1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ đảm bảo AN SINH xã hội CHO đối TƯỢNG CHÍNH SÁCH ở HUYỆN CHƯƠNG mỹ, THÀNH PHỐ hà nội

99 428 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 509 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện tốt bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách là một nội dung quan trọng để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hoạt động của hệ thống ASXH là nơi thể hiện rõ nhất tính “định hướng xã hội chủ nghĩa” của nền kinh tế thị trường Việt Nam. Chính sách ASXH tạo điều kiện cho các thành viên trong xã hội, nhất là đối tượng yếu thế trong xã hội, cảm nhận một cuộc sống yên ổn và an toàn, có khả năng phòng ngừa những cú sốc và có những “chiếc phao cứu sinh” khi gặp phải những biến cố, rủi ro bất thường

Trang 1

MỤC LỤC

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI CHO

ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ

1.1 An sinh xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đối tượng chính sách

1.2 Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng tới bảo đảm an

sinh xã hội cho đối tượng chính sách ở huyện Chương Mỹ,

1.3 Kinh nghiệm bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách

ở một số địa phương và bài học rút ra cho huyện Chương Mỹ,

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI CHO ĐỐI

TƯỢNG CHÍNH SÁCH Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ,

2.1 Thành tựu, hạn chế trong bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng

chính sách ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 452.2 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết từ thực

trạng bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách ở huyện

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM AN SINH XÃ

HỘI CHO ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI 663.1 Quan điểm chỉ đạo về bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng

chính sách ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội thời gian tới 663.2 Một số giải pháp cơ bản về bảo đảm an sinh xã hội cho đối

tượng chính sách ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội thời

PHỤ LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực hiện tốt bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách là mộtnội dung quan trọng để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh” Hoạt động của hệ thống ASXH là nơi thể hiện rõ nhấttính “định hướng xã hội chủ nghĩa” của nền kinh tế thị trường Việt Nam.Chính sách ASXH tạo điều kiện cho các thành viên trong xã hội, nhất là đốitượng yếu thế trong xã hội, cảm nhận một cuộc sống yên ổn và an toàn, cókhả năng phòng ngừa những cú sốc và có những “chiếc phao cứu sinh” khigặp phải những biến cố, rủi ro bất thường Dưới góc độ của khoa học kinh tếchính trị, việc đảm bảo chính sách ASXH được xem như là một khâu của quátrình tái sản xuất xã hội: Phân phối lại thu nhập quốc dân để tái sản xuất sứclao động Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và

tổ chức thực hiện các chính sách ASXH, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là độnglực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, giữ vững định hướng xãhội chủ nghĩa Diện thụ hưởng chính sách ngày càng mở rộng, mức hỗ trợ đượcnâng lên; nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng lớn; nước

ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng

Huyện Chương Mỹ là một trong những huyện có số lượng đơn vị hànhchính rộng (có 32 xã, thị trấn), dân số đông, đối tượng chính sách tương đốinhiều Trong những năm qua, huyện đã phát huy tốt nguồn lực tại chỗ và tậndụng tối đa nguồn lực hỗ trợ của Chính phủ, của thành phố Hà Nội, cũng nhưcủa các tổ chức kinh tế, tổ chức nhân đạo, từ thiện trong và ngoài nước nhằmthực hiện tốt việc bảo đảm ASXH cho các đối tượng chính sách trên địa bànHuyện Vì vậy, đời sống của người dân cũng như đối tượng chính sách trên địabàn huyện Chương Mỹ đã từng bước được nâng lên Tuy nhiên, trên thực tếviệc bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách tại một số xã thuộc huyệnChương Mỹ chưa tốt, tạo việc làm và giảm nghèo chưa bền vững, tỉ lệ hộ cận

Trang 3

nghèo thuộc đối tượng chính sách tái nghèo còn cao; mức trợ cấp xã hội cònthấp; giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; công tác bảo vệ vàchăm sóc sức khoẻ cho đối tượng chính sách còn nhiều hạn chế; đời sống củamột bộ phận đối tượng chính sách là người nghèo còn nhiều khó khăn Trongkhi đó, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu làm rõ cơ sở

lý luận, thực trạng, đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ để thực hiện tốt hơncông tác đảm bảo ASXH cho đối tượng chính sách của huyện Chương Mỹ

Làm thế nào để thực hiện tốt công tác bảo đảm ASXH cho đối tượngchính sách trên địa bàn huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội là một câu hỏilớn cần phải có sự trả lời thỏa đáng Với mong muốn góp phần làm rõ cơ sở lýluận, thực tiễn giải pháp để thực hiện tốt hơn nữa công tác bảo đảm ASXHcho đối tượng chính sách trên địa bàn huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội

thời gian tới, tôi chọn vấn đề: “Bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính

sách ở huyện Chương Mỹ – Thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp cao học chuyên ngành kinh tế chính trị của mình

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Bảo đảm ASXH là một nhiệm vụ lớn của nước ta hiện nay, vì vậy đã cónhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là công trình củacác tác giả sau:

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã xây dựng Đề án chiến lượcASXH giai đoạn 2011-2020 Đề án đã đề cập trên góc độ lý luận về quá trìnhthực hiện công tác ASXH như: quan điểm, đối tượng, mục tiêu, định hướng giảipháp và kinh phí thực hiện ASXH

Công trình nghiên cứu cấp nhà nước mang mã số KX 04.05: “Luận cứkhoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trongđiều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam”, do Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội thuộc

Trang 4

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, làm chủ đề tài Kết quả nghiên cứucủa đề tài đề cập đến một cách hệ thống vấn đề bảo đảm xã hội như: đã làm rõkhái niệm về bảo đảm xã hội; mối quan hệ giữa bảo đảm xã hội với các chínhsách xã hội, vị trí, vai trò và sự cần thiết khách quan của bảo đảm xã hội trongnền kinh tế thị trường, khẳng định bảo đảm xã hội vừa là nhân tố ổn định, vừa

là động lực cho phát triển kinh tế - xã hội Đề tài đã nghiên cứu khá công phu

về các bộ phận cấu thành quan trọng của bảo đảm xã hội là BHXH, trợ giúp

xã hội, ưu đãi xã hội; đã đánh giá thực trạng của các bộ phận cấu thành này,chỉ ra những thành tựu, hạn chế của nó và chỉ ra quan điểm, phương hướng vàgiải pháp phát triển trong tương lai của hệ thống bảo đảm xã hội ở nước ta

Luận án Tiến sỹ của tác giả Mai Ngọc Anh – Chuyên ngành quản lýkinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội với tên đề tài: “ASXH đốivới nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Đề tài đã nghiêncứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện hệthống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường; tổng kếtkinh nghiệm về xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân ởmột số nước trên thế giới, rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào việcxây dựng hệ thống ASXH đối với nông dân ở nước ta; khái quát thực trạng hệthống ASXH ở nước ta hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyênnhân hạn chế của hệ thống ASXH hiện hành đối với nông dân

Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Chương Phát – Chuyên ngànhKinh tế nông nghiệp, Trường đại học Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Đại họcThái Nguyên với đề tài: “Ảnh hưởng của hệ thống ASXH tới vấn đề nghèo đóicủa hộ nông dân huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái” Đề tài có ý nghĩa lý luận vàthực tiễn, tạo điều kiện cho các cơ quan chính quyền, đoàn thể và nhân dân có

Trang 5

thể nhận diện bức tranh toàn cảnh về ASXH và ảnh hưởng của hệ thống ASXHtới vùng nông thôn với một mức độ nhất định Từ đó, giúp cho nhà nước có căn

cứ xây dựng pháp luật, chế độ, chính sách; phương hướng hoạt động phù hợpnhằm tăng cường ASXH; cải thiện đời sống, xoá đói, giảm nghèo và giảm thiểurủi ro cho những người bị thiệt thòi trong xã hội; đưa đất nước phát triển bềnvững đi lên trong nền kinh tế thị trường

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây nhiều nhà khoa học, nhà nghiêncứu đã có những bài viết, công trình nghiên cứu bàn về hệ thống ASXH, cũngnhư bảo đảm ASXH ở nước ta hiện nay Có thể nêu lên một số công trình nghiên

cứu, bài viết của một số tác giả như sau: Đặng Cảnh Khanh, vấn đề trợ giúp xã hội trong chính sách bảo đảm xã hội ở Việt nam đề tài KX 04 05 (năm 1994); Nguyễn Văn Định, tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt nam trong nền kinh tế thị trường đề tài cấp Bộ (năm 2000); Bùi Văn Hồng, nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia BHXH đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập, đề tài cấp Bộ năm 2002; Nguyễn Tiệp, các giải pháp nhằm thực hiện xã hội hoá công tác trợ giúp xã hội, đề tài cấp Bộ năm 2002; PGS.TS, Mai Ngọc Cường chủ biên, Chính sách xã hội nông thôn; kinh nghiệm CHLB Đức và thực tiễn Việt Nam Nxb lý luận chính trị, Hà nội 2006; “Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012- 2020 Nxb chính trị Quốc gia (năm 2013); Nguyễn Hải Hữu, Phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Patricia Justino, khuôn khổ xây dựng tổng thể quốc gia

về an sinh xã hội ở Việt Nam (UNDP); PGS, TS Vũ Văn Phúc – Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn;

GS, TS Hoàng Chí Bảo – Hội đồng lý luận Trung ương, An sinh xã hội với ổn định và phát triển bền vững ở Việt Nam (Tạp chí Tuyên giáo, năm 2014); ThS.

