Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Sơn hiện nay có khoảng 32.423 dân cư sinh sống. Phần lớn họ đều là đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) (chiếm 90,03%), trong đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm 44%. Đồng bào người DTTS nơi đây từ nhiều đời nay đã gắn bó với rừng, nên áp lực lên tài nguyên rừng là rất lớn. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để giải quyết hài hòa giữa những nhóm lợi ích khác nhau, một bên là sinh kế của người DTTS và một bên là tính cấp thiết của công tác bảo tồn tại VQG Xuân Sơn. Phần lớn người dân địa phương đều gặp khó khăn trong việc từ bỏ khai thác các nguồn lợi sẵn có từ rừng. Điều đó đồng nghĩa với việc sức ép lên rừng không giảm, mà còn có chiều hướng gia tăng, nhất là khi sức ép này được tạo ra bởi nhu cầu thiết yếu trước cuộc sống quá khó khăn của những người sống trong và ngoài khu bảo tồn. Bài viết này chỉ ra mức độ phụ thuộc vào rừng của người dân thể hiện qua mức thu nhập từ rừng; mức độ quan trọng, mức độ khai thác và sử dụng các sản phẩm từ rừng... Kết quả của bài viết cung cấp dữ liệu thể hiện những thách thức trong quản lý rừng tự nhiên ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách quản lý bền vững VQG Xuân Sơn.
Trang 1ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHỤ THUỘC VÀO TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN
VÙNG ĐỆM VQG XUÂN SƠN , TỈNH PHÚ THỌ 1
Đinh Thị Hà Giang Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
1 Đặt vấn đề
Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050
của Việt Nam đã nêu rõ quan điểm: Tăng trưởng xanh phải do con người và vì con người, góp
phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Như vậy, công tác bảo tồn tài nguyên đi đôi với đảm bảo sinh kế cho người dân sinh sống trong các Khu bảo tồn cũng là một nội dung quan trọng của tăng trưởng xanh Tuy nhiên trên thực tế, những mục tiêu bảo tồn nguồn vốn tự nhiên – góp phần tăng trưởng xanh, hướng tới phát triển bền vững lại tạo thêm những gánh nặng lên những cộng đồng sinh sống trong vùng đệm các Vườn Quốc gia (VQG) và Khu Bảo tồn Với tốc độ xóa đói giảm nghèo chậm, các nguồn sinh kế thay thế còn hạn chế thì mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng người dân vùng đệm ở các Vườn Quốc gia nói chung vẫn là rất lớn Để nâng cao mức sống cho người dân và giảm thiểu tối đa mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng chính là bài toán khó nhất trong công tác bảo tồn
VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ là một trong 30 VQG trên lãnh thổ Việt Nam, không những
có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng, mà còn là hành lang giao lưu phát triển kinh tế nối liền vùng Tây Bắc và Đông Bắc Bộ VQG Xuân Sơn có diện tích tự nhiên 33.687 ha bao gồm vùng lõi 15.048 ha và vùng đệm 18.639 ha, trong đó diện tích rừng núi đá vôi chiếm khoảng 10%, độ che phủ 60,5% Mặc dù được đánh giá là vùng có chỉ số đa dạng sinh học cao nhưng hiện nay các mối đe doạ đối với khu hệ động vật hoang dã và hệ thực vật VQG Xuân Sơn do những hoạt động trực tiếp của con người (săn bắt động vật, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc trái phép…) đang ở trong tình trạng đáng báo động
Vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để giải quyết hài hoà giữa những nhóm lợi ích khác nhau giữa một bên là sinh kế của người dân địa phương và một bên là tính cấp thiết của công tác bảo tồn tại VQG Xuân Sơn đang là thách thức lớn cho địa phương Bài viết dưới đây đưa ra
1 Bài viết được in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Tài nguyên thiên nhiên và Tăng trưởng xanh”, 2013.
