1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ CHẤT LƯỢNG LÃNH đạo THỰC HIỆN QUY CHẾ dân CHỦ ở cơ sở của các ĐẢNG bộ xã, ở TỈNH hải DƯƠNG HIỆN NAY

97 443 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 559 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người. Dân chủ XHCN là một hình thức thể hiện quyền tự do bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực. Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Nói về vị trí của vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân” 45, tr.279 và “thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội” 46, tr.249.

Trang 1

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triểncủa đời sống con người Dân chủ XHCN là một hình thức thể hiện quyền tự

do bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực Dânchủ XHCN là bản chất của chế độ ta vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sựphát triển đất nước Nói về vị trí của vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh “Dân chủ là của quý báu nhất củanhân dân” [45, tr.279] và “thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giảiquyết các vấn đề kinh tế - xã hội” [46, tr.249]

Dân chủ phải gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoábằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm Nhân dân thực hiện quyền làm chủthông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thứcdân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhândân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân

và đội ngũ chí thức, do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Văn kiện Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiệnnền dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; mọi đườnglối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi íchcủa nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụđược giao, tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân Nâng cao ý thức vềquyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội củanhân dân Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủtrực tiếp Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và pháp lệnh thực hiệndân chủ ở xã, phường, thị trấn

Theo pháp luật quy định xã là cấp cuối cùng trong hệ thống chínhquyền bốn cấp ở nước ta, cấp thường xuyên trực tiếp với dân và gần dân nhất,

là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú sinh sống Xã có vai trò, nhiệm vụ to

Trang 2

lớn trong việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện mọi đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Sức lan tỏa, độ “ngấm” của cácchủ chương, chính sách, quy chế dân chủ ở cơ sở được thực thi trong cuộcsống như thế nào phụ thuộc rất lớn vào kết quả hoạt động của hệ thống chínhtrị cơ sở, trong đó đảng bộ xã là hạt nhân lãnh đạo.

Nhận thức rõ vai trò của đảng bộ xã về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ

sở, những năm qua Đảng bộ, chính quyền Hải Dương rất quan tâm đến lãnhđạo, chỉ đạo nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là cấp xã.Đảng bộ các xã, tỉnh Hải Dương đã tích cực triển khai đồng bộ nhiều nộidung, biện pháp lãnh đạo để chực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn.Chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã tỉnh HảiDương có những chuyển biến Nhận thức của cấp ủy, chính quyền, MTTQ…các xã và các lực lượng về thực hiện dân chủ có những tiến bộ; nội dungQCDC ở cấp xã nhìn chung đầy đủ, đúng đắn và phù hợp với từng địaphương; thực hiện khá tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra”, tạo được sự đồng thuận trong xã hội …

Bên cạnh những thành tựu đạt được trên đây, chất lượng lãnh đạo thựchiện QCDC ở cấp xã trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm.Nhận thức của một số cấp uỷ còn chưa đúng đắn về tầm quan trọng của việcthực hiện QCDC ở cơ sở; lãnh đạo điều hành chưa thống nhất, chỉ đạo thựchiện chưa thường xuyên, có nơi còn nặng về hình thức, buông lỏng; sự phốikết hợp thực hiện chưa hiệu quả; quy trình thực hiện chưa rõ, tình trạng nhũngnhiễu, gây phiền hà cho nhân dân vẫn còn xảy ra…

Trước yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng

- an ninh đảm bảo trật tự an toàn xã hội của tỉnh Hải Dương, xây dựng các xãtrên địa bàn tỉnh vững mạnh toàn diện, hơn lúc nào hết cần nâng cao chấtlượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ cở của các đảng bộ xã, phường, thị trấn

Trang 3

trên địa bàn tỉnh Hải Dương Đây là vấn đề vừa cơ bản vừa cấp thiết, có ýnghĩa lý luận và thực tiễn.

Với ý nghĩa đó, tác giả chọn vấn đề “Chất lượng lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương hiện nay”

làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Thực hiện QCDC và việc lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở có vị tríquan trọng đối với việc giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ,tạo động lực to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do vậy,trong thời gian vừa qua,vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứucủa nhiều nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau Tiêu biểu có các nhómcông trình sau:

*Nhóm các đề tài khoa học

Phạm Văn Thẩm, “Thực trạng và giải pháp thực hiện QCDC ở cấp xã”,Hải Dương, 2002 Ban Dân vận tỉnh ủy Tiền Giang chủ trì thực hiện đề tàikhoa học: “Nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc thựchiện QCDC ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, 2005 Ban Thường trực Uỷ banMTTQ tỉnh Quảng Trị chủ trì đề tài khoa học "Thực hiện QCDC cơ sở tronggiám sát đầu tư của cộng đồng", 2009 Ban Dân vận Tỉnh ủy Bắc Kạn chủ trì

đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thựchiện QCDC ở cơ sở xã, phường, thị trấn của tỉnh Bắc Kạn”, 2010 Đề tài đãđánh giá việc thực hiện QCDC và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằmnâng cao hiệu quả lãnh đạo của cấp uỷ Đảng xã, phường, thị trấn trong việcxây dựng và thực hiện QCDC cơ sở ở tỉnh Bắc Kạn Rút ra bài học kinhnghiệm sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày18/02/1998 của Bộ Chính trị Các đề tài trên đã trình bày hệ thống các cơ sở

lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ sở,đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằmnâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ sở của các địa phương cụ thể

Trang 4

* Nhóm các luận văn, luận án

Nguyễn Thị Tâm, Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ với việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2000 Nguyễn Thị Xuân Mai, Thực hiện QCDC cơ sở ở các trường phổ thông trên địa bàn Hà Nội hiện nay - thực trạng và giải pháp, Luận án Tiến sĩ chính trị học, Học viện Chính trị quôc gia

Hồ Chí Minh, 2004 Bùi Thị Hạnh, Thực hiện dân chủ cơ sở tại tỉnh Bắc Giang - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành quản lý

hành chính công, mã số 603482, Học viện hành chính quốc gia, 2009 Vũ Thị

Nhung, Thực hiện dân chủ cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp,

Luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành quản lý hành chính công, mã số 603482,

Học viện hành chính quốc gia, 2012 Nguyễn Văn Phương, Hoạt động của MTTQ xã, phường, thị trấn tỉnh Bắc Ninh trong thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay, Luận án Tiến sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, 2014 Bùi Thanh Cao, Hoạt động của tổ chức cơ sở đảng trong thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn tỉnh Hưng Yên hiện nay, Luận án Tiến sĩ

Khoa học chính trị, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, 2015

Các luận văn, luận án nêu trên đã trình bày một cách hệ thống cơ sở lýluận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ và QCDC ở

cơ sở, xác định yêu cầu cụ thể và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nângcao chất lượng thực hiện dân chủ, QCDC ở cơ sở theo sát đặc điểm của từngđối tượng và từng địa phương cụ thể

*Nhóm các sách tham khảo, chuyên khảo

Nguyễn Thu Cúc, Thực hiện QCDC ở cơ sở trong tình hình hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002 Hoàng Chí Bảo, Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến trình đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội, 2007 Đồng Văn Quân, Thực hiện dân chủ trong các trường đại học ở nước ta hiện nay,Nxb CTQG – Sự thật, Hà Nội, 2011 Nguyên Văn

Trang 5

-Nam, Luật tục và việc thực hiện QCDC ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Kon Tum, Nxb CTQG - Sự thật, Hà Nội, 2014

Các cuốn sách đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa, đánh giá đượcthực trạng thực hiện QCDC cơ sở, đặc biệt trên địa bàn nông thôn nước ta, từ

đó đề xuất các nhóm giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ

sở ở nước ta hiện nay

*Nhóm các bài báo khoa học

Trịnh Ngọc Anh, "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệthống chính trị ở cơ sở vững mạnh", Tạp chí Cộng sản, số 11, 4/2003 TrầnBạch Đằng, "Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc ViệtNam", Tạp chí Cộng sản, số 35, 12/2003 Phạm Ngọc Quang, “Thực hiệndân chủ ở cơ sở trong quá trình đổi mới: thành tựu, vấn đề và giải pháp",Tạp chí Lý luận chính trị, số 3/2004 Huỳnh Đảm, “Nhìn lại 10 năm thựchiện QCDC ở xã, phường, thị trấn”, Tạp chí Cộng sản online, 7/2008 LạiQuốc Khánh, “Vấn đề chế độ dân chủ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh

từ góc nhìn triết học”, Tạp chí Cộng sản, số 23/2010.Lê Công Quyền, “Tiếptục thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”, Tạp chí Xây dựng Đảngonline, 10/2013 Từ góc độ lý luận và thực tiễn, các bài viết trên đã luận giải

lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò dân chủ và thựchiện QCDC cơ sở ở Việt Nam, khái quát sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng,Nhà nước về thực hiện QCDC ở cơ sở và đề xuất một số nội dung, biện pháp

để thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở

Toàn bộ các sách, đề tài khoa học, luận văn, luận án, bài báo khoa học

về vấn đề dân chủ, thực hiện QCDC ở cơ sở và lãnh đạo thực hiện QCDC cơ

sở trên là nguồn tài liệu rất quý để tác giả nghiên cứu và kế thừa Tuy nhiên

do giới hạn về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cho đến nay vẫn chưa cómột công trình nào nghiên cứu về chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ

sở của đảng bộ xã, Tỉnh Hải Dương Do đó, vấn đề nghiên cứu của luận vănkhông trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố

Trang 6

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và đề xuấtnhững giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ

sở của các đảng bộ xã trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận giải làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về lãnh đạo và chất lượnglãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã tỉnh Hải Dương

- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng lãnh đạo, chỉ rõ nguyên nhân vàrút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở

cơ sở của các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương

- Đưa ra những yêu cầu và đề xuất những giải pháp cơ bản nâng caochất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã trên địa bàntỉnh Hải Dương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã,tỉnh Hải Dương

*Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ

sở của các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương (gồm 229 đảng bộ xã) Các số liệu, tàiliệu nghiên cứu, tư liệu, điều tra khảo sát giới hạn từ năm 2011 đến nay Đơn

vị tiến hành điều tra khảo sát gồm: Thành phố Hải Dương, các huyện KinhMôn, Kim Thành, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Cẩm Giàng với 56 xã

Đối tượng điều tra khảo sát gồm đảng viên và nhân dân ở các xã trên địabàn nói trên

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở những quan điểm cơ bản của Chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của ĐCSVN

Trang 7

về vai trò của quần chúng nhân dân về nhà nước, về vai trò lãnh đạo của đảngcộng sản về dân chủ, dân chủ XHCN và thực hiện QCDC ở cơ sở.

