Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển văn hóa - xã hội vẫn còn những mặt yếu kém, khuyết điểm đang đặt ra cần phải giải quyết, như kinh tế có bước phát triển nhanh và
Trang 1Lấ VĂN THƯ
các tỉnh ủy ở đồng bằng sông hồng lãnh đạo
phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2015
Lấ VĂN THƯ
các tỉnh ủy ở đồng bằng sông hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay
Chuyờn ngành : Xõy dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
Mó số : 62 31 23 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS NGễ HUY TIẾP
2 TS LÂM QUỐC TUẤN
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ
Chương 2: CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 17
2.1 Khái quát về các tỉnh đồng bằng sông Hồng và phát triển văn hoá - xã hội
ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay 17 2.2 Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay - khái niệm, nội dung, phương thức lãnh đạo 54
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM 71
3.1 Thực trạng phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
4.1 Những nhân tố tác động và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông
4.2 Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ đối với phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng đến năm 2025 133
KẾT LUẬN 156 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 159 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160 PHỤ LỤC 168
Trang 3DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
HĐND : Hội đồng nhân dân
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cùng với lãnh đạo chính trị và lãnh đạo các lĩnh vực trọng yếu của đời sống
xã hội như kinh tế, quốc phòng, an ninh,… lãnh đạo văn hóa - xã hội là vấn đề được đặt ra từ rất sớm, ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc
Phát triển văn hoá - xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển văn hóa - xã hội là đòi hỏi khách quan, có ý nghĩa chính trị quan trọng, quyết định đối với sự phát triển văn hóa - xã hội của đất nước, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao về đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân
Là khu vực kinh tế - xã hội trọng điểm, các tỉnh đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) rất giàu tiềm năng, thế mạnh để phát triển về mọi mặt, không chỉ của vùng,
mà còn là động lực và cực tăng trưởng cho toàn miền Bắc và cả nước Dự báo đến năm 2020, khu vực các tỉnh ĐBSH, một mặt phải bảo đảm an ninh lương thực cho vùng, và theo quy hoach, cùng với đồng bằng sông Cửu Long đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước Mặt khác, các tỉnh ĐBSH sẽ tiếp tục chuyển đổi hàng chục vạn ha đất nông nghiệp mầu mỡ sang mục đích sử dụng khác; lúc đó diện tích đô thị, công nghiệp, thương mại - dịch vụ trên địa bàn sẽ chiếm tỷ lệ khá lớn diện tích
tự nhiên của các tỉnh trong vùng Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn các tỉnh đồng bằng sông Hồng tất yếu sẽ tạo ra những biến đổi căn bản ở một vùng nông thôn rộng lớn, từ một vùng kinh tế lấy sản xuất nông nghiệp, ở nông thôn, do người nông thực hiện là chủ yếu, sẽ chuyển dần sang nền kinh tế nông nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, phát triển nhanh các thành phố công nghiệp, thương mại - dịch vụ thuộc tỉnh Để thích ứng với sự phát triển khách quan đó, thực tiễn đang đặt ra cho các đảng bộ, chính quyền các tỉnh ĐBSH những nhiệm vụ to lớn phải giải quyết là nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, phát triển khoa học - công nghệ, chăm sóc sức khỏe và đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, xóa đói giảm nghèo và bài trừ các tệ nạn xã hội… Nếu không
Trang 4giải quyết tốt những nhiệm vụ này, sẽ không chỉ làm chậm quá trình phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn, mà còn cản trở quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng hiện nay
Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng là cơ quan lãnh đạo của các đảng bộ
tỉnh, có chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội ở địa phương
Trong những năm vừa qua, dưới sự lãnh đạo của các tỉnh ủy, đời sống kinh tế, văn
hoá - xã hội ở các địa phương có những bước phát triển mạnh mẽ, các lĩnh vực giáo
dục, khoa học - công nghệ y tế, văn hóa, thể thao, an sinh xã hội… đã đạt được
những kết quả rất quan trọng, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của
nhân dân
Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển văn hóa - xã hội
vẫn còn những mặt yếu kém, khuyết điểm đang đặt ra cần phải giải quyết, như
kinh tế có bước phát triển nhanh và mạnh, nhưng văn hoá - xã hội chưa phát triển
tương xứng, thậm chí có những bước thụt lùi như: phân hoá giàu nghèo ngày càng
lớn, gia tăng nhanh các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông và tai nạn lao động; mê
tín, dị đoan, buôn thần, bán thánh; thương mại hoá các hoạt động văn hoá tâm
linh…Về phía lãnh đạo, có những cấp ủy đảng chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc các
nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phát triển văn hoá - xã hội, còn
biểu hiện buông lỏng lãnh đạo, khoán trắng một số nội dung lãnh đạo quan trọng
cho các đơn vị chuyên môn; chưa thường xuyên coi trọng việc sơ kết, tổng kết, rút
kinh nghiệm… Những yếu kém đó đã hạn chế năng lực lãnh đạo của tỉnh ủy, làm
chậm quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển văn hóa - xã hội trên địa bàn rộng
lớn và hết sức quan trọng này Song, sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ đối với phát triển
văn hoá - xã hội là vấn đề rất mới và rất khó, cả trên phương diện lý luận và thực
tiễn Trước yêu cầu thực tiễn đang đặt ra, tôi chọn đề tài “Các tỉnh ủy ở đồng
bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay”
làm luận án tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản
Việt Nam, với mong muốn luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải
pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của các tỉnh uỷ ĐBSH đối với phát
triển văn hoá - xã hội hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở đồng bằng
sông Hồng đối với phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở
đó đề xuất các giải pháp chủ yếu, có tính khả thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với lĩnh vực hết sức quan trọng này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của phát triển văn hóa - xã hội và
những vấn đề có liên quan đến phát triển văn hóa - xã hội của các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay
- Làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức, vai trò lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát văn hóa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay
- Đánh giá đúng thực trạng phát triển văn hóa - xã hội và sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển văn hoa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay, chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng và những kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn
- Xác định những nhân tố tác động, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đồng bằng sông Hồng đối với phát triển văn hoa - xã hội giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là: các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, khảo sát, đánh giá sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với