Trang 6

Nguyễn Văn Chiều – khoa Khoa học quản lý, trường Đại học Khoa học xã hội và

Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, ASXH và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách ASXH

ở Việt Nam; Cùng tác giả ThS Nguyễn Văn Chiều có bài đăng trên Báo điện tử Đảng Cộng sản, Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện an sinh xã hội trong thời kỳ đổi mới; ThS.Nguyễn Văn Hội, Phó cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tiếp tục thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo và ASXH vùng đặc biệt khó khăn…

Gần đây nhất tháng 1 năm 2014, Viện khoa học Lao động và xã hội thuộc

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Việt Nam đã phát hành cuốn sách có nộidung đặc biệt quan trọng đến hệ thống các chính sách về ASXH của Việt Namvới tên: “Phát triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020” Cuốn sách đãnêu lên toàn bộ cơ sở lý luận, thực tiễn cũng như những nội dung, chính sáchchủ yếu và thực trạng của hệ thống ASXH ở Việt Nam hiện nay; định hướngphát triển chính sách ASXH đến năm 2020; cuốn sách đã cung cấp đầy đủnhững nội dung cơ bản về hệ thống ASXH của Việt Nam, nêu lên thực trạngcông tác ASXH trong những năm qua, đồng thời đề ra những mục tiêu cụ thể cảtrước mắt cũng như lâu dài, định hướng chính sách phát triển công tác ASXHtrong thời gian tới

Các công trình khoa học nghiên cứu trên đã góp phần cung cấp cơ sởkhoa học, lý luận thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ởnước ta những năm qua Đây là tài liệu tham khảo bổ ích cho tác giả thamkhảo trong quá trình xây dựng luận văn Tuy nhiên, việc nghiên cứu thực hiệnbảo đảm chính sách ASXH cho đối tượng chính sách dưới góc độ kinh tếchính trị ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội cho đến nay vẫn chưa có

Trang 7

công trình nào được nghiên cứu, vì vậy đề tài không sự trùng lặp với các côngtrình đã công bố.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách ởhuyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

- Phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm ASXH cho đối tượng chínhsách ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội thời gian qua và chỉ ra những vấn

đề cần giải quyết trong thời gian tới

- Đề xuất quan điểm và giải pháp bảo đảm ASXH cho đối tượng chínhsách ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu thực hiện chính sách ASXH cho đốitượng chính sách như: Bảo hiểm xã hội; Bảo hiểm y tế; trợ giúp xã hội và cứutrợ xã hội; dịch vụ xã hội cơ bản cho đối tượng chính sách

- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi huyện Chương Mỹ, Thànhphố Hà Nội

- Về thời gian: Các số liệu được lấy từ năm 2011 đến hết năm 2015

Trang 8

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, Nghị quyết củaĐảng bộ huyện Chương Mỹ về các vấn đề có liên quan đến đảm bảo an sinh

xã hội

* Cơ sở thực tiễn: Luận văn dựa trên cơ sở khảo sát thực tiễn của tác

giả; báo cáo tổng kết của huyện Chương Mỹ hàng năm về đảm bảo an sinh xãhội của huyện

* Phương pháp nghiên cứu: trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện

chứng và duy vật lịch sử, tác giả sử dụng các phương pháp như: phương pháptrừu tượng hoá khoa học; kết hợp lôgíc và lịch sử; phân tích, tổng hợp; thống

kê, so sánh và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa của đề tài

- Góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về côngtác bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách ở huyện Chương Mỹ, thành phố

Hà Nội nói riêng và cả nước ta nói chung

- Góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan chức năng củahuyện trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác thực hiện bảo đảm ASXH trong thờigian tới

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy và học tập mônKinh tế chính trị ở các nhà trường trong và ngoài quân đội

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn gồm

3 chương (7 tiết)

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI CHO ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ KINH

NGHIỆM TỪ MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.1 An sinh xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đối tượng chính sách được đảm bảo an sinh xã hội

1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội

An sinh xã hội là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Thực chấtđây là hoạt động thuộc khâu phân phối, cụ thể là sự phân phối lại thu nhập quốcdân trong quá trình tái sản xuất để nhằm tái sản xuất sức lao động Chính vì vậytrong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” C.Mác đặt vấn để phân phối trong

sự liên hệ với trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội Trên cơ sở phê phánquan điểm phân phối toàn vẹn của Latxan, C.Mác cho rằng trong giai đoạn đầucủa xã hội cộng sản việc phân phối cho tiêu dùng cá nhân còn mang dấu ấn củapháp quyền tư sản, “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” Đây là sự phânphối công bằng bình đẳng gấp trăm lần phân phối dưới chủ nghĩa tư bản Theo

C Mác, tổng sản phẩm xã hội trước khi phân phối theo lao động thì phải đượctrích: Một phần bù đắp tư liệu sản xuất đã hao phí; một phần để mở rộng sảnxuất, số còn lại mới đem ra phân phối cho tiêu dùng cá nhân Song trước khiphân phối chi tiêu dùng cá nhân phải trích ra một phần để nuôi dưỡng nhữngngười không có khả năng lao động; một phần dự phòng để xử lý những vấn đềbất trắc do thiên tai, địch họa gây ra; số còn lại được phân phối theo lao độngtheo nguyên tắc: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, người có sức lao độngkhông làm thì không hưởng Theo Lê Nin, cách phân phối này là một “bướctiến vĩ đại” vì nó nói lên bọn bóc lột đã bị tiêu diệt, ai nấy đều tham gia laođộng, mọi người đều có quyền làm việc và có quyền hưởng theo lao động củamình, được hưởng những thành quả của chủ nghĩa xã hội Nhưng khi chuyển

Trang 10

sang giai đoạn của xã hội cộng sản, C.Mác nói rõ: “cùng với sự phát triển của

xã hội xã hội chủ nghĩa, sức sản xuất xã hội được phát triển, trình độ văn hóađược nâng cao; sự đối lập giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữathành thị và nông thôn được xóa bỏ, lao động trở thành nhu cầu cần thiết bậcnhất cho sức sống của mọi người, và do đó, tất nhiên phải chuyển sang mộtgiai đoạn mới, một nguyên tắc mới là “làm theo năng lực, hưởng theo nhucầu” Đó là lúc xã hội có thể sản xuất ra sản phẩm tiêu dùng dồi dào đến mứckhông cần dùng phân phối lợi ích vật chất để kích thích lao động nữa, conngười khi đó được giải phóng một cách triệt để, được tự do phát triển theonhững khả năng của mình

Hiện nay ASXH là một thuật ngữ được dịch ra từ cụm từ socialsecurity (Tiếng Anh) hoặc từ sécurites sociale (Tiếng Pháp) Đây là thuậtngữ xuất hiện trong một đạo luật của Mỹ năm 1935 Trong đạo luật nàyASXH được hiểu là sự bảo đảm nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị cánhân, đồng thời tạo lập cho mỗi con người một đời sống sung mãn và hữuích để phát triển tài năng đến tột độ

Theo Liên hiệp quốc, ASXH tiếp cận trên quyền của người dân (Điều

25, Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1948): “…Mọi người dân và hộ giađình đều có quyền có mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội baogồm ăn, mặc, chăm sóc y tế (bao gồm cả thai sản), dịch vụ xã hội thiết yếu và

có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góaphụ, tuổi già… hoặc các trường hợp bất khả kháng khác…” [15, tr.11]

ASXH là một “khái niệm mở”, nên có thể hiểu theo hai nghĩa: rộng vàhẹp Theo nghĩa rộng, ASXH bao trùm lên nhiều mặt cuộc sống của conngười Đó là các quan hệ hình thành trong nhiều lĩnh vực nhằm ổn định đờisống, nâng cao chất lượng sống của các thành viên xã hội, góp phần ổn định,phát triển và tiến bộ xã hội Theo nghĩa hẹp, ASXH là sự bảo vệ của xã hộiđối với các thành viên của mình, trước hết và chủ yếu là những trường hợp

Trang 11

bị giảm sút thu nhập đáng kể do gặp những rủi ro như ốm đau, tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, mất việc làm, mất người nuôi dưỡng, nghỉthai sản, về già cũng như các trường hợp bị thiên tai, dịch họa Đồng thời, xãhội cũng ưu đãi những thành viên của mình đã có những hành động xả thân

vì nước, vì dân, có những cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp cách mạng, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc

Ở Việt Nam, thuật ngữ ASXH được tiếp cận dưới nhiều tên gọi khácnhau như: bảo trợ xã hội, bảo đảm xã hội, an toàn xã hội Hiện nay có quanđiểm cho rằng ASXH trước hết là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viêncủa mình nhờ một loạt các biện pháp công cộng nhằm giúp đỡ chống lại sựthiếu hụt về kinh tế mà họ có thể gặp phải do mất đi hoặc bị giảm quá nhiềunguồn thu nhập bởi nhiều nguyên nhân khác nhau

Tiếp thu có chọn lọc các khái niệm về ASXH như trên, tác giả cho

rằng: ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của nhà nước

và xã hội nhằm trợ giúp các thành viên yếu thế trong xã hội để họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống do gặp phải những rủi ro như bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan làm cho họ có nguy cơ bị suy giảm mất nguồn thu nhập rơi vào cảnh nghèo khổ.

Khái niệm đã chỉ ra: ASXH là sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tốithiểu thông qua hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước nhằm khắcphục những rủi ro, như: rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc làm, tuổi già,trẻ em, tàn tật… dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so vớimức tối thiểu đủ sống (được luật hóa hoặc quy định)

ASXH là các chính sách do Nhà nước tổ chức thực hiện là chính, ngoài

ra còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và thị trường trongviệc tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ ASXH Các chính sách này hướngđến mọi thành viên trong xã hội, bảo đảm cho mọi thành viên được bình đẳng

Trang 12

về tiếp cận và chất lượng dịch vụ, tuy nhiên, nhấn mạnh đến nhóm đối tượngyếu thế (lý do chính để có sự tham gia của nhà nước).

ASXH là lưới an toàn cho mọi thành viên trong xã hội Do đó, phạm vicủa ASXH là bao phủ toàn dân và toàn diện

* Các nguyên tắc của ASXH

Thứ nhất: Nhà nước quản lý hoạt động ASXH

Nhà nước có trách nhiệm tổ chức các biện pháp bảo đảm xã hội đối vớicác đối tượng bị giảm hoặc mất thu nhập Nhà nước thành lập Ban chỉ đạothực hiện các chính sách về ASXH

Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý điềuchỉnh các hoạt động của ASXH; việc ban hành các văn bản, các chính sách,pháp luật về ASXH tạo sự đồng bộ, thống nhất thực hiện từ Trung ương đếnđịa phương

Nhà nước thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của ASXH Thựchiện tốt công tác kiểm tra, giám sát là cách ngăn ngừa tốt nhất những vi phạm,sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện công tác bảo đảm ASXH

Nhà nước tăng cường công tác thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêmminh mọi hành vi vi phạm pháp luật về ASXH

Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện hoạt động ASXHtrong phạm vi cả nước

Thứ hai: ASXH hướng vào bảo đảm cuộc sống cho mọi người bị giảm

hoặc mất khả năng lao động dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập do bị mấtviệc làm, do gặp thiên tai, hoả hoạn hoặc các rủi ro khác

Thứ ba: Thực hiện bảo đảm ASXH trên cơ sở sự đóng góp của các bên

và sự trợ giúp của toàn xã hội, sự chia sẻ của cộng đồng Cùng với ngân sáchnhà nước và sự tham gia đóng góp của các thành phần trong xã hội và các tổ

Trang 13

chức nước ngoài và bằng chính sự tham gia, đóng góp của người thụ hưởngcác chính sách này.

