Nguồn nhân lực luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức, một ngành hay một địa phương. NYT tế có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho toàn bộ nhân lực quốc gia; đóng vai trò quyết định trực tiếp tới hiệu quả phòng, chống dịch bệnh và khám, chữa bệnh cho nhân dân, quyết định đến sự phát triển bền vững của NYT nói riêng và phát triển KTXH của đất nước nói chung.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ CỦA THÀNH
1.1 Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực ngành y tế 12
1.2 Quan niệm, nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
nguồn nhân lực ngành y tế của thành phố Hà Nội 20
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
2.1 Thành tựu và hạn chế về phát triển nguồn nhân lực ngành
2.2 Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra
từ thực trạng phát triển nguồn nhân lực y tế của thành phố
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ CỦA THÀNH PHỐ
3.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực
3.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành y tế của thành
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bạicủa một tổ chức, một ngành hay một địa phương NYT tế có nhiệm vụchăm sóc sức khoẻ cho toàn bộ nhân lực quốc gia; đóng vai trò quyết địnhtrực tiếp tới hiệu quả phòng, chống dịch bệnh và khám, chữa bệnh chonhân dân, quyết định đến sự phát triển bền vững của NYT nói riêng và pháttriển KT-XH của đất nước nói chung
Nhận thức đúng tầm quan trọng của NNL NYT, những năm qua, NYTthành phố Hà Nội luôn tìm cách để phát triển NNL do đó đội ngũ cán bộ y
tế được tăng cường; trình độ chuyên môn của NNL được nâng cao; chínhsách đãi ngộ, thu hút NNL bước đầu được quan tâm Tuy nhiên, do điềukiện KT-XH phát triển, mật độ dân số của thành phố tăng nhanh, nhu cầuchăm sóc sức khỏe của xã hội ngày càng tăng; trong khi đó, công tác pháttriển NNL NYT của thành phố lại đang bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập cả
về số lượng, chất lượng và cơ cấu, nhất là NNL có trình độ, tay nghề cao
và NNL quản lý giỏi Một số bệnh viện, trung tâm y tế và cơ quan quản lý
y tế các cấp của thành phố (gọi chung là đơn vị y tế) cũng đang trong tìnhtrạng khó tuyển chọn các nhà quản lý, điều hành có kinh nghiệm và trình
độ chuyên môn cao Đối với công tác quản lý vĩ mô NNL NYT của thànhphố chưa theo kịp với tình hình thực tiễn…Hơn nữa, sự chỉ đạo trực tiếpcủa Sở Y tế cũng còn có những bất cập, NNL NYT của thành phố còn cókhoảng cách giữa qui mô, chất lượng, cơ cấu ngành nghề đào tạo với nhucầu sử dụng lao động thực tế tại các đơn vị y tế
Trước thực trạng trên, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp khả thi đểphát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội nhằm đáp ứng sự nghiệp chămsóc sức khỏe nhân dân trong thời gian tới là vấn đề hết sức cần thiết Nhận
thức đúng tầm quan trọng đó, tác giả lựa chọn “Phát triển nguồn nhân lực
Trang 3ngành y tế của thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sĩ kinh tế, chuyên
ngành Kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; bướcđầu tác giả tiếp cận được một số công trình khoa học và khái quát thành hainhóm chính như sau:
Một là, nhóm các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực ngành y tế
- Đỗ Nguyên Phương (1997), Phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ Ngành Y tế theo nghị quyết Trung ương 2, Nxb Y học, H Cuốn
sách là tuyển tập các bài viết về khoa học, công nghệ chiến lược đào tạo, giáodục, nghiên cứu khoa học y tế và các vấn đề chiến lược y tế cụ thể của ViệtNam theo Nghị quyết Trung ương 2 đến năm 2010
- Nguyễn Xuân Hạnh (2005), Quản lý chỉ đạo văn hoá, giáo dục, y tế và chính sách xã hội: Sách dùng cho học viên, Nxb CTQG, H Cuốn sách trình
bày những kiến thức và kĩ năng điều hành, quản lý các hoạt động văn hoá, xãhội, y tế, giáo dục và chính sách xã hội ở cấp xã; những kiến thức pháp lý ápdụng cho từng hoạt động về quản lý văn hoá, giáo dục, y tế và chính sách xãhội ở cấp xã thông qua những bài tập thực hành
- Trần Thị Trung Chiến (2005), “Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ
Y tế trước những yêu cầu mới của sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân”,
Tạp chí Cộng sản, số 4/2005, tr.34 - 38 Tác giả đánh giá khái quát thực trạng
phát triển đội ngũ cán bộ Y tế ở nước ta; chỉ ra những yêu cầu mới của sựnghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp xâydựng và phát triển đội ngũ cán bộ Y tế trước những yêu cầu mới của sựnghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân
- Nguyễn Huy Quang (2008), “Xử lý kỷ luật đối với các bộ, viên chức y tế
biện pháp quan trọng của quản lý nhà nước về Y tế”, Tạp chí Quản lí Nhà nước, số 145/2008, tr.35 - 38 Theo tác giả, thời gian gần đây cán bộ, nhân viên
Trang 4y tế ở một số cơ sở y tế trong cả nước có những biểu hiện vi phạm kỷ luật,thậm chí phải xử lý kỷ luật hoặc xử lý theo pháp luật… làm ảnh hưởng đếnchất lượng khám chữa bệnh của nhân dân và uy tín của Ngành Trước thựctrạng đó, để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về y tế cần phải xử lýnghiêm đối với các bộ, viên chức y tế vi phạm Đây là biện pháp quan trọngcủa quản lý nhà nước về y tế.
- Nguyễn Quốc Triệu (2010), Đội ngũ trí thức bậc cao ngành Y tế Việt Nam hiện đại, Nxb Y học, H Cuốn sách giới thiệu tiểu sử, sự nghiệp của những
giáo sư, phó giáo sư, viện sĩ và tiến sĩ thuộc NYT cách mạng Việt Nam hiện đạicùng những đóng góp của họ cho sự nghiệp phát triển của NYT Việt Nam
- Trương Việt Dũng (2010), Phát triển nhân lực y tế ở tuyến tỉnh: Dùng cho cán bộ quản lý và đào tạo nhân lực y tế, Nxb Y học, H Cuốn sách trình
bày khái quát về phát triển nhân lực y tế và hướng dẫn xây dựng kế hoạch vàquản lý nhân lực, triển khai công tác đào tạo, đào tạo liên tục cán bộ y tế ởtuyến tỉnh
- Nguyễn Văn Cường (2011), Quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực
y tế công, Nxb Y học, H Cuốn sách trình bày những vấn đề lý luận về quản lý
nhà nước đối với NNL y tế Khảo sát thực trạng quản lý nhà nước và một số
đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với NNL y tếcông ở thành phố Hồ Chí Minh
- Nguyễn Xuân Lãng (2012), Kỷ niệm 55 năm thành lập Công đoàn Y tế Việt Nam: Tuyên dương lao động giỏi, lao động sáng tạo Ngành Y tế 2007 -
2012, Nxb Y học, H Cuốn sách giới thiệu quá trình xây dựng, trưởng thành
và những sự kiện quan trọng trong hoạt động của Công đoàn Y tế Việt Namtrong 55 năm qua và tuyên dương những lao động xuất sắc của NYT
- Nguyễn Minh San (2012), Mười thế kỷ Y tế Việt Nam, Nxb Dân trí, H.
Cuốn sách giới thiệu những thành tựu và sự trưởng thành của NYT Việt Namtrong mười thế kỷ thông qua những sự kiện, hoạt động được ghi lại qua nhiều
Trang 5giai đoạn lịch sử: những di huấn của các đại y tôn và lời dạy của Bác Hồ; sự chỉđạo của Đảng và Nhà nước; kinh nghiệm dân gian trong y học cổ truyền Tổchức và hoạt động y tế ở Việt Nam dưới thời phong kiến, thời Pháp thuộc, thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ và NYT nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Đồng thời giới thiệu toàn cảnh NYT 63 tỉnh thành, các cơ quan y tế, các đơn
vị chuyên NYT
- Nguyễn Thị Ái Liên (2013), “Một số biện pháp quản lí công tác giáo
dục y đức cho học sinh, sinh viên ở các cơ sở đào tạo y tế”, Tạp chí Giáo dục,
số 312, tháng 6/2013, tr.60 - 62 Theo tác giả, do đặc thù hoạt động củaNgành Y nên vấn đề giáo dục đạo đức, y đức cần phải được qua tâm đặc biệt;tác giả cũng chỉ rõ thực trạng y đức của một bộ phận cán bộ, nhân viên NYThiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý công tácgiáo dục y đức cho học sinh, sinh viên ở các cơ sở đào tạo y tế
- Nguyễn Thị Kim Tiến (2014), Bác Hồ với Ngành Y tế - Ngành Y tế với Bác Hồ, Nxb Y học, H Cuốn sách tập hợp các bài viết, bài phát biểu, hình ảnh
của Chủ tịch Hồ Chí Minh với NYT và các bài viết của các đồng chí lãnh đạoĐảng, Nhà nước, Bộ Y tế viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh; các bài viết, hình ảnhNYT thực hiện tư tưởng, quan điểm của Người; cùng những câu chuyện hồi ức,
kỷ niệm của cán bộ y tế với Người; đồng thời tôn vinh các thành tích của Ngành,các đơn vị và cá nhân trong phong trào "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
- Nguyễn Thị Kim Tiến (2015), Trang vàng Y tế Việt Nam: 60 năm thi đua làm theo lời Bác, Nxb Y học, H Cuốn sách giới thiệu những thành tựu
Trang 6công nghệ khoa học phát triển và tiêu biểu của NYT Việt Nam gắn với lịch sửViệt Nam qua thời gian và 60 năm thi đua làm theo lời dạy của Bác Hồ; cáctấm gương tập thể và cá nhân tiêu biểu của NYT nhằm tôn vinh các cá nhân
có nhiều danh hiệu, giải thưởng cao quý do Nhà nước, Chính phủ trao tặng
- Mỹ Châu (2015), Ngành Y tế Việt Nam - 60 năm phát triển và hội nhập: Vietnam health sector 60 years of development & integration, Nxb
thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Cuốn sách giới thiệu những bài viếtghi lại chặng đường 60 năm phát triển và hội nhập NYT Việt Nam
Gần đây, nhiều cơ quan, nhà trường đã tổ chức hội thảo khoa học bàn vềphát triển NNL NYT tế đã cho thấy việc phát triển NNL NYT được xã hộiđặc biệt quan tâm Cụ thể; năm 2012 các Trường Đại học Kỹ thuật Y tế HảiDương đã tổ chức Hội thảo “Đào tạo NNL điều dưỡng Việt Nam”; TrườngĐại học Y tế công cộng với Hội thảo “Khởi động và triển khai nghiên cứu
đánh giá thực trạng công tác đào tạo nhân lực y tế” Năm 2015, Ban Tuyên
giáo Trung ương với Hội thảo “Đổi mới đào tạo nguồn nhân lực Y tế Ngành
Y - Dược khu vực miền núi phía Bắc: Thực trạng và giải pháp” Tháng 01năm 2016, Bộ Y tế đã tổ chức Hội thảo “Đổi mới đào tạo nhân lực y tế ViệtNam” Tuy nhiên, vấn đề NNL NYT Hà Nội lại chưa được đề cập ở đây vàđặc biệt chưa luận giải, phân tích một cách hệ thống, logic và khoa học
Hai là, nhóm các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực Ngành Y tế
của thành phố Hà Nội
- Nguyễn Xuân Bình (2007), “Phát triển đội ngũ giảng viên, nâng cao
chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đến năm 2015”, Tạp chí Giáo dục, số 180/2007, tr.14 -16,13 Theo tác giả, trước yêu cầu đổi mới
hoạt động giáo dục đào tạo cũng như nhu cầu cấp bách về việc nâng cao chấtlượng đào tạo NNL NYT nói chung và NYT Hà Nội nói riêng; Trường Caođẳng Y tế Hà Nội phải đặc biệt quan tâm đến phát triển đội ngũ nhà giáo Xâydựng, kiện toàn và phát triển đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, cao về chất
Trang 7lượng và hợp lý về cơ cấu Từ những luận giải, phân tích, đánh giá trên, tácgiả đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên, nâng cao chất lượng đàotạo của Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đến năm 2015.