phát triển văn hóa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng từ năm 2005 đến nay; phương hướng và những giải pháp của đề tài có giá trị đến năm 2025
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về sự lãnh đạo của Đảng đối với các
Trang 5lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nói chung, đối với phát triển văn hóa - xã hội
nói riêng
4.2 Cơ sở thực tiễn
Qúa trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phát triển văn hóa - xã hội
của các tỉnh ủy các tỉnh đồng bằng sông Hồng từ năm 2005 đến nay, với tất cả
những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo của
các tỉnh ủy trong thời gian vừa qua
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
lôgic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống kê, so sánh; tổng kết thực tiễn và
phương pháp chuyên gia
5 Những đóng góp mới của luận án
- Làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSH
đối với phát triển văn hóa - xã hội ở địa phương giai đoạn hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu, khả thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo của
các tỉnh ủy ĐBSH đối với phát triển văn hóa - xã hội ở địa phương đến năm 2025
6 Ý nghĩa và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các tỉnh
ủy, các ban thường vụ tỉnh ủy trong cả nước, nhất là ở các tỉnh ĐBSH trong lãnh
đạo, chỉ đạo và tổ chức phát triển văn hóa - xã hội giai đoạn hiện nay
- Luận án cũng có thể làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và
đào tạo ở các trường chính trị và cơ sở đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã
công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm
4 chương, 9 tiết
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về phát triển văn hoá
- Đề cương quy hoạch phát triển văn hoá Trung Quốc, Tài liệu dịch - Viện
Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện khoa học xã hội và Nhân văn Việt Nam, lưu hành nội bộ [49] Đây là tài liệu quan trọng trình bày tổng thể mục tiêu phát triển văn hoá của Trung Quốc "năm năm lần thứ 11"
Đề cương quy hoạch phát triển văn hoá Trung Quốc thể hiện những tư tưởng
cơ bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc về đường hướng phát triển văn hoá mang đặc sắc Trung Quốc thời kỳ hiện nay, trong đó nhấn mạnh phát triển toàn diện, lấy thị trường trong nước, ngoài nước làm động lực thúc đẩy các ngành văn hoá phát triển Văn hoá hướng vào phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Những mục tiêu, nhiệm vụ mà đề cương này nêu lên đã gợi
ý cho tác giả luận án suy nghĩ về những nội dung phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH giai đoạn hiện nay
- Phăn đuông chít vông sa, Công tác lý luận của Đảng nhân dân cách mạng
Lào trong thời kỳ mới [51] Nội dung luận án bàn về công tác lý luận của Đảng
Nhân dân cách mạng Lào thời kỳ mới, trong đó đáng chú ý là luận án đã trình bày những nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác lý luận, một lĩnh vực rất khó khăn, phức tạp Tác giả nêu 4 nội dung và 4 phương thức lãnh đạo của Đảng Nội dung của đề tài có tác dụng tham khảo tốt cho NCS tìm hiểu, nghiên cứu về nội dung, phương thức lãn đạo của các Tỉnh uỷ ĐBSH lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay
- Lưu Vân Sơn, Tìm tòi thực tiễn và tư duy lý luận xây dựng văn hóa xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc [66] Tạp chí Cộng sản Số 17 (209) năm 2010 (phát
biểu của đồng chí Lưu Vân Sơn tại Hội thảo lần này với chủ đề "Ðẩy mạnh xây dựng văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế" giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Ðảng Cộng sản Trung Quốc)
Trang 6Theo tác giả, trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường XHCN, văn hóa
được thể hiện bằng hai hình thái là sự nghiệp và ngành nghề; mục đích căn bản của
phát triển văn hóa là vì dân, sức mạnh phải dựa vào dân, đẩy mạnh xây dựng văn
hóa xã hội chủ nghĩa cần phải kiên trì lấy con người làm gốc, hướng tới quần
chúng, đáp ứng tối đa nhu cầu văn hóa tinh thần của quần chúng nhân dân
- Phitstamay bounvilay, Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ở một số quốc gia và bài học cho thành phố Viêng chăn, (Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào) [53, tr.62-66] Bài nghiên cứu tổng thuật những kinh nghiệm giáo dục đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, quản trị và thu hút tài năng khoa học công nghệ của
các quốc gia phát triển ở Châu Á như Nhật bản, Hàn Quốc, Sinhgapore, Thái Lan
Bài báo giúp nghiên cứu sinh nhìn rõ hơn công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực
và bồi dưỡng nhân tài ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về phát triển xã hội
- Khăm bay ma la sinh, Thực trạng đói nghèo trong các hộ gia đình ở nông
thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, giải pháp [36], tác giả luận văn đã
trình bày hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách xã hội của Đảng và Nhà
nước, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào làm cơ sở nghiên cứu vấn đề đói,
nghèo trong các gia đình ở nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc hiện nay Tác giả luận văn
đã có những đánh giá khá công phu về thực trạng đói nghèo ở tỉnh Chăm Pa Sắc,
chỉ rõ quy mô, mức độ đói, nghèo và nguyên nhân đói, nghèo của địa phương Tác
giả luận văn đưa ra một số kiến nghị về chính sách và các giải pháp xoá đói, giảm
nghèo cho địa phương Kết quả nghiên cứu của tác giả góp một gợi ý tốt suy nghĩ
về thực trạng nghèo ở các tỉnh ĐBSH nước ta hiện nay, đồng thời góp nhận thức rõ
hơn về khái niệm phát triển xã hội ở các tỉnh ĐBSH
1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
1.2.1 Những công trình nghiên cứu về văn hoá và Đảng lãnh đạo phát
triển văn hoá
1.2.1.1 Những công trình nghiên cứu về văn hoá
- Sách tham khảo, Vai trò của văn hoá trong sự nghiệp công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nông thôn, nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, PGS.TS Lê Quý
Đức [27] Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp bộ, do tập thể
các nhà khoa học Viện Văn hoá và phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện Cuốn sách bàn về một số nội dung phát triển văn hoá ở nông thôn ĐBSH đầu những năm 2000 Ở mỗi một nội dung phát triển văn hoá, các tác giả làm rõ cơ sở lý luận thực trạng và giải pháp thực hiện các giải pháp đó Những nội dung phát triển văn hoá được đề cập trong cuốn sách được kế thừa để chọn nghiên cứu những nội dung phát triển văn hoá - xã hội trong luận án, một nhiệm vụ quan trọng, đối tượng lãnh đạo của các Tỉnh uỷ ĐBSH mà luận án nghiên cứu
- Sách tham khảo, Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng
ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới, TS Ngô Văn Giá [28]
Các tác giả cuốn sách nhấn mạnh: trong công cuộc đổi mới hôm nay, sự biến đổi mạnh mẽ của các điều kiện kinh tế - xã hội đã kéo theo sự biến đổi rõ rệt diện mạo và các giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Vì vậy, cùng với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, việc nghiên cứu, xây dựng và phát triển văn hóa thủ đô, văn hóa các làng ven đô là thực sự cấp thiết
- Sách tham khảo, Phát triển văn hóa con người và nguồn nhân lực thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, GS.TS Phạm Minh Hạc [29]
