây:

Biểu 1a: bảng tổng hợp kết quả tham gia BHXH, BHYT, BHTN năm 2011- 2015

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

So sánh tỷ lệ năm 2015 so với 2011

Trang 38

4 Tham gia BHYT 57.081.956 58.977.203 61.764.317 64.645.024 69.972.649 122,58%

Tổng số 75.251.084 77.812.203 81.513.137 85.510.628 92.583.417 123,03%

* Ghi chú: Số liệu chưa bao gồm số liệu của đối tượng lực lượng vũ trang

(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt nam)Bên cạnh việc chủ trương, chính sách, luật pháp về BHXH của Đảng và

Nhà nước Việt Nam ban hành là đúng đắn, phù hợp với nhu cầu xã hội thì vấn đề

nhận thức và trách nhiệm của chủ sử dụng lao động và người lao động về

BHXH, BHYT, BHTN và sự cố gắng nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên

chức làm công tác BHXH đã làm cho số người tham gia BHXH, BHYT, BHTN

gia tăng hàng năm ngày càng thể hiện rõ vị trí trụ cột trong các chính sách của

hệ thống chính sách ASXH (xem biểu 1b)

Biểu 1b: bảng tổng hợp kết quả thu BHXH, BHYT,

BHTN năm 2011- 2015

Đơn vị tính: Tỷ đồng

TT Nội dung Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 So sánh tỷ lệ

năm 2015 so với 2011

6.747,2 29.369,4 200,1

89.466,6 415,1

8.675,6 40.197,1 228,2

106.304,6 556,1

10.434,8 48.233,1

130.990,4 742,7

11.995,6 53.979,9

146.027,4 883,3

9.939,5 59.726,7 443,3

234,55% 169,47%

147,31% 203,36% 221,54%

Tổng số thu 98.626,5 138.754,4 165.528,6 197.708,6 217.020,2 220,04%

* Ghi chú: Số liệu chưa bao gồm số liệu của đối tượng lực lượng vũ trang

(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Biểu 1b dưới đây phả ánh tổng hợp kết quả thu BHXH, BHYT, BHTN

năm 2011- 2015, phamnr ánh một kết quarkeps: kết quả số người nộp bảo

hiểm tăng hàng năm đồng thời phản ánh trách nhiệm của chủ sử dụng lao động

Trang 39

và người lao động về BHXH, BHYT, BHTN và sự cố gắng nỗ lực của đội ngũcán bộ, công chức, viên chức làm công tác BHXH đã làm cho số người tham giaBHXH, BHYT, BHTN gia tăng hàng năm

Thứ hai, những kết quả đạt được trong xây dựng và hoàn thiện các chính sách bảo hiểm xã hội là biểu hiện sinh động vai trò của bảo hiểm xã hội đối với đảm bảo an sinh xã hội được hiện thực hóa trong thực tiễn.

Để triển khai thực hiện các quan điểm về ASXH, nhà nước đã có một hệthống chính sách về ASXH và chính sách BHXH Hệ thống những chính sáchBHXH được vận hành trong thực tiễn những năm qua đã thực sự biến cácquan điểm, tư tưởng, chủ trương về ASXH thành hiện thực Do đó, có thểkhẳng định, thành tựu đầu tiên biểu hiện vai trò của BHXH đối với đảm bảoASXH thể hiện ở hệ thống chính sách về BHXH đã được ban bố và vận hànhtrong thực tiễn những năm qua

Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam BHXH, BHYT, BHTN

là cơ sở tiến hành các hoạt động BHXH, vì chúng hợp thành hệ thống chính sách

về ASXH Hiện nay, các chính sách này đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện,nhằm tạo dựng một cơ chế tài chính, một mạng lưới ASXH thiết yếu, chia sẻ rủi

ro, giảm gánh nặng chi trả từ tiền của người lao động, tạo nguồn lực quan trọng đểchăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đồng thời bảo đảm cho người lao động có thểgiải quyết, khắc phục những rủi ro trong cuộc sống và khi về già

Hệ thống các chính sách BHXH đã được ban hành ở nước ta được ápdụng trong thực tiễn những năm qua thể hiện ở hệ thống Luật và các Nghịđịnh, theo đó Quốc hội ban hành 4 luật và Chính phủ ban hành 4 Nghị định(Xem phụ lục số 1)

* Chính sách bảo hiểm xã hội:

Những chính sách về BHXH thể hiện tập trung trong Luật BHXH 2006 và 2014)Năm 2006, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật bảohiểm xã hội (Luật 71/2006/QH11), BHXH được xác định “là sự bảo đảm thaythế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc

Trang 40

mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thấtnghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quĩ BHXH” Sau 8năm thực hiện, ngày 20 tháng 11 năm 2014, Quốc hội Khóa XIII, tại kỳ họpthứ 8 thông qua Luật số 58/2014/QH13 Luật Bảo hiểm xã hội Luật có hiệulực thi hành từ ngày 01/01/2016 Luật Bảo hiểm xã hội bao gồm 9 Chương và

125 Điều [42] Có thể khái quát nhận định Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đãkhắc phục cơ bản những hạn chế, bất cập về chính sách, chế độ BHXH thựcthi trong thời gian qua (Luật số 71/2006/QH11), tiếp cận một cách đầy đủ hơnBHXH của khu vực và thế giới trong quá trình hội nhập quốc tế và đáp ứng tốthơn quyền được tham gia và quyền được thụ hưởng BHXH của người dân vìmục tiêu an sinh xã hội của mọi công dân theo Hiến Pháp qui định [43]

Bảo hiểm xã hội bắt buộc có các chế độ: chế độ ốm đau; chế độ thaisản; chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ tử tuất

Bảo hiểm xã hội tự nguyện có các chế độ: chế độ hưu trí; chế độ tử tuất

* Chính sách bảo hiểm thất nghiệp:

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp được quy định trong Luật bảo hiểm xãhội và trong hai nghị định của Chính phủ (Nghị định số 127/2008/NĐ- CPngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm thất nghiệp và Nghị định số100/2012/NĐ-CP ngày 21/11/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 củaChính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảohiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp Luật và Nghị định ra đời nhằm bù đắpmột phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người laođộng học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm Các chế độ BHTN được quiđịnh trong Luật Việc làm bao gồm: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ tư vấn, giớithiệu việc làm; hỗ trợ Học nghề; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cấp trình độ

kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động

Ngày đăng: 11/06/2017, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012, tháng 01 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012
5. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 và giai đoạn 2009 - 2013, tháng 01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 và giai đoạn 2009 - 2013
11. Trần Xuân Cầu (2014), Giáo trình: Kinh tế nguồn nhân lực, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình: Kinh tế nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Xuân Cầu
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2014
15. Nguyễn Thị Chính (2010), Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả chế độ BHXH ở Việt nam, Luận án tiến sĩ kinh tế bảo hiểm, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả chế độ BHXH ở Việt nam
Tác giả: Nguyễn Thị Chính
Năm: 2010
16.Phạm Thị Hải Chuyền (2016), “Tiếp tục hoàn thiện chính sách ASXH, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội”, Baochinhphu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục hoàn thiện chính sách ASXH, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội”
Tác giả: Phạm Thị Hải Chuyền
Năm: 2016
17. Đào Văn Dũng (2015), “20 năm đổi mới lĩnh vực bảo hiểm xã hội vì an sinh xã hội”, Tạp chí BHXH, kỳ 02, tháng 01/2015 (266) Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm đổi mới lĩnh vực bảo hiểm xã hội vì an sinh xã hội”, "Tạp chí BHXH
Tác giả: Đào Văn Dũng
Năm: 2015
18. Nguyễn Hữu Dũng (2008), “Thành tựu kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chính sách ASXH ở nước ta”, Tạp chí cộng sản điện tử, ngày 09/6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chính sách ASXH ở nước ta”, "Tạp chí cộng sản điện tử
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2008
2. Ban Tuyên giáo Trung Ương (2015), Hướng dẫn số 152 – HD/BTGTW ngày 05/5/2015, Tăng cường công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động và bảo hiểm y tế toàn dân Khác
4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Số 533/BC-BHXH ngày 31/01/2013 Báo cáo kết quả công tác năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ năm 2013 Khác
6. Bảo hiểm xã hội Việt nam, Quyết định số 56/QĐ-BHXH, ngày 26/01/2015 Ban hành chương trình hành động của Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ Khác
7. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, số 526/BC-BHXH ngày 14/02/2015 Báo cáo kết quả công tác năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ năm 2015 của cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
8. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Báo cáo số 381/BC-BHXH ngày 01/02/2016. Báo cáo kết quả công tác năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016 Khác
9. Bộ Lao động thương binh và xã hội, Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH ngày 31 tháng 7 năm 2015, Hướng dẫn thực hiện điều 52 Luật việc làm và một số điều của Nghị định số 28/NĐ-CP, ngày 12 tháng 3 năm 2015, Qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp Khác
10. Bộ Y tế - Bộ Tài chính (2014), Thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT-BYT- BTC, Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế, ngày 21/11/2014 Khác
12. Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định số 05/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014, Qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam thay thế Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 và Nghị định số 116/2011/NĐ-CP ngày 12/12/2011 Khác
13. Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016), Nghị định số 01/2016/NĐ-CP, ngày 05/01/2015 Qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
14. Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 28/NĐ-CP, ngày 12 tháng 3 năm 2015, Qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp Khác
19.Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Bí Thư (2009), Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban Bí Thư, ngày 07/9/2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w