- Trần Vũ Hoàng Anh (2008), “Biện pháp quản lí hoạt động thực tập
bệnh viện của học sinh tại Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 33/2008, tr.56 - 58 Theo tác giả, hoạt động thực tập bệnh viện
của học sinh là một nội dung quan trọng trong bảo đảm chất lượng đào tạo tạiTrường Cao đẳng Y tế Hà Nội Đồng thời, tác giả đã đề xuất những biện phápquản lí hoạt động thực tập bệnh viện của học sinh tại Trường Cao đẳng Y tế
Hà Nội
- Lê Anh Tuấn (2011), Đánh giá kết quả hoạt động các chương trình y
tế 5 năm 2006 - 2010 và kế hoạch phát triển 5 năm giai đoạn 2011 - 2015, Hà
Nội, H Cuốn sách trình bày những vấn đề gồm kết quả hoạt động và kết quảđiều tra các chương trình y tế chăm sóc sức khoẻ người dân ở Hà Nội tronggiai đoạn 2006 - 2010 phòng chống các bệnh dịch, các bệnh xã hội, bảo vệ bà
mẹ trẻ em, y tế cơ sở Kế hoạch phát triển các chương trình y tế 5 năm giaiđoạn 2011 - 2015
- Lê Anh Tuấn (2011), Vượt qua khó khăn, xây dựng Ngành Y tế Thủ đô lớn mạnh, Sở Y tế Hà Nội, H Theo tác giả cần phải chú trọng nâng cao đạo đức
nghề nghiệp, khắc phục những biểu hiện tiêu cực tại các cơ sở y tế Đa dạng hóacác hình thức và nội dung tuyên truyền, đảm bảo thu hút mọi tổ chức, đông đảoquần chúng, nhân dân tự nguyện tham gia bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộngđồng; nâng cao chất lượng xã hội hóa công tác y tế
- Đào Thị Dung (2013), “Thực trạng nhân lực và hoạt động chuyên mônmạng lưới y tế công lập chuyên khoa răng hàm mặt thuộc Sở Y tế Hà Nội”,
Tạp chí Y học thực hành, số 6 (872)/2013, tr.74 - 77 Tác giả phân tích, đánh
giá thực trạng nhân lực và hoạt động chuyên môn mạng lưới y tế công lậpchuyên khoa răng hàm mặt thuộc Sở Y tế Hà Nội; chỉ ra những kết quả đạt
Trang 8được và hạn chế, bất cập hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biệnpháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn mạng lưới y tế cônglập chuyên khoa răng hàm mặt thuộc Sở Y tế Hà Nội.
Những công trình khoa học trên đây đã bàn đến nhiều vấn đề về pháttriển NNL NYT thành phố Hà Nội thông qua việc đánh giá kết quả hoạt độngcác chương trình y tế của Ngành; về phương hướng xây dựng NYT thành phố
Hà Nội thời gian tới Một số công trình bàn đến nâng cao chất lượng NNLNYT thông qua việc phát triển đội ngũ giảng viên để nâng cao chất lượng đàotạo; biện pháp quản lý hoạt động thực tập bệnh viện của học sinh tại TrườngCao đẳng Y tế Hà Nội; thực trạng nhân lực và hoạt động chuyên môn mạnglưới y tế công lập chuyên khoa răng hàm mặt thuộc Sở Y tế Hà Nội Tuynhiên, các công trình trên mới chỉ đề cập đến các góc độ, khía cạnh khác nhau
về NNL NYT của thành phố Hà Nội mà thiếu một công trình khoa học nghiêncứu và bàn đến NNL NYT của TP.HN một cách hệ thống, khoa học
Tổng quan các công trình nêu trên cho thấy, hiện chưa có công trình nàonghiên cứu độc lập về phát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội Vì thế, đềtài này được nghiên cứu trên góc độ kinh tế chính trị không trùng lặp với cáccông trình khoa học đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về phát triển NNLNYT của thành phố Hà Nội, đề xuất phương hướng và giải pháp phát triểnNNL NYT của thành phố Hà Nội thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lựcNYT của thành phố Hà Nội
- Đánh giá thực trạng phát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội, chỉ
rõ nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế và những mâu thuẫn đặt ra
Trang 9- Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển NNL NYT của thànhphố Hà Nội trong thời gian tới.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển nguồn nhân lực ngành y tế.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu sự phát triển NNL NYT của thành phố Hà
Nội dưới góc độ kinh tế chính trị Tập trung nghiên cứu phát triển đội ngũ cán
bộ quản lý; các bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên…tại các bệnh viện công lậpcủa thành phố, bệnh viện huyện, trạm y tế xã phường thị trấn của thành phố
Hà Nội Còn phát triển NNL NYT của Quân đội, Công an, cơ sở khám bệnh
do Trung ương quản lý và các bệnh viện tư nhân không thuộc phạm vi nghiêncứu của đề tài
- Về không gian: Thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: Nghiên cứu khảo sát từ năm 2008 đến nay
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về phát triển NNL, NNL NYT; Nghị quyết, Chỉ thị, Chương trìnhcủa Đảng bộ, UBND thành phố Hà Nội và Sở Y tế thành phố về phát triểnNNL và phát triển NNL NYT
-* Cơ sở thực tiễn
Luận văn dựa trên cơ sở thực tiễn phát triển NNL và phát triển NNLNYT ở nước ta và khảo sát thực tiễn phát triển NNL NYT thành phố Hà Nộinhững năm qua
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nền tảng là phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử; phương pháp trừu tượng hóa khoa học; phươngpháp kết hợp logic với lịch sử; phương pháp tiếp cận hệ thống, tổng hợp, sosánh và phương pháp chuyên gia để hoàn thành luận văn
Trang 106 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn được nghiên cứu thành công sẽ góp phần cung cấp thêm luận cứkhoa học cho việc hoạch định và thực thi các chính sách phát triển NNL NYTthành phố Hà Nội; kết quả của luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảophục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học về NNL nói chung và NNLNYT nói riêng
7 Kết cấu của đề tài
Gồm phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH Y TẾ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực ngành y tế
1.1.1 Nguồn nhân lực
Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” được sử dụng rộng rãi ở các nước có nềnkinh tế phát triển từ những năm 80 của thế kỷ XX với ý nghĩa là nguồn lựccon người, phản ánh sự đánh giá vai trò yếu tố con người trong quá trình pháttriển Sự xuất hiện của thuật ngữ “Nguồn nhân lực” thể hiện sự công nhận củaphương thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn lực con người Cho đếnnay, trên thế giới có những cách hiểu và quan niệm khác nhau về NNL Dođặc điểm, điều kiện lịch sử khác nhau, tâm lý, tập quán và phong tục khácnhau; hệ thống luật pháp khác nhau, quy định độ tuổi lao động khác nhau nênquan niệm của các nước về NNL cũng có sự khác nhau
Theo nhà kinh tế người Anh, William Petty cho rằng lao động là cha,đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất Trong truyền thống Việt Nam xác định
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” Nhà tương lai học người Mỹ AvillToffer trong cuốn sách “Power Shift - Thăng trầm quyền lực” đã nhấn mạnhđến vai trò của lao động tri thức, theo ông: Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyềnlực rồi sẽ mất; chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những khôngmất đi mà còn lớn lên Theo quan điểm các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác -Lênin, con người có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia.C.Mác cho rằng con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất "Sức laođộng hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất, tinh thần tồntại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vậndụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó" [42, tr.258] V.I.Lênin
Trang 12tiếp tục khẳng định: "Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại làcông nhân, là người lao động" [39, tr.430].