Trang 2những dẫn liệu về mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng của người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách quản lý bền vững VQG Xuân Sơn
2 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng của người dân
vùng đệm VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
1) Khảo sát mức sống của người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn;
2) Đánh giá tỷ lệ thu nhập từ rừng trong cơ cấu các hộ gia đình sinh sống ở vùng đệm VQG Xuân Sơn;
3) Đánh giá mức độ quan trọng của các sản phẩm từ rừng với người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn;
4) Đánh giá mức độ khai thác và sử dụng các sản phẩm từ rừng của người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn;
5) Khảo sát tình trạng sử dụng các sản phẩm từ rừng của người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng của người dân vùng đệm
VQG Xuân Sơn, Phú Thọ
- Khách thể nghiên cứu: Cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng đệm và vùng lõi VQG
Xuân Sơn, Phú Thọ
- Phạm vi và thời gian nghiên cứu: Cuộc điều tra được tiến hành trong tháng 3/2011 tại 2
xã vùng đệm (Xuân Đài) và vùng lõi (Xuân Sơn) thuộc phần quản lý hành chính huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể dưới đây:
* Hồi cứu số liệu: Thu thập, phân tích, đánh giá, tổng hợp tài liệu thứ cấp gồm:
- Số liệu thống kê các cấp có liên quan;
- Các kết quả điều tra, nghiên cứu đã được công bố
* Phương pháp điều tra xã hội học:
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): nhằm thu
thập những thông tin sơ cấp về đời sống của cư dân vùng đệm, hiện trạng quản lý và sử dụng tài nguyên cũng như nhận thức của người dân về các vấn đề liên quan Việc tập hợp người dân là rất khó nên chỉ thực hiện được một cuộc thảo luận nhóm với số lượng người tham gia không đông như dự tính Vì thế, kết quả của buổi thảo luận này chỉ dừng lại ở mức tham khảo và kiểm chứng những thông tin đã thu thập được
2
Trang 3- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: nhằm thu thập các thông tin trực tiếp từ các cá
nhân bằng việc áp dụng các câu hỏi rộng để định hướng cuộc trao đổi, trong đó cho phép đưa ra các câu hỏi nhằm nâng cao kết quả thảo luận bao gồm việc xác định mục tiêu thông tin cần hỏi và thiết lập
- Phương pháp điều tra XHH định lượng bằng bảng hỏi: nhằm thu thập các thông tin theo
một phương pháp được xây dựng dựa trên các câu hỏi cụ thể theo cách thức có thể thực hiện để phân tích thống kê, xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0
3 Kết quả
3.1 Đời sống người dân vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Sơn
Về mặt địa lý – sinh thái, vùng đệm sinh thái là khu vực trung gian giữa VQG và vùng nông nghiệp phụ cận Vùng đệm vừa là nơi bảo vệ giữ gìn rừng, vừa là nơi khai thác hợp lý tài nguyên rừng Cũng cần thấy rõ ràng rằng, trên thực tế, với vị trí địa lý tự nhiên của rừng, vùng đệm sinh thái có thể là vành đai rào cản nhưng cũng có thể là những khe hở mà từ đó người dân địa phương tấn công vào khu bảo tồn
Để nghiên cứu những tác động của vùng đệm tới VQG Xuân Sơn, một cuộc điều tra thu thập thông tin bằng mẫu phiếu công phu đã được tiến hành Qua đó, không chỉ thu được những thông tin hữu ích về đời sống người dân sinh sống trong và xung quanh VQG mà còn cả những kết quả thể hiện mức độ phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng
* Đặc điểm về mẫu khảo sát
Cuộc điều tra lựa chọn các đối
tượng ngẫu nhiên tại 2 xã vùng đệm
(Xuân Đài) và vùng lõi (Xuân Sơn)
thuộc phần quản lý hành chính huyện
Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Tổng số
phiếu điều tra là 92 phiếu Trong đó
số phiếu điều tra ở xã Xuân Đài
chiếm 53,3 %, xã Xuân Sơn chiếm
46,7% tổng số phiếu điều tra Ở mỗi
xã, lựa chọn 2 xóm/bản làm địa bàn
Hình 1: Tỷ lệ người tham gia phiếu điều tra phân theo thôn/xóm (đơn vị: %)
Trang 4nghiên cứu chính là xóm Du, xóm Lạng (xã Xuân Sơn), xóm Mu, xóm Vượng (xã Xuân Đài) (Hình 1)1
Đặc điểm nhân khẩu học của nhóm đối tượng tham gia trong mẫu nghiên cứu với tỷ lệ nữ giới là 82,6%, cao hơn hẳn so với nam giới Bởi lẽ, việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu là nam giới tương đối khó khăn, một phần là do hoạt động sản xuất họ phải đi làm đến tối mới trở về nhà, một phần là do bản thân nam giới ở đây không quan tâm nhiều đến các hoạt động xã hội ở địa phương
Về cơ cấu nhóm tuổi, những người tham gia điều tra thuộc 4 nhóm tuổi chính: từ 18 – 29 tuổi chiếm 18,0%, từ 30 – 35 tuổi chiếm 50,6%, từ 46 – 59 tuổi chiếm 30, 3%, trên 60 tuổi chiếm 1,1 % phân bố đều trong các gia đình hạt nhân (55,0%) và gia đình mở rộng (45,0%)
Về thành phần dân tộc, địa bàn các xã vùng đệm VQG Xuân Sơn là nơi tập trung phần lớn đồng bào người dân tộc thiểu số (chiếm trên 80% tổng dân số), đặc biệt xã vùng lõi Xuân Sơn thì tỷ lệ này còn lên tới 95% Những người tham gia điều tra tập trung ở 3 dân tộc chính là: Mường (91,3%), Dao (5,4%) và Kinh (3,3%) Ngoài ra, hầu hết trong số họ đều là người bản địa chiếm 96,7% nên việc phân tích tương quan giữa các nhóm dân tộc hay các nhóm dân bản địa và dân mới chuyển đến cơ bản là không có ý nghĩa
Về trình độ học vấn được
thể hiện ở Hình 2, tỷ lệ những
người tham gia vào cuộc điều tra
đã tốt nghiệp hoặc học đến bậc
THPT là đông nhất (48,9%) trong
khi những người đã tốt nghiệp
trung cấp trở lên ít hơn rất nhiều
(8,7%) Bên cạnh đó, vẫn còn
một bộ phận không nhỏ người
dân chỉ học đến bậc tiểu học
Về nghề nghiệp chính của
đối tượng nghiên cứu hướng tới,
thống kê cho thấy chiếm số lượng cao nhất là thành phần những người làm nông nghiệp chiếm 85,8% Các đối tượng còn lại là cán bộ công nhân viên chức nhà nước (chủ yếu là giáo viên và cán bộ xã) chiếm 10,9 % và các hộ buôn bán, kinh doanh dịch vụ chiếm 3,3%
1 Toàn bộ các bảng, hình và tư liệu đều là kết quả điều tra của tác giả, tháng 03/2011.
4
Trang 5* Đời sống người dân vùng
đệm
Đa số những người
tham gia vào cuộc điều tra
đều có thu nhập dưới 400
nghìn đồng/người/tháng,
trong đó tỷ lệ những người
có thu nhập 100 – 300
nghìn/người/ tháng khá cao
(Hình 3) Tương quan thu nhập giữa xã vùng đệm và vùng lõi có sự chênh lệch lớn (Bảng 1): mức thu nhập dưới 400 nghìn ở vùng lõi (xã Xuân Sơn) cao hơn ở vùng đệm (xã Xuân Đài) 19,4% nhưng mức thu nhập từ 400 – 1 triệu và từ 1 triệu – 2 triệu ở xã Xuân Sơn lại ít hơn xã Xuân Đài rất nhiều, con
số chênh lệch ở các mức thu nhập này lần lượt là: 55,6% và 83,4 %
Bảng 1: Tương quan thu nhập giữa 2 xã vùng lõi và vùng đệm (đơn vị: %)