* Cơ sở thực tiễn

Toàn bộ thực tiễn lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của đảng bộ xã,tỉnh Hải Dương và xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh; Các báo cáo tổngkết về lãnh đạo xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, về lãnh đạo thực hiệnQCDC ở cơ sở nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh Hải Dương; các tài liệu,

tư liệu, số liệu mà tác giả thu thập được trong quá trình nghiên cứu, điều trakhảo sát được tại các địa phương

* Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa họcliên ngành và chuyên ngành, trong đó chú trọng các phương pháp hệ thống -cấu trúc, logic - lịch sử phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hộihọc, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận

về chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở;

- Cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho cấp ủy, chính quyền,MTTQ các cấp ở tỉnh Hải Dương lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nângcao chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ nói chung

và đảng bộ xã nói riêng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

- Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,giảng dạy và học tập tại Trường Chính trị của tỉnh và các trung tâm bồi dưỡngchính trị của huyện trên địa bàn tỉnh Hải Dương

7 Kết cấu của đề tài

Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo, phụ lục

Trang 8

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHẤT LƯỢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ

Ở CƠ SỞ CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, TỈNH HẢI DƯƠNG

1.1 Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và những vấn đề cơ bản về chất lượng lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của các đảng bộ

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh

tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam Tọa độ địa lý của tỉnh Hải Dương là: 20°43'đến 21°14' độ vĩ Bắc; 106°03' đến 106°38' độ kinh Đông Phía tây bắc giáptỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông bắc giáp tỉnh QuảngNinh, phía đông giáp thành phố Hải Phòng, phía nam giáp tỉnh Thái Bình vàphía tây giáp tỉnh Hưng Yên.Theo quy hoạch năm 2007, Hải Dương nằmtrong Vùng thủ đô với vai trò là một trung tâm công nghiệp của toàn vùng

Diện tích toàn tỉnh là 1.662 km² Hải Dương được chia làm 2 vùng:vùng đồi núi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc thị xã Chí Linh và 18 xã thuộc huyệnKinh Môn; là vùng đồi núi thấp Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích

tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ

Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đặc thù của tỉnh, nên đa số nhândân của các địa phương sinh sống tập trung Đây cũng là yếu tố thuận lợi đểtuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật củaNhà nước đến các tầng lớp nhân dân và triển khai các chương trình, đề ánphát triển KT-XH của địa phương

Trang 9

Đặc điểm cơ cấu dân cư và các vấn đề kinh tế - xã hội, quốc phòng

an ninh

Năm 2011, Hải Dương có 1.718.895 người với 405.090 hộ với mật độdân số 1.039 người/km² Thành phần dân số nông thôn chiếm 78,1%; thành thịchiếm 21,9% Tỷ lệ trong độ tuổi lao động khoảng 50% dân số Tuy nhiên vềchất lượng lao động, nghề nghiệp thì tỷ lệ lao động phổ thông còn cao (chiếm85%), lực lượng cán bộ quản lý có trình độ khoa học kỹ thuật cao còn hạn chế,phần lớn chưa có kinh nghiệm hoạt động trong cơ chế thị trường Số lao độnghàng năm tăng nhanh, trung bình khoảng trên 6.000người/1 năm

Về đơn vị hành chính, tỉnh Hải Dương có 10 huyện, 1 thị xã và 1 thànhphố trực thuộc tỉnh Hải Dương (Thành phố Hải Dương; Thị xã Chí Linh;Huyện Nam Sách; Huyện Kinh Môn; Huyện Kim Thành; Huyện Thanh Hà;Huyện Cẩm Giàng; Huyện Bình Giang; Huyện Gia Lộc; Huyện Tứ Kỳ;Huyện Ninh Giang; Huyện Thanh Miện), với 229 xã, 23 phường, 13 thị trấn

Có 6 dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh là: Kinh, Hoa, Sán Dìu, Sán Cháy, HàNhì, Cà Tu trong đó đa số là người Kinh (chiếm 99,82) Đồng bào các dân tộcthiểu số sống hoà thuận, đoàn kết và tập trung sinh sống ở các xã miền núithuộc thị xã Chí Linh, huyện Kinh Môn

Hải Dương là khu vực tập trung nhiều di tích lịch sử nổi tiếng Mảnhđất Hải Dương hiện đang lưu giữ khối lượng lớn văn hoá vật thể và phi vậtthể đa dạng, độc đáo với 1.098 di tích lịch sử, văn hoá, danh thắng Từ nhữngdấu ấn thời kỳ đồ đá cũ có niên đại trên 3 vạn năm ở hang Thánh Hoá, núiNhẫm Dương, đến những di chỉ, di vật có giá trị của thời đại đồ đồng tại ÐồiThông (Kinh Môn), Hữu Chung (Tứ Kỳ), làng Gọp (Thanh Hà), Văn hoá

Lý, Trần, Lê, Nguyễn là dòng chảy liên tục và rực sáng trên vùng đất này, đãtạo nên một không gian văn hoá đặc biệt - nơi kết hợp hài hòa cảnh quan thiênnhiên hùng vĩ với chiều sâu lịch sử và tâm linh với 133 di tích được xếp hạngquốc gia mà tiêu biểu là Côn Sơn - Kiếp Bạc, Phượng Hoàng (Chí Linh)

Trang 10

Trong những năm gần đây, kinh tế tỉnh Hải Dương liên tục phát triểnvới tốc độ cao Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2015 tăng gấp 2,5 lầnnăm 2006, GDP bình quân đầu người giá thực tế tăng từ 9 triệu đồng/ngườinăm 2006 lên 22,7 triệu đồng/người năm 2015.[60] Cơ cấu kinh tế chuyểndịch nhanh theo hướng công nghiệp hoá Tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

- công nghiệp, xây dựng - dịch vụ chuyển dịch từ 26,8% , 43,7% , 29,5% năm

2006 sang 23,0% , 45,6% , 31,4% năm 2015 Kinh tế nông nghiệp, nông thônphát triển tương đối toàn diện, đạt hiệu quả ngày càng cao Công nghiệp pháttriển với tốc độ cao, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất và gắn với thịtrường, giá trị công nghiệp tăng bình quân 12,2%/năm [60] Thương mại -dịch vụ có chuyển biến tích cực từng bước đáp ứng được yêu cầu sản xuất vàđời sống của nhân dân, giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân13,6%/năm, thị trường đô thị và nông thôn đều phát triển tốt Hoạt động tàichính ngân hàng có nhiều tiến bộ Thu ngân sách tăng từ 1.831 tỷ đồng năm

2006 lên 5.720 tỷ đồng năm 2015[60]

Cấp uỷ, chính quyền các cấp đã thường xuyên chăm lo công tác quốcphòng - quân sự địa phương, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận anninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh ngày càng vững chắc.[60] Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động kích động,biểu tình, bạo loạn Đảm bảo vững chắc an ninh trên các lĩnh vực: văn hóa tưtưởng, kinh tế, tôn giáo Công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạmđạt kết quả tích cực Triển khai thực hiện có kết quả Đề án “Làng an toàn, khudân cư an toàn; cơ quan, doanh nghiệp an toàn về an ninh trật tự” trên địa bàntỉnh Giải quyết cơ bản một số "điểm nóng" phức tạp trên địa bàn tỉnh [60]

* Khái quát về các xã trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Theo Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 quy định,các đơn vị hành chính của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được phân định:Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnh chia thành

Trang 11

huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia

thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia

thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã;

quận chia thành phường [29] Như vậy, xã là cấp cuối cùng trong hệ thốngchính quyền bốn cấp ở nước ta, là cấp thường xuyên tiếp xúc với dân và gầndân nhất Xã có vai trò rất quan trọng trong việc cụ thể hóa và tổ chức thựchiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củanhà nước ở địa phương Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước, quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện như thế nào trênđịa bàn phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ

sở, trong đó sự lãnh đạo của đảng bộ xã có vai trò quan trọng hang đầu

Các xã của tỉnh Hải Dương là nơi cộng đồng dân cư làm ăn sinh sống,tập trung một lực lượng lớn lao động, sản xuất ra lương thực, thực phẩm,cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, xí nghiệp và các sản phẩm xuất khẩu,liên kết chặt chẽ với nhau trong các quan hệ dòng họ, làng xóm, nghề nghiệp

và quan hệ kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo…được hình thành từ các làng (thôn,xóm), có các đặc điểm chung về cấu trúc văn hoá, phong tục, tập quán…nhưng cũng có nhiều nét riêng biệt; là nơi phản ánh trực tiếp tâm tư, tình cảm,nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân; nơi tổ chức thực hiện các chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ở nông thôn; nơi cung cấp cáckinh nghiệm thực tiễn để Đảng, Nhà nước và lãnh đạo tỉnh Hải Dương điềuchỉnh bổ sung, hoàn chỉnh các đường lối, chủ trương phát triển nông nghiệpnông thôn Là nơi cư trú và hoạt động của người nông dân, nên mọi biến độngtích cực hay tiêu cực của các xã đều tác động trực tiếp đến sự phát triển chungcủa toàn tỉnh Hải Dương nói riêng cũng như của cả nước nói chung như: cácvấn đề về dân số, dân cư, dân chủ… Đây là những yếu tố quan trọng ảnhhưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Các xã tỉnh Hải Dương ngoài những nét chung của đơn vị hành chínhcấp xã trên cả nước còn có những khác biệt do điều kiện tự nhiên, xã hội,