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về NNL với cácgóc độ, khía cạnh khác nhau, mức độ khác nhau nhưng đều chỉ ra được vai tròcủa NNL đối với sự phát triển KT-XH nói chung và đối với từng tổ chức kinh tế,chính trị, xã hội nói riêng Khi nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong việc tạotiền đề NNL cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, tiến sĩ Hà Quý Tìnhcho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ sức lao động của những người trong độtuổi lao động có khả năng huy động trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xãhội” [68, tr.6] Nghiên cứu về phát triển NNL phục vụ công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, tiến sĩ Nguyễn Thanh lại cho rằng, “Nguồn nhân lực, nguồn lựccon người là tổng thể các chỉ số phát triển con người mà con người có được nhờ
sự trợ giúp của cộng đồng xã hội và sự nỗ lực của bản thân, là tổng thể số lượngdân và chất lượng con người, là tổng thể sức mạnh thể lực, trí lực, kinh nghiệmsống, nhân cách, đạo đức, lí tưởng, chất lượng văn hoá, năng lực chuyên môn vàtính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huyđộng vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội” [57,tr.75]
Gần đây, có khá nhiều công trình khoa học tiếp tục nghiên cứu và bàn luậnđến vấn đề NNL và phát triển NNL dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau, cáclĩnh vực khác nhau Song, các công trình khoa học này đều có một điểm chung
là đề cập đến các đặc trưng cơ bản về đào tạo, phát triển NNL cả về số lượng,chất lượng và cơ cấu Luận giải và làm rõ được NNL là tổng hoà thể lực, trí lực
và tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia; là sự kếttinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch
sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhucầu hiện tại và tương lai của đất nước Các công trình khoa học cũng chỉ rõ việcđào tạo, bồi dưỡng và phát triển NNL là một tất yếu khách quan đối với xã hội,
Trang 13doanh nghiệp và đến từng người lao động Trong đó, đối với xã hội và với doanhnghiệp việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển sẽ đảm bảo cho NNL của xã hội vàdoanh nghiệp có thể thích ứng, theo sát được sự tiến hoá và phát triển của khoahọc kỹ thuật, công nghệ Quá trình này sẽ đảm bảo cho xã hội, doanh nghiệp cóđược một lực lượng lao động giỏi, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của xã hội,doanh nghiệp đặt ra, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi thế giới đang dầnchuyển sang nền kinh tế tri thức Mặt khác, việc đào tạo và phát triển NNL sẽtrực tiếp góp phần nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng lao động sáng tạo củangười lao động; giúp họ tự tin hơn, nhanh nhẹn hơn, ứng biến linh hoạt với sựthay đổi của môi trường làm việc đem lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất,kinh doanh Đồng thời, nâng cao nhận thức mọi mặt của người lao động, nhất là
sự hiểu biết về luật pháp Trên cơ sở đó, đẩy mạnh sự hợp tác và phát triển trongđoàn thể, cải thiện được thông tin giữa các nhóm và cá nhân trong xã hội; cảithiện mối quan hệ giữa cấp trên, cấp dưới; xoá bỏ được sự thiếu hiểu biết, sựtranh chấp, sự ngăn chặn sự căng thẳng, mâu thuẫn tạo ra bầu không khí đoànkết thân ái cùng phấn đấu phát triển làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, cácdoanh nghiệp có vị trí hấp dẫn hơn Tuy nhiên, khi nghiên cứu NNL cũng cầnxem xét đến nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai của mỗi tổ chức, mỗi địaphương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới
Với cách tiếp cận trên, tác giả quan niệm: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng, chất lượng và cơ cấu tại một thời điểm nhất định.
Ngày nay, nguồn lực con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”,một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy, việc phát triển nguồn lựccon người là vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển của cácnguồn lực Phát triển nguồn lực con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất
sự phồn vinh, thịnh vượng của các tổ chức, các ngành, lĩnh vực và nền kinh
Trang 14tế; đồng thời đặt ra yêu cầu bức thiết cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu.
1.1.2 Nguồn nhân lực ngành y tế
* Ngành Y tế
Y tế hay chăm sóc sức khỏe, là việc chuẩn đoán, điều trị và phòng ngừabệnh, bệnh tật, thương tích và suy yếu về thể chất, tinh thần khác ở người.Chăm sóc sức khỏe được thực hiện bởi những người hành nghề y như chỉnhhình, nha khoa, điều dưỡng, dược, y tế liên quan, và các nhà cung cấp dịch vụchăm sóc Y tế đề cập đến những việc cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu,chăm sóc thứ cấp và chăm sóc thứ 3, cũng như trong y tế công cộng Hệ thốngchăm sóc y tế là các tổ chức được thành lập để đáp ứng nhu cầu sức khỏe củadân cư Thể thức chính xác của chúng thay đổi khác nhau giữa các nước Ởmột số quốc gia và vùng lãnh thổ, kế hoạch chăm sóc sức khỏe được phânphối giữa các đối tác trên thị trường, trong khi ở một số nước kế hoạch nàyđược thực hiện tập trung vào các chính phủ hoặc các cơ quan phối hợp khác.Trong mọi trường hợp, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hệ thống chămsóc sức khỏe tốt đòi hỏi một cơ chế tài chính mạnh mẽ, đội ngũ cán bộ đượcđào tạo và trả lương tốt; thông tin đáng tin cậy làm cơ sở để ra quyết định vàlập chính sách; cơ sở vật chất và hậu cần duy trì tốt để cung cấp thuốc vàcông nghệ có chất lượng Chăm sóc sức khỏe có thể tạo thành một phần trongnền kinh tế quốc gia Năm 2008, NYT sử dụng trung bình 9% (GDP) trongcác quốc gia phát triển nhất; cụ thể, Mỹ (16.0%), Pháp (11.2%), và Thụy Sĩ(10.7%); đây là 3 nước dẫn đầu về tỷ lệ GDP cho NYT Chăm sóc sức khỏethông thường được coi là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc nângcao sức khỏe và hạnh phúc của mọi người trên khắp thế giới Đơn cử như xóabệnh đậu mùa trên toàn thế giới vào năm 1980 - WHO tuyên bố rằng cănbệnh đầu tiên trong lịch sử nhân loại được loại bỏ hoàn toàn bởi sự can thiệpchăm sóc sức khỏe
Với Việt Nam, một nước đã phải trải qua các cuộc chiến tranh giải
Trang 15phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, kinh tếgặp nhiều khó khăn; theo đó, NYT cũng gặp không ít khó khăn, cơ sở vật chấtthiếu thốn, NNL còn nhiều hạn chế và bất cập NYT Việt Nam chưa có bề dàylịch sử về phát triển y khoa như nhiều nước trong khu vực; nhưng hơn 60 nămqua, NYT Việt Nam nói chung và đội ngũ các thầy thuốc Việt Nam đã tạo nênnhững bước tiến khoa học để làm nên thành tựu chung của nền y học nước nhà.Đặc biệt năm 2015, NYT Việt Nam đã chứng kiến một bước “chuyển mình”vượt bậc với nhiều thành tựu trước nay chưa từng có như ca ghép tạng xuyênViệt thành công, vắc xin Việt Nam lần đầu tiên đạt chuẩn quốc tế để xuất khẩuhay hiện thực hóa mục tiêu chăm sóc sức khỏe bằng cách ký các cam kết thayđổi thay đổi thái độ phục vụ làm hài lòng người bệnh…
* Nguồn nhân lực ngành y tế
Nguồn nhân lực NYT là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống y
tế nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế, hiệu quả của công tác chăm sóc bảo
vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân Được sự quan tâm của Đảng và Nhànước, sự nỗ lực cố gắng của Bộ Y tế cùng với sự vào cuộc của các bộ ngành,
cơ quan liên quan, các cơ sở đào tạo và toàn thể nhân dân nên NNL NYT đã có
sự phát triển nhanh từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.Bên cạnh đó, việc Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và trởthành thành viên chính thức của nhiều tổ chức quốc tế như APEC, AFTA,ASEM, WTO…Trong tiến trình hội nhập này, Việt Nam đã ký thỏa thuậnkhung về công nhận lẫn nhau về dịch vụ ngành Y
Theo đó, NNL NYT nước ta phải thực hiện tốt nguyên tắc công bố côngkhai chuẩn NNL của Ngành Vì lẽ đó, đào tạo NNL NYT là một khâu quantrọng trong việc nâng cao chất lượng sự nghiệp chăm sóc và nâng cao sức khỏenhân dân, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của quá trình phát triển và hội nhập.Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 23 tháng 02 năm 2005 đãkhẳng định: “Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội
Trang 16Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trựctiếp bảo đảm NNL cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trongnhững chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnhvực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ” [04, tr.2].Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhiều chính sách quan trọng và được luậtpháp hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển NYT nói chung vàNNL NYT nói riêng Tại khoản 2, Điều 4 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm
2009 quy định chính sách của Nhà nước về khám, chữa bệnh: Tăng cường pháttriển NNL y tế, đặc biệt là NNL y tế ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khókhăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Thực hiện chế độluân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
từ tuyến trên xuống tuyến dưới, từ vùng có điều kiện kinh tế - xã hội không khókhăn đến vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Do vậy, chúng ta cần phải nhận thức đúng về nghề y là một nghề đặc
biệt, theo đó NNL NYT phải đáp ứng được yêu cầu đặc biệt đó Mục tiêu là
giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cảithiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chấtlượng NNL, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ trung ươngđến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong thời gian qua, NNL NYT đã thực hiện có hiệu quả kế hoạch bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân NNL NYT liên tục phát triển về
số lượng và không còn tình trạng thiếu trầm trọng, ngoại trừ đối với chuyênkhoa tâm thần Tỷ lệ bác sỹ trên một vạn dân tăng đều qua các năm và đạtmức 7,5 vào năm 2013 Để giải quyết tình trạng thiếu NNL y tế, Bộ Y tế đãtriển khai nhiều giải pháp Trong đó, Đề án 1816, được triển khai từ năm
2008 đã cử các chuyên gia có kinh nghiệm từ các cơ sở y tế tuyến trên hỗ trợ
Trang 17và chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới Ngay trong năm đầu thực hiện đề án
đã có 1037 lượt cán bộ thuộc 19 chuyên khoa đi hỗ trợ tuyến dưới trong thờigian từ 1 tuần đến 3 tháng Đề án đã có tác động tích cực theo hướng nângcao năng lực của tuyến dưới và giảm tải cho tuyến trên; ước tính số bệnh nhânchuyển về tuyến trên giảm khoảng 30% Dự án thí điểm đưa bác sỹ trẻ tìnhnguyện về công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng
có điều kiện KT-XH khó khăn (ưu tiên 62 huyện nghèo) được Bộ trưởng Bộ
Y tế phê duyệt và bắt đầu triển khai từ năm 2014 Bên cạnh đó, quá trình nàycũng bộc lộ một số khó khăn thách thức, đòi hỏi cần có những giải pháp hợp
lý để thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển NNL NYT đủ
về số lượng, nâng cao chất lượng, cơ cấu hợp lý và hướng tới hội nhập quốc
tế, đáp ứng yêu cầu về chất lượng bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏenhân dân
Hiện nay, KT-XH cũng đang tác động lớn đến sự thay đổi về mô hìnhbệnh tật; nhất là sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh không lây nhiễm nhưtim mạch, tiểu đường, huyết áp… Ngoài gánh nặng bệnh tật, các bệnh khônglây nhiễm còn gây gánh nặng rất lớn về kinh tế thông qua các chi phí trực tiếp
và gián tiếp ảnh hưởng đến bản thân người bệnh gia đình và phát triển
KT-XH Do đó, việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm, điều trị kịp thờicác bệnh không lây nhiễm sẽ giúp giảm thiểu các khoản chi phí trực tiếp, giántiếp rất lớn cho điều trị, chăm sóc các bệnh không lây nhiễm Mặt khác, việcgiảm tỷ lệ mắc bệnh, tàn phế cũng góp phần tăng năng suất lao động và tổngsản phẩm xã hội, giảm thiểu gánh nặng bệnh tật
Trong khi nhu cầu của người bệnh và xã hội ngày càng phát triển,NYT vẫn chưa theo kịp sự phát triển này của xã hội, đặc biệt là việc nângcao chất lượng của dịch vụ y tế Để cải thiện tình hình đó, Bộ Y tế và cácbệnh viện công lập đã có một số báo động về tình trạng yếu kém về chấtlượng dịch vụ y tế tại các cơ sở công lập Tuy nhiên để cải thiện tình trạng
Trang 18này cần phải có sự đầu tư rất lớn về con người và cơ sở vật chất trong khingân sách y tế lại thiếu, thu nhập cán bộ y tế còn thấp và nhiều vấn đề liênquan khác
Nhận thức đúng tầm quan trọng về vai trò của NNL NYT, thủ tướngChính phủ đã có Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2006
về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạnđến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Trong đó, chỉ rõ phải phát triển NNLNYT cân đối và hợp lý, phấn đấu bảo đảm đạt được các chỉ tiêu cơ bản đã đề
ra Phát triển NNL NYT có trình độ cao, cán bộ y tế trên đại học để cung cấpcho các cơ sở y tế Bổ sung biên chế dược tá cho trạm y tế xã bảo đảm NNLphục vụ công tác cung ứng thuốc tại tuyến xã Ban hành quy hoạch mạng lướicác cơ sở đào tạo cán bộ y tế, xây dựng tiêu chuẩn định mức và cơ cấu NNL y
tế hợp lý để kiện toàn đội ngũ cán bộ y tế nhằm không ngừng nâng cao chấtlượng và hiệu quả các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân Xây dựng 2trung tâm đào tạo cán bộ y tế tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ngang tầmcác nước tiên tiến trong khu vực Xây dựng cơ chế hoạt động phù hợp để cáctrung tâm này có khả năng liên kết đào tạo với một số trường đại học của nướcngoài trong lĩnh vực chuyên môn và quản lý y tế Xây dựng kế hoạch nâng cấpmột cách có chọn lọc một số trường trung học y, dược của các tỉnh, thành phốthành trường cao đẳng y, dược
Bảo đảm NNL NYT đủ về số lượng, chất lượng nâng cao và cơ cấu hợp
lý cho các cơ quan, đơn vị y tế của thành phố Hà Nội sẽ tạo bước phát triểnmới của NYT Thủ đô phù hợp với quy hoạch phát triển toàn ngành và có điềukiện thuận lợi thực hiện việc luân chuyển cán bộ; khuyến khích thầy thuốc vềcông tác ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn
Từ cách tiếp cận, phân tích và luận giải trên, tác giả đưa ra quan niệm
Nguồn nhân lực ngành y tế là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, được thể hiện ở
Trang 19số lượng, chất lượng và cơ cấu trong từng giai đoạn nhất định.