Cuốn sách là chương trình nghiên cứu phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong bối cảnh đất nước bước vào thế kỷ XXI, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa Nội dung cuốn sách tập trung trình bày kết quả nghiên cứu chủ yếu của chương trình: Những vấn đề mang tính phương pháp luận
về văn hóa, con người, nguồn nhân lực, đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa ở những vùng, miền khác nhau; đặc điểm con người Việt Nam hiện nay; thực trạng nguồn nhân lực, phương hướng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của đất nước thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, v.v
- Sách tham khảo, Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa,
PGS.TS Phạm Duy Đức [24] Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc, bản chất, chức năng, vai trò của văn hóa, đi sâu tìm hiểu quan điểm của các nhà kinh điển mác-xít về xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, về một số lĩnh vực cơ bản như văn hóa trong lãnh đạo chính trị; vấn
đề xây dựng con người, đạo đức và lối sống; vấn đề phát triển giáo dục - đào tạo,
Trang 7xây dựng đội ngũ trí thức; phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật; báo chí; vấn đề
tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc
- Sách tham khảo, Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa -
một góc nhìn từ Việt Nam, GS.TS Phạm Xuân Nam [48]
Tác giả đã đi sâu phân tích những đặc trưng, những cơ hội và thách thức; dự
báo chiều hướng phát triển của văn hóa Việt Nam đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế hiện nay, qua đó đề xuất phương châm, nguyên tắc và hệ quan
điểm định hướng cho việc thực hiện sự cam kết với tính đa dạng văn hóa, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường tiếp xúc, giao lưu, đối thoại giữa văn hóa
Việt Nam với các nền văn hóa khác trong thế giới đương đại Nhưng mặt khác, quá
trình trên cũng làm nảy sinh nguy cơ ghê gớm về sự đồng nhất hóa các hệ thống giá
trị, đe dọa làm suy kiệt khả năng sáng tạo đa dạng của các nền văn hóa - nhân tố cực
kỳ quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh và bền vững của từng dân tộc và của
cả nhân loại
- Sách tham khảo: Thành tựu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam
25 năm đổi mới (1986-2010), PGS.TS Phạm Duy Đức [26] Cuốn sách được biên
soạn từ kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học trọng điểm cấp Nhà nước Mã số
KX04.13/06-10 Nội dung cuốn sách phản ánh thực trạng văn hóa Việt Nam qua 25
năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu quan trọng, đồng thời vạch ra những mặt yếu
kém, hạn chế, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản và kiến nghị để xây dựng và
phát triển văn hóa Việt Nam trong những năm tiếp theo Cuốn sách tập trung nêu
lên một số giải pháp chủ yếu để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc
xây dựng con người và phát triển văn hóa trong thời gian tới
- Đề tài khoa học cấp bộ, Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Những vấn đề phương pháp luận (2010), PGS.TS Phạm Duy Đức [25] Các tác giả
của đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn
2011-2020 ở những lĩnh vực cơ bản của đời sống văn hóa dân tộc như: phát triển con
người, phát triển môi trường văn hóa cùng với các lĩnh vực hoạt động văn hóa cơ
bản như giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, thông tin
đại chúng; phát triển công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa; đảm bảo sự đa dạng văn hóa giữa các dân tộc Về xu hướng vận động
và quan điểm chỉ đạo xây dựng phát triển văn hóa giai đoạn 2011-2020, tập thể tác giả cho rằng, cần phải kế thừa các quan điểm chỉ đạo mà các Nghị quyết của Đảng
đã nêu, đặc biệt là các quan điểm được nêu lên trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đồng thời phải bổ sung một số điểm mới
- Sách tham khảo, Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, PGS.TS Nguyễn Duy Bắc [2]
Cuốn sách đã xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa, biến đổi giá trị văn hóa Đồng thời đã chỉ ra được thực trạng biến đổi các giá trị văn hóa, phát triển văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay; góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống đường lối, chính sách về phát triển văn hóa và con người, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hình thành các giá trị văn hóa mới trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế
- Hà Vũ Tuyến, Công tác đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc - kết quả và một số kinh
nghiệm [103] Nội dung bài báo nêu những vấn đề sau: Vĩnh Phúc là một trong số
chín tỉnh ĐBSH, thuộc vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, tác giả bài báo đã đánh giá khái quát những thành tựu công tác đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc những năm vừa qua Do tốc độ CNH, HĐH ở Vĩnh Phúc khá nhanh, nên sớm đặt ra nhu cầu đào tạo nghề cho địa phương Chính vì công tác đào tạo nghề phát triển, nên đã có nhiều thanh niên, học sinh được học nghề phục vụ nhu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ tại địa phương Từ thực tiễn đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc, tác giả tổng kết một số kinh nghiệm và giải pháp Nội dung bài báo phản ánh một góc thực trạng giáo dục đào tạo nghề ở Vĩnh phúc, một nội dung của phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH hiện nay NCS có thể nghiên cứu, tham khảo cho phần đánh giá thực trạng của luận án
1.2.1.2 Những công trình nghiên cứu về Đảng lãnh đạo văn hoá
- Sách tham khảo, Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu
của đời sống xã hội nước ta, PGS Lê Văn Lý [42]
Trang 8Đây là công trình khoa học đề tài cấp Nhà nước được in thành sách, một
công trình lớn, bàn khá sớm về sự lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực trọng yếu
đời sống xã hội nước ta Công trình tuy không bàn chuyên sâu về Đảng lãnh đạo
phát triển văn hoá - xã hội, nhưng đã đề cập đến một mặt của phát triển văn hoá: sự
lãnh đạo của Đảng đối với tư tưởng, lý luận và văn học - nghệ thuật
Những nghiên cứu của đề tài rất hữu ích cho đề tài luận án của tác giả khi
phải xác định rõ nội dung và phương thức lãnh đạo của các Tỉnh uỷ ĐBSH trong
phát triển văn hoá - xã hội Mặc dù cuốn sách nói trên nghiên cứu trê quy mô toàn
Đảng, không nghiên cứu ở một đảng bộ địa phương nào đó của ĐBSH, song cuốn
sách đã cho những gợi ý, chỉ dẫn quan trọng để tác giả luận án xác định nội dung,
phương thức các Tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay
1.2.2 Những công trình nghiên cứu về phát triển xã hội và Đảng lãnh
đạo phát triển xã hội
1.2.2.1 Những công trình nghiên cứu về phát triển xã hội
- Sách: Tác động của phân tầng mức sống vào quá trình phát triển văn hoá
nông thôn, Trần Thị Lan Hương [34] Tác giả cuốn sách nghiên cứu phân tầng mức
sống tác động đến qúa trình phát triển văn hoá nông thôn ở các tỉnh ĐBSH vào
những năm 2000, khoảng thời gian nước ta đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh
tế - xã hội, cả nước bước vào thời đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Tác giả cuốn
sách tiếp cận vấn đề nghiên cứu bắt đầu đi từ các lý thuyết phân tầng xã hội hiện
đại, sau đó chọn cho mình khung lý thuyết ứng với chủ đề nghiên cứu Nội dung