Trang 12

phong tục, tập quán, truyền thống…ở từng địa phương, tạo lên những nétriêng của toàn tỉnh Hải Dương trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội, quốc phòng, an ninh

Các xã tỉnh Hải Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có

vị trí địa lý thuận lợi, gần các khu công nghiệp và các thành phố lớn, có điềukiện, cơ hội đón nhận và tận dụng sự phát triển chung của cả vùng, trước hết

về khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, vốn đầu tư, tiêu thụ sản phẩm đểphát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp hàng hoá phục vụcho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Các xã, tỉnh Hải Dương là nền tảng, hạt nhân cơ bản thực hiện QCDC cơ

sở, góp phần tạo ra động lực mới, thúc đẩy kinh tế - xã hội ở địa phương pháttriển Chính quyền và nhân dân các xã đã phát huy được quyền làm chủ củanhân dân, xây dựng địa phương giàu đẹp, đảm bảo công bằng xã hội Tuy vậy,một số xã vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế bất cập trong thực hiện dân chủ cơ sở,một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở các địa phương vẫnchưa nêu cao ý thức làm chủ, còn mang nặng tư tưởng ỷ lại, ngại họp hành, đấutranh; phong cách lãnh đạo, quản lý, làm việc của một số cán bộ còn biểu hiệnquan liêu, nể nang, né tránh Đó là những lực cản đối với sự phát triển kinh tế -

xã hội ở địa phương, đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vaitrò của chính quyền, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trongthực hiện QCDC ở cơ sở của cấp xã, tỉnh Hải Dương hiện nay

Trang 13

Cơ sở là nơi các tầng lớp nhân dân sinh sống hàng ngày, nơi sản xuất,kinh doanh, lao động, học tập của nhân dân, nơi nảy sinh những nhu cầu đadạng, bức xúc hàng ngày trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội; nơi trực tiếpthực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, đồng thờicũng là nơi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tác độngtrực tiếp đến đời sống của người dân; nơi có tổ chức cơ sở của Đảng và chínhquyền thay mặt cho Đảng và Nhà nước lãnh đạo nhân dân, quản lý xã hội.Chính vì vậy, cơ sở là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân mộtcách trực tiếp và rộng rãi nhất.

Thực hiện dân chủ cơ sở là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất đểmọi công dân được hưởng quyền dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.Đây là động lực mạnh mẽ để đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhândân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Trong tình hình đó, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số30/CT-TW về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, trong đó nhấn mạnh:

“Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhândân ở cơ sở” [4 tr 5] Chỉ thị yêu cầu Nhà nước cần ban hành QCDC ở cơ sở

có tính pháp lý, mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thựchiện QCDC ở cơ sở cần được xây dựng cho phù hợp với đặc điểm của từngloại cơ sở Đây là bước đột phá về vấn đề dân chủ, thể hiện bước phát triểnmới về lý luận và thực tiễn xây dựng nền dân chủ XHCN của Đảng ta

Như vậy, có thể hiểu rằng QCDC ở cơ sở là tổng thể những điều quyđịnh thành chế độ để mọi người ở cơ sở thực hiện nhằm bảo đảm quyền dânchủ của nhân dân

Nội dung QCDC ở cơ sở là những quy định để thực hiện quyền làm chủ

của các tầng lớp nhân dân ở cơ sở trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhằm bảo đảm cho mọi tổ chức và hoạtđộng ở cơ sở thực sự là của dân, do dân, vì dân

Trang 14

Dân chủ về chính trị: Dân chủ trong hoạch định các chủ trương, đường

lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước và ở địa phương liên quantrực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân ở xã

Dân chủ về kinh tế: Thực hiện quyền của nhân dân trong “Dân biết,bàn, làm, kiểm tra” các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về pháttriển kinh tế, nhất là các vấn đề liên quan đến lợi ích trực tiếp của nhân dân;

kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dựtoán, quyết toán ngân sách, dự án, công trình đầu tư, tiến độ thực hiện,phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, kế hoạch sử dụng đất vàphương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn xã Thực hiệnquyền của nhân dân trong bàn và quyết định trực tiếp chủ trương mức đónggóp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp

xã, thôn do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việckhác trong nội bộ công đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật

Dân chủ về văn hoá, xã hội: Dân chủ trong công tác văn hóa, xã hội,

phòng, chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội của xã; kếtquả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ

xã, thôn; xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữgìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội Dân chủtrong bình xét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và xây dựng nhàtình thương; thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng, giađình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh được tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm, thẻbảo hiểm y tế; giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn xã

Dân chủ về quốc phòng, an ninh: Dân chủ trong trong bảo đảm chế độ

nghĩa vụ quân sự, xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và quốc phòng toàndân; thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ; chính sách hậu phương quân đội vàchính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương; bảo đảmgiữ gìn an ninh, trật tự nơi công cộng, an toàn xã hội trên địa bàn

Trang 15

* Thực hiện QCDC ở cơ sở

Thực hiện QCDC ở cơ sở tỉnh Hải Dương là tổng thể các chủ trương, biện pháp, cách thức do hệ thống chính trị và nhân dân các xã tiến hành trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh… bảo đảm cho nhân dân thực hiện đầy đủ, có hiệu quả quyền, lợi ích và nghĩa

vụ của mình theo đúng quy chế, phù hợp với mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - An ninh ở địa phương,phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương, xây dựng địa phương vững mạnh

Mục đích thực hiện QCDC ở cơ sở là nhằm bảo đảm cho nhân dân thực

hiện đầy đủ, có hiệu quả quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mình theo đúng quychế Mục đích cao nhất của thực hiện QCDC ở cơ sở là để nhân dân phát huyquyền làm chủ, khơi dậy sức sáng tạo, góp phần nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân trong xã, xây dựng các xã vững mạnh

Chủ thể lãnh đạo thực hiện QCDC ở xã là đảng bộ, cấp ủy các cấp, chi

bộ trong đảng bộ xã Đây là yếu tố quyết định nhất đến chất lượng thực hiệnQCDC ở cơ sở các xã

Lực lượng thực hiện quy chế bao gồm cả hệ thống chính trị bao gồmchính quyền, mặt trận, các đoàn thể chính trị xã hội, nhân dân… Lực lượng

đó đòi hỏi phải phát huy sức mạnh của tất cả các bộ phận, lực lượng trongthực hiện QCDC ở cơ sở

Nội dung thực hiện QCDC ở cơ sở:

Những nội dung công khai để nhân dân được biết Chính quyền xã có

trách nhiệm thông tin kịp thời và công khai để nhân dân biết những công việcchính sau: Chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếpđến quyền và lợi ích của nhân dân trong xã, bao gồm: Các nghị quyết củaHĐND, quyết định của UBND xã và của cấp trên liên quan đến địa phương;các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việcliên quan đến dân; những quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương

Trang 16

về đối tượng, mức thu các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ khác đối vớinhân dân theo quy định của pháp luật hiện hành; kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội dài hạn và hàng năm của xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; dựtoán và quyết toán ngân sách xã hàng năm; dự toán, quyết toán thu chi cácquỹ, chương trình, dự án, các khoản huy động nhân dân đóng góp xây dựng

cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng của xã, thôn và kết quả thựchiện; các chương trình, dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư, tàitrợ trực tiếp cho xã; chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xoáđói, giảm nghèo; điều chỉnh địa giới hành chính xã và các đơn vị hành chínhliên quan đến xã; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực,tham nhũng của cán bộ xã, thôn; công tác văn hóa, xã hội, phòng, chống tệnạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội của xã; sơ kết, tổng kết hoạtđộng của HĐND, UBND xã; phương án dồn điền, đổi thửa phục vụ chuyểndịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xã; bìnhxét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và xây dựng nhà tìnhthương; thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng, giađình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh được tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm, thẻbảo hiểm y tế; kết quả lựa chọn, thứ tự ưu tiên và tổ chức thực hiện các côngtrình thuộc các chương trình, dự án của Nhà nước, của các tổ chức và cá nhânđầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã

Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những công việc sau: Chủ trương

và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi côngcộng (điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hóa,thể thao); Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, nếp sống văn minh,giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội; Cáccông việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, phù hợp với quy định của phápluật hiện hành; Thành lập Ban Giám sát các công trình xây dựng do dân đónggóp; Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh giữ gìn an ninh trật tự, an toàn giaothông, vệ sinh môi trường và các hoạt động khác trên địa bàn xã, thôn

Trang 17

Những việc chính quyền xã có trách nhiệm đưa ra nhân dân thảo luận hoặc tham gia ý kiến trước khi chính quyền xã quyết định (hoặc trình cấp có

thẩm quyền quyết định) gồm có: Dự thảo nghị quyết của HĐND xã; Dự thảoquy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của xã,phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và phương án phát triểnngành nghề; Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương vàviệc quản lý, sử dụng có hiệu quả quỹ đất công ích của xã; Phương án quyhoạch khu dân cư; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới; kế hoạch, dự

án huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng

cơ sở hạ tầng do xã quản lý; Dự thảo đề án phân vạch, điều chỉnh địa giớihành chính xã, đề án chia tách, thành lập thôn; Dự thảo kế hoạch triển khaicác chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn xã; Chủ trương, phương ánđền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng cơ sở, tái định cư; Giải quyếtviệc làm cho người lao động trên địa bàn xã;

