1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ NĂNG lực LÃNH đạo của tổ CHỨC ĐẢNG cơ sở ở ĐẢNG bộ KHỐI dân CHÍNH ĐẢNG TỈNH cà MAU HIỆN NAY

112 429 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) là nền tảng của Đảng; xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh (TSVM) là nội dung cơ bản, xuyên suốt của công tác xây dựng Đảng, trong đó vấn đề cốt lõi nhất là nâng cao năng lực lãnh đạo (NLLĐ) của TCCSĐ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị. NLLĐ của tổ chức đảng là thước đo sự TSVM của mỗi tổ chức đảng, là kết quả tất yếu, tổng hợp của toàn bộ công tác xây dựng Đảng, đồng thời là điều kiện để tiến hành có hiệu quả công tác xây dựng Đảng.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) là nền tảng của Đảng; xây dựng TCCSĐtrong sạch, vững mạnh (TSVM) là nội dung cơ bản, xuyên suốt của công tácxây dựng Đảng, trong đó vấn đề cốt lõi nhất là nâng cao năng lực lãnh đạo(NLLĐ) của TCCSĐ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị NLLĐ của tổ chứcđảng là thước đo sự TSVM của mỗi tổ chức đảng, là kết quả tất yếu, tổng hợpcủa toàn bộ công tác xây dựng Đảng, đồng thời là điều kiện để tiến hành cóhiệu quả công tác xây dựng Đảng

Tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối dân chính đảng (ĐBKDCĐ)tỉnh Cà Mau hiện nay có vị trí, vai trò rất quan trọng; sự lãnh đạo của cácTCCSĐ là nhân tố quyết định đến việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trịcủa từng cơ quan, đơn vị NLLĐ là điều kiện quyết định hiệu lực, hiệu quảhoạt động của các TCCSĐ

Những năm qua, quán triệt thực hiện chủ trương, nghị quyết, chỉ thị củaĐảng về công tác xây dựng đảng, các TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

đã giữ vững và thực sự phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo cơquan, đơn vị thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp uỷ cấp trên; thực hiện có hiệuquả nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn; xây dựng và thực hiện nghiêmquy chế dân chủ ở cơ sở; công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ đượcchăm lo; đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở tăng về số lượng, trình độ, kiếnthức, năng lực hoạt động thực tiễn ngày càng được nâng lên

Tuy nhiên, NLLĐ của TCCSĐ có mặt còn hạn chế, chưa đáp ứng đượcyêu cầu, nhiệm vụ: Một số TCCSĐ chưa nhận thức đầy đủ và thực hiện đúngchức năng, nhiệm vụ theo quy định; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rènluyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, trình độ kiến thức mọi mặt cho cán bộ,

Trang 2

đảng viên chưa được quan tâm đúng mức; năng lực vận dụng và cụ thể hóathực hiện các chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhànước vào thực tiễn còn hạn chế Một số TCCSĐ chưa duy trì chế độ sinh hoạttheo quy định, nội dung, hình thức chậm đổi mới; chưa chú trọng đổi mớiphương thức lãnh đạo Việc đánh giá phân tích chất lượng TCCSĐ và đảngviên hằng năm có nơi còn hình thức, kết quả chưa phản ánh đúng thực chất.Công tác kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên, phát triển đảng viên có nơicòn buông lỏng Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ýchí phấn đấu, vi phạm nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dânchủ, tự phê bình và phê bình.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên cho thấy, NLLĐ của TCCSĐ thuộcĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng bộtỉnh, nhất là những yêu cầu mới đặt ra trong công tác xây dựng, chỉnh đốnĐảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xâydựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XII) “về tăng cườngxây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chínhtrị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong

nội bộ” Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: “Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối dân chính đảng tỉnh Cà Mau hiện nay” làm đề tài nghiên cứu là sự cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Năng lực lãnh đạo và nâng cao NLLĐ của TCCSĐ đã được trình bàytrong các văn kiện, nghị quyết của Đảng qua các nhiệm kỳ, nghị quyết củacác cấp uỷ đảng, các bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo và được nhiềunhà khoa học, cơ quan chức năng, học viện, trường học quan tâm nghiên cứudưới nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau Trong đó, có một số công trình nghiêncứu tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề tài:

Trang 3

* Sách tham khảo

Ban Tuyên giáo Trung ương, Tài liệu bồi dưỡng công tác Đảng cho bí thư chi bộ và cấp uỷ viên cơ sở, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2007 Hội đồng lý luận Trung ương, những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội, 2008 Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, Giáo trình Công tác Xây dựng Đảng, Nxb CTQG, Hà Nội,

2004 Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II, Đề cương bài giảng Xây dựng Đảng, Nxb CTHC, Hà Nội, 2012 Tổng cục Chính trị, Giáo trình Công tác đảng, công tác chính trị, Nxb QĐND, Hà Nội, 2008 Ban Chấp hành Trung ương, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986- 2016), Nxb CTQG, Hà Nội, 2015 PGS,TS Đào Duy Quát, PGS,TS Phạm Văn Linh (chủ biên), Hỏi đáp nghiệp vụ công tác đảng dành cho bí thư chi bộ

và cấp ủy viên cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Ban Tổ chức Tỉnh ủy Cà Mau, Tài liệu tập huấn nghiệp vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng, Cà Mau, 2013 Đảng bộ tỉnh Cà Mau, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng

bộ tỉnh Cà Mau khoá XIV, nhiệm kỳ 2015 - 2020, năm 2015

Các công trình sách khoa học đã nghiên cứu, luận giải những quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta về xâydựng Đảng, chính quyền Nhà nước Nhiều công trình xác định, luận bàn vềcông tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảngđối với hệ thống chính trị Những công trình khoa học này đều cho rằng việccông tác xây dựng Đảng, củng cố nâng cao chất lượng TCCSĐ, đổi mới nộidung, phương thức hoạt động của Đảng phù hợp với tình hình là vấn đề rấtquan trọng hiện nay

* Đề tài khoa học

Trần Ngọc Sơn (chủ nhiệm đề tài), “Nâng cao NLLĐ và sức chiến đấu (SCĐ) của các TCCSĐ trong quân đội đảm bảo xây dựng quân đội vững mạnh

Trang 4

về chính trị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống”, đề tài cấp Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 1998 Đỗ Đức Tuệ (chủ nhiệm đề tài), “Xây dựng TCCSĐ TSVM gắn với xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện trong giai đoạn mới”, đề tài cấp Tổng cục Chính trị, Hà Nội, 2000 Nguyễn Tiến Phồn (chủ nhiệm đề tài), “Dân chủ và tập trung dân chủ, lý luận và thực tiễn”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001 Lê Văn Dương (chủ nhiệm đề tài), “Nâng cao NLLĐ và SCĐ của các tổ chức đảng trong quân đội, bảo đảm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống”, đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 2000.

* Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ:

Phạm Văn Thắng, “Nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng bộ Quân đội hiện nay”, Luận án phó tiến sĩ Khoa học lịch sử, Hà Nội, 1994 Đặng Thế Vinh, “Nâng cao chất lượng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của đảng uỷ cơ sở các đơn vị chiến đấu binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai hiện nay”, Luận án tiến

sĩ lịch sử, Hà Nội, 2003 Cao Xuân Thưởng, “Nâng cao NLLĐ và SCĐ của các TCCSĐ ở các trung đoàn không quân chiến đấu hiện nay”, Luận án tiến sĩ

chuyên ngành xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Quân sự, Hà Nội, 2001

Vũ Quang Sơn, “Nâng cao chất lượng lãnh đạo của chi bộ khoa giáo viên ở Học viện Quốc phòng hiện nay”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội, 2002 Mạc Văn Thuận, “Xây dựng đảng uỷ trung đoàn bộ binh đủ quân trong sạch vững mạnh ở các binh đoàn chủ lực hiện nay”, Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, Hà Nội, 2000 Cấn Văn Phong, “Nâng cao sức chiến đấu của TCCSĐ đơn vị học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 hiện nay”, Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Quân sự, Hà Nội, 2000 Lê Đình Nhuê, “Nâng cao NLLĐ của TCCSĐ ở các cơ quan thuộc Đảng bộ Học viện Hậu cần hiện nay”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng, Học viện Chính trị -

Trang 5

Quân sự, Hà Nội, 2000 Hoàng Bằng, “Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ ở các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Quân sự, Hà Nội, 2004 Trần Văn Dũng, “Nâng cao NLLĐ của chi bộ lớp học viên đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu cấp chiến thuật, chiến dịch ở Đảng bộ Học viện Lục quân hiện nay”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội, 2010 Nguyễn Văn Thắng, Đổi mới phong cách lãnh đạo cấp ủy cơ sở Trường sỹ quan lục quân II hiện nay, Luận văn thạc sỹ, chuyên

ngành xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Học viện Chính trị, 2011

Phạm Minh Sơn, Nâng cao chất lượng hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng

ở các cơ quan thuộc Trường sỹ quan chức cơ sở đảng ở các cơ Chính trị hiện nay, Luận văn thạc sỹ, chuyên ngành xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Học viện Chính trị, 2012 Lại Hà Phương, Nâng cao Năng lực lãnh đạo của Đảng ủy các phường thuộc Đảng bộ quận Hà Đông – thành phố Hà Nội,

Luận văn thạc sỹ, chuyên ngành xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước,Học viện Chính trị, 2014

Các đề tài khoa học, luận án, luận văn nói trên đã đi sâu nghiên cứunhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàquan điểm của Đảng ta về công tác xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ; phântích làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, trong đó đã kháiquát, luận giải làm rõ một số vấn đề về quan niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm,yêu cầu của công tác xây dựng TCCSĐ TSVM trong quân đội nói chung và ởtừng cơ quan, đơn vị nói riêng Một số đề tài tập trung làm rõ quan niệm,những yếu tố cấu thành, biểu hiện đặc trưng cơ bản của NLLĐ và CSĐ củaTCCSĐ ở đơn vị cơ sở trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam Trên cơ

sở đánh giá đúng thực trạng, xác định nguyên nhân, làm rõ những yêu cầu đòihỏi phải nâng cao NLLĐ và SCĐ ở các đơn vị đó, đề xuất một số giải pháp cơbản nhằm nâng cao NLLĐ, CSĐ của TCCSĐ ở các đơn vị cơ sở trong QĐND