1.2 Quan niệm, nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực ngành y tế của thành phố Hà Nội
1.2.1 Quan niệm phát triển nguồn nhân lực ngành y tế của thành phố Hà Nội
Trong thời kỳ đổi mới, NYT của Hà Nội đã có sự phát triển nhất định,được tăng cường cả về cơ sở vật chất khám chữa bệnh, chất lượng đội ngũcán bộ với các hình thức dịch vụ ngày càng đa dạng; công tác KBCB vàphòng chống bệnh tật ngày một nâng cao về chất lượng Cùng với hệ thốngbệnh viện Trung ương, Bộ, Ngành, các cơ sở y tế của thành phố ngày càngđáp ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân Hà Nội
và cả nước Hầu hết các chỉ tiêu về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dânđều đạt như: tuổi thọ trung bình, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, xãđạt chuẩn quốc gia về y tế Cơ sở vật chất kỹ thuật NYT Thủ đô được đầu tưnâng cấp rõ rệt Nhiều máy móc thiết bị hiện đại được mua sắm và trang bịcho các bệnh viện tuyến thành phố, nhiều bệnh viện chuyên khoa được đầu tưtrang thiết bị hiện đại Thu hút NNL chất lượng cao từ các cơ sở Trung ươngtrên địa bàn; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào khám, chữabệnh góp phần nâng cao chất lượng công tác, năng lực chẩn đoán điều trịbệnh cho nhân dân
Để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, thành phố đã rấtquan tâm đến phát triển mạng lưới y tế cơ sở, góp phần giảm tải cho công táckhám chữa bệnh của các bệnh viện tuyến trên Từ năm 2002, thành phố HàNội đã đầu tư xây mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng theo đúng chuẩn thiết kế của
Bộ Y tế cho 202 TYT xã Ngoài ra, nhiều quận, huyện đã rất quan tâm đến hệthống y tế, nhất là các TYT như quận Long Biên, quận Tây Hồ, quận CầuGiấy Đồng thời, thành phố cũng đặc biệt chú ý và quan tâm đến phát triểnNNL Y tế Thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện
Trang 20giáo dục và đào tạo, Sở Y tế thành phố chủ trương đổi mới căn bản, toàn diệnđào tạo phát triển NNL NYT theo hướng tiếp cận phương thức đào tạo của cácnước tiên tiến trên thế giới Trước mắt, đào tạo NNL NYT đi sâu vào đổi mớimột số chương trình đào tạo chủ chốt theo hướng dựa trên năng lực đáp ứngvới mô hình bệnh tật và hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, gắn đào tạo với sửdụng NNL Triển khai nghiên cứu và đề xuất mô hình đào tạo ngành y, dượctheo hướng đảm bảo tính khoa học, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu nângcao chất lượng đào tạo NNL y tế
Tuy nhiên, đổi mới đào tạo NNL y tế là một quá trình lâu dài, cần sự chỉđạo thống nhất của cơ quan quản lý cũng như sự tham gia tích cực của cả hệthống đào tạo nhân lực y tế hướng tới mục tiêu là nâng cao chất lượng đào tạođáp ứng yêu cầu thực tiễn chăm sóc sức khỏe nhân dân và hội nhập quốc tế.UBND thành phố đã chỉ đạo Sở Y tế thành phố triển khai thực hiện đồng bộnhiều giải pháp Trong đó, tập trung phối hợp hiệu quả với các đơn vị đào tạotrên địa bàn thành phố, xây dựng chính sách phù hợp, triển khai các đề ánphát triển NNL y tế cho thủ đô Phát triển NNL y tế cân đối và hợp lý Bảođảm đạt được các chỉ tiêu cơ bản: nâng tỷ lệ bác sỹ lên 12,5/10.000dân, Dược
sỹ đại học 2/10.000 dân Đến năm 2020 lên tỷ lệ bác sỹ 13,5/10.000 dân; sốDược sỹ đại học đạt 2,5/10.000 dân; nhân viên điều dưỡng từ 3 - 4 nhân viên/bác sỹ Phát triển NNL y tế trình độ cao, cán bộ y tế trên đại học để cung cấpcho các cơ sở y tế Bổ sung biên chế dược tá cho TYT xã bảo đảm NNL phục
vụ công tác cung ứng thuốc tại tuyến xã Sắp xếp, mở rộng và nâng cấp các
cơ sở đào tạo, đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng cán bộ y tế phù hợpvới quy hoạch phát triển NYT Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phát triểnđội ngũ giảng viên, giáo viên; xây dựng các tiêu chí kiểm định chất lượng đàotạo, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, giáo viên tại các trường y dược của thànhphố nhằm đáp ứng số lượng và chất lượng cán bộ y, dược, điều dưỡng và nữ
hộ sinh Xây dựng kế hoạch nâng cấp trường Cao đẳng y, dược Hà Nội, Hà
Trang 21Đông thành Trường Đại học Y Dược Hà Nội và Trường Đại học Y Dược HàĐông Xây dựng đề án đào tạo cán bộ y tế có trình độ chuyên môn và kỹ thuậtcao cho các tuyến dịch vụ y tế của thành phố Tiếp tục thực hiện và bổ sungcác chính sách ưu đãi đối với cán bộ, nhân viên y tế, đặc biệt là cán bộ y tếtuyến cơ sở.
Phát triển NNL NYT thủ đô còn tác động và đem lại hiệu quả kinh tế
và hiệu quả xã hội Trong đó, về hiệu quả xã hội, việc nâng cao năng lực,phẩm chất đạo đức của cán bộ, nhân viên y tế thủ đô sẽ góp phần đáp ứngnhiều hơn nữa nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, bảo đảm
an sinh xã hội, tạo ra tâm lý an tâm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng vàNhà nước, đời sống chính trị ổn định Nâng cao sức khỏe nhân dân, giảm tỷ
lệ bệnh tật, cải thiện chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi cho nhândân được tiếp cận khám chữa bệnh với chất lượng cao Về hiệu quả kinh tế,nâng cao chất lượng NNL y tế thủ đô sẽ trực tiếp góp phần làm giảm chi phí,thời gian, công sức của người dân trong việc KBCB Phòng chống có hiệuquả các dịch bệnh, thực hiện tốt các chương trình y tế góp phần làm giảm tỷ
lệ bệnh tật chi phí thực tế cho công tác chăm sóc sức khỏe vì trên thực tế chiphí cho phòng bệnh thấp hơn nhiều chi phí cho chữa bệnh Khi sức khỏe củangười dân được cải thiện, thời gian và năng suất lao động tăng lên góp phầnphát triển kinh tế gia đình và xã hội
Mặc dù vậy, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh đã làm gia tăng dân số trênđịa bàn đã làm cho hệ thống các bệnh viện trong nội thành Hà Nội đã quá tải ởmức báo động và trở thành một vấn đề hiện rất bức xúc Trong khi đó, NNLNYT của Hà Nội còn thiếu cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu bất hợp lý, mấtcân đối theo ngành đào tạo và theo tuyến; công tác đào tạo và chính sách sửdụng cán bộ y tế chưa hợp lý; chưa có chế độ đãi ngộ xứng đáng cho cán bộ y tế.Chương trình đào tạo liên quan đến y khoa, điều dưỡng, y tế công cộng vẫn cònnhiều hạn chế; chú trọng nhiều đến chuyên môn hẹp, khu vực bệnh viện mà bỏ
Trang 22qua việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, chưa đáp ứng được nhu cầu của cá nhân vàcộng đồng v.v… Dự báo nhu cầu NNL y tế đến năm 2020 cho các cơ sở y tế tiếptục tăng; bên cạnh đó, NYT Hà Nội tiến hành nâng cấp và xây mới cơ sở 2 củaTrường Cao đẳng Y tế Hà Nội và Hà Đông thành Trường Đại học về các lĩnhvực Y, Dược, Y tế công cộng; xây dựng mới 5 - 6 trường cao đẳng, trung cấp,đào tạo kỹ thuật về y tế tại các tổ hợp theo quy hoạch Do đó, nhu cầu NNLNYT Hà Nội càng trở nên bức thiết
Kế thừa kết quả nghiên cứu ở trên, tác giả quan niệm: Phát triển nguồn nhân lực ngành y tế của thành phố Hà Nội là hoạt động của các chủ thể làm tăng số lượng, nâng cao chất lượng và hợp lý về cơ cấu nguồn nhân lực ngành y tế Thủ đô để thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội
Nội hàm quan niệm thể hiện ở những vấn đề sau:
Một là, phát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội là hoạt động tích cực
chủ động của Thành uỷ, HĐND, UBND, các cơ quan hữu quan và nhân dân,trực tiếp là Sở Y tế thành phố, các trường đào tạo ngành y và đội ngũ cán bộ,
nhân viên ngành y của thành phố Hà Nội Hai là, phát triển NNL NYT của
thành phố được thể hiện ở tăng về số lượng, chất lượng và hợp lý về cơ cấuNNL hoạt động trong cơ quan quản lý y tế các cấp, trong các bệnh viện, cáctrung tâm y tế, các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu của NYT thành phố Hà Nội
Ba là, phát triển NNL này do Sở Y tế thành phố quản lý, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành uỷ, chính quyền Thành phố Bốn là, phát triển NNL NYT để
thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn thànhphố Hà Nội
1.2.2 Nội dung phát triển nguồn nhân lực ngành y tế củaTP.HN
Từ cách tiếp cận trên cùng những phân tích và luận giải trên, theo tácgiả để phát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội đáp ứng được nhu cầubảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn thành
Trang 23phố cần phải quan tâm đến cả số lượng, chất lượng và cơ cấu Do vậy, tácgiả xác định nội dung phát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội baogồm phát triển về số lượng, chất lượng và hợp lý về cơ cấu.
