1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ CÔNG tác GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số ở HUYỆN đầm dơi, TỈNH cà MAU HIỆN NAY

121 588 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 883,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GDPL là hoạt động thường xuyên, cơ bản, lâu dài của mọi Nhà nước; xã hội càng phát triển hiện đại thì nhu cầu nắm pháp luật của người dân càng cao, do đó càng đặt ra yêu cầu cao cho công tác tuyên truyền, phổ biến GDPL. Ở nước ta hiện nay, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, nhất là yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đòi hỏi công tác GDPL nói chung, GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau nói riêng phải được đặc biệt coi trọng.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN

CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN ĐẦM DƠI TỈNH CÀ MAU 101.1 Đồng bào dân tộc thiểu số và những vấn đề cơ bản về công tác

giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn

1.2 Thực trạng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm công tác giáo

dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện

Chương 2 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẦM

2.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu tăng cường công tác giáo

dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện

2.2 Những giải pháp tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho

đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

GDPL là hoạt động thường xuyên, cơ bản, lâu dài của mọi Nhà nước; xã hộicàng phát triển hiện đại thì nhu cầu nắm pháp luật của người dân càng cao, do đócàng đặt ra yêu cầu cao cho công tác tuyên truyền, phổ biến GDPL Ở nước ta hiệnnay, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, nhất là yêu cầu xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đòi hỏi công tácGDPL nói chung, GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh CàMau nói riêng phải được đặc biệt coi trọng Ý thức được điều đó, những năm gầnđây công tác này đã được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm lãnh, chỉ đạo đạtđược nhiều kết quả, góp phần thiết thực vào nâng cao nhận thức pháp luật của đồngbào, nhờ đó mà đời sống của đồng bào không ngừng được cải thiện và nâng lên vềmọi mặt Trình độ hiểu biết pháp luật, hiểu biết quyền và nghĩa vụ của công dântừng bước được nâng lên; đồng bào luôn tin tưởng và tích cực thực hiện đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước

Tuy nhiên, bên cạnh đó một số cán bộ trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng,

bộ máy chính quyền, ban ngành địa phương còn nhận thức chưa đầy đủ về công tácnày, chưa thấy rõ vai trò, sự cần thiết phải tuyên truyền, GDPL cho đồng bào, cònđùn đẩy, dựa dẫm, ỉ lại lẫn nhau Một bộ phận đồng bào DTTS có thói quen sống vàlàm việc theo lối duy tình, coi trọng phong tục tập quán hơn pháp luật, tình trạng

“phép vua thua lệ làng” còn khá phổ biến; mặt khác do trình độ dân trí của đồng bàodân tộc nhìn chung thấp, điều kiện tiếp cận và khả năng nhận thức về pháp luật rấthạn chế, ý thức tự giác chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước, qui chế, qui định của địa phương còn chưa cao

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, doNhân dân, vì Nhân dân, bảo đảm cho mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dântheo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; đồng thời để thực hiện quyền làmchủ của Nhân dân và góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thùđịch, chống cộng đang lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc,sắc tộc để ráo riết triển khai chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; kích

Trang 3

động tư tưởng li khai nhằm vào đồng bào DTTS ở địa phương, cơ sở, thì vấn đềgiáo dục nâng cao kiến thức pháp luật cho đồng bào DTTS càng trở lên hết sứcquan trọng, thật sự trở thành vấn đề cấp bách đặt ra với các cấp ủy, chính quyền, các

cơ quan, ban ngành chức năng ở địa phương

Mặt khác, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng bộ huyện Đầm Dơi đề

ra trong nhiệm kỳ 2015 – 2020, đối với công tác phổ biến GDPL, đòi hỏi các chủthể của hoạt động này phải tìm ra những giải pháp hữu hiệu để đổi mới, nâng caochất lượng, hiệu quả công tác GDPL bảo đảm phù với từng đối tượng, đặc biệt làvới người đồng DTTS

Xuất phát từ tất cả những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Công tác giáo

dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Công tác GDPL nói chung và GDPL cho đồng bào DTTS nói riêng luôn là mộtvấn đề hết sức quan trọng, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học vàcác cán bộ lãnh đạo của Đảng, cán bộ quản lý của Nhà nước Đến nay đã nay có khánhiều công trình, đề tài, nghiên cứu về vấn đề này đã được nghiệm thu, công bố dướinhiều góc độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau, tiêu biểu có các công trình sau:

* Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa pháp luật

- Lê Minh Tâm (1998), “Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta trong giai đoạnhiện nay”, Tạp chí Luật học

- Lê Thanh Thập (1999), “Mấy suy nghĩ về văn hóa và văn hóa pháp luật ởnước ta”, Tạp chí Luật học

- Hoàng Thị Kim Quế (2004), “Văn hóa pháp lý – dòng riêng giữa nguồnchung của văn hóa dân tộc Việt nam”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật

- Lê Đức Tiết (2005), Văn hóa pháp lý Việt nam, Nxb Tư pháp, Hà nội

- Nguyễn Văn Động (2006), “Văn hóa pháp lý trong điều kiện phát huy dânchủ ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật

- Lê Vương Long (2006), “Văn hóa pháp lý Việt nam trong xu thế toàn cầuhóa”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp

Trang 4

- Dương Thế Bằng (2006) xây dựng môi trường văn hóa pháp luật của đơn vịhọc viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự hiệnnay, luận văn Thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quân sự.

- Phạm Duy Nghĩa (2008), “Góp phần tìm hiểu văn hóa pháp luật”, Tạp chíkhoa học – Đại học Quốc gia Hà nội

- Nguyễn Thị Hồi (2008), “Ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật”, Tạp chíDân chủ và Pháp luật

Sau khi các tác giả đi sâu luận giải môi trường văn hóa pháp luật, văn hóapháp lý, ý thức pháp luật, và những vấn đề có liên quan đến văn hóa pháp luật, nêulên được những thực trạng và kinh nghiệm xây dựng kiến thức pháp luật, đồng thờicác tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả về pháp luật, nhằmnâng cao nhận thức cho các tổ chức, các lực lượng; xây dựng đồng bộ các thành tố

và phát huy tác dụng của văn hóa pháp luật; Duy trì nghiêm việc thực hiện pháp luậtNhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội, các chế độ quy định của đơn vị; tích cựcđấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, cácchế độ quy định của đơn vị; tích cực đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi

vi phạm pháp luật Nhà nước Tuy nhiên, do góc độ nghiên cứu, nên các công trìnhtrên chưa đi sâu nghiên cứu đến vấn đề phổ biến, GDPL cho Nhân dân, cho đồngbào DTTS nói chung ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau nói riêng

* Nhóm các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến công tác giáo dục, phổ biến pháp luật.

- Phùng Văn Tửu (4/1985), “GDPL để tăng cường pháp chế xã hôi chủ nghĩa

và xây dựng con người mới”, Tạp chí Giáo dục lý luận

- Nguyễn Trọng Bích (4/1989), “Giáo dục ý thức pháp luật”, Tạp chí Xâydựng Đảng

- Viện Nhà nước và pháp luật – Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn, “Cơ

sở khoa học của việc xây dựng ý thức pháp luật và lối sống pháp luật”, Đề tài khoahọc cấp nhà nước, mã số KX,07-17 năm 1995

- Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, “Một số vấn đề lý luận vàthực tiễn về GDPL trong thời kỳ đổi mới”, Đề tài khoa học cấp Bộ,mã số 92-98-223-ĐT năm 1995

Trang 5

- Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (1994), “Một số vấn đề lýluận và thực tiễn về GDPL trong công cuộc đối mới”, Đề tài khoa học cấp Bộ.

- Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai (1995), Bàn về GDPL, Nxb CTQG, HN

- Hồ Việt Hiệp (9/2000), “Xã hội hóa công tác PB G DPL trong tình hìnhmới”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật

- Lê Đức Tụ (2000), "Đổi mới công tác phổ biến giáo dục pháp luật trongQuân đội nhân dân Việt Nam hiện nay", Đề tài cấp Tổng cục, Nxb QĐND

- Lê Đức Tụ (2/2004), "Tăng cường công tác PB và nâng cao chất lượngGDPL trong quân đội thời kỳ mới", Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Các tác giả đã nghiên cứu thành công có nhiều đóng góp quan trọng đối vớicông tác GDPL cho các đối tượng cụ thể, đã làm rõ một số vấn đề cơ bản vềGDPL: phân tích làm rõ bản chất của quá trình GDPL; mối quan hệ giữa GDPL,với giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức và các dạng giáo dục khác; chỉrõ mục đích, vai trò, chủ thể, nội dung, hình thức, phương tiện, phương pháp,hiệu quả của GDPL

Theo các tác giả, bản chất của quá trình GDPL là hoạt động có tổ chức, cóđịnh hướng của các chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm mụcđích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với đòi hỏi của

hệ thống pháp luật hiện hành Mục đích của GDPL là hình thành, làm sâu sắc vàtừng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật cho công dân; hình thành lòng tinpháp luật; hình thành động cơ và hành vi tích cực pháp luật cho công dân

Về hình thức GDPL, các tác giả đã đề cập các hình thức chủ yếu là: phổ biến, nóichuyện về pháp luật, tổ chức các câu lạc bộ, các đội thông tin, PB, cổ động, các cuộcthi tìm hiểu pháp luật; tuyên truyền qua báo chí, phương tiện thông tin đại chúng; giáodục qua các hình thức văn học, nghệ thuật; dạy và học trong các nhà trường

Về hiệu quả GDPL, theo các tác giả được biểu hiện ở tri thức trạng thái tìnhcảm pháp luật, động cơ và hành vi tích cực pháp luật của đối tượng sau quá trìnhgiáo dục; phí tổn vật chất, thời gian, tinh thần trong GDPL Tuy nhiên, những côngtrình trên chưa đi sâu nghiên cứu làm rõ những vấn đề liên quan đến nâng cao chấtlượng GDPL để hình thành tính tự giác chấp hành pháp luật của học viên

Trang 6

- Tổng cục chính trị (2000), Đổi mới công tác phổ biến GDPL trong Quân độinhân dân hiện nay, Nxb QĐND, Hà Nội Công trình đã luận giải làm rõ khái niệm,vai trò, mục đích, nhiệm vụ của phổ biến, GDPL Phân tích, luận giải về các thành

tố của PB GDPL và làm rõ đặc điểm của phổ biến, GDPL trong quân đội Các tácgiả đã đi sâu đánh giá thực trạng của công tác phổ biến GDPL trong quân đội nhữngnăm qua, chỉ rõ những ưu, khuyết điểm, nguyên nhân của nó và đưa ra những dựbáo về nhiệm vụ phổ biến GDPL trong quân đội trong thời gian sắp tới

Về các giải pháp đổi mới công tác phổ biến GDPL trong quân đội giai đoạnhiện nay, công trình đề cập tới các giải pháp lớn là: Đổi mới nội dung giáo dục; đổimới hình thức phương pháp giáo dục; tăng cường công tác tổ chức bảo đảm chogiáo dục, nhưng chưa đề cập đến vấn đề nâng cao chất lượng GDPL

- Nguyễn Xuân Quân (2009), Một số vấn đề về xây dựng, quản lý, khai thác tủsách pháp luật của đồn biên phòng, Tạp chí khoa học giáo dục Biên phòng, số9/2009

Tác giả khẳng định tủ sách pháp luật là công cụ để tuyên truyên, phổ biến,GDPL, GDPL thông qua tủ sách pháp luật có những thuận lợi và ưu thế riêng Đểnâng cao hiệu quả GDPL thông qua tủ sách pháp luật, theo tác giả cần: nhận thứcđúng vai trò, nhiệm vụ của tủ sách pháp luật; xác định rõ đối tượng phục vụ và nộidung của tủ sách pháp luật; quản lý, khai thác có hiệu quả tủ sách pháp luật; thực hiệntốt việc luân chuyển, trao đổi sách giữa các đồn

* Nhóm những công tình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến ý thức pháp luật.