Trang 6

* Sách, giáo trình và bài báo khoa học

Lê Văn Dương, “Nâng cao NLLĐ và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới”, Sách, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004 Cuốn sách đã đề cập tới

những đặc điểm, kinh nghiệm, những yếu tố tác động đến hoạt động lãnh đạocủa Đảng trong giai đoạn hiện nay, đề xuất một số giải pháp có tính địnhhướng nhằm từng bước nâng cao NLLĐ, SCĐ của Đảng trong tình hình mới

Giáo trình công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (dùng cho đối tượng đào tạo cán bộ cấp chiến thuật, chiến dịch), Nxb QĐND, Hà Nội, 2008 Chương 6 “Đảng và những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng”, tập trung luận bàn những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng, xây dựng Đảng và các quan điểm, chủtrương, đường lối, giải pháp xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong giaiđoạn mới, công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước Chương 7

“Đặc điểm, vai trò, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền”, tập trung chủ yếu bàn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng

của công tác xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, đồng thời nêu

ra các đặc điểm có tính đặc thù trong giai đoạn cách mạng mới và đề xuất một

số nội dung, phương pháp lãnh đạo cơ bản của Đảng nhằm không ngừng nângcao NLLĐ, SCĐ của Đảng nói chung, các TCCSĐ trong toàn Đảng nói riêng

Trần Duy Hương, “Xây dựng cấp uỷ các cấp TSVM - một yêu cầu cơ bản của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Quân đội”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân số 2/2000, trang 53; “Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ trong giai đoạn hiện nay”, Thông tin chuyên đề phục vụ nghiên cứu, giảng

dạy, lưu hành nội bộ - Viện Thông tin Khoa học, Học viện Chính trị - Hành

chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006 Lê Văn Dũng, “Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ trong quân đội”, Thông tin chuyên đề, Nxb CTQG,

Hà Nội, 2007 Bùi Quang Cường, “Nâng cao NLLĐ SCĐ của TCCSĐ là giải

Trang 7

pháp, yêu cầu cấp bách hiện nay nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương tư (khoá XI) Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 9/2012 Ngô Văn Dụ, Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Tạp chí Cộng sản, số 864/2014 Nguyễn Ngọc Hà, Đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, số 864/2014 Nguyễn Thế Trung, Đảng cầm quyền

và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, Tạp chí Cộng sản, số 869/2015 Lê Thị Thanh, Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Tạp chí Cộng sản, số 98/2015 PGS,TS Nguyễn Thị Thanh, Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thời kỳ hội nhập quốc tế, Tạp chí kiểm

tra, số 5/2012

Các bài báo khoa học đã nghiên cứu làm rõ những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về nângcao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ ở cơ quan Trung ương, trong Đảng bộ Quân đội,trong các loại hình doanh nghiệp, các trường đại học, cao đẳng và ở nông thôn,qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp cụ thểnhằm nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ trong giai đoạn hiện nay

Các đề tài công trình khoa học nêu trên đều có khách thể và đối tượngnghiên cứu riêng Mặc dù có sự giao thoa về nội dung nghiên cứu, nhưng đếnnay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về

NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau Do đó, đề tài “Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối Dân chính

Trang 8

đảng tỉnh Cà Mau hiện nay” là công trình nghiên cứu độc lập, không trùng

lặp với các công trình đã nghiệm thu công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Đề tài có mục đích nghiên cứu lý luận và thực tiễn theo quan điểm củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về TCCSĐ nóichung, về tình hình thực tế nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh

Cà Mau nói riêng, làm cơ sở đề xuất những giải pháp góp phần nâng caoNLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau trong thời gian tới

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích, luận giải làm rõ những cơ sở lý luận về vị trí, vai trò củaTCCSĐ và nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinhnghiệm nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp nâng cao NLLĐ củaTCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau hiện nay làđối tượng nghiên cứu của luận văn

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn, yêu cầu,giải pháp nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau Các

số liệu, tư liệu phục vụ cho đề tài được giới hạn chủ yếu từ 2010 đến nay

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Trang 9

Luận văn được nghiên cứu dựa trên hệ thống những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về Đảng và công tác xây dựng Đảng; các nghị quyết, chỉthị, quy chế, quy định về công tác xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ TSVM,nâng cao NLLĐ và SCĐ của Đảng.

* Cơ sở thực tiễn

Là hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng cấp uỷ, TCCSĐ thuộcĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau; hướng dẫn của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Ban Tổchức Tỉnh uỷ Cà Mau về công tác xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ; cácvăn kiện, nghị quyết, báo cáo sơ kết, tổng kết về công tác xây dựng Đảng; các

số liệu, tư liệu tác giả thu thập được trong quá trình công tác tại ĐBKDCĐtỉnh Cà Mau; đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các côngtrình, đề tài khoa học có liên quan đã được nghiệm thu, công bố

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa họcchính trị, khoa học chuyên ngành và liên ngành, chú trọng các phương pháplôgíc, lịch sử, phân tích, tổng hợp; so sánh, điều tra khảo sát, tổng kết thựctiễn và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận,thực tiễn xây dựng TCCSĐ, cung cấp thêm luận cứ cho Đảng uỷ KDCĐ vàcác TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau xác định chủ trương, biện phápnâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ, tỉnh Cà Mau hiện nay

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ chonghiên cứu giảng dạy môn Xây dựng Đảng ở Trường Chính trị tỉnh và Trungtâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện tỉnh Cà Mau

Trang 10

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm: phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ

ĐẢNG THUỘC ĐẢNG BỘ KHỐI DÂN CHÍNH ĐẢNG TỈNH CÀ MAU 1.1 Năng lực lãnh đạo và những vấn đề cơ bản về nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối dân chính đảng tỉnh Cà Mau

1.1.1 Đảng bộ khối dân chính đảng và năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối dân chính đảng tỉnh Cà Mau

* Khái quát về tỉnh Cà Mau

Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc, thuộc Đồng bằng sông CửuLong và nằm trọn trên bán đảo Cà Mau Phía Bắc giáp với tỉnh Kiên Giang,Bạc Liêu; phía Nam và phía Đông tiếp giáp với Biển Đông; phía Tây giáp vớivịnh Thái Lan Mũi Cà Mau là địa danh cuối cùng cực Nam của Tổ quốc, có

vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị và là vùng đất có ý nghĩa thiêng liêng đốivới nhân dân cả nước

Cà Mau là tỉnh có diện tích vào loại lớn trong vùng (5.329,5 km2), chỉsau tỉnh Kiên Giang; là vùng đất trẻ, mới được khai phá sử dụng, có độ phìnhiêu trung bình khá, hàm lượng chất hữu cơ cao Các tài nguyên đất đai, khíhậu, nguồn nước… tương đối thuận lợi, là tiềm năng lớn để phát triển kinh tếngư - nông - lâm nghiệp, tạo nguồn nguyên liệu để phát triển công nghiệp chếbiến xuất nhập khẩu và du lịch tham quan gắn với du lịch sinh thái, biển đảo

Cà Mau là tỉnh duy nhất trong vùng và cả nước có 3 mặt giáp biển, trảidài từ Biển Đông sang Biển Tây, với bờ biển dài 254 km nằm trong vòng

Trang 11

cung đường biển của nhiều trung tâm phát triển khu vực Đông Nam Á CàMau còn có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt với 33 cửa sông lớn,nhỏ thông ra biển, tổng chiều dài hơn 18.000 km, rất thuận lợi cho việc pháttriển giao thông đường thủy Tỉnh có hai khu rừng ngập nước là rừng tràm UMinh hạ và rừng đước Năm Căn, Ngọc Hiển có giá trị sinh học, kinh tế vàphòng hộ cao Rừng tràm, rừng đước Cà Mau từng là căn cứ địa cách mạngcủa Xứ uỷ Nam Bộ và Khu uỷ khu Tây Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiếnchống quân xâm lược Năm 2009, vùng đất ngập mặn Mũi Cà Mau đượcUNESSCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Cà Mau có 09 đơn vị hành chính cấp huyện (thành phố Cà Mau và 8huyện: Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Cái Nước, Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình,Năm Căn, Phú Tân); có 101 xã, phường, thị trấn, với 949 ấp, khóm Dân sốtrên 1,2 triệu người, với cơ cấu đa dân tộc, trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh,Hoa, Khmer (người Kinh chiếm 97%, còn lại là dân tộc Hoa và dân tộcKhmer) Cà Mau có nhiều tôn giáo và thờ cúng tín ngưỡng dân gian mangtính tâm linh đa dạng, mỗi cơ sở thờ tự lưu giữ nét tính ngưỡng riêng, nhưngvẫn thể hiện tính giao thoa nhất định giữa các tôn giáo Quá trình tạo dựngnên tỉnh Cà Mau cho thấy vùng đất và con người nơi đây được hình thành vàphát triển trên cơ sở khẩn hoang lập nghiệp, chung sức, chung lòng vượt mọikhó khăn, hiệp lực đấu tranh chống mọi kẻ thù, bảo vệ quê hương, đất nước;đồng thời xây dựng nên đời sống văn hóa của người dân trên vùng đất cựcNam của Tổ quốc ngày càng thêm phát triển

* Đảng bộ tỉnh Cà Mau

Đảng bộ tỉnh Cà Mau có 14 đảng bộ trực thuộc (Đảng bộ thành phố CàMau, 8 huyện, 3 đảng bộ lực lượng vũ trang, 1 Đảng bộ khối dân chính đảng

và 1 Đảng bộ khối Doanh nghiệp); có 621 TCCSĐ (221 đảng bộ và 400 chi

bộ cơ sở) và 2.462 đảng bộ, chi bộ bộ phận trực thuộc đảng bộ cơ sở, với

Trang 12

Những năm qua, Đảng bộ và quân, dân tỉnh Cà Mau đã nỗ lực lãnh đạo,

tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng bộ tỉnhnhiệm kỳ 2010-2015 đạt được kết quả khá toàn diện trên các lĩnh vực Kinh tếduy trì tăng trưởng khá, GDP bình quân đạt 8,3%/năm, bình quân đầu ngườinăm 2015 đạt 1.700 USD/người Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 01

tỷ USD, là tỉnh đứng đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu mặt hàng tôm Thungân sách đạt 4.380 tỷ đồng; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều hiện nay còn7,96% Văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội và đời sống của nhândân tiếp tục cải thiện Quốc phòng, an ninh được giữ vững Công tác phòng,chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm có tiến bộ Xây dựng Đảng,xây dựng hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến rõ, NLLĐ và SCĐ củaTCCSĐ không ngừng được nâng lên

Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợithế của tỉnh Kinh tế tăng trưởng khá nhưng chưa bền vững; lĩnh vực văn hoá

- xã hội một số mặt phát triển chưa đạt yêu cầu; trật tự an toàn xã hội có lúcdiễn biến phức tạp NLLĐ, SCĐ của một số cấp uỷ, tổ chức đảng và đảngviên từng lúc, từng nơi còn hạn chế, yếu kém

* Đảng bộ KDCĐ tỉnh Cà Mau

Đảng bộ KDCĐ tỉnh Cà Mau được thành lập sau ngày miền Nam giảiphóng, đến nay đã trải qua nhiều lần tách, nhập và đổi tên cùng với việc kiệntoàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ Tháng4/1977, ĐBKDCĐ giải thể và các TCCSĐ trực thuộc được “tạm thời giao liên

hệ làm việc với Ban Tổ chức Tỉnh uỷ” Tháng 7/1985, Tỉnh uỷ Minh Hảiquyết định thành lập ba ĐB trực thuộc ĐB tỉnh gồm: ĐBKDCĐ, ĐB khối cơquan quản lý Nhà nước và ĐB khối cơ quan quản lý kinh tế Tháng 6/1988, ba

ĐB được sáp nhập lại lấy tên gọi là ĐB khối các cơ quan cấp tỉnh

Ngày 01/01/1997, tỉnh Cà Mau được tái lập, Tỉnh uỷ Cà Mau quyếtđịnh thành lập lại ĐB Khối Doanh nghiệp Tháng 6/2002, hai ĐB này tiếp tục

Trang 13

được sáp nhập và lấy tên gọi là ĐBKDCĐ Tháng 9/2012, ĐB khối Doanhnghiệp được tái lập, ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau hoạt động cho đến nay [12, tr.3,4].

Đảng bộ KDCĐ tỉnh Cà Mau là ĐB cấp trên trực tiếp của TCCSĐ đượcthành lập và hoạt động ở các cơ quan hành chính (sở, ban, ngành, đoàn thể)

và các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh (gọi chung là các cơ quan, đơn vị) trực thuộcBan Chấp hành Đảng bộ tỉnh ĐB hiện có 73 TCCSĐ trực thuộc (gồm 39 ĐB

cơ sở và 34 CB cơ sở), 240 CB bộ phận trực thuộc ĐB cơ sở Phân theo loạihình hoạt động: có 49 ĐB, CB cơ quan và 24 ĐB, CB đơn vị sự nghiệp Đảng

bộ có 3.655 đảng viên (đảng viên nữ 1.049, dân tộc 65, tôn giáo 44)

Năm 2015, trên cơ sở đánh giá chất lượng hoạt động của TCCSĐ, BanThường vụ Đảng uỷ KDCĐ tỉnh Cà Mau đã xếp loại TCCSĐ trực thuộc nhưsau: TCCSĐ đạt tiêu chuẩn TSVM 41 (chiếm 56,16%), hoàn thành tốt nhiệm

vụ 24 (chiếm 32,87%), hoàn thành nhiệm vụ 08 (10,95%) Đảng viên tham giađánh giá năm 2015 có 3.640 đồng chí, trong đó: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

471 (chiếm 12,93%), hoàn thành tốt nhiệm vụ 2.993 (chiếm 82,2%), hoànthành nhiệm vụ 127 (chiếm 3,48%), không hoàn thành nhiệm vụ 16 (chiếm0,43%) [phụ lục 6]

Cơ quan chuyên trách của Đảng uỷ KDCĐ có 05 phòng, ban (BanTuyên giáo Đảng uỷ, Ban Tổ chức Đảng uỷ, Uỷ ban Kiểm tra Đảng uỷ,Vănphòng Đảng uỷ và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khối DCĐ), với 28 cán bộ, côngchức chuyên trách Ban Chấp hành Đảng bộ có 27 đồng chí, Ban Thường vụĐảng uỷ 07 đồng chí (trong đó có: 02 nữ, 01 Bí thư, 02 Phó Bí thư)

Tổng số cấp uỷ cơ sở thuộc ĐBKDCĐ có 527 đồng chí, trong đó có 73đồng chí bí thư, 77 đồng chí phó bí thư và 115 đồng chí uỷ viên ban thường vụđảng uỷ Trình độ chuyên môn: tiến sỹ 07, thạc sỹ 82, đại học 438; trình độ lýluận chính trị: cử nhân 35, cao cấp 308, trung cấp 171 và sơ cấp 13 [phụ lục 3]

* TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

Trang 14

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồngthời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam Đảng

là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy nguyên tắc tậptrung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, trong hệ thống tổ chức của ĐảngTCCSĐ nằm ở cấp cuối cùng nhưng có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) quy định: “Tổ chức cơ sởđảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị

ở cơ sở Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổchức cơ sở đảng (trực thuộc cấp uỷ cấp huyện) Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợptác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ bađảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộtrực thuộc đảng uỷ cơ sở); cấp uỷ cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc

tổ chức đảng đó trực thuộc cấp uỷ cấp trên nào cho phù hợp [16, tr 35, 36].Việc lựa chọn mô hình tổ chức nào phụ thuộc vào số lượng đảng viên chínhthức và phải được cấp uỷ cấp trên trực tiếp quyết định

Căn cứ quy định của Điều lệ Đảng, TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh CàMau có số lượng khá nhiều, được thành lập và hoạt động trong các cơ quan,đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh và một số cơ quan Trung ương đóng trên địa bàntỉnh [phụ lục 6] Các TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau có chức năng,nhiệm vụ chung như sau:

- Về chức năng:

+ Là hạt nhân chính trị ở cơ sở: TCCSĐ lãnh đạo các tổ chức trong

hệ thống chính trị ở cơ sở chấp hành thực hiện nghiêm túc đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước TCCSĐ có tráchnhiệm là trung tâm lãnh đạo chính trị, tổ chức quy tụ và phát huy sức mạnhcủa các lực lượng toàn cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụchính trị được giao

Trang 15

+ Tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng: như công tác chínhtrị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ, quản lý đảng viên, kiểm tra, giám sát theo quyđịnh của Điều lệ Đảng.

- Về nhiệm vụ:

Một là, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp

luật của Nhà nước; đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của ĐB, CB và lãnhđạo thực hiện có hiệu quả

Hai là, xây dựng ĐB, CB TSVM về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực

hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng,thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kếtthống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ,đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độkiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên

Ba là, lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính,

sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội VMTD;chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Bốn là, liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh

thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham giaxây dựng và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước

Năm là, kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị

của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra,giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng [30, tr.39, 40]

Các nhiệm vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau Dovậy, trong hoạt động thực tiễn không xem nhẹ nhiệm vụ nào Trên cơ sở chứcnăng, nhiệm vụ nêu trên, căn cứ vào đặc điểm của các loại hình TCCSĐ, Ban

Bí thư Trung ương Đảng đã quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ của từng

Trang 16

đơn vị sự nghiệp (trường học, bệnh viện ) và đảng bộ, chi bộ cơ sở cơ quanđược thực hiện theo Quy định số 97- QĐ/TW và Quy định số 98- QĐ/TWngày 22-3-2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng.

* Vai trò của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

Xuất phát từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh và truyền thống quý báu của Đảng ta về công tác xây dựng Đảng,Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) khẳng định: “Tổ chức cơ sở đảng(chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơsở” [16, tr.35]

Vai trò của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau nói chung được thểhiện ở những nội dung chủ yếu sau: Các TCCSĐ lập thành nên ĐBKDCĐ; làcầu nối giữa Đảng và các cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng với cán bộ,đảng viên và quần chúng ở các quan đơn, đơn vị; là nơi trực tiếp đưa đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng vào quần chúng và tổ chức thực hiệnđường lối, chủ trương, chính sách vào cuộc sống; là nơi giáo dục, rèn luyện,kết nạp, quản lý và sàng lọc đội ngũ đảng viên; nơi đào tạo cán bộ, đề cử cơquan lãnh đạo các cấp cho ĐBKDCĐ và ĐB tỉnh Cà Mau

Các TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau được thành lập và hoạtđộng trong lòng các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh Các TCCSĐ là nơi tập hợpnhững đảng viên - là cán bộ lãnh đạo cao nhất của tỉnh, là chuyên viên làmnhiệm vụ tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội; đảm bảo quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thốngchính trị của tỉnh Do vậy, các TCSSĐ có đủ tiềm năng, tiềm lực và khả năngthực tiễn đóng vai trò là hạt nhân chính trị lãnh đạo trong các cơ quan, đơn vị.Các hoạt động của TCCSĐ nơi đây không chỉ đơn thuần phát huy tác dụngtrong các cơ quan, đơn vị, trong hoạt động của ĐBKDCĐ mà còn có sức lantỏa rộng lớn đối với mọi hoạt động của tỉnh

Trang 17

Khẳng định vai trò quan trọng của mình, các TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐphải hết sức chủ động, sáng tạo trong việc tổ chức thực hiện các nghị quyếtcủa Trung ương, Tỉnh ủy và Đảng ủy KDCĐ vào thực tiễn của từng TCCSĐ;tìm tòi, suy nghĩ để xác định đúng nhất nội dung, giải pháp xây dựng nângcao NLLĐ của TCCSĐ Mỗi TCCSĐ phải thường xuyên làm tốt công tácchính trị, tư tưởng; chăm lo giáo dục, rèn luyện và quản lý đảng viên để mỗiđảng viên có đủ trình độ, bản lĩnh, trí tuệ, năng lực tổ chức thực hiện, từ đóphát huy cao vai trò tiên phong gương mẫu của mỗi đảng viên, trước hết làđảng viên giữ chức vụ lãnh đạo.

* Đặc điểm của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

Theo quy định của Điều lệ Đảng thì: “Hệ thống tổ chức của Đảng đượcthành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước Tổ chức cơ

sở đảng được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc côngtác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộctỉnh” [16, tr.19] Vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước ta nóichung, đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệpnói riêng là nhân tố quan trọng quyết định những thành tựu to lớn trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta từ ngày thành lập Đảng đến nay.Phương thức lãnh đạo của Đảng được xác định tại Điều 41, Điều lệ Đảng:

“Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh chính trị, chiến lược, chính sách, chủtrương; bằng công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ và kiểm tra, giám sát việcthực hiện” [16, tr.64] Là một cấp bộ đảng nằm trong hệ thống tổ chức củaĐảng, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, các TCCSĐ thuộcĐKDCĐ tỉnh Cà Mau có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, các TCCSĐ có bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên

ổn định là điều kiện thuận lợi để nâng cao NLLĐ trong tình hình mới.