cuốn sách tiếp cận vấn đề biến đổi, phát triển văn hoá trong cộng đồng cư dân nông
thôn ĐBSH từ góc nhìn xã hội học, đi từ những biến đổi trong cơ cấu xã hội, phân
tầng xã hội, phân tầng mức sống để xem xét vấn đề phát triển văn hoá Những kiến
giải của tác giả là những gợi ý sâu sắc cho luận án khi phân tích nguyên nhân của
những thành tự và hạn chế trong phát triển môi trường văn hoá ở nông thôn các tỉnh
ĐBSH hiện nay, cũng như gợi ý cho luận án nghiên cứu những giải pháp tăng
cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng địa phương trong phát triển văn hoá - xã hội
hiện nay
- Sách: Xung đột xã hội về đất đai ở nông thôn thời kỳ đổi mới (trường hợp
tỉnh Hà Tây cũ) của TS Phan Tân [67] Tác giả sách tuy không trình bày bức
tranh xung đột xã hội ở nông thôn các tỉnh ĐBSH, song tác giả chọn mẫu nghiên cứu là tỉnh Hà Tây cũ, một trong những tỉnh thuộc vùng ĐBSH Tác giả tiếp cận vấn đề xung đột xã hội trên bình diện lý luận rộng, có điểm qua một cách khái quát vai trò đất đai với người dân nói chung, với người nông dân trong vùng qua các thời kỳ lịch sử, từ đó nhìn nhận những vấn đề xã hội hiện nay khi người dân mất đất trong quá trình CNH, HĐH và đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ hiện nay Tác giả sách tiếp cận vấn đề xung đột xã hội dưới góc độ khoa học, chỉ ra bản chất, vai trò, chức năng của xung đột xã hội và phương pháp giải quyết xung đột dưới góc độ lý luận Từ đó nghiên cứu những nảy sinh xung đột xã hội từ các quan hệ đất đai trong xã hội Kết quả nghiên cứu của cuốn sách là tài liệu tham khảo tốt nghi nghiên cứu về sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ và các cấp uỷ đảng địa phương đối với phát triển văn hoá - xã hội không được xem nhẹ những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến quan hệ về đất đai
- Sách: Ứng xử của người dân vùng đồng bằng sông Hồng trong gia đình, Lê
Thị Thanh Hương [33], các tác giả của cuốn sách này làm rõ hàng loạt các mối quan hệ trong gia đình, từ đó đặt vấn đề nghiên cứu việc xử lý các mối quan hệ gia đình thông qua các hình thức và phương pháp ứng xử Các tác giả nhìn nhận mối quan hệ trao truyền các giá trị văn hoá - xã hội giữa các thế hệ trong gia đình, nhất
là thế hệ các ông bà, cha mẹ với con, cháu vùng ĐBSH hiện nay Các tác giả đặt ra vấn đề làm sao để các thế hệ về sao tiếp nhận được những giá trị chuẩn mực của những thế hệ đi trước, nhưng không rơi vào bảo thủ, nệ cổ Đồng thời đặt vấn đề có bình đẳng hay không bình đẳng trong quan hệ giữa ông bà với con cháu, cần hay không cần sự bình đẳng, bình đẳng có tốt hơn không bình đẳng Cuốn sách giúp người đọc nhận diện một vấn đề xã hội rất lớn là các quan hệ trong gia đình hiện đại vùng ĐBSH, vai trò của các quan hệ đó trong cộng đồng, vai trò của gia đình trong tiếp nhận các chính sách văn hoá của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Phát triển gia đình là một trong những nội dung quan trọng của phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH hiện nay, cuốn sách là tài liệu tham khảo tốt nhìn nhận sự tác động chính sách và vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với những vấn đề xã hội không thể xem nhẹ các quan hệ gia đình, nhất là vai trò giáo dục từ trong gia đình
Trang 9Gia đình là tế bào xã hội, gia đình yên vui, hạnh phúc là nguồn nuôi dưỡng những
thế hệ tương lai khoẻ mạnh về thể chất, lành mạnh về tâm hồn, vì thế sẽ làm cho
toàn xã hội phát triển ổn định Nội dung cuốn sách gợi ý cho tác giả luận án nghiên
cứu đề xuất giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với phát triển văn
hoá - xã hội, có nội dung trọng tâm là lãnh đạo xây dựng, phát triển các gia đình và
các thành viên của nó
- PGS.TS Ngô Ngọc Thắng, Chính sách an sinh xã hội trong bối cảnh tái
cấu trúc mô hình tăng trưởng [71, tr.16-21] Tác giả bài báo khẳng định, Đảng và
Nhà nước ta luôn nhất quán trong quan điểm, đường lối và chính sách xã hội, coi an
sinh xã hội (ASXH) vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định xã hội và phát triển
bền vững đất nước Tác giả cho rằng những chính sách của Đảng và Nhà nước được
triển khai đồng bộ trên 3 phương diện: giúp các đối tượng thụ hưởng khả năng tiếp
cận dịch vụ công cộng; hỗ trợ phát triển sản xuất; phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội
Sau khi khẳng định quan điểm, đường lối nhất quán của Đảng về ASXH, tác
giả xem xét ASXH dưới sự tác động của tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, từ tăng
trưởng theo bề rộng chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên tăng năng
xuất lao động, phát triển khoa học công nghệ Theo tác giả, trong điều kiện tái cấu
trúc mô hình tăng trưởng, đứng trước thách thức: một là, hệ thống chính sách
ASXH chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế thị trường; hai là, những rủi ro về
kinh tế, xã hội, môi trường trong điều kiện tái cấu trúc kinh tế và mô hình tăng
trưởng; ba là, hiện tường già hoá dân số bắt đầu xuất hiện gây áp lực lên hệ thống
an sinh xã hội; bốn là nhận thức của người dân, cơ quan quản lý, cán bộ, đảng viên
chưa đầy đủ về ASXH, một số ASXH mới nảy sinh chưa kịp giải quyết Từ những
lý giải trên tác giả đưa ra các kiến nghị về quan điểm, về giải pháp Nội dung bài
báo có tác dụng giúp nghiên cứu sinh nhận thức sâu sắc hơn vai trò của phát triển xã
hội, trên phương diện ASXH gắn với phát triển kinh tế và văn hoá Sự lãnh đạo của
các cấp uỷ địa phương đối với phát triển văn hoá - xã hội phải chú ý đầy đủ, chu
đáo, sâu sắc vấn đề ASXH
1.2.2.2 Những công trình nghiên cứu về Đảng lãnh đạo phát triển xã hội
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX02.21/06-10, Đảng lãnh đạo phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới, PGS TS Đinh Xuân Lý [41]
Đề tài gồm 23 bài viết của các tác giả hiện đang công tác ở các trường đại học, học viện và các viện nghiên cứu Nội dung tập trung chủ yếu vào bốn vấn đề chính: Luận cứ của việc nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong quá trình đổi mới; các yếu
tố tác động đến năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội; thực trạng năng lực lãnh đạo của Đảng đối với phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới - những vấn đề đặt ra; hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên một số lĩnh vực
Theo các tác giả của đề tài, trong thời đại ngày nay, sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sự hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức,
sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, đã đặt ra nhiều thời cơ phát triển lớn đan xen với những thách thức trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Điều này đòi hỏi các quốc gia, dân tộc trên thế giới phải tỉnh táo, trước mỗi bước đi của mình Nếu xử lý đúng, vượt qua được thách thức thì sẽ tạo ra thời
cơ mới
Đối với Việt Nam, một đất nước đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập, càng đòi hỏi phải chú trọng phát triển xã hội và tăng cường quản lý phát triển xã hội nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa và bền vững Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội được thể hiện thông qua việc hoạch định cương lĩnh, đường lối chiến lược, các định hướng về chủ trương và chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội nhằm đạt tới đời sống vật chất và tinh thần cao đẹp cho nhân dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tuy nhiên đề tài này chưa bàn về những nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quản lý và phát triển xã hội, một vấn đề trọng tâm của đề tài luận án rất cần nghiên cứu, tham khảo và kế thừa Dẫu
