1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay

92 301 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển văn hóa - xã hội vẫn còn những mặt yếu kém, khuyết điểm đang đặt ra cần phải giải quyết, như kinh tế có bước phát triển nhanh và

Trang 1

Lấ VĂN THƯ

các tỉnh ủy ở đồng bằng sông hồng lãnh đạo

phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2015

Lấ VĂN THƯ

các tỉnh ủy ở đồng bằng sông hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay

Chuyờn ngành : Xõy dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

Mó số : 62 31 23 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS NGễ HUY TIẾP

2 TS LÂM QUỐC TUẤN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu

của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung

thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ

Chương 2: CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 17

2.1 Khái quát về các tỉnh đồng bằng sông Hồng và phát triển văn hoá - xã hội

ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay 17 2.2 Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay - khái niệm, nội dung, phương thức lãnh đạo 54

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM 71

3.1 Thực trạng phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

4.1 Những nhân tố tác động và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông

4.2 Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ đối với phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng đến năm 2025 133

KẾT LUẬN 156 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 159 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160 PHỤ LỤC 168

Trang 3

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH : Chủ nghĩa xã hội

ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng

HĐND : Hội đồng nhân dân

KH&CN : Khoa học và Công nghệ

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Cùng với lãnh đạo chính trị và lãnh đạo các lĩnh vực trọng yếu của đời sống

xã hội như kinh tế, quốc phòng, an ninh,… lãnh đạo văn hóa - xã hội là vấn đề được đặt ra từ rất sớm, ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc

Phát triển văn hoá - xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển văn hóa - xã hội là đòi hỏi khách quan, có ý nghĩa chính trị quan trọng, quyết định đối với sự phát triển văn hóa - xã hội của đất nước, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao về đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân

Là khu vực kinh tế - xã hội trọng điểm, các tỉnh đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) rất giàu tiềm năng, thế mạnh để phát triển về mọi mặt, không chỉ của vùng,

mà còn là động lực và cực tăng trưởng cho toàn miền Bắc và cả nước Dự báo đến năm 2020, khu vực các tỉnh ĐBSH, một mặt phải bảo đảm an ninh lương thực cho vùng, và theo quy hoach, cùng với đồng bằng sông Cửu Long đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước Mặt khác, các tỉnh ĐBSH sẽ tiếp tục chuyển đổi hàng chục vạn ha đất nông nghiệp mầu mỡ sang mục đích sử dụng khác; lúc đó diện tích đô thị, công nghiệp, thương mại - dịch vụ trên địa bàn sẽ chiếm tỷ lệ khá lớn diện tích

tự nhiên của các tỉnh trong vùng Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn các tỉnh đồng bằng sông Hồng tất yếu sẽ tạo ra những biến đổi căn bản ở một vùng nông thôn rộng lớn, từ một vùng kinh tế lấy sản xuất nông nghiệp, ở nông thôn, do người nông thực hiện là chủ yếu, sẽ chuyển dần sang nền kinh tế nông nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, phát triển nhanh các thành phố công nghiệp, thương mại - dịch vụ thuộc tỉnh Để thích ứng với sự phát triển khách quan đó, thực tiễn đang đặt ra cho các đảng bộ, chính quyền các tỉnh ĐBSH những nhiệm vụ to lớn phải giải quyết là nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, phát triển khoa học - công nghệ, chăm sóc sức khỏe và đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, xóa đói giảm nghèo và bài trừ các tệ nạn xã hội… Nếu không

Trang 4

giải quyết tốt những nhiệm vụ này, sẽ không chỉ làm chậm quá trình phát triển kinh

tế - xã hội trên địa bàn, mà còn cản trở quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện

đại hóa các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng hiện nay

Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng là cơ quan lãnh đạo của các đảng bộ

tỉnh, có chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội ở địa phương

Trong những năm vừa qua, dưới sự lãnh đạo của các tỉnh ủy, đời sống kinh tế, văn

hoá - xã hội ở các địa phương có những bước phát triển mạnh mẽ, các lĩnh vực giáo

dục, khoa học - công nghệ y tế, văn hóa, thể thao, an sinh xã hội… đã đạt được

những kết quả rất quan trọng, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của

nhân dân

Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển văn hóa - xã hội

vẫn còn những mặt yếu kém, khuyết điểm đang đặt ra cần phải giải quyết, như

kinh tế có bước phát triển nhanh và mạnh, nhưng văn hoá - xã hội chưa phát triển

tương xứng, thậm chí có những bước thụt lùi như: phân hoá giàu nghèo ngày càng

lớn, gia tăng nhanh các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông và tai nạn lao động; mê

tín, dị đoan, buôn thần, bán thánh; thương mại hoá các hoạt động văn hoá tâm

linh…Về phía lãnh đạo, có những cấp ủy đảng chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc các

nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phát triển văn hoá - xã hội, còn

biểu hiện buông lỏng lãnh đạo, khoán trắng một số nội dung lãnh đạo quan trọng

cho các đơn vị chuyên môn; chưa thường xuyên coi trọng việc sơ kết, tổng kết, rút

kinh nghiệm… Những yếu kém đó đã hạn chế năng lực lãnh đạo của tỉnh ủy, làm

chậm quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển văn hóa - xã hội trên địa bàn rộng

lớn và hết sức quan trọng này Song, sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ đối với phát triển

văn hoá - xã hội là vấn đề rất mới và rất khó, cả trên phương diện lý luận và thực

tiễn Trước yêu cầu thực tiễn đang đặt ra, tôi chọn đề tài “Các tỉnh ủy ở đồng

bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay”

làm luận án tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản

Việt Nam, với mong muốn luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải

pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của các tỉnh uỷ ĐBSH đối với phát

triển văn hoá - xã hội hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở đồng bằng

sông Hồng đối với phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở

đó đề xuất các giải pháp chủ yếu, có tính khả thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với lĩnh vực hết sức quan trọng này

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của phát triển văn hóa - xã hội và

những vấn đề có liên quan đến phát triển văn hóa - xã hội của các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay

- Làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức, vai trò lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát văn hóa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay

- Đánh giá đúng thực trạng phát triển văn hóa - xã hội và sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển văn hoa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay, chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng và những kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn

- Xác định những nhân tố tác động, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đồng bằng sông Hồng đối với phát triển văn hoa - xã hội giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là: các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội giai đoạn hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu, khảo sát, đánh giá sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với

phát triển văn hóa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng từ năm 2005 đến nay; phương hướng và những giải pháp của đề tài có giá trị đến năm 2025

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về sự lãnh đạo của Đảng đối với các

Trang 5

lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nói chung, đối với phát triển văn hóa - xã hội

nói riêng

4.2 Cơ sở thực tiễn

Qúa trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phát triển văn hóa - xã hội

của các tỉnh ủy các tỉnh đồng bằng sông Hồng từ năm 2005 đến nay, với tất cả

những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo của

các tỉnh ủy trong thời gian vừa qua

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

Mác-Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

lôgic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống kê, so sánh; tổng kết thực tiễn và

phương pháp chuyên gia

5 Những đóng góp mới của luận án

- Làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSH

đối với phát triển văn hóa - xã hội ở địa phương giai đoạn hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu, khả thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo của

các tỉnh ủy ĐBSH đối với phát triển văn hóa - xã hội ở địa phương đến năm 2025

6 Ý nghĩa và thực tiễn của luận án

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các tỉnh

ủy, các ban thường vụ tỉnh ủy trong cả nước, nhất là ở các tỉnh ĐBSH trong lãnh

đạo, chỉ đạo và tổ chức phát triển văn hóa - xã hội giai đoạn hiện nay

- Luận án cũng có thể làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và

đào tạo ở các trường chính trị và cơ sở đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước ta

hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã

công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm

4 chương, 9 tiết

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về phát triển văn hoá

- Đề cương quy hoạch phát triển văn hoá Trung Quốc, Tài liệu dịch - Viện

Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện khoa học xã hội và Nhân văn Việt Nam, lưu hành nội bộ [49] Đây là tài liệu quan trọng trình bày tổng thể mục tiêu phát triển văn hoá của Trung Quốc "năm năm lần thứ 11"

Đề cương quy hoạch phát triển văn hoá Trung Quốc thể hiện những tư tưởng

cơ bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc về đường hướng phát triển văn hoá mang đặc sắc Trung Quốc thời kỳ hiện nay, trong đó nhấn mạnh phát triển toàn diện, lấy thị trường trong nước, ngoài nước làm động lực thúc đẩy các ngành văn hoá phát triển Văn hoá hướng vào phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Những mục tiêu, nhiệm vụ mà đề cương này nêu lên đã gợi

ý cho tác giả luận án suy nghĩ về những nội dung phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH giai đoạn hiện nay

- Phăn đuông chít vông sa, Công tác lý luận của Đảng nhân dân cách mạng

Lào trong thời kỳ mới [51] Nội dung luận án bàn về công tác lý luận của Đảng

Nhân dân cách mạng Lào thời kỳ mới, trong đó đáng chú ý là luận án đã trình bày những nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác lý luận, một lĩnh vực rất khó khăn, phức tạp Tác giả nêu 4 nội dung và 4 phương thức lãnh đạo của Đảng Nội dung của đề tài có tác dụng tham khảo tốt cho NCS tìm hiểu, nghiên cứu về nội dung, phương thức lãn đạo của các Tỉnh uỷ ĐBSH lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay

- Lưu Vân Sơn, Tìm tòi thực tiễn và tư duy lý luận xây dựng văn hóa xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc [66] Tạp chí Cộng sản Số 17 (209) năm 2010 (phát

biểu của đồng chí Lưu Vân Sơn tại Hội thảo lần này với chủ đề "Ðẩy mạnh xây dựng văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế" giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Ðảng Cộng sản Trung Quốc)

Trang 6

Theo tác giả, trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường XHCN, văn hóa

được thể hiện bằng hai hình thái là sự nghiệp và ngành nghề; mục đích căn bản của

phát triển văn hóa là vì dân, sức mạnh phải dựa vào dân, đẩy mạnh xây dựng văn

hóa xã hội chủ nghĩa cần phải kiên trì lấy con người làm gốc, hướng tới quần

chúng, đáp ứng tối đa nhu cầu văn hóa tinh thần của quần chúng nhân dân

- Phitstamay bounvilay, Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng

cao ở một số quốc gia và bài học cho thành phố Viêng chăn, (Cộng hòa dân chủ nhân

dân Lào) [53, tr.62-66] Bài nghiên cứu tổng thuật những kinh nghiệm giáo dục đào

tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, quản trị và thu hút tài năng khoa học công nghệ của

các quốc gia phát triển ở Châu Á như Nhật bản, Hàn Quốc, Sinhgapore, Thái Lan

Bài báo giúp nghiên cứu sinh nhìn rõ hơn công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực

và bồi dưỡng nhân tài ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về phát triển xã hội

- Khăm bay ma la sinh, Thực trạng đói nghèo trong các hộ gia đình ở nông

thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, giải pháp [36], tác giả luận văn đã

trình bày hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách xã hội của Đảng và Nhà

nước, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào làm cơ sở nghiên cứu vấn đề đói,

nghèo trong các gia đình ở nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc hiện nay Tác giả luận văn

đã có những đánh giá khá công phu về thực trạng đói nghèo ở tỉnh Chăm Pa Sắc,

chỉ rõ quy mô, mức độ đói, nghèo và nguyên nhân đói, nghèo của địa phương Tác

giả luận văn đưa ra một số kiến nghị về chính sách và các giải pháp xoá đói, giảm

nghèo cho địa phương Kết quả nghiên cứu của tác giả góp một gợi ý tốt suy nghĩ

về thực trạng nghèo ở các tỉnh ĐBSH nước ta hiện nay, đồng thời góp nhận thức rõ

hơn về khái niệm phát triển xã hội ở các tỉnh ĐBSH

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC

1.2.1 Những công trình nghiên cứu về văn hoá và Đảng lãnh đạo phát

triển văn hoá

1.2.1.1 Những công trình nghiên cứu về văn hoá

- Sách tham khảo, Vai trò của văn hoá trong sự nghiệp công nghiệp hoá -

hiện đại hoá nông thôn, nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, PGS.TS Lê Quý

Đức [27] Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp bộ, do tập thể

các nhà khoa học Viện Văn hoá và phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện Cuốn sách bàn về một số nội dung phát triển văn hoá ở nông thôn ĐBSH đầu những năm 2000 Ở mỗi một nội dung phát triển văn hoá, các tác giả làm rõ cơ sở lý luận thực trạng và giải pháp thực hiện các giải pháp đó Những nội dung phát triển văn hoá được đề cập trong cuốn sách được kế thừa để chọn nghiên cứu những nội dung phát triển văn hoá - xã hội trong luận án, một nhiệm vụ quan trọng, đối tượng lãnh đạo của các Tỉnh uỷ ĐBSH mà luận án nghiên cứu

- Sách tham khảo, Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng

ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới, TS Ngô Văn Giá [28]

Các tác giả cuốn sách nhấn mạnh: trong công cuộc đổi mới hôm nay, sự biến đổi mạnh mẽ của các điều kiện kinh tế - xã hội đã kéo theo sự biến đổi rõ rệt diện mạo và các giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Vì vậy, cùng với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, việc nghiên cứu, xây dựng và phát triển văn hóa thủ đô, văn hóa các làng ven đô là thực sự cấp thiết

- Sách tham khảo, Phát triển văn hóa con người và nguồn nhân lực thời kỳ

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, GS.TS Phạm Minh Hạc [29]

Cuốn sách là chương trình nghiên cứu phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong bối cảnh đất nước bước vào thế kỷ XXI, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa Nội dung cuốn sách tập trung trình bày kết quả nghiên cứu chủ yếu của chương trình: Những vấn đề mang tính phương pháp luận

về văn hóa, con người, nguồn nhân lực, đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa ở những vùng, miền khác nhau; đặc điểm con người Việt Nam hiện nay; thực trạng nguồn nhân lực, phương hướng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của đất nước thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, v.v

- Sách tham khảo, Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa,

PGS.TS Phạm Duy Đức [24] Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc, bản chất, chức năng, vai trò của văn hóa, đi sâu tìm hiểu quan điểm của các nhà kinh điển mác-xít về xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, về một số lĩnh vực cơ bản như văn hóa trong lãnh đạo chính trị; vấn

đề xây dựng con người, đạo đức và lối sống; vấn đề phát triển giáo dục - đào tạo,

Trang 7

xây dựng đội ngũ trí thức; phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật; báo chí; vấn đề

tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,

đậm đà bản sắc dân tộc

- Sách tham khảo, Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa -

một góc nhìn từ Việt Nam, GS.TS Phạm Xuân Nam [48]

Tác giả đã đi sâu phân tích những đặc trưng, những cơ hội và thách thức; dự

báo chiều hướng phát triển của văn hóa Việt Nam đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế hiện nay, qua đó đề xuất phương châm, nguyên tắc và hệ quan

điểm định hướng cho việc thực hiện sự cam kết với tính đa dạng văn hóa, phát huy

bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường tiếp xúc, giao lưu, đối thoại giữa văn hóa

Việt Nam với các nền văn hóa khác trong thế giới đương đại Nhưng mặt khác, quá

trình trên cũng làm nảy sinh nguy cơ ghê gớm về sự đồng nhất hóa các hệ thống giá

trị, đe dọa làm suy kiệt khả năng sáng tạo đa dạng của các nền văn hóa - nhân tố cực

kỳ quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh và bền vững của từng dân tộc và của

cả nhân loại

- Sách tham khảo: Thành tựu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam

25 năm đổi mới (1986-2010), PGS.TS Phạm Duy Đức [26] Cuốn sách được biên

soạn từ kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học trọng điểm cấp Nhà nước Mã số

KX04.13/06-10 Nội dung cuốn sách phản ánh thực trạng văn hóa Việt Nam qua 25

năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu quan trọng, đồng thời vạch ra những mặt yếu

kém, hạn chế, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản và kiến nghị để xây dựng và

phát triển văn hóa Việt Nam trong những năm tiếp theo Cuốn sách tập trung nêu

lên một số giải pháp chủ yếu để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc

xây dựng con người và phát triển văn hóa trong thời gian tới

- Đề tài khoa học cấp bộ, Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Những vấn đề phương pháp luận (2010), PGS.TS Phạm Duy Đức [25] Các tác giả

của đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn

2011-2020 ở những lĩnh vực cơ bản của đời sống văn hóa dân tộc như: phát triển con

người, phát triển môi trường văn hóa cùng với các lĩnh vực hoạt động văn hóa cơ

bản như giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, thông tin

đại chúng; phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa; đảm bảo sự đa dạng văn hóa giữa các dân tộc Về xu hướng vận động

và quan điểm chỉ đạo xây dựng phát triển văn hóa giai đoạn 2011-2020, tập thể tác giả cho rằng, cần phải kế thừa các quan điểm chỉ đạo mà các Nghị quyết của Đảng

đã nêu, đặc biệt là các quan điểm được nêu lên trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đồng thời phải bổ sung một số điểm mới

- Sách tham khảo, Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng

nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, PGS.TS Nguyễn Duy Bắc [2]

Cuốn sách đã xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa, biến đổi giá trị văn hóa Đồng thời đã chỉ ra được thực trạng biến đổi các giá trị văn hóa, phát triển văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay; góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống đường lối, chính sách về phát triển văn hóa và con người, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hình thành các giá trị văn hóa mới trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế

- Hà Vũ Tuyến, Công tác đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc - kết quả và một số kinh

nghiệm [103] Nội dung bài báo nêu những vấn đề sau: Vĩnh Phúc là một trong số

chín tỉnh ĐBSH, thuộc vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, tác giả bài báo đã đánh giá khái quát những thành tựu công tác đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc những năm vừa qua Do tốc độ CNH, HĐH ở Vĩnh Phúc khá nhanh, nên sớm đặt ra nhu cầu đào tạo nghề cho địa phương Chính vì công tác đào tạo nghề phát triển, nên đã có nhiều thanh niên, học sinh được học nghề phục vụ nhu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ tại địa phương Từ thực tiễn đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc, tác giả tổng kết một số kinh nghiệm và giải pháp Nội dung bài báo phản ánh một góc thực trạng giáo dục đào tạo nghề ở Vĩnh phúc, một nội dung của phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH hiện nay NCS có thể nghiên cứu, tham khảo cho phần đánh giá thực trạng của luận án

1.2.1.2 Những công trình nghiên cứu về Đảng lãnh đạo văn hoá

- Sách tham khảo, Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu

của đời sống xã hội nước ta, PGS Lê Văn Lý [42]

Trang 8

Đây là công trình khoa học đề tài cấp Nhà nước được in thành sách, một

công trình lớn, bàn khá sớm về sự lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực trọng yếu

đời sống xã hội nước ta Công trình tuy không bàn chuyên sâu về Đảng lãnh đạo

phát triển văn hoá - xã hội, nhưng đã đề cập đến một mặt của phát triển văn hoá: sự

lãnh đạo của Đảng đối với tư tưởng, lý luận và văn học - nghệ thuật

Những nghiên cứu của đề tài rất hữu ích cho đề tài luận án của tác giả khi

phải xác định rõ nội dung và phương thức lãnh đạo của các Tỉnh uỷ ĐBSH trong

phát triển văn hoá - xã hội Mặc dù cuốn sách nói trên nghiên cứu trê quy mô toàn

Đảng, không nghiên cứu ở một đảng bộ địa phương nào đó của ĐBSH, song cuốn

sách đã cho những gợi ý, chỉ dẫn quan trọng để tác giả luận án xác định nội dung,

phương thức các Tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay

1.2.2 Những công trình nghiên cứu về phát triển xã hội và Đảng lãnh

đạo phát triển xã hội

1.2.2.1 Những công trình nghiên cứu về phát triển xã hội

- Sách: Tác động của phân tầng mức sống vào quá trình phát triển văn hoá

nông thôn, Trần Thị Lan Hương [34] Tác giả cuốn sách nghiên cứu phân tầng mức

sống tác động đến qúa trình phát triển văn hoá nông thôn ở các tỉnh ĐBSH vào

những năm 2000, khoảng thời gian nước ta đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh

tế - xã hội, cả nước bước vào thời đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Tác giả cuốn

sách tiếp cận vấn đề nghiên cứu bắt đầu đi từ các lý thuyết phân tầng xã hội hiện

đại, sau đó chọn cho mình khung lý thuyết ứng với chủ đề nghiên cứu Nội dung

cuốn sách tiếp cận vấn đề biến đổi, phát triển văn hoá trong cộng đồng cư dân nông

thôn ĐBSH từ góc nhìn xã hội học, đi từ những biến đổi trong cơ cấu xã hội, phân

tầng xã hội, phân tầng mức sống để xem xét vấn đề phát triển văn hoá Những kiến

giải của tác giả là những gợi ý sâu sắc cho luận án khi phân tích nguyên nhân của

những thành tự và hạn chế trong phát triển môi trường văn hoá ở nông thôn các tỉnh

ĐBSH hiện nay, cũng như gợi ý cho luận án nghiên cứu những giải pháp tăng

cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng địa phương trong phát triển văn hoá - xã hội

hiện nay

- Sách: Xung đột xã hội về đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp

tỉnh Hà Tây cũ) của TS Phan Tân [67] Tác giả sách tuy không trình bày bức

tranh xung đột xã hội ở nông thôn các tỉnh ĐBSH, song tác giả chọn mẫu nghiên cứu là tỉnh Hà Tây cũ, một trong những tỉnh thuộc vùng ĐBSH Tác giả tiếp cận vấn đề xung đột xã hội trên bình diện lý luận rộng, có điểm qua một cách khái quát vai trò đất đai với người dân nói chung, với người nông dân trong vùng qua các thời kỳ lịch sử, từ đó nhìn nhận những vấn đề xã hội hiện nay khi người dân mất đất trong quá trình CNH, HĐH và đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ hiện nay Tác giả sách tiếp cận vấn đề xung đột xã hội dưới góc độ khoa học, chỉ ra bản chất, vai trò, chức năng của xung đột xã hội và phương pháp giải quyết xung đột dưới góc độ lý luận Từ đó nghiên cứu những nảy sinh xung đột xã hội từ các quan hệ đất đai trong xã hội Kết quả nghiên cứu của cuốn sách là tài liệu tham khảo tốt nghi nghiên cứu về sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ và các cấp uỷ đảng địa phương đối với phát triển văn hoá - xã hội không được xem nhẹ những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến quan hệ về đất đai

- Sách: Ứng xử của người dân vùng đồng bằng sông Hồng trong gia đình, Lê

Thị Thanh Hương [33], các tác giả của cuốn sách này làm rõ hàng loạt các mối quan hệ trong gia đình, từ đó đặt vấn đề nghiên cứu việc xử lý các mối quan hệ gia đình thông qua các hình thức và phương pháp ứng xử Các tác giả nhìn nhận mối quan hệ trao truyền các giá trị văn hoá - xã hội giữa các thế hệ trong gia đình, nhất

là thế hệ các ông bà, cha mẹ với con, cháu vùng ĐBSH hiện nay Các tác giả đặt ra vấn đề làm sao để các thế hệ về sao tiếp nhận được những giá trị chuẩn mực của những thế hệ đi trước, nhưng không rơi vào bảo thủ, nệ cổ Đồng thời đặt vấn đề có bình đẳng hay không bình đẳng trong quan hệ giữa ông bà với con cháu, cần hay không cần sự bình đẳng, bình đẳng có tốt hơn không bình đẳng Cuốn sách giúp người đọc nhận diện một vấn đề xã hội rất lớn là các quan hệ trong gia đình hiện đại vùng ĐBSH, vai trò của các quan hệ đó trong cộng đồng, vai trò của gia đình trong tiếp nhận các chính sách văn hoá của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Phát triển gia đình là một trong những nội dung quan trọng của phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH hiện nay, cuốn sách là tài liệu tham khảo tốt nhìn nhận sự tác động chính sách và vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với những vấn đề xã hội không thể xem nhẹ các quan hệ gia đình, nhất là vai trò giáo dục từ trong gia đình