Những việc nhân dân ở xã giám sát gồm có: Hoạt động của chính

quyền xã, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức nghề nghiệp

ở xã; Kết quả thực hiện nghị quyết của HĐND và quyết định, chỉ thị củaUBND xã; Hoạt động và phẩm chất đạo đức của Chủ tịch HĐND và Chủ tịchUBND, hoạt động của đại biểu HĐND xã, của cán bộ UBND xã và cán bộ,công chức hoạt động tại địa phương; Giải quyết khiếu nại, tố cáo của côngdân tại địa phương; Dự toán và quyết toán ngân sách xã; Quá trình tổ chứcthực hiện công trình, kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình do nhân dânđóng góp xây dựng và các chương trình, dự án do Nhà nước, các tổ chức và

cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã; Các công trình của cấp trên triển khaitrên địa bàn xã có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, an ninh, trật tự, văn hoá -

xã hội, vệ sinh môi trường và đời sống của nhân dân địa phương; Quản lý và

sử dụng đất đai tại xã; Thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của Nhànước, các khoản đóng góp của nhân dân; Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải

Trang 18

quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng liên quan đến cán bộ xã; Việc thựchiện chế độ, chính sách ưu đãi, chăm sóc, giúp đỡ thương binh, bệnh binh, giađình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước, chính sách bảo hiểm

xã hội, bảo trợ xã hội

Phương thức thực hiện QCDC ở xã bao gồm hai hình thức: dân chủ đại

diện (dân chủ gián tiếp) và dân chủ trực tiếp

Dân chủ trực tiếp là phương thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể

quyền lực đối với những vấn đề cơ bản, trọng yếu Ở cơ sở, việc bầu đại biểuHĐND (HĐND) xã; bầu trưởng thôn; góp ý xây dựng chính quyền; bàn vàquyết định mức đóng góp xây dựng công trình phúc lợi công cộng của thôn,xây dựng hương ước, qui ước làng,… là các hình thức dân chủ trực tiếp

Dân chủ đại diện là hình thức thể hiện ý chí không trực tiếp của chủ thể

quyền lực mà thông qua các đại diện do chủ thể đó ủy quyền thực hiện Nhândân giữ quyền giám sát, kiểm tra hoạt động của đại biểu, cơ quan đại diện Ở

cơ sở, đại diện có thể là trưởng thôn, đại diện các đoàn thể và đại biểu HDND

ở cấp xã

Dân chủ trực tiếp hay dân chủ đại diện, mỗi hình thức có mặt mạnh vàcũng có mặt hạn chế, mỗi hình thức thích hợp cho những nội dung dân chủ cụthể, đồng thời có quan hệ tác động, giao thoa lẫn nhau

Dân chủ trực tiếp có đặc điểm là không qua trung gian, nhân dân cóquyền quyết định trực tiếp những vấn đề họ quan tâm Nhưng chất lượng củadân chủ trực tiếp phụ thuộc nhiều vào trình độ kinh tế và dân trí, nếu ngườidân còn thiếu ý thức pháp luật thì sẽ làm giảm hiệu quả thực hiện dân chủ trựctiếp Dân chủ đại diện có ưu điểm xác định rõ trách nhiệm cá nhân, tập trungđược thông tin, quyền lực và quyết định nhanh Tuy nhiên, dân chủ đại diện

dễ dẫn đến độc đoán, quan liêu, xa rời nhân dân Dân chủ đại diện đòi hỏiphải có cơ chế kiểm tra, giám sát tốt Do đó, trong quá trình thực hiện dân chủ

ở cơ sở, hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện có thể bổ khuyết

và hỗ trợ lẫn nhau

Trang 19

Cơ chế lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện QCDC ở cấp xã được thực

hiện theo nguyên tắc: Đảng bộ lãnh đạo, chính quyền cấp xã quản lý, nhândân làm chủ Cơ chế này là hệ thống chỉnh thể, phân định rõ ràng chức năng,nhiệm vụ của từng bộ phận, từng lực lượng nhằm phát huy, sức mạnh tổnghợp trong thực hiện QCDC ở cơ sở, đồng thời chỉ rõ mối quan hệ giữa cácthành tố trong quá trình thực hiện, tránh hiện tượng chồng chéo, lấn sân hoặcthoái thác, đùn đẩy

* Vai trò thực hiện QCDC ở cấp xã

Một là, thực hiện quy chế dân chủ ở xã góp phần nâng cao ý thức làm chủ của người dân, đáp ứng lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội Bản chất của chế độ XHCN là dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân

dân Việc ban hành và thực hiên nghiêm túc QCDC ở cơ sở sẽ nâng cao ýthức làm chủ của người dân Nhân dân thấy được quyền, nghĩa vụ và tráchnhiệm của mình để từ đó phát huy sức sáng tạo, xây dựng và phát triển quêhương, làng xã Đồng thời, các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ cũng sẽthấy rõ được chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình trong thực hiện dân chủ.Không khí dân chủ được hình thành và phát huy, niềm tin của nhân dân vớiĐảng, với chính quyền được củng cố và tăng cường sẽ góp phần nâng cao sựđồng thuận trong xã hội, không để xảy các hiện tượng tiêu cực xã hội

Hai là, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là nhân tố có ý nghĩa trực tiếp quyết định thực hiện thắng lợi mọi đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở cơ sở Cơ sở là cầu nối quan trọng để

đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp Nhà nước đi vàocuộc sống Do đó, thực hiện tốt QCDC ở cơ sở, nhân dân sẽ được thông tinđầy đủ về nội dung chủ trương, chính sách mới của Đảng đồng thời động viênnhân dân phát huy tinh thần làm chủ của mình, góp sức thực hiện thắng lợimọi chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước

Trang 20

Ba là, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng địa phương vững mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở sẽ phát huy

cao độ quyền làm chủ của nhân dân theo đúng phương châm: dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra Điều này sẽ tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội,góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh giảm thiểutối đa những biểu hiện tiêu cực làm cho kinh tế - xã hội ở địa phương khôngngừng phát triển, quốc phòng - An ninh được củng cố, thực tế đã chỉ ra rằng,

ở đâu và khi nào QCDC ở cơ sở được thực hiện tốt thì khi ấy và ở đó cơ sởchính trị - xã hội của địa phương vững mạnh và ngược lại Ở đâu, khi nàothực hiện QCDC ở cơ sở làm qua loa, đại khái thì ở đó và khi đó sẽ xảy ranhững hiện tượng mất ổn định, trật tự, xuất hiện tình trạng khiếu nại, tố cáo,

đó, đảng bộ xã ở tỉnh Hải Dương là tổ chức đảng cấp trên chi bộ được lập ở

xã theo quyết định của đảng uỷ cấp trên, là hạt nhân lãnh đạo chính trị, lãnhđạo mọi mặt trong xã theo chức năng, nhiệm vụ, nội dung và quyền hạn quyđịnh, là trung tâm đoàn kết trong xã

Đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương không gồm các doanh nghiệp, đơn vị sựnghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an và các đơn vị cơ sở khác Cácchi bộ cơ sở trực thuộc đảng ủy xã là các chi bộ thôn, chi bộ cơ quan, trườnghọc, trạm xá

Trên cơ sở Điều lệ ĐCSVN (khóa XI) quy định về chức năng, nhiệm vụcủa TCCSĐ và Quy định 95 - QĐ/TW ngày 03/3/2004 của Ban Bí thư Trung

ương, đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương có chức năng là hạt nhân chính trị, lãnh

Trang 21

đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước; lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ở xã,phường, thị trấn vững mạnh, giàu đẹp, văn minh; không ngừng nâng cao đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa

vụ đối với Nhà nước

Nhiệm vụ của đảng bộ xã tỉnh Hải Dương được thể hiện cụ thể ở những

nội dung sau:

Một là, lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội, an ninh quốc phòng

Lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triểnkinh tế - xã hội theo nghị quyết đại hội của đảng bộ, chi bộ xã và của cấp trên;phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tạo thêm việc làmmới cho người lao động; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước; xâydựng nông thôn giàu đẹp, văn minh; lãnh đạo nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,quản lý và sử dụng đất hợp lý; thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng(điện, đường, trường, trạm ) ; quản lý và sử dụng tốt các nguồn vốn vay, vốnnhân dân đóng góp và các nguồn vốn khác; phát triển sự nghiệp văn hoá, giáodục, y tế, bảo vệ môi trường, thực hiện tốt các chính sách xã hội, xoá đói,giảm nghèo

Lãnh đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện tốtphương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; giám sát mọi hoạtđộng ở cơ sở theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước; mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; kịp thời giảiquyết những vướng mắc phát sinh trong cộng đồng dân cư ở cơ sở theo đúngluật pháp, không để tích tụ mâu thuẫn trở thành những điểm nóng, không đểxảy ra tình trạng khiếu kiện tập thể, vượt cấp hoặc lợi dụng dân chủ để làmmất ổn định chính trị ở nông thôn

Trang 22

Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và chính sách hậuphương quân đội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; đề caotinh thần cảnh giác cách mạng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ tài sản của Nhà nước,của tập thể, tính mạng và tài sản của nhân dân; ngăn chặn và đẩy lùi các tệnạn xã hội, nhất là ma tuý, mại dâm.

Hai là, lãnh đạo công tác tư tưởng

Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạođức, tác phong Hồ Chí Minh và phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủnghĩa xã hội trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thanh niên, thiếu niên;xây dựng tình đoàn kết, gắn bó tình làng, nghĩa xóm, đùm bọc, giúp đỡ lẫnnhau; tuyên truyền, vận động làm cho nhân dân hiểu và chấp hành đúngđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cácnhiệm vụ của địa phương

Ba là, lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ

Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị;xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tíchcực tạo nguồn cán bộ tại chỗ; xây dựng quy chế về công tác tổ chức, cán bộ;nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, đãi ngộ đốivới cán bộ thuộc quyền; quản lý và kiểm tra việc thực hiện chính sách đối vớicán bộ ở cơ sở theo phân cấp; giới thiệu người đủ tiêu chuẩn, có tín nhiệmtrong tổ chức đảng và nhân dân để bầu vào các chức danh chủ chốt của hộiđồng nhân dân, uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dântheo luật định và điều lệ của mỗi tổ chức

Bốn là, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Lãnh đạo xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở xãvững mạnh, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định và điều lệ củamỗi đoàn thể Thực hiện tốt các chính sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng vàNhà nước, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của

Trang 23

nhân dân; lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xâydựng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước và các nhiệm vụ của địa phương.

