Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội, nền văn hóa của các thế hệ đi trước. Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên. Lịch sử phát triển giáo dục, các quốc gia muốn phát triển bền vững thì vấn đề quan trọng là phải tập trung đầu t¬ư cho phát triển giáo dục; trong đó có sự quan tâm rất lớn đến sự phát triển cơ sở vật chất và quản lý cơ sở vật chất giáo dục phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục nhà trường. Vì vậy, các nhà khoa học đã đầu t¬ư nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau và đ¬ã đưa ra những kết luận có giá trị về lý luận và thực tiễn của cơ sở vật chất vai trò của nó và việc quản lý cơ sở vật chất trường học nâng cao hiệu quả sử dụng.
Trang 1MỤC LỤC Trang
Chương
1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT
1.1. Những khái niệm cơ bản của đề tài 13 1.2. Nội dung quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường
1.3 Nhân tố tác động đến quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở
các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 29
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT
CHẤT GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
2.1. Khái quát các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố
2.2 Thực trạng cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm
non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 40 2.3. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường
mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 42
Chương 3 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CƠ SỞ
VẬT CHẤT GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM
3.1. Yêu cầu quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm
non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 61 3.1. Những biện pháp quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các
trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 64 3.3. Khảo nghiệm sự cần thiết, tính khả thi của các biện pháp 84
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyềnđạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội, nền văn hóa của các thế hệ đitrước Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa vănhóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hộiloài người không ngừng tiến lên Lịch sử phát triển giáo dục, các quốc giamuốn phát triển bền vững thì vấn đề quan trọng là phải tập trung đầu tư chophát triển giáo dục; trong đó có sự quan tâm rất lớn đến sự phát triển cơ sở vậtchất và quản lý cơ sở vật chất giáo dục phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục nhàtrường Vì vậy, các nhà khoa học đã đầu tư nghiên cứu trên nhiều phương diệnkhác nhau và đã đưa ra những kết luận có giá trị về lý luận và thực tiễn của cơ sởvật chất vai trò của nó và việc quản lý cơ sở vật chất trường học nâng cao hiệuquả sử dụng
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và hộinhập quốc tế đã đem đến cho Việt Nam những kinh nghiệm và cơ hội quýtrong đầu tư, phát triển giáo dục Một trong các bài học lớn của các nước cónền giáo dục tiên tiến là đầu tư có hiệu quả cơ sở vật chất giáo dục và phương tiện
kỹ thuật dạy học cho nhà trường Bởi vì, muốn có chất lượng giáo dục tốt, thì conngười phải được đào tạo giỏi về kỹ năng nghề nghiệp, đi cùng với nó là phải tăngcường đầu tư, phát triển cơ sở vật chất giáo dục và phương tiện kỹ thuật dạy học,đây là một thành tố không thể thiếu của quá trình giáo dục hiện đại
Cùng với quá trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạotrong điều kiện mới, việc nghiên cứu cải tiến, ứng dụng, phát triển cơ sở vậtchất giáo dục và phương tiện kỹ thuật dạy học trở thành chủ đề thu hút được
sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà giáo nhằm nâng cao chất lượng đàotạo gắn liền lý thuyết với thực hành Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởngđến chất lượng giáo dục, đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm đến Tuy
Trang 3nhiên vấn đề: "Quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non" không
thể giống nhau ở mỗi cơ sở giáo dục Vấn đề “quản lý cơ sở vật chất giáo dụctrường mầm non” còn ít được nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc Đặcbiệt ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thì chưa có đề tài,công trình nào đi sâu nghiên cứu Vì mỗi cơ sở giáo dục, mỗi cấp quản lý, mỗicấp học có điều kiện, đặc điểm riêng và mục tiêu giáo dục cũng khác nhau Hơnnữa việc nghiên cứu các biện pháp quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trườngmầm non trên địa bàn Trung tâm thành phố Hà Nội có thể khác với trường tiểuhọc, phổ thông hay trường dạy nghề, trường cao đẳng và đại học trong hệ thốnggiáo dục quốc dân
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là bậc học đầutiên rất quan trọng bao gồm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhằm hìnhthành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người Theo các chuyêngia trong ngành giáo dục thì trẻ được tiếp cận với bậc học mầm non càng sớmthì càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển ở các giai đoạn tiếp theo.Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của bậc học này có nhiều nét đặc thùnên việc phát triển giáo dục mầm non một cách vững chắc là yêu cầu bứcthiết, góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển nguồn lực con người chất lượngcao Việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của cáccấp chính quyền, của toàn dân và xã hội
Bảo đảm cơ sở vật chất giáo dục mầm non là nhiệm vụ cơ bản, thườngxuyên của các trường mần non trong hệ thống giáo dục mầm non Mục tiêu vànhiệm vụ đặt ra phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dụcmầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ emtrong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tạicác cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dụcmầm non giảm xuống dưới 10%
Trang 4Xuất phát từ thực tiễn giáo dục mầm non ở quận Ba Đình, thành phố
Hà Nội hiện nay nhất là bảo đảm cơ sở vật chất giáo dục của các trường mầmnon trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội trong những năm qua được
sự quan tâm của các cấp lãnh đạo phòng giáo dục và đào tạo quận Ba Đình,Hiệu trường, Ban giám hiệu ở các trường mầm non, sự ủng hộ của nhân dân,phụ huynh, sự đóng góp của các tổ chức xã hội và những mạnh thường quânủng hộ về vật chất và tinh thần, các trường đã chủ động tu bổ, mua sắm cơ sởvật chất giáo dục, trang thiết bị bảo đảm khang trang, các phương tiện, cơ sở
sở vật chất phục vụ cho dạy và học ngày càng hiện đại Tuy nhiên, nhìn mộtcách tổng thể thì chất lượng, hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất giáo dục ở cáctrường mầm non ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội còn nhiều hạn chế chưabảo đảm giữ tốt, dùng bền, nhiều loại cơ sở vật chất giáo dục, phương tiện kỹthuật, trang thiết bị đã lỗi thời, lạc hậu cần được bổ sung mua sắm, công tácquản lý và chỉ đạo của Hiệu trưởng các trường mầm non còn nhiều mặt hạnchế Là người đã có nhiều năm công tác ở lĩnh vực này, với tâm huyết góptiếng nói của mình vào quản lý chặt chẽ và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chấtgiáo dục ở các trường mầm non ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã thôi
thúc tôi chọn vấn đề: “Quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non
quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Từ thời Phục Hưng, nhiều nhà giáo dục tiên phong đã đưa ra các quanđiểm về phương pháp dạy học tích cực Theo họ để giúp học sinh nắm vững cácvấn đề học tập cần sử dụng phương tiện trực quan J.A.Komenxki (1592-1670)nhà giáo dục lỗi lạc người Séc đánh giá rất cao vai trò của phương tiện dạy học,
ông cho rằng “trực quan là nguyên tắc vàng ngọc” Ông yêu cầu trong dạy học
giáo viên phải sử dụng các phương tiện trực quan để người học huy động tất cảcác giác quan vào việc tri giác tài liệu, nhờ đó mà nâng cao khả năng nhận thức
Theo V.I.Lênin, quy luật nhận thức của con người là “từ trực quan sinh động
Trang 5đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Lý thuyết về dạy học
trực quan đã phát triển cùng với các lĩnh vực khác, từ đó giúp chúng ta nhậnđịnh được vai trò của phương tiện - thiết bị trực quan trong quá trình dạy học,giúp người học lĩnh hội được cả bản chất sự vật hiện tượng dễ dàng hơn
Các công trình nghiên cứu đó đã đưa ra một số kết quả thực tiễn ở ViệtNam trong giai đoạn hiện nay giúp các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục cócách nhìn tổng thể toàn diện hơn về quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bịtrường học
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệthông tin và hội nhập quốc tế đã đem đến cho Việt Nam những kinh nghiệm
và cơ hội quý trong đầu tư, phát triển giáo dục Một trong các bài học lớn củacác nước có nền giáo dục tiên tiến là đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện kỹthuật dạy học cho các nhà trường Bởi vì, muốn có chất lượng dạy học tốt,chất lượng con người được đào tạo giỏi về kỹ năng nghề nghiệp thì đi cùngvới nó là phải tăng cường đầu tư, phát triển cơ sở vật chất trong đó phươngtiện kỹ thuật dạy học, đây là một thành tố không thể thiếu của quá trình dạyhọc hiện đại
Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, việc nghiên cứu cải tiến, ứng dụng,phát triển phương tiện kỹ thuật dạy học trở thành chủ đề thu hút được sự quan tâmcủa các nhà khoa học, nhà giáo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo gắn liền lý thuyết
với thực hành Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học sau: “Phương tiện kỹ thuật và đồ dùng dạy học” của Nguyên Lương (1995); “Vai trò của phương tiện dạy học trong dạy học hiện nay” của Hứa Xuân Trường (1997);
“Hiện trạng và những giải pháp đầu tư phát triển khai thác phương tiện kỹ thuật dạy học trong nhà trường quân đội” của Nguyễn Lương Sơn (1997);
“Công tác thiết bị trường học trong giai đoạn hiện nay” của Lê Hoàng Hảo
(1998) báo cáo tại Hội nghị toàn quốc về thiết bị giáo dục Nhiều nhà giáo, nhànghiên cứu khoa học quan tâm nghiên cứu vấn đề chế tạo, quản lý, sử dụng và
Trang 6bảo quản phương tiện dạy học trong nhà trường như: Tác giả Tô Xuân Giáp, VõChấp, Vũ Trọng Rỹ…Những công trình nghiên cứu của các tác giả đã xây dựngđược một hệ thống lý luận về vị trí, vai trò, tác dụng và một số yêu cầu vềnguyên tắc chế tạo, sử dụng cũng như quản lý phương tiện dạy học trong nhàtrường hiện nay.
Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, đãđược nhiều nước trên thế giới quan tâm đến, trong thời gian qua có nhiều tácgiả trong nước đã nghiên cứu tiêu biểu như:
Đề tài “Một số biện pháp quản lý cơ sở vật chất và thiết bị trường học của hiệu trưởng trường THPT Sóc Sơn Hà Nội” của tác giả Đỗ Hoàng Điệp.
Thông qua việc tìm hiểu thực trạng việc quản lý CSVC & TBTH của hiệutrưởng trường THPT Sóc Sơn Hà Nội trong giai đoạn 1996 - 2004, đề tài đã
đề xuất một số biện pháp xây dựng và quản lý CSVC & TBTH của hiệutrưởng trường THPT Sóc Sơn Hà Nội
Đề tài: “Các biện pháp quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học ở trường THPT Hải Phòng” của tác giả Vũ Văn Trà.
Đề tài “Các biện pháp quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học ở một số trường THCS Thanh Hóa” của tác giả Lê Xuân Đào,
Đề tài: “Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ” Tác giả Đặng Phúc
Trang 7Luận văn thạc sĩ của nguyễn Ngọc Hoàn ( 2015) “ Quản lý thiết bị dạy học
ở Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh” Học viện Chính trị.
Các đề tài khoa học, luận văn và công trình nghiên cứu ở trên đã đi sâunghiên cứu đánh giá thực trạng về quản lý phương tiện kỹ thuật dạy học, thiết
bị dạy học Trên cơ sở đó đã đưa ra các giải pháp, biện pháp nhằm quản lýhiệu quả và chất lượng phương tiện kỹ thuật và thiết bị dạy học phục vụ chonhiệm vụ giáo dục đào tạo của nhà trường Các công trình, đề tài trên đã nghiêncứu về quản lý, phát triển cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học ở các khíacạnh khác nhau; luận giải những cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất phươnghướng biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở vật chấtgiáo dục và phương tiện kỹ thuật dạy học trong các nhà trường cụ thể
Tuy nhiên vấn đề: "Quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non nói chung và ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội" có nhiều điểm khác với
cơ sở giáo dục Quản lý cơ sở vật chất giáo dục là phạm trù rộng gồm nhiều mặt
và nội dung quản lý còn ít được nghiên cứu
Những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở giúp cho việc kế thừa, hoànthiện căn cứ lý luận của vấn đề quản lý cơ sở vật chất giáo dục nhằm mụcđích nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường mầm non trên địa bàn quận
Ba Đình, thành phố Hà Nội hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý cơ sở vật chấtgiáo dục ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, đề xuất cácbiện pháp quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non, quận BaĐình, thành phố Hà Nội, đáp ứng đổi mới giáo dục mầm non trên địa bànQuận hiện nay
Trang 8* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầmnon trong hệ thống giáo dục quốc dân
Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở cáctrường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Đề xuất các biện pháp quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trườngmầm non trong quận Ba Đình, thành phố Hà Nội hiện nay
Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
4 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý cơ sở vật chất các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non quận Ba Đình, thànhphố Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: đề tài nghiên cứu vấn đề quản lý cơ sở vật chất giáo dụccác trường mầm non dưới góc độ của khoa học quản lý giáo dục Các vấn đềnghiên cứu được luận giải dựa trên lập luận quản lý nhà trường và quản lý cơ
sở vật chất giáo dục của nhà trường
Về đối tượng khảo sát, các số liệu khảo sát minh hoạ trong đề tài đượcnghiên cứu từ các trường mầm non trong quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.Trong đó tập trung vào các trường cơ bản sau: Mầm non A, mầm non ThànhCông, mẫu giáo số 2, mầm non Hoa Mai, mầm non Sao Mai ( là trường điểmcủa quận Ba Đình và thuộc hệ thống trường công lập)
Về thời gian đề tài nghiên cứu các trường mầm non công lập trongquận Ba Đình, các số liệu điều tra nghiên cứu từ năm 2013 đến nay
5 Giả thuyết khoa học
Hiệu quả quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non quận
Ba đình, thành phố Hà Nội phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể quản lý nhà
Trang 9trường Nếu đề xuất được hệ thống biện pháp quản lý như: Tổ chức giáo dục
nâng cao nhận thức cho các chủ thể quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trườngmầm non; Chỉ đạo xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc sử dụng cơ sởvật chất giáo dục ở các trường mầm non; Tổ chức khai thác, sử dụng có hiệuquả các nguồn tài chính trong xây dựng cơ sở vật giáo dục ở các trường mầmnon; Phát huy tính tích cực của các lực lượng trong và ngoài nhà trường trongxây dựng, khai thác, sử dụng cơ sở vật chất giáo dục các trường mầm non;Thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiệu quả sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất
giáo dục ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thì sẽ nâng
cao được chất lượng giáo dục ở các trường mầm non quận Ba Đình, thànhphố Hà Nội hiện nay
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài luận văn được giải quyết trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sảnViệt Nam về giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng Đồng thời,dựa trên phương pháp luận nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục, cácquan điểm hệ thống cấu trúc, quan điểm hoạt động; tiếp cận lịch sử, tiếp cậnquá trình, tiếp cận thực tiễn trong nghiên cứu khoa học
* Phương pháp nghiên cứu
Phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan, nghiên cứu và hệ thống hoá
lý thuyết, xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Nghiên cứu các Nghị quyết của Đảng, các văn bản của Nhà nước, cácvăn bản chỉ đạo điều hành của Bộ GD-ĐT và các tài liệu khoa học có liênquan đến vấn đề nghiên cứu
Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu hỏi để tìm hiểu ý kiến của CBQL
phòng GD&ĐT quận Ba Đình, Hiệu trường và GV các trường mầm non ( 85
người) trên địa bàn nhằm thu thập những thông tin cần thiết về thực trạng cơ
Trang 10sở vật chất và quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Từ đó, phân tích tổng hợp, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn: Trực tiếp tiếp xúc với một số hiệu trưởng trường mầm non và giáo viên mầm non để tìm hiểu về những vấn đề có liên quan đến quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non trên địa bàn quận
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến, trao đổi với các chuyên gia hoặc
các nhà nghiên cứu về quản lý cơ sở vật chất giáo dục để khảo nghiệm tínhcần thiết và khả thi của biện pháp đề xuất trong đề tài ( 64 khách thể)
Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm quản lý
cơ sở vật chất của Hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn quận BaĐình Bằng việc đưa ra kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn và lấy thựctiễn để kiểm nghiệm lại kết quả nghiên cứu lý luận, phương pháp này được sửdụng nhằm đánh giá tính hợp lý và khả thi của các biện pháp quản lý màchúng tôi đề xuất
Phương pháp chuyên gia: Bằng việc đưa ra phiếu hỏi các cán bộ quản
lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, cán bộ quản lý giáo dục) trực tiếp tham giaquản lý cơ sở vật chất giáo dục có kiến thức và kinh nghiệm quản lý phươngtiện kỹ thuật dạy học của nhà trường
Sử dụng toán thống kê xử lý số liệu: Dùng để xử lý số liệu thu thập đượcqua phiếu hỏi, đem lại kết quả chính xác, khách quan, có độ tin cậy cao
Trang 117 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ cung cấp cơ sở khoa học để nâng cao hiệu quả quátrình quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non quận Ba Đình,thành phố Hà Nội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non
Đề tài nghiên cứu thành công có ý nghĩa lý luận và thực tiễn tốt giúpcho các nhà quản lý tiến hành có hiệu quả hoạt quản lý cơ sở vật chất giáodục ở các trường mầm non trong đổi mới giáo dục hiện nay
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài được kết cấu gồm phần mở đầu, 3 chương (9 tiết), kết luận, kiến
nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT GIÁO DỤC Ở
CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1 Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân GDMNđặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục lâu dài nhằm hình thành, phát triểnnhân cách cho trẻ em Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã
ghi rõ: “Việc chăm sóc giáo dục các em từ tuổi sơ sinh cho đến 6 tuổi có tác dụng cực kỳ quan trọng trong sự hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa”.“Ra sức nâng cao chất lượng nuôi dạy các cháu, làm cho các cháu phát
triển một cách thuận lợi về thể lực, tình cảm và trí thông minh, chuẩn bị tốtcho các cháu vào học trường tiểu học ”
Tại Điều 21, 22, Luật giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục
tiêu của GDMN: “GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi
- Nhà trẻ, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi
- Lớp mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi
Trong nhà trường mầm non có các nguồn lực cơ bản như sau:
Trang 13- Nguồn nhân lực là yếu tố con người, là chủ thể giữ vai trò quyết địnhtrong quá trình giáo dục Cơ sở vật chất và các yếu tố khác phát huy tác dụngđến đâu phụ thuộc vào yếu tố con người
- Nguồn tài lực là yếu tố tài chính đầu tư cho nhà trường Một nhàtrường có nguồn tài chính đủ mạnh là cơ sở quan trọng để đưa ra những quyếtđịnh đầu tư mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng và thực hiện các
kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục
- Nguồn tin lực là yếu tố thông tin đảm bảo cho các hoạt động quản lý
và hoạt động giáo dục của nhà trường cập nhật trình độ phát triển hiện đại củakhoa học giáo dục và khoa học quản lý giáo dục Nguồn tin lực là cơ sở đểnhà trường có thông tin chính xác trong quyết định mua sắm trang thiết bị, đồdùng dạy học và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất có hiệu quả
- Nguồn vật lực là yếu tố cơ sở vật chất giáo dục nhà trường ( phươngtiện kỹ thuật, mô hình, trang thiết bi ) đảm bảo cho mọi hoạt động của nhàtrường có thể thực hiện được Cơ sở vật chất giáo dục của nhà trường sẽ tạothành môi trường cảnh quan cho phát triển giáo dục, đồng thời là phương tiện
hỗ trợ cho sự đổi mới phát triển giáo dục của nhà trường Cở sở vật chất giáo dụctrường mầm non là một nguồn lực quan trọng của nhà trường có mối quan hệ vớicác nguồn lực khác Cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non luôn vận độngphát triển đồng bộ cùng với sự vận động phát triển của các nguồn lực khác
* Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non
Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân GDMNđặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục lâu dài nhằm hình thành, phát triểnnhân cách cho trẻ em Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã
ghi rõ: “Việc chăm sóc giáo dục các em từ tuổi sơ sinh cho đến 6 tuổi có tác dụng cực kỳ quan trọng trong sự hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa”.“Ra sức nâng cao chất lượng nuôi dạy các cháu, làm cho các cháu phát triển một cách thuận lợi về thể lực, tình cảm và trí thông minh, chuẩn bị
Trang 14tốt cho các cháu vào học trường phổ thông ” (Trích Nghị quyết 14 của Bộ
chính trị về Cải cách giáo dục, tr.14) Niềm tin và hy vọng của từng gia đình
và cả xã hội về tương lai của trẻ và của đất nước đề trông chờ ở sự phát triểncủa lứa tuổi mầm non này Đề án của Chính phủ về phổ cập GDMN cho trẻ 5tuổi đã chỉ rõ quan điểm: Việc chăm lo để mọi trẻ em năm tuổi được đếntrường, lớp mầm non là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình
và toàn xã hội Đẩy mạnh xã hội hóa với trách nhiệm lớn hơn của Nhà nước,của xã hội và gia đình để phát triển GDMN
Có thể thấy, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non lànhiệm vụ rất quan trọng trong công tác nâng cao chất lượng chăm sóc - giáodục, tạo tiền đề cho trẻ 5 tuổi bước vào lớp một, vào giai đoạn giáo dục phổthông nhằm góp phần đưa sự nghiệp giáo dục phát triển bền vững
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, ngoài việc thực hiệnmục tiêu phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi, các độ tuổi còn lại cũng luôn được đềcập, vì bất kỳ sự phát triển nào cũng phải tuân theo quy luật từ thấp đến cao,
từ nhỏ đến lớn Vì vậy giai đoạn mầm non chính là giai đoạn quan trọng nhất
và không một giai đoạn nào của đời người có thể sánh nổi
* Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục mầm non
Tại Điều 21, 22, Luật giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục
tiêu của GDMN: “GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”, “Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển và
về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”.