* Một là, phát triển về số lượng nguồn nhân lực ngành y tế của thành phố Hà Nội
Số lượng NNL NYT của thành phố Hà Nội được biểu hiện ở quy môtổng số nhân lực và số lượng các loại hình nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầuphát triển của Ngành Thực tế cho thấy, việc phát triển NNL về mặt số lượng
có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ củaNYT Vì không thể nói NNL phục vụ có chất lượng khi mà NNL thiếu về sốlượng; tình trạng thiếu về số lượng sẽ dẫn đến cường độ lao động của cán
bộ, nhân viên y tế tăng cao, áp lực công việc lớn, dễ dẫn đến sai sót và sự cốđáng tiếc có thể xảy ra; theo đó mà chất lượng và hiệu quả KBCB, chăm sócsức khỏe cho nhân dân sẽ không cao
Để phát triển về số lượng NNL NYT của thành phố Hà Nội, các cơquan chức năng chuyên môn cần phải căn cứ vào hệ thống các văn bản phápluật, thông tư, nghị định, các văn bản dưới luật, quy định của ngành và cácđơn vị để xác định đúng nhu cầu số lượng NNL NYT Trong đó, tập trungvào một số văn bản chính như Luật Viên chức; Nghị định số 29/2012/NĐ-
CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viênchức; Quyết định số 103/2009/QĐ-UBND ngày 24 tháng 9 năm 2009 vềviệc ban hành Quy định về tổ chức bộ máy, biên chế, tiền lương, tiền công,cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hợp đồng trong các cơ quanđơn vị thuộc thành phố Hà Nội; Quyết định số 11/2012/QĐ-UBND ngày 22tháng 5 năm 2012 của UBND thành phố Hà Nội về việc sửa đổi, bổ sung,điều chỉnh một số điều của Quyết định số 103/2009/QD-UBND; căn cứ vàothông báo của Sở Nội vụ thành phố Hà Nội về chỉ tiêu biên chế hành chính,
sự nghiệp các năm Trên cơ sở đó, số lượng NNL NYT của thành phố HàNội được đánh giá, xác định cụ thể như nhu cầu NNL NYT theo biên chế;
Trang 24tổng số NNL hiện có của ngành; tổng số NNL còn thiếu so với biên chế
* Hai là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành y tế của thành phố Hà Nội
Chất lượng NNL là một trong những nội dung quan trọng bảo đảm choNYT của thành phố Hà Nội hoàn thành tốt nhiệm vụ trung tâm; đặc biệt trongđiều kiện nền kinh tế phát triển nhanh, tính chất và mức độ bệnh tật ngày càngphức tạp, nhu cầu KBCB của nhân dân cao đã và đang đòi hỏi yêu cầu cao vềchất lượng của đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế Hà Nội Vì lẽ đó, phát triển chấtlượng NNL là một nội dung, là tiêu chí quan trọng được Sở Y tế và UBNDthành phố Hà Nội quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Theo đó, nâng cao chất lượngNNL NYT của thành phố Hà Nội được đánh giá ở một số nội dung sau:
Về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ củaNNL đã đạt được; tỷ lệ của từng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong tổng sốNNL hiện có; tỷ lệ đào tạo, bồi dưỡng theo từng cấp học hàng năm
Về kỹ năng của NNL NYT của TP.HN: Khả năng đảm nhận, khả nănghoàn thành nhiệm vụ; khả năng vận dụng kiến thức vào các thao tác của côngviệc; khả năng xử lý tình huống, khả năng truyền đạt, thu hút sự chú ý, khảnăng ứng xử trong giao tiếp nội bộ và giao tiếp với nhân dân, với người bệnh
Về nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức của NNL NYT của thành phố
Hà Nội như: Ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tự giác và hợp tác; trách nhiệm
và niềm say mê nghề nghiệp, năng động trong công việc; mức độ hài lòng củangười bệnh, của người được cung cấp dịch vụ y tế và đạo đức nghề nghiệp.Đặc biệt là “vấn đề y đức” Đạo đức nghề nghiệp được thể hiện ở tình thươngyêu con người sâu sắc, đồng cảm và thấu hiểu với nỗi đau của đồng loại nhưnỗi đau về bệnh tật, nỗi khổ về vật chất thiếu thốn, nghèo khó của nhân dâncũng như tinh thần, nỗi đau khi phải mất mát người thân Trên cơ sở đó, độingũ bác sỹ và nhân viên y tế hết sức, hết lòng tận tình cứu chữa, giành giật sựsống cho người bệnh Trước thực tế “vấn đề y đức”, Bộ Y tế đã ban hành
Trang 25nhiều văn bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế Cụthể: Quyết định số 2088/BYT- QĐ ngày 06 tháng 11 năm 1996 của Bộ trưởng
Bộ Y tế về việc ban hành “Quy định về Y đức”; Quyết định số BYT ngày 18 tháng 8 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quytắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp Y tế; Chỉ thị số03/CT-BYT ngày 01 tháng 4 năm 2013 về việc tăng cường các giải pháp thựchiện tốt quy tắc ứng xử, nâng cao đạo đức nghề nghiệp, học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Thông
29/2008/QĐ-tư số 07/2014/TT-BYT ngày 25 tháng 02 năm 2014 Quy định về quy tắc ứng
xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế Các văn bản trên đã quy định nhiều nội dung quan trọng về “vấn đề yđức” Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn, tác giả không thể luận giải,phân tích được hết mà khái quát vấn đề chung nhất là: Y đức là phẩm chất tốtđẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao,tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, coi họ đau đơnnhư mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Lương y phải như
từ mẫu" Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khăn, học tập vươn lên đểhoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam Y đứcđược thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừanhận và cán bộ, nhân viên NYT phải nghiêm túc thực hiện
* Ba là: Bảo đảm cơ cấu hợp lý nguồn nhân lực ngành y tế của thành phố Hà Nội
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, nhất là hoạt động đặc thùcủa Ngành Y mà nhất là đặc thù NYT của thành phố Hà Nội thì cơ cấu NNLphải được quan tâm hàng đầu Bởi vì Thủ đô Hà Nội, nơi tập trung nhiềubệnh viện lớn của Trung ương và các bộ ngành; quy mô, tính chất, mức độ,phạm vi và cơ cấu bệnh tật rất phức tạp Trong xu thế hội nhập, Hà Nội cómột số lượng lớn người nước ngoài đến, lưu trú và đi nên nguồn lây nhiễm
Trang 26đối với một số bệnh truyền nhiễm có nguy cơ cao, đa dạng, khó kiểm soát ;
số lượng các bệnh viện tư nhân gia tăng đã dẫn đến tình trạng một bộ phậnbác sỹ, nhân viên, nhất là những người có tay nghề cao chuyển sang, gây nêntình trạnh thiếu hụt cục bộ ở một số bệnh viện, một số tuyến Trong khi đó,thời gian đào tạo được một bác sỹ, nhân viên y tế giỏi phải mất rất nhiều nămnên sẽ khó khắc phục trong một thời gian ngắn Do đó, cơ cấu NNL NYT củathành phố Hà Nội phải bảo đảm hợp lý cả về trình độ đào tạo, lứa tuổi, giớitính và giữa các tuyến Sử dụng hợp lý những bác sỹ, nhân viên y tế giỏi,chuyên môn sâu, người có thâm niên công tác, nhiều năm kinh nghiệm kếthợp với NNL trẻ, đan xen giữa các thế hệ để vừa bồi dưỡng, đào tạo vừa xâydựng nguồn kế tiếp cận, kế tiếp, khắc phục tình trạng hẫng hụt về nguồn Đểxác định cơ cấu NNL cần phải căn cứ vào các loại nhiệm vụ và qui mô từngloại nhiệm vụ của Ngành; mức độ hoàn thành công việc; các điều kiện về vậtchất để hỗ trợ làm việc Đánh giá cơ cấu NNL theo ngành nghề chuyên môn;theo trình độ đào tạo, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; theo độ tuổi, giới tính
và theo tuyến, vùng nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả NNL NYT trongviệc KBCB và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực ngành y tế của thành phố Hà Nội
Phát triển NNL NYT chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế, xã hội vànhiều nhân tố tác động khác Song, bước đầu tác giả khái quát một số nhân tốảnh hưởng đến NNL NYT của thành phố Hà Nội như sau:
Một là, địa hình, thời tiết và khí hậu ảnh hưởng đến phát triển NNL NYT
thành phố Hà Nội
Địa hình là một trong những tác động ảnh hưởng đến phát triển NNLNYT được biểu hiện ở việc bảo đảm chăm sóc sức khỏe, KBCB cho nhândân Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, diện tích Hà Nội được mở
Trang 27rộng, địa hình Hà Nội cũng có sự thay đổi Trong đó, một số huyện có địahình phức tạp, đồi núi và xa trung tâm như Ba Vì, Mỹ Đức nên việc thuhút, kiện toàn và phát triển nhân lực y tế cho các địa bàn này gặp nhiềukhó khăn Kết cấu hạ tầng KT-XH thấp, chưa đồng bộ và tồn tại nhiều bấtcập tác động đến việc chăm sóc sức khỏe và KBCB cho nhân dân nóichung và đến NNL y tế nói riêng Theo đó, số lượng, chất lượng và cơ cấuNNL, nhất là NNL có trình độ tay nghề cao, chuyên môn giỏi thiếu.