Trang 9

Gia đình là tế bào xã hội, gia đình yên vui, hạnh phúc là nguồn nuôi dưỡng những

thế hệ tương lai khoẻ mạnh về thể chất, lành mạnh về tâm hồn, vì thế sẽ làm cho

toàn xã hội phát triển ổn định Nội dung cuốn sách gợi ý cho tác giả luận án nghiên

cứu đề xuất giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với phát triển văn

hoá - xã hội, có nội dung trọng tâm là lãnh đạo xây dựng, phát triển các gia đình và

các thành viên của nó

- PGS.TS Ngô Ngọc Thắng, Chính sách an sinh xã hội trong bối cảnh tái

cấu trúc mô hình tăng trưởng [71, tr.16-21] Tác giả bài báo khẳng định, Đảng và

Nhà nước ta luôn nhất quán trong quan điểm, đường lối và chính sách xã hội, coi an

sinh xã hội (ASXH) vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định xã hội và phát triển

bền vững đất nước Tác giả cho rằng những chính sách của Đảng và Nhà nước được

triển khai đồng bộ trên 3 phương diện: giúp các đối tượng thụ hưởng khả năng tiếp

cận dịch vụ công cộng; hỗ trợ phát triển sản xuất; phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ

phát triển kinh tế - xã hội

Sau khi khẳng định quan điểm, đường lối nhất quán của Đảng về ASXH, tác

giả xem xét ASXH dưới sự tác động của tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, từ tăng

trưởng theo bề rộng chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên tăng năng

xuất lao động, phát triển khoa học công nghệ Theo tác giả, trong điều kiện tái cấu

trúc mô hình tăng trưởng, đứng trước thách thức: một là, hệ thống chính sách

ASXH chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế thị trường; hai là, những rủi ro về

kinh tế, xã hội, môi trường trong điều kiện tái cấu trúc kinh tế và mô hình tăng

trưởng; ba là, hiện tường già hoá dân số bắt đầu xuất hiện gây áp lực lên hệ thống

an sinh xã hội; bốn là nhận thức của người dân, cơ quan quản lý, cán bộ, đảng viên

chưa đầy đủ về ASXH, một số ASXH mới nảy sinh chưa kịp giải quyết Từ những

lý giải trên tác giả đưa ra các kiến nghị về quan điểm, về giải pháp Nội dung bài

báo có tác dụng giúp nghiên cứu sinh nhận thức sâu sắc hơn vai trò của phát triển xã

hội, trên phương diện ASXH gắn với phát triển kinh tế và văn hoá Sự lãnh đạo của

các cấp uỷ địa phương đối với phát triển văn hoá - xã hội phải chú ý đầy đủ, chu

đáo, sâu sắc vấn đề ASXH

1.2.2.2 Những công trình nghiên cứu về Đảng lãnh đạo phát triển xã hội

- Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX02.21/06-10, Đảng lãnh đạo phát triển

xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới, PGS TS Đinh Xuân Lý [41]

Đề tài gồm 23 bài viết của các tác giả hiện đang công tác ở các trường đại học, học viện và các viện nghiên cứu Nội dung tập trung chủ yếu vào bốn vấn đề chính: Luận cứ của việc nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong quá trình đổi mới; các yếu

tố tác động đến năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội; thực trạng năng lực lãnh đạo của Đảng đối với phát triển

xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới - những vấn đề đặt ra; hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên một số lĩnh vực

Theo các tác giả của đề tài, trong thời đại ngày nay, sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sự hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức,

sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, đã đặt ra nhiều thời cơ phát triển lớn đan xen với những thách thức trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Điều này đòi hỏi các quốc gia, dân tộc trên thế giới phải tỉnh táo, trước mỗi bước đi của mình Nếu xử lý đúng, vượt qua được thách thức thì sẽ tạo ra thời

cơ mới

Đối với Việt Nam, một đất nước đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập, càng đòi hỏi phải chú trọng phát triển xã hội và tăng cường quản lý phát triển xã hội nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa và bền vững Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội được thể hiện thông qua việc hoạch định cương lĩnh, đường lối chiến lược, các định hướng về chủ trương và chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội nhằm đạt tới đời sống vật chất và tinh thần cao đẹp cho nhân dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tuy nhiên đề tài này chưa bàn về những nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quản lý và phát triển xã hội, một vấn đề trọng tâm của đề tài luận án rất cần nghiên cứu, tham khảo và kế thừa Dẫu

Trang 10

sao, những kiến giải của đề tài cũng làm sáng rõ vai trò lãnh đạo của Đảng ta trong

phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội hiện nay

- GS TS Nguyễn Đình Tấn, Sự phát triển nhận thức của Đảng về công

bằng xã hội và xoá đói, giảm nghèo [69, tr.3-7] Tác giả bài báo khoa học đã lược

khảo những quan điểm của Đảng ta qua các đại hội nhiệm kỳ và các Hội nghị Ban

Chấp hành Trung ương xung quanh vấn đề lãnh đạo giải quyết công bằng xã hội và

xoá đói, giảm nghèo, kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay Theo tác

giả, sự phát triển nhận thức của Đảng trong giải quyết công bằng xã hội và xoá đói,

giảm nghèo có sự vận động phát triển gắn liền với những thành tựu của phát triển

kinh tế xã hội đất nước Mục tiêu của chính sách là nhất quán hướng tới công bằng

xã hội, xoá đói giảm nghèo, cùng nhau phát triển để ngày càng giàu có hơn Mục

tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là: tăng trưởng bền

vững, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội Quan điểm về công bằng xã hội và xoá

đói, giảm nghèo của Đảng ta hiện nay, là công bằng không chỉ là các chính sách bảo

đảm công bằng trong phân phối các nguồn lực, mà còn cần có sự công bằng về cơ

hội và điều kiện phát triển Nội dung bài báo bàn về các quan điểm của Đảng trong

lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta hiện nay, dưới góc độ công bằng xã

hội và xoá đói, giảm nghèo đã giúp cho tác giả luận án có cái nhìn sâu sắc hơn về

bản chất chính sách phát triển văn hoá - xã hội của nước ta hiện nay, và do vậy suy

nghĩ sâu hơn về phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH và sự lãnh đạo của cấp

uỷ địa phương thực hiện chính sách bảo đảm công bằng xã hội, xoá đói, giảm nghèo

ở khu vực này

- Hoàng Thị Bích Phương, Thực hiện xoá đói, giảm nghèo bền vững ở tỉnh

Bác Giang (2008-2013) [55] Bài báo tuy không viết về sự lãnh đạo Thực hiện xoá

đói, giảm nghèo bền vững ở một tỉnh nào đó của ĐBSH, song viết về sự lãnh đạo

của Tỉnh uỷ Bắc Giang về vấn đề này Nội dung bài báo đã hệ thống hoá những

quan điểm, chủ trương của đảng bộ tỉnh, của tỉnh uỷ về lãnh đạo Thực hiện xoá đói,

giảm nghèo bền vững ở địa phương, chỉ ra các giải pháp mà Tỉnh uỷ đã xác định

lãnh đạo phát triển vấn đề xã hội này Trên cơ sở quan điểm, chủ trương, giải pháp

lãnh đạo của Tỉnh uỷ và đảng bộ tỉnh, việc xoá đói, giảm nghèo ở Bắc Giang đã đạt

nhiều thành tựu tốt, bền vững Nội dung bài báo cho thấy, tác giả đã nhận thức được vai trò lãnh đạo của đảng bộ tỉnh và của Tỉnh uỷ có tính quyết định thắng lợi xáo đói giảm nghèo ở địa phương Tuy bài báo chưa đi sâu phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ, song cũng có thể thấy tác giả đã đề cập theo hướng đó trong bài báo, đề tài luận án của NCS có thể tham khảo

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN TIẾP TỤC PHẢI GIẢI QUYẾT

1.3.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Qua tổng quan một số công trình nghiên cứu của các tác giả người nước ngoài viết về phát triển văn hoá - xã hội được dịch ra tiếng Việt, NCS nhận thấy, mỗi tác giả thường viết về một số đặc điểm, nội dung nào đó trong số nhiều nội dung về phát triển văn hoá - xã hội theo quan điểm của luận án, ví dụ như viết về môi trường văn hoá, về giáo dục đào tạo về an sinh xã hội ở quốc gia của các tác giả, chưa có tác giả nào nghiên cứu viết về phát triển văn hoá ở Việt Nam nói chung, ở các tỉnh ĐBSH của Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, do ở một số nước, văn hoá đã trở thành một lĩnh vực được đầu tư phát triển trở thành một ngành kinh tế sản xuất các sản phẩm văn hoá để kinh doanh thương mại, nên nhấn mạnh phát triển kinh tế trong văn hoá, còn vấn đề xã hội được xem xét dưới góc độ các thành tựu phát triển của chế độ chính trị, hoặc là những vấn đề chuyên môn sâu của xã hội học như vấn đề phân tầng xã hội, an sinh xã hội… Vấn đề mà luận án của NCS rất cần tham khảo là sự lãnh đạo của các đảng cầm quyền đã lãnh đạo chính trị, hoạc tác động chính trị vào các chính sách phát triển văn hoá - xã hội như thế nào, nhất là các nội dung và phương thức tác động, thì rất ít tác giả đề cập đến, ngoại trừ một luận án tiến sĩ của NCS nước Cộng hoá dân chủ nhân dân Lào năm 2002, vì vậy NCS chưa có thể nghiên cứu, tham khảo được nhiều từ các tác giả nước ngoài nhằm vận dụng cho nội dung luận án

1.3.2 Những công trình nghiên cứu ở trong nước

Trong vòng 15 năm trở lại đây, sau khi Đảng ta ban hành Nghị quyết chuyên

đề về phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tại Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, các cuốn sách, bài báo khoa học viết

Trang 11

về phát triển văn hoá - xã hội, tiêu biểu trong số đó là nhóm các công trình nghiên

cứu của các nhà khoa học thuộc Viện Văn hoá và phát triển thuộc Học viện chinh

trị Quốc gia Hồ Chí Minh và nhóm các tác giả của Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Có những tác giả đã đánh giá khá toàn diện 12 nội dung phát triển văn hoá ở Việt

Nam trong 25 năm đổi mới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tinh thần của

Nghị quyết Trung ương năm khoá VIII về văn hoá, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế trên

từng nội dung, rút ra kinh nghiệm từ chủ trương lãnh đạo của Đảng, chính sách phát

triển của Nhà nước

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở trên không đi sâu nghiên cứu về sự

lãnh đạo của Đảng trong phát triển văn hoá - xã hội, không bàn về những nội dung,

phương thức lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực này Đương nhiên là những công trình

nghiên cứu chuyên sâu của các tác giả về một số Tỉnh uỷ ĐBSH lãnh đạo phát triển

văn hoá - xã hội thì chưa thấy ai đề cập đến Như vậy góc độ nghiên cứu của luận

án do NCS thực hiện vẫn còn rất nhiều khoảng trống phải thực hiện mà chưa có

người đi trước nghiên cứu

Chương 2 CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU

VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

2.1.1 Khái quát về điều kiện địa lý - tự nhiên và kinh tế các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay

* Về điều kiện tự nhiên

Đồng bằng sông Hồng là một trong hai đồng bằng lớn nhất Việt Nam, ở đó

có chín đơn vị hành chính tỉnh, gồm: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình và hai thành phố lớn trực thuộc Trung ương là Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng Diện tích toàn vùng đồng bằng bắc bộ là: 23.336 km2 chiếm gần 7,1% diện tích của cả nước Riêng chín tỉnh đồng bằng sông Hồng có diện tích 16.207,43km2, chiếm gần 69,4% diện tích toàn vùng và chiếm hơn 4,9% diện tích cả nước Dân số chín tỉnh đồng bằng sông Hồng là 9.765.445 người chiếm 22,7% dân số cả nước (Phụ lục số 1) Các tỉnh đồng bằng sông Hồng có vị trí địa - kinh tế và địa - chính trị hết sức quan trọng đối với chiến lược phát triển của đất nước; nơi đây có nguồn tài nguyên khá đa dạng, khí hậu thuận lợi, kết cấu hạ tầng phát triển, hội tụ đầy đủ điều kiện cho phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội trong vùng

Các tỉnh ĐBSH có địa hình đa dạng và phong phú, bao gồm đồng bằng, đồi núi, rừng và biển xen kẽ nhau; là nơi hội tụ và giao thoa giữa vùng Đông Bắc với vùng Tây Bắc, giữa vùng núi phía Bắc với miền Trung; có hệ thống sông ngòi đa dạng chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam ra vịnh Bắc Bộ Một đặc điểm độc đáo về

tự nhiên của các tỉnh ĐBSH là hầu hết các tỉnh (ngoại trừ hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên) đều có đồi núi xen kẽ châu thổ, thung lũng và đầm lầy Đặc điểm địa hình tự nhiên này đã tạo điều kiện thuận lợi để con người khai phá và kiến tạo nên những giá trị văn hoá - xã hội đặc sắc phục vụ nhân sinh

Trang 12

Vùng ĐBSH có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới, nhiệt độ không khí trung

bình năm khoảng 22,5 - 23,5°C, lượng mưa trung bình năm 1400-2000 mm, phù

hợp với việc canh tác lúa nước và các cây công nghiệp ngắn ngày khác như lạc, đậu

tương, ngô… làm cho cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở vùng này khá phong phú, đa

dạng và chất lượng tốt Bên cạnh đó, các tỉnh ĐBSH có mạng lưới sông ngòi dày

đặc, đến mức không có làng quê nào không có một con sông chảy qua; sông ngòi

nhiều, nhưng chế độ thuỷ văn tương đối ổn định nên thuận lợi cho tưới tiêu và nuôi

trồng thuỷ sản

Đất sản xuất nông nghiệp của các tỉnh ĐBSH là nguồn tài nguyên quý giá

được bồi đắp bởi phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Đất đai của

các tỉnh rất thuận lợi cho thâm canh lúa nước, trồng rau, màu và cây công nghiệp

ngắn ngày Theo số liệu điều tra năm 2012, diện tích đất sản xuất nông nghiệp của

chín tỉnh ĐBSH là 11.280,69 km2, chiếm gần 69,5% diện tích đất của các tỉnh (Phụ

lục 6) Quátrình mở rộng diện tích đất nông nghiệp gắn liền với quá trình chinh

phục biển thông qua sự bồi tụ của hệ thống sông và quai đê, lấn biển của nhân dân

trong vùng

Bên cạnh tài nguyên đất nông nghiệp và nước để trồng cấy cây lương thực

và nuôi trồng thuỷ sản, trong lòng đất của các tỉnh nơi đây cũng chứa đựng những

tài nguyên phong phú thuận lợi cho phát triển kinh tế như đất sét đen và đất sét

trắng phục vụ công nghiệp sành, sứ; than nâu với trữ lượng lớn chưa được khai

thác Trên mặt đất có trữ lượng đá vôi lớn (ước tính chiếm gần 5% trữ lượng đá vôi

cả nước) trải dài trên nhiều tỉnh: Quảng Ninh, Hải Dương, Hà Nam, Ninh Bình rất

thuận lợi cho phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng

Các tỉnh ĐBSH có bờ biển kéo dài từ Móng Cái, Quảng Ninh đến Kim Sơn,

Ninh Bình, với bờ biển thoải, rộng, giàu phù sa nên rất thuận lợi cho nuôi trồng,

đánh bắt và chế biến thuỷ, hải sản Bờ biển trong vùng còn có tài nguyên vô giá

khác là cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, tạo nên những danh thắng nổi tiếng như Hạ

Long, Cát Bà, Quan Lạn, Cô Tô, Đồ Sơn rất thuận lợi cho phát triển ngành du

lịch Không chỉ vậy, bờ biển trong vùng còn có các cảng biển nước sâu và cảng

sông an toàn, thuận lợi cho giao thông thuỷ như: Cái Lân, Quảng Ninh; Lạch huyện,

Hải Phòng; Xuân Trường, Nam Định

Các tỉnh đồng bằng sông Hồng được thừa hưởng một vùng đất mầu mỡ, do

hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình chảy theo hướng Tây Bắc - Đông nam ra vịnh Bắc Bộ bồi đắp mà thành, nơi đây cây trái tốt tươi, sản vật dồi dào, cư dân đông đúc, thuần hậu mà can trường Với một vùng châu thổ phì nhiêu xen lẫn núi sông hùng vĩ, nơi đây chẳng những lợi về kinh tế, mà còn dễ cho phòng thủ, thuận

để tấn công, nên từ mấy ngàn năm trước, cha ông ta đã chọn vùng đất này để định

đô dựng nghiệp Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, các tỉnh đồng bằng sông Hồng tiếp tục được hưởng những lợi thế lớn của vùng kinh tế động lực về mọi mặt Hơn nữa, do được bao quanh Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, nên nơi đây rất có điều kiện để phát triển, gìn giữ, bảo tồn và quảng bá các giá trị văn hoá - xã hội giàu bản sắc của dân tộc Việt Nam ra cộng đồng quốc tế

Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của các tỉnh ĐBSH nói trên, địa lý tự nhiên nơi đây cũng tạo ra không

ít những khó khăn cho sự phát triển của vùng như: hệ thống sông ngòi chằng chịt, đồng bằng xen lần đồi, núi, vùng trũng và đầm lầy đã tạo ra sự chia cắt về địa hình, gây khó khăn cho sản xuất hàng hóa nông nghiệp trên quy mô lớn Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên các tỉnh ĐBSH thường xuyên chịu tác động lớn của bão, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân địa phương Theo dự báo quốc tế, các tỉnh ven biển thuộc ĐBSH Việt Nam là một trong những vùng chịu ảnh hưởng lớn của nước biển dâng do biến đổi khí hậu toàn cầu gây nên Hiện tại, về mùa khô, đất sản xuất của các tỉnh ven biển vẫn bị tình trạng xâm nhập mặn đe doạ thường xuyên

Vị trí địa lý và môi trường tự nhiên cũng có những tác động tiêu cực không nhỏ đối với sự phát triển văn hoá - xã hội nơi đây Bão lốc, lũ lụt, ẩm thấp là những yếu tố phá hoại rất nghiêm trọng đối với các công trình văn hoá vật thể trên địa bàn; người ta tính rằng những công trình kiến trúc bằng gỗ nhóm 1, trong điều kiện không bị con người và bão, lũ lụt, động đất phá hoại, cứ sau một trăm năm phải trùng tu lớn và rất khó giữ những công trình đó với độ bền năm trăm năm Sự giao thoa văn hoá giữa các tỉnh đồng bằng sông Hồng (khu vực được xem là “cái nôi” văn hoá dân tộc) với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, với Hà Nội, Hải Phòng

Trang 13

và quốc tế rất mạnh nên việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là việc hết sức khó

khăn Các tệ nạn xã hội và văn hoá xấu độc vốn phát triển mạnh ở các thành phố

lớn như Hà Nội, Hải Phòng đã lan nhanh đến các tỉnh lân cận trong vùng

* Về kinh tế

Về kinh tế, các tỉnh ĐBSH là một vùng kinh tế động lực quan trọng của cả

nước, có đủ các thế mạnh để phát triển cơ cấu ngành kinh tế hợp lý: nông nghiệp;

công nghiệp và xây dựng; du lịch và dịch vụ Nhìn chung nền kinh tế các tỉnh trong

vùng đang được chuyển dịch mạnh từ sản xuất nông nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu

dùng lương thực của địa phương sang sản xuất hành hoá nông nghiệp phục vụ thị

trường trong nước và khu vực; giảm dần tỷ trọng giá trị nông nghiệp, tăng dần tỷ

trọng giá trị công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu thu nhập của các tỉnh

Đi liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, là quá trình chuyển dịch cơ

cấu lao động xã hội, từ lao động làm nông nghiệp là chủ yếu sang lao động làm

công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Những biến đổi lớn trong lĩnh vực kinh tế đã dẫn

tới những biến đổi mạnh mẽ về mặt văn hoá - xã hội ở các làng quê trong vùng

Trong phát triển kinh tế nông nghiệp, các tỉnh ĐBSH có diện tích và tổng sản

lượng lương thực chỉ đứng sau vùng Đồng bằng sông Cửu Long, song là các tỉnh có

trình độ thâm canh và năng suất lao động nông nghiệp thuộc loại cao so với cả

nước Hầu hết các tỉnh ở vùng này, ngoài trồng lúa đều gieo trồng một số cây ưa

lạnh đem lại hiệu quả kinh tế cao như cây ngô đông, khoai tây, su hào, bắp cải, cà

chua và trồng hoa xen canh Hiện nay, vụ đông đã trở thành vụ chính của một số địa

phương trong vùng Với những kinh nghiệm của nhân dân về trồng trọt, chăn nuôi,

nhất là trồng lúa và các chính sách khuyến nông của Đảng và Nhà nước là nhân tố

quyết định giải quyết thành công vấn đề lương thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân

trong vùng và phục vụ xuất khẩu Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng, diện

tích trồng cây lương thực luôn giữ địa vị hàng đầu, chiếm khoảng 57.500 ha Sản

lượng lương thực đạt gần 20% trong tổng sản lượng lương thực toàn quốc Tuy vậy,

do dân số tăng nhanh và mật độ dân số lớn nên việc đảm bảo an ninh lương thực

cho con người và cho các nhu cầu kinh tế khác (phục vụ chăn nuôi, công nghiệp chế

biến v.v…) chưa thật sự vững chắc

Trong phát triển công nghiệp và xây dựng, các tỉnh ĐBSH đã có những bước

phát triển sớm và tăng mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Giá trị

sản xuất ngành công nghiệp và xây dựng tăng đều qua các năm, trọng điểm là công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp cơ khí Sản phẩm công nghiệp quan trọng của vùng là máy công cụ, động cơ điện, phương tiện giao thông, thiết bị điện tử, hàng dệt kim, giấy viết, vật liệu xây dựng Công nghiệp phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành dịch vụ phục vụ phát triển nhanh như: tài chính, ngân hàng, thương mại phục vụ các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội trong vùng

Trong phát triển ngành du lịch và dịch vụ, với những tiềm năng to lớn về cảnh quan thiên nhiên, về các di tích lịch sử, văn hoá của dân tộc, hơn nữa lại bao quanh Thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải phòng nên các tỉnh ĐBSH có thể hình

thành các tuyến du lịch liên vùng Các hoạt động tài chính, ngân hàng, xuất nhập

khẩu, du lịch, thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ của các tỉnh ĐBSH có ảnh hưởng lan tỏa trên phạm vi cả nước, nhất là với các tỉnh phía Bắc Việt Nam Các ngành kinh tế công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, du lịch và dịch vụ trong vùng phát triển mạnh làm cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn các tỉnh ĐBSH diễn ra nhanh chóng hơn các tỉnh khác trong cả nước Cơ sở hạ tầng thiết yếu bảo đảm cuộc sống người dân như: mạng lưới điện phục vụ sinh hoạt

và công nghiệp, hệ thống giao thông quốc gia và đường giao thông nông thôn, hệ thống trường học các cấp, trạm y tế từ nông thôn đến thành thị được xây dựng khá hoàn thiện và đồng bộ Quá trình đô thị hoá đã làm cho khoảng cách phát triển về mọi mặt giữa nông thôn và thành thị trong vùng được rút ngắn đáng kể