Trang 10sao, những kiến giải của đề tài cũng làm sáng rõ vai trò lãnh đạo của Đảng ta trong
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội hiện nay
- GS TS Nguyễn Đình Tấn, Sự phát triển nhận thức của Đảng về công
bằng xã hội và xoá đói, giảm nghèo [69, tr.3-7] Tác giả bài báo khoa học đã lược
khảo những quan điểm của Đảng ta qua các đại hội nhiệm kỳ và các Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương xung quanh vấn đề lãnh đạo giải quyết công bằng xã hội và
xoá đói, giảm nghèo, kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay Theo tác
giả, sự phát triển nhận thức của Đảng trong giải quyết công bằng xã hội và xoá đói,
giảm nghèo có sự vận động phát triển gắn liền với những thành tựu của phát triển
kinh tế xã hội đất nước Mục tiêu của chính sách là nhất quán hướng tới công bằng
xã hội, xoá đói giảm nghèo, cùng nhau phát triển để ngày càng giàu có hơn Mục
tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là: tăng trưởng bền
vững, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội Quan điểm về công bằng xã hội và xoá
đói, giảm nghèo của Đảng ta hiện nay, là công bằng không chỉ là các chính sách bảo
đảm công bằng trong phân phối các nguồn lực, mà còn cần có sự công bằng về cơ
hội và điều kiện phát triển Nội dung bài báo bàn về các quan điểm của Đảng trong
lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta hiện nay, dưới góc độ công bằng xã
hội và xoá đói, giảm nghèo đã giúp cho tác giả luận án có cái nhìn sâu sắc hơn về
bản chất chính sách phát triển văn hoá - xã hội của nước ta hiện nay, và do vậy suy
nghĩ sâu hơn về phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH và sự lãnh đạo của cấp
uỷ địa phương thực hiện chính sách bảo đảm công bằng xã hội, xoá đói, giảm nghèo
ở khu vực này
- Hoàng Thị Bích Phương, Thực hiện xoá đói, giảm nghèo bền vững ở tỉnh
Bác Giang (2008-2013) [55] Bài báo tuy không viết về sự lãnh đạo Thực hiện xoá
đói, giảm nghèo bền vững ở một tỉnh nào đó của ĐBSH, song viết về sự lãnh đạo
của Tỉnh uỷ Bắc Giang về vấn đề này Nội dung bài báo đã hệ thống hoá những
quan điểm, chủ trương của đảng bộ tỉnh, của tỉnh uỷ về lãnh đạo Thực hiện xoá đói,
giảm nghèo bền vững ở địa phương, chỉ ra các giải pháp mà Tỉnh uỷ đã xác định
lãnh đạo phát triển vấn đề xã hội này Trên cơ sở quan điểm, chủ trương, giải pháp
lãnh đạo của Tỉnh uỷ và đảng bộ tỉnh, việc xoá đói, giảm nghèo ở Bắc Giang đã đạt
nhiều thành tựu tốt, bền vững Nội dung bài báo cho thấy, tác giả đã nhận thức được vai trò lãnh đạo của đảng bộ tỉnh và của Tỉnh uỷ có tính quyết định thắng lợi xáo đói giảm nghèo ở địa phương Tuy bài báo chưa đi sâu phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ, song cũng có thể thấy tác giả đã đề cập theo hướng đó trong bài báo, đề tài luận án của NCS có thể tham khảo
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN TIẾP TỤC PHẢI GIẢI QUYẾT
1.3.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Qua tổng quan một số công trình nghiên cứu của các tác giả người nước ngoài viết về phát triển văn hoá - xã hội được dịch ra tiếng Việt, NCS nhận thấy, mỗi tác giả thường viết về một số đặc điểm, nội dung nào đó trong số nhiều nội dung về phát triển văn hoá - xã hội theo quan điểm của luận án, ví dụ như viết về môi trường văn hoá, về giáo dục đào tạo về an sinh xã hội ở quốc gia của các tác giả, chưa có tác giả nào nghiên cứu viết về phát triển văn hoá ở Việt Nam nói chung, ở các tỉnh ĐBSH của Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, do ở một số nước, văn hoá đã trở thành một lĩnh vực được đầu tư phát triển trở thành một ngành kinh tế sản xuất các sản phẩm văn hoá để kinh doanh thương mại, nên nhấn mạnh phát triển kinh tế trong văn hoá, còn vấn đề xã hội được xem xét dưới góc độ các thành tựu phát triển của chế độ chính trị, hoặc là những vấn đề chuyên môn sâu của xã hội học như vấn đề phân tầng xã hội, an sinh xã hội… Vấn đề mà luận án của NCS rất cần tham khảo là sự lãnh đạo của các đảng cầm quyền đã lãnh đạo chính trị, hoạc tác động chính trị vào các chính sách phát triển văn hoá - xã hội như thế nào, nhất là các nội dung và phương thức tác động, thì rất ít tác giả đề cập đến, ngoại trừ một luận án tiến sĩ của NCS nước Cộng hoá dân chủ nhân dân Lào năm 2002, vì vậy NCS chưa có thể nghiên cứu, tham khảo được nhiều từ các tác giả nước ngoài nhằm vận dụng cho nội dung luận án
1.3.2 Những công trình nghiên cứu ở trong nước
Trong vòng 15 năm trở lại đây, sau khi Đảng ta ban hành Nghị quyết chuyên
đề về phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tại Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, các cuốn sách, bài báo khoa học viết
Trang 11về phát triển văn hoá - xã hội, tiêu biểu trong số đó là nhóm các công trình nghiên
cứu của các nhà khoa học thuộc Viện Văn hoá và phát triển thuộc Học viện chinh
trị Quốc gia Hồ Chí Minh và nhóm các tác giả của Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Có những tác giả đã đánh giá khá toàn diện 12 nội dung phát triển văn hoá ở Việt
Nam trong 25 năm đổi mới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tinh thần của
Nghị quyết Trung ương năm khoá VIII về văn hoá, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế trên
từng nội dung, rút ra kinh nghiệm từ chủ trương lãnh đạo của Đảng, chính sách phát
triển của Nhà nước
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở trên không đi sâu nghiên cứu về sự
lãnh đạo của Đảng trong phát triển văn hoá - xã hội, không bàn về những nội dung,
phương thức lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực này Đương nhiên là những công trình
nghiên cứu chuyên sâu của các tác giả về một số Tỉnh uỷ ĐBSH lãnh đạo phát triển
văn hoá - xã hội thì chưa thấy ai đề cập đến Như vậy góc độ nghiên cứu của luận
án do NCS thực hiện vẫn còn rất nhiều khoảng trống phải thực hiện mà chưa có
người đi trước nghiên cứu
Chương 2 CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU
VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
2.1.1 Khái quát về điều kiện địa lý - tự nhiên và kinh tế các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay
* Về điều kiện tự nhiên
Đồng bằng sông Hồng là một trong hai đồng bằng lớn nhất Việt Nam, ở đó
có chín đơn vị hành chính tỉnh, gồm: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình và hai thành phố lớn trực thuộc Trung ương là Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng Diện tích toàn vùng đồng bằng bắc bộ là: 23.336 km2 chiếm gần 7,1% diện tích của cả nước Riêng chín tỉnh đồng bằng sông Hồng có diện tích 16.207,43km2, chiếm gần 69,4% diện tích toàn vùng và chiếm hơn 4,9% diện tích cả nước Dân số chín tỉnh đồng bằng sông Hồng là 9.765.445 người chiếm 22,7% dân số cả nước (Phụ lục số 1) Các tỉnh đồng bằng sông Hồng có vị trí địa - kinh tế và địa - chính trị hết sức quan trọng đối với chiến lược phát triển của đất nước; nơi đây có nguồn tài nguyên khá đa dạng, khí hậu thuận lợi, kết cấu hạ tầng phát triển, hội tụ đầy đủ điều kiện cho phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội trong vùng