Thời tiết và khí hậu cũng ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật của địaphương Những năm gần đây, do tác động của biến đổi khí hậu, nóng lạnhthất thường, khi thì khô hạn, lúc lại lũ lụt, ngập úng làm phát sinh nhiềuloại bệnh tật Trong khi đó, nhận thức của nhân dân không đồng đều, có nơichính quyền địa phương quan tâm không đầy đủ, đúng mức nên tạo điềukiện, môi trường thuận lợi cho bệnh tật phát triển; đặc biệt là công tác vệsinh nơi an ở, sinh hoạt của nhân dân làm phát tán, lây lan dịch bệnh Bêncạnh đó, NNL y tế lại thiếu, không đồng đều; phương pháp, tác phong làmviệc chưa thật sự khoa học đã và đặt ra yêu cầu về đào tạo, bồi dưỡng, nângcao và phát triển toàn diện NNL NYT thành phố
Hai là, các điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển NNL
NYT thành phố Hà Nội
Điều kiện KT-XH có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển NNL nói chung vàNNL NYT nói riêng Với trình độ phát triển kinh tế cao, trình độ nhận thức,dân trí của người dân nâng cao sẽ trực tiếp tác động đến việc bảo đảm cơ sởvật chất, trang thiết bị y tế cũng như nguồn lực, kinh phí bảo đảm cho hoạtđộng y tế, đến khả năng cung cấp NNL có chất lượng cao cho NYT Kinh tếphát triển còn tạo điều kiện thuận lợi để tuyên truyền, giáo dục, trang bị chongười dân kiến thức ban đầu về tự chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh hơn chữabệnh; theo đó, sức khỏe của dân được đảm bảo tốt hơn, làm giảm tỷ lệ mắcbệnh và giảm áp lực khám, chữa bệnh ở các bệnh viện, cuối cùng là giảm
Trang 28nhân lực và áp lực cho NYT
Trang 29Bên cạnh đó, kinh tế xã hội phát triển, nhận thức về bảo vệ sức khỏenâng cao, nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng lớn, đòi hỏi cung về nhân lực y
tế tăng Do đó, nếu công tác tuyên truyền, giáo dục, trang bị cho người dânkiến thức ban đầu về tự chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh hơn chữa bệnh khôngđúng mức sẽ càng làm gia tăng thêm áp lực cho NYT, vốn đã ngày càng áplực như hiện nay Mặt khác, khi quy mô, cơ cấu dân số tăng lên đòi hỏi sốlượng nhân viên y tế phải tăng lên tương ứng Việc gia tăng dân số là cơ sở đểhình thành và phát triển NNL NYT Khi dân số tăng lên thì lực lượng laođộng tăng theo; dân số tăng nhanh sẽ làm tăng số lượng NNL và nhu cầu vềviệc làm cũng như nhu cầu đào tạo NNL NYT
Ba là, đường lối, quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về y tế
nói chung và nguồn nhân lực ngành y tế nói riêng
Đường lối, quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước có vị trí, vaitrò hết sức quan trọng tác động lớn đến phát triển NYT nói chung và NNLNYT nói riêng Đây chính là cơ sở, điều kiện và môi trường thuận lợi để các
bộ, ngành và chính quyền địa phương tổ chức triển khai và thực hiện có hiệuquả nhiệm vụ chính trị trung tâm của mình Thực tế cho thấy, ngay từ khi đấtnước mới giành được độc lập, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đãluôn quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; chủ trương xâydựng và phát triển một nền y tế hiện đại Từ đó, đến nay Đảng và Nhà nước takhông ngừng chăm lo, phát triển NYT, đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng và pháttriển NNL NYT nhằm đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi của nhân dân Gần đây,Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, quyếtđịnh, thông tư hướng dẫn về lĩnh vực NYT và NNL NYT như: Luật Khámbệnh, chữa bệnh (2009); Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 vềPhê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn đếnnăm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10tháng 01 năm 2013 về phê duyệt Chiến lược quốc gia, bảo vệ, chăm sóc và
Trang 30nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030.Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 07 tháng 02 năm 2013 về phê duyệt Đề ánKhuyến khích đào tạo và phát triển nhân lực Y tế các chuyên ngành Lao,Phong, Tâm thần, Pháp y và Giải phẫu bệnh giai đoạn 2013 - 2020 Đồngthời, cơ chế, chính sách đối với đội ngũ bác sỹ, cán bộ và nhân viên y tế cũngtác động lớn đến NNL NYT.
Bốn là, mức độ quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện quan điểm của
Đảng và Nhà nước về NNL NYT
Chính sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Đảng bộ,UBND và Sở Y tế thành phố Hà Nội là nhân tố quan trọng trực tiếp tác độngđến sự phát triển của NYT thành phố, đảm bảo NNL đủ về số lượng, cao vềchất lượng và hợp lý về cơ cấu Việc đầu tư đúng mức, hợp lý về cơ sở vậtchất, trang thiết bị y tế; đào tạo và phát triển NNL; cơ chế, chính sách làđiều kiện, môi trường thuận lợi để phát triển đúng hướng, hiệu quả cao
Năm là, khả năng đầu tư tài chính của nhà nước và địa phương cho lĩnh
vực y tế, nhất là nguồn nhân lực
Đây là yếu tố quyết định khả năng đào tạo, thu hút và sử dụng có hiệuquả NNL y tế Thực tế cho thấy, với nguồn kinh phí có hạn nên nhiều bệnhviện, trung tâm y tế đã gặp khó khăn trong việc đầu tư trang thiết bị, kinh phíđào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ bác sỹ, nhânviên y tế; đặc biệt là đào tạo sau đại học, chuyên gia đầu ngành ở các lĩnh vựcchuyên sâu
Sáu là, sự phát triển của các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực NYT
Cơ sở đào tạo NNL y tế quyết định nguồn cung và chất lượng NNLNYT Đội ngũ cán bộ giảng dạy vừa là NNL y tế vừa quyết định chất lượngkiến thức, kỹ năng, chuyên môn nghề nghiệp, xây dựng phẩm chất và nhâncách của đội ngũ bác sỹ, nhân viên y tế tương lai Hiện nay, nhà trường phải
đi trước một bước; NNL phải được đào tạo bài bản, sát thực tiễn và đáp ứng
Trang 31ngày càng tốt nhu cầu đòi hỏi của xã hội Bởi vậy, sự phát triển của các cơ sởđào tạo sẽ tác động và ảnh hưởng lớn đến NNL NYT.
Bảy là, môi trường làm việc và chế độ chính sách đối với đội ngũ bác sỹ,
cán bộ và nhân viên y tế
Đối với vấn đề NNL thì môi trường làm việc có ý rất quan trọng, đặcbiệt là môi trường làm việc của Ngành Y Xã hội ngày càng phát triển, ngoàinhu cầu thuần túy về mặt vật chất thì con người rất cần đến nhu cầu tinh thần
Ở đó họ được làm việc, được cống hiến, được phát triển tài năng của mình.Theo đó, môi trường làm việc sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm động lực của ngườilao động Trong khi đó, Hà Nội với mật độ dân số đông, trình độ dân trí cao,nhu cầu được khám và chữa bệnh của nhân dân rất lớn đã làm gia tăng áp lựcđối với đội ngũ bác sỹ, nhân viên y tế; thậm chí có trường hợp người nhà tấncông bác sỹ, nhân viên y tế hoặc bị nhiễm một số bệnh lây nhiễm khác Vì lẽ
đó, môi trường làm việc cần phải được xây dựng và phát triển ngày càng hoànthiện hơn, tạo được tâm lý, niềm tin, yên tâm gắn bó với nghề, với cơ sở y tếtrong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Chế độ, chính sách đối với đội ngũ bác sỹ, cán bộ và nhân viên y tế Nhưtrên đã phân tích, luận giải cho thấy, nghề y là loại lao động đặc biệt, ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người bệnh nên áp lực trong côngviệc rất lớn, do đó cần có chế độ đãi ngộ đặc biệt hơn các ngành khác, có thểbằng vật chất hoặc tinh thần Cùng với nó là chính sách thu hút NNL NYT.Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xu hướng NNL y tế có trình độ caodịch chuyển về thành phố, các bệnh viện lớn với điều kiện làm việc hấp dẫnhơn; trong khi đó, các địa phương ở xa, điều kiện kinh tế khó khăn như cácbệnh viện tuyến huyện, trung tâm y tế, trạm y tế lại thiếu cán bộ, bác sỹ, nhânviên y tế có trình độ chuyên môn cao Thực trạng này làm cho tình trạng quátải của các bệnh viện tuyến trên, áp lực của nhân viên y tế ngày càng tăng