- Nguyễn Quang Vinh (1997), Quá trình phát triển ý thức pháp luật của độingũ sĩ quan cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, luận vănThạc sĩ KHXHNVQS, Học viện Chính trị quân sự

- Đào Trí Úc (1995), "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", Đề tài khoa họccấp Nhà nước KX 07-17 do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Trí Úc (Chủ nhiệm)

- Nguyễn Đình Lộc (1996), "Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và vấn đề giáodục pháp luật cho nhân dân lao động" - Luận án Phó tiến sỹ Khoa học chính trị

Trang 7

Các công trình trên đã đi sâu làm rõ bản chất, vai trò của ý thức pháp luật, tậptrung phân tích những vấn đề có tính quy luật của quá trình phát triển ý thức phápluật Quá trình hình thành ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ phải xuất phát từnhiệm vụ chính trị, do nhiệm vụ chính trị quy định, phục vụ nhiệm vụ chính trị, gắnvới yêu cầu chức trách của người cán bộ; phải bảo đảm quan hệ biện chứng, thốngnhất quy định và phụ thuộc lẫn nhau giữa giáo dục thuyết phục và cưỡng bức, giữa

kỷ luật nghiêm minh với tự giác tiếp nhận và kết hợp chặt chẽ giữa công tác tưtưởng với công tác tổ chức; là quá trình tác động toàn diện tới các bộ phận cấuthành của ý thức cá nhân, bảo đảm sự phát triển hài hòa phẩm chất nhân cách ngườicán bộ; phải trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Các tác giả đã đề xuất, luận giải được những giải pháp cơ bản về đổi mới côngtác GDPL, nâng cao trình độ tri thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ Theo các tác giả,

để nâng cao ý thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ phải đưa pháp luật vào giảng dạytrong các nhà trường, pháp luật phải trở thành môn học bắt buộc trong các nhàtrường; công tác GDPL phải tiến hành thường xuyên; phát huy tinh thần tự nghiêncứu, học tập pháp luật của đội cán bộ

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn; đề xuấtnhững giải pháp tăng cường công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyệnĐầm Dơi tỉnh Cà Mau hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận văn làm rõ những vấn đề cơ bản về công tác GDPL cho đồng bàoDTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệmcông tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp tăng cường công tác GDPL chođồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Trang 8

Công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mauhiện nay.

* Cơ sở thực tiễn

Là toàn bộ hiện thực công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyệnĐầm Dơi tỉnh Cà Mau; các tư liệu, số liệu, nhận định, đánh giá, sơ kết, tổng kếtthực tiễn của các cấp ủy, chính quyền, các cơ quan chức năng và kết quả điều tra,khảo sát của tác giả; đồng thời luận văn kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các kết quảnghiên cứu của các công trình đề tài có liên quan đã nghiệm thu, công bố

* Phương pháp luận nghiên cứu

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, luận văn sử dụngtổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học liên ngành và khoa học chuyênngành, trong đó chú trọng các phương pháp phân tích – tổng hợp; logic - lịch sử; tổng kếtthực tiễn; thống kê; so sánh; điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về GDPL, làm sáng tỏ tínhđặc thù của công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh

Cà Mau; góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học giúp các cơ quan đảng, cơ quannhà nước, các ban ngành chức năng vận dụng vào lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức tiếnhành GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau Đồngthời, có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy ở các trường chínhtrị của tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị của huyện và các học viện, nhà trườngtrong và ngoài quân đội

Trang 9

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm: Mở đầu, 2 chương ( 4 tiết ), kết luận, danh mục tham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN

ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẦM DƠI TỈNH CÀ MAU 1.1 Đồng bào dân tộc thiểu số và những vấn đề cơ bản

về công tác giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

1.1.1 Huyện Đầm Dơi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đầm Dơi

* Khái quát về huyện Đầm Dơi

Huyện Đầm Dơi là một trong 9 huyện, thành phố của tỉnh Cà Mau, được tách

ra từ huyện Ngọc Hiển (Tư Kháng) Địa danh Đầm Dơi gợi lên hình ảnh của vùngđất chim trời cá nước, nơi có biển Đông rì rào sóng vỗ, rừng đước xanh thẩm bạtngàn, cánh đồng cò bay thẳng cánh Nhờ chế độ thủy triều mang phù sa từ biển vàobồi lắng, tích tụ tạo nên hệ sinh thái rừng ngặp mận, với nhiều lớp động thực vậtphong phú Ngày xưa, Đầm Dơi là nơi có nhiều thú rừng, chim muông, cá đồng, cábiển…Dân gian có câu: “Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp đua”, “Heo rừng đào khoailang, khỉ đột cõng bí rợ”…

Đầu thế kỷ XIX, vùng đất này còn hoang dã Mãi đến sau khi Pháp xâm lượcnước ta mới có dân từ miền trên đổ xuống tìm nơi ẩn náu tránh giặc và tìm kế sinhnhai Theo gia phả một số họ tộc dân cư trong vùng có người thuộc dòng dõi anh

hùng Nguyễn Trung Trực và phó soái Lâm Quang Ky Năm 1868, một nhóm nghĩa

quân chống Pháp bị thất trận phải rút về đầm chim lánh nạn Về sau, cứ vào mùathu hàng năm, cháu chắt của các vị anh hùng dân tộc đến đền thờ ông tại Rạch Giá

để cúng bái, chiêm ngưỡng Các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng, con người ĐầmDơi có tính khí hào hiệp, dũng cảm do có nguồn gốc từ anh hùng Nguyễn TrungTrực và các nghĩa quân chống pháp khác

Các thế hệ con người Đầm Dơi từ xưa đã đổ biết bao mồ hôi, nước mắt vàmáu, để khai hoang lập ấp, tạo nên bờ cõi, ruộng vườn Để có cái tên Ngã Ba ĐầmChim, Xóm Tắt, Xóm Trại Trên, Xóm Trại Dưới … phải đổi không ít mạng người

Trang 11

vì bị cây to ngã đè, vì bị rắn độc cắn chết… Chỉ đào con kênh Chệt Kịch cũng cóhàng chục dân phu ngã xuống bởi đói khát, bệnh tật Sau này những dòng sông lớnnhỏ đi vào lịch sử như Mương Điều, Nhị Nguyệt, Bàu Sen, Cây Tàng, Gành Hào,Lung Lắm, Chà Là … lại nhuộm đỏ xương máu của lớp lớp tiền nhân.

Đến thế kỷ XX, Cách mạng tháng Mười Nga 1917 và tổ chức Thanh niêncách mạng đồng chí hội ra đời năm 1925, ảnh hưởng tới Cà Mau rồi lan dần đếnmột số vùng nông thôn trong đó có huyện Đầm Dơi với địa thế sông ngòi chặngchịt, rừng đước bạc ngàn bao la, đã tạo nên địa thế quốc phòng vững chắc trong đấutranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, cùng với sự sáng tạo của Đảng bộ và quân dânhuyện nhà; mang hào khí của những người con yêu nước, của những người con bình

dị nhưng kiên cường, bất khất, luôn đoàn kết đứng lên chống giặc ngoại xâm trongsuốt quá trình mở đất, dựng nước và giữ nước, từ đó đã xuất hiện nhiều tấm gươngtiêu biểu như: Quách Văn Phẩm, Trần Văn Phán, Trần Ngọc Huy, Nguyễn Huân,Thành Vọng, Tạ An Khương, Dương Thị Cẩm Vân, Phan Thị Đẹt, Tô Thị Tẻ vàcòn biết bao người con ưu tú của Đầm Dơi đã vĩnh viễn nằm xuống để tô điểm choquê hương huyện Đầm Dơi một trang sử hào hùng của Đảng bộ

Đi đôi với công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, quá trình mở mang kinh

tế, văn hóa, dân số Đầm Dơi cũng tăng tự nhiên Năm 1930 dân số chưa đến 10.000người; đến năm 2015 có hơn 192.000 người, trong đó người Hoa và Khmer khoảngtrên 7.000 người Đồng bào theo đạo Phật, Cao Đài, Thiên Chúa, Tin lành khoảng3.500 người Ngày xưa tuổi thọ bình quân chưa tới bốn mươi tuổi, nay nhiều ônglão, bà lão sống đến bảy mươi, cá biệt có người thọ hơn trăm tuổi Đó là dấu hiệutốt lành của môi trường và đời sống Sự phát triển dân cư và các biến cố lịch sử dẫnđến những thay đổi địa giới hành chính Năm 1985, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam quyết định thành lập huyện Đầm Dơi Sau nhiều lần chia tách địagiới hành chính cấp xã, huyện Đầm Dơi hiện nay có 15 xã và 1 Thị trấn Đầm Dơi

là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, có cả ba loại tài nguyên quý giá là ruộng, biển

và rừng Đầm Dơi còn giữ được nghề nuôi có đồng truyền thống ở Thanh Tùng,nghề dệt chiếu ở Tân Duyệt Ngoài ra người dân ngày xưa có nghề săn thú, cá sấu,

Trang 12

dân gian qua điệu hát câu hò Nhờ sớm có phong trào văn nghệ nảy sinh nhiều tàinăng sáng tác, có nhạc sỹ, nghệ sỹ tầm cở quốc gia Trải qua hơn một thế kỷ, kể từthời mới khai hoang, bằng lao động cần cù và sáng tạo, người Đầm Dơi biết giữ gìn,

kế thừa bản sắc văn hóa dân tộc, luôn sống có tình nghĩa, thủy chung, “nhường cơm

sẻ áo, giúp nhau khi tối lửa tắt đèn và hết lòng vì bạn lúc khuynh nguy”, đoàn kết,thủy chung trở nên nếp sống của mọi người Đầm Dơi là huyện thuộc vùng kinh tếven biển của tỉnh, cách trung tâm tỉnh lỵ Cà Mau 30 km về hướng Đông Nam; diệntích tự nhiên gần 83.000 ha, có 15 xã, 1 thị trấn, với 139 ấp - khóm; có 43.234 hộ,với 192.860 khẩu; huyện có chiều dài bờ biển trên 25 km, hệ thống sông ngòi chằngchịt, có 4 cửa sông lớn thông ra biển: Gành Hào, Giá Cao, Giá Lồng Đèn, Hố Gùi ;nhân dân sống chủ yếu là nuôi trồng, khai thác thuỷ sản và thương mại, dịch vụ

Về chính trị: Hệ thống chính trị của huyện gồm các cơ quan cấp huyện:

Huyện uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQ, Hội nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ, Đoànthanh niên, Hội Cựu chiến binh, Liên đoàn lao động và các tổ chức xã hội khác Ở