Các tỉnh ĐBSH có địa hình đa dạng và phong phú, bao gồm đồng bằng, đồi núi, rừng và biển xen kẽ nhau; là nơi hội tụ và giao thoa giữa vùng Đông Bắc với vùng Tây Bắc, giữa vùng núi phía Bắc với miền Trung; có hệ thống sông ngòi đa dạng chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam ra vịnh Bắc Bộ Một đặc điểm độc đáo về
tự nhiên của các tỉnh ĐBSH là hầu hết các tỉnh (ngoại trừ hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên) đều có đồi núi xen kẽ châu thổ, thung lũng và đầm lầy Đặc điểm địa hình tự nhiên này đã tạo điều kiện thuận lợi để con người khai phá và kiến tạo nên những giá trị văn hoá - xã hội đặc sắc phục vụ nhân sinh
Trang 12Vùng ĐBSH có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới, nhiệt độ không khí trung
bình năm khoảng 22,5 - 23,5°C, lượng mưa trung bình năm 1400-2000 mm, phù
hợp với việc canh tác lúa nước và các cây công nghiệp ngắn ngày khác như lạc, đậu
tương, ngô… làm cho cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở vùng này khá phong phú, đa
dạng và chất lượng tốt Bên cạnh đó, các tỉnh ĐBSH có mạng lưới sông ngòi dày
đặc, đến mức không có làng quê nào không có một con sông chảy qua; sông ngòi
nhiều, nhưng chế độ thuỷ văn tương đối ổn định nên thuận lợi cho tưới tiêu và nuôi
trồng thuỷ sản
Đất sản xuất nông nghiệp của các tỉnh ĐBSH là nguồn tài nguyên quý giá
được bồi đắp bởi phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Đất đai của
các tỉnh rất thuận lợi cho thâm canh lúa nước, trồng rau, màu và cây công nghiệp
ngắn ngày Theo số liệu điều tra năm 2012, diện tích đất sản xuất nông nghiệp của
chín tỉnh ĐBSH là 11.280,69 km2, chiếm gần 69,5% diện tích đất của các tỉnh (Phụ
lục 6) Quátrình mở rộng diện tích đất nông nghiệp gắn liền với quá trình chinh
phục biển thông qua sự bồi tụ của hệ thống sông và quai đê, lấn biển của nhân dân
trong vùng
Bên cạnh tài nguyên đất nông nghiệp và nước để trồng cấy cây lương thực
và nuôi trồng thuỷ sản, trong lòng đất của các tỉnh nơi đây cũng chứa đựng những
tài nguyên phong phú thuận lợi cho phát triển kinh tế như đất sét đen và đất sét
trắng phục vụ công nghiệp sành, sứ; than nâu với trữ lượng lớn chưa được khai
thác Trên mặt đất có trữ lượng đá vôi lớn (ước tính chiếm gần 5% trữ lượng đá vôi
cả nước) trải dài trên nhiều tỉnh: Quảng Ninh, Hải Dương, Hà Nam, Ninh Bình rất
thuận lợi cho phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng
Các tỉnh ĐBSH có bờ biển kéo dài từ Móng Cái, Quảng Ninh đến Kim Sơn,
Ninh Bình, với bờ biển thoải, rộng, giàu phù sa nên rất thuận lợi cho nuôi trồng,
đánh bắt và chế biến thuỷ, hải sản Bờ biển trong vùng còn có tài nguyên vô giá
khác là cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, tạo nên những danh thắng nổi tiếng như Hạ
Long, Cát Bà, Quan Lạn, Cô Tô, Đồ Sơn rất thuận lợi cho phát triển ngành du
lịch Không chỉ vậy, bờ biển trong vùng còn có các cảng biển nước sâu và cảng
sông an toàn, thuận lợi cho giao thông thuỷ như: Cái Lân, Quảng Ninh; Lạch huyện,
Hải Phòng; Xuân Trường, Nam Định
Các tỉnh đồng bằng sông Hồng được thừa hưởng một vùng đất mầu mỡ, do
hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình chảy theo hướng Tây Bắc - Đông nam ra vịnh Bắc Bộ bồi đắp mà thành, nơi đây cây trái tốt tươi, sản vật dồi dào, cư dân đông đúc, thuần hậu mà can trường Với một vùng châu thổ phì nhiêu xen lẫn núi sông hùng vĩ, nơi đây chẳng những lợi về kinh tế, mà còn dễ cho phòng thủ, thuận
để tấn công, nên từ mấy ngàn năm trước, cha ông ta đã chọn vùng đất này để định
đô dựng nghiệp Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, các tỉnh đồng bằng sông Hồng tiếp tục được hưởng những lợi thế lớn của vùng kinh tế động lực về mọi mặt Hơn nữa, do được bao quanh Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, nên nơi đây rất có điều kiện để phát triển, gìn giữ, bảo tồn và quảng bá các giá trị văn hoá - xã hội giàu bản sắc của dân tộc Việt Nam ra cộng đồng quốc tế
Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của các tỉnh ĐBSH nói trên, địa lý tự nhiên nơi đây cũng tạo ra không
ít những khó khăn cho sự phát triển của vùng như: hệ thống sông ngòi chằng chịt, đồng bằng xen lần đồi, núi, vùng trũng và đầm lầy đã tạo ra sự chia cắt về địa hình, gây khó khăn cho sản xuất hàng hóa nông nghiệp trên quy mô lớn Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên các tỉnh ĐBSH thường xuyên chịu tác động lớn của bão, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân địa phương Theo dự báo quốc tế, các tỉnh ven biển thuộc ĐBSH Việt Nam là một trong những vùng chịu ảnh hưởng lớn của nước biển dâng do biến đổi khí hậu toàn cầu gây nên Hiện tại, về mùa khô, đất sản xuất của các tỉnh ven biển vẫn bị tình trạng xâm nhập mặn đe doạ thường xuyên
Vị trí địa lý và môi trường tự nhiên cũng có những tác động tiêu cực không nhỏ đối với sự phát triển văn hoá - xã hội nơi đây Bão lốc, lũ lụt, ẩm thấp là những yếu tố phá hoại rất nghiêm trọng đối với các công trình văn hoá vật thể trên địa bàn; người ta tính rằng những công trình kiến trúc bằng gỗ nhóm 1, trong điều kiện không bị con người và bão, lũ lụt, động đất phá hoại, cứ sau một trăm năm phải trùng tu lớn và rất khó giữ những công trình đó với độ bền năm trăm năm Sự giao thoa văn hoá giữa các tỉnh đồng bằng sông Hồng (khu vực được xem là “cái nôi” văn hoá dân tộc) với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, với Hà Nội, Hải Phòng
Trang 13và quốc tế rất mạnh nên việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là việc hết sức khó
khăn Các tệ nạn xã hội và văn hoá xấu độc vốn phát triển mạnh ở các thành phố
lớn như Hà Nội, Hải Phòng đã lan nhanh đến các tỉnh lân cận trong vùng
* Về kinh tế
Về kinh tế, các tỉnh ĐBSH là một vùng kinh tế động lực quan trọng của cả
nước, có đủ các thế mạnh để phát triển cơ cấu ngành kinh tế hợp lý: nông nghiệp;
công nghiệp và xây dựng; du lịch và dịch vụ Nhìn chung nền kinh tế các tỉnh trong
vùng đang được chuyển dịch mạnh từ sản xuất nông nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu
dùng lương thực của địa phương sang sản xuất hành hoá nông nghiệp phục vụ thị
trường trong nước và khu vực; giảm dần tỷ trọng giá trị nông nghiệp, tăng dần tỷ
trọng giá trị công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu thu nhập của các tỉnh
Đi liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, là quá trình chuyển dịch cơ
cấu lao động xã hội, từ lao động làm nông nghiệp là chủ yếu sang lao động làm
công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Những biến đổi lớn trong lĩnh vực kinh tế đã dẫn
tới những biến đổi mạnh mẽ về mặt văn hoá - xã hội ở các làng quê trong vùng
Trong phát triển kinh tế nông nghiệp, các tỉnh ĐBSH có diện tích và tổng sản
lượng lương thực chỉ đứng sau vùng Đồng bằng sông Cửu Long, song là các tỉnh có
trình độ thâm canh và năng suất lao động nông nghiệp thuộc loại cao so với cả
nước Hầu hết các tỉnh ở vùng này, ngoài trồng lúa đều gieo trồng một số cây ưa
lạnh đem lại hiệu quả kinh tế cao như cây ngô đông, khoai tây, su hào, bắp cải, cà
chua và trồng hoa xen canh Hiện nay, vụ đông đã trở thành vụ chính của một số địa
phương trong vùng Với những kinh nghiệm của nhân dân về trồng trọt, chăn nuôi,
nhất là trồng lúa và các chính sách khuyến nông của Đảng và Nhà nước là nhân tố
quyết định giải quyết thành công vấn đề lương thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân
trong vùng và phục vụ xuất khẩu Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng, diện
tích trồng cây lương thực luôn giữ địa vị hàng đầu, chiếm khoảng 57.500 ha Sản
lượng lương thực đạt gần 20% trong tổng sản lượng lương thực toàn quốc Tuy vậy,
do dân số tăng nhanh và mật độ dân số lớn nên việc đảm bảo an ninh lương thực
cho con người và cho các nhu cầu kinh tế khác (phục vụ chăn nuôi, công nghiệp chế
biến v.v…) chưa thật sự vững chắc
Trong phát triển công nghiệp và xây dựng, các tỉnh ĐBSH đã có những bước
phát triển sớm và tăng mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Giá trị
sản xuất ngành công nghiệp và xây dựng tăng đều qua các năm, trọng điểm là công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp cơ khí Sản phẩm công nghiệp quan trọng của vùng là máy công cụ, động cơ điện, phương tiện giao thông, thiết bị điện tử, hàng dệt kim, giấy viết, vật liệu xây dựng Công nghiệp phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành dịch vụ phục vụ phát triển nhanh như: tài chính, ngân hàng, thương mại phục vụ các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội trong vùng
Trong phát triển ngành du lịch và dịch vụ, với những tiềm năng to lớn về cảnh quan thiên nhiên, về các di tích lịch sử, văn hoá của dân tộc, hơn nữa lại bao quanh Thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải phòng nên các tỉnh ĐBSH có thể hình
thành các tuyến du lịch liên vùng Các hoạt động tài chính, ngân hàng, xuất nhập
khẩu, du lịch, thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ của các tỉnh ĐBSH có ảnh hưởng lan tỏa trên phạm vi cả nước, nhất là với các tỉnh phía Bắc Việt Nam Các ngành kinh tế công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, du lịch và dịch vụ trong vùng phát triển mạnh làm cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn các tỉnh ĐBSH diễn ra nhanh chóng hơn các tỉnh khác trong cả nước Cơ sở hạ tầng thiết yếu bảo đảm cuộc sống người dân như: mạng lưới điện phục vụ sinh hoạt
và công nghiệp, hệ thống giao thông quốc gia và đường giao thông nông thôn, hệ thống trường học các cấp, trạm y tế từ nông thôn đến thành thị được xây dựng khá hoàn thiện và đồng bộ Quá trình đô thị hoá đã làm cho khoảng cách phát triển về mọi mặt giữa nông thôn và thành thị trong vùng được rút ngắn đáng kể
Kinh tế trong vùng phát triển đã giúp các tỉnh ĐBSH giải quyết nhiều vấn đề văn hoá - xã hội phức tạp như: người lao động có việc làm và thu nhập ổn định, góp phần đẩy lùi các loại tệ nạn; giáo dục đào tạo và dạy nghề phát triển giúp người lao động có việc làm tốt; sự hưởng thụ và sáng tạo văn hoá của nhân dân không ngừng nảy nở, phát triển, đời sống tâm linh của quần chúng nhân dân càng hướng về cội nguồn, tổ tiên và các bậc thánh nhân có công dựng nước, giữ nước Lời ca, điệu nhạc và các áng văn chương ca ngợi cuộc sống tươi đẹp vang vọng khắp mọi chốn thôn quê và thị thành Tuy nhiên, sự phát triển nói trên cũng đang đặt ra nhiều thách thức đối với năng lực lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội của đội ngũ cán bộ các
Trang 14tỉnh ĐBSH, nhất là lãnh đạo bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa - xã
hội; lãnh đạo phòng, chống các tệ nạn văn hoá - xã hội, giữ vững an ninh, trật tự và
an toàn xã hội Sự chuyển đổi mô hình kinh tế, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế
về nhiều mặt đã tạo nên sự đứt gãy các giá trị văn hoá: giữa truyền thống và hiện
đại, giữa giữ gìn bản sắc và hội nhập Quan niệm về các chuẩn giá trị trong xã hội
cũng có nhiều thay đổi, cùng với những thay đổi trong đời sống kinh tế
2.1.2 Văn hoá - xã hội và những đặc điểm văn hóa - xã hội các tỉnh đồng
bằng sông Hồng hiện nay
2.1.2.1 Khái niệm văn hoá - xã hội
* Khái niệm văn hoá
Định nghĩa về văn hoá, Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng: “Văn hoá là
toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một dân
tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước”
[102, tr.798] Theo Hồ Chí Minh:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về
mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hóa Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức
sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn [46, tr.431]
Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, ông Mayor (F.Mayor) đưa ra một khái
niệm về văn hoá vừa có tính khái quát, vừa có tính đặc thù: "Văn hoá bao gồm tất
cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi
hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [102,
tr.798] Khái niệm này được cộng đồng quốc tế công nhận tại Hội nghị liên chính
phủ về các chính sách văn hoá tại Vơnidơ (Venníe, 1970) Như vậy, văn hóa bao
gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm mục đích phục
vụ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng loài người Văn hoá biểu hiện trong lý
tưởng sống, trong thế giới quan và nhân sinh quan, trong tổ chức cuộc sống, trong
lao động và đấu tranh của con người Văn hoá thể hiện sống động và cụ thể trong
các công cụ sản xuất; trong các sản phẩm lao động và hàng hoá; trong phương thức sản xuất; trong các thể chế chính trị, xã hội; trong phong tục tập quán và quan hệ giao tiếp giữa người với người; trong trình độ học vấn, khoa học kỹ thuật và công nghệ; trong sáng tạo và thưởng thức văn học, nghệ thuật Có thể nói văn hóa là
"thiên nhiên thứ hai" do con người tạo ra để phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển của chính con người
Nhìn một cách khái quát, văn hóa là khái niệm chỉ thuộc tính sáng tạo của
con người trong quá trình cải tạo tự nhiên để sáng tạo ra "thiên nhiên" thứ hai cho mình, nhờ đó con người vươn tới các giá trị nhân văn cao đẹp Văn hoá là dấu hiệu
để phân biệt loài người với loài vật, cá nhân này với cá nhân khác, cộng đồng này với cộng đồng khác Đồng thời đây cũng là khái niệm để chỉ chất lượng và trình độ cuộc sống của con người Tuỳ theo các hướng và mục đích tiếp cận khác nhau,
người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn hoá và diễn giải nhận thức về văn hoá vô cùng đa dạng, phong phú như chính sự phong phú phức tạp của văn hoá, tuy vậy, nguồn gốc và bản chất của văn hoá luôn là thống nhất
Bản chất của văn hóa chính là lao động sáng tạo nhằm cải tạo thế giới khách quan để hướng tới các giá trị nhân văn, hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp Thông qua lao động sáng tạo mà loài người đã tạo nên những thành tựu vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của loài người Trong tác phẩm “Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người”, Ph.Ăngghen nhận xét:
Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cái cung cấp những vật liệu cho lao động biến thành của cải Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người [45, tr.641]
Người còn cho rằng:
Bàn tay không chỉ là những khí quan của lao động, mà còn là sản phẩm của lao động nữa Chỉ nhờ có lao động, nhờ thích ứng được với những động tác ngày càng mới, nhờ sự di truyền của sự phát triển đặc biệt đã đạt được bằng
Trang 15cách đó của các cơ, của các gân và sau những khoảng thời gian dài hơn, của
cả xương nữa và cuối cùng, nhờ luôn luôn áp dụng lại sự tinh luyện thừa
hưởng được đó vào những động tác mới, ngày càng phức tạp hơn, mà bàn
tay con người mới đạt được trình độ hoàn thiện rất cao khiến nó có thể, như