Đặc điểm này được tạo nên bởi các cơ quan hành chính, đơn vị sựnghiệp cả nước nói chung và của tỉnh Cà Mau nói riêng được thành lập theo

Trang 18

chế Các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh ít có sự thay đổi về tổ chức và số lượng cán

bộ, công chức Mỗi cơ quan, đơn vị tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau

và số lượng biên chế không bằng nhau, nhưng ở mỗi tổ chức, đội ngũ cán bộ,đảng viên, công chức, viên chức đều có sự tập trung, ít có sự phân tán lựclượng làm việc trong giờ hành chính Bên cạnh đó, hầu hết các cơ quan, đơn

vị cấp tỉnh đều có cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ làm việc khá đầy đủ,hiện đại; kinh phí hoạt động được Nhà nước cấp theo quy định Đây là nhữngđiều kiện thuận lợi cơ bản nhất cho các TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

dễ tập hợp lực lượng hoạt động hơn so với các loại hình TCCSĐ khác

Mặt khác, hoạt động của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp làhoạt động quản lý nhà nước và xã hội, nhưng đều dựa trên đường lối, chủtrương của Đảng trong từng giai đoạn nhất định Các cơ quan, đơn vị có tráchnhiệm xây dựng văn bản, chương trình, kế hoạch hoạt động để thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ quản lý nhà nước - xã hội và bảo đảm thực hiện sự lãnh đạocủa TCCSĐ trong mỗi cơ quan, đơn vị Sự lãnh đạo của TCCSĐ là sự lãnhđạo trực tiếp, gắn liền với hoạt động của các cơ quan, đơn vị TCCSĐ thựchiện vai trò này thông qua việc ban hành các nghị quyết và kiểm tra, giám sátviệc triển khai các nghị quyết đó Thông qua sự lãnh đạo và giám sát trực tiếpcủa mình, các TCCSĐ có thể chấn chỉnh kịp thời những quan điểm, hành visai trái với đường lối, chủ trương của Đảng

Thứ hai, vai trò lãnh đạo của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ có sự khác biệt tương đối so với các loại hình TCCSĐ khác, đòi hỏi các TCCSĐ phải có sự phối hợp và linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động.

Các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh là tổ chức công quyền, thực hiện hoạtđộng quản lý nhà nước - xã hội một cách thường xuyên, liên tục, giải quyếtcác công việc hàng ngày, hàng giờ phát sinh Vì vậy, hoạt động của các cơquan, đơn vị mang tính linh hoạt và chủ động, thích ứng kịp thời với các yêucầu của thực tiễn đặt ra mà các nghị quyết của TCCSĐ khó có thể định ra các

Trang 19

biện pháp, giải pháp cụ thể Trong hoạt động quản lý nhà nước - xã hội khôngthể “trông chờ” các cấp ủy đảng quyết định thay mình nhưng cũng không thểtuỳ tiện “phá rào” thực hiện những hoạt động không dựa trên quan điểm lãnhđạo nhất quán của Đảng trong điều kiện Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền.

Mặc khác, vai trò lãnh đạo của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ có sự khácbiệt tương đối so với các loại hình TCCSĐ khác Nếu như ở cơ sở xã,phường, thị trấn , cấp uỷ đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện các mặt hoạtđộng (chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh) bằng nghịquyết, chương trình, kế hoạch thông qua hoạt động chính quyền, Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể chính trị - xã hội Thì ở cơ quan hành chính, đơn vị sựnghiệp cấp tỉnh, sự quản lý và điều hành các mặt công tác hằng ngày do thủtrưởng cơ quan, đơn vị quyết định theo của kế hoạch của chính quyền địaphương và cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên Vì vậy, để sự lãnh đạo củaĐảng phát huy hiệu quả, các TCCSĐ phải hết sức linh hoạt, sáng tạo tronglãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của cấp uỷ, đồng thời phải có sự phối hợp chặtchẽ với thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, điều hànhthực hiện nhiệm vụ chính trị chung của mỗi tổ chức

Nhận thức được đặc điểm này, những năm qua, phần lớn các TCCSĐthuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau đã thể hiện tốt tính linh hoạt, sáng tạo tronglãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của cấp uỷ; đồng thời có sự phối hợp chặt chẽvới thủ trưởng trong lãnh đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị chungtrong các cơ quan, đơn vị Tuy nhiên, một số TCCSĐ chưa xác định được đặtđiểm và chức năng, nhiệm vụ được giao nên trong quá trình lãnh đạo mộtmặt công tác còn gập khuôn, máy móc, cứng nhắc theo sự chỉ đạo của cấptrên; chưa linh hoạt, sáng tạo trong triển khai, thực hiện nhiệm vụ phù hợp vớithực tiễn Công tác phối hợp của cấp uỷ với thủ trưởng, người đứng đầu cơquan, đơn vị nhiều nơi chưa tốt, nhất là trong công tác chính trị tư tưởng,

Trang 20

dựng TCCSĐ TSVM… Đặc điểm này đặt ra yêu cầu cần có đổi mới sự lãnhđạo của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau trong thời gian tới.

Thứ ba, trình độ của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các TCCSĐ thuộc BĐKDCĐ tỉnh Cà Mau khá cao và đồng đều, là điều kiện thuận lợi để phát huy để nâng cao NLLĐ của TCCSĐ trong tình hình mới.

Hoạt động của các cơ quan, đơn vị do đội ngũ cán bộ, công chức, viênchức tiến hành với yêu cầu của hoạt động công vụ là tuân thủ pháp luật, tínhchuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và trách nhiệm thực thi công vụ cao.Trong điều kiện một đảng cầm quyền ở nước ta, đa số cán bộ, công chức, viênchức là đảng viên, các TCCSĐ được tổ chức gắn với các cấp chính quyền vàtrong từng cơ quan, đơn vị Đây là yếu tố hết sức thuận lợi trong việc bảo đảm

và phát huy vai trò lãnh đạo của TCCSĐ đối với hoạt động của các cơ quan,đơn vị; thể hiện ở hoạt động cơ quan, đơn vị được triển khai với sự tham giatích cực của đội ngũ đảng viên Các đảng viên trong cơ quan, đơn vị có nghĩa

vụ gương mẫu thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước phù hợp với cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao Các đảng viên

ưu tú của Đảng được bổ nhiệm giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan,đơn vị, hợp thành đội ngũ những người lãnh đạo, các công chức cấp cao,chuyên gia, chuyên viên Thông qua đội ngũ này, đường lối, chủ trương củaĐảng được chuyển hóa thành hoạt động cụ thể, sinh động của bộ máy nhànước Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là hoạt động quản lý nhà nước của các cơquan, đơn vị không thể có sự bao biện làm thay TCCSĐ mà làm thế nào đểphát huy vai trò của đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức

Thực tiễn cho thấy, trình độ của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cácTCCSĐ thuộc BĐKDCĐ tỉnh Cà Mau khá cao và đồng đều so với các loạihình TCCSĐ khác trong Đảng bộ tỉnh, nhất là về trình độ chuyên môn và lýluận chính trị của cấp uỷ cơ sở đảng [phụ lục 3] Đội ngũ cán bộ, đảng viêncủa toàn Đảng bộ đa số là cán bộ lãnh đạo quản lý cấp tỉnh, có trình độ cao,

Trang 21

chuyên môn sâu và được công tác ở đa dạng trên nhiều lĩnh vực (chính trị,kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học - kỹ thuật, văn nghệ sĩ, tri thức…) [phụlục 6] Đây là nguồn nhân lực rất quan trọng, là điều kiện thuận lợi choTCCSĐ phát huy sức mạnh để nâng cao NLLĐ trong tình hình mới.

Nhận thức được đặt điểm này, thời gian qua, đa số các TCCSĐ thuộcĐBKDCĐ đã khẳng định vai trò lãnh đạo của mình, phát huy được trình độ,năng lực, trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong mọi hoạt động, đóng vaitrò là hạt nhân chính trị lãnh đạo trong các cơ quan, đơn vị Tuy nhiên, vẫncòn có TCCSĐ chưa phát huy hết năng lực, sở trường của cán bộ, đảng viên;trong công việc được giao, vẫn còn có cán bộ, đảng viên, công chức, viênchức tinh thần trách nhiệm hạn chế, chưa hoàn hành tốt nhiệm vụ của ngườiđảng viên

* Năng lực lãnh đạo của TCCSĐ

Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là “khả năng, điều kiện chủ quanhoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” [43, tr.687]

NLLĐ của Đảng là tổng hợp những khả năng, điều kiện chủ quan củaĐảng được tạo nên từ những yếu tố nội sinh, từ sự phấn đấu từ bản thân Đảngcũng như mỗi tổ chức đảng để thực hiện thắng lợi chức năng, nhiệm vụ lãnhđạo Thực chất hoạt động lãnh đạo là hoạt động nghiên cứu, vận dụng lý luận,quan điểm vào thực tiễn, đề ra chủ trương, đường lối, tuyên truyền vận động,

tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện đường lối Hoạt động lãnh đạocủa tổ chức đảng diễn ra theo một quy trình thống nhất, chặt chẽ, liên hoàn.NLLĐ của tổ chức đảng chính là khả năng, điều kiện của tổ chức đảng (trình

độ tri thức, kinh nghiệm, năng lực vận dụng, tổ chức hoạt động thực tiễn )trong việc thực hiện các khâu, các bước của quy trình lãnh đạo nhằm đạt đượckết quả cao trong thực tiễn

Bắt nguồn từ vị trí, vai trò, chức năng của Đảng trong hệ thống chính

Trang 22

của khoa học xây dựng Đảng, từ đó vận dụng nghiên cứu NLLĐ của các loạihình tổ chức đảng ở các cấp, các ngành, trên các lĩnh vực hoạt động, NLLĐcủa cán bộ, đảng viên gắn với cương vị chức trách được giao.