Năm là, xây dựng tổ chức đảng

Đề ra chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng đảng bộ, chi bộ trongsạch, vững mạnh, gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở; nângcao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên;giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu,phấn đấu trở thành người lao động giỏi, công dân mẫu mực; cấp uỷ xây dựng

kế hoạch, biện pháp quản lý, phân công nhiệm vụ và tạo điều kiện để đảngviên hoàn thành nhiệm vụ được giao; làm tốt công tác tạo nguồn và phát triểnđảng viên; xây dựng cấp uỷ và bí thư cấp uỷ bảo đảm tiêu chuẩn về phẩmchất, năng lực, thực sự là trung tâm đoàn kết, hoạt động có hiệu quả, đượcđảng viên và nhân dân tín nhiệm

* Đặc điểm của đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương

Đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương là loại hình được thành lập theo đơn vị hànhchính cấp xã Đảng bộ các xã, tỉnh Hải Dương có một số đặc điểm vừa thểhiện nét chung với đảng bộ xã, phường, thị trấn trên cả nước, vừa có nét đặcthù phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương:

Một là, đảng bộ, chi bộ xã, tỉnh Hải Dương chiếm số lượng lớn trong tổng số tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hải Dương Đội ngũ đảng viên phần đông làm nghề nông, sinh sống chủ yếu ở khu vực nông thôn

Tính đến 31/12/2015, Đảng bộ tỉnh Hải Dương có 791 TCCSĐ, trong đó

265 đảng bộ xã, phường, thị trấn (229 đảng bộ xã) Đội ngũ đảng viên ở nôngthôn về cơ cấu và phân bố lực lượng giữa các vùng không đều, đa dạng vềtuổi đời và tuổi Đảng, số đông đảng viên phát triển từ cơ sở, chủ yếu làmnghề nông Với đặc điểm địa hình, dân cư và tâm lý thuần nông, số cán bộcấp xã có trình độ đại học, sau đại học chưa nhiều, tính bảo thủ trong đội ngũ

Trang 24

cán bộ còn nặng Mặt khác, do đặc điểm cố kết cộng đồng, yếu tố dòng tộc,làng, xóm chi phối lớn nên tình trạng vi phạm dân chủ hay dân chủ hình thứccủa cán bộ cơ sở khu vực nông thôn còn xảy ra khá phổ biến.

Hai là, đảng bộ các xã, tỉnh Hải Dương chủ yếu hoạt động trong môi trường nông thôn - nơi đang thực hiện chủ trương CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới Đây là vùng

còn nhiều khó khăn về giao thông, thông tin liên lạc, nhất là các xã xa trungtâm thành phố, thị trấn; trình độ dân trí không cao, đời sống nhân dân cònnhiều vất vả, thiếu thốn so với các tỉnh lân cận Vì vậy, các đảng bộ xã lãnhđạo chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội huy động tổng hợpsức mạnh của toàn xã hội tham gia đóng góp sức người, sức của thực hiệnnhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng các xã, thôn (làng, xóm) vớitinh thần “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trên cơ sở các nội dung, quy địnhcủa QCDC ở cơ sở, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”

Ba là, đối tượng lãnh đạo của đảng bộ các xã, tỉnh Hải Dương chủ yếu

là nông dân, làm nông nghiệp với nhiều nét đặc trưng của cư dân trồng lúa nước Nhân dân ở các xã chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, lợi nhuận

thu được từ hoạt động sản xuất không nhiều nên đời sống còn không ít khókhăn, vất vả Do đặc điểm làng, xã vùng đồng bằng sông Hồng, quan hệ củangười dân các xã, tỉnh Hải Dương có tính cộng đồng cao, gắn bó, cố kết chặtchẽ với nhau qua nhiều đời, nhiều thế hệ Người dân rất coi trọng tính tập thể,cộng đồng Tuy nhiên, mặt trái của quan hệ dòng họ, huyết thống, tình làng,nghĩa xóm dễ dẫn đến biểu hiện cục bộ địa phương, co kéo cho gia tộc, dòng

họ theo quan niệm “Một người làm quan cả họ được nhờ” Mặt khác, lối sống

“trọng tình cảm” nên thường đẩy cái "lý" (luật pháp) xuống hàng thứ hai saucái “tình”, thậm chí còn có biểu hiện coi thường phép nước (pháp luật), "Phépvua thua lệ làng" Với nghề nông làm chính nên vẫn còn tồn tại tâm lý tiểunông, manh mún, nhỏ lẻ, bảo thủ, cục bộ, nể nang, xuôi chiều, ngại va chạm,

Trang 25

ngại đấu tranh và những căn bệnh gia trưởng, quan liêu, hách dịch; còn tồn tạinhững phong tục tập quán lạc hậu

Bốn là, các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương hoạt động trong môi trường có nhiều nét văn hóa đa dạng và riêng biệt; nhiều làng nghề và sản phẩm đã trở thành “thương hiệu” Hải Dương.

Hải Dương là một trong những vùng đất "địa linh nhân kiệt", vùng vănhoá và văn hiến tâm linh chính của cả nước Theo dòng lịch sử đã để lại choHải Dương 1.098 di tích lịch sử, trong đó có 133 di tích được xếp hạng cấpquốc gia và nhiều di tích được xếp hạng đặc biệt như Côn Sơn, Kiếp Bạc,Phượng Hoàng…, có nhiều đình chùa, miếu mạo Hải Dương là quê hươngcủa vải thiều Thanh Hà nổi tiếng; quê hương của bánh đậu xanh (thành phốHải Dương), bánh gai (Ninh Giang); hành tỏi (Kinh Môn) Đây là những làngnghề nổi tiếng, đã làm nên thương hiệu trong và ngoài nước Đây là điều kiện

để đảng bộ xã lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát huy thế mạnhcủa địa phương

Những đặc điểm nêu trên đều có những thuận lợi và có những yếu tố khókhăn, cản trở, tác động đến chất lượng lãnh đạo thực hiện thực hiện QCDC ở

cơ sở của các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương

* Quan niệm lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã, Tỉnh Hải Dương.

Lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã, Tỉnh Hải Dương

là toàn bộ những hoạt động của đảng bộ xã tác động đến việc tổ chức thực hiện QCDC ở xã, nhằm làm cho QCDC được thực hiện đúng mục đích, yêu cầu, nội dung, phương thức,cơ chế thật sự phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân trong xã.

Chủ thể lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã, Tỉnh Hải

Dương là đảng bộ xã, trực tiếp là: đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy xã, các chi

ủy, các chi bộ trực thuộc và toàn thể đội ngũ đảng viên của đảng bộ

Trang 26

Khách thể lãnh đạo là chính quyền xã và các tổ chức thành viên trong hệ

thống chính trị xã, toàn thể nhân dân trong xã

Đối tượng lãnh đạo là thực hiện QCDC ở cơ sở.

Nội dung lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của đảng bộ các xã, tỉnh Hải

Dương bao gồm:

Một là, lãnh đạo hoàn thiện, cụ thể hóa các nội dung của QCDC chophù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của xã

Hai là, lãnh đạo chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội

ở xã tổ chức thực hiện các nội dung của QCDC ở cơ sở

Ba là, lãnh đạo nhân dân thực hiện QCDC ở cơ sở; đấu tranh chốngnhững quan điểm sai trái về dân chủ và những biểu hiện vi phạm quyền làmchủ của nhân dân

Bốn là, kiểm tra, giám sát chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chínhtrị - xã hội ở xã tổ chức thực hiện các nội dung của QCDC ở cơ sở

Năm là, lãnh đạo sơ tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện QCDC ở cơ sở

Phương thức lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của đảng bộ các xã thông

qua nhiều biện pháp và cách thức khác nhau, trong đó đặc biệt chú ý đến phươngthức lãnh đạo bằng đề ra chủ trương, nghị quyết lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơsở; bằng tuyên truyền, vận động, thuyết phục mọi tỏ chức, mọi lực lượng, thựchiện QCDC ở cơ sở thông qua tổ chức đảng, chính quyền, MTTQ và các tổ chứcchính trị - xã hội; thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở và bằng công táckiểm tra, giám sát thực hiện QCDC ở cơ sở

Quy trình lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở nằm trong một hệ thống,

được thể hiện cụ thể trong những khâu chủ yếu sau:

Một là, nghiên cứu, nắm chắc nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Tỉnh

ủy, huyện ủy, tình hình kinh tế - xã hội của địa phương; đánh giá đúng thựctrạng ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân của thực hiện QCDC ở cơ sở; ranghị quyết xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở

Trang 27

Hai là, quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện nghị quyết Khi đã ban

hành nghị quyết, xác định được chủ trương và biên pháp lãnh đạo thực hiệnQCDC ở cơ sở, đảng bộ các xã cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dụccho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Đồng thời tổ chức triểnkhai, phân công nhiệm vụ cho các bộ phận nhất là tổ chức chính quyền vàMTTQ, đoàn thể chính trị - xã hội; chỉ đạo UBND xây dựng chương trìnhhành động cụ thể và phát động các phong trào hành động cách mạng của quầnchúng, hoạt động thi đua nhằm biến nghị quyết về thực hiện QCDC ở cơ sởthành hiện thực

Ba là, tiến hành kiểm tra việc tổ chức thực hiện nghị quyết về lãnh đạo

thực hiện QCDC ở cơ sở Kịp thời phát hiện, biểu dương những tập thể, cá nhânthực hiện tốt QCDC ở cơ sở; uốn nắn những nhận thức lệch lạc, những biểu hiệnchấp hành không nghiêm nghị quyết của đảng ủy, coi nhẹ QCDC ở cơ sở, nhữngbiểu hiện quan liêu, “cửa quyền”, độc đoán, hoặc dân chủ hình thức

Bốn là, thực hiện sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động lãnh đạo

của đảng bộ các xã đối với thực hiện QCDC ở cơ sở một cách toàn diện, đánhgiá chính xác những ưu điểm, khuyết điểm và chỉ rõ nguyên nhân, rút ranhững kinh nghiệm hay góp phần không ngừng nâng cao năng lực và hiệuquả lãnh đạo của đảng bộ đối với thực hiện QCDC ở cơ sở

Nguyên tắc lãnh đạo thực hiện QCDC của đảng bộ các xã, tỉnh Hải Dương

là thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụtrách… Đây là nội dung thể hiện bản chất của ĐCSVN Trong quá trình lãnh đạo,phải thực hiện nghiêm nguyên tắc để vừa phát huy trí tuệ tập thể, vừa phát huyđược tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, tránh biểu hiện độc đoán,chuyên quyền hoặc dân chủ hình thức, tự do, vô kỷ luật

* Quan niệm chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã, Tỉnh Hải Dương.

Chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã tỉnh Hải Dương là tổng hòa các giá trị của các yếu tố, các bộ phận hợp thành

Trang 28

hoạt động lãnh đạo, được tạo nên bởi phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác của từng cán bộ, đảng viên và các tập thể đảng bộ, chi bộ, cấp ủy và được thể hiện ở nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.

* Yếu tố quy định chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã, Tỉnh Hải Dương.

Một là, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, trực tiếp là huyện ủy và các cơ quan chức năng Tính quy định được thể hiện ở việc đề ra chủ trương, biện

pháp lãnh đạo, đề nhiệm vụ cụ thể cho các xã, ở việc kiểm tra, đôn đốc,hướng dẫn, giúp đỡ đảng bộ các xã trong lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở.Thực tiễn trong thời gian qua, Tỉnh ủy, huyện ủy và các cơ quan chức năng đã

có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ

sở của các đảng bộ xã Do đó, chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sởkhông ngừng được nâng cao

Hai là, phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác của đội ngũ bí thư, cấp ủy, cán bộ đảng viên trong đảng bộ Với vai trò là những

người trực tiếp lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở, phẩm chất, năng lực,phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ bí thư, cấp ủy, cán bộ đảng viên

có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ

sở Thực tiễn đã chỉ ra rằng ở đâu, khi nào phẩm chất, năng lực của đội ngũ bíthư, cấp ủy, cán bộ đảng viên tốt thì ở đó chất lượng lãnh đạo thực hiện nhiệm

vụ cao và ngược lại nếu phẩm chất, năng lực của đội ngũ đó yếu kém thì chấtlượng lãnh đạo không cao

Ba là, nhận thức, trách nhiệm, năng lực của chính quyền, mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội các xã đối với thực hiện QCDC ở cơ sở Việc phát huy

vai trò của chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội là mộtphương thức lãnh đạo của Đảng, do vậy nhận thức, trách nhiệm, năng lực củachính quyền, mặt trận và các tổ chức chính trị xã hội có ảnh hưởng lớn đến chấtlượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của đảng bộ các xã, tỉnh Hải Dương

Trang 29

Bốn là, nhận thức, trách nhiệm, năng lực của nhân dân đối với thực hiện QCDC ở cơ sở Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục đích hướng tới

của nâng cao chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của đảng bộ các xãtỉnh Hải Dương Do đó, trình độ nhận thức, trách nhiệm, năng lực của nhândân sẽ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của tỉnh nói chung, đếnchất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã nói riêng

Năm là, tình hình kinh tế - chính trị, xã hội, văn hóa của các xã ở tỉnh Hải Dương ảnh hưởng đến chất lượng lãnh đạo của đảng bộ các xã đối với thực hiện QCDC ở cơ sở Lãnh đạo phát huy quyền làm chủ của nhân dân,

không tách rời với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa… Nhiệm vụ

đó cũng chịu ảnh hưởng của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của các xã.Thực tiễn đã chỉ ra rằng, ở địa phương nào, có điều kiện kinh tế phát triển,văn hóa cao, trật trự xã hội được bảm đảm thì ở đó chất lượng lãnh đạo thựchiện QCDC ở cơ sở đạt được hiệu quả cao Ngược lại, ở thôn nào, xã nào,kinh tế chậm phát triển, có nhiều tệ nạn xã hội, văn hóa thấp thì ở đó quyềnlàm chủ của nhân dân bị hạn chế, chất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ

Trang 30

ở cơ sở của đảng bộ các xã, tỉnh Hải Dương phải dựa trên một số tiêu chí cơbản sau:

Một là, nhận thức, trách nhiệm, năng lực của chủ thể lãnh đạo và các tổ chức, các lực lượng đối với thực hiện QCDC ở cơ sở

Đây là một trong những tiêu chí cơ bản, quan trọng hàng đầu phản ánhchất lượng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của đảng bộ các xã tỉnh HảiDương Trước hết, cần tập trung đánh giá nhận thức của cấp ủy, chi bộ và độingũ cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò của việc lãnh đạo thực hiện QCDC ở

cơ sở; vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo thực hiệnQCDC ở cơ sở Đánh giá trách nhiệm của cấp ủy, chi bộ, đội ngũ cán bộ,đảng viên trong tổ chức quán triệt các chỉ thị, nghị quyết về dân chủ cho cán

bộ, đảng viên và nhân dân; trách nhiệm trong xây dựng, hoàn thiện các quychế, quy định thực hiện QCDC ở cơ sở; tổ chức cho nhân dân tham gia vàocác vấn đề quan trọng ở địa phương; trách nhiệm trong tuyên truyền các chủtrương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của tỉnh ủy, huyện

ủy về QCDC ở cơ sở; giải quyết những vướng mắc của nhân dân trong thựchiện QCDC ở địa phương, tạo sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư trên mọihoạt động, mọi phong trào ở địa phương; tổ chức cho nhân dân đấu tranhchống mọi biểu hiện tiêu cực, vi phạm và lợi dụng dân chủ gây mất ổn địnhchính trị và an toàn trật tự ở địa phương Đánh giá năng lực lãnh đạo thựchiện QCDC ở cơ ở của đảng bộ xã trong việc quán triệt các chỉ thị, nghị quyếtcủa trên về dân chủ, xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở; năng lực ra nghịquyết lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở; năng lực phân công, phân nhiệm củatừng tổ chức trong hệ thống chính trị; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫucủa đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện dân chủ

Hai là, mức độ thực hiện các nội dung, phương thức, quy trình và nguyên tắc lãnh đạo

Đây là tiêu chí phản ánh mức độ quá trình lãnh đạo thực hiện QCDC ở

cơ sở của đảng bộ các xã, tỉnh Hải Dương

Trang 31

Trước hết phải đánh giá nội dung lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở:

chủ trương, biện pháp lãnh đạo QCDC ở cơ sở của đảng bộ xã, chi bộ thôn vềmức độ bảo đảm tính đúng đắn, sát thực, tính khả thi trong thực tiễn; đánh giámức độ hiện thực hoá các chủ trương, biện pháp lãnh đạo đã được triển khaikịp thời, đầy đủ thành các chương trình, kế hoạch, quy chế, quy định, quyước, hương ước, đề án, hướng dẫn trong QCDC ở ở sở của các xã có sát đúng,phù hợp với tình hình ở từng địa phương không

Đánh giá việc lãnh đạo phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thốngchính trị ở xã trong thực hiện QCDC ở cơ sở có phát huy được vai trò của các

tổ chức hay không, có hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, hay khoán trắng thựchiện QCDC ở cơ sở hay không Đánh giá việc lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân thựchiện QCDC ở cơ sở, ở công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong thựchiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, cácnghị quyết của tỉnh, huyện, xã, các quy định của thôn, xóm đến các tầng lớpnhân dân

Đánh giá việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của đảng ủy, đảng bộđối với việc lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở; những thành công, những hạnchế; công tác sơ tổng kết rút kinh nghiệm có duy trì thường xuyên thành nềnnếp không, rút ra được những bài học, kinh nghiệm gì làm cơ sở hoàn thiệnnội dung, biện pháp lãnh đạo

Đánh giá phương thức lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của đảng bộ có

phù hợp hay không, có thể hiện trên nhiều phương diện, nhiều mặt hay không.Đánh giá hiệu quả từng phương diện và cách thức lãnh đạo, mặt nào làmđược, mặt nào chưa làm được

Đánh giá quy trình lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ

xã, lãnh đạo có đúng quy trình không, có bỏ sót, hoặc làm tắt khâu nào từkhâu ra nghị quyết, tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết đến kiểm tra việc

Trang 32

tổ chức thực hiện và sơ tổng kết, rút kinh nghiêm; đánh giá chất lượng củatừng khâu, từng bước trong quy trình lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở.

Đánh giá việc thực hiện nguyên tắc lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở

của đảng bộ các xã, có thực hiện đúng theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tậpthể lãnh đạo, cá phân phụ trách hay không? Có vi phạm nguyên tắc, biểu hiệnđộc đoán chuyên quyền hoặc vô trách nhiệm hay không?