Kinh tế trong vùng phát triển đã giúp các tỉnh ĐBSH giải quyết nhiều vấn đề văn hoá - xã hội phức tạp như: người lao động có việc làm và thu nhập ổn định, góp phần đẩy lùi các loại tệ nạn; giáo dục đào tạo và dạy nghề phát triển giúp người lao động có việc làm tốt; sự hưởng thụ và sáng tạo văn hoá của nhân dân không ngừng nảy nở, phát triển, đời sống tâm linh của quần chúng nhân dân càng hướng về cội nguồn, tổ tiên và các bậc thánh nhân có công dựng nước, giữ nước Lời ca, điệu nhạc và các áng văn chương ca ngợi cuộc sống tươi đẹp vang vọng khắp mọi chốn thôn quê và thị thành Tuy nhiên, sự phát triển nói trên cũng đang đặt ra nhiều thách thức đối với năng lực lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội của đội ngũ cán bộ các

Trang 14

tỉnh ĐBSH, nhất là lãnh đạo bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa - xã

hội; lãnh đạo phòng, chống các tệ nạn văn hoá - xã hội, giữ vững an ninh, trật tự và

an toàn xã hội Sự chuyển đổi mô hình kinh tế, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế

về nhiều mặt đã tạo nên sự đứt gãy các giá trị văn hoá: giữa truyền thống và hiện

đại, giữa giữ gìn bản sắc và hội nhập Quan niệm về các chuẩn giá trị trong xã hội

cũng có nhiều thay đổi, cùng với những thay đổi trong đời sống kinh tế

2.1.2 Văn hoá - xã hội và những đặc điểm văn hóa - xã hội các tỉnh đồng

bằng sông Hồng hiện nay

2.1.2.1 Khái niệm văn hoá - xã hội

* Khái niệm văn hoá

Định nghĩa về văn hoá, Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng: “Văn hoá là

toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một dân

tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước”

[102, tr.798] Theo Hồ Chí Minh:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo

và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn

giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về

mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát

minh đó tức là văn hóa Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức

sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm

thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn [46, tr.431]

Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, ông Mayor (F.Mayor) đưa ra một khái

niệm về văn hoá vừa có tính khái quát, vừa có tính đặc thù: "Văn hoá bao gồm tất

cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi

hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [102,

tr.798] Khái niệm này được cộng đồng quốc tế công nhận tại Hội nghị liên chính

phủ về các chính sách văn hoá tại Vơnidơ (Venníe, 1970) Như vậy, văn hóa bao

gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm mục đích phục

vụ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng loài người Văn hoá biểu hiện trong lý

tưởng sống, trong thế giới quan và nhân sinh quan, trong tổ chức cuộc sống, trong

lao động và đấu tranh của con người Văn hoá thể hiện sống động và cụ thể trong

các công cụ sản xuất; trong các sản phẩm lao động và hàng hoá; trong phương thức sản xuất; trong các thể chế chính trị, xã hội; trong phong tục tập quán và quan hệ giao tiếp giữa người với người; trong trình độ học vấn, khoa học kỹ thuật và công nghệ; trong sáng tạo và thưởng thức văn học, nghệ thuật Có thể nói văn hóa là

"thiên nhiên thứ hai" do con người tạo ra để phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển của chính con người

Nhìn một cách khái quát, văn hóa là khái niệm chỉ thuộc tính sáng tạo của

con người trong quá trình cải tạo tự nhiên để sáng tạo ra "thiên nhiên" thứ hai cho mình, nhờ đó con người vươn tới các giá trị nhân văn cao đẹp Văn hoá là dấu hiệu

để phân biệt loài người với loài vật, cá nhân này với cá nhân khác, cộng đồng này với cộng đồng khác Đồng thời đây cũng là khái niệm để chỉ chất lượng và trình độ cuộc sống của con người Tuỳ theo các hướng và mục đích tiếp cận khác nhau,

người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn hoá và diễn giải nhận thức về văn hoá vô cùng đa dạng, phong phú như chính sự phong phú phức tạp của văn hoá, tuy vậy, nguồn gốc và bản chất của văn hoá luôn là thống nhất

Bản chất của văn hóa chính là lao động sáng tạo nhằm cải tạo thế giới khách quan để hướng tới các giá trị nhân văn, hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp Thông qua lao động sáng tạo mà loài người đã tạo nên những thành tựu vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của loài người Trong tác phẩm “Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người”, Ph.Ăngghen nhận xét:

Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cái cung cấp những vật liệu cho lao động biến thành của cải Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người [45, tr.641]

Người còn cho rằng:

Bàn tay không chỉ là những khí quan của lao động, mà còn là sản phẩm của lao động nữa Chỉ nhờ có lao động, nhờ thích ứng được với những động tác ngày càng mới, nhờ sự di truyền của sự phát triển đặc biệt đã đạt được bằng

Trang 15

cách đó của các cơ, của các gân và sau những khoảng thời gian dài hơn, của

cả xương nữa và cuối cùng, nhờ luôn luôn áp dụng lại sự tinh luyện thừa

hưởng được đó vào những động tác mới, ngày càng phức tạp hơn, mà bàn

tay con người mới đạt được trình độ hoàn thiện rất cao khiến nó có thể, như

một sức mạnh thần kỳ, sáng tạo ra các bức tranh của Raphaen, các pho

tượng của Tovanxen và các nhạc điệu của Paganini [45, tr.643]

Sự phát triển của lao động đòi hỏi phải gia tăng các mối quan hệ giao tiếp

trong xã hội Nhu cầu giao tiếp xã hội đòi hỏi con người "phải nói với nhau một cái

gì đấy" và luyện tập cách phát âm ra những âm vận nối tiếp nhau Đó chính là

nguồn gốc của ngôn ngữ Theo Ph.Ăngghen: "Trước hết là lao động, sau lao động

là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn,

làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người" [45, tr.646] Ông

so sánh phương thức kiếm sống của loài vượn với lao động xã hội của loài người:

"Đàn vượn chỉ biết ăn hết sạch lương thực sẵn có trong khu vực mà điều kiện địa lý

hoặc là sự kháng cự của đàn vượn bên cạnh đã hạn định cho chúng" [45, tr.647]

Điều đó có nghĩa là loài vượn không tự tạo ra thức ăn (như chăn nuôi hay trồng trọt)

mà chỉ ăn những thức ăn sẵn có trong tự nhiên Từ đó Ph.Ăngghen rút ra nhận định

quan trọng: "Nhưng tất cả những cái đó vẫn chưa phải là lao động, theo đúng nghĩa

của nó Lao động bắt đầu với việc chế tạo ra công cụ" [45, tr.648]

Như vậy, lao động của con ngời là lao động sáng tạo Nhờ có sự sáng tạo mà

con người mới tạo ra cái mới trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần đáp ứng

nhu cầu ngày càng cao của con người Tuy nhiên không phải sự sáng tạo cũng đều

là sản phẩm văn hóa Chỉ có sự sáng tạo vươn tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp, vươn

tới các giá trị nhân văn thúc đẩy sự tiến bộ xã hội mới trở thành văn hóa Còn những

sáng tạo chống lại con người, huỷ diệt con người, làm tha hóa nhân cách, đạo đức

và lối sống của con người là những sáng tạo phản văn hóa Phát hiện ra năng lượng

hạt nhân là thành tựu khoa học công nghệ vĩ đại của nhân loại, là văn hoá; nhưng

ứng dụng năng lượng hạt nhân để chế tạo ra bom hạt nhân huỷ diệt con người là

phản văn hoá, phản phát triển, là tội ác ghê tởm phải bị cấm vĩnh viễn

Văn hoá có mối quan hệ sâu rộng đối với tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội

như: chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo, dân tộc…Văn hoá

là sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người trong xã hội, những sản phẩm văn hoá, đến lượt nó cấu thành xã hội có văn hoá Trong mối quan hệ với chính trị, chừng nào xã hội còn giai cấp và đấu tranh giai cấp, thì văn hoá trong xã hội có giai cấp cũng có tính giai cấp Văn hoá của giai cấp thống trị (thuộc về một hình thái kinh tế xã hội nào đó), sẽ là văn hoá đặc trưng cho xã hội đó Những giá trị văn hoá chính thống do giai cấp thống trị bảo vệ và phát triển, sẽ thực hiện những chức năng vốn có của nó để làm nên tính chất, đặc trưng, diện mạo và bản sắc của nền văn hoá Khi bàn về xây dựng nền văn hoá dân tộc Việt Nam trong tương lai, Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện:

Năm điểm lớn xây dựng nền văn hoá dân tộc

1- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập, tự cường

2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng 3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội

4- Xây dựng chính trị: dân quyền 5- Xây dựng kinh tế [46, tr.431]

Nền văn hoá đó, theo tư tưởng của Người, văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi, văn hoá có liên hệ rất mật thiết với chính trị, phải làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi tầng lớp nhân dân, trở thành cội nguồn sức mạnh của quốc dân, văn hoá phải trở thành bảo vật để giữ nước và dựng nước; văn hoá còn, thì nước còn, văn hoá mất thì nước mất

Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII về xây dựng

và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998), Đảng

ta chủ trương xây dựng một nền văn hoá bao gồm toàn bộ các hoạt động tinh thần của xã hội, từ tư tưởng, đạo đức, lối sống tới văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giáo dục - đào tạo; khoa học - công nghệ; bảo tồn di sản văn hóa; phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; xây dựng môi trường văn hóa; chính sách văn hoá đối với tôn giáo; mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá; xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá [13, tr.58-68] Đây là những lĩnh vực góp phần tạo nên nền tảng tinh thần

xã hội, là động lực phát triển bền vững đất nước

Trang 16

Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII,

Tại Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát

triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

(6-2014), sau khi đánh giá những thành tựu và hạn chế của sự nghiệp xây dựng và

phát triển văn hoá, con người Việt Nam những năm đã qua, Đảng ta chỉ rõ mục tiêu

xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam hiện nay là:

Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện,

hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn dân

chủ và khoa học Văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc

của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền

vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

dân chủ, công bằng, văn minh [22, tr.46-47]

Về nhiệm vụ phát triển văn hoá, con người Việt Nam hiện nay, Đảng ta xác

định sáu nội dung sau đây: 1) Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện;

2) Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh; 3) xây dựng văn hoá trong chính trị và

kinh tế; 4) Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hoá; 5) phát triển công

nghiệp văn hoá đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hoá; 6) Chủ động hội

nhập quốc tế về văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại [22, tr.49-57]

* Khái niệm xã hội

Định nghĩa về xã hội có nhiều cách diễn giải khác nhau, song xã hội hiểu

theo nghĩa chung nhất và rộng nhất là “toàn bộ các hình thức hoạt động chung của

con người đã hình thành trong lịch sử” [102, tr.965] Người ta thường dùng khái

niệm xã hội để chỉ một tập đoàn người, cấu thành bởi những cá nhân với các mối

quan hệ lẫn nhau hết sức phức tạp, biểu hiện ra như một hiện thực tồn tại của những

thành viên của nó Xã hội cũng được hiểu là một môi trường hoạt động của con

người mà những cá nhân hoà nhập vào đó, môi trường ấy gồm toàn bộ các lực

lượng có tổ chức, các thiết chế tổ chức vận hành theo những nguyên tắc nào đó, vẫn

hàng ngày tác động lên mỗi cá nhân Hiểu theo nghĩa như vậy, khái niệm xã hội đối

lập lập với khái niệm cá nhân; cũng như khái niệm sống trong xã hội đối lập với

khái niệm sống đơn độc

Nói một cách khác, xã hội theo nghĩa rộng là khái niệm chỉ tất cả những gì

liên quan đến con người, đến xã hội loài người, nhằm phân biệt nó với thế giới tự

nhiên Học thuyết Mác - Lênin coi xã hội không phải là tổng số các cá nhân mà là toàn bộ các quan hệ xã hội giữa các cá nhân tạo nên cộng đồng xã hội Xã hội, vì vậy, bao gồm tất cả các hoạt động của con người, của xã hội loài người trong kinh

tế, trong chính trị, trong văn hóa và trong tư tưởng Đây là khái niệm chỉ cái chung, cái tổng thể, bao quát và xuyên suốt tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người Xã hội hiểu theo nghĩa rộng sẽ bao hàm trong đó cả những vật thể tự nhiên đã được con người cải tạo, biến đổi Đất đai, sông ngòi, rừng biển vốn là vật thể tự nhiên được con người tác động cải tạo, khai thác sử dụng, chiếm hữu đã trở thành một phần không thể thiếu của xã hội loài người

Xã hội hiểu theo nghĩa hẹp là là khái niệm chỉ một loại hệ thống xã hội cụ

thể nào đó trong lịch sử, một hình thức nhất định của các quan hệ xã hội, là một xã hội ở vào trình độ phát triển nhất định trong lịch sử, như xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản, xã hội xã hội chủ nghĩa Hiểu theo nghĩa này, xã hội đồng nhất với khái niệm hình thái kinh tế xã hội (HTKTXH) [102, tr.964]

Quan niệm về xã hội theo nghĩa hình thái kinh tế xã hội thể hiện rõ trong đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định:

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân

giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới [21, tr.70]

* Khái niệm văn hoá - xã hội

Khái niệm văn hoá và xã hội như đã trình bày là những khái niệm có nội hàm phong phú, có tính độc lập với nhau Tuy vậy, trên thực tế văn hoá và xã hội là những khái niệm chỉ có tính độc lập tương đối; những vấn đề văn hoá và xã hội gắn

bó hết sức chặt chẽ với nhau, là nhân quả của nhau Con người chỉ có thể sáng tạo các giá trị văn hoá trong xã hội, các giá trị văn hoá trở thành một bộ phận tất yếu

Trang 17

cấu thành xã hội, trở thành thước đo sự phát triển của xã hội Ở chiều ngược lại, con

người sở dĩ là người bởi họ kết thành xã hội, xã hội nâng đỡ và nuôi dưỡng sự sáng

tạo văn hoá của con người Những vấn đề văn hoá và xã hội luôn gắn bó chặt chẽ

với nhau, có quan hệ nhân quả và tuỳ thuộc lẫn nhau Vì vậy, khi diễn đạt những

vấn đề văn hoá và xã hội người ta dùng gạch nối giữa hai khái niệm này (văn hoá -

xã hội) để diễn đạt một nội dung xã hội phong phú hơn, đó là một xã hội cụ thể, đặc

thù có sự thống nhất và không thể tách rời lẫn nhau giữa hai mặt văn hoá và xã hội

Bản chất của một chế độ xã hội được thể hiện trên mặt văn hoá - xã hội của nó

Không thể nói một chế độ xã hội tốt đẹp, nếu xã hội đó đầy rẫy bất công, bạo lực,

mất dân chủ và văn hoá suy đồi Từ những diễn giải nói trên về văn hoá, xã hội và

mối quan hệ giữa chúng, khái niệm văn hoá - xã hội nêu trong luận án được hiểu:

Là thuật ngữ phản ánh xã hội Viêtn Nam thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội, trong đó các tầng lớp nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đang không

ngừng lao động sáng tạo, thụ hưởng, bảo tồn và tái tạo những giá trị văn hoá làm

nên diện mạo của xã hội ViêtNam hiện đại; đồng thời, bằng những hoạt động sống

thiết yếu của con người có văn hóa, nhân dân ta đang nỗ lực bảo đảm cho xã hội

phát triển ổn định, nâng đỡ, khuyến khích các sáng tạo văn hóa nhiều hơn nữa Văn

hoá - xã hội mà luận án đề cập là văn hoá - xã hội ở nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, thuộc Hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa, ở vào giai đoạn đầu của

thời kỳ quá độ, với những nội hàm lớn như đã dẫn ở trên Tuy nhiên, đi vào cụ thể,

nội dung khái niệm đó bao gồm: hoạt động sáng tạo các giá trị văn hoá của các tầng

lớp nhân dân trong lao động sản xuất; trong sinh hoạt cộng đồng; trong đấu tranh

chống thiên tai, địch hoạ; trong hoạt động chính trị - xã hội; trong đời sống tâm

linh… Cùng với quá trình lao động sáng tạo, bảo tồn và phát triển các giá trị văn

hoá, các tầng lớp nhân dân cũng không ngừng chăm lo, gìn giữ những điều kiện bảo

đảm cho đời sống của mình diễn ra bình yên, hạnh phúc, đó là các hoạt động: duy

trì nòi giống, xây dựng gia đình và nuôi dạy con cái; xoá đói, giảm nghèo và khắc

phục những bất bình đẳng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ sức khoẻ cộng

đồng; chống mất an toàn nhân mạng trong lao động, trong giao thông, trong sinh

hoạt… Tất cả những hoạt động đó của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản Việt Nam, cấu thành nội hàm của khái niệm văn hoá - xã hội

2.1.2.2 Đặc điểm văn hoá - xã hội các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Nhân dân ở các tỉnh ĐBSH giàu truyền thống yêu nước, mưu trí, dũng cảm trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, địch hoạ, đồng thời cũng rất cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất xây dựng quê hương, đất nước hoà bình Với truyền thống bất khuất đó, trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc (sau Công nguyên), nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân các tỉnh ĐBSH nói riêng, luôn vùng lên đấu tranh giành độc lập, không cam chịu để các thế lực phong kiến Phương Bắc thực hiện âm mưu thôn tính, đồng hoá và biến nước ta thành quận, huyện của chúng Với chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, quân dân ta đã chấm dứt ách đô hộ một ngàn năm của các thế lực phong kiến Phương Bắc, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập Kể từ đó về sau, nhân dân Việt Nam còn phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng đất nước khỏi hoạ ngoại xâm của phong kiến Phương Bắc, nhưng đó là thời kỳ đấu tranh nhân dân ta đã có nhà nước phong kiến tập quyền, bảo vệ độc lập, chủ quyền của quốc gia, dân tộc

Bước vào thời kỳ lịch sử cận đại và hiện đại, Việt Nam nói chung, trước hết

là vùng ĐBSH nói riêng, lại hứng chịu âm mưu thôn tính của chủ nghĩa thực dân,

đế quốc Phương Tây Các giáo sĩ Phương tây đi tiên phong mở mang “nước chúa” của họ vào Việt Nam, điểm đặt chân đầu tiên là các tỉnh đồng bằng sông Hồng Đi theo sau các giáo sĩ là những tên đế quốc thực dân nhòm ngó lãnh thổ, toan tính âm mưu xâm lược, biến nước ta thành thuộc địa của chúng Những diễn biến lịch sử diễn ra trên đất nước ta trong suốt thế kỷ XIX, đến nửa sau của thế kỷ XX đã minh chứng rất rõ những mưu toan nói trên của chủ nghĩa đế quốc thực dân cũ và mới Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 là một đòi hỏi tất yếu của lịch sử Việt Nam hiện đại, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam khỏi ách áp bức, xâm lược của chủ nghĩa thực dân - phong kiến cũ và mới Đảng Cộng sản Việt Nam đã khơi dậy, tiếp nối và phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập tự do và thống nhất tổ quốc, đưa cả nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa Những bản hùng ca bất tử về chiến tranh chống

Trang 18

ngoại xâm của quân, dân Việt Nam trong suốt thiên niên kỷ thứ hai, chủ yếu diễn ra

ở khu vực ĐBSH Đặc điểm lịch sử nổi bật đó của các tỉnh ĐBSH chi phối mạnh

mẽ những đặc điểm văn hoá - xã hội của vùng đất này

Các tỉnh ĐBSH được xem là “cái nôi văn hoá” của dân tộc Việt Nam từ ngàn

xưa Trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển của vùng đất này, đời sống văn

hoá - xã hội của nhân dân được nuôi dưỡng và phát triển bởi hai dòng chảy chủ đạo

của lịch sử Việt Nam, đó là lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, chống thiên tai, địch

hoạ và lịch sử xây dựng quê hương đất nước hoà bình, khẩn hoang, mở mang bờ cõi

Thực tiễn lịch sử xã hội nói trên đã chi phối, tác động và để lại trong đời sống văn

hoá - xã hội hiện tại của nhân dân các tỉnh ĐBSH một số đặc điểm chủ yếu sau:

Một là, nhân dân các tỉnh ĐBSH có đời sống tinh thần gắn bó sâu nặng với

văn hoá làng, xã

Trong đời sống xã hội Việt Nam cổ truyền, làng có vị trí quan trọng đặc biệt:

làng là đơn vị cơ bản hình thành nên quốc gia dân tộc Nước (quốc gia) chỉ là tổng

số, là kết quả của sự liên kết các làng xã Làng “Là một đơn vị xã hội của văn hoá

Việt Nam, làng của người Việt là một môi trường văn hoá Ở đó, mọi thành tố, mọi

hiện tượng văn hoá được sinh thành phát triển, lưu giữ và trao truyền tới mọi cá thể”

[113, tr.47] Làng xã có vai trò gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc Các

nhà khoa học, văn hoá học và xã hội học đều thống nhất nhận định: làng, xã ở Việt

Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước, bảo vệ sự

trường tồn của dân tộc Việt trước âm mưu thôn tính, đồng hoá của các thế lực ngoại

xâm Còn làng thì còn nước, khi mất nước, nhưng vẫn giữ được làng thì sẽ còn cơ

hội để để giành lại nước Cái hồn của làng Việt Nam là văn hoá làng xã, tiêu biểu là

văn hoá làng xã vùng ĐBSH Các nhà khoa học cho rằng: “Văn hoá làng có thể

hiểu một cách khái quát nhất là bản sắc riêng của làng, là toàn bộ cuộc sống của

làng, với những đặc điểm mang tính truyền thống từ ăn, ở, đi lại, mọi hoạt động,

cách tổ chức, những quy ước, lối ứng xử, những phong tục tập quán, tôn giáo, tín

ngưỡng cho đến cả tâm lý của mọi thành viên trong làng với những đặc điểm riêng

của nó” [27, tr.75] Trên cơ sở quan niệm như vậy, các nhà khoa học cũng chỉ ra ba

đặc trưng quan trọng của văn hoá làng xã vùng ĐBSH là: “văn hoá vùng nông

nghiệp trồng lúa nước; có tính cố kết cộng đồng từ trong gia đình, làng xã đến vùng,

miền và cả nước; có tính dân chủ và tính tự chủ” [27, tr.77-90] Bản sắc văn hoá làng xã Việt Nam là yếu tố cơ bản của bản sắc văn hoá Việt Nam mà cội rễ là văn hoá làng xã vùng ĐBSH Vì vậy có thể nói, cái nôi văn hoá làng xã Việt Nam từ ngàn xưa đến nay chính là khu vực ĐBSH

