1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích và đánh giá một số điểm mới của luật phá sản 2014 so với luật phá sản 2004

17 1,2K 35

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 43,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Hiệu lực áp dụng của luật phá sản: nghiên cứu trao đổi – một số bất cập trong luật phá sản 2004 Nguyễn Quý trang Trong Luật phá sản 2004 quy định hiệu lực của Luật phá sản áp dụng “khi giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 4 LPS 2004) thì Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp phạm vi áp dụng chỉ đối với “doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”(K1 Điều 3 LPS 2014). Quy định này rõ ràng mang tính thực tế và khả năng áp dụng cao hơn so với quy định cũ. Bởi lẽ... 2. Thay đổi quy định về tình trạng “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán” và thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Trong khi Luật Phá sản năm 2004 chỉ quy định chung chung “doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu coi là lâm vào tình trạng phá sản”, thì tại Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014 đã có những thay đổi theo hướng rõ ràng và cụ thể hơn: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.” ... 3. Sự khác biệt về các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: So với Luật phá sản 2004, Luật Phá sản năm 2014 quy định theo hướng mở rộng phạm vi và tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để đảm bảo quyền lợi của mình. Đối với công ty cổ phần, Luật Phá sản năm 2014 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian... III. Một số ý kiên về việc hoàn thiện những vấn đề chưa được sửa đổi triệt để trong luật Phá sản 2014 Quy định tại khoản 1 Điều 4 LPS doanh nghiệp 2014 được hiểu là một doanh nghiệp nếu không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ thời điểm đến hạn thanh toán thì sẽ bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán và khi đó, các chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp này. Việc quy định về thời hạn “03 tháng” có sự trùng lặp so với quy định của LPS 1993. Trong khi đó, bởi những bất cập này nên LPS 2004 đã có sự sửa đối. Các nhà làm luật cần phải câ nhắc, xem xét và đánh giá thật kĩ những hạn chế rủi ro có thể xảy ra, để còn ... ....

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái quát về pháp luật phá sản 1

1 Khái niệm pháp luật phá sản 1

2 Sự phát triển của pháp luật phá sản và Luật Phá sản 2014 3

II Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Phá sản 2014 so với Luật Phá sản 2004 4

1 Hiệu lực áp dụng của luật phá sản: nghiên cứu trao đổi – một số bất cập trong luật phá sản 2004 Nguyễn Quý trang 4

2 Thay đổi quy định về tình trạng “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán” và thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: 5

3 Sự khác biệt về các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: 6

4 Quy định về thẩm quyền của Tòa án: 8

5 Quy định về quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản 10

6 Quy định về các loại chủ nợ 11

III Một số ý kiên về việc hoàn thiện những vấn đề chưa được sửa đổi triệt để trong luật Phá sản 2014 13

KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

MỞ ĐẦU

Luật Phá sản (LPS) 2014 vẫn tiếp tục kế thừa những quy định của các Luật tước, đồng thời cũng có sự sửa đổi bổ sung nhằm mở rộng quy mô hơn theo hướng khắc phục những bất cập của Luật trước Với ý nghĩa, đưa những doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có cơ hội được hồi phục khả năng tài chính và quay lại vòng

an toàn hay phá sản doanh nghiệp đó theo hướng an toàn có lợi cho các bên tham gia, LPS 2014 đã quy định một cách cụ thể và rõ ràng, phản ánh đúng tính thần của pháp luật phá sản Tuy nhiên, tính khả thi thì chưa thể trả lời được bởi nó chưa được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn áp dụng Dưới đây sẽ là những đánh giá và phâ tích của em về một số điểm mới của Luật Phá sản 2014 so với Luật phá sản

2004 thông qua những gì được học hỏi, trao đổi với giảng viên cũng như thu thập tìm kiếm các nguồn tư liệu cho việc nghiên cứu và làm bài

NỘI DUNG

1 Khái niệm pháp luật phá sản

Cũng giống như một thực thể sống “có sinh, có tử”, doanh nghiệp cũng có chu kỳ sống của nó Theo các nhà kinh tế, chu kỳ sống của doanh nghiệp trải qua bốn giai đoạn tiêu biểu là: khởi nghiệp, tăng trưởng, bão hòa và suy thoái Nếu bước qua giai đoạn tăng trưởng, nhà quản trị không biết “nhìn xa trông rộng” và dự liệu những tình huống xấu xảy ra để kịp thời đối phó thì doanh nghiệp sẽ bước vào