Thứ tư: ASXH không nhằm mục đích lợi nhuận mà chủ yếu thực hiện

mục đích xã hội vì cộng đồng

Thứ năm: Mức ASXH nhằm trợ giúp bảo đảm nhu cầu tối thiểu cho

những người thụ hưởng

1.1.2 Khái niệm bảo đảm an sinh xã hội

Về thuật ngữ “Bảo đảm an sinh xã hội” mỗi nước lại sử dụng thànhnhững từ khác nhau, mặc dù nội dung đều hiểu như nhau nhưng do được dịch

từ nhiều ngôn ngữ khác nhau (tiếng Anh: Social Security; tiếng Pháp:Securite Sociale) nên có tài liệu dùng tên gọi là: Bảo đảm xã hội, An toàn xãhội, Bảo trợ xã hội hoặc bảo đảm an sinh xã hội Để tránh lẫn với cụm từ

“Trật tự an toàn xã hội”, mà ở nước ta hay dùng với một ý nghĩa khác Trongluận văn, tác giả sử dụng cụm từ “Bảo đảm an sinh xã hội” cho nội dung này.Theo nghĩa chung nhất Social Security là sự bảo đảm thực hiện các quyền củacon người được sống trong hoà bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển,phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳngtrước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thunhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổigià Theo nghĩa hẹp (Social Security) được hiểu là sự bảo đảm thu nhập vàmột số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họkhi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặcmất việc làm; cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật,những người nghèo đói và những người bị thiên tai, địch hoạ

Ở Việt Nam, bảo đảm an sinh xã hội đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vàĐảng ta đặc biệt quan tâm Trong cuốn “Đường cách mệnh” xuất bản năm

1927, nói về công hội, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Lại có bất thường phí như

để dành lúc bãi công hoặc giúp những hội khác bãi công, hoặc giúp đỡ người

Trang 14

mất việc làm, khi ốm đau, tai nạn, hoặc làm những việc công ích” [30, tr.24].Đây là ý tưởng manh nha của ASXH Ngay sau khi giành được chính quyền,năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đứng đầu Nhà nước ta xây dựng vàban hành Hiến pháp, trong đó quy định những người già, hoặc người tàn tậtkhông việc làm thì được giúp đỡ Trong giai đoạn từ năm 1947 đến nhữngnăm 50 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo, ban hành mộtloạt chính sách, chế độ liên quan đến cán bộ, công chức, người lao động nhưchế độ tiền lương, phụ phí, chế độ trợ cấp BHXH đối với cán bộ, công chức,viên chức; chế độ đãi ngộ quân nhân Trong những năm 60 của thế kỷ XX,khi tổ chức công đoàn phát triển, chế độ BHXH, chế độ thai sản, ốm đau, tainạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu, tuất được Chủ tịch Hồ Chí Minhquan tâm chỉ đạo, ban hành Đây là những yếu tố nền tảng của ASXH.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, chăm lo đến toàn bộ các lĩnhvực đời sống, các giai cấp, tầng lớp với tầm nhân văn, nhân sinh rộng lớn.Hàng loạt bài nói, viết, chính sách chế độ được ban hành từ rất lâu, nhưng đếnnay vẫn còn nguyên tính chỉ đạo và giá trị thời đại như các tác phẩm, bài báo,bài nói, các chính sách về lao động, việc làm; về dân số - kế hoạch hóa giađình; về y tế giáo dục; về tất cả các đối tượng, giai tầng, nghề nghiệp, các đốitượng đặc thù, khó khăn trong xã hội [30, tr.24]

Có thể khẳng định rằng cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đềunhằm phụ vụ nhân dân, tất cả vì dân, vì hòa bình, độc lập, tự do, ấm no hạnhphúc của nhân dân Trong điều kiện hoàn cảnh nước nhà còn nhiều khó khăn,Bác Hồ đã quan tâm đến ASXH cụ thể: Các chính sách liên quan đến thươngbinh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người đã phải chịu những hy sinh,mất mát vì nền độc lập, thống nhất của dân tộc Bác đã nhiều lần nhắc nhở:

“Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân, gia đình liệt sỹ là người cócông với Tổ quốc với nhân dân cho nên bổn phận của chúng ta là phải biết ơn,phải thương yêu, giúp đỡ họ, để họ có cuộc sống ổn định, bớt đi những khó

Trang 15

khăn của sự mất mát hy sinh”[ 30, tr.25] Một trong những vấn đề luôn đượcBác quan tâm là vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động Trong bàiviết ngày 29/10/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Công đoàn cónhiệm vụ giữ gìn quyền lợi cho công nhân và giúp cho Chính phủ xây dựngđất nước Chính phủ Việt Nam luôn là Chính phủ dân chủ vì vậy đã ban hành

Bộ luật lao động ấn định giờ làm, tiền công, bảo vệ đàn bà, người già và trẻem”[30, tr.25] Toàn bộ cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh thắm đượm tưtưởng vì nhân dân, vì nhân loại Lý tưởng, mục tiêu phấn đấu của Người làhòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người Việt Nam và nhândân lao động trên thế giới Người quan tâm đến lợi ích thiết thân, hàng ngàycủa quần chúng nhân dân, người lao động Người nói: Tôi chỉ có một hammuốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân tađược hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành

Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ASXH, trongmọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta đều quan tâm đến vấn đề ASXH Nội hàmcủa ASXH cũng ngày càng được Đảng ta nhận thức đầy đủ, toàn diện Vănkiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: bảo đảmASXH là tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khảnăng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế,

dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống Tăng tỉ lệngười lao động tham gia các hình thức bảo hiểm Đẩy mạnh xã hội hoá dịch

vụ bảo hiểm xã hội, chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ xã hội sang cungcấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng Bảo đảm cho các đối tượngchính sách có cuộc sống ổn định, hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hộitiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu Thanh tra, kiểm tra, xử lýnghiêm các vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo đảm thực hiện đúng, đầy

đủ chế độ quy định đối với mọi đối tượng Tập trung triển khai có hiệu quả

Trang 16

các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khókhăn Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức xoá đói, giảm nghèo gắn vớiphát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyếtviệc làm để xoá đói, giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người

đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo Huy độngmọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất

và tinh thần của người dân và gia đình có công Giải quyết dứt điểm các tồnđọng về chính sách với người có công, đặc biệt là người tham gia hoạt động bímật, lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong trong các thời kỳ cách mạng vàkháng chiến Tạo điều kiện, khuyến khích người và gia đình có công tích cựctham gia phát triển kinh tế để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, có mức sốngcao hơn mức sống trung bình của dân cư tại địa bàn

Gần đây nhất PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn – Hiệu trưởng Trường đại họckinh tế (Đại học quốc gia Hà Nội) trong bài: “Kinh nghiệm phát triển kinh tếgắn với đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam” đăng trên tạp chí Tuyên giáo số1/2013 đã nêu khái niệm về đảm bảo ASXH: Đảm bảo ASXH là đảm bảo cuộcsống an bình, hạnh phúc cho mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, tránh được sựbất hạnh, rủi ro trong cuộc sống của người dân Hệ thống ASXH theo quanđiểm hiện đại là một cấu trúc thống nhất bao gồm năm yếu tố: Bảo hiểm xãhội; Bảo hiểm y tế; Bảo hiểm thất nghiệp; Cứu trợ xã hội và trợ giúp; Ưu đãi xãhội Trên cơ sở nghiên cứu, kế thừa kết quả những công trình đã được nghiêncứu, tác giả luận văn đưa ra quan niệm của mình về đảm bảo ASXH như sau:

Bảo đảm An sinh xã hội là tổng thể các hoạt động của toàn xã hội dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm huy động, hình thành và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực vật chất, tài chính để bảo đảm cho các đối tượng được hưởng

Trang 17

chính sách ASXH, tạo điều kiện cho họ nâng cao mức sống vật chất, văn hóa, tinh thần và tái sản xuất sức lao động.

Cần hiểu rằng theo nghĩa đầy đủ hoạt động bảo đảm ASXH là côngviệc của toàn xã hội trên một lĩnh vực rất rộng lớn, phức tạp và quan trọngcủa toàn bộ đời sống xã hội Đó là hoạt động mà mục tiêu cao cả của nó là vìcuộc sống hạnh phúc và các quyền con người trong chế độ ta Cho nên bảođảm ASXH không phải là sự ban phát hay đem đến cho đối tượng nào đóđược hưởng thụ những giá trị vật chất mang tính tạm thời giống như một sựcứu trợ vì lý do của những hoàn cảnh không may mà đây là hoạt động có ýnghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mang tính nhân văn hết sức sâu sắc Nếu xéttrong quá trình tái sản xuất xã hội thì nó thuộc về quá trình tái sản xuất sứclao động và tái sản xuất các quan hệ sản xuất xã hội Rõ ràng bảo đảm ASXHphản ảnh bản chất của một chế độ kinh tế - xã hội nhất định Bởi vậy, ở nước

ta bảo đảm ASXH được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hànhcủa Nhà nước, là sự nghiệp của toàn dân mà đối tượng được hưởng là mọicông dân Việt Nam Tất nhiên tùy theo hoàn cảnh, điều kiện khác nhau việcbảo đảm ASXH cho từng đối tượng cụ thể sẽ có những nội dung và sự quantâm không giống nhau Để xây dựng hoàn thiện hệ thống các giải pháp về bảođảm ASXH, không thể không tiếp cận theo phương pháp trong cách nhìnnhận đánh giá bảo đảm ASXH về hình thành, vận hành trên nền tảng kinh tế -

xã hội với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, khách quan Yêu cầu việc bảo đảmASXH là xuất phát từ thực tiễn khách quan, tất yếu, tự thân đối với mỗi đấtnước, mỗi cộng đồng nếu muốn hướng tới sự phát triển bền vững Vì vậy, cầnphải xác định các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng các chính sách bảo đảmASXH hoàn thiện vì mục tiêu lâu dài trong phát triển

Cần khẳng định rằng điều có ý nghĩa quyết định để thực hiện được mụctiêu, nhiệm vụ bảo đảm ASXH là việc phải tạo ra được các nguồn lực kinh tế,vật chất tài chính cần thiết, trong điều kiện nước ta đang phát triển nền kinh tế

Trang 18

thị trường định hướng XHCN ở những bước đầu tiên Dù cho khi nền kinh tếcòn đang nghèo hay khi đã phát triển nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thìkhông bao giờ có thể giải quyết được các yêu cầu lớn lao của bảo đảm ASXH.