Quan điểm của Đảng về GDMN cũng đã nêu: “Nhiệm vụ cơ bản của GDMN là hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới, làm cho trẻ phát triển toàn diện, hài hòa và cân đối, tạo điều kiện tốt cho bước phát triển sau này, xây dựng cho mỗi trẻ em một nền tảng nhân cách vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, đầy sức sống cả về thể chất lẫn tinh thần Có nghĩa
Trang 15là GDMN một mặt cần làm cho trẻ hồn nhiên, vui tươi, tích cực, chủ động, nhạy cảm để trở thành người dễ tiếp thu giáo dục; mặt khác, GDMN lại phải ngay từ đầu hướng sự phát triển của trẻ vào việc hình thành những tiền đề nhân cách con người mới, chuẩn bị cho trẻ khả năng học tập tốt, sống và làm việc phù hợp với xã hội mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở thế kỷ XXI” (60 năm giáo dục mầm non Việt Nam, Nxb giáo dục, tr.272).
1.1.2 Cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non
Cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non là những phương tiện vật chất, kỹ thuật và những sản phẩm khoa học, công nghệ được huy động và
sử dụng trong giáo dục trẻ ở các trường mầm non nhằm đạt mục tiêu giáo dục ở các nhà trường mầm non hiện nay.
Ở góc độ giáo dục học: cơ sở vật chất giáo dục là một thành tố của quá
trình dạy học, có quan hệ với các thành tố khác, cùng hướng tới thực hiệnmục tiêu giáo dục Là điều kiện để các lực lượng giáo dục trong nhà trườngthực hiện chức năng và nhiệm vụ
Ở góc độ quản lý: cơ sở vật chất giáo dục đóng vai là phương tiện thực
hiện mục đích quản lý Là một trong những trụ cột cơ bản để chủ thể quản lýthực hiện các chức năng của quản lý Là phương tiện để kết nối các hoạt độngtrong nhà trường với nhau và kết nối các hoạt động của trường với các cơquan hữu quan
* Phân loại cơ sở vật chất giáo dục ở trường mầm non:
Cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non có nhiều cách phân loạikhác nhau Phân loại theo các yếu tố cấu thành là cách phân loại hợp lý trongnghiên cứu đề tài này Theo đó, cơ sở vật chất giáo dục ở trường mầm nonbao gồm phần cứng, phần mềm và phần con người Phần cứng là tất cả cácphương tiện vật chất của nhà trường, bao gồm nhà cửa, sân chơi, đồ dùng,máy móc, gọi chung là các phương tiện ngoại thất và các phương tiện nội
Trang 16thất Phần này được thiết kế mang tính giáo dục, phù hợp với đặc điểm tâm,sinh lý và quy luật phát triển các phẩm chất cá nhân của học sinh mầm non.
Phần mềm là phần thông tin về cơ sở vật chất và thông tin được sửdụng trong quá trình giáo dục Thông tin về cơ sở vật chất là hồ sơ về tínhnăng tắc dụng của từng loại đồ dùng, vật chất cụ thể và những chỉ dẫn sửdụng trong giáo dục Thông tin giáo dục là những thông tin được thiết kế, xâydựng chuyên dùng cho giáo dục trẻ Những thông tin này khi sử dụng kết hợpvới phần cứng là các máy móc, thiết bị thì sẽ trở thành nội dung giáo dục trẻ
Phần con người là chủ thể quản lý, tổ chức sử dụng phần cứng và phầnmềm Chủ thể sử dụng cơ sở vật chất ở nhà trường mầm non là giáo viên, họcsinh mầm non Các chủ thể này sử dụng đến đâu, hiệu quả cao hay thấp phụthuộc chủ yếu vào năng lực của mỗi giáo viên trong nhà trường Chủ thể quản
lý cơ sở vật chất của nhà trường mầm non là Ban Giám hiệu nhà trường BanGiám hiệu quản lý cơ sở vật chất của nhà trường bằng cơ chế, chính sách củaNhà nước và bằng quy chế của nhà trường
* Chức năng của cơ sở vật chất giáo dục:
Chức năng giáo dục: Cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non là
một bộ phận cấu thành của cơ sở giáo dục, là một thành tố của quá trình giáo dục,
tự thân mang theo chức năng giáo dục Cơ sở vật chất giáo dục đạt chuẩn, hiện đại
có tác dụng giáo dục gián tiếp người học về thẩm mỹ, tình cảm…
Chức năng thông tin: Thu thập thông tin giáo dục nói chung và thông
tin dạy học nói riêng; Xử lý thông tin trong giáo dục - dạy học; Chuyển tảithông tin trong giáo dục - dạy học; Lưu trữ thông tin giáo dục - dạy học
Chức năng phục vụ: Cơ sở vật chất giáo dục phục vụ việc thực hiện hoạt
động giáo dục; phục vụ các lực lượng giáo dục - dạy học thực hiện chức năng,nhiệm vụ
Cơ sở vật chất trường học nói chung và cơ sở vật chất giáo dục ở cáctrường mầm non nói riêng là hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật
Trang 17cần thiết được giáo viên sử dụng vào các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng,giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, phát triền khoa học kỹ thuật,yêu cầu của xã hội về việc đào tạo con người ngày càng cao, yêu cầu conngười phát triền toàn diện, hài hòa, đáp ứng yêu cầu phát triển của côngnghiệp hóa, hiện đại hóa thì cơ sở vật chất giáo dục trong các trường mầmnon ngày càng phong phú, đa dạng
CSVC giáo dục ở các trường mầm non có vai trò rất quan trọng, là yếu tốtác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc giáo dục, góp phần quyết định vàochất lượng của nhà trường, bởi trẻ mầm non chơi là hoạt động chủ đạo, trẻchơi để học
CSVC giáo dục ở các trường mầm non gồm toàn bộ các phòng học,phòng hiệu bộ, phòng chức năng và các phòng phụ trợ khác, bếp ăn, sân chơi
và các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ
Việc đầu tư CSVC giáo dục ở các trường mầm non chính là tạo ra mộtmôi trường sư phạm có đầy đủ đồ dùng, đồ chơi cần thiết phục vụ cho hoạtđộng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường Hơn thế nữa việc đầu tư CSVC giáodục ở các trường mầm non còn tạo ra một môi trường hoạt động hấp dẫnmang tính giáo dục cao nhằm đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáodục mầm non mới
Điều quan trọng hơn là đầu tư CSVC ở các trường mầm non đầy đủ cũngchính là tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên phát huy hếtnăng lực của mình trong việc giảng dạy và chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
* Vai trò của cơ sở vật chất giáo dục
Cở sở vật chất như đã khái quát ở trên gồm nhiều nội dung, tác giả chỉ
đi vào nghiên cứu làm rõ vai trò của phương tiện, thiết bị giáo dục ở nhàtrường mầm non
Trang 18Nằm trong sự thống nhất của hệ thống các nhân tố của quá trình giáodục, phương tiện, cơ sở vật chất giáo dục mầm non có vai trò to lớn đối vớiquá trình nhận thức của trẻ, nâng cao tính hiệu quả quá trình giáo dục
Phương tiện, thiết bị giáo dục được thể hiện: Đối với quá trình nhận
thức thông tin học tập: nhờ có phương tiện giáo dục mang tính trực quan giúp
trẻ em tri giác trực tiếp đẩy mạnh các giai đoạn của các quá trình nhận thức sựvật hiện tượng Các giác quan được huy động ở mức độ tối đa để tiếp thu kiếnthức, hứng thú học tập tăng lên, sự tập trung chú ý được tăng cường, trẻ em dễhiểu, dễ nhớ, nắm vững các đối tượng nhận thức trong cả trạng thái “tĩnh” và
“động”, cả quá trình hình thành, phát triển của sự vật, hiện tượng; buổi họcthêm sinh động hấp dẫn, gây ấn tượng sâu sắc, kích thích nhận thức và tíchcực hóa hoạt động trí tuệ của các em và làm cho họ dễ dàng tiến hành các quátrình phân tích, tổng hợp các hiện tượng để rút ra các kết luận đúng đắn Vớicác cơ quan cảm giác thông thường không thể quan sát được các hiện tượngthực tiễn, nên họ phải dùng những công cụ “làm dài thêm” các cơ quan cảmgiác đó, cho phép mình đi sâu vào thế giới vật chất nằm sau giới hạn tri giáccủa các giác quan thông thường Do đó, nhờ các phương tiện, thiết bị giáo dụchiện đại mà người học có khả năng phát hiện ra một số tính chất của vật chất lớnhơn nhiều khi không sử dụng nó Vì thế có thể nói: trong qúa trình giáo dục,việc nhận thức, nghiên cứu khám phá kiến thức, luôn luôn gắn liền với cácphương tiện, thiết bị giáo dục
Đối với việc rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng nghề nghiệp: Nhà trường khôngnhững đào tạo những con người nắm vững lý thuyết khoa học, mà còn phảigiỏi thực hành “gắn lý thuyết với thực hành” nếu không những hiểu biết của
họ chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức lý thuyết, chưa thể tác động vào thực tiễn
để tái tạo và cải tạo nó Nhận thức lý luận và vận dụng nó vào thực tiễn là haimặt của quá trình nhận thức, giữa chúng có khoảng cách nhất định, khoảngcách đó nếu không thông qua những hoạt động thực hành thì người học không