15 xã và 01 thị trấn của huyện tương ứng có các tổ chức giống như huyện

Về công tác xây dựng Đảng: Huyện Đầm Dơi có 67 tổ chức cơ sở đảng và

4.180 đảng viên, có tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn thực hiện nghiêmtúc Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảnghiện nay”; luôn có ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, tính tiền phonggương mẫu, hiệu quả trong lãnh, chỉ đạo; kịp thời cụ thể hóa và triển khai, quán triệtcác nghị quyết của Đảng đến mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân Công tác giáo dụcchính trị tư tưởng được tăng cường, nhất là việc học tập và làm theo tấm gương đạođức Hồ Chí Minh trở thành phong trào sâu rộng trong xã hội; đã có 495 tập thể và3.990 cá nhân tiêu biểu được cấp trên ghi nhận và biểu dương Hệ thông chính trị từhuyện đến cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động,công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn được tăng cường, kịp thời thẩm tra, xác minh.Công tác Dân vận của Đảng luôn được tăng cường, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thểtích cực tham gia đóng góp xây dựng Đảng, lòng tin của nhân dân đối với Đảngngày càng được nâng cao

Trang 13

Về cơ cấu chính quyền: Huyện Đầm Dơi có 15 phòng, ban trực thuộc UBND

huyện, 11 đơn vị thuộc khối kinh tế, 25 đơn vị khối văn hóa – xã hội, 5 đơn vị khốipháp luật, 20 đơn vị khối đoàn thể và 15 xã, 1 thị trấn Bộ máy chính quyền từhuyện đến cơ sở được củng cố, kiện toàn theo hướng nâng cao năng lực, chất lượnghoạt động; đội ngũ cán bộ công chức, viên chức cơ bản được chuẩn hóa, trình độchuyên môn nghiệp vụ gắn với chức danh vị trí việc làm, cơ bản đáp ứng với yêucầu nhiệm vụ

Về kinh tế: thế mạnh kinh tế của huyện là nuôi trồng và khai thác thuỷ sản,

với diện tích sản xuất trên 62.000 ha trong đó có 3.200 ha diện tích nuôi tôm côngnghiệp; đất rừng 7.219 ha Cơ cấu kinh tế của huyện: ngư, nông, lâm nghiệp 64,7%;công nghiệp, xây dựng 21,5%; thương mại, dịch vụ 23,8%

Về văn hóa: Huyện có Đền thờ Bác Hồ, khu di tích chiến thắng Đầm Dơi

-Cái Nước - Chà Là, tượng đài anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Dương ThịCẩm Vân, Trung tâm văn hoá, thể thao huyện Có 2/15 xã có Trung tâm văn hoá, thểthao; các ấp - khóm đều có trụ sở sinh hoạt văn hoá Hiện nay, toàn huyện có 65% hộgia đình, 35% ấp, khóm và 02 xã đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới; có 4 trườngTrung học phổ thông, trên 30 trường Trung học cơ sở, cùng hệ thống trường Tiểuhọc và trường Mẫu giáo bảo đảm nhu cầu học tập của con em, trong đó có 25 trườngđạt chuẩn Quốc gia Huyện có 01 bệnh viện Đa khoa với 150 giường bệnh, 01 phòngkhám đa khoa khu vực và 15 trạm y tế xã, thị trấn Đội ngũ cán bộ, thầy thuốc huyệncó trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và có y đức phục vụ nhân dân

Trang 14

* Đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

Quan niệm:

Đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau là một bộ phận hợp thành đại gia đình các dân tộc Việt Nam, bao gồm chủ yếu là các dân tộc: Hoa, Tày, Ê Đê, Chăm, Mường, Thái, người Khmer, chiếm đại đa số trong cộng đồng dân cư, có lịch sử truyền thống và sinh sống lâu đời ở huyện Đầm Dơi, là bộ phận dân cư có nhiều sắc thái văn hóa đặc thù, là lực lượng giữ vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển địa phương về mọi mặt, đồng thời góp phần làm phong phú thêm văn hóa bản địa của đại phương.

Cơ cấu thành phần:

Dân tộc Khmer: là dân tộc đông nhất, chiếm tỷ lệ 92% dân số trong đồng bào

DTTS ở huyện Đầm Dơi, sống tập trung ở năm xã Tân Duyệt, Thanh Tùng, QuáchPhẩm Bắc, Ngọc Chánh và Trần Phán Người Khmer có lịch sử truyền thống rất lâuđời, họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền TâyNam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặnven biển, vùng đồi núi Tây nam giáp biên giới Cam Pu Chia NgườiKhmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất Người Khmer có 2 lễlớn trong năm: Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu thángChét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch và Lễ chào mặt trăng (ok angbok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa cácphum - sóc Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thầnthoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyềnthống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc ấn Ðộ, vừa có nguồngốc Ðông Nam Á Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhấtcủa văn hoá Khmer Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa(Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trítrung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú -những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian

Dân tộc Hoa: là dân tộc có dân số đông thứ hai sau dân tộc Khmer, chiếm

6,6% dân số trong đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi Tập trung sống ởhai xã Quách phẩm và Nguyễn Huân Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những

Trang 15

thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh,kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX Với dân tộc Hoa, đời sống xã hội có sự phânhoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao Mối quan hệ với những ngườicùng họ được hết sức coi trọng Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng.Hàng năm vào một ngày nhất định, những người cùng họ tụ tập tại từ đường để làm

lễ giỗ tộc họ Những hoạt động kinh doanh, sản xuất thường có các hội nghề nghiệptương ứng Những hội này đều có một vị tổ và một ngày giỗ tổ trong năm Trongmột năm có nhiều ngày lễ tết, đặc biệt Lễ Nguyên tiêu là đặc trưng lễ tết của ngườiHoa, mọi hoạt động tập trung nhất của tín ngưỡng và văn hoá truyền thống đềuđược biểu hiện trong dịp này Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa cónhiều thể loại như hát, múa, hài kịch với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn(tỳ bà, nhị, nguyệt ), chập choã Hát "sơn ca" (sán cố) là hình thức được nhiềungười ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên Tổ chức văn nghệ dân gian truyềnthống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các "nhạc xã" Múa lân, sư tử, rồng lànhững loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàngnăm, vào những ngày lễ lớn, ngày lễ tết

Dân tộc Tày: tỷ lệ dân số chiếm 0,3% trong đồng bào DTTS, sống rải rác

trên địa bàn huyện Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuốithiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên Người Tày cư trú ở vùng thung lũng cáctỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, TháiNguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái Sau này, do được xóa bỏnhiều tập tục cổ xưa, người Tày được ra khỏi làng, làm ăn xa, gặp gỡ giao lưu vớivăn hóa bên ngoài, và do điều kiện kinh tế hoặc cưới hỏi nên cư trú và sống ổn địnhtại địa phương khác trong đó có huyện Đầm Dơi Hàng năm có nhiều ngày tết vớinhững ý nghĩa khác nhau Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7,cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả Tết gọi hồntrâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chứctrước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúanước Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối

Trang 16

hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng Người ta thường lượn tronghội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản Ngoàimúa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ kháđộc đáo Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông,kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng,đánh chắt, chơi ô

Dân tộc Mường: tỷ lệ dân số chiếm 0,05% trong đồng bào DTTS địa bàn

huyện Người Mường cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng HoàBình, Thanh Hoá, Phú Thọ Người Mường có phong tục, trai gái tự do yêu đươngtìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới Xuất phát từ nguyên nhânđó, nên ngày nay Người Mường đã sống rải rác trên mọi miền đất nước, trong đó cóhuyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau Nét đặc trưng độc đáo của người Mường là Hát Xécbùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích Thường (có nơigọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phongtục dân tộc Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu Ví đúm cũng là loạidân ca phổ biến Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru,hát đồng dao Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca Ðó là những áng mo, bàikhấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang Ngoài sáo, nhị, trống, kèn thì cồngchiêng là nhạc cụ đặc sắc Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng.Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, némcòn Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọinơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đàn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò

le, trò đánh chó hoặc buôn chó, trò đánh mảng, trò chăm chỉ, chằm chăn

Dân tộc Thái: tỷ lệ dân số chiếm 0,05% trong đồng bào DTTS địa bàn huyện.

Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của ngườiThái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm Người Thái có tục cúng tổ tiên ở người TháiÐen vào tháng 7, 8 âm lịch Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch Bản Mường cócúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột Người Thái có các điệu xoè,các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú Trò chơi của người

Trang 17

Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay

và quả mák lẹ Nhiều trò chơi cho trẻ em

Dân tộc Ê Đê: tỷ lệ dân số chiếm 0,1% trong đồng bào DTTS địa bàn huyện.

Cư trú tại hai xã Quách Phẩm Bắc và Tân Thuận Người Ê Đê là cưi dân có mặt lâuđời ở miền trung Tây Nguyên Dấu vết về nguồn gốc hảo đảo của dân tộc Ê Đê đãphản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dângian Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vần còn là một xã hội đang tồn tại những truyềnthống đậm nét mẫu hệ ở nước ta Ngày nay địa bàn cư trú ở tỉnh Đắc Lắc, phía namtỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa Sau này do gia nhập nền kinh tếphát triển, người Ê Đê đến nơi khác sinh sống, làm ăn và cư trú ổn định Người Ê

Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong(không vào một ngày nhất định, tùy theo từng buôn) Sau tế ăn mừng cơm mới(hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vào mùa bội thu, đó là tết lớnnhất, nhà giàu có khi mỗ trâu, bò để cúng tế thần lúa, nhà khác thì mổ lợn gà Vịthần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Điê và Aê Đu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa(yang mđêi) và các thần khác Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh Các vị thầnnông được coi là phúc thần Sấm, xét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ácthần Nghi lễ theo đuỗi ca đời người và nghị lễ cầu phúc, lễ mừng sức khỏe chotừng cá nhân Ai tổ chức được nhiều nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chèquý (vò ử rược cần) thì người đó càng được dân làng kính nể Người Ê Đê có hìnhthức kể khan rất hấp dẫn Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hìnhthức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm Về dân cacó hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả …Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng là bộ cồngchiêng, gồm sáu ciêng bằng, ba chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cáimặt da Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hóa nào của cộng đồng, lại cóthể vắng mặt tiếng cồng chiêng Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng trenứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ítnhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo

Dân tộc Chăm: tỷ lệ dân số chiếm 0,1% trong đồng bào DTTS địa bàn huyện.