Do đó việc xã hội hóa để tạo ta các nguồn lực sẽ là con đường cơ bản để thựchiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ bảo đảm ASXH Nói cách khác phải coi đó

là trách nhiệm, nghĩa vụ của các thành phần và tổ chức kinh tế, của tất cácnguồn lực trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cùng với các hoạt động củacác tổ chức, cá nhân và các thành phần xã hội khác

1.1.3 Đối tượng chính sách được bảo đảm an sinh xã hội

Do trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh ác liệt, cho nên chính sách ưu đãi

xã hội ở Việt Nam chủ yếu thực hiện đối với các đối tượng là người có cốnghiến đặc biệt trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc Họ là những người đã hy sinhtính mạng, của cải cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; hoặc nhữngngười đã mất mát một phần thân thể, hay phải chịu hậu quả nặng nề của bomđạn, chất độc hóa học do chiến tranh để lại Ngoài thực hiện các chính sáchđãi ngộ, ưu đãi đối với người có công theo quy định tại pháp lệnh ưu đãingười có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29/6/2005(đã được sửa đổi, bổ sung tại Pháp lệnh số 35/2007/PL-UBTVQH11 ngày21/6/2007; Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012;Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thihành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng) đốitượng chính sách được bảo đảm ASXH bao gồm:

+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;

+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngàykhởi nghĩa tháng Tám năm 1945;

+ Liệt sĩ;

+ Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

+ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng lao động;

Trang 19

+ Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

+ Bệnh binh;

+ Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;

+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;+ Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc vàlàm nghĩa vụ quốc tế;

+ Người có công giúp đỡ cách mạng

Chính sách an sinh xã hội luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là mộtquốc sách truyền thống, việc bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách vừa làtrách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân

1.2 Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng tới bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

1.2.1 Quan niệm về bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

Trên cơ sở kế thừa quan niệm về bảo đảm an sinh xã hội ở phần trên,

tác giả cho rằng: bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách ở huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội là tổng thể các hoạt động của các chủ thể (dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước) nhằm huy động, hình thành và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực vật chất, tài chính để bảo đảm cho đối tượng chính sách trên địa bàn huyện, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho họ.

Quan niệm trên chỉ ra:

Chủ thể thực hiện bảo đảm ASXH trên địa bàn huyện Chương Mỹ là:Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thể và nhân dân của huyện Trong đó, mỗichủ thể có một nhiệm vụ cụ thể, phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của từng

tổ chức Trong đó, Đảng bộ huyện Chương Mỹ giữ vai trò lãnh đạo; trên cơ

sở đường lối, chủ trương của Đảng về bảo đảm ASXH đề ra chủ trương, biện

Trang 20

pháp lãnh đạo sát đúng với điều kiện của huyện Chương Mỹ Chính quyềncác cấp của huyện tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Nghịquyết của Đảng bộ huyện về bảo đảm ASXH; các tổ chức chính trị, xã hội,đoàn thể, nhân dân của huyện thực hiện đảm bảo ASXH theo chức tránhnhiệm vụ được giao.

Đối tượng được bảo đảm ASXH là các đối tượng chính sách củahuyện, theo quy định tại pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29/6/2005 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Pháplệnh số 35/2007/PL-UBTVQH11 ngày 21/6/2007; Pháp lệnh số04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012; Nghị định số 31/2013/NĐ-

CP ngày 09/4/2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều củaPháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng)

Mục đích của bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách là để các đốitượng này có được cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần tốt hơn mức trungbình của xã hội

1.2.2 Nội dung bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

Căn cứ vào đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước vềbảo đảm ASXH cho các đối tượng, nội dung bảo đảm ASXH cho đối tượngchính sách ở huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội gồm:

Một là, Thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho đối tượng chính sách

Bảo hiểm là sự bảo đảm thay thế hay bù đắp một phần thu nhập củangười dân khi họ gặp rủi ro trong đời sống (sức khỏe, tai nạn, mùa màng…)thông qua việc đóng thường xuyên một khoản tiền (phí bảo hiểm) cho tổ chức(nhà nước hoặc tư nhân) tương ứng với xác xuất xảy ra và chi phí của rủi roliên quan đến chu kỳ sống của người lao động và gia đình họ

Trang 21

Đối với đối tượng chính sách của huyện Chương Mỹ nói riêng, của nước

ta nói chung không phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế mà ngân sách nhànước sẽ đài thọ cho họ Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đốitượng chính sách là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chínhtrị Để đối tượng chính sách có cuộc sống cao hơn mức trung bình của xã hội,Đảng và Nhà nước ta đã có chế độ chính sách ưu đãi cho đối tượng chính sách.Việc chi trả chế độ, BHXH, BHYT do ngân sách nhà nước đài thọ Các cấp, cácngành, các địa phương trên cơ sở chế độ chính sách của nhà nước thực hiện chitrả cho đối tượng chính sách theo quy định

Hai là, thực hiện chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho đối tượng chính sách

Đây là chính sách về đào tạo nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ vay vốn

ưu đãi tín dụng… cho đối tượng chính sách đang có nhu cầu tìm việc làm,thường là người thất nghiệp, thiếu việc làm và thậm chí là cả những ngườiđang có nhu cầu tìm việc làm tốt hơn với mục tiêu nâng cao cơ hội tham giahoặc tái hòa nhập vào thị trường lao động Đối với đối tượng chính sách, Nhànước ta có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm cho họ Nguồn tàichính dành cho việc thực hiện các chính sách này thường được lấy từ thuế và

từ đóng góp của nhân dân

Ba là, thực hiện trợ giúp và cứu trợ xã hội cho đối tượng chính sách

Trợ giúp xã hội là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của Nhànước (lấy từ nguồn thuế, không phải đóng góp của người nhận) nhằm bảo đảmmức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận Nguồn trợ giúp xã hội chủ yếulấy từ ngân sách và một phần từ sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức, doanhnghiệp và nhân dân Theo quan điểm hiện đại, trợ giúp xã hội bao gồm 3 loạihình: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp gia đình và dịch vụ xã hội Các chínhsách/chương trình này hướng vào những người sống trong nghèo cùng cực và

dễ bị tổn thương, ngăn chặn sự suy giảm trong thu nhập và năng lực tiêu dùng

Trang 22

của những người trong tình huống dễ bị tổn thương, kết nối và tạo điều kiệntiếp cận các dịch vụ trợ giúp xã hội

Chính sách hỗ trợ như: hỗ trợ về xây, sửa nhà ở cho hộ chính sách người

có công thuộc hộ nghèo; hỗ trợ đột xuất, 1 lần cho đối tượng chính sách khôngmay bị tai nạn rủi ro…

Chính sách giảm nghèo là tập hợp các chính sách, biện pháp và dự ánnhằm thúc đẩy khả năng tiếp cận của người nghèo đến dịch vụ sản xuất vàdịch vụ xã hội, như: chương trình mục tiêu giảm nghèo, chương trình 134,chương trình 135 và chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững tại 63huyện nghèo trong cả nước (Nghị quyết 30a của Chính phủ) Hỗ trợ giảmnghèo cho các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế (đối tượng bảo trợ xãhội) bao gồm trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội (trẻ em

mồ côi; người già cô đơn; người 90 tuổi trở lên không có nguồn thu nhập;người tàn tật nặng; gia đình có từ hai người tàn tật nặng trở lên không có khảnăng tự phục vụ; người có HIV/AIDS nhà nghèo; gia đình, người nhận nuôidưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt); trợ giúp

về y tế; giáo dục; dạy nghề, tạo việc làm; tiếp cận các công trình công cộng;hoạt động văn hoá thể thao và trợ giúp khẩn cấp mà từ trước đến nay hay gọi làtrợ giúp xã hội cho những người không may gặp rủi ro đột xuất bởi thiên tai

Bốn là, nhóm thực hiện các chính sách dịch vụ xã hội cơ bản

Dịch vụ xã hội cơ bản có vai trò rất quan trọng trong hệ thống ASXH.Các hoạt động giúp người dân tiếp cận hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản lànhững hoạt động đầu tiên và ở tầng thấp nhất trong hệ thống ASXH, tạo điềukiện cho người dân từng bước vươn lên để có cuộc sống tốt hơn

Các dịch vụ xã hội cơ bản, gồm: Dịch giáo dục đào tạo; dịch vụ y tếchăm sóc sức khỏe; dịch vụ thông tin, truyền thông; dịch vụ nước sạch… chođối tượng chính sách Đây là một hệ thống chính sách, giải pháp mới được hình

Trang 23

thành trong vài thập kỷ gần đây, ở Việt Nam bắt đầu từ thập kỷ 90 của thế kỷ

Thứ nhất: Thực hiện chính sách ASXH nói chung, cho đối tượng chính sách nói riêng là sự thể hiện rõ nét bản chất ưu việt của chế độ XHCN, mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh tất

cả vì hạnh phúc của con người.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước và sựphấn đấu nỗ lực vượt bậc của toàn dân, đến nay công tác bảo đảm ASXH đãđạt được nhiều thành tựu nổi bật, được nhân dân đồng tình, quốc tế đánh giácao: số hộ nghèo giảm từ 29% (năm 2002) xuống còn 9,5% (năm 2011); chỉ

số phát triển con người (HDI) tăng từ mức 0,683 (năm 2000) lên mức 0,728(năm 2011), xếp thứ 128/187 nước, thuộc nhóm trung bình cao của thế giới;năm 2011 nước ta đã hoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ(MDGs) do Liên hợp quốc đề ra cho các nước đang phát triển đến năm 2015.Như vậy, công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực hiện bình đẳng giới, nâng caochỉ số phát triển con người, nâng cao tuổi thọ trung bình, đẩy mạnh sự nghiệpgiáo dục và chăm sóc sức khỏe cho toàn dân, Liên hiệp quốc đã coi Việt Namnhư một điểm sáng của việc thực hiện các mục tiêu thiên kỷ

Thứ hai: Thực hiện bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách là sự thể hiện và phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc ta.

Trang 24

Trong suốt một ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước dân tộc ta cónhững truyền thống lịch sử và nền văn hóa với những giá trị hết sức quý giá.