Làng là không gian sống của người nông dân (chủ nhân chính của các làng)

từ lúc chào đời cho đến khi đi vào cõi vĩnh hằng Đã là người dân của làng, thì dù sống ở làng, hay sống nơi phố thị, những hình ảnh thân thuộc về làng như: cổng chùa, ngôi đình, cây đa, bến nước, dòng sông và luỹ tre xanh luôn in đậm trong tâm trí mỗi người dân vùng này Bởi thế, những dịp lễ hội quan trọng nhất trong năm như: Tết Nguyên đán, Tết độc lập (Quốc khánh 2-9) và tiệc làng, người dân vùng này không quên về với làng của mình

Làng được xem là một không gian văn hoá - xã hội ở nông thôn các tỉnh ĐBSH, trong mỗi làng, người dân có nghĩa vụ đóng góp xây dựng và được hưởng chung các thiết chế văn hoá làng như: chùa làng, đình làng, đền và miếu thờ thần, hương ước, lệ làng Chùa làng là nơi người dân trong làng lên chùa lễ phật những ngày mồng một và ngày rằm hàng tháng, nhằm thoả mãn những nhu cầu tâm linh

mà không nhất thiết phải là phật tử Đình làng vừa để dân làng thờ vọng các vị thần, vừa làm công sở của chính quyền phong kiến xưa, đồng thời là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng: hội họp, tổ chức các lễ hội truyền thống, biểu diễn văn nghệ và vui chơi giải trí hàng ngày của nhân dân Trong sách Việt Nam phong tục, nhà văn hoá Phan Kế Bính cho rằng:

Mỗi làng phụng thờ một vị Thành hoàng, có làng thờ hai, ba vị, có làng

thờ năm, bảy vị, tức gọi là Phúc thần, Phúc thần chia làm ba hạng: 1) Thượng đẳng thần; 2) Trung đẳng thần; 3) Hạ đẳng thần Thượng đẳng

thần là những thần Danh sơn Đại xuyên và các bậc thiên thần như Đổng

Thiên Vương, Sóc Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh các vị ấy

có sự tích linh dị mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, nên gọi là Thiên

thần Hai là các vị Nhân thần như là Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,

v.v Các vị này khi sinh tiền có đại công lao với dân, với nước lúc mất

đi, hoặc bởi nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ, hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ

Trang 19

Trung đẳng thần là những vị thần dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà

không rõ công trạng, hoặc có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc những

thần có chút linh dị thì triều đình cũng liệt vào tự điển mà phong làm

Trung đẳng thần Hạ đẳng thần là những thần dân xã thờ phụng mà

không rõ sự tích làm sao, nhưng cũng thuộc bậc chính thần thì triều đình

cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần [10, tr.85-86]

Làng thờ thần phải có đình và miếu Miếu là nơi thần ngự hàng ngày, đặt ở

nơi yên tĩnh, linh thiêng; đình là nơi dân thờ vọng các vị thần, thường được đặt ở

trung tâm của làng để tiện cho sinh hoạt Đến ngày tiệc của làng, dân làng rước các

linh vị thần từ miếu ra đình, hết tiệc, rước ngược lại Hầu hết các đình, miếu ở các

tỉnh ĐBSH đều thờ Phúc thần

Mỗi làng thường có cổng làng, sau cổng làng là một không gian văn hoá

trọn vẹn, ở đó chứa đựng những giá trị văn hoá hết sức sâu sắc của người Việt từ

bao đời nay Ngày nay, do quy mô dân số tăng cao, các xóm trong làng xưa kia

được nâng lên thành thôn, mỗi thôn có trưởng thôn, chi đoàn thanh niên cộng sản

Hồ Chí Minh, chi hội phụ nữ, chi hội cựu chiến binh, chi hội Mặt trận tổ quốc

Việt Nam thôn đóng vai trò cánh tay nối dài của chính quyền, Mặt trận tổ quốc

và các đoàn thể chính trị xã hội xã, thị trấn; nhưng làng thì không thể phân chia

được, bởi dân của một làng có chung chùa thờ phật, miếu, đình thờ thánh đã đi

vào tâm thức người dân Muốn lập làng mới, được nhân dân thừa nhận thì không

thể thiếu không gian văn hoá làng Tuy nhiên, hiện tại đã có nhiều đơn vị dân cư

phát triển thành quy mô các làng, ở đó có các nhà văn hoá thôn, nhưng nhà văn

hoá thôn vẫn chưa khoả lấp được sự trống vắng của không gian văn hoá làng

mang tính bản sắc ở các tỉnh ĐBSH

Hai là, nhân dân các tỉnh ĐBSH có truyền thống hiếu học, tôn vinh những

người có học thức, khoa bảng và tài năng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc

Trong xã hội hiện đại, việc học tập cho mỗi người dân là công việc không

chỉ của người dân mà còn là công việc của Nhà nước và toàn xã hội Học tập đã trở

thành một quyền, một nghĩa vụ, một nhu cầu bức thiết của mỗi người dân để phát

triển xã hội Đối với nhân dân các tỉnh ĐBSH, từ bao đời nay, người dân luôn coi

trọng sự học và tôn vinh những người có khoa bảng, thực tài Ở nhiều làng quê các tỉnh ĐBSH, có những dòng họ đời nối đời sinh ra những người tài danh, đỗ đạt, cống hiến lớn cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước Nhân dân thường ghi nhớ công đức của các vị khoa bảng bằng việc lập đình, đền, miếu thờ Ví dụ: làng Quan

Tử, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc lập đền thờ Đỗ Khắc Chung, một nhà giáo đã từng dạy học cho các Hoàng tử và nhiều thế hệ con em dân làng thành đạt

Ở Làng Vũ Thành, xã Thái Hưng, huyện Thái Thuỵ tỉnh Thái Bình có đình Đoài thờ Thành hoàng làng là ông Bùi Công Đán Thần phả chép, ông đỗ tiến sĩ thời vua Huệ Tông nhà Lý, từng làm đến chức tham tri bộ lễ đời nhà Trần Ông có công lớn với làng, nước nên được vua ban cho dân làng lập đình thờ để ghi nhớ công đức Làng Bảo Tháp, xã Đông Cừu, huyện Gia Bình, tỉnh Băc Ninh lập đền thờ Lê Văn Thịnh, quan Trạng thời Lý (1050) Ông là một nhà khoa bảng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, có tài năng lớn, được triều đình Nhà Lý thăng tới chức Thái sư

Trong các họ tộc, gia phả và nhà thờ họ luôn dành những nơi trang trọng nhất để vinh danh tài năng, công đức của những người có học thức, khoa bảng nhằm nêu gương cho con cháu noi theo Những dòng họ chưa có điều kiện xây nhà thờ họ, thì việc thờ cúng tổ tiên đặt tại nhà trưởng họ, song xu hướng chung là xây nhà thờ họ để tiện việc thờ phụng, cất giữ tộc phả và tiến hành các nghi lễ quan trọng của họ Ngày nay, ở nhiều họ tộc, nhà thờ họ được chọn làm nơi tổ chức hội nghị khuyến học, khuyến tài; nơi tôn vinh những người trong họ có học vấn, tài năng đóng góp cho quê hương, đất nước Có thể nói, hầu hết các dòng họ lớn thuộc các tỉnh ĐBSH hiện nay đều có nhà thờ của dòng họ mình

Ba là, các thiết chế văn hoá ở các tỉnh ĐBSH có sự bảo tồn, phát triển và thích ứng nhanh với yêu cầu phát triển hiện đại

Là vùng đất giàu truyền thống văn hoá, các tỉnh ĐBSH đã sớm có chủ trương bảo tồn và phát triển các thiết chế văn hoá cho phù hợp với yêu cầu của thời

kỳ mới Các công trình văn hoá tiêu biểu ở khắp các làng quê như đền, miếu, đình, chùa, nhà thờ họ, văn bia, phả hệ, sắc phong của các đời vua cho các vị thánh, thần được chính quyền địa phương tạo điều kiện để nhân dân khôi phục, tôn tạo, giữ gìn Mặt khác, không ít các làng quê khôi phục lại và bổ sung, phát triển các

Trang 20

hương ước của làng cho phù hợp với luật pháp và nếp sống hiện đại Nhiều lễ hội

truyền thống có ý nghĩa văn hoá - lịch sử được phục hồi, tạo điều kiện phát triển

đúng hướng như: lễ hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương), lễ hội chùa Yên Tử (Quảng

Ninh), lễ hội đền Tây Thiên (Vĩnh Phúc), lễ tịch điển (Nam Định), hội Lim (Bắc

Ninh), lễ hội Phủ Dầy (Nam Định) Những giá trị văn hoá phi vật thể như: ca,

múa, nhạc dân tộc được sưu tầm, phục dựng, khuyến khích phát triển Có những

dân ca và điệu múa được công nhận ở tầm quốc tế như: dân ca Quan họ ở Bắc Ninh,

hát múa cửa đình (hát trống quân) ở Vĩnh Phúc, Ca trù, hát Xẩm ở Nam Định, Ninh

Bình Cùng với việc phục dựng, bảo tồn vốn văn hoá cổ để lại, hiện tại các tỉnh

ĐBSH đã đầu tư xây dựng mạng lưới các nhà văn hoá, thư viện ở cơ sở; các bảo

tàng, nhà truyền thống, nhà hát, rạp chiếu phim ở các trung tâm thị trấn, thị xã,

thành phố trực thuộc tỉnh Tương xứng với những vốn văn hoá cổ được bảo tồn và

những cơ sở văn hoá mới được xây dựng, chính quyền địa phương các cấp cũng

chú trọng đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ, nhân viên vận hành các thiết chế văn

hoá đó một cách hiệu quả Có thể nói, quá trình bảo tồn và phát triển các giá trị văn

hoá vật thể và phi vật thể ở các tỉnh ĐBSH là nhanh chóng, mau lẹ, phù hợp với yêu

cầu sáng tạo và thụ hưởng văn hoá của các tầng lớp nhân dân

Bốn là, sự du nhập và phát triển tôn giáo trong các cộng đồng dân cư hoà

đồng, ít xảy ra xung đột

Các tỉnh ĐBSH là nơi sớm du nhập và trở thành trung tâm của hai tôn giáo

lớn nhất Việt Nam là Phật giáo và Thiên chúa giáo Theo lịch sử phật giáo Việt

Nam, trong các năm từ 168 - 189 (sau Công nguyên), Khâu Đà La đến giảng đạo ở

Luy Lâu (thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay), là trị sở của quận

Giao Chỉ lúc bấy giờ “Chùa Dâu nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu,

được xây dựng từ năm 187 đến năm 226 thì hoàn thành Đây là ngôi chùa lâu đời

nhất, gắn với lịch sử Phật giáo Việt Nam” [37, tr.364] Từ thế kỷ X, XI, XII, Phật

giáo được các triều Đinh, tiền Lê, Lý, Trần coi là quốc đạo, giới tăng, lữ Phật giáo

được trọng vọng Vua Trần Nhân Tông (thế kỷ XIII) còn sớm xuất gia tu hành để

sáng tạo một dòng phật giáo mới của người Việt, Phật giáo Trúc lâm Yên tử Có thể

thấy, Bắc Ninh và các tỉnh thuộc ĐBSH, từ rất sớm trong lịch sử nước ta, đã du

nhập và trở thành trung tâm phật giáo Việt Nam

Thiên chúa giáo du nhập vào nước ta theo bước chân của các giáo sĩ Phương Tây từ thế kỷ XVI, “cứ trong quốc sử chép thì đời Nguyên Hoà, nguyên niên nhà

Lê (1523), người nước Hà Lan tên là I Nê Khu, mới bắt đầu đến các địa phương Nam Chân, Giao Thuỷ (thuộc tỉnh Nam Định) giảng đạo thiên chúa” [10, tr.85-86]

Kể từ đó, các tỉnh Nam Định, Ninh Bình đã tiếp cận đạo Thiên chúa và sớm trở thành trung tâm của đạo này ở Việt Nam

Việc theo hay không theo một tôn giáo nào đó trong các tầng lớp nhân dân các tỉnh ĐBSH là hoà đồng, không có kỳ thị, xung đột Ở các tỉnh có đông đồng bào theo đạo thiên chúa giáo như Nam Định, Ninh Bình, có những làng tôn giáo toàn tòng, nhưng cũng có không ít các làng người theo đạo Thiên chúa giáo và người không theo đạo sống xen lẫn nhau Người theo đạo Thiên chúa giáo phải tuân theo giáo lý, giáo luật chặt chẽ; song với phật giáo, ngoài những tăng ni tu hành ở chùa, người theo hay không theo phật giáo không có ranh giới rõ ràng Là người dân, ai cũng có thể lên chùa lễ phật như một nét văn hoá tâm linh, mà không nhất thiết phải

là phật tử hiểu giáo lý, giáo luật nhà phật Đối với các tôn giáo khác, việc người dân theo một tôn giáo nào đó (trong số những tôn giáo được Nhà nước công nhận) là tự nguyện và việc riêng của họ, những người không theo tôn giáo đều tôn trọng và ủng

hộ Tuy nhiên, cũng có những thời kỳ lịch sử, do các thế lực phản động thực hiện

âm mưu gây chia rẽ giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nên ở thời kỳ đó đã có những căng thẳng nhất định trong các cộng đồng dân cư

Năm là, các tỉnh ĐBSH là một trong những địa phương có nhiều lễ hội dân gian và lễ hội truyền thống nhất cả nước

Ngoài những ngày lễ mà nhân dân cả nước tổ chức kỷ niệm trọng thể như: ngày Giỗ tổ 10-3 âm lịch, ngày Quốc khánh 2-9, ngày Quốc tế lao động 1- 5, nhân dân các tỉnh ĐBSH còn có nhiều lễ hội mang tầm cỡ khu vực và lễ hội của các làng Những lễ hội lớn mang tầm cỡ khu vực với sự tham gia của người dân nhiều tỉnh như: Lễ hội đền Kiếp Bạc; lễ hội đền Tây Thiên; lễ hội đền Phủ Giầy; lễ hội đền Bà chúa kho; lễ hội Lim; lễ hội Yên Tử; lễ hội chùa Bái Đính; lễ phát Ấn đền Trần Ngoài những lễ hội lớn đó, hầu hết các làng quê trong vùng đều tổ chức lễ hội trong ngày tiệc làng

Trang 21

Ngày tiệc làng thường là ngày giỗ của các vị Phúc thần có công với nước,

hoặc có công khai mở đất đai, nghề nghiệp cho dân, được dân làng tôn là Thành

hoàng, thờ tại miếu và đình làng Tiệc làng diễn ra hàng năm, có kèm theo lễ và

hội Hội làng được tổ chức thường niên, hoặc sau một số năm, tuỳ tình hình kinh

tế - xã hội địa phương mà dân làng quyết định Trong hội làng có lễ rước Thành

hoàng và tổ chức các trò vui dân gian liên quan đến sự tích về Thành hoàng Ngày

nay, một số nơi còn tổ chức hoạt động văn nghệ, thể thao trong ngày hội làng cho

thêm phần sinh động Tiệc làng là ngày vui lớn, con trai, con gái của làng sinh

sống ở xa quê vẫn nhớ và thu xếp công việc về dự Có những làng quy định, ngày

tiệc làng, con gái đi lấy chồng thiên hạ phải có lễ về trình Thành hoàng làng để tỏ

lòng tri ân với quê hương

Tiệc làng có thể rơi vào bất kỳ ngày nào trong năm, song thường được tổ

chức nhiều vào mùa xuân và mùa thu Mùa xuân, từ sau Tết Nguyên đán đến hết

tháng ba âm lịch; mùa thu, từ đầu tháng tám đến hết tháng chín âm lịch Đây là

khoảng thời gian người làm nghề nông khá rảnh rỗi công việc ngoài đồng ruộng nên

thuận lợi cho mở tiệc Lễ hội làng có vai trò gắn kết và củng cố mối quan hệ giữa

các thành viên trong cộng đồng làng, xã; góp phần giáo dục lòng biết ơn của thế hệ

hôm nay đối với các thế hệ đã qua, tôn vinh và ghi nhớ công đức của những người

có công với nước, với làng để con cháu noi theo

Sáu là, nhân dân các tỉnh ĐBSH có trình độ giáo dục, đào tạo phát triển;

nguồn nhân lực dồi dào, phong phú

Hiếu học là nét truyền thống văn hoá nổi bật của nhân dân các tỉnh ĐBSH

Trọng người có học, đề cao học vấn, khuyến khích con cháu học tập, noi theo

những người có khoa bảng cao đã thành một truyền thống tốt đẹp ở mọi làng quê

nơi đây Truyền thống hiếu học đó, ngày nay, đã và đang thúc đẩy hàng triệu học

sinh, sinh viên thi đua học tập đạt thành tích cao để lập thân, lập nghiệp xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2012

cho thấy, nhân dân các tỉnh ĐBSH có trình độ dân trí khá cao so với các tỉnh khác

trong cả nước, nơi đây tập trung rất nhiều trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và các

cơ sở nghiên cứu khoa học Lực lượng cán bộ có trình độ đại học và trên đại học ở

các tình này chiếm tới 72,4% so với cả nước; lao động đã qua đào tạo chiếm tới

29,5% lao động xã hội, chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Mặc dù trong những năm qua, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên trong vùng giảm mạnh nhưng mật độ dân số vẫn cao nhất nước, với 934 người/km2, gấp 3,7 lần so với cả nước, gấp 2,14 lần so với vùng đồng bằng sông Cửu Long, gấp 8 lần so với miền núi và trung du phía Bắc và gấp hơn 10 lần so với Tây Nguyên [98, tr.9-12] Dân số đông, diện tích đất canh tác bình quân đầu người rất thấp (chưa đạt 450

m2/người) lại đang có xu hướng bị thu hẹp… là sức ép đối với sự lãnh đạo của cấp

uỷ các cấp Bên cạnh đó, tập quán, cách làm ăn cũ vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, làm cho kinh tế thị trường ở những nơi đó chưa phát triển mạnh Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo

đã giảm nhiều so với trước nhưng khoảng cách giàu, nghèo giữa các gia đình nông dân, giữa cư dân thành thị và nông thôn có xu hướng ngày càng doãng ra Một bộ phận dân cư thuộc vùng sâu, miền núi, hải đảo, dân tộc ít người còn gặp khó khăn

về đời sống vật chất và tinh thần Đây thực sự là thách thức không nhỏ đối với cấp

uỷ, chính quyền địa phương trong việc lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội, xây dựng nông thôn mới, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Bảy là, trong tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước

ta hiện nay, đời sống văn hoá - xã hội của nhân dân các tỉnh ĐBSH có sự thay đổi nhanh chóng, hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới

Nằm ở vùng kinh tế động lực của đất nước, các tỉnh ĐBSH đang diễn ra quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhanh và mạnh so với các tỉnh khác trong

cả nước Tiến trình CNH, HĐH đang làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế các tỉnh ĐBSH theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động ngành kinh

tế nông nghiệp; tăng dần tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động của ngành kinh tế công nghiệp, xây dựng, dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn Tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở các tỉnh ĐBSH đang làm thay đổi sâu sắc bộ mặt nông thôn và đời sống văn hoá - xã hội của nhân dân trong vùng trên các phương diện:

Trang 22

Trước hết, về mặt kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn

các tỉnh ĐBSH đang được quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn

thay đổi sâu sắc theo hướng chuyển nhanh sang nông thôn đô thị Qúa trình đô thị

hoá nông thôn làm cho nhiều làng quê yên bình, khép kín sau luỹ tre xanh của

những năm tám mươi, thế kỷ XX trở về trước không còn nữa; thay vào đó là các

phố trong làng, phố chợ và các tụ điểm dân cư tập trung bên cạnh các khu công

nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở giáo dục và cơ quan hành chính Cùng với tiến

trình đô thị hoá nông thôn, cư dân nông thôn làm nghề nông giảm đi nhanh chóng,

nhiều người dân làm nghề nông đã chuyển sang làm công nhân trong các khu công

nghiệp và cụm công nghiệp, làm dịch vụ và chế biến tiểu, thủ công nghiệp Những

người gắn bó với nghề nông thì chuyển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa thay

thế cho sản xuất tự cung, tự cấp Trình độ sản xuất và năng lực quản lý của một số

hộ nông dân được nâng lên rõ rệt Do tiếp cận với nền kinh tế thị trường và hội nhập

kinh tế quốc tế, nhiều hộ nông dân đã vươn lên sản xuất hàng hóa, làm giàu chính

đáng Đời sống đại bộ phận nông dân được cải thiện cả về vật chất và tinh thần, một

số hộ trở nên khá giả và giàu có Cùng với tiến trình này, một hiện tượng đáng chú

ý khác của nông thôn các tỉnh ĐBSH là tình trạng di dân tạm thời của một bộ phận

nông dân từ nông thôn ra thành thị ngày một gia tăng Những lúc nông nhàn, họ

thường ra thành phố kiếm việc làm tăng thu nhập, đến mùa gieo trồng và thu hoạch

mùa màng, họ lại trở về làm nông nghiệp; thông qua bộ phận dân cư này, xã hội

thực hiện phân công lao động tự nhiên giữa nông thôn và thành thị, giữa nông

nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Thứ hai, sự thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế dẫn đến những biến đổi to

lớn về văn hoá và xã hội Việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá, tôn trọng quy luật giá trị,

đề cao lợi ích cá nhân và sức mạnh đồng tiền, bên cạnh mặt tích cực về phát triển

kinh tế, nó cũng đang làm suy giảm nhanh những giá trị văn hoá làng xã truyền

thống nơi đây Song, vấn đề là ở chỗ những giá trị văn hoá truyền thống bị xem nhẹ,

những giá trị văn hoá mới lại chưa định hình rõ và chưa đủ khả năng dẫn dắt cộng

đồng phát triển Tình hình trên gây gây nên hiện tượng “đứt gãy văn hoá” trong xã

hội, tác động trước hết và chủ yếu vào tầng lớp thanh niên mới lớn Phải chăng sự

lệch chuẩn giá trị trong nhận thức, thị hiếu và suy nghĩ của một bộ phận thanh niên hiện nay có nguyên nhân từ những đứt gãy văn hoá nói trên

Sự phát triển kinh tế không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với phát triển văn hoá - xã hội Thực tế phát triển kinh tế ở các tỉnh ĐBSH những năm vừa qua cho thấy, có những vấn đề thuần tuý kinh tế - xã hội như tranh chấp đất đai và ô nhiễm môi trường ở nông thôn, việc làm và an sinh xã hội ở thành phố, song do quản lý chưa tốt đã đẩy thành điểm nóng mang tính chính trị Mặt khác, quá trình đô thị hoá khá nhanh làm cho cuộc sống của người dân các tỉnh ĐBSH tiếp cận gần hơn với thành phố, nhưng văn hoá đô thị lại chưa thể một sớm, một chiều hình thành Làng phát triển dần thành phố làng, đất đai thu hẹp, toàn bộ hoạt động sản xuất và tiêu dùng diễn ra trong phố làng, nạn ô nhiễm môi trường ngày càng lớn và khó giải quyết Lối sống xả thải tự nhiên của người dân sống trong ngôi làng xưa vẫn giữ nguyên trong thời kỳ phố làng, thành ra con người trở nên ích kỷ, nhà dân nào cũng chỉ lo giữ sạch cho riêng mình, chất thải đẩy ra môi trường để xã hội lo