Trang 18

Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đãtừng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn

Ðộ Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốcChăm pa Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận

và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đâytheo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni) Bộ phận cư trú ở một số địaphương thuộc các tỉnh Châu Ðốc,Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố HồChí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nôngnghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúacon, lễ mừng lúa ra đòng Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linhđình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch Nhạc cụ Chăm nổi bật có trốngmặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiềuảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạcnam ai, ca hò Huế Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tạicác đền tháp

1.1.2 Những vấn đề cơ bản về công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

* Quan niệm công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

Cho đến nay có khá nhiều cách tiếp cận xoay quanh khái niệm công tác GDPL.Mỗi cách tiếp cận đều có phạm vi, mục đích khác nhau Tuy nhiên, đều thống nhấtvới nhau về mục tiêu đạt đến của công tác GDPL Để có quan niệm đầy đủ về vềcông tác GDPL, cần phải tiếp cận trên cơ sở phương pháp luận của khoa học giáodục Trên phương diện giáo dục, nhất là trong khoa học sư phạm, giáo dục đượchiểu theo hai nghĩa cơ bản là:

Hiểu theo nghĩa rộng: Giáo dục là sự ảnh hưởng, tác động của những điều kiện

khách quan (như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trường sống ) vàcủa cả những nhân tố chủ quan (tác động tự giác, có chủ định và định hướng của

Trang 19

nhân tố con người) nhằm hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đốitượng giáo dục

Hiểu theo nghĩa hẹp: Giáo dục là quá trình tác động định hướng của nhân tố chủ

quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh và sảnxuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ có đầy đủ khả năng thamgia vào lao động và đời sống xã hội

Tuy nhiên, khái niệm GDPL có thể tiếp cận theo nghĩa hẹp, dựa trên hai yếu tố

cơ bản như sau: thứ nhất, GDPL là sự hình thành ý thức của con người là một quá

trình chịu ảnh hưởng và sự tác động của các điều kiện khách quan lẫn các nhân tố

chủ quan Thứ hai: xây dựng khái niệm GDPL dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa "cái

chung" và "cái riêng", "cái đặc thù"; trong mối quan hệ này giáo dục nói chung là

"cái chung" "cái phổ biến" đồng thời cũng là "cái riêng" nó vừa phải mang nhữngđặc điểm chung vừa phải mang tính thể hiện những nét đặc thù của hoạt động giáodục GDPL là phạm trù thuộc về "cái riêng" cái đặc thù trong mối quan hệ với giáodục là "cái chung", "cái phổ biến"

Từ hướng tiếp cận như trên có thể quan niệm: Công tác GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của các chủ thể GDPL để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, niềm tin và hành vi hành động tuân theo pháp luật cho đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ ý thức, niềm tin pháp luật đúng đắn và thói quen hành động phù hợp với các quy định pháp luật và đòi hỏi của nền pháp chế XHCN

Từ khái niệm GDPL nói chung, mặc dù tiếp cận từ góc độ rộng hay hẹp củagiáo dục, thì GDPL cho đồng bào DTTS cũng là hoạt động mang đầy đủ nhữngthuộc tính chung nhất của giáo dục, tuy nhiên đối với đồng bào DTTS thì hoạt độngnày còn có những đặc điểm riêng biệt có tính đặc thù về cả mục đích, nội dung, hìnhthức, phương pháp và chủ thể giáo dục

Theo đó, có thể quan niệm: Công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau là toàn bộ các hoạt động có mục đích, có chủ trương, biện pháp và kế hoạch cụ thể của các chủ thể giáo dục, tác động toàn diện lên nhận

Trang 20

thức, hành vi của đối tượng giáo dục là người đồng bào DTTS nhằm trang bị cho họ tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, niềm tin pháp luật, đồng thời hình thành thói quen chấp hành pháp luật, đảm bảo cho đồng bào DTTS có đầy đủ khả năng tham gia pháp luật vào các quan hệ xã hội phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.

Nội hàm quan niệm trên đây chỉ rõ:

Mục đích của công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau: là nhằm trang bị kiến thức, từng bước nâng cao nhận thức về

pháp luật; qua đó bồi dưỡng và tạo dựng niềm tin, tình cảm pháp lý và niềm tin nộitâm đối với pháp luật; hình thành động cơ, hành vi và thói quen sống và làm việctuân theo hiến pháp, pháp luật

Chủ thể công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên đại bàn huyện Đầm Dơi tỉnh

Cà Mau: Chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo: là hệ thống các cấp ủy ở địa phương, bao gồm

từ Huyện ủy, đến Ban chấp hành Đảng ủy xã, thị trấn, đến chi ủy, chi bộ ở các ấp,

xã, cơ quan, đơn vị chức năng ở địa phương Chủ thể quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện công tác GDPL: là hệ thống các cấp chính quyền địa phương, từ HĐND,

UBND huyện, đến HĐND, UBND các các xã, thị trấn; các cơ quan, ban ngành chứcnăng có chức năng, nhiệm vụ đảm trách việc tuyên truyền, giáo dục ở địa phương

Lực lượng tham gia: bao gồm mọi cán bộ, đảng viên, các tổ chức Mặt trận,

các đoàn thể quần chúng, Hội cựu chiến binh và các tổ chức chính trị xã hội, các tổchức xã hội nghề nghiệp trên đại bàn địa phương

Đối tượng GDPL

Là mọi công dân thuộc các DTTS sinh sống trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh

Cà Mau, không phân biệt trẻ, già, nam, nữ, xu hướng chính trị, tôn giáo, thành phầndân tộc, trình độ văn hóa, chuyên môn nghề nghiệp đều là đối tượng của GDPL chođồng bào DTTS

* Nội dung công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

Pháp luật là một trong những phương tiện hàng đầu để Nhà nước quản lý xãhội, là công cụ để công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa

Trang 21

vụ của mình Công tác GDPL là khâu đầu tiên trong hoạt động thực thi pháp luật, làcầu nối truyền tải pháp luật vào cuộc sống Đây là một hoạt động thường xuyên,liên tục và lâu dài của chủ thể tác động lên đối tượng giáo dục Trong những nămqua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng công tác GDPL, nhiều Nghịquyết quan trọng của Ban chấp hành Trương ương Đảng cộng sản Việt Nam, nhất làcác nghị quyết qua các kỳ Đại hội của Đảng như: Nghị quyết Đại hội V, VI, VII,VIII, IX, X, XI, XII của Đảng điều xác định vai trò, tầm quan trọng của công tácGDPL và trách nhiệm của cơ quan đảng, nhà nước và các đoàn thể, tổ chức xã hộitrong việc tuyên truyền, phổ biến, GDPL, tăng cường pháp chế xã hội

Nội dung công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Maubao gồm tất cả các khâu, các mặt cụ thể như: từ xác định chủ trương, biện pháp lãnhđạo, chỉ đạo của các cấp ủy; biện pháp quản lý điều hành của các cấp chính quyền;quy trình, cách thức tổ chức tiến hành tuyên truyền, phổ biến GDPL của các cơquan chức năng, và đội ngũ cán bộ chuyên trách, báo cáo viên, tuyên truyền viênphổ biến GDPL ở các cấp

Trong đó, việc xác định, lựa chọn đúng nội dung GDPL; cụ thể hóa xây dựngGDPL phù hợp với đặc điểm tâm lý, tập quán sinh hoạt và trình độ nhận thức củaNhân dân đồng bào DTTS trên địa bàn là vấn đề trong tâm, bao trùm toàn bộ côngtác GDPL Theo đó, nội dung GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh CàMau phải toàn diện, tuy nhiên từng đối tượng cụ thể cần lựa chọn những nội dung

cụ thể cho thích hợp, song hiện nay cần tập trung có trọng điểm vào tuyên truyền,phổ biến GDPL cho đồng bào DTTS những nội dung chủ yếu sau:

Trước hết, cần tập trung giáo dục về quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và phápluật, về vai trò của pháp luật, tầm quan trọng của tuyên truyền, phổ biến, GDPL.Giáo dục hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhấtlà: hiến pháp, các đạo luật, các văn bản dưới luật Các quy chế, quy định của các cấpchính quyền địa phương, nhất là các văn bản có liên quan trực tiếp đến việc thựchiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân Trọng tâm là các quy định của pháp

Trang 22

luật về các quan hệ trong lĩnh vực dân sự, hình sự, hành chính, kinh tế, hôn nhân,gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ tài nguyên, môi trường; y tế, laođộng, việc làm, giáo dục, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơbản của con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; các văn bản, quy phạm phápluật mới ban hành; ý nghĩa của việc chấp hành nghiêm hiến pháp, pháp luật trongđời sống hàng ngày, trong mọi quan hệ trong hệ thống chính trị Đồng thời, coitrọng giáo dục ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợiích của việc sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật; bồi dưỡng tình cảm phápluật cho đồng bào DTTS Củng cố, xây dựng niềm tin, pháp luật Giáo dục thóiquen, hành vi pháp luật; tuyên truyền các gương người tốt, việc tốt trong chấp hànhpháp luật; phê phán, lên án các hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội và trên địabàn địa phương

* Hình thức, biện pháp công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

Để công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi có hiệuquả các chủ thể GDPL cần bám sát kế hoạch, nội dung chương trình, đặc điểm tâm

lý, trình độ nhận thức của từng đối tượng và vận dụng linh hoạt các hình thức, biệnpháp cụ thể sau:

Các cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức nghiên cứu, quán triệt chỉ thị, nghị quyết, nộidung chương trình GDPL do trên qui định, chủ động đề ra chủ trương, biện pháplãnh đạo chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, cụ thể hóa và tổchức triển khai thực hiện nghiêm túc nội dung, chương trình GDPL do trên quyđịnh bảo đảm phù hợp với tình hình mọi mặt của địa phương và đặc điểm đồng bàoDTTS; tích cực tuyên truyền giáo dục các chủ trương, chính sách của Đảng, hiếnpháp, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn địa phương, thông qua các hành độngchuẩn mực, mô phạm của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đoàn thể trong thựctiễn để tác động đến nhận thức, niềm tin, hành vi chấp hành pháp luật của đồng bào.Thông qua các hoạt động của các cơ quan chuyên trách, các báo cáo viên,tuyên truyền viên và các phương tiện thông tin đại chúng, tích cực tiến hành tổ chức

Trang 23

tuyên truyền, phổ biến, GDPL của nhà nước, các quy chế, quy định của địa phươngcho đồng bào dân tộc thiểu số bằng nhiều hình thức, phương pháp phong phú, sinhđộng, thiết thực phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thức của từng đối tượngđồng bào, sát với tình hình mọi mặt của địa phương, cơ sở

Thông qua các hoạt động phong phú, sinh động theo chức năng, nhiệm vụ củacác cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị -

xã hội và các tổ chức xã hội nghề nghiệp để tuyên truyền GDPL cho đồng bào DTTS.Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các hoạt động tập thể, sinh hoạtcộng đồng, tôn giáo, lễ hội truyền thống, thông qua các hoạt động này để thu hút,tập trung đồng bào, qua đó vừa thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt đời sống tinh thần, vừakết hợp tuyên truyền, phổ biến, GDPL cho đồng bào DTTS

Thông qua pháp huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảngviên trong thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao theo đúng hiến pháp

và pháp luật để tuyên truyền, phổ biến, GDPL cho đồng bào

Thông qua các sinh hoạt cộng đồng của từng dân tộc và phát huy vai trò củanhững người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc, các vị chức sắc, chức việc trongcác tôn giáo để tuyên truyền, GDPL cho giáo dân là đồng bào DTTS

Tổ chức tuyên truyền, biểu dương và học tập theo những gương “người tốt,việc tốt”; gương chấp hành nghiêm pháp luật, đồng thời phê phán những hành vi,việc làm trái pháp luật, coi thường pháp luật ở địa phương để tuyên truyền, GDPLcho đồng bào DTTS

Thông qua công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, chính quyền, cơ quanchức năng trong duy trì và thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, GDPL chođồng bào DTTS

Thông qua thực hiện Ngày pháp luật theo quy định của Luật phổ biến DTTS;thông qua tuyên truyền, phổ biến, thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng;thông qua thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và phát huy quyền làm chủ của Nhândân; thông qua công tác giáo dục của các nhà trường; thông qua các hình thức sinhhoạt của các tổ chức quần chúng; các cuộc thi tìm hiểu hiến pháp, pháp luật; thông

Trang 24

qua công tác quản lý hành chính của các cấp chính quyền; thông qua hệ thống phátthanh, ba nô, áp phích tuyên truyền cổ động; thông qua tủ sách pháp luật (thư việnđiện tử); thông qua biên soạn, in ấn phát hành, cung cấp sách luật, tờ gấp pháp luật…

* Đặc điểm công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

Một là, công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi luôn luôn đi đôi

với vận động đồng bào xóa bỏ tập tục lạc hậu, trái pháp luật, xây dựng đời sống vănhóa mới, xây dựng nông thôn mới theo chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước

Do những tập quán của đồng bào DTTS khá phong phú, sinh động và đã tồntại khá lâu đời, ăn sâu bám rễ vào đời sống tinh thần, vào sinh hoạt cộng đồng củatừng tộc người khác nhau, trong đó nhiều tập tục thể hiện giá trị văn hóa truyềnthống rất đáng được giữ gìn phát huy, nhưng cũng có khá nhiều tập tục đã thể hiệnrõ tính lỗi thời lạc hậu, cổ hủ cần phải được xóa bỏ, cá biệt còn những tập tục tồn tạitrái với quy định của pháp luật Bởi vậy, quá trình GDPL là quá trình đem văn hóamới, văn minh, tiến bộ đến với đồng bào, đưa pháp luật đi vào đời sống, sinh hoạtcủa đồng bào Đây là quá trình đấu tranh quyết liệt giữa những giá trị văn hóa mới,văn minh, tiến bộ với những tập tục cổ hủ, lạc hậu đã ăn sâu, bám rễ vào đời sốngvăn hóa, tinh thần của đồng bào Quá trình đấu tranh này diễn ra hết sức quyết liệt,phức tạp, không hề đơn giản, đòi hỏi các chủ thể GDPL cần phải kết hợp chặt chẽgiữa tuyên truyền, phổ biến, GDPL với đấu tranh, phê phán, xóa bỏ những tập tụclạc hậu, mê tí, dị đoan, những nề thói không còn phù hợp với nền văn hóa mới, nhất

là những tập tục trái với các quy phạm pháp luật trong các tộc người Đặc biệt,trong giai đoạn hiện nay cần tăng cường giáo dục cho đồng bào DTTS nắm vữngHiến pháp năm 2013 và những văn bản pháp luật mới ban hành, trọng tâm là phápluật về dân chủ ở cơ sở, về đời sống văn hóa mới, xây dựng nông thôn mới, đờisống văn hóa mới; về quốc phòng, an ninh; về hội nhập, mở cửa; về trách nhiệm,nghĩa vụ của công dân…, đồng thời phải đi đôi với đấu tranh bài trừ mê tín, dị đoan,kiên quyết xóa bỏ những tập tục phản văn hóa, trái pháp luật để xây dựng lối sốngmới, đời sống văn hóa mới trong đồng bào

Trang 25

Hai là, công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau là

giáo dục cho đối tượng đặc thù, đòi hỏi nội dung giáo dục phải hết sức thiết thực, cácchủ thể giáo dục phải hết sức cụ thể, tỉ mỉ và tiến hành kiên trì, thường xuyên liên tục.Đặc điểm chung của đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi là trình độvăn hóa hạn chế, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa tinh thần chậm phát triển sovới các dân tộc đông người Trình độ kiến thức pháp luật của đồng bào nhìn chungrất hạn chế, cuộc sống, sinh hoạt cộng đồng chịu sự chi phối trực tiếp, mạnh mẽ bởicác tập tục đã tồn tại lâu đời; một bộ phận khá đông bào còn chưa am hiểu phápluật, chưa thấy rõ vai trò quan trọng của pháp luật trong cuộc sống; ý thức sống vàlàm việc theo hiến pháp, pháp luật chưa cao; chưa nắm chắc được quyền, nghĩa vụcủa công dân nên quá trình tham gia vào các quan hệ pháp lý rất hạn chế, phần đông

bà con sống, sinh hoạt theo văn hóa truyền thống và tập tục, nề thói lạc hậu đượclưu truyền lâu đời trong dân tộc mình Bởi vậy, các chủ thể GDPL cho đồng bàoDTTS cần phải bám sát nội dung, chương trình giáo dục do trên qui định, đồng thờinắm chắc đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thức, nhu cầu tâm lý của từng đối tượngđồng bào Trên cơ sở đó, để lựa chọn, cụ thể hóa nội dung GDPL sao cho thật thiếtthực, cụ thể, sát với cuộc sống sinh hoạt của từng tộc người và nhiệm vụ phát triểnkinh tế, xây dựng địa phương, địa bàn nơi đồng bào sinh sống Đồng thời phải kiêntrì, tiến hành thường xuyên, liên tục, phải lựa chọn, vận dụng được những hìnhthức, phương pháp hết sức sinh động, phù hợp với đặc điểm tâm lý của từng đốitượng đồng bào Chỉ như vậy, công tác GDPL cho đồng bào DTTS mới đem lạihiệu quả thiết thực

Ba là, công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau có

sự tham gia của nhiều tổ chức, lực lượng, với nhiều chương trình nội dung, hìnhthức, phương pháp cụ thể khác nhau, phù hợp với từng đối tượng

Các chủ thể, lực lượng tham gia vào công tác GDPL cho đồng bào DTTS trênđịa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau khá phong phú, sinh động, bao gồm hệ thốngcác cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp chính quyền, Ban Chấp hành các cơ quan đoànthể quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội và các cơ quan chức năng, lực lượng

Trang 26

chuyên trách, các báo cáo viên, tuyên truyền viên, các cơ quan thông tin, báo chícủa cả địa phương và trung ương đứng chân trên địa bàn Mỗi chủ thể, lực lượng cóchức năng, nhiệm vụ cụ thể và phạm vi quyền hạn khác nhau; có nội dung, chươngtrình và hình thức, phương pháp tuyên truyền giáo dục khác nhau, nhưng đều thốngnhất với nhau ở mục đích chung là nâng cao trình độ kiến thức pháp luật, tạo dựng

và củng cố niềm tin pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc tuân theo hiếnpháp, pháp luật cho đồng bào DTTS Bởi vậy, quá trình GDPL cho đồng bào DTTStrên địa bàn huyện Đầm Dơi đòi hỏi phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các tổchức, lực lượng mới đem lại hiệu quả thiết thực Mỗi tổ chức, lực lượng cần bám sátchức năng, nhiệm vụ, nêu cao vai trò, trách nhiệm trong tổ chức, tiến hành GDPLcho đồng bào Quá trình tiến hành các khâu, các bước của công tác GDPL cho đồngbào cần có sự liên kết và phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các tổ chức, lực lượng,tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, hoặc tiến hành cô lập, riêng lẽ giữa các lựclượng làm hạn chế chất lượng, hiệu quả giáo dục

Bốn là, công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau luôn

luôn gắn liền với sự quan tâm chăm lo và cải thiện đời sống vật chất, văn hóa tinh thầncho đồng bào, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn

Giáo dục đi liền với chăm lo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho các đốitượng giáo dục, đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong mọi hoạt động giáo dục nóichung, đồng thời là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục.Thực tiễn cũng cho thấy, chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục nói chung, GDPLcho đồng bào DTTS huyện Đầm Dơi nói riêng chỉ đem lại hiệu quả thiết thực khihoạt động giáo dục được đi liền với việc chăm lo, cải thiện đời sống vật chất, tinhthần cho đồng bào Vì vậy, quá trình GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyệnĐầm Dơi tỉnh Cà Mau hiện nay, đòi hỏi các chủ thể giáo dục nhất thiết phải tiếp tụcquán triệt và thực hiện tốt tinh thần “có thực mới vực được đạo”, tiếp tục chăm lo,cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Coi trọng tuyên truyền, phổbiến, GDPL về kinh tế và nâng cao trình độ phát triển kinh tế của các địa phương,địa bàn Tích cực giúp đỡ đồng bào phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích vàtạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào phát triển kinh tế gia đình và làm giàu theo

Trang 27

đúng qui định pháp luật Đặc biệt, đối với đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, các cấpủy, chính quyền, các cơ quan đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội cần quan tâmchăm lo, tạo mọi điều kiện giúp đỡ đồng bào trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo,xây dựng và phát triển kinh tế của từng hộ gia đình và địa phương, không ngừng cảithiện, nâng cao mức sống; giúp đồng bào trong xây dựng nông thôn mới, đời sống vănhóa mới, từng bước thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, lối sống giữa đồng bàoDTTS với đồng bào các dân tộc đông người.

Năm là, công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

luôn luôn đi đôi với đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn, lợi dụng, mua chuộc, lôikéo đồng bào chống lại Đảng, Nhà nước, chống đối chính quyền của các thế lực thùđịch chống cộng

Xây đi đôi với chống là một quy luật phổ biến trong mọi hoạt động cách mạngnói chung, trong giáo dục nói riêng Do đặc điểm đặc thù của đồng bào DTTS nóichung, trên địa bàn huyện Đầm Dơi nói riêng thường thật thà, chất phác, dễ tin, nên

kẻ thù rất dễ lợi dụng để dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo đồng bào tham gia vào các hoạtđộng chống phá Đảng, chống phá chính quyền cách mạng trên phạm vi cả nướccũng như trong từng địa phương, địa bàn Thực tế hiện nay, các thế lực thù địch,chống cộng đang ráo riết đẩy mạnh chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược

“diễn biến hòa bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tựchuyển hóa” trong nội bộ ta Trên địa bàn huyện Đầm Dơi, địch đã lợi dung lôi kéo,mua chuộc và dụ dỗ đồng bào DTTS tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng,chống phá chính quyền bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, sảo quyệt, đãlàm cho một bộ phận đồng bào ta mắc mưu địch, giảm sút niềm tin vào vai trò, sựlãnh đạo của Đảng, của các cấp ủy đảng, thiếu tin vào sự quản lý điều hành của cáccấp chính quyền, tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp luật ở các mức độ khácnhau Bởi vậy, quá trình GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơichỉ có hiệu quả khi các chủ thể giáo dục biết kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động tuyêntruyền, phổ biến, GDPL với các hoạt động tuyên truyền, giáo dục cho đồng bàoDTTS nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, kiên quyết

Trang 28

phá của các thế lực thù địch bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng và bảo vệhiến pháp pháp luật

* Vai trò của công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

Một là, Công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau là

một bộ phận quan trọng của công tác phổ biến GDPL của Nhà nước, là cầu nối giữaviệc ban hành pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống và tăng cường pháp chếXHCN đối với đối tượng mang đậm nét đặc thù

Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, doNhân dân, vì Nhân dân – Nhà nước mà đặc trưng bản chất nổi bật của nó là tínhthượng tôn của pháp luật Trong Nhà nước đó, việc ban hành pháp luật và tuyêntruyền, phổ biến, GDPL để đưa pháp luật vào cuộc sống là một trong những nhiệm

vụ cơ bản, vấn đề trọng tâm, thiết yếu của tất cả các cấp, các ngành, của các cơquan, bộ máy Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị Công tác GDPL cho đồngbào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi là một bộ phận hợp thành của công tácGDPL của Nhà nước, được tiến hành ở địa phương cơ sở, tiến hành tuyên truyền,phổ biến, GDPL cho đối tượng cụ thể mang đậm nét đặc thù, đó là đồng bào DTTS,với trình độ nhận thức, nhu cầu tìm hiểu pháp luật, cũng như đặc điểm tâm lý cónhiều nét khác biệt, thể hiện rõ tính đặc thù Công tác GDPL cho đồng bào DTTStrên địa bàn huyện Đầm Dơi là cầu nối giữa hoạt động ban hành pháp luật với đưapháp luật đi vào cuộc sống, sinh hoạt của Nhân dân, của các cộng đồng dân cư Nếuthiếu hoạt động tuyên truyền, phổ biến GDPL, đưa pháp luật vào cuộc sống thì cáchoạt động lập pháp và các văn bản pháp luật có đầy đủ, cụ thể đến đâu cũng sẽ trởnên vô nghĩa Công tác GDPL nói chung, GDPL cho đồng bào DTTS nói riêng làcầu nối để chuyển tải các văn bản pháp luật đến đồng bào DTTS; đồng thời hiệnthực hóa các quy trình, quy phạm pháp luật và đưa pháp luật đi vào cuộc sống, triểnkhai thực thi có hiệu quả trong thực tế Đây cũng là quá trình không ngừng củng cố

và tăng cường pháp chế XHCN, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêmminh trong mọi tầng lớp Nhân dân