Đó là lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động và chiếnđấu chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, cùng với tinh thần đoàn kết cộngđồng, yêu thương gắn bó, lòng vị tha cao thượng trong đó truyền thống

“uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” là một trong nhữngtruyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Những nhân tố đó tạo nên nét vănhóa Việt Nam với sức mạnh bất diệt để giúp dân tộc ta vượt qua mọi thửthách đánh thắng mọi kẻ thù, giữ gìn và bảo vệ nền độc lập dân tộc và trườngtồn của Tổ quốc Những truyền thống và tài sản vô giá đó được mang nhữngnội dung mới và phát huy cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh – thời đại củađộc lập dân tộc gắn liền với CNXH

Các đối tượng chính sách là những người đã không tiếc máu xương,hiến dân cả đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập cho dân tộc vàxây dựng chủ nghĩa xã hội Vì phải hy sinh tính mạng, của cải, một phần máuthịt hoặc bị phơi nhiễm chất độc hóa học nên các đối tượng chính sách lànhững người dễ bị tổn thương trong nền kinh tế thị trường định hướngXHCN Mặc dù kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, song Đảng ta đã xác địnhphải bảo đảm tốt ASXH cho đối tượng chính sách để họ có cuộc sống vậtchất, tinh thần cao hơn mức trung bình của xã hội Bảo đảm ASXH cho đốitượng chính sách ở nước ta hiện nay chính là thể hiện và phát huy truyềnthống “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc ta

Thứ ba: Thực hiện bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền tảng chính trị của chế độ XHCN và thế trận quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc trên địa bàn huyện Chương Mỹ Hà Nội.

Thực hiện bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách xã hội không chỉ có

ý nghĩa trực tiếp về mặt kinh tế như là một sự đãi ngộ hay trợ giúp đối với những

Trang 25

người được hưởng chính sách mà còn có ý nghĩa chính trị, xã hội hết sức to lớn

vì đó là sự thể hiện về thái độ, quan điểm của chế độ với con người Bởi vậycùng với các hoạt động khác nó là sự giáo dục, truyền bá có hiệu quả các quanđiểm, đường lối, chính sách đến từng người dân và cộng đồng xã hội Thông qua

đó nâng cao trình độ giác ngộ, lòng yêu nước, yêu chế độ, truyền thống và cácgiá trị văn hóa lịch sử làm cho mọi người vững tin ở sự lãnh đạo của Đảng, tính

ưu việt của chế độ XHCN, sự quản lý của Nhà nước, nâng cao nhận thức về thái

độ, trách nhiệm của công dân, nhận rõ những âm mưu thủ đoạn, hành động củacác thế lực thù địch tự giác và tích cực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộcbảo vệ Đảng bảo vệ chế độ

Thứ tư: Thực hiện bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách của huyện Chương Mỹ góp phần cùng thành phố Hà Nội,

cả nước hội nhập quốc tế, nâng cao uy tín và vị thế của nước

ta trên trường quốc tế.

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay bảo đảmASXH đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, như là một hoạt động tham gia tíchcực vào xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế và các mặt khác của đời sốngquốc tế Các hoạt động thuộc lĩnh vực ASXH đã trở thành mối quan tâmchung của cả cộng đồng quốc tế vì con người Liên hiệp quốc đã có nhữngmục tiêu và chương trình thiên niên kỷ về chống bênh tật, đói nghèo; các tệnạn, đối phó với những biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu với sự thamgia của cộng đồng các quốc gia trên thế giới Với tư cách là một quốc giathành viên của tổ chức lớn nhất hành tinh và nhiều tổ chức văn hóa, nhân đạokhác lại là nước chịu nhiều đau thương, hậu quả nặng nề của các cuộc chiếntranh tàn khốc thì việc nước ta thực hiện tốt bảo đảm ASXH sẽ được cộngđồng quốc tế đánh giá cao Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức quốc tế coi ViệtNam như là một tấm gương trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ Mặt

Trang 26

khác thực hiện có hiệu quả công tác bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sáchcủa chúng ta đã góp phần giữ vững ổn định chính trị tạo ra các yếu tố cầnthiết, điều kiện và môi trường đầu tư thuận lợi để mời gọi, thu hút đầu tư từcác nước khác vào Việt Nam.

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

Một là: Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Chương Mỹ

Đặc điểm vị trí địa lí, địa hình, dân cư: Chương Mỹ Là một huyện

ngoại thành nằm ở phía Tây Nam Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 20 km; phíaBắc giáp huyện Quốc Oai; phía Đông giáp với quận Hà Đông, huyện ThanhOai; phía Nam giáp huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức; phía Tây giáp với huyệnLương Sơn (tỉnh Hoà Bình) Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 232,94 km2,

là huyện có diện tích lớn thứ 3 của thành phố Dân số 31 vạn người Toànhuyện có 32 đơn vị hành chính cấp xã gồm 30 xã và 2 thị trấn Mật độ dân sốtrung bình 1.309 người/km Toàn huyện có trên 70.000 hộ dân; người dân tộcKinh chiếm đại đa số, dân tộc Mường có 01 thôn Đồng Ké (thuộc xã TrầnPhú) với 123 hộ dân, 471 nhân khẩu; ngoài ra còn có một số dân tộc thiểu sốkhác ở rải rác tại các xã, thị trấn Có gần 100 cơ quan, đơn vị Nhà nước,Trung ương và Thành phố đóng trên địa bàn; Chương Mỹ có 01 khu côngnghiệp, 9 cụm điểm công nghiệp và trên 10 nghìn cơ sở sản xuất tiểu thủ côngnghiệp cá thể đang hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần chuyểndịch mạnh về cơ cấu kinh tế trong những năm qua

Địa hình của huyện được chia làm 3 vùng rõ rệt: Vùng Đồi gò, vùng

“Núi sót” và vùng Đồng bằng với hệ thống sông Bùi - sông Tích phía Tây,sông Đáy bao bọc phía Đông huyện đã tạo tiền đề cho sự phát triển nôngnghiệp trồng lúa nước ở vùng này từ rất sớm Đồng thời kết hợp với hệ thốngđồi núi, sông hồ, đồng ruộng tạo nên những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, thơmộng và đầy ắp những huyền thoại: Quần thể di tích lịch sử văn hóa, danh

Trang 27

lam thắng cảnh thuộc các xã Phụng Châu, Tiên Phương, Ngọc Hoà, HoàngVăn Thụ, Thủy Xuân Tiên… dải núi rừng và hồ phía Tây của huyện vừa làcảnh quan đẹp vừa là tuyến phòng thủ tự nhiên vững chắc về phía Tây Namcủa Thủ đô.

Trên địa bàn có các tuyến đường quan trọng chạy qua: Tuyến đường

419 nối liền các xã và các huyện; quốc lộ 6 với chiều dài 18 km và đường HồChí Minh với chiều dài 16,5 km giúp cho Chương Mỹ trở thành đầu mối vàcầu nối giao thương quan trọng giữa Thủ Đô với các tỉnh thành đồng bằngBắc Bộ và các tỉnh vùng Tây Bắc; giữa Hà Nội với các tỉnh thành phía Nam.Trong quy hoạch phát triển KT-XH của Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầmnhìn đến 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Chương Mỹ nằmtrong vành đai xanh phát triển của Thủ đô với Khu đô thị vệ tinh Xuân Mai,thị trấn sinh thái Chúc Sơn (nằm trong chùm đô thị vệ tinh và thị trấn sinhthái của Thủ đô)

Hành chính: Huyện Chương Mỹ nguyên xưa là phần đất của hai huyện

Yên Sơn, Mỹ Lương thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây và huyện ChươngĐức, thuộc phủ Ứng Thiên, trấn Nam Thượng Đến năm Gia Long 13 (1814),đổi sang phủ Ứng Hòa Đến năm Đồng Khánh thứ 3 (năm 1888) chia huyệnChương Đức thành hai huyện Yên Đức, thuộc phủ Mỹ Đức và huyện Chương

Mỹ thuộc phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông Trải qua nhiều lần tách nhập tỉnh, hợpnhất, Chương Mỹ lần lượt là huyện của các tỉnh Hà Đông, Hà Tây, Hà SơnBình rồi trở lại Hà Tây trước khi hợp nhất với Thủ đô Hà Nội vào ngày01/8/2008 theo Nghị quyết 15 của Quốc hội khóa XII

Huyện Chương Mỹ ngày nay là huyện Anh hùng lực lượng vũ trangnhân dân, có 2 thị trấn và 30 xã, bao gồm: Thị trấn Chúc Sơn, thị trấn XuânMai và các xã: Phụng Châu, Tiên Phương, Phú Nghĩa, Đông Phương Yên,Đông Sơn, Thủy Xuân Tiên, Thanh Bình, Trường Yên, Ngọc Hòa, ThụyHương, Đại Yên, Trung Hòa, Tốt Động, Nam Phương Tiến, Tân Tiến, Hoàng

Trang 28

Văn Thụ, Hữu Văn, Mỹ Lương, Quảng Bị, Hợp Đồng, Lam Điền, HoàngDiệu, Thượng Vực, Văn Võ, Đồng Phú, Hồng Phong, Trần Phú, Đồng Lạc,Hòa Chính, Phú Nam An Trung tâm hành chính của huyện đóng tại thị trấnChúc Sơn.

Kinh tế - xã hội (Năm 2015): Tổng giá trị sản xuất (theo giá cố định

2010) đạt: 11.795 tỷ đồng, đạt: 98,9% so với kế hoạch và bằng 111,5% socùng kỳ Tốc độ tăng trưởng 11,5% Trong đó:

- Về sản xuất Công nghiệp - TTCN - XDCB: Giá trị sản xuất Côngnghiệp - TTCN-XDCB (theo giá cố định 2010) đạt: 6.730 tỷ đồng đạt: 98,5%

KH và bằng 113,1% so với cùng kỳ; tốc độ tăng trưởng đạt: 13,1% Trên địabàn hiện có trên 356 doanh nghiệp và trên 12.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ côngnghiệp cá thể đang hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế

Đã tổ chức 71 lớp dạy nghề với 2.800 học viên bằng chương trình khuyếncông của huyện với kinh phí 2,9 tỷ đồng Toàn huyện có 175/215 làng cónghề Trong đó: Có 34 làng được thành phố công nhận làng nghề

- Về Thương mại - dịch vụ - du lịch: Giá trị sản xuất ngành thương mại

- dịch vụ (giá cố định 2010) đạt: 2.175 tỷ đồng đạt 100,6% kế hoạch và bằng119,7% so với cùng kỳ Tốc độ tăng trưởng đạt 19,7%

- Sản xuất Nông nghiệp – Lâm nghiệp – Thủy sản: Giá trị sản xuấtngành Nông – Lâm nghiệp – Thủy sản (giá cố định 2010) đạt 2.890 tỷ đồngđạt 98,5% so kế hoạch và bằng 102,6 % so với cùng kỳ Tốc độ tăng trưởngđạt 2,6%

Về trồng trọt: Tổng sản lượng lương thực đạt 123.693 tấn, đạt 112,4%KH; riêng thóc đạt 115.190 tấn đạt 113 % KH