Trang 19thể vượt qua được Bởi lẽ, “cơ sở bên trong của hoạt động trí tuệ phải đượcxây dựng trên những hoạt động thực tiễn bên ngoài Qua hoạt động thựctiễn, cấu trúc của đối tượng nhận thức và phương pháp hoạt động đối vớichúng dần dần chuyển vào vỏ não biến thành nhận thức cấu trúc của đốitượng và phương pháp hoạt động trí tuệ đối với chúng, lôgíc hoạt động thựctiễn chuyển vào vỏ não biến thành tư duy” Do đó, qua quá trình thực hành,thí nghiệm năng lực nhận thức của người học phải được chú trọng phát triểntrong quá trình giáo dục.
Qua thực hành các phương tiện CSVS giáo dục sẽ làm cho hứng thúnhận thức của trẻ mầm non được kích thích; khi tiếp xúc với thực tiễn (vậtthật - tình huống có thật ), tư duy của trẻ luôn được đặt trước các tình huốngmới, buộc trẻ phải suy nghĩ tìm tòi, phát triển trí sáng tạo Mặt khác, qua thựchành, đức tính kiên trì cẩn thận, chính xác, ý thức, tính kỷ luật của trẻ được rènluyện, được nảy nở, góp phần chuẩn bị tốt tâm lý cho trẻ, giúp các trẻ tự tin khibước vào các bậc học tiếp theo
Đối với lao động sư phạm của giáo viên mầm non: Sử dụng các CSVSgiáo dục sẽ góp phần làm tăng năng suất lao động sư phạm Người dạy sẽ cóđiều kiện trình bày nội dung sâu sắc, sinh động hấp dẫn hơn, giảm nhẹ cácthao tác sư phạm, rút ngắn được thời gian, hiệu quả buổi học tăng lên Đócũng là một trong những đặc điểm của giáo dục hiện đại
Mặt khác, khi CSVC giáo dục mầm non được đưa vào nhà trường, sẽlàm thay đổi phong cách tư duy của người dạy Phương pháp làm việc củangười dạy sẽ thay đổi khi nhà trường được trang bị CSVC giáo dục hiện đại,
do đó phong cách tư duy và hành động của họ cũng được hiện đại hóa, đápứng với những đòi hỏi mà sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệđặt ra
Đối với tính hiệu quả của quá trình giáo dục: Học tập là một quátrình hoạt động của tư duy Muốn đạt tới mục đích dạy và học người dạy
Trang 20và người học đều phải thao tác các trí tuệ, từ nhận biết, so sánh, phân tích,tống hợp, cụ thể hóa, trừu tượng hóa sự vật, hiện tượng và quá trình Nhưvậy, việc sử dụng thường xuyên phương tiện, thiết bị giáo dục sẽ làm tănghiệu quả quá trình giáo dục, phù hợp với xu thế đào tạo hiện nay là tích cực đưacông nghệ, phương tiện, thiết bị giáo dục hiện đại vào nhà trường
Hiện nay, khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, đã trở thànhđộng lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạothông qua việc ứng dụng, sử dụng CSVC giáo dục hiện đại sẽ hỗ trợ cho bàigiảng nhằm giúp cho trẻ dễ nhớ, dễ hiểu, nhớ lâu; khơi dậy tính tích cực, sángtạo của trẻ; khắc phục được sự tụt hậu trong quá trình dạy học Để thực hiệnđược điều đó đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có kiến thức nhất định về tinhọc, sử dụng thành thạo các phần mềm Powerpoint, word, các phần mềm môphỏng như: Autocad, 3Dxmax, solid và làm chủ được các phương tiện, thiết bịgiáo dục hiện đại; có kỹ năng chuyển hoá những nội dung khoa học cần thuyếttrình, trao đổi… thành các sản phẩm được kỹ thuật hoá bởi phần mềm Powerpoint và các phương tiện hiện đại khác một cách tốt nhất Muốn vậy, không còncách nào khác, phải tích cực, chủ động trong quá trình tự học tập, tự nghiên cứuthông qua hệ thống sách tự học tin học, thông qua đồng nghiệp, bạn bè xungquanh hoặc thông qua các buổi tập huấn do phòng, GD&ĐT, Nhà trường tổchức… để nâng cao về trình độ công nghệ thông tin, nâng cao được các kỹ năng
sử dụng các phương tiện, thiết bị giáo dục hiện đại Có nắm và sử dụng thànhthạo các phương tiện, thiết bị giáo dục mới giúp người dạy có thể thiết kế đượcbài giảng Power point vừa đảm bảo được nội dung, kỹ thuật, tính thẩm mỹ, vừađảm bảo tính khoa học, tính sinh động hấp dẫn
Thực tế cho thấy, có nhiều giáo viên mầm non nắm chắc nội dungnhưng khi thực hành giảng bằng trình chiếu vẫn có sự va vấp nhất định, việckết hợp giữa thuyết trình, phân tích và sử dụng các slide chưa được ăn khớp
do chưa thành thạo các kỹ năng trình chiếu, máy móc Ngược lại có những
Trang 21giáo viên có kỹ thuật, kỹ năng sử dụng vi tính, máy móc tốt nhưng do tậpluyện nội dung chưa thành thạo cũng không phát huy hết hiệu quả của cácphương tiện kỹ thuật giáo dục hiện đại
Sử dụng cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non phải kết hợpvới nhiều phương pháp dạy học phát huy tính tích cực cảu trẻ đây là xu hướngtất yếu của dạy học hiện đại Nhưng dù các phương tiện dạy học có hiện đạiđến đâu đi chăng nữa vẫn chỉ là công cụ, phương tiện để hỗ trợ cho quá trìnhgiảng dạy chứ không thể thay thế hoàn toàn vai trò của giáo viên, không thểthay thế hoàn toàn các phương pháp dạy học, giáo dục khác Để phân tích,làm rõ một khái niệm, một nội dung nào đó, ngoài việc trình chiếu ra còn phải
có sự kết hợp với giọng nói, cử chỉ, điệu bộ của giáo viên để tác động vàocảm xúc, tình cảm, ý chí của trẻ; còn phải kết hợp với các phương pháp khác:thuyết trình, đàm thoại, gợi mở, nêu vấn đề, tạo tình huống, hợp tác, kíchthích tính tích cực tư duy của trẻ, vì sự tiến bộ của trẻ
1.1.3 Quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non
Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, pháthuy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tàilực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mụcđích của tổ chức với hiệu quả cao nhất Biện pháp là cách làm, cách giải quyếtmột công việc cụ thể của một cá nhân hay một tập thể để đạt được hiệu quả hoạtđộng Trong một tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý, các chủ thể quản lý sửdụng các biện pháp để tác động vào khách thể quản lý để đạt được mục tiêu đãxác định, đó là chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức mà mình quản lý
Tuỳ theo các cách tiếp cận mà ta có các quan điểm khác nhau về “Quảnlý” Thông thường khi đưa ra các khái niệm quản lý các tác giả thường gắnvới một loại hình quản lý cụ thể:
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, 1998, thuật ngữquản lý được định nghĩa là: “tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ
Trang 22quan” Thuật ngữ này thường được sử dụng để chỉ quản lí ở phạm vi các đơn
vị kinh tế cơ sở như công ti, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
Theo quan điểm của triết học Mac-Lênin: “Quản lý là sự tác động có ýthức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạtđộng của con người phù hợp với quy luật khách quan nhằm đạt tới mục đíchcủa người quản lý ”
Henry Fayol (1841 – 1925) nhà tư tưởng Pháp đã nói về khái niệmquản lý như sau: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp vàkiểm tra” Ông còn chứng minh rằng khoa học quản lý – “quản lý hành chính”không những cần thiết cho các tổ chức công nghiệp và hãng kinh doanh mà
có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức, kể cả cơ quan Chính phủ vì quản lý
ở một tổ chức đều có chung những chức năng trên
Các tác giả Nguyễn Quốc trí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạtđộng quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chứcnhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [33, Tr.1]
Qua các định nghĩa và quan niệm về “Quản lý” như đã trình bày ở trên,
ta thấy rằng quản lý là một trong những hoạt động vừa khó khăn vừa phức tạplại có ý nghĩa trong sự phát triển hay trì trệ của mọi tổ chức, trong hoạt độngquản lý luôn tồn tại hai thành tố đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý.Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người có chức năngquản lý, điều khiển tổ chức để tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu Kháchthể quản lý là những người chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lýnhằm đạt mục tiêu chung Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều
có sự tham gia của hoạt động quản lí Mặc dù quản lý là đa dạng nhưng có thểkhái quát theo một số loại quản lý cơ bản như sau: Quản lý giới vô sinh, quản lígiới sinh vật, quản lý xã hội [27, tr.7] Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường,quản lý cơ sở vật chất giáo dục là những dạng cụ thể của quản lý xã hội Từquan niệm trên chúng tôi cho rằng:
Trang 23Quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non là những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhà trường mầm non đến các yếu tố cấu thành cơ sở vật chất giáo dục của nhà trường, nhằm tổ chức, điều khiển và khai thác sử dụng các yếu tố đó như một nguồn lực quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ ở các trường mầm non.
Quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non được quy định
bởi đặc điểm của bậc học mầm non Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên
trong hệ thống giáo dục quốc dân, là một bậc học có tầm quan trọng đặc biệttrong chiến lược phát triển nguồn lực con người Đội ngũ cán bộ giáo viên cóvai trò quyết định trong việc chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường mầm non Cơ
sở vật chất là điều kiện, phương tiện thực hiện việc giáo dục của giáo viên vàhoạt động học tập của người học ở nhà trường
Thực tiễn giáo dục ở các nước cũng như ở Việt Nam đã khẳng địnhrằng: chất lượng giáo dục là chất lượng của nhiều nhân tố trong đó cơ sở vậtchất, phương tiện kỹ thuật giáo dục là nhân tố không thể thiếu trong nhàtrường, góp phần quan trong thực hiện các mục tiêu giáo dục và đổi mới giáodục thành hiện thực
Mục tiêu, nhiệm vụ quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầmnon là xây dựng kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra quản lý quá trình khaithác và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất giáo dục của nhà trường để đạtmục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục bậc học mầm non
Chủ thể quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non là BanGiám hiệu Nhà trường, giáo viên, nhân viên… Chủ thể quản lý, thực hiện cácchủ trương, biện pháp nhằm quản lý có hiệu quả cơ sở vật chất giáo dục trườnghọc Giáo viên, nhân viên quản lý cơ sở vật chất giáo dục là chủ thể trong việcquản lý, khai thác sử dụng cơ sở vật chất giáo dục trường học Đặc điểm trườngmầm non là không có các phòng, ban chuyên trách về cơ sở vật chất mà do
Trang 24Hiệu trưởng nhà trường phụ trách chung Hiệu trưởng phân công cho phó hiệutrưởng hoặc cho giáo viên quản lý cơ sở vật chất giáo dục về từng lĩnh vực
Để đạt được các mục tiêu giáo dục mầm non đề ra, các chủ thể tiến hànhđồng bộ các cách thức, biện pháp quản lý cơ sở vật chất giáo dục và sử dụng cóhiệu quả trong quá trình giáo dục nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng đổi mớigiáo dục mầm non Biện pháp quản lý cơ sở vật chất giáo dục các trường mầmnon được thể hiện ở các nghị quyết lãnh đạo của chi bộ, Bam giám hiệu nhàtrường; thông qua việc xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch quản lý và sửdụng cơ sở vật chất giáo dục Hiệu trưởng, hiệu phó, giáo viên là chủ thể trựctiếp thực hiện các biện pháp quản lý và sử dụng cơ sở vật chất giáo dục vào quátrình giáo dục, đào tạo trẻ mầm non
Đối tượng quản lý là quá trình xây dựng, khai thác sử dụng cơ sở vậtchất giáo dục ở các trường mầm non Chủ thể khai thác, sử dụng cơ sở vậtchất giáo dục ở các trường mầm non là đội ngũ giáo viên của nhà trường.Giáo viên của nhà trường phải nắm được thông tin về cơ sở vật chất giáo dụccủa nhà trường, tính năng, tác dụng của từng loại đồ dùng dạy học Giáo viêncủa nhà trường phải có trình độ, năng lực làm chủ các phương thức khai thác
sử dụng cơ sở vật chất giáo dục của nhà trường nhằm mục tiêu giáo dục toàndiện cho trẻ
Giáo viên trường mầm non phụ trách từng lớp, đồng thời phụ trách cơ
sở vật chất giáo dục của lớp, có trách nhiệm khai thác sử dụng cơ sở vật chấtcủa lớp, đồng thời khai thác sử dụng cơ sở vật chất chung của nhà trườngtrong quá trình thực hiện các nội dung, nhiệm vụ giáo dục
1.2 Nội dung quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường trường mầm non
1.2.1 Quy hoạch xây dựng cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non
Đó là quá trình quy hoạch, thiết lập kế hoạch đầu tư mua sắm về cơ sởvật chất trường học mầm non và điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu đó
Trang 25Nội dung quy hoạch, lập kế hoạch đầu tư mua sắm, xây dựng cơ sở vật chấtgiáo dục ở các trường mầm non bao gồm:
Đầu tư theo nhu cầu, tức là xác định các nhu cầu đầu tư về cơ sở vật
chất giáo dục của nhà trường nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu đã đặt ra
Khảo sát hiện trạng cơ sở vật chất giáo dục bào gồm những thông số cơ bản
về số lượng, chất lượng, tình hình sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất giáo dục
Đánh giá mức độ trang bị cơ sở vật chất giáo dục trường mầm non so
với yêu cầu dạy và học của nhà trường đồng thời xác định hiệu quả khai thác
cơ sở vật chất giáo dục hiện có của trường mầm non
Xây dựng các quy định, quy trình quản lý và sử dụng cơ sở vật chất
giáo dục ở các trường mầm non nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu đã đặt
ra là nâng cao chất lượng giáo dục và giảm chi phí
Xây dựng kế hoạch tăng cường trang bị và nâng cao hiệu quả sử dụng,bảo quản, mua sắm, sửa chữa, tự làm, sưu tầm cơ sở vật chất giáo dục ở cáctrường mầm non Vấn đề quan trọng nhất trong xây dựng kế hoạch mua sắm,phát triển cơ sở vật chất giáo dục nhà trường là khai thác, phân bổ, sử dụngcác nguồn tài chính hợp lý, có hiệu quả Nội dung quy hoạch, phát triển cơ sơvật chất giáo dục của nhà trường phải căn cứ vào nguồn tài chính hiện có vàcác nguồn có thể khai thác được
1.2.2 Quản lý sử dụng cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non
Nội dung này nhằm thực hiện chức năng tổ chức của quản lý giáo dụcnhà trường Về thực chất là quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồnnhân lực của nhà trường trong xây dựng và sử dụng cơ sở vật chất vào quátrình giáo dục Đây là nội dung quan trọng nhất của quản lý cơ sở vật chấtgiáo dục Bởi vì dù cho máy móc, thiết bị, nhà của có hiện đại đến mấy nhưngcon người không biết quản lý, sử dụng thì cũng không có tác dụng gì
Vấn đề quan trọng nhất trong quản lý nhân lực là tổ chức lực lượng, bồi
Trang 26dưỡng lực lượng về kiến thức, năng lực khai thác sử dụng cơ sở vật chất giáodục của nhà trường Đó là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, trách nhiệmquyền hạn và các nguồn lực cho các tổ chức, các thành viên của nhà trường,hướng dẫn để họ có thể đạt được mục tiêu là quản lý sử dụng cơ sở vật chấtgiáo dục ở các trường mầm non một cách có hiệu quả nhất
Trước ngày khai giảng năm học cần tổ chức quán triệt cho toàn thể giáoviên nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc thực hiện kế hoạch tăngcường trang bị và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất giáo dục ở các
trường mầm non để mọi thành viên thấy rõ trách nhiệm của mình
Phân công, phân nhiệm thật cụ thể rõ ràng, bố trí người phụ trách côngtác quản lý cơ sở vật chất giáo dục phù hợp với quy mô của từng trường
1.2.3 Quản lý số lượng, chất lượng, tính năng và thông tin về các loại hình cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non
Nội dung này nhằm quản lý cơ sở vật chất giáo dục của các trường mầm
non với tư cách là nguồn vật lực như một công cụ, một phương tiện để thực hiệncác mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường Tức là, tổ chức sử dụng đúngmục đích, mục tiêu giáo dục của nhà trường; khai thác hết tính năng của từng loạihình; nắm chắc thông tin về tính năng tác dụng của từng loại hình cụ thể
Quản lý nhà trường cần phân nhóm các loại cơ sở vật chất giáo dục ở cáctrường mầm non thành những nhóm với những tính năng khác nhau, nắm được sốlượng, chất lượng của từng nhóm Trên cơ sở đó xác định mục đích, mục tiêu sửdụng của từng nhóm, lựa chọn nhóm nào vào mục đích gì cho thích hợp
Nhóm cơ sở hạ tầng như: Đất đai, nhà cửa, phòng học, cầu cống, đường
sá, ao hồ, bể bơi, sân vận động, nhà thể thao…
Nhóm các công trình ngoại thất như: sân chơi, vườn hoa cây cảnh, đài
kỷ niệm
Nhóm thiết bị trường học bao gồm: Thiết bị dạy học; trang bị nội thất.Quản lý tính năng của từng nhóm cơ sở vật chất giáo dục ở các trường
Trang 27mầm non Từ đó xác định tính năng của từng nhóm đối với quá trình giáo dụctrong nhà trường
Quản lý thông tin của từng nhóm cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầmnon là nắm thông tin về tính năng, tác dụng, ưu điểm, nhược điểm của từng nhóm
cơ sở vật chất giáo dục phục vụ nghiệm vụ giáo dục trẻ mầm non ở các trườngmầm non