Trang 3

thời kỳ suy thoái Tính chu kỳ này cũng cho thấy sự suy vong và phá sản có thể là một giai đoạn sẽ xảy ra với bất cứ một doanh nghiệp nào1

Về nguồn gốc, thuật ngữ phá sản được diễn đạt bằng từ "bankruptcy" hoặc

"banqueroute" mà nhiều người cho rằng từ này bắt nguồn từ chữ "Banca Rotta" trong tiếng La Mã cổ, trong đó banca có nghĩa là chiếc ghế dài, còn rotta có nghĩa

là bị gãy Banca rotta có nghĩa là "băng ghế bị gãy"2 Cũng có ý kiến cho rằng, từ phá sản bắt nguồn từ chữ ruin trong tiếng La tinh, có nghĩa là sự “khánh tận”3

Ở Việt Nam, có nhiều thuật ngữ được sử dụng như: phá sản, vỡ nợ, khánh tận… Từ điển tiếng Việt định nghĩa từ “phá sản” là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và thường là vỡ nợ do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại; “vỡ nợ” là lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ4 Như vậy, trong cách hiểu thông thường, khái niệm phá sản là

để chỉ cho một sự việc đã rồi, sự việc “phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ trả nợ”

Từ điển Luật học định nghĩa phá sản là tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) mất khả năng thanh toán nợ đến hạn 5 Theo quan điểm này, khái niệm phá sản chỉ mới xác định được một tình trạng có thể xảy ra đối với các chủ thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Nói cách khác, “phá sản” được hiểu tương đương với “mất khả năng thanh toán”

1 Nguyễn Văn Thuận, Quản trị tài chính, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1995 (dẫn theo Báo cáo đề tài nghiên cứu do Viện kinh tế TP Hồ Chí Minh thực hiện năm 2001: Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về thực hiện Luật Phá sản doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, tr 6).

2 Nguyễn Tấn Hơn, Phá sản doanh nghiệp – một số vấn đề thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Từ điển trực tuyến Oxford (Oxford Dictionaries) cho rằng từ bankruptcy có nguồn gốc từ giữa thế kỷ thứ 16 với nghĩa là

“băng ghế bị gãy” có gốc từ tiếng La Mã là Banca Rotta, từ Banca là chiếc ghế và rompere “bị phá gãy” Sự thay đổi trong từ kết thúc là do kết hợp với tiếng Latin rupt – có nghĩa là “gãy”.

3 Dương Đăng Huệ, Nguyễn Minh Mẫn, Giáo trình Luật kinh tế, Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

2000, tr 337.

4 oàng Phê (2010), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển học, (in lần thứ 3), Nxb Đà Nẵng, tr.1437.

5 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, tr 597-599.

Trang 4

Một là, phá sản là tình trạng một tổ chức kinh doanh bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan nhà nước (thông thường là tòa án) ra quyết định tuyên bố phá sản Hậu quả của quyết định này là sự chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp

Hai là, phá sản là thủ tục pháp lý liên quan đến một tổ chức kinh doanh để giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức đó Thủ tục pháp lý này được quy định bởi Luật phá sản và pháp luật có liên quan, được tiến hành từ khi có dấu hiệu tổ chức kinh doanh đó lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán (insolvency) và quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán được thực hiện có thể đưa đến những hệ quả khác nhau là phục hồi tổ chức kinh doanh (reorganization) hoặc thanh lý tài sản và chấm dứt hoạt động của tổ chức kinh doanh (liquidation hoặc winding-up).6

2 Sự phát triển của pháp luật phá sản và Luật Phá sản 2014

Trong pháp luật Việt Nam, cả Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 và Luật Phá sản 2004 đều không định nghĩa về phá sản mà sử dụng khái niệm “tình trạng phá sản”, khái niệm này khiến doanh nghiệp dễ bị hiểu nhầm rằng, doanh nghiệp đó đang trong tình trạng tài sản chẳng còn gì và chắc chắn nguy cơ phá sản sẽ xảy ra trong khi thực tế họ vẫn còn cơ hội khôi phục lại khả năng tài chính và quay lại vòng an toàn Do vậy, khái niệm tình trạng phá sản chưa phản ánh đầy đủ nội hàm như được quy định trong các luật này