Theo ý kiến của Vũ Hữu Ngoạn thì NLLĐ của Đảng là “Khả năng đề

ra được mục tiêu cách mạng đúng đắn, cơ bản, lâu dài, cũng như từng thời kỳ

và bằng những phương thức, phương pháp đúng đắn tổ chức nhân dân, dântộc thực hiện có hiệu quả [43, tr.38]

Xét theo chu trình lãnh đạo của TCCSĐ có thể xem xét NLLĐ gắn vớicác khâu, các bước: năng lực quán triệt nghị quyết, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ cấp trên, nhiệm

vụ chính trị của đơn vị; năng lực nắm bắt thực tiễn; năng lực hoạch định chủtrương, biện pháp lãnh đạo; năng lực tổ chức, thực hiện đường lối, chính sáchcủa Đảng, nghị quyết của cấp trên và của tổ chức đảng cấp mình…Theo từngnhiệm vụ, từng mặt công tác trong công tác xây dựng Đảng, có thể xem xétNLLĐ của TCCSĐ trên từng lĩnh vực: năng lực vận dụng, thực hiện cácnguyên tắc, chế độ sinh hoạt đảng; NLLĐ và tiến hành công tác tư tưởng,công tác tổ chức; lãnh đạo và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tổ chứcquần chúng, công tác vận động quần chúng…

Từ cách tiếp cận trên, có thể khẳng định rằng: NLLĐ của TCCSĐ là sản phẩm trí tuệ của tập thể, được tạo nên nhờ sự phát huy đầy đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực tổng hợp của mọi cán bộ, đảng viên, trên cơ sở chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách, chấp hành các chế độ, nền nếp sinh hoạt đảng trong hoạt động lãnh đạo và các mặt công tác của TCCSĐ.

* Năng lực lãnh đạo của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

Theo đó, NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau là tổng hoà trình độ và khả năng của TCCSĐ có thể huy động để quán triệt, vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ

Trang 23

trương của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên vào cụ thể hóa xây dựng và tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, biện pháp lãnh đạo của TCCSĐ đối với cơ quan, đơn vị; là khả năng phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng vào xây dựng TCCSĐ TSVM, xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau là tổng hoà trình độ

và khả năng nắm bắt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, các nghị quyết chỉ thịcủa Tỉnh uỷ, Đảng uỷ KDCĐ về xây dựng TCCSĐ tại cơ quan, đơn vị cấptỉnh đạt TSVM; là năng lực đánh giá, phân tích đầy đủ tình hình mọi mặt củacấp uỷ, tổ chức đảng, trên cơ sở đó xác định đúng các chủ trương, biện pháplãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu vàyêu cầu nhiệm vụ công tác xây dựng TCCSĐ đạt TSVM, xây dựng cơ quan,đơn vị vững mạnh về mọi mặt; là khả năng tổ chức, động viên cán bộ, đảngviên khắc phục mọi khó khăn, xây dựng ý chí quyết tâm hoàn thành thắng lợicác mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra; là khả năng kiểm tra, giám sát quá trình tổchức thực hiện các nhiệm vụ và giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảysinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

* Các yếu tố quy định NLLĐ của TCCĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau Thứ nhất, chất lượng của đội ngũ cấp uỷ, bí thư, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị Chất lượng đội ngũ cấp uỷ, bí thư, bí thư, phó bí thư, thủ trưởng

cơ quan, đơn vị là chất lượng tổng hợp nhiều yếu tố, song tập trung nhất là trithức khoa học, phẩm chất đạo đức, lối sống, kinh nghiệm lãnh đạo quản lýđiều hành, khả năng đoàn kết, phong cách, phương pháp công tác NếuTCCSĐ là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, thì đội ngũ cấp uỷ, bí thư,thủ trưởng là hạt nhân lãnh đạo của cơ quan, đơn vị Chất lượng của đội ngũ

Trang 24

cấp uỷ, bí thư, thủ trưởng là một trong những nhân tố cơ bản, quyết định tạothành NLLĐ của TCCSĐ.

Cấp uỷ là bộ phận hữu cơ của TCCSĐ, mọi hoạt động của TCCSĐ đều

do sự lãnh đạo điều hành, quản lý, kiểm tra của cấp uỷ Cấp uỷ là người trựctiếp đề ra nghị quyết, quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết; duy trì chế độnền nếp sinh hoạt đảng; xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên Cùng với cấp uỷ, thủ trưởng cơ quan, đơn vị là người tổ chức thực hiện mọiđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghịquyết của tổ chức đảng; là người chịu trách nhiệm trước hết về tình hình vàkết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị Nếu đội ngũ cấp uỷ, bí thư,thủ trưởng cơ quan, đơn vị thường xuyên được củng cố kiện toàn đảm bảo đủ

số lượng, cơ cấu hợp lý, có phẩm chất, năng lực tốt, có uy tín cao sẽ là điềukiện tiên quyết để xây dựng TCCSĐ TSVM, góp phần tạo nên NLLĐ củaTCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

Thứ hai, chất lượng đội ngũ đảng viên Chất lượng đảng viên được biểu

hiện ở phẩm chất, năng lực, số lượng, cơ cấu đảng viên Về phẩm chất, nănglực bao gồm: phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ trí tuệ, kiến thức, kinhnghiệm, năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn, phong cách, phương pháp côngtác, uy tín và tính tiền phong gương mẫu của đảng viên Ngoài những tiêuchuẩn chung nêu trên, đảng viên ở các TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ còn phải cónhững phẩm chất, năng lực riêng của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, côngchức, viên chức có chuyên môn sâu theo từng lĩnh vực công tác, do phảithường xuyên tham mưu giúp việc cho lãnh đạo của tỉnh hoạch định chủtrương, đường lối, chính sách lãnh đạo phát triển của tỉnh; hướng dẫn công tácchuyên môn, nghiệp vụ trên các lĩnh vực cho các địa phương thực hiện các chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Cùng vớinâng cao chất lượng, thì việc đảm bảo số lượng và cơ cấu đảng viên phù hợp có

Trang 25

ý nghĩa quan trọng Do đó, trong quá trình nâng cao NLLĐ của TCCSĐ nhấtthiết phải coi trọng nâng cao chất lượng toàn diện cho đội ngũ đảng viên.

Thứ ba, chấp hành thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt,

kỷ luật đảng Chấp hành nghiêm túc, duy trì chặt chẽ và nâng cao hiệu quả

thực hiện các nguyên tắc, tổ chức, sinh hoạt đảng sẽ đảm bảo TCCSĐ có sựđoàn kết, thống nhất, tạo thành sức mạnh to lớn, trở thành pháo đài chiến đấucủa Đảng ở cơ sở; là động lực thúc đẩy cấp uỷ, cán bộ, đảng viên nâng cao ýthức trách nhiệm, phát huy tốt vai trò trong công tác xây dựng Đảng, đấutranh với những hiện tượng buông lỏng hoặc làm trái với các nguyên tắc củaĐảng Khi các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng được duy trì, thực hiện chặtchẽ sẽ có góp phần quan trọng nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐtỉnh Cà Mau

Thứ tư, sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của cấp uỷ, cơ quan chuyên môn cấp trên Sức mạnh của TCCSĐ phụ thuộc chủ yếu vào bản thân

của các tổ chức đó, nhưng sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ cơ quanchuyên môn cấp trên có vai trò quan trọng đối với việc định hướng nội dung,hình thức sinh hoạt của TCCSĐ Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đềnày Người luôn nhắc nhở tổ chức đảng cấp trên phải quan tâm xây dựng tổchức đảng cấp dưới Vì thế, cấp uỷ và cơ quan chuyên môn cấp trên phải tintưởng và phát huy mạnh mẽ tinh thần chủ động và sáng tạo của TCCSĐ, đồngthời tăng cường trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động củaTCCSĐ cấp dưới, đặc biệt quan tâm đến các tổ chức đảng trọng điểm vànhững nơi còn hạn chế, yếu kém, kịp thời chỉ đạo, giúp đỡ tạo điều kiện choTCCSĐ vươn lên đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao

Thứ năm, phát huy tốt sự phối hợp, cơ chế vận hành của các tổ chức, các lực lượng trong các cơ quan, đơn vị Tổ chức cơ sở đảng luôn gắn bó trực

tiếp với quần chúng mọi nơi, mọi lúc Do sự gắn bó đó mà mọi hoạt động của

Trang 26

giúp cho từng đảng viên hoàn thiện mình, giúp cho TCCSĐ đánh giá đúngtình hình, nhận thức được những mặt mạnh cũng như những hạn chế, yếu kémcủa mình để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp hơn Chủ tịch Hồ ChíMinh đã căn dặn: “Phải luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩuhiệu và chỉ thị đó có đúng hay không…” [27, tr.249] “Nếu không như vậy thìnhững nghị quyết và những chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông, mà còn hại đếnlòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng” [27, tr.250].

Trong các cơ quan, đơn vị, lực lượng quần chúng được tập hợp, sinhhoạt trong các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh…

dù chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức khác nhau, nhưng cùng đều cóchung mục đích là giáo dục, vận động đoàn viên, hội viên tham gia thực hiệnnhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; phát hiện, bồi dưỡng, rèn luyện đoànviên, hội viên ưu tú để giới thiệu kết nạp vào Đảng Hiệu quả hoạt động củacác tổ chức quần chúng sẽ góp phần nâng cao hơn NLLĐ của TCCSĐ tại các

cơ quan, đơn vị

Trên đây, là những yếu tố cơ bản quy định NLLĐ của TCCSĐ thuộcĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau Các yếu tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau,tuy nhiên, mỗi yếu tố có vị trí, vai trò không bằng nhau, trong đó chất lượngcấp uỷ, đội ngũ bí thư, thủ trưởng cơ quan, đơn vị và đội ngũ đảng viên là yếu

tố cơ bản, quyết định nhất

* Biểu hiện NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

Thứ nhất, khả năng quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ cấp trên, mức độ đúng đắn của nghị quyết lãnh đạo

Nghiên cứu, quán triệt nghị quyết là một khâu quan trọng, có tính “mởđường” trong hoạt động của Đảng để nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị

Trang 27

cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân,góp phần tăng cường sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân; tạo sự đồng thuậnthực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị Đây cũng là cơ sở rất quan trọng

để TCCSĐ đề ra chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết sát hợp với thựctiễn từng cơ quan, đơn vị Để đề ra nghị quyết lãnh đạo đúng đắn, phù hợp,cấp uỷ cơ sở, đứng đầu là đồng chí bí thư cấp uỷ phải lãnh đạo chặt chẽ khâunghiêm cứu, quán triệt nghị quyết; nắm vững quan điểm chủ của nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; căn cứ vào đặc điểmtình hình thực tế, tâm tư nguyện vọng và trí tuệ của cán bộ, đảng viên, côngchức, viên chức để cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch thực hiện nhiệm

vụ chính trị của TCCSĐ phù hợp Quán triệt và cụ thể hoá nghị quyết lãnhđạo lãnh đạo đúng đắn, kịp thời vừa là biểu hiện cụ thể nâng cao NLLĐ, vừa

là cơ sở để phát huy NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKCĐ tỉnh Cà Mau