1.2.4 Quản lý khai thác và bảo quản cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non
Nội dung này nhằm thực hiện chức năng điều khiển trong quản lý giáo dục.Trong quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất giáo dục ở cáctrường mầm non phải hướng vào thực hiện mục tiêu giáo dục; phải tuân thủ theophương pháp, hình thức tổ chức và quy trình kỹ thuật chặt chẽ, nghiêm ngặt
Trong quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất giáo dục ởcác trường mầm non phải bám sát sự vận động của thực tiễn, kịp thời phát hiện và
xử lý các tình huống nảy sinh
Trong quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất giáo dục ởcác trường mầm non phải linh hoạt, sáng tạo, kết hợp sử dụng với bảo dưỡngđúng quy trình, tích cực cải tiến, đổi mới phương pháp và hình thức, không ngừngnâng cao hiệu quả sử dụng
1.2.5 Kiểm tra, đánh giá cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non
Đây là nội dung nhằm thực hiện chức năng kiểm tra trong quản lý giáodục nhà trường Tùy theo điều kiện cụ thể mà tiến hành kiểm tra toàn diện cơ
sở vật chất trường học hay chỉ kiểm tra thiết bị dạy học, giáo dục
Kiểm tra toàn diện cơ sở vật chất giáo dục nhà trường là kiểm tra tất cảcác nhóm cơ sở vật chất giáo dục hiện có, từ cơ sở hạ tầng đến các công trìnhngoại thất và thiết bị dạy học Loại hình kiểm tra này được thực hiện theođịnh kỳ hàng năm
Trang 28Kiểm tra cơ sở vật chất giáo dục bao gồm kiểm tra việc quản lý và sử
dụng các phương tiện kỹ thuật, thiết bị giáo dục và dạy học theo các mục qui
định Ở chức năng này có 3 yêu cầu: đánh giá, phát hiện và điều chỉnh
Kiểm tra việc mua sắm cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, thiết bị
giáo dục và dạy học đã ghi trong kế hoạch, xác định chất lượng, lắp đặt và
cho vận hành thử
Kiểm tra, nhắc nhở đôn đốc giáo viên tự làm phương tiện kỹ thuật,
thiết bị giáo dục và dạy học đã ghi trong kế hoạch
Kiểm tra đánh giá giáo viên sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất giáo
dục, phương tiện kỹ thuật, thiết bị giáo dục và dạy học
Về công tác chuẩn bị: Kế hoạch sử dụng, thời gian, sử dụng thử để biết tình
trạng của cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, thiết bị giáo dục và dạy học, cácphương án dự phòng hoặc thay thế
Về việc sử dụng: Có đúng mục đích không? Có đúng quy trình kỹ thuật
không? Đúng phương pháp không? Đảm bảo an toàn khi sử dụng và các biệnpháp xử lý khi có tình huống xảy ra không? Số tiết học có sử dụng đúng so với
kế hoạch đã đề ra không?
Về việc bảo quản: Cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non và
chế độ bảo quản
Hàng năm phải tiến hành kiểm kê cơ sở vật chất giáo dục theo đúng quy
định của Nhà nước về công tác quản lý tài sản Việc kiểm kê bất thường cơ sở vật
chất nhà trường được tiến hành trong những trường hợp thay đổi Hiệu trưởng
hoặc người phụ trách công tác quản lý cơ sở vật chất giáo dục
1.3 Những yếu tố tác động đến quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Trang 29TƯ của BCHTW lần thứ 9, khóa XI, toàn ngành giáo dục đang quyết tâmchuyển mạnh sang mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất của người học,tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Một trong những giảipháp đó là đột phá vào các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân nóichung và các trường mầm non nói riêng là cần phải đầu tư cơ sở vật chất giáodục, phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại đáp ứng nhu cầu đổi mới cách dạycủa giáo viên và cách họa của học sinh Chất lượng hiệu quả giáo dục phụthuộc vào nhiều yếu tố tronng đó diều kiện kinh tế, cơ sở vật chất, tài chính là
mộ nhân tố không thể thiếu trong phát triển nhà trường, đầu tư, mua sắmphương tiện, thiết bị trường học Điều đó đã làm xuất hiện những thời cơmới, thách thức mới, đặt ra những yêu cầu mới về quản lý phát triển cơ sở vậtchất giáo dục mầm non như thế nào cho hiệu quả là vấn đề đặt ra cho cáctrường mầm non nói chung và các trường mầm non ở quận Ba Đình , thành phố
hà Nội nói riêng
* Tác động bởi chủ trương, chính sách của chính quyền địa phương trong phát triển cơ sở vật chất giáo dục mầm non
Sự quan tâm của lãnh đạo Đảng và Chính quyền địa phương và các cơquan hữu quan đến hệ thống trường mầm non và cơ sở vật chất giáo dục Sự quantâm đó có tác động về các mặt tài chính, đất đai cũng như phát huy vai trò của cáctrường mầm non trong các hoạt động tại địa phương Chính quyền địa phương là cơ
Trang 30quan quản lý hành chính nhà nước đối với các trường mầm non trên địa bàn Quản
lý của phòng giáo dục và sở giáo dục là quản lý ngành, mọi hoạt động của ngànhchỉ có thể đạt được chất lượng, hiệu quả khi có sự phối hợp thống nhất, đồng bộ vớiquản lý của chính quyền địa phương
* Tác động từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa giáo dục của đất nước và địa phương
Phát triển giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa giáo dục trong
đó có giáo dục mầm non là hai mặt luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau,tác động qua lại lẫn nhau, quy định lẫn nhau Một trong những quy luật củagiáo dục là sự phát triển của giáo dục chịu sự tác động của điều kiện kinh tế -
xã hội Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội những năm qua đã làm gia tăngdân số ở các trung tâm kinh tế, văn hóa lớn Kéo theo đó là nhu cầu mới về sốlượng, chất lượng giáo dục mầm non Đây là một áp lực đặt ra cho các cơquan quản lý nhà nước về giáo dục trong giáo dục và đào tạo trong đó có vấn
đề đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật cho các trườngmầm non ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tương ứng với tốc độ phát triểnkinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội hiện nay
1.3.2 Các nhân tố chủ quan
Quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non chịu sự tác động củanhiều nhân tố, bao gồm các nhân tố chủ quan, khách quan, các nhân tố bên trong,bên ngoài ngành, các nhân tố xã hội Trong đó, các nhân tố chủ quan thuộc về độingũ giáo viên, nhân viên và đội ngũ CBQL và các điều kiện đảm bảo
* Tác động từ phẩm chất, năng lực quản lý của CBQL nhà trường mầm non
Cán bộ quản lý có vai trò rất quan trọng trong quản lý cơ sở vật chấtgiáo dục mầm non CBQL phải có trình độ năng lực, có tầm nhìn về quản lýgiáo dục, có sự am hiểu chuyên môn thì mới có thể xây dựng được kế hoạch,
tổ chức thực hiện kế hoạch, lãnh đạo chỉ đạo và kiểm tra đậy thuộc về chức
Trang 31năng cơ bản của Hiệu trưởng các trường mầm non Phẩm chất, năng lực củađội ngũ CBQL chuyên trách về mầm non, trong đó có tầm nhìn chiến lược,khả năng đoàn kết, tạo lập sự đồng thuận giữa các đơn vị và cá nhân trong cácnhà trường mầm non với các cơ quan, các ngành, các cấp có liên quan để thựchiện mục tiêu chung; sự nhạy bén của đội ngũ lãnh đạo và quản lý trong việcđổi mới quản lý phù hợp với môi trường giáo dục mầm non thường xuyênbiến động phát triển của khoa học công nghê, cộng nghệ thông và các phươngtiện cơ sở vật chất giáo dục mầm non
* Thực trạng cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non tác động đến thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non
Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ hiện đại,đòi hỏi phải thường xuyên bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên thích ứng với cácphương tiện công nghệ mới Đặc biệt đối với các nhà trường mầm non, cơ sởvật chất giáo dục vừa là điều kiện, vừa là phương tiện học cụ không thể thiếu.Chất lượng, kết quả của hoạt động giáo dục mầm non bị chi phối rất lớn bởiđiều kiện đảm bảo về vật chất, phương tiện, đồ dùng dạy học, giáo dục Nếu
có sự đầu tư tốt, quản lý và sử dụng hiệu quả sẽ tác động tích cực đến chấtlượng giáo dục nhân cách trẻ mầm non và ngược lại nó sẽ kìm hãm sự pháttriển khi cơ sở vật chất giáo dục mầm non đầu tư nghèo nàn và lạc hậu, sửdụng không hiệu quả thuộc về trình độ giáo viên, nhân viên và trách nhiệmcủa Hiệu trưởng
* Tác động từ kinh nghiệm quản lý cơ sở vật chất giáo dục mầm non ở các trường mầm non.