Khác với các văn bản luật phá sản trước đây của Việt Nam đều không đưa ra định nghĩa cho khái niệm phá sản, Luật Phá sản năm 2014 đã đưa ra một định

nghĩa pháp lý về phá sản, theo đó, “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản” ( khoản 2 Điều 4 Luật phá sản 2014) Khái niệm này đã tiếp cận phá sản dưới

6 https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/02/12/khi-niem-ph-san-thu-tuc-php-san-v-nhung-lin-he-den-luat-ph-san-nam-2014/ truy cập ngày 20/05/2017

Trang 5

góc độ là một quyết định của Tòa án chứ không phải là quá trình ban hành ra quyết định đó (thủ tục phá sản)

II Phân tích và đánh giá m ột số điểm mới của L uật P há sản 2014 so với

Luật Phá sản 2004

1 Hiệu lực áp dụng của luật phá sản: nghiên cứu trao đổi – một số bất cập trong luật phá sản 2004 Nguyễn Quý trang

Trong Luật phá sản 2004 quy định hiệu lực của Luật phá sản áp dụng “khi giải

quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 4 LPS 2004) thì Luật Phá sản năm

2014 đã thu hẹp phạm vi áp dụng chỉ đối với “doanh nghiệp, hợp tác xã được

thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”(K1 Điều 3 LPS

2014) Quy định này rõ ràng mang tính thực tế và khả năng áp dụng cao hơn so với quy định cũ Bởi lẽ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài có hoặc không có trụ sở đặt tại Việt Nam Vì vậy, đối với các doanh nghiệp nước ngoài mà không có trụ sở, không có tài sản mà chỉ có một số hoạt động tại Việt Nam, khi mất khả năng thanh toán thì không thể áp dụng Luật Phá sản của Việt Nam để giải quyết

Giả sử, trường hợp một doanh nghiệp nước ngoài không có trụ sở đặt tại Việt Nam, tuy nhiên vẫn thực hiện các hoạt động và giao dịch tại Việt Nam Câu hỏi đặt

ra là, khi họ mất khả năng thanh toán và có thể lâm vào tình trạng phá sản, áp dụng Luật phá sản Việt Nam như thế nào? Câu trả lời là không thể thực hiện được, bởi khi những doanh nghiệp đó thành lập, doanh nghiệp đó chịu sự điều chỉnh và quản

lý của quốc gia nơi họ đăng kí thành lập, trường hợp doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam thì chịu một số điều chỉnh nhất định của pháp Luật Việt Nam, tuy nhiên khi doanh nghiệp đó mất khả năng thanh toán vẫn sẽ áp dụng Luật phá sản của

Trang 6

quốc gia nơi doanh nghiệp đó thành lập bởi nó còn liên quan rất nhiều đến quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm theo quy định của pháp luật nước đó Đây là một bất cập khi quy định về phạm vi áp dụng của luật Phá sản 2004, khắc phục điều này, Luật

phá sản 2014 quy định cụ thể hơn “doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Như vậy tính thực tế và khả thi

mới được đảm bảo

2 Thay đổi quy định về tình trạng “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán” và thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

Trong khi Luật Phá sản năm 2004 chỉ quy định chung chung “doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ

có yêu cầu coi là lâm vào tình trạng phá sản”, thì tại Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản

2014 đã có những thay đổi theo hướng rõ ràng và cụ thể hơn: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa

vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”