Thứ hai, thể hiện ở việc tổ chức thực hiện nghị quyết của đảng uỷ, chi

uỷ hằng tháng, quý, năm và nghị quyết đại hội nhiệm kỳ

Quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết biểu hiện rất rõ NLLĐ củaTCCSĐ Nghị quyết lãnh đạo của đảng uỷ, chi uỷ có sát đúng đến đâu, nếukhông tổ chức thực hiện tốt thì nghị quyết cũng không đi vào cuộc sống Quátrình tổ chức thực hiện nghị quyết cũng là quá trình TCCSĐ sơ, tổng kết rútkinh nghiệm, bổ sung hoàn thiện chủ trương lãnh đạo TCCSĐ phải có đủNLLĐ thì mới có thể đánh giá đúng tình hình, làm tốt công tác chính trị tưtưởng, sử dụng các hình thức, phương pháp thích hợp để phát huy tốt vai tròcủa đội ngũ cán bộ, đảng viên, đảm bảo thực hiện thắng lợi nghị quyết.Ngược lại, năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết hạn chế, thì nghị quyết củaTCCSĐ cho dù có đúng cũng không thể đi vào cuộc sống, không thể biến lýluận thành thực tiễn

Trang 28

Thứ ba, thể hiện ở việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Đây là một khâu rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của TCCSĐ,

là vấn đề có tính nguyên tắc thuộc về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảngnói chung và TCCSĐ nói riêng NLLĐ của TCCSĐ trong công tác kiểm tra,giám sát thể hiện ở việc chấp hành các nguyên tắc, quy định của Đảng; ở tínhchủ động, khéo léo, kiên quyết trong tiến hành kiểm tra, giám sát và xử lý viphạm; ở việc phát huy tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát nhằm nângcao NLLĐ của TCCSĐ, nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của từng cơquan, đơn vị

Thứ tư, thể hiện trong công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và đổi mới phương thức lãnh đạo.

Công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và thực hiện nghị quyết củaTCCSĐ phản ánh năng lực của cấp uỷ, bí thư cấp uỷ trong việc thu thập, xử

lý thông tin, phân tích, tổng hợp tình hình, rút ra kinh nghiệm, tìm ra phươngpháp mới để lãnh đạo TCCSĐ thực hiện nhiệm vụ đạt kết quả cao hơn Đồngthời thông qua đó, góp phần bổ sung hoàn thiện đường lối, chủ trương củaĐảng, nghị quyết lãnh đạo của cấp trên và của TCCSĐ phù hợp với thực tiễn

Phương thức lãnh đạo của TCCSĐ có được đổi mới, phát huy tối ưuhiệu quả thực tế hay không phụ thuộc vào nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ

và đội ngũ cán bộ, đảng viên Bởi vì, nếu cấp uỷ, bí thư và đội ngũ cán bộ,đảng viên chỉ có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình, trách nhiệm cao vẫn chưa

đủ, NLLĐ của TCCSĐ còn được tạo nên bởi phương pháp, cách thức lãnhđạo, ở tính khoa học của quy chế hoạt động, quy trình lãnh đạo của cấp uỷ

Thứ năm, thể hiện trong công tác xây dựng TCCSĐ TSVM, xây dựng

cơ quan, đơn vị VMTD

Để lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ, bản thân cácTCCSĐ phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức NLLĐcủa TCSSĐ trong công tác này được thể hiện ở trình độ hiểu biết những vấn

Trang 29

đề cơ bản về Đảng, về công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới; ở khảnăng quán triệt nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên và liên hệ, vậndụng vào thực tế NLLĐ của TCCSĐ còn biểu hiện trực tiếp ở khả năng xâydựng cơ quan, đơn vị VMTD Trong từng mặt công tác cụ thể có liên quanmật thiết với nhau sẽ phản ánh rõ nét NLLĐ của TCCSĐ.

Thứ sáu, duy trì, thực hiện tốt các nguyên tắc, chế độ, nền nếp sinh hoạt và hoạt động của Đảng.

Duy trì, thực hiện các nguyên tắc, chế độ, nền nếp sinh hoạt và hoạtđộng lãnh đạo của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ là yêu cầu quantrọng hàng đầu đối với mọi tổ chức đảng Vì các nguyên tắc tổ chức và hoạtđộng của Đảng thể hiện bản chất cách mạng, khoa học, bảo đảm cho mọi tổchức đảng thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động, là cơ sở để xây dựngkhối đoàn kết thống nhất trong Đảng, tạo sức mạnh vô địch để nâng caoNLLĐ và SCĐ, đủ sức lãnh đạo hệ thống chính trị và quần chúng tại cơ sởthực hiện hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao Do đó, việc duy trì, thựchiện các nguyên tắc, chế độ, nền nếp sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo củaĐảng vừa là nguyên tắc, vừa là biểu hiện phản ánh NLLĐ của TCCSĐ

Những yếu tố biểu hiện NLLĐ của ĐBKDCĐ có mối quan hệ mậtthiết, gắn bó chặt chẽ, thống nhất với nhau Sự phân biệt giữa yếu tố tạo thành

và biểu hiện của NLLĐ chỉ là tương đối Tuy nhiên, có ý nghĩa hết sức quantrọng trong nhận thức NLLĐ và chỉ đạo nâng cao NLLĐ của các TCCSĐ trựcthuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau hiện nay

* Vai trò NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau

Một là, bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất bản lĩnh chính trị, năng lực thực tiễn cho đội ngũ đảng viên; phát huy tiềm năng của các tổ chức ở cơ quan, đơn vị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao

Tổ chức cơ sở đảng thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau là nơi thực hiện sựlãnh đạo mọi mặt công tác đảng tại cơ quan, đơn vị Với những đặc điểm về

Trang 30

tổ chức, tính chất nhiệm vụ, hoạt động đặc biệt quan trọng của cơ quan, đơn

vị cấp tỉnh, các TCCSĐ có NLLĐ cao mới nắm vững và tổ chức tốt mọiđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tìnhhình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và của tỉnh; bồi dưỡng, nâng caophẩm chất bản lĩnh chính trị, năng lực thực tiễn cho đội ngũ đảng viên

Trong cơ quan, đơn vị, các tổ chức quần chúng vừa là lực lượng chủyếu để thực hiện nhiệm vụ chính trị, vừa là lực lượng nòng cốt để xây dựng tổchức đảng Lãnh đạo xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh, hoạt độngđúng chức năng, nhiệm vụ, mở rộng dân chủ ở cơ quan, đơn vị, vừa là tráchnhiệm, vừa thể hiện vai trò “người nhạc trưởng” của cấp uỷ, bí thư cấp uỷ củacác TCCSĐ trong cơ quan, đơn vị Vì vậy, TCCSĐ phải thể hiện tốt việc pháthuy tiềm năng của các tổ chức ở cơ quan, đơn vị quyết tâm hoàn thành nhiệm

vụ được giao Và như vậy, TCCSĐ mới thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạochính trị trong cơ quan, đơn vị

Hai là, dự báo, nắm bắt tình hình nhạy bén; đề ra nghị quyết lãnh đạo đúng đắn, phù hợp và tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết

Cả lý luận và thực tiễn đã chứng minh, xuất phát từ thực tiễn là cơ sởcủa nhận thức và hành động, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, sự lãnh đạo củaĐảng cũng xuất phát từ thực tiễn sinh động của đất nước Do đó, để giữ vữngđịnh hướng lãnh đạo nhiệm vụ chính trị ở từng cơ quan, đơn vị, các TCCSĐphải nắm bắt chặt chẽ tình hình của công tác xây dựng Đảng, tình hình thực tếcủa cơ quan đơn vị, dự báo nắm bắt tình hình những vấn đề mới; đề ra nghịquyết lãnh đạo đúng đắn, phù hợp, với những chủ trương, biện pháp tổ chứcthực hiện thắng lợi nghị quyết; không né tránh và cũng không nôm nóng đề rayêu cầu không thực tế

Ba là, xây dựng quy chế làm việc, phân định rõ chức năng lãnh đạo của TCCSĐ và chức năng quản lý điều hành thủ trưởng cơ quan, đơn vị.

Trang 31

Xây dựng và thực hiện tốt Quy chế làm việc của cấp uỷ là việc làmquan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt độngcủa một tổ chức đảng, nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, đảmbảo vai trò lãnh đạo tập thể của cấp ủy, phát huy tốt trách nhiệm cá nhân cấp

uỷ viên, nhất là người đứng đầu và giải quyết tốt các mối quan hệ côngtác Có NLLĐ, TCCSĐ mới xây dựng được bộ máy tổ chức hợp lý, có hiệulực, xây dựng được các quy chế làm việc, phân định rõ chức năng lãnh đạocủa TCCSĐ và chức năng điều hành, quản lý nhà nước, thực hiện được chứcnăng kiểm tra toàn diện đối với mọi hoạt động của mọi tổ chức, cá nhân ởTCCSĐ trong việc thực hiện nghị quyết của tổ chức đảng các cấp

Bốn là, sự đoàn kết thống nhất, giữ nghiêm nền nếp, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt xây dựng TCCSĐ TSVM, xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD

Năng lực lãnh đạo càng cao thì TCCSĐ càng giữ vững được vai tròlãnh đạo của mình, là điều kiện để củng cố sự đoàn kết thống nhất, giữnghiêm nền nếp, nguyên tắc tổ chức sinh hoạt, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảngviên NLLĐ của TCCSĐ chính là yếu tố quyết định để xây dựng TCCSĐTSVM, xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD Hay nói cách khác, NLLĐ củaTCCSĐ ở các cơ quan, đơn vị góp phần nâng cao uy tín và sức mạnh lãnh đạocủa tổ chức đảng, quyết định sự phát triển đúng định hướng, xây dựng cơquan, đơn vị VMTD, luôn luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao và điều

đó có ý nghĩa quyết định sự tồn tại hay không tồn tại trên thực tế đối với mỗi

cơ quan, đơn vị

1.1.2 Những vấn đề cơ bản về nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối dân chính đảng tỉnh Cà Mau hiện nay

* Quan niệm về nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối dân chính đảng tỉnh Cà Mau

Trang 32

Theo Từ điển tiếng Việt “Nâng cao” là “Làm cho cao hơn trước, đưalên ở mức độ cao hơn” [38, tr.562]; nâng cao là “Làm cho ở mức độ tốt hơn”[39, tr.457] Theo đó, “nâng cao” được hiểu là toàn bộ những hoạt động củachủ thể nhằm tác động vào khách thể, làm cho khách thể phát triển hơn theoyêu cầu đã đặt ra.