Trang 29

Hai là, Công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau là

một bộ phận quan trọng trong công tác vận động quần chúng, là nội dung trọng tâmtrong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta đối với đồng bào DTTS Công tác vận động quần chúng nói chung, vận động đồng bào DTTS nói riêngluôn là một nhiệm vụ cơ bản, trọng tâm của Đảng, Nhà nước ta, của các cấp ủy,chính quyền, địa phương cơ sở trong mọi thời kỳ cách mạng Công tác vận độngquần chúng của Đảng bao gồm nhiều nội dung, nhiều bộ phận cụ thể khác nhau, tácđộng đến nhiều đối tượng khác nhau, nhằm tập hợp và thu hút đông đảo mọi tầnglớp Nhân dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam dưới ngọn cờ lãnh đạo củaĐảng để thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành côngCNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Công tác GDPL cho đồngbào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau là một nội dung cơ bản, trọngtâm trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay đối vớiđồng bào DTTS, nhằm không ngừng nâng cao trình hiểu biết kiến thức pháp luậtcho đồng bào, tạo điều kiện cho đồng bào tham gia có hiệu quả vào các quan hệpháp lý; thực hiện tốt quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân; từng bướcnâng cao kiến thức toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng an ninh,không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào; từng bước rútngắn khoảng cách chênh lệch về mức sống, lối sống giữa đồng bào DTTS, ở vùngsâu, vùng xa với các dân tộc đông người, ở các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóacủa cả nước

Ba là, Công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

trực tiếp góp phần nâng cao trình độ dân trí, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kếttoàn dân tộc và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dântộc, sắc tộc của các thế lực thù địch hồng chống phá cách mạng nước ta

Quá trình GDPL là quá trình chuyển tải đến đồng bào các chế định của Hiếnpháp và các quy phạm pháp luật trong hệ thống các văn bản pháp luật của nước ta,đây là những văn bản pháp lý hết sức khoa học, trong đó chứa đựng khối lượngkhổng lồ những kiến thức tổng hợp, bao quát hết thảy các lĩnh vực kinh tế, chính trị,

Trang 30

văn hóa, khoa học, xã hội và quốc phòng, an ninh…của đất nước Vì vậy, quá trìnhGDPL cũng là quá trình truyền tải đến đồng bào DTTS những tri thức tổng hợp trêntất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Thông qua đó, góp phần thiết thực vào mởmang hiểu biết cho đồng bào, nâng cao trình độ dân trí, nhất là đối với đồng bào dântộc ở vùng sâu, vùng xa ít được tiếp xúc, hoặc chậm được cập nhật những thành tựuvăn hóa, khoa học tiên tiến của nhân loại GDPL cho đồng bào DTTS trực tiếp gópphần làm cho đồng bào hiểu rõ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước ta trên tất cả các lĩnh vực; làm cho đồng bào hiểu rõ các chínhsách dân tộc và chủ trương tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước Đây cũng là biện pháp thiết thực,

để tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đồng thời đấu tranh có hiệu quả

để vô hiệu hóa các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội,phản động hồng mua chuộc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽgiữa người kinh với người dân tộc, chia rẽ giữa các dân tộc với nhau, hồng phá vỡkhối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc đởi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bốn là, Công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà

Mau là một trong những nội dung trọng tâm của công cuộc vận động xây dựngđời sống văn hóa mới, xây dựng nông thôn mới và xây dựng phát triển địa

phương về mọi mặt

Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, việc vận động Nhândân cả nước chung tay, góp sức xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng nôngthôn mới đang trở thành cuộc vận động hết sức rộng lớn trong phạm vi cả nước,cũng như ở từng địa phương cơ sở Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của các cấp ủy, tổchức đảng các cấp, sự quản lý điều hành của Nhà nước và các cấp chính quyền địaphương, cơ sở, phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng nông thôn mớiđang từng bước đi vào chiều sâu và đem lại nhiều hiệu quả thiết thực trên nhiều

bình diện của đời sống xã hội Công tác GDPL cho đồng bào DTTS là một trong

những nội dung cơ bản, trọng tâm của cuộc vận động, nhằm thực hiện mục tiêunâng cao kiến thức pháp luật, nâng cao trình độ văn hóa pháp luật, tạo dựng niềmtin và xây dựng ý thức tự giác chấp hành pháp luật cho đồng bào DTTS Các địa

Trang 31

phương, cơ sở, các cấp chính quyền, các cơ quan đoàn thể trong cả nước đang tậptrung đẩy mạnh xây dựng phong trào sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật,đây là một trong những nội dung hết sức căn bản, bao trùm toàn bộ đời sống vănhóa mới trong các cộng đồng dân cư Thực hiện có hiệu quả công tác GDPL chođồng bào DTTS là thiết thực góp phần nâng cao trình độ hiểu biết kiến thức phápluật cho Nhân dân các đồng bào DTTS, góp phần duy trì nghiêm pháp luật và tăngcường pháp chế ở từng địa phương, cơ sở Đây là một mục tiêu quan trọng của cuộcvận động toàn dân xây dựng đời sống văn hóa mới, trở thành tiêu chí căn bản trongxây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng nông thôn mới ở tất cả các cấp chính

quyền, các địa phương, cơ sở trong phạm vi cả nước

* Tiêu chí đánh giá thực trạng công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

Một là, tiêu chí đánh giá về nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng

tham gia công tác GDPL

Nhận thức, trách nhiệm, trình độ năng lực của chủ thể và các lực lượng tham

gia công tác GDPL là dấu hiệu cơ bản, phản ánh thực trạng sinh động của công tácnày Vì vậy, khi xem xét đánh giá thực trạng của công tác GDPL cho đồng bàoDTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi, cần phải xem xét, đánh giá toàn diện những dấuhiệu phản ánh nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể và các lực lượng tham gia vàocông tác này Đánh giá theo tiêu chí này, trước hết cần xem xét đánh giá toàn diệnnhận thức của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ban ngành chức năng, các tổ chứcđoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị - xã hội về nhận thức vị trí, vai trò, tầmquan trọng của công tác GDPL; xem xét đánh giá sự cần thiết của GDPL cho đồngbào DTTS; trình độ hiểu biết kiến thức về pháp luật của các chủ thể, lực lượng thamgia GDPL; nhận thức về vai trò, vị trí, chức năng, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạncủa từng tổ chức, lực lượng đối với công tác GDPL cho đồng bào DTTS; đánh giátoàn diện tính đúng đắn, đầy đủ, mức độ sát hợp của những chủ trương, biện pháplãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, trách nhiệm quản lý điều hành và năng lực trongtổ chức tiến hành hoạt động GDPL của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng các

Trang 32

cấp; xem xét đánh giá toàn diện năng lực tham mưu, đề xuất của các cơ quan, banngành chức năng; nhất là năng lực sư phạm, kỹ năng kinh nghiệm, phương phápGDPL của đội ngũ tuyên truyền viên, báo cáo viên pháp luật…; xem xét tráchnhiệm của các chủ thể, lực lượng trong xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các

kế hoạch, nội dung, chương trình, trong kiểm tra, kiếm soát hoạt động GDPL chođồng bào DTTS; xem xét đánh giá năng lực, trách nhiệm của từng tổ chức, lựclượng gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi được giao và sự quan hệ, phối hợpgiữa các lực lượng… trong tiến hành GDPL cho đồng bào DTTS

Hai là, tiêu chí đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy và xây

dựng kế hoạch, chương trình GDPL của chính quyền, cơ quan chức năng

Đánh giá theo tiêu chí này, trước hết cần tập trung xem xét, đánh giá toàn diện

về tính đúng đắn của các chủ trương, biện pháp lãnh đạo của các cấp ủy đối vớicông tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Biểu hiện cụ thể ở khảnăng nắm vững tình hình mọi mặt của địa phương; khả năng nắm trình độ nhậnthức, đặc điểm tâm lý, nhu cầu đối tượng giáo dục; khả năng quán triệt chủ trương,phương hướng công tác GDPL của cấp trên; khả năng cụ thể hóa xác định chủtrương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở cấpmình Đồng thời, xem xét tính đúng đắn, khoa học trong các kế hoạch, chương trìnhtuyên truyền, phổ biến, GDPL cho đồng bào DTTS của các cấp chính quyền, các cơquan chức năng trên địa bàn huyện; biểu hiện cụ thể ở mức độ quán triệt các chủtrương lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cấp mình và cấp trên về công tác GDPL chođồng bào DTTS; mức độ quán triệt mục tiêu, nội dung, chương trình tuyên truyền,phổ biến, GDPL của các cấp trên; khả năng cụ thể hóa xây dựng kế hoạch, chươngtrình GDPL của cấp mình; năng lực triển khai, tổ chức thực hiện, quản lý điều hànhcác hoạt động GDPL cho đồng bào Xem xét toàn diện vai trò, năng lực tham mưu,

đề xuất của các cơ quan chức năng trong giúp cấp ủy, chính quyền các cấp triểnkhai công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện; đặc biệt là xem xétđánh giá toàn diện năng lực của các cơ quan chức năng, lực lượng chuyên tráchtrong quán triệt triển khai, tổ chức, hướng dẫn và thực hành công tác GDPL chođồng bào DTTS theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi chức trách được phân công

Trang 33

Ba là, tiêu chí đánh giá về sự phong phú, phù hợp của nội dung, hình thức,

biện pháp công tác GDPL

Đánh giá theo tiêu chí này, trước hết cần xem xét, đánh giá tính toàn diện vàkhả năng cập nhật của nội dung, chương trình GDPL so với thực tiễn phát triểncủa khoa học pháp lý; khả năng cập nhật các văn bản pháp luật mới ban hành, baogồm cả hiến pháp, các đạo luật, các văn bản dưới luật; xem xét và đánh giá tínhkhoa học của kế hoạch, nội dung, chương trình GDPL, biểu hiện ở mức độ phùhợp với đặc điểm tâm lý, nhu cầu nhận thức của đối tượng giáo dục; xem xét tínhtoàn diện, tính trọng tâm, trọng điểm trong lựa chọn nội dung giáo dục; đồng thờixem xét, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, nội dung GDPL đã xâydựng, biểu hiện cụ thể ở việc triển khai tuân thủ nghiêm túc theo đúng nội dung,chương trình, tiến trình, thời gian, hình thức, phương pháp GDPL đã được các chủthể xác định trong kế hoạch; ở chất lượng, hiệu quả trong thực hiện từng nội dunggiáo dục, biểu hiện cụ thể ở kết quả truyền thụ và lĩnh hội kiến thức của các chủ thể

và các đối tượng GDPL

Xem xét đánh giá toàn diện các hình thức, phương pháp GDPL đã được lựachọn và thực hành triển khai Biểu hiện cụ thể ở tính phong phú, sinh động, mức độphù hợp của các hình thức, phương pháp giáo dục so với nội dung giáo dục; ở mức

độ phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhu cầu nhận thức, đặc điểm tâm lý của từng đốitượng giáo dục Xem xét hiệu quả trong triển khai, thực hành các hình thức, phươngpháp giáo dục trong thực tế; xem xét kết quả trong truyền tải nội dung, mức độ hấpthu kiến thức toàn diện, mức độ nắm kiến thức pháp luật của đồng bào DTTS saukhi được tham gia vào quá trình GDPL