Sự hội nhập sâu rộng về kinh tế, văn hoá - xã hội của nhân dân các tỉnh ĐBSH với các địa phương trong cả nước và với thế giới đã thúc đẩy khu vực này phát triển toàn diện Có thể nói trình độ phát triển văn hoá - xã hội tính theo các tiêu chí về phổ cập giáo dục, về tỷ lệ người lao động được đào tạo nghề, về chỉ số phát triển con người, về tỷ lệ mức sinh thô, chết thô, tỷ lệ người mắc các bệnh xã hội không cách biệt nhiều giữa Thủ đô Hà Nội và các tỉnh ĐBSH Mức sống của các tầng lớp dân cư được cải thiện rõ rệt; số người sống phụ thuộc trong một gia đình ít hơn số lao động của hộ Tuy nhiên, tháp dân số đang thay đổi theo hướng không như mong muốn, dân số nông thôn đang “già hoá”, “phụ nữ hóa”; mô hình gia đình

ba, bốn thế hệ đang giảm nhanh, mô hình gia đình hai thế hệ tăng cao, khả năng trao truyền các giá trị văn hoá truyền thống giữa thế hệ những người lớn tuổi với con trẻ

bị hạn chế nhiều

Tám là, trong quá trình bảo tồn và trao truyền các gía trị văn hoá - xã hội truyền thống, nhân dân các tỉnh ĐBSH còn khá bảo thủ trong việc giữ gìn những phong tục, tập quán không còn phù hợp với điều kiện sống mới

Văn hoá làng xã, bên cạnh những mặt tích cực to lớn, được xem như “hằng

số văn hoá Việt Nam” nói trên, nó cũng có những mặt tác động tiêu cực không nhỏ

Trang 23

vào đời sống văn hoá - xã hội hiện nay Trước hết, nói về xây dựng môi trường văn

hoá lành mạnh, giàu bản sắc, việc tổ chức lễ hội truyền thống là cần thiết và phát

huy trong điều kiện hiện đại để giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam, hướng lòng dân

biết ơn các thế hệ đi trước đã hy sinh xương máu để gìn giữ đất nước tươi đẹp như

hôm nay Tuy nhiên, khi lễ hội mở, không ít người dân đến với lễ hội chủ yếu để

cầu phúc, cầu lộc, cầu tài theo lối mê tín, dị đoan; việc hiểu biết và tri ân thánh nhân

trong lễ hội bị xem nhẹ Một số lễ hội không còn phù hợp với điều kiện sống mới,

song dân làng vẫn cố duy trì như lễ chém lợn ghê sợ ở Bắc Ninh Việc cưới, việc

tang là những việc lớn của mỗi gia đình và cộng đồng, cần được coi trọng và tổ

chức chu đáo; tuy vậy, ở nhiều làng quê các tỉnh ĐBSH còn quá cầu kỳ, hoài cổ, tốn

kém và gây ảnh hưởng môi trường Lo hậu sự cho người thân, với quan niệm “trần

sao, âm vậy”, hầu hết những người dân (không theo đạo Thiên chúa giáo) đều thực

hiện chôn cất và cải táng; sau cải táng đua nhau xây cất mồ mả to đẹp vừa gây lãng

phí đất công, tiền của vừa gây ô nhiễm môi trường

Tính cộng đồng, truyền thống “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách

nhiều” là hết sức nhân văn, tốt đẹp, tuy nhiên truyền thống ấy có phần phát triển

lệch lạc khi nó đề cao thái quá tính cộng đồng, quan hệ dòng tộc, lễ nghi, địa vị xã

hội; xem nhẹ trí tuệ, tài năng cá nhân, bằng lòng với suy nghĩ “khôn độc không

bằng ngốc đàn” và không muốn ai hơn mình Hương ước, gia phong, tục lệ đẹp

phù hợp với quy định của pháp luật nhà nước rất cần được khuyến khích phát

triển; tuy nhiên tập quán, lối sống, thói quen, nếp nghĩ: “phép vua thua lệ làng”

không dễ xoá bỏ trong tâm thức người dân Sức mạnh cộng đồng không gắn với

yêu cầu sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật có nguy cơ xâm hại kỷ cương

phép nước khôn lường; việc cộng đồng bao che lẫn nhau làm việc sai như: buôn

lậu, trốn thuế, làm hàng giả không khó tìm ví dụ ở các làng quê ĐBSH hiện nay

Tư tưởng trọng nam, khinh nữ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” vốn không bắt

nguồn từ văn hoá Việt Nam, nhưng do ảnh hưởng lâu dài của Nho giáo đã thấm

dần vào văn hoá Việt Chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, chính sách xoá

đói, giảm nghèo, chính sách giáo dục và an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước gặp

rất nhiều khó khăn khi phải đối mặt với tàn dư tư tưởng lạc hậu này Đông con đi

cùng với thất học, đói nghèo, bệnh tật là vấn đề xã hội ai cũng biết, nhưng gốc rễ

văn hoá của vấn đề lại là tư tưởng trọng nam, khinh nữ chưa được khắc phục trong

số đông người dân nơi đây

Kinh tế thị trường, định hướng XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng khó tránh khỏi phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội Song, thay vì chấp nhận phân tầng hợp thức như một tất yếu của quá trình phát triển để vươn lên, thì một bộ phận người dân quay ra đổ lỗi chính sách thiếu công bằng, căm ghét hoặc sợ hãi thái quá người giàu có, tự làm mất đi tính tự chủ bản thân Thói ích kỷ, đố kị, hẹp hòi, tư hữu

và hám lợi có cơ hội trỗi dậy làm xói mòn tính tương thân, tương ái vốn là nét đẹp trong văn hoá làng truyền thống Việt Nam

2.1.3 Phát triển văn hóa - xã hội của các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng hiện nay - khái niệm, nội dung

2.1.3.1 Một số khái niệm chủ yếu liên quan đến phát triển văn hóa - xã hội hiện nay

* Khái niệm phát triển

Phát triển là một phạm trù triết học chỉ tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất Phát triển

là một trong những nguyên lý phổ biến của thế giới khách quan Mọi sự vật và hiện tượng trên thế giới không tồn tại ở trạng thái bất biến, mà không ngừng vận động, biến đổi trải qua các trạng thái: xuất hiện (sinh), hình thành đầy đủ (thành), biến đổi (dị) và diệt vong (diệt) Phạm trù phát triển phản ánh tính chất chung ấy của những biến đổi trong thế giới hiện thực Nhưng sự vận động, biến đổi diễn ra trong thế giới hiện thực theo chiều hướng nào? Chúng có lặp lại nguyên vẹn những trạng thái đã trải qua để trở lại điểm xuất phát? Phạm trù phát triển chỉ ra rằng:

Bất kỳ một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ có biến đổi, mà luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái đã có, bởi vì trạng thái của bất kỳ sự vật hay hệ thống nào cũng đều được quyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong mà còn bởi các mối liên hệ bên ngoài Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đâu tranh của các mặt đối lập Phương thức phát triển là chuyển hoá những thay đổi về

Trang 24

lượng thành những thay đổi về chất, và ngược lại theo kiểu nhảy vọt

Chiều hướng phát triển là sự vận động xoáy trôn ốc [101, tr.424]

Phát triển là sự vận động, biến đổi của thế giới hiện thực tuân theo những

quy luật khách quan, làm cho các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực không

ngừng biến đổi về lượng và chất, trên cơ sở kế thừa những thuộc tính ưu trội vốn có

của các sự vật, hiện tượng đó

* Khái niệm phát triển văn hoá - xã hội ở Việt Nam

Khái niệm “Phát triển văn hoá - xã hội” là khái niệm phổ biến của khoa học

chính trị, trong đó chứa đựng quan điểm, chủ trương, chính sách của các đảng cầm

quyền và các nhà nước hiện đại về những vấn đề văn hoá- xã hội Phát triển văn hoá

- xã hội Việt Nam là thuật ngữ phản ánh quá trình biến đổi nền văn hoá - xã hội

nước ta thông qua sự gia tăng không ngừng khả năng bảo tồn, sáng tạo và thụ

hưởng những giá trị văn hoá - xã hội của các tầng lớp nhân dân, cũng như quá

trình đấu tranh ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của những giá trị phản văn hoá - xã

hội (ngoại lai hoặc nội sinh) tác động vào đời sống văn hoá - xã hội của nhân dân,

nhằm xây dựng con người mới và xã hội mới Việt Nam là một nước đang phát

triển, xây dựng kinh tế được xem là nhiệm vụ trung tâm, phát triển văn hoá - xã hội

là nhiệm vụ xây dựng nền tảng tinh thần xã hội và động lực cho sự phát triển nói

chung Nếu phát triển kinh tế ở nước ta là quá trình biến nền kinh tế chậm phát triển

thoát khỏi ngèo nàn, lạc hậu, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng trưởng

kinh tế bền vững gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, thì phát triển văn hoá - xã hội

ở nước ta có nội dung cốt lõi là phát triển con người xã hội chủ nghĩa có nhân cách

toàn diện

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhân cách con người

hình thành và phát triển trong điều kiện còn có sự phân công lao động hết sức sâu

sắc giữa lao động chân tay và lao động trí óc; giữa lao động thừa hành và lao động

quản lý, chỉ huy; còn có sự tách rời giữa trình độ sinh hoạt vật chất với sinh hoạt

tinh thần Trong điều kiện đó, chúng ta không thể nôn nóng, mong muốn có ngay

những con người có nhân cách toàn diện, ở một xã hội hoàn thiện, có nền văn hoá -

xã hội phát triển Theo C.Mác (trong “Hệ tư tưởng Đức”), con người phát triển toàn

diện là con người không bị lệ thuộc phiến diện vào phân công lao động xã hội,

không bị trói buộc vào một nghề, đó cũng là mục tiêu lâu dài trong phát triển kinh tế

- xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng và toàn dân chúng ta hướng tới là như vậy

Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ, để khắc phục thực trạng khác biệt nói trên, nhân dân ta kiên định phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, tái

cơ cấu nền kinh tế theo hướng tạo ra năng suất lao động cao, giá trị gia tăng lớn; tổ chức lại lao động xã hội gắn với tổ chức lại đời sống văn hoá - xã hội Con người là chủ thể phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của đất nước, tuy nhiên đối với mỗi con người cụ thể không ai lựa chọn được hoàn cảnh mình sinh ra, thành thử, hoàn cảnh kinh tế, văn hoá - xã hội đến lượt nó tác động trở lại và quy định sự phát triển của mỗi cá nhân Vì vậy, phát triển văn hoá - xã hội trong một nước, cũng như ở mỗi vùng trong một nước, có vai trò tạo ra nền tảng tinh thần và động lực xã hội cho mỗi con người phát triển Quan niệm nói trên về phát triển văn hoá - xã hội thể hiện những nội hàm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, chủ thể phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta là nhân dân Việt

Nam, bao gồm tất cả các giai cấp và tầng lớp nhân dân, từ miền ngược đến miền xuôi, từ đồng bằng, đô thị đến trung du và miền núi; bao gồm tất cả các dân tộc và tôn giáo, các cộng đồng dân cư trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, trong đó liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là nền tảng của xã hội Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa không nói tới vai trò phát triển văn hoá - xã hội của các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các cộng đồng người nước ngoài đang làm ăn và sinh sống ở Việt Nam

Thứ hai, đối tượng phát triển văn hoá - xã hội mà nhân dân ta đang sáng tạo

và thụ hưởng bao gồm: các giá trị văn hoá - xã hội vật thể và phi vật thể; các thiết chế văn hoá - xã hội; các cơ cấu văn hoá - xã hội; các thể chế văn hoá - xã hội; đời sống văn hoá - xã hội đang diễn ra hàng ngày của các cộng đồng dân cư; cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống các tàn tích văn hoá - xã cũ, hội lạc hậu, cũng như đấu tranh chống các giá trị phản văn hoá ngoại lai, nội sinh đang hàng ngày tác động vào đời sống xã hội

Thứ ba, mục tiêu của phát triển văn hoá - xã hội là trên cơ sở kế thừa những

giá trị văn hoá - xã hội truyền thống, bản sắc, không ngừng học hỏi các giá trị văn

Trang 25

hoá - xã hội tiến bộ của nhân loại để sáng tạo và thụ hưởng những giá trị văn hoá -

xã hội mới, nhằm: “Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn

diện, hướng đến chân, thiện, mỹ thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ

và khoa học” [22, tr.46-47] tương xứng với tầm vóc của đất nước trên con đường

phát triển

Thứ tư, nội dung phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta rất rộng, gồm nhiều

lĩnh vực, nhiều nhiệm vụ, liên quan đến nhiều tầng lớp xã hội khác nhau Chỉ riêng

trong lĩnh vực phát triển văn hoá, tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung

ương khoá VIII, Đảng ta chỉ rõ mười nội dung: một là, xây dựng con người Việt

Nam thời kỳ mới với những đức tính tiêu biểu; hai là, xây dựng môi trường văn

hoá; ba là, phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bốn là, bảo tồn và phát huy các

di sản văn hoá; năm là, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công

nghệ; sáu là, phát triển và quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; bảy là, bảo tồn

và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số; tám là, xây dựng chính sách văn hoá với

tôn giáo; chín là, mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá; mười là, xây dựng và hoàn

thiện thể chế văn hoá

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trong Báo cáo chính trị trình Đại

hội, Đảng ta trình bày quan điểm, nhiệm vụ về chăm lo, phát triển văn hoá với bốn

nội dung chủ yếu: một là, củng cố và tiếp tục xây dựng mội trường văn hoá lành

mạnh, phong phú, đa dạng; hai là, phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật, bảo tồn,

phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền thống, cách mạng; ba là, phát triển hệ

thống thông tin đại chúng; bốn là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về

văn hoá Đáng chú ý là, đến Đại hội này, quan điểm về “chăm lo phát triển văn hoá”

Đảng ta không đưa vào đó nội dung: phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa

học - công nghệ, như quan điểm của Hội lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương

khoá VIII (tháng 7 năm 1998)

Tiếp đến Hội nghị lần thứ IX, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, sau khi

tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về “xây dựng và

phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Đảng ta ban

hành Nghị quyết “về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt nam đáp ứng

yêu cầu bền vững đất nước”, trong đó xác định 6 nội dung về phát triển văn hoá giai

đoạn hiện nay gồm: một là, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; hai

là, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh; ba là, xây dựng văn hoá trong chính trị

và kinh tế; bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hoá; năm là, phát triển công nghiệp văn hoá, đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hoá; sáu

là, chủ động hội nhập quốc tế về văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại

Như vậy có thể thấy, để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển văn hoá của đất nước, trong quan niệm về “phát triển văn hoá” theo tinh thần của Đại hội XI, tuy Đảng ta không đưa nội dung “phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ” vào mục VI của Văn kiện bàn về “chăm lo phát triển văn hoá” [21, tr.223], nhưng không có nghĩa là Đảng lãnh đạo chăm lo phát triển văn hoá không

có nội dung “phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ” Bởi, cũng ở Văn kiện này, khi trình bày Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội, ở mục III của Cương lĩnh, khi bàn “về văn hoá, xã hội” [21, tr.104] Đảng ta có đề cập nội dung phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ trong đó

Trong lĩnh vực phát triển xã hội, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI xác định nội dung phát triển xã hội gồm: một là, tập trung giải quyết tốt chính

sách lao động, việc làm và thu nhập; hai là, bảo đảm an sinh xã hội; ba là, nâng cao

chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình,

bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em; bốn là, đấu tranh phòng, chống có hiệu

quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông Chúng tôi cho rằng quan niệm như vậy về phát triển xã hội là thoả đáng, đã thể hiện được những nội dung quan trọng nhất của lĩnh vực này

Khái quát lại, khi bàn về khái niệm phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta hiện nay, trên cơ sở quan điểm của Đảng và quá trình nghiên cứu, tiếp thu ý kiến các nhà khoa học đi trước về vấn đề này, chúng tôi xin trình bày tóm tắt những nội dung chủ

yếu của khái niệm phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta hiện nay gồm: một là, phát

triển con người Việt Nam thời kỳ mới với những phẩm chất tiêu biểu về tư tưởng,

đạo đức, lối sống và khoẻ mạnh về thể chất; hai là, xây dựng môi trường văn hoá -

xã hội lành mạnh trên các lĩnh vực; ba là, phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật;

bốn là, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc (bao gồm bảo tồn di sản văn

Trang 26

hoá các dân tộc ít người); năm là, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa

học - công nghệ; sáu là, phát triển và quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; bảy

là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách văn hoá trên các lĩnh vực đời sống xã

hội (bao gồm chính sách văn hoá đối với các tôn giáo, chính sách văn hoá trong

kinh tế, chính sách kinh tế trong văn hoá); tám là, xây dựng văn hoá trong Đảng,

trong cơ quan Nhà nước và trong hoạt động kinh tế; chín là, giải quyết tốt chính

sách lao động, việc làm và thu nhập; mười là, bảo đảm an sinh xã hội; mười một là,

nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hoá

gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em; mười hai là, đấu tranh phòng,

chống có hiệu quả với các tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông

2.1.3.2 Nội dung phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh đồng bằng sông

Hồng nước ta hiện nay

Các tỉnh đồng bằng sông Hồng có vinh dự là cái nôi văn hoá của dân tộc

Việt Nam Để hiểu sâu sắc cội nguồn văn hoá - xã hội của con người Việt Nam hiện

đại, không thể không tìm về và nghiên cứu cái nôi văn hoá của người Việt ở các

tỉnh ĐBSH hiện nay Có thể nói mà không phóng đại rằng, đến với các tỉnh đồng

bằng sông Hồng, người Việt Nam ở đâu trên đất nước này đều cảm thấy có hình

bóng văn hoá của mình nơi đây Vì vậy, phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh

ĐBSH không chỉ phát triển cho riêng các tỉnh ĐBSH, mà còn có trách nhiệm lưu

giữ, tiếp nối và phát triển những giá trị văn hoá - xã hội truyền thống tiêu biểu của

người Việt Nam hôm nay và mai sau Để tiếp tục bảo tồn, gìn giữ, phát triển sáng

tạo những giá trị văn hoá truyền thống, cũng như ra sức học tập, nghiên cứu sáng

tạo những giá trị văn hoá - xã hội mới phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội hiện

đại, nội dung phát triển văn hoá - xã hội của các tỉnh ĐBSH hiện nay vừa bao gồm

cái chung, vừa có cái riêng của các tỉnh ĐBSH sau đây:

Thứ nhất, phát triển con người và xây dựng môi trường văn hoá - xã hội

trong các lĩnh vực hoạt động ở các tỉnh ĐBSH thời kỳ mới với những phẩm chất

tiêu biểu về trí tuệ, tư tưởng, đạo đức, lối sống; có số lượng và cơ cấu hợp lý, lành

mạnh về môi sinh

Phát triển con người với những phẩm chất tiêu biểu về trí tuệ, tư tưởng, đạo

đức, lối sống vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội nói chung

Các tỉnh ĐBSH có lợi thế của miền châu thổ bao xung quanh Thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng, nhân dân lại có truyền thống văn hiến lâu đời, vì vậy, trên nền tảng dân trí đã khá cao, các đảng bộ và chính quyền địa phương cần tiếp tục đầu tư phát triển giáo dục nhằm nâng cao trình độ mọi mặt cho người dân; tuyên truyền, vận động đến từng người dân thấm nhuần quan điểm học tập suốt đời, học

để sáng tạo cuộc sống mới

Về mặt đạo đức cá nhân, phải xác định giá trị cốt lõi và nền tảng của đạo đức của mỗi người dân là lòng trung thực với mình, với mọi người và xã hội Về mặt tư tưởng, phải làm cho những giá trị tư tưởng phổ quát như lòng yêu nước, yêu quê hương, gia đình được hoà quyện với tình cảm yêu kính lãnh tụ, yêu chế độ xã hội mà toàn Đảng và toàn dân đang ra sức phấn đấu xây dựng; ngăn chặn lối sống thực thực dụng, vọng ngoại, biến thái Về số lượng, mật độ và cơ cấu dân số các tỉnh ĐBSH hiện nay cần được tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh để có tháp dân số lý tưởng Về mặt sinh học, các cơ quan có trách nhiệm phải đặt vấn đề đầu tư nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn nhằm góp phần cải tạo thể chất, vóc, dáng người dân để sớm thoát khỏi tình trạng thấp, bé và yếu như hiện nay

Xây dựng môi trường văn hoá - xã hội lành mạnh là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu của phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH hiện nay

Về mặt khoa học, xây dựng môi trường văn hoá - xã hội là một khái niệm rộng, phản ánh nhiều môi trường hoạt khác nhau của con người, tuy nhiên cần tập trung nghiên cứu phát triển một số môi trường văn hoá - xã hội chủ yếu sau đây: một là, môi trường văn hoá - xã hội ở các khu dân cư nông thôn và thành thị; hai là, môi trường văn hoá - xã hội trong công sở; ba là, môi trường văn hoá - xã hội trong sản xuất kinh doanh; bốn là, môi trường văn hoá - xã hội trong các trường học và đơn vị

sự nghiệp; năm là, môi trường tự nhiên dưới tác động của con người Đây là những môi trường văn hoá - xã hội chủ yếu nhất, ở đó thường xuyên diễn ra hoạt động của người dân và các quan chức Nhà nước Trong số những môi trường văn hoá - xã hội nói trên, môi trường văn hoá - xã hội ở các khu dân cư có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi đây là môi trường hoạt động có tính xã hội và tính cộng đồng ổn định và mạnh mẽ nhất; bất kỳ là ai cũng phải sống trong môi trường văn hoá - xã hội đó

Trang 27

Thứ hai, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ

Khi bàn về phát triển giáo dục - đào tạo ở các tỉnh ĐBSH, cần chú trọng xem

xét những vấn đề chủ yếu như: phát triển quy mô giáo dục đào tạo và mạng lưới cơ

sở giáo dục - đào tạo; chất lượng giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội đến

mức nào; các nguồn lực đầu tư và xã hội hoá giáo dục - đào tạo; sự công bằng, bình

đẳng trong giáo dục - đào tạo; công tác quản lý giáo dục - đào tạo Về phát triển

khoa học công nghệ, cần chú trọng đầu tư, nghiên cứu trên các mặt: một là, KHCN

cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chủ chương, phương hướng nhiệm vụ

công tác của đảng bộ và chính quyền tỉnh; hai là, đổi mới và phát triển KHCN trên

các mặt: nâng cao trình độ công nghệ, chuyển giao công nghệ, phát triển công nghệ

cao; ba là, đổi mới cơ chế và chính sách KHCN với các nội dung như: đổi mới tổ

chức và cơ chế quản lý, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, phát triển thị

trường công nghệ; bốn là, tham gia hợp tác và hội nhập quốc tế về KHCN

Thứ ba, phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật ở các địa phương

Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực hoạt động rất phong phú, có nhiều nội dung

cần đầu tư nghiên cứu phát triển Đối với các tỉnh ĐBSH, phát triển văn học nghệ

thuật cần chú trọng những nội dung sau đây: một là, khuyến khích sáng tác, biểu

diễn, thụ hưởng và truyền bá các giá trị văn học, nghệ thuật; hai là, phát triển lý

luận, phê bình văn học, nghệ thuật; ba là, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hoạt

động trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật; bốn là, tăng cường quản lý nhà nước đối với

các hoạt động văn học nghệ thuật

Thứ tư, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc và di sản văn hoá

các dân tộc ít người

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thông là cơ sở và điều kiện

thiết yếu để sáng tạo những giá trị văn hoá - xã hội mới đáp ứng yêu cầu xã hội hiện