Theo Từ điển Tiếng Việt “Năng lực” là “Khả năng, điều kiện chủ quanhoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” [38, tr.560] Theo

đó, NLLĐ của TCCSĐ là tổng hợp những khả năng, điều kiện chủ quan củaTCCSĐ để thực hiện thắng lợi chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo

Nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau là phát huymọi tiềm năng của yếu tố nội sinh và cả yếu tố khách quan; khắc phục hạnchế để làm cho TCCSĐ có khả năng tốt hơn, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoànthành tốt mọi nhiệm vụ trong thời kỳ mới

Từ cách tiếp cận và luận giải trên, có thể quan niệm: Nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau là tổng thể các chủ trương, biện pháp làm cho vai trò, khả năng và hiệu lực lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng đối với mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị cao hơn trước, nhằm xây dựng bản thân TCCSĐ TSVM, thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo chính trị, xây dựng cơ quan VMTD, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc.

Quan niệm trên chỉ rõ:

- Mục đích: nâng cao NLLĐ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị; xây

dựng TCCSĐ đạt tiêu chuẩn TSVM, xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD, hoànthành tốt mọi nhiệm vụ được giao

- Chủ thể: nâng cao NLLĐ của TCCSĐ là hệ thống tổ chức đảng, đội

ngũ cán bộ, đảng viên ở các TCCSĐ và các tổ chức ở cơ quan, đơn vị

- Đối tượng: nâng cao NLLĐ là cấp uỷ, tổ chức đảng ở cơ quan, đơn vị.

Trang 33

- Lực lượng tham gia: nâng cao NLLĐ là cấp uỷ, cơ quan chuyên môn

cấp trên; cấp uỷ, thủ trưởng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tổ chức tại cơquan, đơn vị cùng tham gia

- Nội dung: nâng cao NLLĐ đội ngũ bí thư, cấp uỷ, cán bộ chủ chốt và

đội ngũ đảng viên các cơ quan, đơn vị về phẩm chất chính trị, đạo đức, lốisống; trình độ lý luận và chuyên môn, nghiệp vụ; kinh nghiệm lãnh đạo, khảnăng đoàn kết, phương pháp làm việc, năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn;

uy tín và tính tiền phong gương mẫu của mỗi đảng viên Nâng cao hiệu quảchấp hành nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt hoạt đảng của tổ chức đảng; vai trò,trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng của các tổ chức đoàn thể chính trị -xãhội ở cơ quan, đơn vị

Tổ chức cơ sở đảng phải xây dựng được năng lực trí tuệ để nắm vữngđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hiểubiết các quy luật khách quan, nắm bắt được tình hình, nhạy bén với nhữngvấn đề mới để đề ra được nghị quyết lãnh đạo đúng đắn Đồng thời, phải cókhả năng tổ chức hoạt động thực tiễn, đưa nghị quyết vào cuộc sống, tổ chứckiểm tra việc thực hiện nghị quyết, phát huy mọi tiềm năng của các tổ chức,lực lượng trong cơ quan, đơn vị, đấu tranh với mọi biểu hiện tiêu cực, sai trái,vượt qua mọi khó khăn thử thách, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao

- Hình thức, biện pháp nâng cao: phát huy tính tích cực, chủ động của

chủ thể là đội ngũ cấp uỷ, cán bộ, đảng viên; đồng thời tranh thủ sự chỉ đạo,hướng dẫn của Đảng uỷ KDCĐ và Tỉnh uỷ Cà Mau; động viên trách nhiệmtham gia xây dựng Đảng của các tổ chức, lực lượng quần chúng trong cơquan, đơn vị

* Những vấn đề có tính nguyên tắc trong việc nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau hiện nay

Trang 34

Một là, nâng cao NLLĐ của TCCSĐ toàn diện trên cơ sở xây dựng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, lấy xây dựng đội ngũ cán

bộ, đảng viên làm nòng cốt

Để nâng cao NLLĐ, các TCCSĐ cần nắm vững các chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ từng cơquan, đơn vị, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp, hiệu quả cao.Tăng cường đổi mới công tác chính trị, tư tưởng phù hợp với thực tiễn;thường xuyên kiện toàn tổ chức, cán bộ; chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, rènluyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt đảng viên là cấp uỷ viên ngang tầmvới yêu cầu nhiệm vụ được giao Đấu tranh khắc phục những biểu hiện buônglỏng công tác kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên dẫn đến những suy thoái

về chính trị, đạo đức và lối sống

Hai là, tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, chế độ tự phê bình và phê bình

Nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, chế

độ tự phê bình và phê bình là nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấpcông nhân; tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, chỉ đạotoàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng, tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnhđạo của Đảng Trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng luônchấp hành triệt để, đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo điđôi với phân công cá nhân phụ trách, chế độ tự phê bình và phê bình, nhằmphát huy cao độ tính đảng, trách nhiệm chính trị, trí tuệ của tập thể cấp uỷ,của mọi cán bộ, đảng viên trong xây dựng nghị quyết lãnh đạo, tổ chức thựchiện nghị quyết theo chức năng, nhiệm vụ, chức trách Kiên quyết đấu tranhchống các biểu hiện độc đoán, gia trưởng, bè phái, cục bộ, tư tưởng thựcdụng, trung bình chủ nghĩa, dân chủ cực đoan

Ba là, thường xuyên đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp, tác phong công tác.

Trang 35

Phong cách lãnh đạo, quản lý là tổng hợp những phương pháp, cáchthức, biện pháp, tác phong, lề lối làm việc để vận dụng các kiến thức, tri thứckhoa học vào thực tiễn đem lại hiệu quả Đây là yếu tố quan trọng cấu thànhphẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên Muốn vậy, cấp uỷ phảithường xuyên đổi mới phong cách lãnh đạo; mỗi cán bộ, đảng viên phảithường xuyên đổi mới phương pháp, tác phong công tác đảm bảo thật sự khoahọc, sâu sát thực tế, dân chủ, công khai, chống biểu hiện giáo điều, máy móc,quan liêu, mệnh lệnh.

Bốn là, phải phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các tổ chức quần chúng trong cơ quan, đơn vị

Gắn bó với quần chúng là bản chất giai cấp công nhân, là nguồn sứcmạnh và tiêu chuẩn của một đảng Mácxít Cấp uỷ, mỗi cán bộ, đảng viên phảiluôn liên hệ mật thiết với quần chúng, đảm bảo lợi ích và quyền làm chủ củaquần chúng, chăm lo xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh toàn diện,phát huy tốt vai trò, chức năng tập hợp, giáo dục, vận động quần chúng trongcông tác xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị Chống tư tưởng lợi dụngchức quyền, coi khinh quần chúng, xa rời quần chúng, lãnh đạo tổ chức quầnchúng theo lối áp đặt, “khoán trắng”, bao biện làm thay

Năm là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ và hướng dẫn của

cơ quan chuyên môn cấp trên.

Cấp uỷ, cơ quan chuyên môn cấp trên là cơ quan trực tiếp lãnh đạo, chỉđạo, hướng dẫn mọi hoạt động công tác đảng đối với TCCSĐ trực thuộc,trong đó có nội dung nâng cao NLLĐ Do đó, đảng uỷ và các cơ quan chuyênmôn của Đảng uỷ KDCĐ phải phối hợp hoặc phân công tác cán bộ của cấp ủynắm vững tình hình hoạt động của từng TCCSĐ, trên cơ sở yêu cầu thực tiễncủa công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các TCCSĐ tiếnhành công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, kiện toàn tổ chức, cán bộ, đảng

Trang 36

viên; tổ chức kiểm tra, giám sát đảm bảo những yếu tố cơ bản để TCCSĐ có

đủ NLLĐ toàn diện, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ

* Tiêu chí đánh giá nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ tỉnh

Cà Mau

Thứ nhất, năng lực nghiên cứu, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của cấp trên; nắm tình hình thực tiễn để xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn

Đánh giá nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ trước hết cầnxem xét khả năng của TCCSĐ trong việc quán triệt, vận dụng lý luận chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khả năng cụ thể hóa đường lối,chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thịcủa cấp trên Xem xét mức độ sát hợp của chủ trương, biện pháp lãnh đạo củaTCCSĐ có phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tiễn và nhiệm vụ chính trị củatừng cơ quan, đơn vị Nếu nghị quyết lãnh đạo đúng đắn sẽ định hướng toàn bộquá trình xây dựng và thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo của cơ quan, đơn vị, là căn

cứ để mọi đảng viên trong TCCSĐ xác định kế hoạch, chỉ tiêu phấn đấu

Nghị quyết lãnh đạo của TCCSĐ có chất lượng cao khi phản ánh đượcnhững nội dung chỉ đạo của cấp trên; phù hợp với thực tế và nguyện vọngchính đáng của đảng viên; có khả năng làm chuyển biến tình hình ở cơ sở.Xem xét tính khoa học nghị quyết lãnh đạo của TCCSĐ cũng phải xem xétquy trình, phương pháp ra nghị quyết; trình độ, ý chí quyết tâm thực hiện củađội ngũ đảng viên và tính khả thi của các nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo củanghị quyết

Thứ hai, năng lực triển khai, tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết.

Kết quả triển khai, tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết là tiêu chí cơbản để đánh giá NLLĐ của TCCSĐ; phản ánh rõ nét nhất về năng lực, trình

độ, kinh nghiệm thực tiễn của cấp uỷ cơ sở, của đội ngũ đảng viên và quầnchúng tại cơ quan, đơn vị

Trang 37

TCCSĐ khi đã có nghị quyết lãnh đạo sát đúng đối với nhiệm vụ chínhtrị của cơ quan, đơn vị, để biến nó thành hiện thực trong quá trình tổ chứcthực hiện đòi hỏi các TCCSĐ phải bám sát tình hình thực tiễn của cơ quan,đơn vị, sử dụng các hình thức và phương pháp thích hợp để phổ biến quántriệt nghị quyết, xác định chương trình, biện pháp tổ chức cụ thể nhằm tậphợp, vận động và phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên; nhạybén, sáng tạo trong nắm bắt và giải quyết các tình huống, những yêu cầu mớiđặt ra trong quá trình thực hiện.