Quy định tại khoản 1 Điều 4 LPS doanh nghiệp 2014 được hiểu là một doanh nghiệp nếu không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ thời điểm đến hạn thanh toán thì sẽ bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán và khi đó, các chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp này Có thể thấy, quy định mới dã có sự tiến bộ rõ nét và dường như

dễ thực hiện hơn so với hai điều kiện “mất khả năng thanh toán nợ đến hạn” và

“chủ nợ có yêu cầu” khi xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

trong LPS 2004 Bởi lẽ, những quy định trong Luật phá sản năm 2004 chỉ dừng lại

ở mức chung chung, thiếu tính khả thi khi áp dụng vào thực tế

Trang 7

Theo LPS 2014, hành vi chủ nợ yêu cầu thanh toán khoản nợ đến hạn không còn

là điều kiện để xác định doanh nghiệp đứng trước bờ vực phá sản và là căn cứ để những chủ thể có quyền được nộp đơn nữa , mà chỉ cần quá hạn 03 tháng kể từ thời điểm đến hạn thanh toán, doanh nghiệp mắc nợ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì các chủ thể theo quy định của pháp luật có quyền nộp đơn lên Tòa án có thẩm quyền yêu cầu mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp đó

- Ưu điểm: Việc LPS 2014 đưa ra thời hạn “3 tháng” tạo điều kiện cho doanh nghiệp mắc nợ có điều kiện tìm ra phương án trả nợ, đồng thời cũng hạn chế

sự làm dụng quyền nộp đơn của các dối tượng có thẩm quyền nộp đơn 7

- Hạn chế: Việc đưa ra thời hạn cùng với con số “03 tháng” so với LPS 2004 được cho là mới, những lại mang dáng dấp của LPS doanh nghiệp 1993 trước đây Có thể thấy rằng, các nhà làm luật lại quay về tư duy cũ khi áp dụng thời hạn làm điều kiện để các chủ thể nộp đơn và xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Điều này, đôi khi lại gây cản trở và khó khăn cho các đối tượng thực hiện quyền nộp đơn của mình, có lẽ vì vậy mà khi ban hành LPS 2004, các nhà làm luật đã bỏ hẳn những quy định về thời hạn nói trên Như vậy, câu hỏi đặt ra rằng, khi áp dụng tư duy đã cũ trong thời kỳ mới như hiện nay có thực sự phát huy được vai trò của pháp luật phá sản hay lại đi theo “vết xe đổ” mà luật cũ mắc phải trước đây

3 Sự khác biệt về các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

So với Luật phá sản 2004, Luật Phá sản năm 2014 quy định theo hướng mở rộng phạm vi và tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để đảm bảo quyền lợi của mình

7 Một số vẫn đề chưa được sửa đổi triệt để trong Luật phá sản 2014- Ths nguyễn Thái Trường- Dân chủ và Pháp luật

số 3 (276)- 2015

Trang 8

Đối với công ty cổ phần, Luật Phá sản năm 2014 quy định cổ đông hoặc

nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất

6 tháng có quyền nộp đơn, trong Luật Phá sản mới vẫn giữ nguyên quy định này, đồng thời cũng cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn nếu điều lệ công ty có quy định

LPS 2014 đã có quy định mang tính đột phá khi trao quyền nộp đơn riêng rẽ

cho cá nhân người lao động tại khoản 2 Điều 5 : “Người lao động, công đoàn cơ

sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ

sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.”.

Trong tiến trình phát triển của pháp luật phá sản ở Việt Nam, cụ thể là LPS doanh nghiệp 1993 và LPS doanh nghiệp 2004 đều quy định người lao động chỉ được nộp đơn thong qua đại diện hoặc tổ chức công đoàn, thì lần đầu tiên luật quy định trao quyền nộp đơn riêng rẽ cho từng cá nhân người lao động

- Ưu điểm: Việc quy định như vậy đã bảo vệ rất lớn quyền lợi của người lao động- đối tượng luôn được pháp luật quan tâm và bảo vệ trong vấn đề giải quyết phát sản doanh nghiệp Qua đó, người lao động có thể dễ dàng thực hiện quyền nộp đơn của mình khi oanh nghiệp không thanh toán lương sau 03 tháng liên tục, chứ khoog phải thụ động chờ đợi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và thong qua đại diện với điều kiện rất khó thực hiện như quy định tại LPS năm 2004

- Hạn chế: Việc quy định cho người lao động quyền nộp đơn riêng rẽ có thể gặp phải một số vấn đề khi áp dụng vào thực tế Bởi lẽ, số lượng người lao động trong một doanh nghiệp là khá nhiều, đặc biệt là những doanh nghiệp có quy mô