đại Đối với các tỉnh ĐBSH hiện nay, việc đầu tư nghiên cứu để bảo tồn và phát huy

các di sản văn hoá dân tộc cần tập trung vào những nội dung sau: một là, gắn kết

chặt chẽ nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá với phát triển du lịch

và hoạt động thông tin tuyên truyền nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hoá

trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài; hai là, thực hiện các

chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục đào tạo, bảo tồn, phát huy giá

trị văn hoá các dân tộc thiểu số trên địa bàn; ba là, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ làm công tác văn hoá - xã hội có chuyên môn sâu về các giá trị văn hoá dân tộc

Thứ năm, phát triển và quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng ở các tỉnh ĐBSH

Hệ thống thông tin đại chúng có vai trò to lớn đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đối với phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH nói riêng Hệ thống thông tin đại chúng vừa là một bộ phận cấu thành của văn hoá - xã hội, nói lên tiếng nói của lĩnh vực văn hoá - xã hội, vừa là sản phẩm và thành quả phát triển của hoạt động văn hoá - xã hội Nghiên cứu về phát triển và quản lý hệ

thống thông tin đại chúng cần đi sâu vào các nội dung: một là, nâng cao tính tư

tưởng của các cơ quan thông tin đại chúng và chất lượng các ấn phẩm thông tin

đại chúng; hai là, thực hiện tốt các chức năng của thông tin đại chúng như: giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội; ba là, khắc phục xu hướng thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích hoạt động của báo chí, xuất bản; bốn là, quy hoạch mạng

lưới, kiện toàn tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và đầu tư nguồn lực hợp lý để

phát triển hệ thống thông tin đại chúng; năm là, chủ động hợp tác nghiên cứu khoa

học, nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý và điều hành hệ thống thông tin đại chúng

Thứ sáu, xây dựng chủ trương, biện pháp nhằm thực hiện tốt các chính sách văn hoá - xã hội của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt

là chính sách văn hoá - xã hội đối với các tôn giáo

Ở các tỉnh ĐBSH hiện nay, việc đầu tư, nghiên cứu để thực hiện tốt các chính sách văn hoá - xã hội của Đảng và Nhà nước trên địa bàn cần chú trọng toàn diện các nội dung: một là, thực hiện chính sách văn hoá - xã hội đối với các tôn giáo; hai là, thực hiện chính sách văn hoá - xã hội trong kinh tế; ba là thực hiện chính sách kinh tế trong văn hoá - xã hội Tuy nhiên, ở cấp độ khu vực và do tính chất quan trọng của các chính sách văn hoá - xã hội của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo, nên chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu nội dung này

Về thực hiện các chính sách văn hoá - xã hội đối với tôn giáo, cần chú

trọng những vấn đề sau: một là, thống nhất nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất, vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội; hai là, bảo tồn,

Trang 28

tôn tạo các cơ sở thờ tự của tôn giáo; ba là, kết hợp sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo

với các lễ hội dân gian và văn hoá tâm linh lành mạnh; bốn là, quan tâm đào tạo,

bồi dưỡng những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp; năm là, tạo điều kiện

để các sản phẩm, ấn phẩm phục vụ hoạt động tôn giáo được trao đổi, mua thuận

lợi bán trên thị trường

Thứ bảy, xây dựng văn hoá trong các cơ quan Đảng và Nhà nước ở

địa phương

Xây dựng văn hoá trong hoạt động của Đảng và các cơ quan Nhà nước có

nội dung rất rộng, bao gồm: môi trường văn hoá, năng lực tư duy, trí tuệ, mục tiêu

lý tưởng của toàn Đảng và của từng người đảng viên, hệ thống tổ chức và phong

cách làm việc, hệ thống văn bản phục vụ công tác lãnh đạo của Đảng, hoạt động

quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, trong phạm vi hoạt động của các đảng bộ tỉnh

thuộc ĐBSH, nội dung xây dựng văn hoá chỉ tập trung nghiên cứu: một là, xây

dựng môi trường văn hoá tiêu biểu trong hoạt động của Đảng bộ và cơ quan Nhà

nước; hai là, bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng, trau dồi đạo đức, phong cách của đội

ngũ đảng viên và công chức, viên chức hoạt động trong các cơ quan của Đảng và

Nhà nước ở địa phương

Thứ tám, tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hoá giữa các tỉnh

với các đối tác nước ngoài

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và hợp tác toàn diện về kinh tế, văn hoá -

xã hội của nước ta với các nước trên thế giới hiện nay, xu thế mở rộng và tăng

cường quan hệ hợp tác quốc tế về văn hoá - xã hội giữa các tỉnh ĐBSH với các địa

phương tương ứng và với các tổ chức quốc tế ở nước ngoài là một tất yếu, bảo đảm

cho các quan hệ chính trị, kinh tế văn hoá - xã hội các tỉnh tiếp tục phát triển mạnh

mẽ hơn nữa Thông qua hợp tác văn hoá - xã hội, nhân dân các tỉnh ĐBSH đến với

các quốc gia khác trên thế giới để quảng bá đất nước, con người Việt Nam bằng các

giá trị văn hoá, và cũng nhờ đó mà tăng cường hợp tác kinh tế, chính trị Thông qua

hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hoạt động trên lĩnh

vực văn hoá - xã hội nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ

cán bộ chuyên trách, các nhà lãnh đạo, quản lý Tiến hành trao đổi, giao lưu quảng

bá các tác phẩm nghệ thuật ra nước ngoài, đồng thời tiếp thu các thu các sản phẩm

ưu tú của nước ngoài để học hỏi, đồng thời qua đó gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam

Thứ chín, thực hiện tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập

Để thực hiện tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập ở các tỉnh ĐBSH, việc đầu tư, nghiên cứu của các địa phương phải thực hiện các nội dung: một là, đầu tư để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tạo nhiều việc làm cho người lao động, nhất là nông dân, có ưu đãi về thuế, đất đai cho đào tạo nghề; hai là, khắc phục bất hợp lý về tiền công, tiền lương, trợ cấp xã hội phù hợp điều kiện kinh tế của địa phương, gắn tiền lương với hiệu quả sản xuất, kinh doanh; ba là, chú trọng bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định trong các đơn vị có sử dụng người lao động

Thứ mười, bảo đảm an sinh xã hội cho các thành viên trong cộng đồng

An sinh xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa là một vấn đề mới và lớn ở nước ta nói chung, ở các tỉnh ĐBSH nói riêng Để bảo đảm đảm an sinh xã hội cho các thành viên trong cộng đồng ở địa

phương cần đầu tư, nghiên cứu những nội dung sau: một là, sửa đổi, hoàn thiện hệ

thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội, nghiên cứu xã hội hoá dịch vụ bảo hiểm xã hội, chuyển hình thức trợ giúp, cứu trợ xã hội sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng; hai là, thực hiện

có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở những vùng còn nhiều khó khăn và các đối tượng đặc biệt, đẩy mạnh giáo dục dạy nghề để giaỉ quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo; ba là, huy động nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công, giải quyết những tồn đọng về chính sách người có công, đặc biệt là người tham gia hoạt động

bí mật, lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong trong các thời kỳ cách mạng và kháng chiến

Thứ mười một, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em

Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Để thực hiện tốt vấn đề này

Trang 29

cần tập trung nghiên cứu giải quyết tốt những nội dung sau: một là, đầu tư công tác

ý tế dự phòng và chăm sóc sức khoẻ nhân dân theo hướng: hoàn thiện mạng lưới y

tế cơ sở, nâng cao năng lực các bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh, tăng đầu tư từ

ngân sách và đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt đông y tế, làm tốt công tác phòng chống

dịch bệnh, an toàn thực phẩm; hai là, thực hiện nghiêm chính sách pháp luật về dân

số, duy trì mức sinh hợp lý, quy mô gia đình ít con, bảo đảm các quyền cơ bản của

trẻ em, thực hiện nghiêm chiến lược quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ

nữ., ngăn bạo lực trong gia đình

Thứ mười hai, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với các tệ nạn xã hội và

tai nạn giao thông

Tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông là một trong những vấn đề gây nhức nhối

dai dẳng ở các tỉnh ĐBSH trong nhiều năm gần đây Kinh tế phát triển chưa làm

cho tệ nạn xã hội thuyên giảm mà ngược lại, có phần gia tăng cùng với những bước

tiến của kinh tế Để phòng chống có hiệu quả với các tệ nạn xã hội và tai nạn giao

thông, cần tập trung nghiên cứu và tìm giải pháp tháo gỡ những nội dung: một là,

đẩy mạnh giáo dục cộng đồng, coi trọng và đề cao giáo dục gia đình đối với thanh,

thiếu niên về tác hại của ma tuý, mại dâm, cờ bạc và các tệ nạn khác; hai là, huy

động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành vào cuộc làm giảm

thiểu tai nạn giao thông theo hướng nâng cao hiểu biết pháp luật, xử lý nghiêm các

vi phạm pháp luật giao thông, đề cao trách nhiệm của các lực lượng chuyên trách,

phát triển hạ tầng kỹ thuật và năng lực tổ chức giao thông

2.1.4 Vai trò phát triển văn hóa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông

Hồng trong giai đoạn hiện nay

Phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH có vai trò hết sức quan trọng đối

với phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh trật tự ở địa phương

thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh

ĐBSH không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với khu vực ĐBSH, mà còn quan trọng

đối với cả nước, vì các tỉnh ĐBSH là cái nôi văn hoá của dân tộc từ ngàn xưa Tầm

quan trọng to lớn của phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH có thể khái quát

trên những nội dung chính sau đây:

Một là, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vì vậy, phát triển văn hoá -

xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước nói chung, phát triển kinh tế nói riêng Phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH là trực tiếp bồi đắp, củng cố nền tảng tinh thần xã hội trong vùng, tạo động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng - an ninh ở địa phương Sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm giành độc lập tư do cho dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội chính là nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tạo lập một xã hội phát triển toàn diện, lành mạnh, nhân văn

Thực tiễn những năm đổi mới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta cho thấy, kinh tế không thể phát triển bền vững, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn

xã hội không thể đảm bảo nếu văn hoá - xã hội chậm phát triển Nhờ những thành tựu trong phát triển con người, trong giáo dục - đào tạo và y tế, trong chăm lo chính sách

an sinh xã hội… ở các tỉnh ĐBSH trong những năm vừa qua nên đã tạo ra nguồn lực lớn về con người để kinh tế có điều kiện phát triển mạnh Hơn nữa, sự phát triển kinh

tế đem lại những lợi ích vật chất rất khác nhau cho mỗi cá nhân, nhóm và giai tầng xã hội, nhưng phát triển văn hoá - xã hội đã tạo ra môi trường sống tốt đẹp cho tất cả mọi người, để ai cũng được hưởng thụ thành quả của sự phát triển

Hai là, phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH không chỉ tạo ra cuộc

sống xã hội tốt đẹp và động lực phát triển cho nhân dân các tỉnh ĐBSH, mà còn là trách nhiệm với cả nước trong việc gìn giữ tôn tạo, phát triển những giá trị văn hoá truyền thống, những di sản thiên nhiên tươi đẹp cho hôm nay và mai sau Các tỉnh ĐBSH đang lưu giữ, khai thác, tôn tạo và phát triển kho tàng các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể hết sức đồ sộ của đất nước, nếu hôm nay chúng ta không nhận thức đầy đủ về những giá trị đó, để cho con người và thiên nhiên tàn phá, thì sẽ không bao giờ có thể tìm lại được nữa Những cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp bị san lấp, đập phá và bê tông hoá vì lợi ích kinh tế trước mắt sẽ làm cho những bãi biển đẹp nên thơ, những trái núi hình thù kỳ dị chỉ còn trong ký ức, sách vở và lời ca mà không sao có thể phục dựng lại được

Mặt khác, là nôi văn hoá truyền thống của dân tộc, các tỉnh ĐBSH có trách nhiệm giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá truyền thống như người giữ "lửa

Trang 30

thiêng" cho sự trường tồn của dân tộc, cho ý chí bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất

nước Gìn giữ, tôn tạo, bảo tồn, phát triển sáng tạo các giá trị văn hoá - xã hội tốt

đẹp, nhưng không nệ cổ, bảo thủ là yêu cầu của thời đại mới, đòi hỏi các đảng bộ và

nhân dân các tỉnh ĐBSH phải giải quyết thích đáng

Ba là, phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH có vai trò làm gương, làm

mẫu để các tỉnh trong cả nước tham khảo, vận dụng kinh nghiệm Thực ra không

một tỉnh nào ở ĐBSH đặt ra mục tiêu và nhiệm vụ gương mẫu về sự phát triển như

vậy Song, do vị trí địa lý tự nhiên, do tiềm năng, thế mạnh của các tỉnh nơi đây,

muốn hay không muốn, thì nhân dân cả nước vẫn phải đến với các tỉnh ĐBSH

Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước đòi hỏi các tỉnh ĐBSH phải làm tốt vai trò

gương mẫu phát triển về kinh tế, văn hoá - xã hội cho các tỉnh trong cả nước

Bốn là, phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH góp phần tạo nên “áo

giáp” quốc phòng - an ninh về tư tưởng, văn hoá - xã hội cho Hà Nội, Hải Phòng

Các tỉnh ĐBSH có vị trí cực kỳ quan trọng về quốc phòng - an ninh của đất nước

Nơi đây có địa thế hiểm yếu về địa lý tự nhiên để phòng thủ và tiến công các loại kẻ

thù xâm lược Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, kẻ thù ra sức tấn công Đảng, Nhà

nước và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên mặt trận tư tưởng, văn hoá - xã hội

bằng các thủ đoạn diễn biến hoà bình, bạo loạn, lật đổ khi có thời cơ Vì vậy, phát

triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH sẽ tạo ra bức tường thành vững chắc về văn

hoá - tư tưởng để bảo vệ Thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng

2.2 CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN

VĂN HOÁ - XÃ HỘI HIỆN NAY - KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC

* Chức năng của Tỉnh ủy

Là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai nhiệm kỳ đại hội, tỉnh uỷ

thực hiện những chức năng sau: Thứ nhất, tỉnh uỷ lãnh đạo, chỉ đạo mọi hoạt động

của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương theo quy định của Điều lệ

Đảng và pháp luật của Nhà nước Chức năng lãnh đạo đó thể hiện ở việc: triển

khai và cụ thể hóa đường lối, nghị quyết, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và nghị quyết của đại hội đảng bộ tỉnh thành nghị quyết của Tỉnh

uỷ, xác định nhiệm vụ chính trị của địa phương một cách đúng đắn, sáng tạo Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng thuộc quyền; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; thường xuyên chăm lo củng cố và xây dựng

hệ thống chính trị vững mạnh, củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa đảng bộ với nhân dân Điều 19, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ XI) quy định: “Cấp uỷ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là tỉnh uỷ, thành uỷ)… lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên” [20, tr.33]

Trong quá trình thực hiện chức năng lãnh đạo của mình, tỉnh uỷ không chỉ ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quyết định lãnh đạo, mà còn tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên và các tổ chức thuộc hệ thống chính trị trong việc thực hiện nghị quyết Thực ra việc tỉnh uỷ ban hành chỉ thị, nghị quyết để lãnh đạo và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, cũng như kiểm tra, giám sát thực hiện là một thể thống nhất của sự lãnh đạo, là hai khâu của một quy trình lãnh đạo thống nhất Đảng ta đã khẳng định: lãnh đạo mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo: “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng” [20, tr.50] Vì vậy, lãnh đạo và kiểm tra, giám sát việc thực hiện sự lãnh đạo là hai mặt thống nhất trong hoạt động của mỗi cấp ủy đảng Nội dung kiểm tra, giám sát của cấp ủy đảng chủ yếu

là việc thực hiện các nghị quyết, chủ trương, đường lối, Điều lệ Đảng, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Thông qua kiểm tra, giám sát cấp ủy Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo của mình

Thứ hai, tỉnh uỷ chăm lo xây dựng nội bộ đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư

tưởng và tổ chức; xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên Tỉnh uỷ tích cực tham gia xây dựng và cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; chuẩn

Trang 31

bị nội dung và kế hoạch tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, từ cấp cơ sở cho đến cấp

tỉnh theo quy định của Điều lệ Đảng và sự chỉ đạo của Trung ương Xây dựng và

thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với

toàn bộ hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh; bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong

cấp ủy đảng, trước hết là trong ban thường vụ và thường trực cấp ủy

* Nhiệm vụ của tỉnh ủy

Căn cứ Điều lệ Đảng và quy chế làm việc của tỉnh uỷ, tỉnh ủy có những

nhiệm vụ chung sau đây: Một là, quán triệt đầy đủ và cụ thế hóa các Chỉ thị, Nghị

quyết của Trung ương và nghị quyết của đại hội đảng bộ tỉnh để xác định nhiệm vụ

cụ thể của đảng bộ tỉnh trong từng thời gian nhất định Lãnh đạo và chịu trách

nhiệm trước đảng bộ tỉnh và Trung ương trong việc lãnh đạo tổ chức thực hiện các

Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương trên địa bàn tỉnh đạt kết quả cao nhất Lãnh đạo

xây dựng đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức Hai

là, lãnh đạo xây dựng chính quyền và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị

vững mạnh, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được quy định; chuẩn bị kế hoạch

tiến hành đại hội đảng bộ theo quy định của Điều lệ Đảng và sự chỉ đạo của cấp

trên Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và khen thưởng, kỷ luật theo quy định

của Điều lệ Đảng Ba là, lãnh đạo các mặt công tác của đảng bộ tỉnh giữa hai nhiệm

kỳ đại hội, trong đó lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của địa phương là

một trong những nhiệm vụ trung tâm của tỉnh uỷ Bốn là, thường xuyên chăm lo

xây dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng tổ

chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng

viên Năm là, lãnh đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị mà đại

hội đảng bộ tỉnh đề ra và nhiệm vụ của cấp trên giao

2.2.1.2 Đặc điểm các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng hiện nay

Một là, đặc điểm về tổ chức và nhân sự

Căn cứ theo quy định của Điều lệ Đảng, các văn bản hướng dẫn của các

Ban đảng Trung ương, ban chấp hành đảng bộ tỉnh (gọi tắt là tỉnh ủy), là cơ quan

lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai nhiệm kỳ đại hội, do đại hội đại biểu đảng bộ

tỉnh bầu ra với số lượng uỷ viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh tương ứng với số

lượng đảng viên của đảng bộ, về dân số và vị trí tầm quan trọng của tỉnh Nhiệm

kỳ đại hội đảng bộ tỉnh khoá 2010 - 2015, chín đảng bộ tỉnh bầu được 484 tỉnh uỷ viên, trong đó đại hội Đảng bộ các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định bầu được số lượng tỉnh uỷ viên cao nhất là 55 đồng chí Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Hà Nam bầu được số lượng tỉnh uỷ viên thấp nhất là 51 đồng chí Số tỉnh uỷ viên là người địa phương chiếm gần 98% (những người sinh ra và lớn lên

Về trình độ chuyên môn: 99,6% các đồng chí ủy viên ban chấp hành đảng

bộ tỉnh có trình độ đại học trở lên, đạt chuẩn về trình độ cán bộ theo quy định Trong đó có 166 đồng chí đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, chiếm 34,3% so với tổng số

Về trình độ chính trị: các ban chấp hành đảng bộ tỉnh có 481 đồng chí đã tốt nghiệp chương trình cử nhân chính trị hoặc chương trình cao cấp lý luận chính trị, chiếm 99,3%, đặc điểm này cho thấy, trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị của đội ngũ tỉnh uỷ viên các tỉnh ĐBSH là rất cao, tuy vậy, trong số đó vẫn còn có một số ít tỉnh uỷ viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng theo quy định Về giới tính, số tỉnh uỷ uỷ viên là nữ ở các tỉnh uỷ ĐBSH chỉ có 56 đ/c, chiếm 13% trên tổng số; Tỉnh uỷ Hải Dương có số nữ tỉnh uỷ viên cao nhất là 9 đồng chí, chiếm 19,5% trên tổng số

Về độ tuổi, các đồng chí tỉnh uỷ viên có tuổi đời từ 55 đến 60 là 265 đ/c; từ

45 đến 54 tuổi là 188 đ/c; từ 35 đến 44 tuổi chỉ có 21 đ/c Tính đến tháng 7 năm

2014, những tỉnh uỷ viên có tuổi đời từ 55 tuổi trở lên chiếm 54,7% so với tổng số Đặc điểm này cho thấy, một số lượng lớn các đồng chí tỉnh uỷ viên hết tuổi hoặc gần hết tuổi để được các đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 bầu vào ban chấp hành đảng bộ khoá mới (Xem phụ lục số 8, 9)

Trang 32

Hai là, đặc điểm về nhiệm vụ

Ban chấp hành đảng bộ tỉnh là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai

nhiệm kỳ đại hội đảng bộ Các đồng chí ủy viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh được

giới thiệu và lựa chọn kỹ từ các tổ chức đảng trong toàn đảng bộ theo đúng quy

hoạch, quy trình, đủ tiêu chuẩn và được bầu một cách công khai, dân chủ theo quy

định của Điều lệ Đảng Tỉnh uỷ là hạt nhân lãnh đạo chính trị của đảng bộ, đại biểu

cho tinh thần đoàn kết thống nhất, cho trí tuệ, năng lực và phẩm chất đạo đức của

toàn đảng bộ Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của các tỉnh uỷ nói chung, gắn thực

tiễn nhiệm vụ chính trị của địa phương, đặc điểm nhiệm vụ của các tỉnh uỷ các tỉnh

đồng bằng sông Hồng hiện nay thể hiện trên những điểm sau đây:

Thứ nhất, lãnh đạo chính quyền và nhân dân địa phương quán triệt và thực

hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, các

Nghị quyết của Trung ương và nghị quyết của đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh nhiệm

kỳ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội,

quốc phòng, an ninh, trật tự, bảo đảm cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng trở thành

những tỉnh tiêu biểu về phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng - an ninh

vững mạnh

Thứ hai, lãnh đạo chính quyền và nhân dân địa phương các tỉnh đồng bằng

sông Hồng xây dựng mỗi tỉnh thành một đơn vị chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội

vệ tinh, năng động của Thủ đô Hà Nội; xây dựng mỗi tỉnh thành một khu vực

phòng thủ vững chắc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc

xã hội chủ nghĩa Thực hiện sự kết nối chặt chẽ, toàn diện giữa các tỉnh với Trung

ương, giữa các tỉnh trong vùng với nhau; giữa các tỉnh trong vùng với cả nước và

quốc tế

Thứ ba, lãnh đạo chính quyền và nhân dân địa phương các tỉnh đồng bằng

sông Hồng phát huy truyền thống cách mạng, truyền thống văn hoá và lịch sử vẻ

vang, xây dựng các tỉnh đồng bằng sông Hồng giữ vững vai trò “cái nôi” văn hoá

dân tộc của nước Việt từ ngàn xưa Văn minh công nghiệp sẽ phát triển mạnh mẽ ở

vùng đất này, song để văn minh công nghiệp không lấn át, tàn phá nền văn hoá dân

tộc vô cùng phong phú ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, thì sự lãnh đạo của các

tỉnh uỷ trong việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị của nó trong quá trình công

nghiệp hoá, hiện đại hoá là một nhiệm vụ chính trị hết sức quan trọng và cấp thiết