Mặt khác, trong quá trình lãnh đạo thực hiện nghị quyết của cơ quan,đơn vị cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ và Uỷ ban kiểmtra của Đảng uỷ KDCĐ, nhằm phát huy ưu điểm, kịp thời uốn nắm, khắc phụcnhững hạn chế, thiếu sót trong quá trình triển khai thực hiện của mỗi tổ chức,

cá nhân Hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát cũng là một yếu tố tạo nênNLLĐ của TCCSĐ, năng lực hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơquan, đơn vị Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “khi đã có chính sách đúng, thì

sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là nơi cách tổ chức công việc,nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sáchđúng mấy cũng vô ích” [27, tr.520]

Muốn nâng cao hiệu quả thực hiện nghị quyết, TCCSĐ thuộcĐBKDCĐ còn phải thường xuyên lãnh đạo làm tốt công tác sơ kết, tổng kết,rút kinh nghiệm; bổ sung các nhiệm vụ giải pháp sát tình hình nhằm khôngngừng hoàn thiện nâng cao NLLĐ của TCCSĐ

Thứ ba, năng lực lãnh đạo xây dựng cấp uỷ, ĐB, CB TSVM, xây dựng

cơ quan, đơn vị VMTD

Năng lực lãnh đạo của TCCSĐ biểu hiện trực tiếp trong công tác xâydựng cấp uỷ, ĐB, CB TSVM Để lãnh đạo TCCSĐ hoàn thành tốt nhiệm vụ,bản thân các cấp uỷ, ĐB, CB phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ

Trang 38

chức Đây là yêu cầu khách quan, là nội dung trọng tâm trong công tác lãnhđạo của TCCSĐ; đồng thời là một dấu hiệu để xem xét NLLĐ của TCCSĐ.

Xem xét NLLĐ xây dựng cấp uỷ, ĐB, CB TSVM tập trung xem xétkhả năng quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn củacấp trên; việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng caotrình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ, đảng viên Xem xét việc thực hiện côngtác bảo vệ chính trị nội bộ; công tác xây dựng TCCSĐ và đảng viên; công táctạo nguồn kết nạp đảng viên và quản lý đảng viên Xem xét thực hiện côngtác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong việc chấp hành Điều lệĐảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và nhiệm vụ được giao; việc phát hiện

và xử lý đảng viên vi phạm

Để xây dựng TCCSĐ TSVM, các TCCSĐ phải phối hợp cùng với thủtrưởng tập trung lãnh đạo xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD, trong đó trướchết là lãnh đạo thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao; xâydựng cơ quan, đơn vị hoạt động có nền nếp, hiệu quả; cán bộ, công chức, viênchức có ý thức chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước và nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị;hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ sứcmạnh của quần chúng, sự liên hệ mật thiết với quần chúng là bản chất tốt đẹpcủa Đảng Vì vậy, TCCSĐ là cầu nối liền giữa Đảng với quần chúng, phải cótrách nhiệm xây dựng các tổ chức đoàn thể trong cơ quan, đơn vị vững mạnh,vừa phải lãnh đạo đảm bảo phát huy vai trò của quần chúng và các tổ chứcđoàn thể trong tham gia xây dựng Đảng

Thứ tư, NLLĐ thực hiện các nguyên tắc, chế độ, nền nếp sinh hoạt và hoạt động của Đảng

Năng lực lãnh đạo thực hiện các nguyên tắc, chế độ, nền nếp, quy địnhsinh hoạt và hoạt động của Đảng là dấu hiệu quan trọng phản ánh NLLĐ củaTCCSĐ, đồng thời cũng là một tiêu chí đánh giá NLLĐ của TCCSĐ ở cơ

Trang 39

quan, đơn vị Đánh giá theo tiêu chí này, trước hết cần xem xét việc thựchiện các nguyên tắc, chế độ, nền nếp sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo củaĐảng ở TCCSĐ; nhất là việc cụ thể hóa và thực hiện nguyên tắc tập trungdân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách và các quy định củaBan Chấp hành Trung ương, Tỉnh uỷ, Đảng uỷ KDCĐ cho sát với thực tiễncủa TCCSĐ Xem xét năng lực duy trì thực hiện các nguyên tắc, chế độ, nềnnếp tổ chức và sinh hoạt đảng theo Điều lệ Đảng, các quy định của các cơquan các cấp của Đảng Xem xét trách nhiệm của đảng uỷ, chi uỷ trong xâydựng và thực hiện quy chế hoạt động của đảng uỷ, chi uỷ theo chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

1.2 Thực trạng và một số kinh nghiệm nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối dân chính đảng tỉnh Cà Mau

1.2.1 Thực trạng nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối dân chính đảng tỉnh Cà Mau

Những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của ĐB tỉnh và Nghịquyết Đại hội lần thứ VIII ĐBKDCĐ, các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên,trong bối cảnh tình hình chung của đất nước và của tỉnh nhà có nhiều thuậnlợi và khó khăn, thách thức đan xen Tuy nhiên, được sự lãnh đạo của Tỉnh

uỷ, của ĐBKDCĐ, sự nỗ lực, phấn đấu của các TCCSĐ và đội ngũ cán bộ,đảng viên trong toàn ĐB, việc nâng cao NLLĐ của TCCSĐ thuộcĐBKDCĐ tỉnh Cà Mau đạt được những ưu điểm và còn những hạn chế,khuyết điểm như sau:

* Ưu điểm

Một là, năng lực nghiên cứu, quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, cụ thể hóa đề ra nghị quyết lãnh đạo của TCCSĐ từng bước được nâng lên, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm

Trang 40

Thời gian qua, các TCCSĐ thuộc ĐBKDCĐ thường xuyên đổi mới,nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác quán triệt các quan điểm, đường lốicủa Đảng, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, nhất là tuyên truyền, giáo dục chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt Nghị quyết Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ XI, XII của Đảng; Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV ĐBtỉnh Cà Mau và Nghị quyết Đại hội lần thứ IX ĐBKDCĐ, nhiệm kỳ 2010-2015; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xâydựng Đảng hiện nay”

Các TCCSĐ tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị (khóa XI) “về tiếp tục đẩymạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn theocác chuyên đề hằng năm với nhiều hình thức phong phú, đa dạng Có nhiều

mô hình hay, cách làm sáng tạo trong công tác tuyên truyền, học tập và làmtheo tấm gương đạo đức của Bác mang lại hiệu quả thiết thực, góp phầnnâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng và tinh thần tráchnhiệm trong công tác của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức

Qua quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng, chỉ thị, nghị quyếtcủa cấp trên, hầu hết các cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên thể hiện rõ bảnlĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng và trung thành với sự nghiệp đối mớicủa Đảng Cấp ủy cơ sở thường xuyên nâng cao nhận thức chính trị và vậndụng chủ trương, nghị quyết của cấp trên sát, đúng tình hình thực tiễn, xâydựng TCCSĐ TSVM, xây dựng cơ quan, đơn vị VMTD, cơ bản đáp ứngđược yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Qua khảo sát thực tế cho thấynăng lực nhận thức của đội ngũ cấp uỷ viên, bí thư và đội ngũ đảng viên vềchủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm củaĐảng nâng lên rõ nét, có 98,8% tốt và khá, trong đó có 75,3% tốt, 23,5%

Ngày đăng: 10/06/2017, 21:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2014), Quy định số 14-QĐ/TU, ngày 26 tháng 02 năm 2014 “về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác của Đảng uỷ Dân chính đảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 14-QĐ/TU, ngày 26 tháng 02 năm 2014 “về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác của Đảng uỷ Dân chính đảng
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau
Năm: 2014
4. Ban Tuyên giáo Trung ương (2012), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2012
5. Hoàng Bằng (2004), Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ ở các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ ở các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Hoàng Bằng
Năm: 2004
8. Lê Văn Dũng (2007), Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ trong quân đội, Thông tin chuyên đề, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ trong quân đội
Tác giả: Lê Văn Dũng
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
9. Trần Văn Dũng (2010), Nâng cao NLLĐ của chi bộ lớp học viên đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu cấp chiến thuật, chiến dịch ở Đảng bộ Học viện Lục quân hiện nay, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao NLLĐ của chi bộ lớp học viên đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu cấp chiến thuật, chiến dịch ở Đảng bộ Học viện Lục quân hiện nay
Tác giả: Trần Văn Dũng
Năm: 2010
10. Lê Văn Dương (chủ nhiệm đề tài) (2000), Nâng cao NLLĐ và SCĐ của các tổ chức đảng trong quân đội, bảo đảm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống , Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao NLLĐ và SCĐ của các tổ chức đảng trong quân đội, bảo đảm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống
Tác giả: Lê Văn Dương (chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2000
11. Lê Văn Dương (2004), Nâng cao NLLĐ và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới, Sách, Nxb Chính trị Quốc gia (CTQG), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao NLLĐ và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới
Tác giả: Lê Văn Dương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia (CTQG)
Năm: 2004
12. Đảng bộ khối Dân chính đảng tỉnh Cà Mau (2015), Kỷ yếu Ban Chấp hành Đảng bộ (1975-2015), Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Ban Chấp hành Đảng bộ (1975-2015)
Tác giả: Đảng bộ khối Dân chính đảng tỉnh Cà Mau
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2015
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị Trung ương sáu (lần 2) khóa VIII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương sáu (lần 2) khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị Trung ương thứ tư, khoá IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương thứ tư, khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2012
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2016
20. Đinh Thế Huynh (2012), “Đảng Cộng sản Việt Nam với công tác quần chúng - thực tiễn và một số kinh nghiệm”, Tạp chí Dân vận, số tháng 1/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam với công tác quần chúng - thực tiễn và một số kinh nghiệm”," Tạp chí Dân vận
Tác giả: Đinh Thế Huynh
Năm: 2012
21. Trần Duy Hương (2000), “Xây dựng cấp uỷ các cấp TSVM - một yêu cầu cơ bản của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Quân đội”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 2/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cấp uỷ các cấp TSVM - một yêu cầu cơ bản của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Quân đội”, "Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Tác giả: Trần Duy Hương
Năm: 2000
25. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
26. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
27. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
28. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
29. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w