Tám là, nhận thức, năng lực và sự nỗ lực cố gắng phấn đấu của từng cán
bộ, bác sỹ, nhân viên y tế
Trang 32Đây là nhân tố chủ quan, nội tại của mỗi cán bộ, nhân viên y tế Chỉ cótrên cơ sở nhận thức đúng về vai trò của người thầy thuốc và nhân viên phục vụtrong ngành này đối với đời sống xã hội thì mới tạo sự chuyển biến thật sựtrong mỗi con người, mỗi tổ chức Đến lượt nó, các cá nhân xây dựng động cơ,quyết tâm, tinh thần, thái độ, trách nhiệm đối với ngành, với công việc đượcđảm nhiệm Thường xuyên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên mônnghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, phương pháp và tác phong công tác đáp ứngngày càng tốt nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân
* *
*Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các quốcgia, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, đặc biệt là NNL NYT Nhận thứcđúng vấn đề đó, chương 1 tác giả đã tập trung luận giải, phân tích về NNL,NNL NYT và tập trung đi sâu phân tích, luận giải làm rõ quan niệm, nội dung
và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển NNL NYT của thành phố Hà Nội Trong
đó, tác giả đã đưa ra được quan niệm về phát triển NNL NYT của thành phố
Hà Nội, làm rõ nội hàm quan niệm trung tâm này Tác giả cũng đã đi sâuphân tích và làm rõ nội dung, nhân tố ảnh hưởng đến phát triển NNL NYTcủa thành phố Hà Nội
Với kết quả đạt được trên đây, nhất là việc xây dựng và hoàn thiệnkhung lý thuyết ở chương 1 là điều kiện thuận lợi cho phép tác giả triển khainghiên cứu tiếp chương 2 và chương 3 một cách khoa học hơn
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ
Một là, từng bước đáp ứng nhu cầu về số lượng NNL NYT của thành phố
Hà Nội trong việc khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Nhận thức đúng những thuận lợi, khó khăn trong công tác KBCB vàchăm sóc sức khỏe cho nhân dân; cũng như vai trò của NNL NYT trong thựchiện nhiệm vụ này; Đảng bộ và chính quyền thành phố đã chỉ đạo Sở Y tếnhanh chóng tìm ra giải pháp khắc phục Trước hết, Sở Y tế tập trung kiệntoàn biên chế, phấn đấu đảm đủ NNL NYT về số lượng Tuy nhiên, tốc độphát triển dân số tăng hơn nhiều so với tốc độ phát triển của nhân lực NYTnên việc bảo đảm NNL của Ngành gặp không ít khó khăn Nhưng những gì
mà NYT thành phố Hà Nội đã làm được trong thời gian qua là rất đáng nểtrọng Nếu nhìn vào tốc độ đô thị hóa, dân số tăng nhanh cùng với việc mởrộng địa bàn thành phố càng cho chúng ta thấy rõ nét hơn những kết quả đạtđược của Ngành Cụ thể, về số lượng: Hệ thống KBCB của NYT từ 41 bệnhviện công lập đa khoa và chuyên khoa, 26 bệnh viện ngoài công lập, 52 phòngkhám đa khoa thuộc các trung tâm y tế, 584 TYT xã, phường Nay phát triển
Trang 34mạng lưới bệnh viện công lập của ngành lên 47 bệnh viện, phát triển hệ thốngkhám, chữa bệnh y học cổ truyền, hệ thống cấp cứu trước viện, mở rộng mạnglưới khám, chữa bệnh ngoài công lập với 29 bệnh viện Do đó, hệ thống Y tế
cơ sở của Hà Nội đã làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhândân Cùng với sự tăng lên của các cơ sở y tế dẫn đến số lượng nhân lực y tếcũng tăng theo; song để tuyển dụng NNL NYT có chất lượng đáp ứng nhucầu KBCB và chăm sóc sức khỏe của nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn.Nhưng kết quả trên đây cho thấy, Sở Y tế Hà Nội và chính quyền thành phố
đã có nhiều nỗ lực, cố gắng từng bước bảo đảm đủ NNL NYT cho các cơ sở y
tế, nhất là các tuyến dưới góp phần nâng cao chất lượng KBCB cho nhân dân
Để đáp ứng nhu cầu KBCB của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng,Nhà nước và Chính phủ cùng các bộ ngành, NYT thành phố Hà Nội đã triểnkhai nhiều dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng bệnh viện hiện có của thành phốgiai đoạn 2011 - 2020 cả về diện tích, quy mô và theo đó số lượng NNL đượctăng theo nhu cầu của Ngành [phụ lục 01] Dự án nâng cấp, mở rộng 11 bệnhviện huyện như Bệnh viện Đa khoa Sóc Sơn với quy mô 300 giường bệnh, cơ
sở vật chất khang trang, điều kiện hạ tầng, trang thiết bị y tế hiện đại Bệnhviện Đa khoa Gia Lâm được xây dựng mới đồng bộ, hoàn chỉnh trên diện tíchgần 45.000m2 với tổng mức đầu tư 280 tỷ đồng, gồm 150 giường bệnh Trungbình mỗi ngày, bệnh viện tiếp đón khoảng 300 người đến khám, số bệnh nhânđiều trị nội trú bình quân 150 người/ngày Các bệnh viện tuyến thành phố nhưBệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, Đống Đa, Ung bướu Hà Nội… cũng được mởrộng quy mô Đặc biệt, công trình Bệnh viện Đa khoa Đức Giang là một trongnhững dự án trọng điểm của thành phố giai đoạn 2011 - 2015, có tổng mức đầu
tư 861 tỷ đồng, được xây dựng trên diện tích hơn 27.000m2 với 8 tầng, 500giường bệnh Dự án xây dựng Bệnh viện Nhi Hà Nội với tổng mức đầu tư là784,4 tỷ đồng, quy mô 500 giường bệnh đã được khởi công tại phường YênNghĩa, quận Hà Đông Nhờ việc sửa chữa, nâng cấp, xây mới nhiều cơ sở y tế,
Trang 35tính đến hết tháng 10/2015, tỷ lệ giường bệnh tăng từ 19,6 lên 21,7/10.000 dân.
Từ nay đến năm 2020, NYT Hà Nội sẽ tiếp tục phấn đấu để nâng số giườngbệnh/vạn dân là 23, hoàn thành chỉ tiêu mà thành phố đề ra Cùng với đó, NYT
Hà Nội cũng sẽ tập trung nguồn lực đầu tư cho y tế cơ sở, hướng tới mục tiêu100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế trong giai đoạn 2016-2020 vớitổng kinh phí lên đến hơn 1.400 tỷ đồng
Theo đó, NNL NYT của thành phố cũng được bổ sung phát triển Năm
2013 Sở Y tế Hà Nội đã tổ chức thi tuyển viên chức NYT với hơn 7.000 thísinh tham dự; trong đó có 6.037 thí sinh dự thi và 1.228 thí sính thuộc diệnxét tuyển Kết quả thi và xét tuyển được 3.272 người Năm 2015, tổng chỉ tiêutuyển dụng của NYT Hà Nội là 2.874 người; trong đó, tuyển dụng bằng hìnhthức thi tuyển là 1.738 chỉ tiêu; tuyển dụng bằng hình thức xét tuyển là 1.136chỉ tiêu [53] Bằng những việc làm thiết thực, với nhiều cố gắng đến nay NYT
Hà Nội đã bảo đảm được tương đối về số lượng NNL Tổng số cán bộ tại các
cơ sở y tế do Sở Y tế thành phố Hà Nội quản lý tăng từ 13.106 người năm
2015 lên 14.196 người năm 2016 [phụ lục 04, 10] Trong đó, số lượng NNLchất lượng cao cũng tăng nhanh, nhất là đội ngũ bác sỹ [phụ lục 11] Tính đếnhết tháng 10/2015, tỷ lệ bác sĩ đã tăng từ 11,8 lên 12,7/10.000 dân, mục tiêu
từ nay đến năm 2020 sẽ tăng lên 13,5 bác sĩ/10.000 dân Đặc biệt đội ngũ cán
bộ, nhân viên y tế ở tuyến xã, phường, thị trấn được Sở Y tế và chính quyềnthành phố đặc biệt quan tâm Hiện nay, toàn thành phố có 3.530 cán bộ y tếđang công tác tại 577 TYT xã, phường, thị trấn Trong đó, có 486 bác sĩ côngtác thường xuyên tại TYT, một số bác sĩ luân chuyển tăng cường từ trung tâm
y tế, bệnh viện hỗ trợ đảm bảo 100% các TYT có bác sĩ Mỗi TYT đã đảmbảo có đủ 5 thành phần là bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, y sĩ y học cổ truyền,dược [phụ lục 09]
Một trong những điểm thuận lợi nữa về phát triển NNL NYT của thànhphố là trên địa bàn có nhiều bệnh viện lớn của các bộ ngành và Trung ương
Trang 36với số lượng, chất lượng và cơ cấu hết sức đa dạng, phong phú góp phần tolớn vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe và KBCB của nhân dân Trên địa bàncũng có một số lượng lớn các trường đào tạo NNL NYT Đây là nguồn bổsung NNL cho NYT của thành phố; là điều kiện thuận lợi để thành phố HàNội phát triển NNL NYT của mình hiện nay và những năm tiếp theo.