2.2.2 Khái niệm các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội giai đoạn hiện nay

* Khái niệm lãnh đạo

Hiện nay có khá nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau về thuật ngữ “lãnh đạo” Khoa học quản lý (trong lĩnh vực sản xuất) quan niệm hoạt động lãnh đạo như

là một bộ phận của hoạt động quản lý, là phương tiện để thực hiện quản lý có hiệu quả Những nghiên cứu này cho rằng, nhà quản lý muốn quản lý tốt các hoạt động sản xuất, phải có kỹ năng lãnh đạo tốt Theo đó, nhà quản lý phải có khả năng thuyết phục, lôi cuốn, động viên tư tưởng và tình cảm của người lao động cống hiến cho doanh nghiệp Nhà quản lý phải thể hiện một tấm gương tốt trước những người lao động, nếu họ muốn người lao động noi theo

Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (Nguyễn Hoàng Phê chủ biên) xuất bản năm 1995, giải thích: “lãnh đạo là đề ra chủ trương đường lối và tổ chức động viên thực hiện” [52, tr.524] Theo cách giải thích về khái niệm “lãnh đạo” nói trên thì lãnh đạo là một quá trình gồm hai khâu chính: Một là, xác định quan điểm, chủ trương, đường lối, nghĩa là xác định các nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu và mục tiêu của việc cần làm trong một thời kỳ hay một giai đoạn cụ thể; xác định các nguyên tắc, biện pháp tiến hành để định hướng đối tượng lãnh đạo hành động theo quan điểm, đường lối đã xác định Hai là, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối đã xác định Đây là khâu có tính quyết định hiệu lực và hiệu quả của sự lãnh đạo nhằm thực hiện mục tiêu đề ra

Trong thực tế hoạt động cách mạng, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã luận bàn khá nhiều về khái niệm lãnh đạo Trong cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành hẳn một chương để bàn về cách lãnh đạo Theo Người, lãnh đạo đúng là một quá trình công tác gồm các khâu gắn bó chặt chẽ với nhau, người viết: “Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1 Quyết định mọi vấn đề một cách đúng ;

2 Tổ chức thực hiện cho đúng ; Tổ chức kiểm soát ” [47, tr.285] Với tư là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo mọi mặt hoạt động của Nhà nước và xã hội Vì

Trang 33

vậy, sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền có sự khác biệt với hoạt động quản lý của

Nhà nước, đối tượng lãnh đạo của Đảng

V.I.Lênin, khi phê phán cách lãnh đạo ôm đồm, thiếu khoa học của một

số cán bộ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nga, đã nêu rõ cần phải phân định

giữa lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ mà lãnh đạo đề ra, Người viết: “Không

nên tự mình làm tất cả, làm quá sức mà vẫn không kịp, làm một lúc hàng hai

chục việc mà không việc nào ra trò”, bởi vì “Những người cộng sản ở nước ta

chưa hiểu rõ nhiệm vụ lãnh đạo của mình là như thế nào” [39, tr.293] Người

cũng rất đúng khi chỉ ra rằng: phải phân định rõ rằng giữa nhiệm vụ của đảng,

nhiệm vụ của người lãnh đạo, với nhiệm vụ của chính quyền, nhiệm vụ của

khách thể lãnh đạo, trong mối quan hệ giữa đảng và chính quyền Từ những

phân tích trên cho thấy: lãnh đạo là một quá trình trong đó chủ thể xác định

chủ trương, đường lối, mục tiêu và tổ chức, động viên, khuyến khích, thuyết

phục, huy động mọi nỗ lực, tiềm năng sáng tạo của khách thể (đối tượng lãnh

đạo) thực hiện chủ trương, đường lối đã vạch ra, đồng thời kiểm tra, giám sát

việc thực hiện đó

* Sự lãnh đạo của Đảng

Thuật ngữ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản Việt Nam là đồng nhất, song được tiếp cận dưới hai góc độ khác nhau:

dưới góc độ lãnh đạo là một động từ, lãnh đạo trả câu hỏi Đảng lãnh đạo ai (đối

tượng lãnh đạo)? Dưới góc độ là một danh từ, sự lãnh đạo, nói về công việc lãnh

đạo của Đảng với một đối tượng nào đó Cả hai cách diễn đạt đều nói tới cùng một

nội dung, phương thức, mục đích lãnh đạo, với một đối tượng cụ thể

Về sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đối với các lĩnh vực của đời sống

xã hội, theo phân tích nội hàm khái niệm lãnh đạo trên đây thì, sự lãnh đạo của

Đảng đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội là: Quá trình Đảng đề ra các quan

điểm, chủ trương, đường lối, chính sách đối với các lĩnh vực đời sống xã hội (để

các tổ chức và cá nhân hoạt động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đó thực

hiện); đồng thời tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát các tổ chức, các cơ quan và

cán bộ, đảng viên có liên quan nhằm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương,

chính sách của Đảng, bảo đảm cho quan điểm đường lối chính sách đó được thực thi trong thực tiễn

* Khái niệm các Tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội hiện nay

Các tỉnh uỷ vùng ĐBSH lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội hiện nay là tổng

thể các hoạt động của tỉnh ủy tác động có định hướng, có mục đích vào hệ thống

chính trị và xã hội, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để phát triển văn hóa - xã hội

trên địa bàn Tỉnh uỷ là người đề ra quan điểm, chủ trương, nghị quyết về lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành việc triển khai và

tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết đó Xét về bản chất, tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội là quá trình tiến hành các hoạt động chính trị, tư tưởng,

tổ chức để tác động, định hướng, nêu gương dẫn dắt các tổ chức, các lực lượng xã hội ở địa phương có vai trò, trách nhiệm phát triển văn hoá - xã hội trên địa bàn Xét

về nội dung, tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội là quá trình tỉnh uỷ xác định nội dung, hình thức, phương pháp lãnh đạo đối với lĩnh vực này sao cho có hiệu quả nhất

Từ những diễn giải trên đây, có thể định nghĩa các tỉnh ủy ĐBSH lãnh đạo

phát triển văn hoá - xã hội: là tổng thể các hoạt động của tỉnh ủy trong việc đề ra

chủ trương, nghị quyết về phát triển văn hoá - xã hội; tổ chức, chỉ đạo hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, nhân dân trong tỉnh thực hiện nghị quyết; đồng thời kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện nghị quyết, bảo đảm cho nghị quyết của tỉnh ủy được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn theo hướng không ngừng nâng cao năng lực bảo tồn, sáng tạo và thụ hưởng những giá trị văn hoá - xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần xây dựng con người mới, xã hội mới xã hội chủ nghĩa

Khái niệm nói trên về tỉnh ủy lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thể hiện những nội dung sau đây:

Một là, chủ thể lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh đồng bằng sông Hồng là các đảng bộ tỉnh ở ĐBSH, trong đó trách nhiệm chính, trực tiếp, thường

xuyên là các tỉnh uỷ và ban thường vụ tỉnh ủy

Hai là, lực lượng tham gia vào quá trình tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá

- xã hội là các huyện uỷ và ban thường vụ huyện uỷ; ở xã là đảng uỷ và ban thường

Trang 34

vụ đảng ủy xã; chi bộ đảng; là cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các ngành, các

cấp có trách nhiệm lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hoá - xã hội ở ngành

và địa phương mình phụ trách Là các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, các đơn vị

sự nghiệp, doanh nghiệp, các lực lượng vũ trang hoạt động trên địa bàn

Ba là, đối tượng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội của Tỉnh uỷ là các tổ

chức và lực lượng xã hội, là cán bộ, đảng viên và nhân dân với tư cách là người

sáng tạo và thụ hưởng các thành quả phát triển văn hoá - xã hội Đối tượng ấy gồm:

các đảng bộ và tổ chức đảng trực thuộc; các cơ quan nhà nước thuộc tỉnh; các tổ

chức khác trong hệ thống chính trị; cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân địa

phương; các lực lượng vũ trang nhân dân và các đơn vị sự nghiệp; các thành phần

kinh tế và các lực lượng xã hội khác có liên quan Ngoài ra, còn các lực lượng

chuyên môn, chuyên trách tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển văn hoá - xã

hội ở địa phương

Bốn là, quá trình lãnh đạo của tỉnh ủy bao gồm các bước: ban hành chủ

trương, nghị quyết, quyết định những vấn đề về phát triển văn hoá - xã hội; lãnh

đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng thuộc quyền, chính quyền và các tổ chức trong hệ

thống chính trị tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết đó; tổ chức kiểm tra, giám

sát các tổ chức đảng và đảng viên thuộc quyền thực hiện nghị quyết lãnh đạo của

Tỉnh ủy

Năm là, mục tiêu lãnh đạo của tỉnh ủy đối với nhiệm vụ phát triển văn hoá -

xã hội là xây dựng con người mới, xã hội mới xã hội chủ nghĩa thông qua con

đường làm thay đổi sâu sắc đời sống văn hoá - xã hội ở địa phương từ một nền

văn hoá - xã hội nông nghiệp chậm phát triển, sớm trở thành nền văn hoá - xã hội

công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc Cả ở nông

thôn và thành thị có cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật được xây dựng theo quy

hoạch khoa học; có hệ thống chính trị vững mạnh; kinh tế - xã hội phát triển bền

vững; môi trường tự nhiên và môi trường xã hội xanh, sạch, lành mạnh; quốc

phòng, an ninh và trật tự xã hội được giữ vững Nói cách khác, mục tiêu lãnh đạo

phát triển văn hoá - xã hội của các tỉnh ủy ĐBSH là xây dựng các tỉnh trở thành xã

hội giàu bản sắc, văn minh, hiện đại, con người phát triển toàn diện theo định

hướng xã hội chủ nghĩa

2.2.3 Nội dung lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển văn hóa - xã hội

Đến nay đã có khá nhiều công trình khoa học luận bàn về nội dung lãnh đạo của Đảng nhưng đáng chú ý hơn cả là đề tài khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 1991 -

1995 về: “Đặc điểm, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh

vực trọng yếu”, đề tài đã được nghiệm thu và in thành sách với tiêu đề: “Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước ta” Các tác giả

của đề tài đã đưa ra quan niệm về nội dung lãnh đạo của Đảng đối với một số lĩnh vực trọng yếu như: lĩnh vực công tác tư tưởng, lý luận; lĩnh vực kinh tế; lĩnh vực văn học - nghệ thuật Đối với lĩnh vực kinh tế, nội dung lãnh đạo của Đảng được xác định: Đảng “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Đảng quyết định đường lối và những chủ trương lớn về kinh tế; Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước vững mạnh đủ sức quản lý có hiệu quả nền kinh tế quốc dân; lãnh đạo xây

dựng đội ngũ cán bộ công chức và lao động có tay nghề cao” [42, tr.130-140]

Đối với lĩnh vực văn học - nghệ thuật, nội dung lãnh đạo của Đảng được xác định là: “Giữ vững định hướng tư tưởng cho hoạt động sáng tác và cảm thụ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo, phổ biến và tiếp nhận các sản phẩm; Tạo sự gắn

bó giữa văn nghệ sĩ, công chúng và các cơ quan quản lý văn học, nghệ thuật; Chăm sóc tài năng văn học, nghệ thuật; Đánh giá đúng, khách quan các tác phẩm văn học

- nghệ thuật” [42, tr.207-214] Như vậy, đối với mỗi lĩnh vực đời sống xã hội cụ thể, nội dung lãnh đạo của Đảng có sự khác nhau nhất định, xuất phát từ đặc điểm riêng của từng lĩnh vực

Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSH đối với phát triển văn hoá - xã hội thể hiện tập trung ở những nội dung lãnh đạo cụ thể và ở phương thức thực hiện những nội dung đó Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của các tỉnh ủy ĐBSH và nội dung, mục tiêu phát triển văn hoá - xã hội của các tỉnh giai đoạn 2010 - 2020 có thể xác định nội dung lãnh dạo phát triển văn hoá - xã hội của các tỉnh ủy ĐBSH như sau:

Một là, tỉnh uỷ xác định quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp cho từng nội dung phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương

Tỉnh uỷ xây dựng chủ trương, nghị quyết xác định rõ mục tiêu, giải pháp, điều kiện để thực hiện từng nội dung phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương như: phát triển con người các tỉnh ĐBSH của thời kỳ mới với những phẩm chất tiêu biểu

Trang 35

về trí tuệ, tư tưởng, đạo đức, lối sống, có số lượng và cơ cấu hợp lý, khoẻ mạnh về

thể chất và vóc dáng; xác định mục tiêu, nhiệm vụ, tiêu chí cần đạt được trong xây

dựng môi trường văn hoá - xã hội; xác định phương hướng giải pháp phát triển kinh

tế, giải quyết việc làm và an sinh xã hội cho người lao động hiện nay; phương

hướng, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp nhằm giải quyết tốt vấn đề tăng trưởng kinh

tế, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, khắc phục tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông

và tai nạn lao động… Từng nội dung trong số những nội dung phát triển văn hoá -

xã hội ở địa phương phải được nghiên cứu, xem xét quyết định một cách thận trọng,

vừa bảo đảm lãnh đạo toàn diện, vừa có trọng điểm nhằm giải quyết khâu đột phá,

nhiệm vụ trọng điểm của từng thời kỳ

Hai là, tỉnh ủy lãnh đạo hệ thống chính trị nói chung(HTCT), đặc biệt là

lãnh đạo chính quyền địa phương thực hiện thắng lợi các chủ trương, nghị quyết

của tỉnh uỷ về phát triển văn hoá - xã hội

Lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội là nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp, lâu

dài, nó đòi hỏi phải làm thay đổi thói quen, nếp nghĩ, lối sống không còn phù hợp

của từng người và toàn bộ cộng đồng nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới Nói

về những khó khăn lâu dài của phát triển văn hoá - xã hội, người ta dùng hai hành vi

trái ngược để diễn tả: “vứt một cọng rác ra nơi công cộng, người ta chỉ mất một

giây, nhưng để cúi xuống nhặt một cọng rác nơi công cộng, phải mất một trăm

năm” Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển văn hoá - xã hội, các tỉnh ủy phải

lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị nói chung, đặc biệt là lãnh đạo chính quyền tỉnh

thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của tỉnh ủy thành kế hoạch, quy hoạch,

chiến lược có tính pháp quy để các lực lượng xã hội thực hiện; đồng thời, tinh uỷ

phải lãnh đạo chăm lo xây dựng chính quyền thực sự vững mạnh, có hiệu lực, hiệu

quả để làm tốt các chức năng theo quy định của pháp luật Đây được xem là nội

dung lãnh đạo có ý nghĩa quyết định thắng lợi trong tổ chức thực hiện nghị quyết

của tỉnh ủy về phát triển văn hoá - xã hội

Ba là, tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng thuộc quyền thực

hiện các chủ trương, nghị quyết của tỉnh uỷ về phát triển văn hoá - xã hội

Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng thuộc quyền quán triệt và

vận dụng sáng tạo nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển văn hoá - xã hội để lãnh đạo

cơ quan, đơn vị, địa phương mình có bước chuyển biến mạnh mẽ từ trong đảng bộ

ra đến nhân dân trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, chủ trương và nghị quyết của Tỉnh ủy về phát triển văn hoá -

xã hội ở địa phương

Bốn là, tỉnh uỷ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách có phẩm chất và năng lực làm công tác văn hóa - xã hội ở địa phương

Phát triển văn hoá - xã hội là sự nghiệp lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có các cơ quan chuyên trách tinh thông nghiệp vụ, đội ngũ cán bộ yêu nghề và giỏi nghề Các cơ quan tham mưu và đơn vị sự nghiệp chuyên trách của tỉnh uỷ và chính quyền tỉnh hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - xã hội hết sức phức tạp, gồm nhiều loại hình chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau như: ban tuyên giáo tỉnh uỷ; sở văn hoá - thông tin; sở bưu điện và truyền thông; sở lao động, thương binh và xã hội; sở tài nguyên, môi trường; sở y tế; sở giáo dục và đào tạo; các báo, tạp chí của tỉnh, đài truyền thanh, truyền hình tỉnh; trường chính trị, trường văn hoá - nghệ thuật, trường đại học và cao đẳng thuộc tỉnh… Để có đội ngũ cán bộ và các cơ quan chuyên trách như vậy, tỉnh uỷ phải thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn đội ngũ cán bộ đúng đắn; xây dựng và kiện toàn tổ chức, bộ máy của những cơ quan, đơn vị này Công tác tạo nguồn, lựa chọn nguồn để sử dụng cần xem xét trên hai phương diện vừa có kiến thức, kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, vừa có phẩm chất đạo đức, lối sống phù hợp công việc của người cán bộ văn hoá -

xã hội Cán bộ văn hoá - xã hội phải là những người yêu nghề, yêu người, nhiệt thành với công việc, có năng lực chuyên môn, thậm chí, trên một số mặt công tác cán bộ phải có năng khiếu nhất định mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Các cơ quan tuyển dụng cán bộ phải hết sức chú ý đến đặc điểm nghề nghiệp văn hoá - xã hội để lựa chọn, bố trí sử dụng cán bộ

Năm là, tỉnh uỷ lãnh đạo Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội tham gia phát triển văn hoá - xã hội trên địa bàn

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là nơi đoàn kết, tập hợp các lực lượng xã hội phấn đấu xây dựng xã hội mới, con người mới, nền văn hoá mới tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

Trang 36

không chỉ là lực lượng xã hội quan trọng tham gia xây dựng nghị quyết, tổ chức

thực hiện nghị quyết lãnh đạo của tỉnh uỷ, mà còn thực hiện chức năng giám sát,

phản biện hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương Vì vậy, phát huy vai

trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là một nội dung

lãnh đạo không thể thiếu của tỉnh uỷ

2.2.4 Phương thức lãnh đạo của tỉnh ủy đối với phát triển văn hóa - xã hội

Đề tài khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 1991 - 1995 về: “Đặc điểm, nội

dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu” và sách

“Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước

ta” khi luận giải về phương thức lãnh đạo Đảng đối với lĩnh vực văn học - nghệ

thuật đã chỉ rằng, Đảng lãnh đạo văn học - nghệ thuật:

bằng việc xây dựng, củng cố tổ chức đảng trong cơ quan văn hoá và các

hội văn học - nghệ thuật, kiện toàn bộ máy tham mưu về văn hoá - nghệ

thuật; Lãnh đạo bằng bộ máy quản lý nhà nước, hệ thống luật pháp và các

chính sách; Lãnh đạo thông qua các hội chuyên ngành và liên hiệp các hội

văn học - nghệ thuật; Lãnh đạo thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên hoạt

động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật; lãnh đạo thông qua đội ngũ cán

bộ lý luận, phê bình và sự phê bình của công chúng [42, tr.216-222]

Tiếp theo ý này, trong cuốn“Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” các

tác giả cũng cho rằng: “Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các hình thức,

phương pháp, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà Đảng

sử dụng nhằm làm cho đường lối chủ trương, chính sách của Đảng được thực hiện

có hiệu quả cao nhất trong cuộc sống” Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong

thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) ở nước ta hiện nay, Đảng

ta khẳng định: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội:

bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ

trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức,

kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng

thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới

thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt

động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị [21, tr.88-89]

Phương thức lãnh đạo và nội dung lãnh đạo của Đảng có quan hệ mật thiết với nhau, khi đã xác định được nội dung lãnh đạo đúng thì cần phải tìm ra phương thức lãnh đạo phù hợp mới có thể làm cho nội dung lãnh đạo được thực hiện tốt trong thực tiễn Trong thực tế, giữa nội dung lãnh đạo và phương thức lãnh đạo không có sự phân biệt rạch ròi, sự khác nhau giữa chúng chỉ là tương đối Tuy nhiên, chúng ta cần làm rõ sự khác nhau giữa nội dung lãnh đạo và phương thức lãnh đạo để có giải pháp tác động phù hợp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng Thực tế đã chứng minh: khi có đường lối đúng, có tổ chức hợp lý mà không

có phương thức lãnh đạo phù hợp thì hiệu quả lãnh đạo thấp, thậm chí còn làm vô hiệu hoá cả chủ trương đúng của Đảng và của các cấp uỷ Đảng Phương thức lãnh đạo của Đảng sẽ thay đổi khi hoàn cảnh, điều kiện thay đổi, tình hình cách mạng thay đổi

Từ những vấn đề nêu trên có thể quan niệm phương thức lãnh đạo của các

tỉnh uỷ ĐBSH đối với phát triển văn hoá - xã hội là: hệ thống các hình thức,

phương pháp, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà tỉnh uỷ

sử dụng để tác động vào hệ thống chính trị, nhất là các tổ chức đảng, chính quyền, các ngành, các cấp, các lực lượng xã hội ở địa phương nhằm thực hiện tốt nội dung lãnh đạo của tỉnh uỷ về phát triển văn hoá - xã hội trên địa bàn, qua các giai đoạn khác nhau Khái niệm trên cho thấy, phương thức lãnh đạo của các Tỉnh ủy ĐBSH

đối với phát triển văn hoá - xã hội thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tỉnh ủy lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua ban hành các chủ trương, nghị quyết và những định hướng lớn về phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương để các tổ chức, các lực lượng xã hội thực hiện theo chức năng, nhiệm

vụ của mình

Trên cơ sở nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển văn hoá - xã hội, ban thường

vụ tỉnh ủy cho ý kiến về những vấn đề trọng tâm của phát triển văn hoá - xã hội của tỉnh trước khi đưa ra HĐND tỉnh bàn bạc, thảo luận ra nghị quyết để tổ chức thực hiện Đồng thời, cho ý kiến về hoạt động của các cơ quan tham mưu cho tỉnh uỷ và chính quyền tỉnh liên quan đến công tác văn hoá - xã hội như: ban tuyên giáo tỉnh

uỷ, sở văn hoá thông tin, sở lao động và thương binh xã hội để các cơ quan này

Trang 37

hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định, đảm bảo cho các nghị

quyết của tỉnh ủy về phát triển văn hoá - xã hội được thực hiện thắng lợi ở địa

phương Trong trường hợp phát sinh những vấn đề phức tạp về văn hoá - xã hội,

ban thường vụ tỉnh uỷ sẽ cho ý kiến định hướng giải quyết trước khi HĐND tỉnh

xem xét, quyết định

Hai là, tỉnh ủy lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua các cơ quan

nhà nước cấp tỉnh

Tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền tỉnh cụ thể hóa nghị quyết của tỉnh ủy về phát

triển văn hoá - xã hội thành nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án công tác của

hội đồng nhân dân và UBND tỉnh, qua đó thực hiện quản lý nhà nước đối với các

hoạt động văn hoá - xã hội Trong từng giai đoạn nhất định, căn cứ vào nghị quyết

lãnh đạo của tỉnh ủy, nghị quyết của hội đồng nhân và uỷ ban nhân dân tỉnh, các cơ

quan chức năng của uỷ ban nhân dân sẽ xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án

công tác thực hiện các nội dung phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương, qua đó

đưa nghị quyết lãnh đạo của tỉnh uỷ thành hiện thực

Ba là, tỉnh ủy lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua công tác tổ

chức, cán bộ của đảng bộ

Thông qua công tác tổ chức, cán bộ, tỉnh uỷ chăm lo xây dựng, kiện toàn tổ

chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND, UBND tỉnh và lãnh đạo,

chỉ đạo các cấp uỷ trực thuộc lãnh đạo chính quyền cùng cấp Đây là một nội dung

rất quan trọng trong PTLĐ của tỉnh uỷ đối với nhiệm vụ phát triển văn hoá - xã hội