Về chăn nuôi: Tổng giá trị sản xuất 170 tỷ đồng đạt 103% kế hoạch vàbằng 113% so với cùng kỳ

Trang 29

- Về Chương trình xây dựng nông thôn mới: Các xã đã chủ động xâydựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án và Đồ án quy hoạch xây dựng nôngthôn mới, đã có 18 xã tổ chức Lễ công bố quy hoạch và phát động phong tràotoàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới Kết quả đạt được theo bộ tiêuchí quốc gia trên toàn huyện: Số xã đạt 19/19 tiêu chí: 01 xã (Thuỵ Hương);

số xã đạt và cơ bản đạt 16-17 tiêu chí: 03 xã; số xã đạt và cơ bản đạt 13-15tiêu chí: 05 xã; số xã đạt và cơ bản đạt 10-12 tiêu chí: 19 xã; số xã đạt và cơbản đạt 9 tiêu chí: 02 xã Đến năm 2015 có 17 xã hoàn thành xây dựng nôngthôn mới; số còn lại đến năm 2020

Về công tác dồn điền đổi thửa: Tổng diện tích đã dồn điền đổi thửa trênđịa bàn huyện: Trong tổng số 29 xã, thị trấn thực hiện dồn điền đổi thửa, kếtquả thực hiện được diện tích là 7.947,09 ha, đạt 198,6% so với kế hoạchthành phố giao Trên địa bàn huyện có 27 xã, thị trấn làm giao thông thủy lợinội đồng đã hoàn thành cơ bản khối lượng đào đắp Tổng khối lượng đào đắpthực hiện là 4.151.504,7m3 Tiếp tục chỉ đạo các xã còn lại thực hiện xongdiện tích cần phải thực hiện dồn điền đổi thửa; phấn đấu thực hiện đến hếtnăm 2013 tổng diện tích dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện là: 10.500 hađạt 100% diện tích phải dồn điền đổi thửa

Với quan điểm phát triển bền vững, tăng trưởng kinh tế phải gắn liềnvới phát triển văn hóa xã hội, đặc biệt trú trọng đến công tác an sinh xã hộicủa huyện nhà Trong những năm qua, Huyện ủy, HĐND&UBND huyệnthường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo bổ xung và hoàn thiện kế hoạch,xây dựng chương trình, đã tập trung huy động các nguồn lực đầu tư các côngtrình phục vụ dân sinh như: Trường học, bệnh viện, trạm y tế, nhà văn hóa,đường giao thông, dự án di tích lịch sử, dự án môi trường… với phương châm

“Nhà nước và nhân dân cùng làm” Đến nay 100% số xã, thị trấn có hệ thốngĐài Truyền thanh và điểm Bưu điện văn hóa xã Toàn huyện có 31,5% số

Trang 30

làng được công nhận danh hiệu làng văn hóa; 35,5% cơ quan đạt danh hiệu cơquan văn hóa và 80,6% số hộ được công nhận gia đình văn hóa.

Hầu hết hệ thống y tế được đầu tư, nâng cấp và xây dựng từ huyện đến

cơ sở Hiện nay có 32/32 xã, thị trấn có bác sỹ, nhiều trạm y tế được xây dựngnhà 2 tầng, 100% các trạm y tế đạt chuẩn tiêu chí quốc gia về y tế xã; trong đó

có 10 trạm y tế đạt chuẩn tiêu chí quốc gia giai đoạn II Các chương trình y tếquốc gia được thực hiện tốt Sự nghiệp giáo dục được coi trọng, 100% số xã,thị trấn có trường học kiên cố, có 41 trường đạt chuẩn Quốc gia, huyện tiếp tụcchương trình phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, xóa mù chữ và phổ cập Trung học

cơ sở Hàng năm có hàng trăm học sinh đạt học sinh giỏi cấp tỉnh (thành phố)

và thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng

Phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vớitinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; Đảng bộ, chính quyền vànhân dân huyện Chương Mỹ đang ra sức thi đua phấn đấu quyết tâm thực hiệnthắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII Cán bộ, đảng viên vàcác tầng lớp nhân dân huyện Chương Mỹ đoàn kết một lòng, thực hiện thắng lợichương trình xây dựng Nông thôn mới, thực hiện thành công nhiệm vụ phát triểnkinh tế -xã hội đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đưa Chương Mỹ trở thành huyện:Năng động về kinh tế, phát triển về văn hoá - xã hội, ổn định về an ninh chínhtrị, vững mạnh về quốc phòng, góp phần cùng với Thủ đô Hà Nội và cả nướcthực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…đâychính là cơ sở quan trọng cho sự phát triển ổn định và bền vững của huyện cũngnhư các xã, thị trấn trong huyện

Bên cạnh những thành tích cao đạt được trong những năm qua, laođộng việc làm, thu nhập của người lao động trong huyện còn nhiều khó khăn,thu nhập thấp, đời sống của nhân dân trong huyện phần lớn phụ thuộc vàonghề nông nghiệp Tỷ lệ hộ nghèo của các xã trong huyện không đồng đều.Nhiều năm qua Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong huyện có rất nhiều

Trang 31

nỗ lực trong việc phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện bảo đảm các chínhsách an sinh xã hội như: Giảm nghèo giai đoạn 2010-2015 mỗi năm giảmbình quân 3% giai đoạn 2011-2015 mỗi năm bình quân giảm 2%, tuy nhiên,công cuộc xóa nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn chưa chuyển biến mạnh, làm tốtcác chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội, đối tượng chính sách người

có công… Việc tham gia BHXH, BHYT tự nguyện cũng hạn chế do nhậnthức của số ít người dân và một số bộ phận dân cư gặp khó khăn, chỉ thamgia BHYT khi mắc bệnh [36]

Điều kiện tự nhiên khí hậu thời tiết trực tiếp ảnh hưởng đến sự pháttriển của kinh tế, nhất là phát triển của nông nghiệp do đó sẽ ảnh hưởng đếncác nguồn lực của huyện có thể huy động để thực hiện bảo đảm ASXH chocác đối tượng nói chung, đối tượng chính sách nói riêng

Điều kiện kinh tế - xã hội quyết định đến tiềm lực kinh tế, tiềm lực chínhtrị tinh thần của huyện Do đó nó sẽ quyết định đến khả năng huy động cơ sởvật chất, tài chính của huyện cho thực hiện ASXH cho đối tượng chính sách

Hai là, về đối tượng chính sách ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

Hiện nay đối tượng chính sách xã hội huyện Chương Mỹ đang quản lý

và thực hiện chính sách chế độ bảo đảm an sinh xã hội gồm:

- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945: 04 người (đã từ trần 01 người, còn 03 người

đang hưởng trợ cấp hàng tháng)

- Người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến trước tổng khởi nghĩa:

05 người (đã từ trần 04 người, còn 01 người đang hưởng trợ cấp hàng tháng)

- Bà mẹ Việt Nam Anh hùng: được Nhà nước tặng và truy tặng là 116

mẹ, hiện còn 04 mẹ Việt Nam anh hùng cô đơn có 1 con duy nhất là liệt sĩđang hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng

Trang 32

- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh: 1.314 người,

trong đó thương binh 81% trở lên 39 người

- Bệnh binh: 1.112 người, trong đó bệnh binh 1/3 có 10 người

- Người HĐKC trực tiếp nhiễm chất độc hóa học: 698 người

- Con người HĐKC bị nhiễm chất độc hóa học: 491 người

- Người hoạt động cách mạng bị địch bắt, tù đày: 96 người

- Thân nhân của người có công đang hưởng trợ cấp tuất: 2.797 người,

trong đó có 2.506 người hưởng trợ cấp tuất liệt sỹ, 291 người hưởng trợ cấptuất thường

- Toàn huyện hiện có 2.118 người hưởng chính sách thờ cúng Liệt sĩ;

5.977 người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và nhữngngười tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế được cấpthẻ bảo hiểm y tế

- Con đối tượng người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi trong giáo

dục-đào tạo là: 678 người [33]

Ba là, hệ thống cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước

và của huyện liên quan đến bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách xã hội

Có thể khẳng định cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước và của huyệnvừa là khung khổ pháp lý, vừa là “bà đỡ” cho thực hiện ASXH nói chung, chođối tượng chính sách nói riêng của huyện Chương Mỹ Thực tế những năm qua

đã chứng minh nhờ có nhiều chủ trương, chính sách như: chính sách BHXH,BHYT cho đối tượng chính sách; chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề, giới thiệu

và giải quyết việc làm; chính sách cứu trợ xã hội; chính sách hỗ trợ về nhà cửacho đối tượng chính sách; chính sách hỗ trợ các địa phương xây dựng kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội; chính sách trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng caokiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo một

Trang 33

cách bền vững; chính sách trợ giúp đầu tư phát triển sản xuất, nhất là đất sảnxuất, đất ở, nhà ở, nước sạch; chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, trướchết các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ giàu đầu tư vốn phát triển sản xuất ởnông thôn, nhất là nông thôn vùng núi… đã tác động trực tiếp tới bảo đảmASXH của huyện nói chung, cho đối tượng chính sách nói riêng.