Kinh nghiệm thực tiễn quản lý cơ sở vật chất giáo dục mầm non có tácđộng lớn tới hoạt động giáo dục của giáo viên mầm non, góp phần nâng caochất lượng đội ngũ GVMN Nhà trường mầm non là môi trường sư phạm trựctiếp tác động đến động cơ, niềm tin, ý chí và sự đam mê nghề nghiệp của từnggiáo viên Trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, bản lĩnh nghề
Trang 32nghiệp của người giáo viên phụ thuộc rất nhiều vào sự trải nghiệm thực tiễncủa chính họ và kinh nghiệm thực tiễn của nhà trường Nhà trường cần phảibiết khai thác, sử dụng kinh nghiệm thực tiễn đó trong quản lý cơ sở vật chấtgiáo dục mầm non để thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục ở bậc học này
*
* *Chương 1 luận văn đã khẳng định quản lý cơ sở vật chất giáo dụctrường mầm non là những tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý ở cáctrường mầm non đến những đối tượng quản lý có liên quan đến lĩnh vực cơ sở vậtchất giáo dục, nhằm làm cho các hoạt động của nhà trường vận hành đạt tới mụctiêu giáo dục mầm non
Cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non có vai trò rất quantrọng đối với việc nâng cao chất lượng GD-ĐT của các trường mầm non Vìvậy, trong những năm qua các nhà trường mầm non đã luôn quan tâm đếncông tác đầu tư, quy hoạch, phát triển, quản lý, khai thác, sử dụng và đã thuđược nhiều kết quả khả quan đáng trân trọng
Để phát huy vai trò của cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầmnon, thì công tác quản lý thực hiện các chức năng như: tổ chức, chỉ đạo,kiểm tra các khâu, các bước của các chủ thể quản lý là hết sức quan trọng,nhằm đảm bảo cho các cơ sở vật chất giáo dục luôn bảo đảm cả về số lượng
và chất lượng thông qua đầu tư, quy hoạch, xây dựng, khai thác và sử dụngcủa các trường mầm non trên đại bản Quận Việc phát triển cơ sở vật chấttrường học mầm non phải có tính định hướng lâu dài trong tương lai và phảiđược liên tục đầu tư, bổ sung những phương tiện mới, tiên tiến đáp ứng tốtyêu cầu nâng cao chất lượng dạy học và GD-ĐT mầm non hiện nay
Trên cơ sở luận giải sáng tỏ cơ sở lý luận, khái quát nội dung quản lý
cơ sở vật chất ở các trường mầm non, chỉ ra các nhân tố tác động cho phép tácgiả đã tiến hành khảo sát, phân tích đánh giá khách quan thực trạng quản lý cơ
Trang 33sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội,chỉ ra những điểm còn tồn tại, hạn chế và nguyên nhân khuyết điểm trongquản lý cơ sở vật chất giáo dục của các trường mầm non trên địa bàn quận BaĐình, thành phố Hà Nội.
hộ gồm 14 phường, phía Bắc giáp quận Tây Hồ, phía Nam giáp quận Đống
Đa, phía Đông giáp quân Hoàn Kiếm phía Tây giáp quận Cầu giấy Cùng vớithành tựu trong công cuộc đổi mới của đất nước và thủ đô, quận Ba Đình đãđạt được những thành tích to lớn, hàng năm phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kinh
tế xã hội, kinh tế tăng trưởng, y tế, văn hóa, giáo dục được duy trì và cónhững bước phát triển, xây dựng cơ bản và quản lý đô thị có nhiều tiến bộ, anninh quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn biến chuyển tốt, vai trò lãnh đạocủa đảng được nâng cao, hệ thống chính quyền được củng cố, phong trào quầnchúng phát triển tốt
- Số trường công lập : 20 trường
- Chất lượng của trường: Đạt chuẩn Quốc gia: 06 trường, có 14 trườngchưa đạt chuẩn: có nghiều nguyên nhân trong đó cơ sở vật chất và quản lý cơ
sở vật chất cũng là một trong những nguyên nhân chưa đạt chuẩn
Trang 34Hàng năm, các trường mầm non trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố hàNội đã phân chia các lớp học đúng độ tuổi theo quy định gồm có 2 lớp nhà trẻ từ2- 3 tuổi, 2 lớp mẫu giáo bé trẻ từ 3- 4 tuổi, 02 lớp mẫu giáo nhỡ trẻ từ 4 - 5 tuổi
và 02 lớp mẫu giáo lớn trẻ từ 5- 6 tuổi Giáo viên nhà trường thực hiện công tácchăm sóc giáo dục trẻ theo chương trình giáo dục mầm non Lập kế hoạchchăm sóc giáo dục trẻ theo chủ đề, thực hiện nghiêm túc kế hoạch giáo dục 1ngày của trẻ Giáo viên lớp 5 tuổi đã thực hiện tốt chương trình phổ cập giáodục mầm non và bộ chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi Phối hợp tốt với phụhuynh để đánh giá trẻ theo bộ chuẩn và chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ để chuẩn bị
đi học lớp 1
Các trường mầm non tổ chức cho 100% trẻ được tổ chức ăn bán trú tạitrường và học 2 buổi/ngày Giáo viên nhà trường quản lý trẻ về mọi mặt trongthời gian trẻ ở trường Phân công giáo viên trong lớp phụ trách quản lý trẻtheo nhóm ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoạt động Có sổ theo dõi ghi nhật ký trẻhàng ngày Có phiếu theo dõi đánh giá sự phát triển của trẻ cuối năm họcGiáo viên nhiệt tình chăm sóc trẻ chu đáo, nhẹ nhàng, ân cần đối với trẻ,luôn gần gũi, quan tâm, đối xử công bằng với trẻ, lắng nghe và đáp ứng nhucầu của trẻ kịp Đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ Bình quân mỗi trường mầm non trên đại bàn quận có tổng diện tích đấtlà: 105.000m2; bình quân 2.7 m2/1 trẻ Các công trình của trường được xâydựng kiên cố Có 8/8 phòng học xây dựng kiên cố
Các trường mầm non trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố hà Nội đều cócổng và biển tên trường đúng theo qui định tại Điều lệ trường mầm non, khuônviên của trường có tường bao quanh Trường được xây dựng ở phố trung tâmthuận lợi cho trẻ đến trường, đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường
Trong trường có nguồn nước sạch, hệ thống ga, cống thoát nước ngầmđảm bảo an toàn và hợp vệ sinh Hệ thống cống rãnh nhà trường thường
Trang 35xuyên được khai thông đảm bảo vệ sinh môi trường Sân chơi của trường códiện tích 220 m2
Các trường đã thiết kế vườn cây dành riêng cho trẻ chăm sóc, có nhiềuloại cây hoa, cây cảnh được trồng trong bồn rất khoa học Giáo viên thườngxuyên tổ chức cho trẻ gieo hạt, trồng cây, hướng dẫn trẻ chăm sóc, quan sátkhám phá, trải nghiệm về các loại cây
Sân chơi được lát gạch sạch sẽ, được trang bị 16 loại đồ chơi ngoài trời,đầy đủ các loại đồ chơi cho trẻ vui chơi
Các phòng học của các trường được thiết kế hệ thống cửa đảm bảo đủánh sáng, thoáng mát, nền được lát gạch men, được lắp điều hòa nhiệt độ.Diện tích trung bình mỗi lớp học từ 55 - 60 m2, diện tích trung bình cho mộttrẻ 2,7m2 Các phòng học được trang bị hệ thống đèn chống cận, có đủ số bànghế/số học sinh đúng theo quy định của từng độ tuổi Mỗi lớp học đều có giá
kệ đựng đồ dùng đồ chơi, được trang trí tranh ảnh, bảng mở, cây xanh phùhợp với từng chủ điểm đang thực hiện, phù hợp với từng lứa tuổi, tạo môitrường thân thiện kích thích trẻ hoạt động Có đầy đủ đồ dùng, đồ chơi, thiết
bị theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Phòng sinh hoạt chung được dùng làm phòng ngủ cho trẻ, thoáng mát về mùa
hè, ấm áp về mùa đông, yên tĩnh Có đầy đủ các đồ dùng phục vụ cho trẻ ngủ nhưchăn, chiếu, đệm, xốp trải nền, rèm che, quạt mát, điều hòa hai chiều
Các lớp có hiên chơi phía trước và phía sau, các trường mầm non đều cóphòng giáo dục thể chất, phòng giáo dục nghệ thuật và có các phòng chức năng Các trường mầm non đều có bếp ăn, diện tích 80,5m được bố trí, sắp xếptheo quy trình vận hành bếp một chiều, có đủ các thiết bị hiện đại, đồ dùngbằng inox hợp vệ sinh Có kho thực phẩm của trẻ riêng biệt đảm bảo vệ sinhđược bố trí, sắp xếp khoa học Có tủ lạnh lưu mẫu thức ăn hàng ngày Có khurửa, vệ sinh các đồ dùng ăn uống hàng ngày cho trẻ, có tủ sấy bát tiệt trùngtrước khi cho trẻ sử dụng có thang máy vận chuyển
Trang 36Các phòng học đều được thiết kế, xây dựng phòng vệ sinh khép kín códiện tích trung bình 15,5m2/45 trẻ/lớp, đạt 0,55 m2/trẻ, có vách ngăn lửng
thuận tiện cho trẻ vệ sinh rửa tay hàng ngày, có lắp đặt bình nước nóng để vệsinh cho trẻ kịp thời và rửa tay nước ấm trong những ngày trời lạnh đảm bảosức khỏe cho trẻ Các trường mầm non đều có nhà vệ sinh riêng cho giáoviên, nhân viên tại các tầng có lắp các trang thiết bị phù hợp
Các trường mầm non đều có phòng hội đồng diện tích 50m2, có đủ bànghế, hệ thống loa, đài phục vụ cho hội họp Chưa có phòng sinh hoạt chuyênmôn Phòng Hiệu trưởng có diện tích 18m2 đầy đủ các phương tiện làm việc