Không có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ cán bộ chuyên môn say

nghề và yêu nghề hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - xã hội làm nòng cốt thì không

thể phát triển được văn hoá - xã hội ở địa phương Cho nên, phương thức lãnh đạo

phát triển văn hoá - xã hội thông qua công tác tổ chức cán bộ là phương thức lãnh

đạo cơ bản, hiệu quả của tỉnh uỷ trên lĩnh vực công tác này

Bốn là, tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua công tác tư

tưởng của Đảng

Tiến hành các mặt công tác của đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh

đạo Nhà nước và xã hội là một phương thức lãnh đạo phổ biến và quan trọng của

Đảng đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, đối với lĩnh vực văn hoá -

xã hội nói riêng Thông qua công tác tư tưởng của đảng bộ, tỉnh ủy tiến hành tổng kết thực tiễn, góp phần phát triển và hoàn thiện lý luận về phát triển văn hoá - xã hội, cung cấp những căn cứ khoa học và thông tin, tư liệu khách quan phục vụ quá trình lãnh đạo của tỉnh ủy trên lĩnh vực này

Năm là, tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua công tác kiểm tra, giám sát là phương thức lãnh đạo quan trọng của tỉnh uỷ Bởi, từ rất sớm Đảng ta đã khẳng

định: “Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo” Thông qua

công tác kiểm tra, giám sát, tỉnh ủy phát hiện những nhân tố mới trong lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội, tạo điều kiện cho những nhân tố đó phát triển, đồng thời uốn nắn những lệch lạc, xử lý nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, đảm bảo cho nghị quyết của tỉnh ủy được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn

Sáu là, tỉnh ủy lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên hoạt động trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan

Lãnh đạo thông qua phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên của Đảng là đòi hỏi tất yếu và là một trong những nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSH đối với phát triển văn hoá -xã hội hiện nay Trên thực tế, tất cả những vị trí quan trọng của cơ quan chính quyền, đoàn thể, của các tổ chức văn hoá - xã hội từ tỉnh đến cơ sở đều do đảng viên nắm giữ Những đảng viên này lại chịu sự quản lý, giáo dục trực tiếp của các tổ chức đảng được lập ở các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội tương ứng Vì vậy, phát huy tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - xã hội, tự nó đã làm nên sức mạnh lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân

Trang 38

Tiểu kết chương 2

Chương 2 của luận án nghiên cứu, xem xét những vấn đề lý luận, thực tiễn

liên quan đến sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ ĐBSH đối với phát triển văn hoá - xã hội

ở địa phương giai đoạn hiện nay, cụ thể là:

Trình bày khái quát những đặc điểm tự nhiên, kinh tế và văn hoá, xã hội của

các tỉnh ĐBSH hiện nay; làm rõ chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của các tỉnh uỷ

ĐBSH, qua đó thấy rõ bối cảnh thực tế sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ đối với phát

triển văn hoá - xã hội ở địa phương Sự lãnh đạo của tỉnh uỷ luôn chịu những tác

động mạnh mẽ của tình hình khách quan, biểu hiện trên những đặc điểm chủ yếu

được trình bày trong luận án

Làm rõ những khái niệm công cụ quan trọng liên quan trực tiếp đến đề tài

luận án như: văn hoá, xã hội, văn hoá - xã hội, phát triển văn hoá - xã hội ở Việt

Nam nói chung, phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH nói riêng Luận án chú

trọng làm rõ nội hàm khái niệm phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH hiện

nay với mười hai nội dung chủ yếu

Trên cơ sở các khái niệm: Đảng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội, phát

triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH hiện nay, luận án trình bày khái niệm trung

tâm của luận án là: các Tỉnh uỷ ĐBSH lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay

Luận án đã trình bày và phân tích làm rõ nội hàm của khái niệm này Luận án nêu:

các Tỉnh uỷ ĐBSH lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay là tổng thể các

hoạt động của Tỉnh ủy trong việc đề ra chủ trương, nghị quyết về phát triển văn hoá

- xã hội; lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên,

nhân dân thực hiện nghị quyết; đồng thời kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện,

bảo đảm cho nghị quyết của Tỉnh ủy được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn theo

hướng không ngừng nâng cao năng lực bảo tồn, sáng tạo và thụ hưởng những giá

trị văn hoá - xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần xây dựng con người mới,

xã hội mới xã hội chủ nghĩa Những kết quả nghiên cứu ở chương 2 của luận án là

cơ sở lý luận phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu ở chương 3 của luận án, chương đánh

giá thực trạng phát triển văn hoá - xã hội và sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ ĐBSH đối

với phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương hiện nay

Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM 3.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

3.1.1 Những thành tựu chủ yếu trong phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay

3.1.1.1 Các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã chú trọng đầu tư phát triển con người và chăm lo xây dựng môi trường văn hoá - xã hội đạt nhiều thành tựu tốt đẹp

* Về phát triển con người

Sự phát triển con người ở các tỉnh ĐBSH trong thời gian vừa qua đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ về trí tuệ, tư tưởng, đạo đức, lối sống; có số lượng và cơ cấu tương đối hợp lý, được cải thiện về thể chất và vóc dáng Xem xét đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển con người và nguồn lực con người ở các tỉnh ĐBSH trong những năm vừa qua, có thể đánh giá tổng quát trên các mặt sau đây: Theo niên giám thống kê của 9 tỉnh ĐBSH, tính đến hết năm 2012, dân số các tỉnh là 9.765.445 người Về quy mô dân số, các tỉnh ĐBSH có mật độ dân số so với các tỉnh khác, thuộc loại cao nhất nước, vì vậy là điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH Năm 2012, tuổi thọ trung bình ở các tỉnh là 75,8 tuổi, cao hơn tuổi thọ trung bình của cả nước một chút (74,8 tuổi)

Về cơ cấu dân số, dân số trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên, đang làm việc trong các thành phần kinh tế có sự phát triển khá nhanh: năm 2008 là 6.345.570 người, đến năm 2012 là 6.761.359 người

Về trình độ học vấn, trí tuệ, đạo đức và tư tưởng, các tỉnh ĐBSH có lợi thế của miền châu thổ bao xung quanh Thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng, nhân dân có truyền thống văn hiến lâu đời, các đảng bộ và chính quyền địa phương

đã và đang tiếp tục đầu tư lớn cho phát triển giáo dục, đào tạo và dậy nghề, nâng cao trình độ mọi mặt cho người dân Các tỉnh ĐBSH đã phổ cập giáo dục trung học

cơ sở, đang nỗ lực hướng tới phổ cập giáo dục trung học phổ thông vào năm 2020

Trang 39

Trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động đã qua đào tạo nghề đang tăng

mạnh cùng với quy mô mở rộng các cơ sở đào tạo nghề trong vùng

Công tác tuyên truyền, vận động đến từng người dân thấm nhuần quan điểm

học tập suốt đời, học để sáng tạo cuộc sống mới đạt được nhiều thành tựu quan

trọng: Về mặt đạo đức xã hội, các cấp bộ đảng và chính quyền nơi đây đã nhận thức

rõ vai trò to lớn của đạo đức xã hội đối với sự phát triển toàn diện của cá nhân con

người cũng như đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội nói chung Người

lãnh đạo và quản lý đều đã thấy rõ giá trị cốt lõi và nền tảng của đạo đức của mỗi

người dân là lòng trung thực với mình, với mọi người và xã hội Không có đạo đức

trong kinh doanh, trong sản xuất, cũng như trong tiêu dùng thì kinh tế chỉ phát triển

đến một chừng mực nào đấy sẽ phải dừng lại, vô đạo đức sẽ phá hoại phát triển kinh

tế, phá hoại môi sinh, phá hoại sự sống của chính những người đang sản xuất kinh

doanh và tiêu dùng Các cấp bộ đảng ĐBSH cũng chú trọng giáo dục cho các tầng

lớp nhân dân những giá trị tư tưởng phổ quát về lòng yêu nước, yêu quê hương, gia

đình được hoà quyện với tình cảm yêu kính lãnh tụ, yêu chế độ xã hội mà toàn

Đảng và toàn dân đang ra sức phấn đấu xây dựng; ngăn chặn lối sống thực thực

dụng, vọng ngoại, biến thái Đánh giá thành tựu xây dựng tư tưởng, đạo đức lối

sống của con người, tỉnh Quảng Ninh nhận định: “Tư tưởng đạo đức, lối sống, lĩnh

vực then chốt của văn hoá đã có chuyển biến quan trọng Chủ nghĩa Mác-Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển ngày càng tỏ rõ giá trị bền vững

là nền tảng và kim chỉ nam cho hành động và nhân tố hàng đầu bảo đảm cho đời

sống tinh thần của xã hội phát triển” [95]

Các tầng lớp nhân dân, nhất là tầng lớp thanh niên đã sớm thích ứng với mô

hình kinh tế chuyển đổi từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa, và đi liền với nó là những thay đổi định hướng giá trị trong

phát triển nguồn lực con người, và phát triển nhân cách Lớp người trẻ tuổi tiếp cận

rất nhanh với những giá trị văn hoá - xã hội mới, có ý chí vươn lên làm giàu, tự lập

và tự chủ Ở tỉnh nào trong vùng khi nói đến các ông chủ, người ta đều hình dung là

những ông chủ trẻ tuổi, trưởng thành trong thời kỳ đất nước đổi mới

* Về chăm lo xây dựng và phát triển môi trường văn hoá - xã hội

Những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển văn hoá xã hội đã nhận được sư đồng tình cao của các đảng bộ, chính quyền các tỉnh ĐBSH, vì vậy các chủ trương, nghị quyết của Đảng nêu ở Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII và Văn kiện Đại hội XI về phát triển văn hoá - xã hội đã sớm

đi vào cuộc sống Trong số những nhiệm vụ, nội dung phát triển văn hoá - xã hội, nhiệm vụ xây dựng và phát triển môi trường văn hoá - xã hội được xem là nhiệm vụ

trọng tâm Ở các tỉnh ĐBSH, tỉnh uỷ, chính quyền, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và

các tổ chức chính trị xã hội đều xác định rõ vị trí, vai trò quan trọng của xây dựng, phát triển môi trường văn hoá - xã hội, bởi đây là không gian, môi trường sống của mỗi con người, có vai trò gắn kết và xây dựng con người trở nên có văn hoá Trên cơ sở sự lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh uỷ, hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, đề án, kế hoạch xây dựng

và phát triển môi trường vă hoá - xã hội ở địa phương Mặt trận tổ quốc Việt Nam

và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh phối hợp cùng chính quyền đồng loạt tổ chức các phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “làng, khu phố văn hoá”, “gia đình văn hoá” tạo thành một phong trào vận động xã hội mạnh mẽ, có tác dụng rất tốt trong đời sống tinh thần của nhân dân UBND tỉnh Bắc Ninh đánh giá:

“sau một thời gian triển khai, phong trào trên địa bàn tinh đã đạt được nhiều kết quả và trở thành cuộc vận động văn hoá - xã hội lớn, đem lại những kết quả có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần tạo diện mạo mới trong đời sống văn hoá - xã hội của tỉnh, đặc biệt là trên địa bàn khu dân cư” [104] Phong trào xây dựng “gia đình văn hoá” đã góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, đề cao giá trị đạo đức, phát huy truyền thông gia đình Việt Nam Đánh giá kết quả phong trào xây dựng gia đình văn hoá, tỉnh Hưng Yên nhận định: “Phong trào xây dựng

"Làng văn hoá", "Gia đình văn hoá", "Khu dân cư văn hóa", "Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con trung hiếu, cháu thảo hiền" ngày càng tăng về số lượng và chất

lượng Năm 1997 cả tỉnh có 37 làng văn hoá, năm 2003 có 387 làng và 1 khu phố văn hoá, chiếm tỷ lệ gần 47% tổng số làng và khu phố toàn tỉnh, năm 2012 có 81% số làng, khu phố văn hóa… năm 1997 cả tỉnh có 115.000 gia đình văn hoá

Trang 40

(chiếm tỷ lệ 42,5% tổng số hộ gia đình của toàn tỉnh), năm 2003 có 148.000 gia

đình văn hoá (chiếm 72%); năm 2012, có 86% gia đình được công nhận gia đình

văn hoá; 47.269 gia đình được công nhận danh hiệu "Ông bà, cha mẹ mẫu mực,

con trung hiếu, cháu thảo hiền" [92]

Tính đến năm 2013, hầu hết các khu dân cư ở nông thôn, khu phố ở thành

phố, thị xã thuộc tỉnh đều có nhà văn hoá, câu lạc bộ, sân bãi thể thao, để nhân dân

hội họp, tập luyện sức khoẻ, vui chơi, giải trí Nhiều làng, xã mở được thư viện và

duy trì hoạt động phục vụ cộng đồng Theo báo cáo của tỉnh Hưng Yên: “Toàn tỉnh

có gần 1.300 câu lạc bộ các loại hình, trong đó có trên 500 câu lạc bộ văn hóa, văn

nghệ hoạt động thường xuyên và có hiệu quả Nhiều câu lạc bộ thu hút đông đảo

hội viên tham gia như: CLB thơ Phố Hiến (TP Hưng Yên); CLB dưỡng sinh (Yên

Mỹ); CLB thơ, CLB sinh vật cảnh (Mỹ Hào, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ); CLB ca

trù, CLB trống quân (Khoái Châu)…” [92]

3.1.1.2 Chăm lo phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ đạt

được những thành tựu nổi bật

* Về phát triển giáo dục - đào tạo

Một là, trong những năm vừa qua, các tỉnh ĐBSH đã phát triển mạnh quy

mô giáo dục đào tạo và mạng lưới cơ sở giáo dục - đào tạo, dạy nghề nhằm đáp

ứng tốt hơn nhu cầu học tập và lao động của nhân dân Trong 5 năm vừa qua, quy

mô các cấp học, bậc học đều tăng nhanh cả về số trường, lớp, học sinh, sinh viên,

giáo viên và giảng viên Theo niên giám thống kê năm 2012, năm giữa nhiệm kỳ

đại hội đảng bộ tỉnh (2010 2015) của 9 tỉnh ĐBSH, ở bậc học mầm non, số trường

học đã phát triển lên 3.469 trường, với 627.878 học sinh và 36.266 giáo viên Ở

bậc học phổ thông, cả ba cấp học: tiểu học, trung học cơ sở; trung học phổ thông,

số liệu thống kê cho thấy đều tăng về số trường, số học sinh và giáo viên Ví dụ, ở

cấp trung học phổ thông, 9 tỉnh ĐBSH có 360 trường, bình quân mỗi tỉnh có hơn

40 trường; số học sinh theo học là 384.732 người; số giáo viên phục vụ là 20.503

người (phụ lục 3) Ở bậc học đại học và cao đẳng, hiện mở 20 trường đại học với

78.251 sinh viên theo học và 4.522 giảng viên phục vụ, tính trung bình mỗi tỉnh có

hơn 2 trường đại học; có 36 trường cao đẳng các loại, với 86851 sinh viên theo

học và 4.837 giáo viên phục vụ Về dạy nghề và trung học chuyên nghiệp, hiện có

39 trường trung học chuyên nghiệp (vừa đào tạo văn hoá, vừa đào tạo nghề), với 51.472 học sinh và 1.891 giáo viên Riêng các cơ sở chuyên làm công tác dạy nghề thì số lượng lớn hơn nhiều Chỉ tính ở Vĩnh Phúc đã có “22 trung tâm dạy nghề; 24 cơ sở khác có dạy nghề, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề được chú trọng đầu tư… hiện số giáo viên của các cơ sở dạy nghề đăng ký hoạt động là 1.830 người” [103, tr.121-123]

Đánh giá về những đầu tư mở rộng cơ sở giáo dục đào tạo ở địa phương, UBND tỉnh Bắc Ninh nhận định, tỉnh đã: “tập trung chỉ đạo tăng cường cơ sở vật chất trường học, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia Kinh phí ngân sách đầu tư tăng từ 20.575 triệu đông năm 1997 lên 214.374 triệu đồng Đến hết năm 2012, toàn tỉnh Bắc Ninh đã có 95% trường học được kiên cố” [104]

Hai là, chất lượng giáo dục - đào tạo ở các cấp học đã đáp ứng nhu cầu học

tập, nâng cao dân trí cho nhân dân, bước đầu đáp ứng yêu cầu học nghề và dạy nghề cho người lao động trong các thành phần kinh tế Các tỉnh đã chú trọng huy động các nguồn lực đầu tư và xã hội hoá giáo dục - đào tạo Với việc mở rộng mạng lưới và cơ sở giáo dục - đào tạo, dạy nghề trong những năm vừa qua, các tỉnh ĐBSH đã bắt đầu chú ý nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Giaó dục mầm non và phổ thông có chất lượng khá tốt Giaó dục đại học và cao đẳng trong điều kiện có nhiều khó khăn về đầu tư cơ sở vật chất, tài chính, số lượng, chất lượng giảng viên, nhưng đã có nhiều cố gắng duy trì năng lực, chất lượng đào tạo như đã

có, nhất là khối các trường đại học và cao đẳng công lập; tổng kết 15 năm thực hiện NQTW 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, báo cáo của các Tỉnh uỷ ĐBSH về chất lượng giáo dục - đào tạo ở các cấp học ở địa phương đều khẳng định ý này Tỉnh Nam Định cho rằng: “Chất lượng giáo dục đại trà được nâng lên… Các trường đã chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, “dạy chữ” luôn đi liền với

“dạy người” Môi trường văn hoá trong các trường học được chú ý, tỷ lệ học sinh chăm ngoan, có đạo đức xếp loại khá và tốt ngày càng tăng” [93] Tỉnh Quảng Ninh đánh giá: “giáo dục đào tạo tiếp tục duy trì quy mô và nâng cao chất lượng ở

Ngày đăng: 10/06/2017, 14:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Bắc (2001), Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
30. Hoàng Văn Hảo (1992), "Một số vấn đề giải quyết đứng đắn mối quan hệ giữa dân chủ và pháp chế trong quá trình đổi mới nước ta", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 77, tr.16-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giải quyết đứng đắn mối quan hệ giữa dân chủ và pháp chế trong quá trình đổi mới nước ta
Tác giả: Hoàng Văn Hảo
Năm: 1992
31. Trần Thái Học (2007), Quan điểm văn hóa, văn nghệ của đồng chí Trường Chinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm văn hóa, văn nghệ của đồng chí Trường Chinh
Tác giả: Trần Thái Học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
32. Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (2011), Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND về một số chính sách hỗ trợ tay nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo giai đoạn 2012-2015, Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND về một số chính sách hỗ trợ tay nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo giai đoạn 2012-2015
Tác giả: Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
Năm: 2011
33. Lê Thị Thanh Hương (Chủ biên) (2009), Ứng xử của người dân vùng đồng bằng sông Hồng trong gia đình, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử của người dân vùng đồng bằng sông Hồng trong gia đình
Tác giả: Lê Thị Thanh Hương (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2009
34. Trần Thị Lan Hương (2000), Tác động của phân tầng mức sống vào quá trình phát triển văn hoá nông thôn, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của phân tầng mức sống vào quá trình phát triển văn hoá nông thôn
Tác giả: Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2000
35. Trần Đình Huỳnh (2001), Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước
Tác giả: Trần Đình Huỳnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
36. Khăm bay ma la sinh (2009), Thực trạng đói nghèo trong các hộ gia đình ở nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, giải pháp, Luận văn thạc sĩ Xã hội học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đói nghèo trong các hộ gia đình ở nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, giải pháp
Tác giả: Khăm bay ma la sinh
Năm: 2009
37. Cao Ngọc Lân, Cao Vũ Minh (2013), Tìm hiểu văn hoá tâm linh của người Việt, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hoá tâm linh của người Việt
Tác giả: Cao Ngọc Lân, Cao Vũ Minh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2013
38. Nhị Lê (2006), "Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa với quyết tâm mới và hành động mới", số 759, Tạp chí Cộng sản, tr.29-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa với quyết tâm mới và hành động mới
Tác giả: Nhị Lê
Năm: 2006
40. Đinh Xuân Lý (Chủ biên) (2005), Tìm hiểu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Lý (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
42. Lê Văn Lý (Chủ biên) (1999), Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước ta
Tác giả: Lê Văn Lý (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
43. C.Mác (1984), Bộ tư bản, Tập thứ nhất, quyển I, phần 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tư bản
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
44. C.Mác, Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
45. C.Mác, Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
46. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
47. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
48. Phạm Xuân Nam (2008), Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa - một góc nhìn từ Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa - một góc nhìn từ Việt Nam
Tác giả: Phạm Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
49. Nhà xuất bản Pháp chế Trung Quốc, Đề cương quy hoạch phát triển văn hoá Trung Quốc, Tài liệu dịch, Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện khoa học xã hội và Nhân văn Việt Nam, lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương quy hoạch phát triển văn hoá Trung Quốc
Nhà XB: Nhà xuất bản Pháp chế Trung Quốc
50. Nguyễn Đức Nhuận (2008), Tỉnh ủy Thái Bình lãnh đạo công tác giáo dục phổ thông, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉnh ủy Thái Bình lãnh đạo công tác giáo dục phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Nhuận
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1  BIỂU THỐNG KÊ VỀ ĐẤT ĐAI VÀ KHÍ HẬU 2012 - Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1 BIỂU THỐNG KÊ VỀ ĐẤT ĐAI VÀ KHÍ HẬU 2012 (Trang 87)
Bảng 2  BẢNG THỐNG KÊ DIỆN TÍCH, DÂN SỐ, LAO ĐỘNG CÁC TỈNH - Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2 BẢNG THỐNG KÊ DIỆN TÍCH, DÂN SỐ, LAO ĐỘNG CÁC TỈNH (Trang 88)
Bảng 3  BIỂU THỐNG KÊ VỀ GIÁO DỤC MẦM NON VÀ PHỔ THÔNG 2012 - Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3 BIỂU THỐNG KÊ VỀ GIÁO DỤC MẦM NON VÀ PHỔ THÔNG 2012 (Trang 88)
Bảng 5  BIỂU THỐNG KÊ VỀ CƠ SỞ Y TẾ, CÁN BỘ Y TẾ CÁC TỈNH 2012 - Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 5 BIỂU THỐNG KÊ VỀ CƠ SỞ Y TẾ, CÁN BỘ Y TẾ CÁC TỈNH 2012 (Trang 89)
Bảng 4  BIỂU THỐNG KÊ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC 2012 - Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 4 BIỂU THỐNG KÊ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC 2012 (Trang 89)
Bảng 6  BIỂU THỐNG KÊ VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN 2012 - Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 6 BIỂU THỐNG KÊ VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN 2012 (Trang 90)
Bảng 9  TỔNG HỢP TRÌNH ĐỘ CÁN BỘ   CÁC BAN THƯƠNG VỤ TỈNH UỶ ĐBSH - Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 9 TỔNG HỢP TRÌNH ĐỘ CÁN BỘ CÁC BAN THƯƠNG VỤ TỈNH UỶ ĐBSH (Trang 91)
Bảng 8  THỐNG KÊ TRÌNH ĐỘ CÁN BỘ   CÁC BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH ĐBSH - Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 8 THỐNG KÊ TRÌNH ĐỘ CÁN BỘ CÁC BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH ĐBSH (Trang 91)
Bảng 11  KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU - Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 11 KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU (Trang 92)
Bảng 10  CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG TIẾP TỤC THỰC HIỆN - Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa – xã hội trong giai đoạn hiện nay
Bảng 10 CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG TIẾP TỤC THỰC HIỆN (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w