Bốn là, tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa trên địa bàn huyện

Nhờ chính sách đổi mới của Đảng, sự năng động của địa phương, trongnhững năm qua, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ởhuyện Chương Mỹ đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, mang lại diệnmạo mới, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời góp phần quan trọngvào quá trình thực hiện bảo đảm ASXH cho đối tượng chính sách của huyện

Tốc độ đô thị hóa ở Chương Mỹ đã, đang và sẽ diễn ra rất mạnh ở cáckhu đông dân cư, đặc biệt là các xã dọc đường Quốc lộ 6 và ở các làng nghềtruyền thống Tốc độ đô thị hóa nhanh tác động cả tích cực và tiêu cực đếnbảo đảm ASXH của huyện

Một bộ phận lớn dân cư sẽ tận dụng được những lợi thế của quá trình

đô thị hóa phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nâng cao thunhập, nâng cao cuộc sống Tuy nhiên sẽ có một bộ dân cư không nhỏ do nhiềunguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bị thu hồi đất, mặc dù đã được bồithường thỏa đáng song do không biết sử dụng đồng tiền nên tiêu pha hoangphí, rơi vào cảnh đói, nghèo

Đô thị hóa sẽ đem đến cho huyện Chương Mỹ đời sống văn hóa mới,văn minh đô thị, song nó cũng đem đến những hệ lụy trong cuộc sống của nhândân trong huyện khi chưa quên với lối sống đô thị, tinh thần cố kết cộng đồngdân cư, tình làng nghĩa xóm khi tắt lửa tối đèn có nhau có thể bị phai nhạt

Năm là, tác động của sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến bảo đảm ASXH của huyện

Trang 34

Sự phát triển của kinh tế thị trường có vai trò to lớn tác động nhiều mặtđến đời sống xã hội nói chung, tác động cả tích cực và tiêu cực đến bảo đảmASXH của huyện nói riêng Trong kinh tế thị trường, lợi nhuận là mục tiêu và

là động lực của các chủ thể trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kinh tế thịtrường buộc người sản xuất kinh doanh phải nhanh, nhạy linh hoạt trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh, trong nắm bắt nhu cầu thị hiếu của thị trường đểkịp thời đưa ra quyết định phù hợp

Kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt, để tồn tại, chiếnthắng trong cạnh tranh buộc người sản xuất kinh doanh phải năng động, nhạybén, nắm bắt cơ hội để làm giàu, nếu không sẽ bị phá sản, nghèo đói Theo

đó, đòi hỏi con người phải năng động trong hoạt động sản xuất kinh doanh,tích cực áp dụng khoa học – kỹ thuật, tăng năng suất lao động, giảm chi phísản xuất để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh cao hơn Kinh tếthị trường rất nghiêm khắc đào thải những trì trệ, lạc hậu, lỗi thời của conngười và các sản phẩm yếu kém Do vậy, người nghèo nếu không tự cố gắngvươn lên bằng sự hiểu biết, cách tính toán làm ăn hiệu quả, lựa chọn mô hìnhkinh tế phù hợp và sự hỗ trợ, giúp đỡ của cộng đồng sẽ càng nghèo đói Thực

tế, sự phát triển của kinh tế thị trường ở nước ta nói chung và ở huyệnChương Mỹ nói riêng đã dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc.Nhiều hộ, nhiều người dân giàu lên trong kinh tế thị trường, nhưng cũngnhiều hộ, nhiều người dân rơi vào vòng xoáy của sự nghèo đói Do đó, đốitượng mà ASXH phải thực hiện sẽ nhiều hơn

Sáu là, tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế

Những năm qua, nhờ thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập,

tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ,chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên cótrách nhiệm trong cộng đồng quốc tế nên nước ta đã thu hút được nhiềunguồn lực quan trọng từ bên ngoài, như vốn, khoa học công nghệ, mở rộng thị

Trang 35

trường, kết hợp giữa tận dụng ngoại lực với phát huy nội lực tạo ra sức mạnhtổng hợp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh của đấtnước Nhờ đường lối hội nhập kinh tế quốc tế, thời gian qua huyện Chương

Mỹ cũng đã thu hút được một số lượng đáng kể vốn đầu tư nước ngoài vàviện trợ phát triển từ nhiều tổ chức quốc tế, nhất là các tổ chức phi chính phủ;tiếp thu những thành tựu mới về khoa học - công nghệ cũng như tri thức, kinhnghiệm và kỹ năng quản lý tiên tiến phục vụ cho sự phát triển kinh tế-xã hộicủa huyện Tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, bên cạnhnhững cơ hội thì Việt Nam nói chung, huyện Chương Mỹ nói riêng cũng phảiđối mặt với những thách thức nghiêm trọng, đặc biệt là sự tác động của nhữngbiến động trên thế giới như khủng hoảng, giá cả gia tăng, trong khi nội lựccòn hạn chế, yếu kém Điều này tác động đến sản xuất kinh doanh và đời sốngnhân dân Giá cả tăng, trong khi mức trợ cấp không tăng làm cho các đốitượng chính sách gặp khó khăn trong cuộc sống Tham gia vào thị trường khuvực và thế giới đặt ra yêu cầu về chất lượng sản phẩm phải ngày một tốt, giá

cả rẻ, mẫu mã đẹp có như vậy mới tăng được sức cạnh tranh của hàng hóa,dịch vụ Đây là một khó khăn thách thức lớn đối với các hộ chính sách vì các

hộ chính sách là những hộ thường có quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún,không có điều kiện để áp dụng các công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất,chất lượng sản phẩm

1.3 Kinh nghiệm bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách ở một số địa phương và bài học rút ra cho huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về công tác bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách

* Kinh nghiệm huyện Ứng Hòa

Là huyện năm ở phía Nam của Hà Nội, phía Bắc giáp huyện Chương

Mỹ và Thanh Oai, phía Nam giáp huyện Duy Tiên (Hà Nam) và Kim Bảng

Trang 36

(Hà Nam), phía Tây giáp huyện Mỹ Đức, phía Đông giáp huyện Phú Xuyên.Ứng Hoà là huyện đồng bằng nằm ở Đông Nam tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộcthành phố Hà Nội), có diện tích tự nhiên là 183.72km2 Dân số: khoảng179.900 người (năm 2009) Toàn huyện Ứng Hòa hiện có trên 8.600 đốitượng chính sách, người có công Huyện Ứng Hoà có 29 đơn vị hành chính: 1thị trấn và 28 xã Ứng Hoà là huyện đồng bằng nằm trong vùng thuộc nền vănminh lúa nước sông Hồng, có điều kiện khí hậu đất đai đa dạng, phù hợp vớikhả năng phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện, mang đặc trưngcủa nền sản xuất nông nghiệp truyền thống Những năm qua, huyện Ứng Hòa

đã thực hiện tốt chính sách ASXH cho các đối tượng nói chung, cho đốitượng chính sách nói riêng Từ nghiên cứu kết quả bảo đảm ASXH cho đốitượng chính sách của huyện Ứng Hòa có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác

đảm bảo ASXH cho đối tượng chính sách của huyện

Các cấp ủy Đảng huyện Ứng Hòa đã xác định việc bảo đảm ASXH trênđịa bàn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, trong đó trướchết là của các cấp bộ Đảng, chính quyền các cấp Vì vậy, các cấp bộ Đảng đãthường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác này Tăngcường công tác tuyên truyền, giáo dục để mọi tổ chức chính trị - xã hội và ngườidân nhận thức đúng đắn vị trí, ý nghĩa của công tác đam bảo ASXH cho các đốitượng chính sách, qua đó xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong thựchiện vấn đề này Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảođảm ASXH cho đối tượng chính sách trong phạm vi đảm nhiệm

Lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, ban ngành thực hiện tốt bảo đảm ASXHcho đối tượng chính sách, cụ thể:

Về chính sách lao động việc làm, đào tạo nghề: Hàng năm UBNDhuyện Ứng Hòa đã phối hợp với ban, ngành, đoàn thể, các cơ sở dạy nghề tổchức dạy nghề theo Quyết định 1956 được 50 lớp với trên 1.547 học viên, đạt

Trang 37

98,26% Qua 5 năm UBND huyện tổ chức được trên 250 lớp, với trên386.800 học viên, qua đào tạo 80% học viên được giới thiệu vào các doanhnghiệp làm việc với mức lương khá cao

Về chính sách cấp phát thẻ Bảo hiểm y tế: 100% đối tượng chính sáchđược thụ hưởng thẻ BHYT với trên 8.600 trường hợp người có công

Về giải quyết các chế độ chính sách: hàng năm giải quyết các chế độchính sách cho 3.294 đối tượng được hưởng thụ; công tác chi trả trợ cấpthường xuyên được thực hiện đúng, đủ, kịp thời, mỗi năm có trên 3.900 lượtđối tượng người có công được thụ hưởng chế độ chính sách, với số tiền trên

82 tỷ đồng

Về chính sách trợ trợ cấp học sinh sinh viên: Hàng năm huyện Ứng Hòa

đã hoàn thiện hồ sơ cho 375 lượt học sinh, sinh viên với kinh phí trên 2 tỷđồng, cấp sổ ưu đãi HSSV cho 12 trường hợp, chi phí học tập cho 742 lượtvới kinh phí 260 triệu đồng Trợ cấp trang cấp chỉnh hình cho 68 đối tượngngười có công; hỗ trợ xây, sửa nhà ở cho đối tượng chính sách trên 85 nhà;triển khai điều dưỡng người có công hàng năm với 581/600 đối tượng người cócông, bằng 96,83 % KH [31]

Hai là, huy động sức mạnh tổng hợp để tạo nguồn thu tạo quỹ cho việc

thực hiện bảo đảm ASXH cho các đối tượng chính sách

Ngoài các nguồn kinh phí từ Trung ương, Thành phố cấp, hàng nămhuyện Ứng Hòa còn huy động quỹ “ Đền ơn đáp nghĩa” với kính phí trên 500triệu đồng, đạt 128% kế hoạch đề ra Năm năm qua huyện đã huy động đượctrên 2,5 tỷ đồng cho quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; huy động các nguồn xã hội hóa

hỗ trợ, trợ giúp xã hội, tặng sổ tiết kiệm cho cho trên 2.000 đối tượng chínhsách với trên 10 tỷ đồng Đến nay huyện Ứng Hòa không còn đối tượng chínhsách là người nghèo, cận nghèo hoặc có hoàn cảnh khó khăn Huyện Ứng Hòa

đã hỗ trợ xây, sửa nhà ở cho các đối tượng chính sách qua 5 năm được trên

250 nhà, với số tiền gần 7 tỷ đồng Tặng sổ tiết kiệm cho 150 đối tượng chính

Trang 38

sách có hoàn cảnh khó khăn, mỗi sổ 5 triệu đồng nhằm giảm bớt khó khăntrong cuốc sống Hàng năm cứ đến dịp ngày lễ, tết, ngày quốc tế Người caotuổi huyện đều thành lập các đoàn đến động viên, thăm hỏi, kịp thời hỗ trợcác gia đình chính sách thuộc diện khó khăn vươn lên cuộc sống bằng nhiềuhình thức thiết thực

Ba là, phối kết hợp tốt các lực lượng; thực hiện lồng ghép các chương

trình mục tiêu quốc gia, chương trình quốc gia để tăng nguồn lực thực hiệncác chính sách ASXH

Qua 5 năm, huyện Ứng Hòa đã cho vay quỹ tín dụng ưu đãi với trên1.092 hộ nghèo thuộc diện đối tượng chính sách, hộ chính sách thuộc hộnghèo được hỗ trợ cho vay vốn sản xuất, kinh doanh, làm kinh tế với kinh phí24.632 triệu đồng; hỗ trợ 234 sinh viên vay vốn với kinh phí 2.321 triệu đồng;

hỗ trợ dạy nghề, giới thiệu việc làm đối với đối tượng chính sách thuộc hộnghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn [31]

Bên cạnh đó, bằng các chương trình khuyến nông, ngành nông nghiệptại các địa phương trên địa bàn Huyện đã và đang triển khai xây dựng các môhình tập trung ứng dụng khoa học kỹ thuật, giống mới vào sản xuất; qua đó,giúp người nông dân có thêm vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm, thị trường để pháttriển vùng chuyên canh, đồng thời, giúp nhiều địa phương tăng giá trị sản xuấtnông nghiệp

Những kết quả đạt được nêu trên đã góp phần quan trọng trong việc bảođảm chính sách an sinh xã hội, là bước tiến mới trong thực hiện công bằng xãhội, tác động tốt đến tình hình phát triển kinh tế, ổn định xã hội ở địa phương,củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

* Kinh nghiệm huyện Thanh Oai

Thanh Oai là huyện đồng bằng thuần nông, nằm ở cửa ngõ phía TâyNam thành phố Hà Nội, có diện tích gần 142km2, với khoảng 161.400 người.Huyện Thanh Oai, phía Bắc và phía Tây Bắc giáp quận Hà Đông; phía Tây

Trang 39

giáp huyện Chương Mỹ; phía Tây Nam giáp huyện Ứng Hòa; phía Đông Namgiáp huyện Phú Xuyên; phía Đông giáp huyện Thường Tín và phía Đông Bắcgiáp huyện Thanh Trì.Huyện Thanh Oai hiện có 21 đơn vị hành chính.