Bốn là, tiêu chí đánh giá mức độ chuyển biến về kiến thức, niềm tin pháp luật

và hành vi chấp hành pháp luật của đồng bào các DTTS

Chất lượng của toàn bộ hoạt động GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bànhuyện Đầm Dơi, suy đến cùng được phản ánh tập trung ở sự chuyển biến về nhậnthức pháp luật, ở sự phát triển của tình cảm, niềm tin, ý chí pháp luật và tính tự giáctrong chấp hành pháp luật của Nhân dân các đồng bào DTTS trên địa bàn Đánh giá

Trang 34

thực trạng chất lượng GDPL cho đồng bào DTTS dựa theo tiêu chí này, trước hếtcần phải xem xét, đánh giá toàn diện sự chuyển biến cả về nhận thức, niềm tin, hành

vi chấp hành pháp luật từng đối tượng cụ thể Biểu hiện thông qua mức độ chuyểnbiến nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của pháp luật và sự cần thiết phải chấphành pháp luật; mức độ nắm kiến thức pháp luật của từng đối tượng, nhất là kết quảnắm nội dung cụ thể trong các đạo luật và các văn bản pháp luật đã được tuyêntruyền, giáo dục; mức độ phát triển của tình cảm, niềm tin, ý thức pháp luật của cácđối tượng so với trước khi được giáo dục; ở mức độ chuyển biến về ý thức tự giáctrong chấp hành pháp luật Đồng thời xem xét tính tự giác trong chấp hành hiếnpháp, pháp luật của Nhà nước; các quy chế, quy định của các cấp chính quyền địaphương, cơ sở của đồng bào DTTS

1.2 Thực trạng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

1.2.1 Thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

* Ưu điểm

Một là, nhận thức, trách nhiệm và trình độ năng lực của đại bộ phận các chủ

thể GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi những năm qua từngbước được nâng nên, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Theo kết quả điều tra, khảo sát thực tế cho thấy, sau khi triển khai quán triệt thựchiện các đề án về công tác phổ biến GDPL của Thủ tướng Chính phủ, các cấp ủy, chínhquyền, cơ quan chức năng và các lực lượng chuyên trách công tác GDPL ở huyện ĐầmDơi có sự chuyển biến tích cực về nhận thức, chủ động bám sát chặt kế hoạch triểnkhai thực hiện Đề án Chính phủ và các cấp chính quyền, thường xuyên quan tâm đếncông tác GDPL cho các đối tượng nói chung, nhất là đối tượng đồng bào DTTS, nênchất lượng GDPL cho đồng bào DTTS những năm gần đây đã từng bước được nânglên, cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ và nhu cầu của đối tượng

Cấp ủy, tổ chức đảng từ Huyện ủy đến tổ chức cơ sở đảng đều quán triệt sâusắc về vai trò của chính sách dân tộc Đảng ta, đồng thời nhận thức đầy đủ về vị trí,

Trang 35

vai trò, tầm quan trọng của công tác GDPL nói chung, GDPL cho đồng bào DTTSnói riêng Từ nhận thức đó, nên trong xây dựng các nghị quyết, chỉ thị, các chươngtrình hành động, các cấp ủy, tổ chức đảng luôn thường xuyên quan tâm đầy đủ đếncông tác GDPL cho đồng bào DTTS, kịp thời có các chủ trương, biện pháp lãnhđạo, chỉ đạo công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn, cơ sở; thườngxuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá khách quan, chính xác những thuận lợi, khókhăn và chất lượng, hiệu quả hoạt động GDPL cho đồng bào DTTS; trên cơ sở đó

để có giải pháp tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo bổ sung hoàn thiện, không ngừng nângcao chất lượng, hiệu quả công tác GDPL nói chung, GDPL cho đồng bào DTTStrên địa bàn huyện nói riêng

Trên cơ sở quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, và chương trình hành động củacác cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính quyền các cấp cụ thể hóa, tổ chức triển khaithực hiện; thường xuyên quán triệt nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấpchính quyền; tích cực, chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể về công tácGDPL cho đồng bào DTTS; trong các kế hoạch, chương trình GDPL các cấp đềuxác định rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương thức, bước đi cụ thể Trên cơ sở kếhoạch, chương trình đã xây dựng các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng đãnêu cao vai trò, trách nhiệm, tích cực triển khai, tổ chức thực hiện trong thực tế;thường xuyên kiểm tra sơ tổng kết rút kinh nghiệm, nhân rộng các hình thức hoạtđộng phổ biến GDPL có hiệu quả trong toàn huyện

Các cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách trong toàn huyện, đã tích cực,chủ động làm tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ đối với công tác GDPL cho đồng bàoDTTS Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, các cơ quan chức năng, lực lượng chuyêntrách làm công tác tuyên truyền, phổ biến, GDPL ở cấp huyện, cũng như ở các xã,thị trấn đã tích cực tham mưu giúp cho cấp ủy, UBND cùng cấp triển khai công tácGDPL bằng nhiều giải pháp thiết thực, hiệu quả, cụ thể như:

Phòng Tư pháp huyện, đã chủ động tham mưu đề xuất giúp UBND huyện banhành Quyết định thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến GDPL cấp huyện, bao gồm

từ 20 đến 25 thành viên, do Phó Chủ tịch UBND huyện làm Chủ tịch và Trưởng

Trang 36

phòng Tư pháp huyện làm Phó Chủ tịch; trưởng hoặc phó các ngành chức năng,UBMTTQ Việt Nam huyện và các đoàn thể cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp xã làmthành viên Để thực hiện chuyên sâu chương trình, kế hoạch công tác của Hội đồngphối hợp phổ biến GDPL, Phòng Tư pháp huyện đã tham mưu, đề xuất trình UBNDhuyện ra Quyết định thành lập Tổ Báo cáo viên pháp luật cấp huyện có 17 thànhviên, do Trưởng phòng Tư pháp huyện làm Tổ trưởng, Chủ tịch Hội Luật gia huyệnlàm Tổ phó, các cơ quan chức năng pháp luật và các ban ngành đoàn thể làm thànhviên, nhằm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành và không ngừngnâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, GDPL đến các đối tượng, nhất làđối với đồng bào DTTS Phòng Tư pháp huyện đã chủ trì xây dựng Kế hoạch liêntịch với các ngành đoàn thể như: Phòng Tư pháp liên tịch với Phòng Giáo dục, ĐàiTruyền thanh, Phòng Dân tộc, Trung tâm bồi dưỡng chính trị, Liên đoàn Lao động,UBMTTQ, Huyện đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân … hằng năm tổ chức

70 đến 90 cuộc tập huấn với nhiều chuyên đề, nội dung phong phú, đa dạng chongười dân trên địa bàn huyện, trong đó trọng tâm là người DTTS; phối hợp chặt chẽvới các cơ quan chủ trì tổ chức sơ, tổng kết chương trình, kế hoạch công tác, nhằm đánhgiá rút kinh nghiệm, điển hình nhân rộng hiệu quả

Tư pháp cấp xã đã tích cực tham mưu cho UBND xã ban hành quyết địnhthành lập Hội đồng phối hợp phổ biến GDPL cấp xã, mỗi đơn vị có từ 13 đến 17thành viên do Phó Chủ tịch UBND xã làm Chủ tịch Hội đồng phối hợp phổ biếnGDPL và Công chức Tư pháp – Hộ tịch là Phó Chủ tịch Hội đồng phối hợp phổbiến GDPL; ban hành quyết định thành lập Tổ tuyên truyền viên pháp luật do Côngchức Tư pháp – Hộ tịch làm Tổ trưởng, căn cứ vào chương trình, kế hoạch của cấptrên và tình hình thực tế của địa phương, chủ trì xây dựng chương trình, kế hoạchcông tác của Hội đồng phối hợp phổ biến GDPL và các kế hoạch liên tịch để triểnkhai, thực hiện hàng năm tổ chức từ 3.200 đến 3.500 cuộc phổ biến tuyên truyềnpháp luật cho người dân; đặc biệt đối với đồng bào DTTS đều có những nội dung,chương trình riêng phù hợp với trình độ, nhận thức, giác ngộ của đồng bào, từ đóđược đông đảo đồng bào quan tâm hưởng ứng, tích cực tham gia Kết quả được

Trang 37

đánh giá cao qua nhiều lần sơ, tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm trong quá trìnhthực hiện, báo cáo những kết quả về những thuận lợi, khó khăn đến cấp trên.

Nhận thức tầm quan trọng Đề án của Chính phủ về tăng cường Công tác phổbiến GDPL, Quán triệt nghị quyết, bước đi của cấp ủy đảng, chương trình công táccủa chính quyền địa phương, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị xãhội tích cực tham gia phối hợp với tinh thần trách nhiệm cao với các cơ quanchuyên môn nhất là GDPL huyện và các xã, thị trấn, xây dựng và thực hiện các kếhoạch liên tịch, mở ra nhiều hình thức GDPL cho từng đối tượng, luôn chú trọngđến vùng sâu, đồng bào DTTS Theo số liệu điều tra xã hội học thì hàng năm việctuyên truyền, phổ biến, GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện được đồngđảo đồng bào quan tâm, hình thức tổ chức có đổi mới, dễ tiếp thu, có 82% trong 395phiếu điều tra cho rằng nội dung GDPL dễ hiểu, do đó nhận thức về pháp luật củađông đảo đồng bào dược nâng lên rõ nét

Mặt khác, để không ngừng nâng cao hiệu quả GDPL, chính quyền địa phương

đã có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đi đôi với củng cố kiện toàn nâng cao năng lựcchuyên môn và thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng GDPL cho đội ngũ báo cáo viên,tuyên truyền viên pháp luật ở các cấp Hằng năm phối hợp cùng với cấp trên,UBND các cấp tổ chức từ 7 đến 10 cuộc tập huấn nhằm nâng cao nhận thức của độingũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, bảo đảm cho lực lượng này có quyết tâm cao,có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình đối với công tác chuyên môn, có ý thức rènluyện phẩm chất, năng lực toàn diện để hoàn thành nhiệm vụ được giao

Trên cơ sở triển khai, quán triệt sâu rộng các nghị quyết, chỉ thị của Đảng,chương trình công tác của chính quyền địa phương, đội ngũ cán bộ, đảng viên, côngchức, viên chức trong toàn huyện đã tích cực quán triệt, không ngừng nâng caonhận thức, trách nhiệm, tích cực tham gia vào công tác tuyên truyền, phổ biến,GDPL cho đồng bào Theo khảo sát thực tế, đại bộ phận cán bộ, đảng viên nhậnthức tốt vai trò, trách nhiệm, luôn gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật, tíchcực vận động mọi tầng lớp Nhân dân tham gia tìm hiểu học tập nâng cao kiến thứcpháp luật và ý thức tự giác chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, quy chế, quy địnhcủa địa phương, cơ sở

Trang 38

Hai là, nhìn tổng thể nội dung, hình thức, phương pháp GDPL cho đồng bào

DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau đã có sự đổi mới, cải tiến, bước đầu đáp ứngđược mục tiêu, yêu cầu giáo dục và phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thứccủa từng đối tượng