Ba là, kết quả thực hiện QCDC ở cơ sở

Đây là tiêu chí xét cho đến cùng đánh giá chất lượng lãnh đạo thực hiệnQCDC của đảng bộ xã tỉnh Hải Dương

Thứ nhất, đánh giá việc thực hiện nội dung QCDC ở cơ sở Đánh giá

trên từng nội dung QCDC ở cơ sở được thực hiện ở các xã ở mức độ nào từnhững nội dung công khai để nhân dân được biết đến những việc nhân dânđược bàn, những việc chính quyền xã có trách nhiệm đưa ra cho nhân dânthảo luận hoặc tham gia ý kiến trước khi chính quyền xã quyết định, nhữngviệc nhân dân giám sát, kiểm tra Ở từng nội dung đánh giá, chỉ rõ đã làm tốt

ở nội dung nào, ở nội dung nào còn không làm, làm thiếu hoặc làm hình thức Thứ hai, kết quả thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của các xã Kết quả phát triển kinh tế của

địa phương, xây dựng cơ sở hạ tầng “đường, trường, trạm ”; kết quả và mức

độ chuyển biến trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo đảm an sinh xã hội, côngtác dân số, gia đình và trẻ em, văn hóa, thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh;kết quả các cuộc vận động, các phong trào cách mạng và kết quả xây dựngnông thôn mới

Các tiêu chí trên đây là thể thống nhất chặt chẽ, đi từ nhận thức, tráchnhiệm đến những hoạt động cụ thể với nội dung, hình thức, phương phápphong phú, đa dạng và mức độ biểu hiện trên thực tiễn của lãnh đạo thực hiệnQCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã Do đó, để đánh giá chất lượng lãnh đạo

Trang 33

thực hiện QCDC ở cở sở của đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương cần căn cứ vào cáctiêu chí nêu trên một cách toàn diện không coi nhẹ tiêu chí nào

1.2.Thực trạng chất lượng lãnh đạo, nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương

1.2.1 Thực trạng chất lượng lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở

cơ sở của các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương

* Ưu điểm

Một là, tuyệt đại đa số các cấp ủy, chi bộ và đội ngũ cán bộ đảng viên ở các xã, tỉnh Hải Dương có nhận thức, trách nhiệm cao và năng lực lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở.

Thời gian qua, các cấp ủy, đảng bộ, chi bộ và đội ngũ cán bộ, đảng viên

đã nhận thức rõ vai trò quan trọng của thực hiện QCDC ở cơ sở nhằm pháthuy quyền làm chủ của nhân dân để nhân dân được biết, bàn bạc và quyếtđịnh trực tiếp những vấn đề quan trọng, thiết thực, gắn liền với lợi ích củanhân dân Tổng kết 17 năm thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của

Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở của Tỉnh ủy Hải Dương

đã chỉ rõ: Đây thực sự là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, được đông đảo cáctầng lớp nhân dân đồng tình hưởng ứng, tạo chuyển biến sâu sắc trong nhậnthức của các cấp ủy đảng, chính quyền và trong mỗi cán bộ, đảng viên vànhân dân về vị trí và tầm quan trọng trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở, làbước cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” gópphần đưa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thực sự đivào cuộc sống, tạo sự đồng thuận xã hội [65] Ngoài việc nhận thức về vaitrò của thực hiện QCDC ở cơ sở, các cấp ủy, đảng bộ, chi bộ và đội ngũ cán

bộ, đảng viên nhận thức rõ vai trò hạt nhân chính trị trong lãnh đạo thực hiện

QCDC ở cơ sở Qua khảo sát điều tra đảng viên về vai trò lãnh đạo của cấp ủyđối với thực hiện QCDC ở cơ sở, có 59,6% trả lời ở mức tốt; 30,4% trả lời ở

Trang 34

mức bình thường; 10% đánh giá ở mức chưa tốt [ Phụ lục 3] Đánh giá này ởđiều tra nhân dân cụ thể là: 57,5 đánh giá ở mức tốt; 26,5 đánh giá mức bìnhthường;16 đánh giá mức chưa tốt [ Phụ lục 4]

Trách nhiệm của cấp ủy, chi bộ và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hoạtđộng lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở thể hiện ở việc tổ chức quán triệt cácchỉ thị, nghị quyết về thực hiện QCDC cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; đãphát huy tốt trách nhiệm trong xây dựng, hoàn thiện các quy chế, quy địnhthực hiện QCDC ở cơ sở, lãnh đạo việc tổ chức cho nhân dân tham gia vàocác vấn đề quan trọng ở địa phương; có trách nhiệm trong tuyên truyền cácchủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của tỉnh ủy,huyện ủy về QCDC ở cơ sở; tạo sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư trênmọi hoạt động, mọi phong trào ở địa phương; phát huy trách nhiệm trong tổchức cho nhân dân đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, vi phạm và lợidụng dân chủ gây mất ổn định chính trị và an toàn trật tự ở địa phương Kếtquả điều tra khảo sát về trách nhiệm của cấp ủy, chi bộ ở xã đối với việc lãnhđạo thực hiện QCDC ở cơ sở cho thấy 72% đảng viên đánh giá mức tốt, 19,2%đánh giá mức bình thường; 8,8% đánh giá ở mức chưa tốt [ Phụ lục 3]

Năng lực lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở đảng ủy, đảng bộ các xã thểhiện ở việc kiện toàn cấp ủy, quán triệt các chỉ thị, đề án của trên về thực hiệnQCDC ở cơ sở; chất lượng nghị quyết lãnh đạo và xây dựng đề án nâng caohiệu quả thực hiện QCDC ở cơ sở phù hợp, sát đúng với đặc điểm của từngxã; đã có sự phân công cụ thể trên cơ sở chức năng của từng tổ chức trong hệthống chính trị; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ,đảng viên trong thực hiện QCDC ở cơ sở 100% các xã tỉnh Hải Dương đãthành lập BCĐ thực hiện QCDC cơ sở.[65] Theo báo cáo của Tỉnh ủy HảiDương: “Các cấp uỷ dảng trong tỉnh luôn quan tâm đúng mức và thườngxuyên quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các văn bản củaTrung ương về thực hiện QCDC ở cơ sở; cụ thể hóa thành các nội dung

Trang 35

chương trình công tác hàng năm, coi đây là tiêu chí để đánh giá thi đua hoặccông nhận danh hiệu đơn vị, tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh; gắnviệc thực hiện QCDC với nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chínhtrị, với việc đẩy mạnh “Học tập và làm tư tưởng, đạo đức, phong cánh Hồ ChíMinh” theo chỉ thị 05- / CT - TW của Bộ Chính trị; việc thực hiện Nghị quyếtTrung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây Đảng hiện nay”;phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; phong trào thi đua

“Dân vận khéo” [65]

Hai là, lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở được tiến hành với nội dung khá toàn diện và sâu sắc, phương thức khá phong phú, cơ bản đảm bảo đúng quy trình và nguyên tắc.

Đảng ủy, chi ủy, chi bộ các xã đã lãnh đạo thực hiện tốt việc hiện thực hóa các chủ trương, biện pháp lãnh đạo QCDC thành các chương trình, kế hoạch, quy chế, quy định, quy ước, hương ước, đề án, hướng dẫn trong sinh

hoạt dân chủ ở các cộng đồng dân cư Các đảng bộ xã, tỉnh Hải Dương đã cónhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện các quyền, lợi ích và nghĩa vụcủa nhân dân được quy định trong QCDC ở cơ sở Quy chế thực hiện dân chủ

ở cơ sở đã từng bước đi vào cuộc sống, nhiều nơi đã duy trì thành nề nếp,phát huy dân chủ trực tiếp ở thôn, xóm, được mở rộng và nâng cao hơn, đemlại nhiều kết quả thiết thực

Các đảng bộ xã đã lãnh đạo phát huy tốt vai trò của các tổ chức trong

hệ thống chính trị ở xã và vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện dân chủ Lãnh đạo chính quyền cơ sở phát huy vai trò, trách nhiệm trong quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc chủ trương,

biện pháp lãnh đạo của cấp ủy; đã tiến hành phân công, giao nhiệm vụ cụ thểcho các cán bộ có trình độ và phẩm chất năng lực trực tiếp tuyên truyền,

hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở Lãnh đạo Mặt trận và các đoàn

thể chính trị - xã hội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đại diện cho quyền

Trang 36

lực của nhân dân trong giám sát và phản biện xã hội, thường xuyên theo dõi,phát hiện, xem xét, đánh giá, kiến nghị tác động đối với tổ chức đảng, chínhquyền cơ sở và cán bộ, đảng viên trên mọi hoạt động, mọi lĩnh vực, nhiệm vụcủa địa phương Trong báo cáo tổng kết 17 năm thực hiện QCDC, Tỉnh ủyHải Dương đã chỉ rõ: “MTTQ và các đoàn thể nhân dân đã tập trung tổ chứcquán triệt, tuyên truyền các văn bản về thực hiện QCDC ở cơ sở đến đoànviên, hội viên và các tầng lớp nhân dân Chủ động làm tốt chức năng thammưu triển khai thực hiện có hiệu quả đề án “Phát huy vai trò giám sát và phảnbiện xã hội của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội giai đoạn 2011-2015”.Tích cực tham gia và tổ chức tốt các hội nghị tiếp xúc cử tri, phát huy dânchủ, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra giám sát Phối kết hợpvới các cơ quan chức năng làm tốt công tác hoà giải, giải quyết đơn thư khiếunại tố cáo của nhân dân” [65].