Trang 9

lớn thì có đến hàng trăm, hàng nghìn người lao động Vậy nếu người lao động có quyền nộp đơn riêng rẽ sẽ dẫn đến tình trạng “lạm quyền” và nộp đơn một cách thiếu trật tự, gây khó khăn phức tạp cho việc thụ lý đơn và công tác giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản của Tòa án Không những thế, việc quy định người lao động có quyền nộp đơn sau 03 tháng doanh nghiệp chậm lương cũng thiếu tính khả thi trong giai đoạn kinh tế khó khăn như hiện nay, khi mà số lượng doanh nghiệp gia tăng rõ rệt qua hàng năm khiến cho việc kinh doanh và cạnh tranh ngày càng khó khăn và vấn đề chậm lương người lao động diễn ra phổ biến Vì vậy , nếu theo quy định mới này sẽ dẫn đến hệ quả là nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam sẽ bị yêu cầu phá sản một cách ồ ạt và thiếu nhất quán.8

4 Quy định về thẩm quyền của Tòa án:

Luật Phá sản năm 2014, quy định thẩm quyền của Tòa án theo cấp, theo lãnh thổ khác với quy định tại luật cũ, quy định theo hướng doanh nghiệp, hợp tác xã do

cơ quan cấp nào cấp đăng ký kinh doanh thì do Tòa án cấp ấy có thẩm quyền giải quyết ( Điều 7 LPS 2004) Do đó, Tòa án cấp huyện chỉ có quyền giải quyết thủ tục phá sản đối với hợp tác xã do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện cấp, còn doanh nghiệp, hợp tác xã do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấp thì do Tòa án cấp tỉnh xử lý Thực tế đa phần Tòa án cấp tỉnh giải quyết thủ tục phá sản đối với tất cả doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã thành lập trên địa bàn, còn Tòa án cấp huyện chỉ giải quyết thủ tục phá sản đối với Hợp tác xã Việc căn cứ vào thẩm quyền đăng ký kinh doanh để quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án là hoàn toàn không phù hợp với các nguyên tắc pháp lý

- Ưu điểm: Luật Phá sản năm 2014 quy định theo hướng loại trừ, tức là trừ những vụ việc phá sản có tình tiết đặc biệt (có yếu tố nước ngoài, có địa

8 Một số vẫn đề chưa được sửa đổi triệt để trong Luật phá sản 2014- Ths nguyễn Thái Trường- Dân chủ và Pháp luật

số 3 (276)- 2015

Trang 10

điểm ở nhiều quận huyện khác nhau, hoặc tòa cấp tỉnh lấy lên giải quyết) thì còn lại, Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó ( Điều 8) Như vây, thẩm quyền của Tòa án hân dân cấp huyện đã được mở rộng hơn, đồng thời tạo điều kiện cho Tòa án cấp tỉnh có điều kiện giải quyết những vụ việc mang tính chất quan trọng hơn, nâng cao tính chuyên môn hóa và hiệu quả công việc cho Tòa án cấp tỉnh

Luật Phá sản mới bổ sung quy định về trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thẩm phán trong quá trình giải quyết phá sản Đồng thời, Luật cũng bỏ quy

định “Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó” ( Khoản 3 Điều 7 LPS

2004) Vì theo quy định hiện hành, tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng và hoạt động trong khuôn khổ luật doanh nghiệp Tòa án cấp huyện đương nhiên có thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản của doanh nghiệp này, trừ khi nó có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài Điều này đã đảm bảo tính khách quan, công bằng cho các vụ việc liên quan đến cơ quan đến thẩm quyền của cơ quan giải quyết

- Hạn chế: về cơ bản, LPS doanh nghiệp 2014 có hiệu lực ngày 1/1/2015 nên thời gian thi hành chưa nhiều, do vậy, chưa bộc lộ được những hạn chế nhất định Cái quan trọng để những quy định của pháp luật được áp dụng hiệu quả là làm thế nào để những quy định này không chỉ là những quy định trong luật, trên lý thuyết nữa mà phải đi vào cuộc sống, đi vào thực tiễn, đặc biệt trong tình trạng nền tư pháp Việt nam hiện nay

Ngày đăng: 10/06/2017, 22:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w