Về nội dung: thực tế có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành

mới, hoặc sửa đổi bổ sung trong từng năm, với khối lượng kiến thức pháp luật rấtrộng và phong phú, để đáp ứng yêu cầu tuyên truyền, phổ biến, GDPL cho đồng bàoDTTS, Hội đồng phối hợp phổ biến GDPL ở các cấp đã biết lựa chọn một số vănbản pháp luật có liên quan về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội ở địa phương, vàcuộc sống của đồng bào DTTS để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho phù hợp vớitrình độ nhận thức, đặc điểm tâm lý và nhu cầu nhận thức của từng đối tượng đồngbào Đã tập trung có trọng điểm vào những nội dung cơ bản, thiết thực của các Luậtnhư: Hiến pháp, Bộ Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luậtgiao thông đường bộ, Luật giao thông đường thủy nội địa, Luật Hình sự, Luật Bìnhđẳng giới, Luật tiếp công dân, Luật trưng cầu ý dân, Luật Phòng, chống thamnhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật quản lý bảo vệ môi trường,Luật Bảo vệ bà mẹ và trẻ em, Luật phòng chống ma túy, Luật Bạo lực gia đình,Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luậtnghĩa vụ quân sự … Đồng thời, giáo dục cho đồng bào những nội dung thiết thựctrong các văn bản dưới luật có liên quan trực tiếp đến đồng bào DTTS như: Quyếtđịnh 134 của Chính phủ về một số hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinhhoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Quyết định 74 củaChính phủ`về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất thiểu số nghèo,đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông cửu long 2008 – 2010; Quyết định 102 củaChính phủ về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo; Quyết định

167 của Chính phủ về chính sách hổ trợ hộ nghèo về nhà ở, Quyết định 54 củaChính phủ về chính sách vay vốn tư liệu sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặcbiệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015; Quyết định 29 của Chính phủ về một số chínhsách hổ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu sốnghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2013 – 2015

Trang 39

dành riêng cho đồng bào DTTS để hiểu và nắm rõ hơn về các chính sách của Đảng

và nhà nước đối với đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi

Về hình thức giáo dục pháp luật: thường xuyên có kế hoạch phối hợp giữa các

thành viên Hội đồng phổi hợp phổ biến GDPL, tổ báo cáo viên, tuyên truyền viênpháp luật với các ngành, các cấp lồng ghép với các hoạt động khác nhau, tổ chứcnhiều cuộc họp dân, thuận lợi với điều kiện dân cư để tuyên truyền pháp luật.Thông qua tuyên truyền miệng làm cho đối tượng dể hiểu, đồng thời giải đáp đượcnhững thông tin phản hồi của bà con Nhân dân Vì vậy tuyên truyền miệng có nhiều

ưu thế hơn các hình thức tuyên truyền khác Duy trì tốt kế hoạch liên tịch giữa Hộiđồng phối hợp phổ biến GDPL huyện với đài truyền thanh huyện có 15 trạm tiếpsóng ở 15 xã, bình quân mõi trạm có từ 20 đến 30 loa, hằng ngày có 3 buổi phát tiếpsóng và đưa thông tin hỏi đáp pháp luật cùng với chương trình thời sự ở địa phươngđến cơ sở, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc Hằng năm, Hội đồng phối hợp phổ biếnGDPL Huyện liên tịch chặt chẽ với các ngành xây dựng chương trình Hội thi phápluật ở cơ sở và cấp huyện, tham gia các Hội thi của tỉnh, trong đó được dàn dựngcác cuộc hội thi dành riêng cho đồng bào DTTS về hỏi đáp pháp luật, đặc biệt làvăn hóa bản sắc dân tộc riêng của từng DTTS, từ đó tạo điều kiện cho đồng bàohiểu rõ hơn về phòng tục tập quán, về bản sắc văn hóa sắc thái riêng của DTTS.Hội đồng phối hợp phổ biến GDPL huyện, thường xuyên phối hợp với PhòngGDPL thuộc Sở Tư pháp biên soạn tài liệu phục vụ công tác tuyên truyền GDPL;các thành viên, tổ báo cáo pháp luật huyện biên soạn các đề cương phục vụ cho cáclớp tập huấn kỹ năng tuyên truyền GDPL vừa biên soạn tài liệu phục vụ công táctuyên truyền cho cơ sở Thực hiện chủ trương về tuyên truyền GDPL qua Bưu điệnvăn hóa xã, huyện đã tổ chức thí điểm rút kinh nghiệm tại xã Tân Tiến, qua đánhgiá mô hình có điều kiện phát huy, từ đó đã nhân rộng đến 16 xã, thị trấn trên địabàn huyện Nhìn chung bà con Nhân dân thường xuyên quan tâm, tìm hiểu để nângcao nhận thức, thông qua những câu chuyện, gương điển hình, những hướng dẫnkhoa học kỹ thuật trong phát triển sản xuất, để ứng dụng hiệu quả Đặc biệt là đốivới đối tượng học sinh, sinh viên tìm hiểu các thông tin về lịch sử truyền thống hào

Trang 40

hùng của dân tộc, những gương điển hình trong học tập, từ đó nêu gương học tập vàsáng tạo.

Quán triệt Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2010 củaThủ tướng Chính phủ về xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật, huyện ĐầmDơi tập trung chỉ đạo xây dựng trong toàn huyện đến nay đã có 302 tủ sách phápluật Hầu hết các xã, thị trấn tủ sách pháp luật được đặt tại phòng tiếp dân, phòngthủ tục hành chính “Một cửa” ở UBND cấp xã, tủ sách pháp luật của các xã đượcđặt tại vị trí thuận lợi tiện cho người đọc Đối với các ấp, khóm tủ sách pháp luật đặttại trụ sở sinh hoạt văn hóa, các trường học tủ sách pháp luật được đặt tại thư việncủa trường … Nhìn chung, thời gian qua việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sáchpháp luật có hiệu quả, phục vụ tốt cho việc nghiên cứu tìm hiểu học tập, pháp luậtluôn được bổ sung, bình quân mỗi tủ sách có từ 40 đến 50 đầu sách Đối với các xãnhư Thanh Tùng, Tân Duyệt, Quách Phẩm Bắc, Ngọc Chánh, Trần Phán, có đôngđồng bào DTTS mỗi ấp điều có bố trí tủ sách pháp luật nơi dân cư tập trung, thuậntiện đi lại, quan tâm bổ sung đầu sách cho việc tiềm hiểu học tập pháp luật, nhất làđầu sách thuộc ngôn ngữ tiếng Khmer

Công tác hòa giải ở cơ sở là một công việc thường xuyên luôn được cấp ủyđảng, chính quyền quan tâm, cộng đồng dân cư gửi gắm niềm tin Toàn huyện đãxây dựng được 139 tổ hòa giải, bố trí trong 139 ấp, khóm, mỗi tổ có từ 5 đến 7thành viên Đối với những nơi có đông đồng bào DTTS các tổ hòa giải đã bố tríngười dân tộc làm thành viên tổ hòa giải Hầu hết các thành viên tổ hòa giải điềuđược tập huấn kỷ năng hòa giải, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến, GDPL, nhìn chungcó đủ năng lực, kinh nghiệm, uy tín và nhiệt tình hoạt động Theo tổng kết hàngnăm, hòa giải thành đạt trên 95%, tình hình tranh chấp, khiếu kiện ở nhiều nơi giảmdần Qua thực tiễn hoạt động giáo dục pháp luật thông qua công tác hòa giải ở cơ sở

đã đem lại hiệu quả thiết thực không chỉ giúp trong nội bộ nhân dân giải quyết đượcnhững mâu thuẫn bất đồng trong cuộc sống mà còn giúp cho người dân nâng caokiến thức pháp luật, xây dựng tình đoàn kết “tương thân, tương ái”, có điều kiện tìmhiểu pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật thông qua hoạt động hòa giải luôn đây

là ưu thế trong công tác GDPL ở cơ sở

Ngày đăng: 10/06/2017, 20:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Ban chấp hành Đảng bộ Huyện Đầm Dơi (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Đầm Dơi 1930- 2005. Nxb Phương đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện ĐầmDơi 1930- 2005
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Huyện Đầm Dơi
Nhà XB: Nxb Phương đông
Năm: 2005
5. Ban chấp hành Đảng bộ xã Tân Duyệt (2010), Lịch sử Đảng bộ xã Tân Duyệt Anh hùng 1930 – 2010, Nxb Phương đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Tân DuyệtAnh hùng 1930 – 2010
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ xã Tân Duyệt
Nhà XB: Nxb Phương đông
Năm: 2010
6. Ban chấp hành Đảng bộ xã Trần Phán (2010), Lịch sử Đảng bộ xã TRần Phán Anh hùng 1930 – 2010, Nxb Phương đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã TRần PhánAnh hùng 1930 – 2010
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ xã Trần Phán
Nhà XB: Nxb Phương đông
Năm: 2010
7. Ban chấp hành Đảng bộ xã Quách Phẩm Bắc (2010), Lịch sử Đảng bộ xãQuách Phẩm Bắc Anh hùng 1930 – 2010, Nxb Phương đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã"Quách Phẩm Bắc Anh hùng 1930 – 2010
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ xã Quách Phẩm Bắc
Nhà XB: Nxb Phương đông
Năm: 2010
8. Ban chấp hành Đảng bộ xã Thanh Tùng (2010), Lịch sử Đảng bộ xã Thanh Tùng Anh hùng 1930 – 2010. Nxb Phương đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã ThanhTùng Anh hùng 1930 – 2010
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ xã Thanh Tùng
Nhà XB: Nxb Phương đông
Năm: 2010
9. Ban chấp hành Đảng bộ xã Nguyễn Huân (2010) Lịch sử Đảng bộ xã Nguyễn Huân Anh hùng 1930 – 2010. Nxb Phương đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã NguyễnHuân Anh hùng 1930 – 2010
Nhà XB: Nxb Phương đông
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứIX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2016
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2015), Báo cáo Tổng kết Một số vấn đề lý luận - thực tiễn quan 30 năm đổi mới (1986 – 2016), Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết Một số vấn đề lý luận - thựctiễn quan 30 năm đổi mới (1986 – 2016)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2015
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
16. Đặng Đức Thắng, “Quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục kỷ luật quân đội trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận Chính trị quân sự, (Số 4/2003), tr.35-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáodục kỷ luật quân đội trong tình hình hiện nay”, "Tạp chí Giáo dục lý luậnChính trị quân sự
17. Giáo trình chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chung về Nhà nước và Pháp luật
Nhà XB: Nxb CTQG
19. Hỏi và đáp về 54 dân tộc Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về 54 dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
24. Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật xã Tân Duyệt (2010), Đề án công tác giáo dục pháp luật giai đoạn 2010 – 2015 trên bàn xã Tân Duyệt . 25. Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật xã Trần Phán (2010), Đề án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề áncông tác giáo dục pháp luật giai đoạn 2010 – 2015 trên bàn xã Tân Duyệt" .25. Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật xã Trần Phán (2010)
Tác giả: Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật xã Tân Duyệt (2010), Đề án công tác giáo dục pháp luật giai đoạn 2010 – 2015 trên bàn xã Tân Duyệt . 25. Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật xã Trần Phán
Năm: 2010
27. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Bộ Quốc phòng (2011), Tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2011 (Lưu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2011 (Lưu hành nội bộ)
Tác giả: Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Bộ Quốc phòng
Năm: 2011
28. Hồ Chí Minh (1947), “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.466-543 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi lối làm việc”, "Hồ Chí Minh toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NxbCTQG
Năm: 1947
29. Hồ Chí Minh (1952), “Bài noi chuyện tại hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996, tr. 560 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài noi chuyện tại hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịchTây Bắc”, "Hồ Chí Minh toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1952
30. Hồ Chí Minh (1952), “Bài noi chuyện trong lễ tuyên dương anh hùng quân đội lần thứ ba”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996, tr. 216 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài noi chuyện trong lễ tuyên dương anh hùng quân đội lầnthứ ba”," Hồ Chí Minh toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1952

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w