Lãnh đạo tiến hành tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, năng lực thực hành dân chủ cho nhân dân; tổ chức cho nhân dân đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện vi phạm dân chủ; kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh Mọi chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết của cấp trên, các chỉ

thị, quyết định của tổ chức đảng, chính quyền ở địa phương đưa ra đều đượcquán triệt đến nhân dân bằng nhiều hình thức phong phú như: thông qua đàiphát thanh địa phương, thông qua hội họp thôn, xóm, tổ nhân dân, chi hội, chiđoàn thông qua các tài liệu hỏi, đáp về QCDC ở cơ sở Báo cáo tổng kết 17năm thực hiện QCDC của tỉnh Hải Dương đã khẳng định: “các xã, đã triểnkhai, tổ chức thực hiện khá nghiêm túc Chỉ thị số 30- CT/TW của Bộ Chínhtrị, các Nghị định 29, 79 và Pháp lệnh số 34 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,qua đó đã làm chuyển biến sâu sắc nhận thức của cán bộ, đoàn viên, hội viên

và các tầng lớp nhân dân về thực hiện QCDC ở cơ sở Phát huy được quyềnlàm chủ của nhân dân, làm cho nhân dân nhận thức đúng hơn về quyền vànghĩa vụ của mình, tạo được niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnhđạo của Đảng [65]

Trang 37

Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân đã từng bước đivào nề nếp, 100% các xã đã có phòng tiếp dân, có qui định về chế độ tiếpcông dân, lịch tiếp dân của cán bộ xã đã giải quyết những vướng mắc ngay từ

cơ sở, hạn chế việc khiếu kiện vượt cấp, kéo dài giữ vững an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội từ cơ sở

Thực hiện tốt chức năng kiểm tra, giám sát thực hiện QCDC ở cơ sở; đồng thời chú trọng sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm

Những năm vừa qua, cấp ủy, đảng bộ, chi bộ ở xã tỉnh Hải Dương đã rấtchú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện QCDC ở cơ sở; đã tập trunghướng công tác kiểm tra, giám sát vào thực hiện QCDC trên các lĩnh vực, cáchoạt động, các nhiệm vụ của từng địa phương, nhất là những vấn đề nhân dânđóng góp ý kiến trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương với nhiềuhình thức: thông qua các kỳ họp của HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thểchính trị - xã hội; trưng cầu ý kiến nhân dân thông qua các kỳ họp của thôn;phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình; gửi văn bản tới hộ gia đình cho ý kiến

về thực hiện QCDC ở cơ sở

Cấp ủy, đảng bộ, chi bộ ở xã, tỉnh Hải Dương đã rất chú trọng công tác

sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện QCDC ở cơ sở Việc sơ kết,tổng kết rút kinh nghiệm được thực hiện trong từng đợt, từng hoạt động, từnglĩnh vực, nhiệm vụ Theo báo cáo của Tỉnh ủy Hải Dương, “Công tác kiểmtra, giám sát việc thực hiện QCDC ở các loại hình cơ sở được tiến hànhnghiêm túc, có chất lượng, số xã, phường, thị trấn được kiểm tra, giám sát là265/265 = 100%” [65]

Tuyệt đại đa số các cấp ủy, tổ chức đảng ở xã đã cơ bản thực hiện đúngquy trình và nguyên tắc lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở Trên cơ sở quántriệt sâu sắc đường lối, quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên về dân chủ

và thực hiện QCDC, nắm chắc tình hình mọi mặt của địa phương và thựctrạng thực hiện QCDC ở địa phương mình, các cấp ủy, tổ chức đảng ở xã đã

Trang 38

đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo đúng đắn, phù hợp để thực hiện QCDC

ở cơ sở Đồng thời làm tốt việc quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết, đưanghị quyết vào cuộc sống Đã thường xuyên kiểm tra các tổ chức, các lựclượng trong tổ chức thực hiện nghị quyết Thực hiện khá tốt công tác sơ kết,tổng kết, rút kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các cấp ủy, tổchức đảng, kịp thời biểu dương những cá nhân, tổ chức làm tốt; uốn nắn, sử lýnhững tổ chức, cá nhân làm chưa tốt Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhânphụ trách trong lãnh đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của các đảng bộ xã cũngđược thực hiện khá tốt Trên cơ sở đó đã phát huy được sức mạnh của tập thểtrong lãnh đạo và đề cao được trách nhiệm cá nhân trong tổ chức thực hiện

Ba là, kết quả thực hiện QCDC ở cơ sở của các xã tỉnh Hải Dương Thứ nhất, việc thực hiện QCDC ở cơ sở của các xã, tỉnh Hải Dương đạt kết quả khá tốt

Theo đánh giá của Tỉnh ủy Hải Dương, về những việc thông báo để dânbiết đã được thực hiện tốt Qua khảo sát ở 12 xã thuộc 4 huyện với 363 ngườiđược hỏi cho thấy những nội dung xã và thôn phải thông tin công khai đểnhân dân được biết theo quy định đạt 76,79%, trong đó thực hiện công khaicác thủ tục hành chính đạt 86,7% Ban Dân vận Tỉnh ủy phối hợp với Vụ Dânvận các cơ quan Nhà nước Ban Dân vận Trung ương tiến hành khảo sát việcthực hiện QCDC và tình hình tham nhũng, lãng phí ở 4 xã thuộc 2 huyện NamSách, Thanh Hà cho thấy các nội dung công khai để nhân dân biết ở xã, thônđạt tỷ lệ bình quân 81%, trong đó nội dung thấp nhất là công khai các khoảntài trợ, viện trợ ở xã đạt 70% và cao nhất là công khai các thủ tục hành chínhđạt 92,5% [65]

Về Những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp được thực hiện

nghiêm túc và đúng quy định Theo đánh giá của Tỉnh ủy Hải Dương: Nhândân các xã, đã bàn bạc dân chủ, tự nguyện đóng góp xây dựng, nâng cấp cơ sở

hạ tầng và các công trình phúc lợi; tổng số tiền nhân dân đóng góp lên tới

Trang 39

2.077,4 tỷ đồng bao gồm ủng hộ bằng tiền, hiến đất, ngày công lao động; xâymới 5.082 ngôi nhà đại đoàn kết; sửa chữa 997 ngôi nhà với tổng số tiền 47,8

tỷ đồng; xây dựng các loại quỹ trên 300 tỷ đồng; có trên 70% số thôn, làng có

hệ thống điện chiếu sáng, đường giao thông do nhân dân tự vận động đónggóp xây dựng Các tổ hoà giải ở các thôn, hoạt động tích cực giải quyết tốtcác mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân, tỷ lệ hoà giải thành công đạttrên 80% đã tạo được niềm tin trong nhân dân, điền hình như các huyệnThanh Miện, Kim Thành, Cẩm Giàng, Bình Giang, Chí Linh [65]

Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định được tiến hành thường xuyên, theo đúng QCDC ở cơ sở Đến nay 100%

các thôn trên địa bàn toàn tỉnh đều xây dựng được quy ước làng Qua khảo sátcho thấy có 97% ý kiến nhân dân cho rằng được bàn, được tham gia ý kiếnvào việc xây dựng quy ước, hương ước của làng, thôn Việc bầu, miễn nhiệm,bãi nhiệm trưởng thôn được thực hiện dân chủ, đúng quy định, quy trình; cửtri đi bầu đạt tỷ lệ cao, một số đơn vị như huyện Kim Thành, Kinh Môn, GiaLộc tỷ lệ đi bầu đạt trên 90% [65]

Theo báo cáo của Tỉnh ủy Hải Dương: Hiện nay, 100% các xã đã thànhlập ban Thanh tra nhân dân, hoạt động có hiệu quả, góp phần ổn định tìnhhình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội[65] Trong nhiệm kỳ 2013 - 2015, các ban Thanh tra nhân dân trên địa bàntỉnh đã phát hiện và kiến nghị với chính quyền và các cơ quan chức năng tổng

số 5.544 vụ việc (bình quân 21 vụ, việc/ban thanh tra nhân dân), được các cấpchính quyền và cơ quan chức năng xem xét, giải quyết 5.150 vụ việc (đạt92,89%) Trong số vụ việc được các cấp chính quyền giải quyết có 1.344 vụviệc vi phạm về đất đai, đã kiến nghị xử lý, thu hồi cho tập thể và cá nhân45.035,7 m2 đất; 237 vụ việc về kinh tế, đã thu hồi trên 1.910,2 triệu đồng;1.121 vụ việc về an ninh trật tự; 1.017 vụ việc về văn hoá - xã hội và 1.431 vụviệc thuộc các lĩnh vực khác Đặc biệt rõ nét trong hoạt động của Ban thanh

Trang 40

tra nhân dân là việc thực hiện nhiệm vụ giám sát đầu tư của cộng đồng, quacông tác giám sát đã xác định có 1.647 dự án đầu tư đúng quy định, 37 dự án

có vi phạm và 36 dự án chưa xác định Đã phản ảnh 35 vụ việc đến các cơquan có thẩm quyền xem xét giải quyết; trong đó 23 vụ việc đã được các cơquan có thẩm quyền thông báo kết quả giải quyết và xử lý, 15 vụ việc đã đượcchủ dự án đầu tư chấp hành thực hiện theo thông báo của Ban thanh tra nhândân, điển hình như huyện Cẩm Giàng, Tứ Kỳ, Thanh Hà [65]

Thứ hai, thực hiện QCDC cơ sở ở xã, tỉnh Hải Dương được gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội, các cuộc vận động, các phong trào ở từng địa phương Biểu hiện cụ thể trên các lĩnh vực sau:

Về phát triển kinh tế, các đảng bộ xã đã lãnh đạo thực hiện tốt việc bảo

đảm cho nhân dân tham gia biết, bàn, kiểm tra, giám sát các vấn đề về kinh tếtheo QCDC ở cơ sở Chính vì vậy, kinh tế của tỉnh có sự tăng trưởng khá ổnđịnh Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân7,7%/năm (cao hơn bình quân cả nước) Năm 2015, quy mô kinh tế tỉnh(GRDP giá hiện hành) đạt 76.734 tỷ đồng, gấp 1,83 lần năm 2010; GRDPbình quân đầu người đạt 2.000 USD; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt0,690 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp tăngnhanh; tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụchuyển dịch từ 20,1% - 47,7% - 32,2% năm 2010 sang 15,9% - 52,5% -31,6% năm 2015 Cơ cấu lao động tương ứng chuyển dịch từ 47,9% - 31,4% -20,7% năm 2010 sang 36,5% - 35,0% - 28,5% năm 2015 [61] Đặc biệt, trongquá trình triển khai xây dựng nông thôn mới được quan tâm chỉ đạo và đầu tư,

đã thu hút sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận cao củanhân dân Bằng nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ và các biện pháp đồng

bộ, hiệu quả, đến hết năm 2015 toàn tỉnh có 64 xã hoàn thành 19 tiêu chí nôngthôn mới, đạt tỷ lệ 28,3%, vượt mục tiêu đề ra (mục tiêu 25%) Đã lập và phêduyệt quy hoạch chi tiết xây dựng nông thôn mới ở 100% số xã Kết cấu hạ

Ngày đăng: 10/06/2017, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w