Hai là, chất lượng NNL NYT của TP.HN được nâng lên và bước đầu đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Cùng với số lượng, Sở Y tế Hà Nội luôn quan tâm đến chất lượng NNL;đặc biệt là kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ Những năm qua, NNL được Sở
Y tế Hà Nội tuyển dụng chủ yếu là đào tạo hệ chính quy với trình độ các khácnhau Hàng năm, trong quá trình sử dụng NNL, Sở Y tế thành phố lại tiếp tụclựa chọn cán bộ, nhân viên đi đào tạo, bồi dưỡng ở các cơ sở đào tạo gópphần nâng cao chất lượng NNL
Về kỹ năng NNL y tế cũng được thành phố Hà Nội đặc biệt quan tâm.NYT Hà Nội đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng cho cán bộ,nhân viên y tế với 25 nội dung đào tạo bồi dưỡng và 1.673 lượt cán bộ thamgia Sở Y tế Hà Nội đã mời giảng viên là các bác sĩ, chuyên gia đầu ngànhtuyến Trung ương để truyền đạt kinh nghiệm, đào tạo kỹ năng cho y, bác sĩtuyến thành phố; đồng thời, tổ chức đưa bác sĩ tuyến thành phố về huyện huấnluyện bổ sung kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ, nhân viên y tế tuyến huyện
Do đó, chất lượng NNL NYT của thành phố có sự phát triển tương đối thuậnlợi Với 13.106 cán bộ, nhân viên y tế toàn ngành, có 2.755 bác sỹ, tỷ lệ %bác sỹ/cán bộ là 21,0 và tỷ lệ trung bình bác sỹ/10.000 dân là 4,3 Trình độchuyên môn: sau đại học là 1.312 người chiếm 10,01%, đại học 2.259 ngườichiếm 17,2%, cao đẳng 177 người chiếm 1,4%, trung học chuyên nghiệp7.674 người chiếm 58,6%, sơ học 303 người chiếm 2,3% và trình độ khác là1.381 người chiếm 10,5% [phụ 05] Đến năm 2016, trình độ chuyên môn củađội ngũ cán bộ, nhân viên y tế toàn ngành tăng hơn so với năm 2015; trong
Trang 37đó, đội ngũ bác sỹ tăng từ 2.755 người lên 2.911 người và các trình độ kháccũng tăng hơn so với trước [phụ lục 9, 10, 11] Một trong những điểm nhấn vềphát triển NNL NYT thành phố Hà Nội thời gian qua là phát triển NNL cácchuyên ngành lao, phong, tâm thần, pháp y và giải phẫu bệnh Điều đó đượcthấy rõ trong việc tuyển dụng viên chức của NYT Hà Nội năm 2015 [53] Vìvậy, một số bệnh viện như Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, Bệnh viện tâm thầnban ngày Mai Hương; Trung tâm Phòng chống lao và bệnh phổi Hà Đông;Trung tâm Pháp y Hà Nội; Trung tâm bảo vệ sức khỏe và môi trường HàNội chất lượng công tác KBCB, chăm sóc sức khỏe của nhân dân được nângcao Theo đó, nhiều bệnh được chuẩn đoán, phát hiện sớm, đúng bệnh và đưa
ra phác đồ điều trị bệnh khoa học góp phần giảm chi phí cho bệnh nhân, tiếtkiệm ngân sách Nhà nước Đặc biệt, trong điều kiện quy bảo hiểm y tế đanggặp nhiều khó khăn như hiện nay
Về chất lượng NNL NYT ở tuyến cơ sở, nhất là tuyến huyện, xã,phường, thị trấn Sở Y tế Hà Nội đã tiến hành điều động, luân chuyển cán bộ
Từ năm 2013, Sở Y tế đã điều động, luân chuyển 25 cán bộ quản lý cho cácđơn vị, thu hút 4 cán bộ từ các đơn vị y tế trung ương về làm quản lý ở cácbệnh viện thành phố; đồng thời triển khai đề án bệnh viện vệ tinh, đề án 1816
và luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề khám, chữa bệnh Năm
2014, 24 bệnh viện và 01 trung tâm y tế huyện cử cán bộ luân phiên hỗ trợ 39đơn vị; năm 2015 đã có 25 đơn vị cử cán bộ luân phiên hỗ trợ tuyến dưới,gồm 24 bệnh viện và 01 trung tâm y tế huyện với 112 bác sĩ, điều dưỡng, kỹthuật viên đi luân phiên Số cơ sở tuyến dưới được tiếp nhận người hành nghềđến hỗ trợ là 37, bao gồm 22 bệnh viện và 15 trung tâm y tế Năm 2015, NYT
Hà Nội có 26 đơn vị xây dựng kế hoạch cử cán bộ luân phiên hỗ trợ tuyếndưới Tổng số người thực hiện luân phiên là 64 bác sĩ, 23 điều dưỡng, kỹthuật viên…góp phần nâng cao chất lượng NNL NYT của thành phố Hà Nộiđáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, KBCB cho nhân dân
Trang 38Vấn đề y đức cũng được Sở Y tế quan tâm; những năm qua, Sở Y tế đãquán triệt tốt các quyết định, thông tư, chỉ thị hướng dẫn của trên về vấn đề yđức trong KBCB và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Thành phố Hà Nội và
Sở đã chỉ đạo các cơ sở y tế tăng cường giáo dục nâng cao đạo đức nghềnghiệp, tác phong công tác, phẩm chất và nhân cách của đội ngũ cán bộ, nhânviên y, bác sỹ Theo đó, các cơ sở y tế đã triển khai đồng bộ và xây dựngchương trình hành động nâng cao y đức Đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiệnCuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; thựchiện chủ trương của Đảng “Nâng cao y đức, đấu tranh đẩy lùi tiêu cực tronghoạt động khám, chữa bệnh” Đồng thời, Sở Y tế đã chỉ đạo các cơ sở y tếphải thực hiện tốt bốn nhiệm vụ cơ bản là: Thầy thuốc phải chăm chỉ, nhiệttình lao động, luôn sẵn sàng, chủ động trong công việc của mình; thầy thuốcphải thận trọng, cảnh giác trước các trường hợp coi là bệnh nhẹ, bình thường,giản đơn; thầy thuốc phải luôn giữ gìn phẩm giá, danh dự nghề nghiệp củamình; thầy thuốc phải là người có tính sáng tạo trong nghề nghiệp…đã tácđộng mạnh mẽ đến kết quả rèn luyện y đức của cán bộ, nhân viên y tế trongtoàn ngành của thành phố Hà Nội
Ba là, cơ cấu NNL NYT của TP.HN ngày càng hợp lý hơn, nhất là cơ cấu về ngành nghề chuyên môn, trình độ đào tạo và giới tính, lứa tuổi
Trên cơ sở bảo đảm NNL NYT của thành phố Hà Nội về số lượng, chấtlượng, NYT cũng đặc biệt quan tâm và chú trọng đến cơ cấu NNL Cụ thể là:
- Cơ cấu về ngành nghề chuyên môn: Hiện nay, trước tác động của nềnkinh tế thị trường nên một số ngành nghề trong lĩnh vực y tế có sự biến động.Trong khi NNL một số ngành đem lại nhiều cơ hội thăng tiến và kinh tế đượcnhiều người quan tâm thì nhiều ngành nghề lại đang thiếu trầm trọng, nhất làcác ngành lao, phong, tâm thần, pháp y và giải phẫu bệnh Mặt khác, Hà Nội
là Thủ đô của các nước, tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa diễn ra nhanhnhưng đồng thời cũng gia tăng và phát sinh nhiều loại bệnh tật mới đòi hỏi
Trang 39công tác chăm sóc sức khỏe, KBCB cho nhân dân phải được nâng cao cũnglàm gia tăng sự mất cân đối về ngành nghề Đánh giá đúng thực trạng, NYTthành phố Hà Nội đã kiến nghị với thành phố và các cơ quan chức năng về pháttriển NNL của các ngành này Đến nay, NNL của những ngành nghề này đã có
sự phát triển và được cải thiện nhiều so với trước đây cả về số lượng và trình
độ chuyên môn [phụ lục 5, 7] Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu NNL của cácngành nghề này thì chính quyền thành phố Hà Nội cần phải quan tâm hơn nữa
- Cơ cấu về trình độ đào tạo: Về trình độ cán bộ NYT thành phố Hà Hộiphân theo bằng cấp như sau: “Sau đại học là 1.312 người, chiếm 10,01%; đạihọc là 2.259 người, chiếm 17,2%; cao đẳng là 177 người, chiếm 1,4%; trunghọc chuyên nghiệp là 7.674 người, chiếm 58,6%; sơ học là 303 người, chiếm2,3%; khác là 1.381 người chiếm 10,5%” [phụ lục 05] Như vậy, trình độ đạihọc và sau đại học của NNL NYT thành phố Hà Nội chiếm tỷ lệ 27,21% Tỷ
lệ này sẽ còn tăng nhanh trong mấy năm nữa, nhất là khi một số cơ sở y tế xâydựng mới, nâng cấp và mở rộng Theo đó, việc chăm sóc sức khỏe, KBCBcho nhân dân sẽ được cải thiện, công tác y tế dự phòng được triển khai và làmtốt, không để dịch bệnh lớn xảy ra; nhiều thành tựu khoa học học công nghệ
kỹ thuật cao được ứng dụng góp phần làm giảm tải cho các bệnh viện tuyếntrung ương Kết quả này còn đóng góp vào việc nâng cao đời sống của nhândân, cải thiện chỉ số phát triển con người Việt Nam, nâng tuổi thọ trung bìnhlên (đạt 73,3 tuổi vào năm 2015 [32, tr.239])
- Cơ cấu về giới tính và lứa tuổi: Do đặc thù của Ngành Y nên số lượng
nữ luôn chiếm tỷ lệ cao Cán bộ y tế nữ của tuyến bệnh viện thành phố là3.608/5.704 người; bệnh viện huyện là 1.251/1.738 người; trung tâm y tếquận, huyện, thị xã là 1.801/2.407 người; TYT xã, phường, thị trấn là2.702/3.530người [phụ lục 10] Các trường hợp khác như dược sỹ, điềudưỡng, nữ hộ sinh, y sỹ của các cơ sở y tế trong NYT thành phố Hà Nội cũngvậy [phụ lục 12, 13, 14] Riêng số y sỹ của các cơ sở y tế chiếm tỷ lệ khá cao:
Trang 40Tuyến bệnh viện thành phố là 176/199 người; bệnh viện huyện 189/273người; y tế dự phòng 24/31 người; trung tâm y tế quận, huyện, thị xã là381/546 người; TYT xã, phường, thị trấn là 1.091/1.567 người [phụ lục 14].Cùng với cơ cấu về giới tính thì lứa tuổi, nhất là đối với nữ được tính toánhợp lý Đánh giá chung về mặt độ tuổi và giới tính của đội ngũ cán bộ y tế HàNội hiện nay có nhiều biểu hiện tích cực Trong đó, cán bộ y tế nữ chiếm đa
số NNL NYT (63%); số cán bộ y tế trong độ tuổi từ 30 - 50 chiếm tỷ trọngcao nhất (65%) ; số cán bộ trẻ dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ 22%; đa số nhân lực y
tế trong độ tuổi dưới 50 chiếm hơn 87% Những thuận lợi đã và đang tác độngrất lớn đến việc chăm sóc sức khỏe, KBCB cho nhân dân bao gồm cả nhândân trên địa bàn thành phố và các tỉnh bạn; góp phần nâng cao chất lượng dân
cư, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Cơ cấu NNL theo tuyến, vùng: Đây là một khó khăn không chỉ vớithành phố Hà Nội mà là khó khăn chung của cả nước Bởi tâm lý chung làmuốn được công tác ở các bệnh viện lớn, trung tâm, tuyến trên, ngại đi cơ sở,tuyến dưới, nhất là một số xã ở xa trung tâm Song với quyết tâm của Ngànhđến nay về cơ bản NNL được phân bổ tương đối hợp lý Trong đó, cán bộ làmcông tác quản lý nhà nước (thành phố, quận, huyện, thị xã) là 191 người; khối
sự nghiệp y tế (thành phố, quận, huyện, thị xã; xã, phường, thị trấn) là 12.847người Y tế tuyến thành phố là 5.341 người; khối dự phòng là 435 người; vănphòng Sở Y tế là 97 người; y tế tuyến quận, huyện, thị xã là 4.256 người và y
tế xã, phường, thị trấn là 3.182 người [phụ lục 04] nên công tác KBCB củanhân dân về cơ bản đáp ứng được
2.1.2 Những hạn chế của nguồn nhân lực ngành y tế của TP.HN
Một là, số lượng NNL NYT của một số cở sở y tế còn thiếu, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao làm ảnh hưởng đến công tác KBCB và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Từ thực tế khảo sát tại các bệnh viện cho thấy, hiện nay NNL NYT của