và bàn ghế tiếp khách Phòng phó hiệu trưởng có diện tích 23m2 có bàn, máytính làm việc Phòng kế toán có diện tích 16,5m2, có máy tính và phương tiệnlàm việc cho kế toán Phòng y tế có diện tích 20m2
Phòng y tế có diện tích 20m2 có đủ các trang thiết bị y tế và đồ dùng theodõi sức khỏe trẻ, có tủ thuốc với đầy đủ các cơ số thuốc thông thường, cógiường bạt, gối, chăn cho trẻ nằm khi bị bệnh hoặc mệt mỏi Có bảng tuyêntruyền, cân đồng hồ, chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng, trẻ béo phì và phòng cácdịch bệnh cho trẻ
Các trường mầm non có đủ thiết bị, đồ dùng đồ chơi cá nhân theo danh mụcquy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Hàng năm bằng công tác tham mưu vàcông tác xã hội hóa nhà trường đã trang bị được cho các lớp nhiều trang thiết bịhiện đại để phục vụ công tác chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn: Ti vi màn hìnhphẳng 40 inch, máy tính để bàn, máy tính xách tay Toàn bộ thiết bị đồ dùng
đồ chơi được đưa vào sử dụng có hiệu quả trong các hoạt động học tập và vuichơi cho trẻ
Ngoài các thiết bị đồ dùng đồ chơi theo danh mục giáo viên còn tích cựclàm và hướng dẫn học sinh tự làm đồ dùng đồ chơi để học rất phong phú và
Trang 37đa dạng Tất cả đồ dùng tự tạo đều đảm bảo tính khoa học, an toàn, phù hợpvới từng hoạt động giáo dục và từng độ tuổi Tuy nhiên các đồ dùng tự làmthường đơn giản không có giá trị sử dụng cao
Hàng năm, nhà trường luôn có kế hoạch mua sắm đồ dùng trang thiết bịcho từng nhóm lớp sử dụng và bảo quản Có kế hoạch bảo quản, sửa chữa,thay thế, bổ sung các thiết bị, đồ dùng, đồ chơi cho toàn bộ các nhóm lớptrong nhà trường
Đánh giá kiểm định chất lượng các trường mầm non đã đạt được kết quảtrên các lĩnh vực Hội đồng tự đánh giá đã phân tích những mặt mạnh, nhữngđiểm yếu của trường để đưa ra kế hoạch cải tiến chất lượng nhằm nâng caochất lượng nhà trường trong những năm học tiếp theo Về cơ bản: Nhà trường
có diện tích nhỏ hẹp, cơ sở vật chất trang thiết bị đồng bộ, có khung cảnh sưphạm xanh, sạch, đẹp luôn thân thiện, gần gũi với trẻ
- Các trường mầm non trên địa bàn quận có đội ngũ cán bộ quản lý, giáoviên, nhân viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn, có phẩmchất đạo đức nhà giáo, có lối sống lành mạnh, chấp hành tốt chủ trươngđường lối của Đảng, pháp luật nhà nước, nội quy quy chế cơ quan
- Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên yêu nghề mến trẻ, nhiệttình, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, linhhoạt sáng tạo trong thực hiện chương trình CSGD trẻ, luôn hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao Có giáo viên đạt thành tích trong các hội thi của Quận
- Các tổ chức: Chi bộ Đảng - Công Đoàn - Tổ chuyên môn - Đoàn ThanhNiên luôn phối hợp chặt chẽ và phát huy quyền dân chủ Chăm lo đời sốngvật chất, đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm cho đội ngũ Xây dựng khối đoànkết thống nhất trong nhà trường Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
- Các trường làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, tích cực tham mưuvới các cấp lãnh đạo, tuyên truyền vận động phụ huynh để trang bị được
Trang 38nhiều cơ sở vật chất cho trường ngày càng đầy đủ, đồng bộ phần nào đáp ứngđược yêu cầu nhiệm vụ đổi mới hiện nay
+ Mộ số trường đạt danh hiệu trường tiên tiến liên tục nhiều năm
+ Công đoàn các trường mầm non được Liên đoàn lao động Quận BaĐình tặng giấy khen công đoàn vững mạnh
+ Về cá nhân: Có 1đ/c nguyên Hiệu trưởng của trường được Bộ trưởngNguyễn Thiện Nhân tặng bằng khen có giáo viên đạt giỏi cấp Thành phố vàgiáo viên đạt giỏi cấp Quận, có 2 giáo viên đạt 1 giải ba hội thi đồ dùng đồchơi sáng tạo cấp quận năm học 2014-2015 Có 1 đ/c Cán bộ quản lý đạtChiến sĩ thi đua, 1 giáo viên đạt giải khuyến khích thi CNTT cấp Quận
Việc đánh giá, xếp loại giáo viên hàng năm được nhà trường thực hiệnnghiêm túc theo đúng các văn bản hướng dẫn, đúng định kỳ theo văn bản BộGD&ĐT ban hành Kết quả đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp giáoviên hàng năm có 100% xếp loại xuất sắc và khá, không có giáo viên xếp loạitrung bình và kém
Năm học 2014- 2015 các trường trên địa bàn quận có từ 5% số giáoviên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp Thành phố, 15% giáo viênđạt danh hiệugiáo viên giỏi cấp Quận
Trong suốt những năm qua, giáo viên luôn được nhà trường bảo đảmcác quyền theo quy định tại Điều 37, Điều lệ trường mầm non giáo viên banhành tại văn bản hợp nhất số 05/VBHN-BGDĐT Giáo viên các trường mmafnon trên địa bàn quận Ba Đình được đảm bảo các điều kiện để thực hiệnnhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ Đó là những điều kiện về cơ sở vật chất(phòng, lớp, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi phục vụ chăm sóc giáo dục trẻ),những đồ dùng cá nhân (quần áo đồng phục, mũ, tạp dề, khẩu trang) Giáoviên trong các trường được quan tâm tạo điều kiện tham gia các lớp học đàotạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Các trường đãthường xuyên cử các đồng chí giáo viên đi học các lớp học nâng cao trình độ
Trang 39chuyên môn, nghiệp vụ do nhà trường và các cấp tổ chức Giáo viên được bảo
vệ nhân phẩm, danh dự, được hưởng mọi quyền lợi về vật chất và tinh thầntheo quy định của pháp luật Nhà trường luôn quan tâm, chăm lo đến đời sốngcủa giáo viên đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho cá nhân và tập thể.Nghiêm túc thực hiện tốt các chế độ tăng lương, nghỉ chế độ, các chế độ bảohiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thai sản, ốm đau, nghỉ hè, khám sức khỏe theođịnh kì kịp thời Bên cạnh đó, hàng năm chính quyền phối kết hợp chặt chẽvới công đoàn tổ chức cho giáo viên được tham quan, dã ngoại trong các dịpđầu xuân mới, hè nhằm động viên tinh thần cho anh chị em Không có một
trường hợp vi phạm xúc phạm nhân phẩm, danh dự giáo viên nào xảy ra.
2.2 Thực trạng cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
2.2.1 Phương pháp tổ chức nghiên cứu thực trạng
Để nghiên cứu thực trạng cơ sở vật chất giáo dục và thực trạng quản lý
cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố HàNội, tác giả luận văn đã sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thựctiễn giáo dục và các phương pháp sử dụng toán học Trong đó, các phươngpháp quan sát được sử dụng để quan sát thực trạng cơ sở vật chất giáo dục vàthực trạng quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non Phươngpháp phỏng vấn sâu được sử dụng để phỏng vấn cán bộ lãnh đạo nhà trườngmầm non Trong luận văn được sử dụng phổ biến phương pháp điều tra bằngphiếu hỏi để trưng cầu ý kiến về thực trạng cơ sở vật chất giáo dục và thựctrạng quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non
Đề tài sử dụng 2 mẫu phiếu điều tra Mẫu 1, dùng cho điều tra thựctrạng cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non Mẫu 2 dùng cho điều trathực trạng quản lý cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non
Trang 40Đối tượng điều tra gồm 85 người Trong đó có 75 cán bộ quản lý vàgiáo viên của 5 trường mầm non, 10 cán bộ của phòng giáo dục quận BaĐình Có nội dung chỉ điều tra 75 cán bộ, giáo viên trong 5 trường mầm non.
Thời gian tiến hành điều tra nghiên cứu thực trạng từ tháng 1 đến tháng
5 năm 2016 Kết quả điều tra được xử lý đúc kết thành bảng số liệu để minhhọa cho các nhận xét, kết luận rút ra
2.2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Bằng phương pháp quan sát và nghiên cứu thực tiễn, có thể nhận định chung
là các nhà trường đã quan tâm xây dựng, phát triển cơ sở vật chất giáo dục ở cáctrường mầm non Qua trò chuyện với giáo viên, có nhiều giáo viên cho rằng, ở bậchọc mầm non, cơ sở vật chất vừa là đồ dùng, vừa có tác dụng giáo dục cho họcsinh Từ cách bố chí nhà cửa, trường lớp, cảnh quan, môi trường, vị trí sân chơi, đồchơi đều có tác dụng giáo dục khá lớn
Kết quả điều tra bằng phiếu hỏi đối với 75 cán bộ, giáo viên của 5 trườngmầm non về vấn đề này được tổng hợp trong bảng 2.1 sau đây:
Bảng 2.1 Kết quả điều tra thực trạng cơ sở vật chất giáo dục ở các trường mầm
non quận Ba Đình, thành phố Hà Nội