Do thu nhập bình quân đầu người còn thấp nên tỷ lệ những hộ gia đình thuộc diện hộ đói, nghèo theo tiêu chuẩn mới của nhà nước vẫn còn cao Cũng theo cuộc điều tra này, có tới 44,6% các hộ gia đình thuộc diện này, trong đó hộ đói là 7,6%, hộ nghèo là 37% Ngoài ra hộ gia đình thuộc diện chính sách là 3,3% Điều này cho thấy mức sống của người dân qua điều tra xã hội học khá sát với tình hình thực tế Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng mức thu nhập mà người dân tự đánh giá có phần thấp hơn so với mức quy định tiêu chuẩn (Hình 4) Bởi trong nhóm
Trang 6người được khảo sát, theo họ tự đánh giá thì có 67,4% thuộc diện thu nhập từ 400 nghìn trở xuống (bằng mức chuẩn nghèo) nhưng lại chỉ có 44,6% các hộ gia đình thuộc hộ nghèo theo quy định của nhà nước
Khi phân chia các chỉ báo đánh giá mức sống là “rất nghèo”, “nghèo”, “trung bình”,
“khá” và “giàu” kết quả thu được như sau:
Như vậy, qua đánh giá sơ bộ có thể thấy rằng đời sống của người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn vẫn còn rất khó khăn, tỷ lệ các hộ đói nghèo tương đối cao so với các vùng khác trong
cả nước Điều này cũng sẽ gây sức ép không nhỏ đến nguồn tài nguyên rừng trong Khu bảo tồn
2 Mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng
* Thu nhập từ rừng trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình
Mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng trước hết được thể hiện qua thu nhập từ rừng trong
cơ cấu thu nhập của hộ gia đình Trong cơ cấu thu nhập, thì thu nhập từ rừng giữa các gia đình có
sự chênh lệch rất lớn (Hình 5) Mặc dù sinh sống trong vùng đệm VQG Xuân Sơn, nhưng có tới 31,5% số hộ không có thu nhập từ rừng (kể cả những hoạt động không mang lại hiệu quả kinh tế được tính bằng tiền như hái rau rừng, măng, mộc nhĩ, nấm, cây thuốc…)
6
Trang 7Hình 5: Tỷ lệ phần trăm thu nhập từ rừng trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đinh (%)
Tỷ lệ phần trăm thu nhập từ rừng trong cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình được chia thành 2 nhóm: Nhóm các hộ không có thu nhập từ rừng và nhóm các hộ có nguồn thu nhập từ rừng Tùy theo mức độ thu nhập từ rừng mà nhóm này được chia thành 4 mức: mức 1 có tỷ lệ thu nhập từ từ 5 – 25%; mức 2 từ 26 – 50%; mức 3 từ 51 – 75%; mức 4 từ 76 – 100%
Kết quả điều tra cho thấy, trong số nhóm 2 thì các hộ gia đình có mức thu nhập từ rừng trong khoảng 26 – 50 % là đông nhất chiếm 37,0%, tiếp đến là mức thu nhập từ 51 – 75% chiếm 15,2 %, thấp hơn là mức thu nhập từ rừng từ 5 – 25% là 13,1% và thấp nhất là nhóm có mức thu nhập từ rừng từ 76 – 100% là 3,2%
Rõ ràng, mặc dù trên thực tế nông nghiệp là ngành kinh tế chính đối với nhân dân vùng đệm VQG Xuân Sơn, nhưng với trình độ canh tác lạc hậu, năng suất thấp sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng đủ để đảm bảo nguồn lương thực thực phẩm cho địa phương, thì các nguồn thu nhập từ rừng chính là cứu cánh cho toàn bộ người dân sống trong vùng, đặc biệt là những năm đói kém, mất mùa
Trang 8Bà: Triệu Thị Lâm (1966), Dân tộc Dao, xóm Dù, xã Xuân Sơn nói“
Tôi nhớ, những năm 90 – 91 là năm đói nhất vì lúa bị mất mùa Khoai, sắn trồng cũng không được thu hoạch Vì thế, chúng tôi phải vào rừng đào củ nâu để ăn Mọi người ai cũng đi kiếm nên dần dần cũng ít đi Rau rừng thì rau gì ăn được là hái hết Thậm chí đu đủ ăn hết rau rồi còn đào cả củ cây đu đủ về để ăn cho đỡ đói Nếu không
có rừng, khi đó chắc cả xã chết đói mất.”