Huyện Thanh Oai hiện có 6.580 đối tượng chính sách người có công,việc bảo đảm an sinh xã hội cho đối tượng chính sách huyện Thanh Oai đãthực hiện tốt các vấn đề sau:

Một là, quan tâm hỗ trợ đối tượng chính sách tạo và tìm việc làm, phát

triển sản xuất

5 năm qua, huyện Thanh Oai đã thực hiện tốt công tác giải quyết việclàm cho người lao động, đào tạo nghề và tạo việc làm và việc làm mới chotrên 25.000 lao động, trong đó có hàng ngàn lao động thuộc diện chính sách.Giải quyết cho 672 lao động vay vốn từ quỹ Quốc gia giải quyết việc làm,vớitổng kinh phí 13.299.000.000 đồng; hỗ trợ 1.297 hộ chính sách nghèo vayvốn với tổng kinh phí 19.673.000.000 đồng; 699 hộ chính sách thuộc cậnnghèo vay vốn, với tổng kinh phí 13.980.000.000 đồng Hỗ trợ cho vay vốn đixuất khẩu lao động với mức vay là 30.000.000 đồng

Hai là: phối hợp tốt các lực lượng tạo nguồn lực thực hiện tốt bảo đảm

ASXH cho đối tượng chính sách

Trong 5 năm qua, huyện Thanh Oai đã kết hợp tốt nguồn tài chính trêncấp với huy động các nguồn lực trong huyện để thực hiện bảo đảm ASXH chocác đối tượng chính sách của huyện Hàng năm huyện đã vận động đóng gópcho quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” với số tiền trên 480 triệu đồng, đạt 136% kế hoạch.Trong 5 năm nguồn huy động quỹ “ Đền ơn đáp nghĩa” của huyện Thanh Oaiđạt trên 2 tỷ đồng, nhờ đó huyện Thanh Oai có nguồn lực cho việc thăm hỏi,tặng quà, hỗ trợ xây dựng nhà ở đối tượng chính sách, trợ giúp, cứu trợ xã hội.Hàng năm huyện luôn quan tâm trong công tác thăm hỏi tặng quà, động viên, tổchức họp mặt các đối tượng chính sách nhân dịp tết Nguyên đán; việc chi trả quàcủa Chủ tịch nước, quà của UBND thành phố cho các đối tượng chính sách; trợcấp hộ gia đình chính sách đặc biệt khó khăn trong dịp tết, thường xuyên kiểm

Trang 40

tra, rà soát có chính sách hỗ trợ kịp thời cho các đối tượng chính sách khi gặpkhó khăn để họ có cuộc sống đảm bảo hơn cuộc sống trung bình người dân

Huyện Thanh Oai đã hỗ trợ xây mới về nhà ở cho trên 285 nhà, với tổngkinh phí trên 8 tỷ đồng; xây dựng 58 nhà tình nghĩa đối với các thương bệnhbinh, người nhiễm chất độc hóa học, cựu thanh niên xung phong, phụ nữ với sốtiền trên 3 tỷ đồng bằng nguồn kinh phí huy động của; tặng trên 350 sổ tiết kiệmtình nghĩa đến đối tượng người có công [32]

Ba là, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thăm hỏi tặng quà cho các

gia đình có người thân đang công tác ở quần đảo Trường Sa; tổ chức tốt côngtác điều dưỡng; khám chữa bệnh cho đối tượng chính sách

Huyện Thanh Oai thường xuyên phối kết hợp với các bệnh viện từ TrungƯơng đến Huyện, Hội cựu Thanh niên xung phong tổ chức khám bệnh, tư vấnsức khoẻ, tặng quà và cấp thuốc miễn phí cho 1.084 đối tượng người có công,thanh niên xung phong với kinh phí trên 200 triệu đồng, cấp tiền một lần theo

QĐ 62 của Thủ tướng Chính phủ cho 1.450 người với số tiền 5.782.400.000đồng Hàng năm đều tổ chức cho các đối tượng chính sách đi nghỉ điều dưỡngvới số lượng 535 người có công, đạt 100% kế hoạch huyện đề ra, cấp tiền trangcấp dụng cụ chỉnh hình cho 104 thương bệnh binh với số tiền 109.472.000 đồng;

hỗ trợ cấp kinh phí 162 sổ trợ cấp ưu đãi học sinh, sinh [32]

Bốn là: kiện toàn và hiện đại hóa bộ máy quản lý, tăng cường công tác

thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách an sinh xã hội

Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn tổ chức bộ máy thực hiện bảođảm ASXH các cấp có đủ số lượng, đảm bảo chất lượng Tăng cường đào tạo,tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức công tác xã hộicho cán bộ lãnh đạo quản lý và trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội Quyhoạch sử dụng, bố trí, sắp xếp hợp lý đội ngũ cán bộ chuyên trách, chú trọngđến đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên ở cơ sở; tăng cường năng lực làmviệc và hiệu suất công tác thông qua ứng dụng công nghệ thông tin

Ngày đăng: 10/06/2017, 15:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Đặng Đức San (2002), “Về thuật ngữ an sinh xã hội”, Tạp chí khoa học Kinh tế - Luật, số 1/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thuật ngữ an sinh xã hội”, "Tạp chí khoa họcKinh tế - Luật
Tác giả: Đặng Đức San
Năm: 2002
13. Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến (1996), Góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần đổi mới và hoàn thiệnchính sách bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến
Nhà XB: Nxb Chính trị QuốcGia
Năm: 1996
14. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc Gia – Sự thật, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia – Sự thật
17. Mai Ngọc Anh (2009), ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thịtrường ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Anh
Năm: 2009
18. Mai Ngọc Anh (2009), ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thịtrường ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Anh
Năm: 2009
19. Mai Ngọc Anh (2006), “Nghiên cứu hệ thống CSXH nông thôn Cộng hòa Liên Bang Đức và kiến nghị đối với việc xây dựng hệ thống ASXH cho nông dân Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 10/ 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống CSXH nông thôn Cộng hòaLiên Bang Đức và kiến nghị đối với việc xây dựng hệ thống ASXH chonông dân Việt Nam”, "Tạp chí Kinh tế và phát triển
Tác giả: Mai Ngọc Anh
Năm: 2006
20. Mạc Tiến Anh (2004), Tạp chí Bảo hiểm xã hội, Số 1/2004 “Bàn thêm về thuật ngữ an sinh xã hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm vềthuật ngữ an sinh xã hội
Tác giả: Mạc Tiến Anh
Năm: 2004
21. Mai Ngọc Anh (2008), “Phát triển hệ thống ASXH đối với nông dân Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 364 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ thống ASXH đối với nông dân ViệtNam hiện nay”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Mai Ngọc Anh
Năm: 2008
23. Nhật Linh (2005), “Tổng quan về hệ thống an sinh xã hội Trung Quốc”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về hệ thống an sinh xã hội Trung Quốc”
Tác giả: Nhật Linh
Năm: 2005
24. Nhật Linh (2007), “Tổng quan về hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản”
Tác giả: Nhật Linh
Năm: 2007
27. Nguyễn Hữu Hải (2008), Đổi mới chính sách và cơ chế trợ giúp xã hội cho phù hợp với bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đề tài của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, tháng 4 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách và cơ chế trợ giúp xã hội chophù hợp với bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải
Năm: 2008
28. Ngô Huy Cương (2002), “An ninh xã hội-Một số vấn đề pháp lý”, Tạp chí Khoa học Kinh tế-Luật, số 1/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh xã hội-Một số vấn đề pháp lý”, "Tạp chíKhoa học Kinh tế-Luật
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2002
30. Hồ Chí Minh, Đường cách mệnh, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường cách mệnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
36. Ủy Ban nhân dân huyện Chương Mỹ (2011 - 2013), Báo cáo việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh năm 2011 - 2013; (năm 2011), kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo quốc phòng – an ninh 5 năm 2011 - 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo việc thựchiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – anninh năm 2011 - 2013; "(năm 2011)
38. Ủy Ban nhân dân huyện Ứng Hòa (2011 - 2013), Báo cáo việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh năm 2011 - 2013; (năm 2011), kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo quốc phòng – an ninh 5 năm 2011 - 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo việc thực hiệnkế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninhnăm 2011 - 2013; "(năm 2011)
39. Ủy Ban nhân dân huyện Thanh Oai (2011 - 2013), Báo cáo việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh năm 2011 - 2013; (năm 2011), kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo quốc phòng – an ninh 5 năm 2011 - 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo việc thực hiệnkế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninhnăm 2011 - 2013; "(năm 2011)
43. Ủy Ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2011 - 2013), Báo cáo việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh năm 2011 - 2013; (năm 2011), kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo quốc phòng – an ninh 5 năm 2011 - 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo việc thựchiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – anninh năm 2011 - 2013; "(năm 2011)
44. Viện khoa học lao động và xã hội thuộc Bộ lao động – Thương binh và Xã hội, Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở Việt Nam, Đề tài mang mã số KX 04.05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách bảođảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theođịnh hướng XHCN ở Việt Nam
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1992), Kỷ yếu hội thảo quốc gia về Bảo hiểm xã hội Khác
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2013), Báo cáo đánh giá chính sách an sinh xã hội và thực hiện chính sách an sinh xã hội giai đoạn 1991- 2013 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w