* Mức độ quan trọng của các sản phẩm từ rừng với người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn
Phần lớn người dân đang sinh sống ở vùng đệm VQG Xuân Sơn đều là người dân tộc thiểu số bản địa Cuộc sống của người dân vài chục năm trước còn phụ thuộc hoàn toàn vào rừng
Từ khi VQG Xuân Sơn thành lập (2002), người dân đã gặp phải không ít những khó khăn do phải
từ bỏ dần tập quán lâu đời vào rừng khai thác mọi thứ lâm sản
Bảng 2: Mức độ quan trọng của các sản phẩm từ rừng ( %)
Rất quan trọng
Quan trọng Ít quan
trọng
Không quan trọng hoặc không tồn tại
1 Gỗ và vật liệu xây
dựng
8
Trang 9Kết quả điều tra, khảo sát về mức độ quan trọng của các sản phẩm từ rừng đối với cuộc sống người dân ở đây được thống kê trong Bảng 2 Số người đồng thuận các sản phẩm thu nhập
từ rừng “rất quan trọng” hoặc “quan trọng” chiếm tỷ lệ cao nhất Gỗ và vật liệu xây dựng được lựa chọn ở mức độ “quan trọng” là 52,2% Củi lại là loại sản phẩm có tỷ lệ trả lời “rất quan trọng” cao nhất với 72,2% số người trả lời đồng thuận và đây cũng là sản phẩm duy nhất có ý nghĩa lớn nhất đối với tất cả cộng đồng với mức độ “không quan trọng” là bằng 0,0% Cũng trong cuộc điều tra này, có tới 97,9% các gia đình vẫn cùng bếp củi để đun nấu chính Hơn nữa, còn một tập quán quan trọng của người dân vùng núi là vào mùa đông, bếp lửa của các gia đình phải đỏ lửa cả ngày Người ta giữ lửa bằng các cây gỗ to để chống lạnh trong những ngày giá rét Bếp ga, bếp điện chỉ có ở trong những gia đình có điều kiện khá giả hơn
Người dân miền núi nói chung và người dân sống ở vùng đệm VQG Xuân Sơn nói riêng
có thói quen chữa bệnh bằng thuốc nam với thầy lang có những phương thuốc bí truyền hiệu quả
Từ bao đời nay các loại cây thuốc (thảo dược) chữa bệnh sẵn có trong rừng không chỉ chữa được những bệnh nặng như rắn cắn, gẫy tay chân, thận… mà còn cả những bệnh thông thường rất hay gặp hàng ngày như cảm cúm, sốt, lên mụn… Vì thế, tỷ lệ người dân lựa chọn cây thuốc chữa bệnh ở mức độ “rất quan trọng” cao (28,2%) và mức độ “quan trọng” là (26,1%)
Rừng cũng là nơi cung cấp các loại thực phẩm như măng, nấm, mộc nhĩ hay các loại rau rừng trong bữa ăn hàng ngày của người dân Mặc dù mức độ quan trọng không đáng kể vì lý do đây là sản phẩm phụ bổ sung cho bữa ăn hàng ngày chứ không mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh
tế Tuy nhiên, vẫn có tới gần 30,0% số người trả lời đồng thuận rằng các loại thực phẩm từ rừng
“quan trọng” hay “rất quan trọng”
Mức độ quan trọng của các loại thực phẩm từ rừng còn thể hiện ở bảng số liệu bổ sung dưới đây (Bảng 3)
Bảng 3 : Nguồn gốc những thực phẩm mà người dân sử dụng hàng ngày ( %)
Nguồn cung cấp
Mức độ
Hàng ngày Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ
Trang 10Bên cạnh nguồn thực phẩm tự nuôi, trồng hay mua ở chợ thì vẫn còn có tới 11,0% người dân lấy các thực phẩm từ trong rừng thường xuyên Các loại rau rừng, măng rừng được dùng làm thực phẩm… có mặt trong cơ cấu bữa ăn ở mức độ “thỉnh thoảng” là 30,7% và “hiếm khi” là 49,5% Trong khi đó, những hộ dân khẳng định họ không bao giờ vào rừng tự kiếm các thực phẩm trên chỉ chiếm 8,8%
* Mức độ khai thác và sử dụng các sản phẩm từ rừng của người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn
Trong các loại sản phẩm được điều tra về mức độ khai thác và sử dụng thì mức độ khai thác gỗ của người dân vùng đệm VQG Xuân Sơn là quan trọng nhất Ở VQG Xuân Sơn, gỗ là sản phẩm bị nghiêm cấm khai thác dưới mọi hình thức và khai thác gỗ là hành động bất hợp pháp mà tất cả mọi người dân ở đây đều nhận thức rất rõ Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ người khai thác “rất thường xuyên” là 6,7% và “thường xuyên” là 14,4% Điều đó không chỉ phản ánh mức độ chấp hành luật pháp cũng như ý thức của người dân còn thấp, mà còn phản ánh việc quản
lý tài nguyên gỗ ở địa phương còn nhiều bất cập
Bảng 4: Mức độ khai thác, sử dụng các sản phẩm từ rừng (%)
Loại sản
phẩm
Mức độ
Rất thường xuyên Thường xuyên Ít/ hiếm khi Không bao giờ
10