một sức mạnh thần kỳ, sáng tạo ra các bức tranh của Raphaen, các pho
tượng của Tovanxen và các nhạc điệu của Paganini [45, tr.643]
Sự phát triển của lao động đòi hỏi phải gia tăng các mối quan hệ giao tiếp
trong xã hội Nhu cầu giao tiếp xã hội đòi hỏi con người "phải nói với nhau một cái
gì đấy" và luyện tập cách phát âm ra những âm vận nối tiếp nhau Đó chính là
nguồn gốc của ngôn ngữ Theo Ph.Ăngghen: "Trước hết là lao động, sau lao động
là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn,
làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người" [45, tr.646] Ông
so sánh phương thức kiếm sống của loài vượn với lao động xã hội của loài người:
"Đàn vượn chỉ biết ăn hết sạch lương thực sẵn có trong khu vực mà điều kiện địa lý
hoặc là sự kháng cự của đàn vượn bên cạnh đã hạn định cho chúng" [45, tr.647]
Điều đó có nghĩa là loài vượn không tự tạo ra thức ăn (như chăn nuôi hay trồng trọt)
mà chỉ ăn những thức ăn sẵn có trong tự nhiên Từ đó Ph.Ăngghen rút ra nhận định
quan trọng: "Nhưng tất cả những cái đó vẫn chưa phải là lao động, theo đúng nghĩa
của nó Lao động bắt đầu với việc chế tạo ra công cụ" [45, tr.648]
Như vậy, lao động của con ngời là lao động sáng tạo Nhờ có sự sáng tạo mà
con người mới tạo ra cái mới trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của con người Tuy nhiên không phải sự sáng tạo cũng đều
là sản phẩm văn hóa Chỉ có sự sáng tạo vươn tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp, vươn
tới các giá trị nhân văn thúc đẩy sự tiến bộ xã hội mới trở thành văn hóa Còn những
sáng tạo chống lại con người, huỷ diệt con người, làm tha hóa nhân cách, đạo đức
và lối sống của con người là những sáng tạo phản văn hóa Phát hiện ra năng lượng
hạt nhân là thành tựu khoa học công nghệ vĩ đại của nhân loại, là văn hoá; nhưng
ứng dụng năng lượng hạt nhân để chế tạo ra bom hạt nhân huỷ diệt con người là
phản văn hoá, phản phát triển, là tội ác ghê tởm phải bị cấm vĩnh viễn
Văn hoá có mối quan hệ sâu rộng đối với tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội
như: chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo, dân tộc…Văn hoá
là sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người trong xã hội, những sản phẩm văn hoá, đến lượt nó cấu thành xã hội có văn hoá Trong mối quan hệ với chính trị, chừng nào xã hội còn giai cấp và đấu tranh giai cấp, thì văn hoá trong xã hội có giai cấp cũng có tính giai cấp Văn hoá của giai cấp thống trị (thuộc về một hình thái kinh tế xã hội nào đó), sẽ là văn hoá đặc trưng cho xã hội đó Những giá trị văn hoá chính thống do giai cấp thống trị bảo vệ và phát triển, sẽ thực hiện những chức năng vốn có của nó để làm nên tính chất, đặc trưng, diện mạo và bản sắc của nền văn hoá Khi bàn về xây dựng nền văn hoá dân tộc Việt Nam trong tương lai, Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện:
Năm điểm lớn xây dựng nền văn hoá dân tộc
1- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập, tự cường
2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng 3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội
4- Xây dựng chính trị: dân quyền 5- Xây dựng kinh tế [46, tr.431]
Nền văn hoá đó, theo tư tưởng của Người, văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi, văn hoá có liên hệ rất mật thiết với chính trị, phải làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi tầng lớp nhân dân, trở thành cội nguồn sức mạnh của quốc dân, văn hoá phải trở thành bảo vật để giữ nước và dựng nước; văn hoá còn, thì nước còn, văn hoá mất thì nước mất
Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII về xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998), Đảng
ta chủ trương xây dựng một nền văn hoá bao gồm toàn bộ các hoạt động tinh thần của xã hội, từ tư tưởng, đạo đức, lối sống tới văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giáo dục - đào tạo; khoa học - công nghệ; bảo tồn di sản văn hóa; phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; xây dựng môi trường văn hóa; chính sách văn hoá đối với tôn giáo; mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá; xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá [13, tr.58-68] Đây là những lĩnh vực góp phần tạo nên nền tảng tinh thần
xã hội, là động lực phát triển bền vững đất nước
Trang 16Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII,
Tại Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát
triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
(6-2014), sau khi đánh giá những thành tựu và hạn chế của sự nghiệp xây dựng và
phát triển văn hoá, con người Việt Nam những năm đã qua, Đảng ta chỉ rõ mục tiêu
xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam hiện nay là:
Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện,
hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn dân
chủ và khoa học Văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc
của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền
vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh [22, tr.46-47]
Về nhiệm vụ phát triển văn hoá, con người Việt Nam hiện nay, Đảng ta xác
định sáu nội dung sau đây: 1) Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện;
2) Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh; 3) xây dựng văn hoá trong chính trị và
kinh tế; 4) Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hoá; 5) phát triển công
nghiệp văn hoá đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hoá; 6) Chủ động hội
nhập quốc tế về văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại [22, tr.49-57]
* Khái niệm xã hội
Định nghĩa về xã hội có nhiều cách diễn giải khác nhau, song xã hội hiểu
theo nghĩa chung nhất và rộng nhất là “toàn bộ các hình thức hoạt động chung của
con người đã hình thành trong lịch sử” [102, tr.965] Người ta thường dùng khái
niệm xã hội để chỉ một tập đoàn người, cấu thành bởi những cá nhân với các mối
quan hệ lẫn nhau hết sức phức tạp, biểu hiện ra như một hiện thực tồn tại của những
thành viên của nó Xã hội cũng được hiểu là một môi trường hoạt động của con
người mà những cá nhân hoà nhập vào đó, môi trường ấy gồm toàn bộ các lực
lượng có tổ chức, các thiết chế tổ chức vận hành theo những nguyên tắc nào đó, vẫn
hàng ngày tác động lên mỗi cá nhân Hiểu theo nghĩa như vậy, khái niệm xã hội đối
lập lập với khái niệm cá nhân; cũng như khái niệm sống trong xã hội đối lập với
khái niệm sống đơn độc
Nói một cách khác, xã hội theo nghĩa rộng là khái niệm chỉ tất cả những gì
liên quan đến con người, đến xã hội loài người, nhằm phân biệt nó với thế giới tự
nhiên Học thuyết Mác - Lênin coi xã hội không phải là tổng số các cá nhân mà là toàn bộ các quan hệ xã hội giữa các cá nhân tạo nên cộng đồng xã hội Xã hội, vì vậy, bao gồm tất cả các hoạt động của con người, của xã hội loài người trong kinh
tế, trong chính trị, trong văn hóa và trong tư tưởng Đây là khái niệm chỉ cái chung, cái tổng thể, bao quát và xuyên suốt tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người Xã hội hiểu theo nghĩa rộng sẽ bao hàm trong đó cả những vật thể tự nhiên đã được con người cải tạo, biến đổi Đất đai, sông ngòi, rừng biển vốn là vật thể tự nhiên được con người tác động cải tạo, khai thác sử dụng, chiếm hữu đã trở thành một phần không thể thiếu của xã hội loài người
Xã hội hiểu theo nghĩa hẹp là là khái niệm chỉ một loại hệ thống xã hội cụ
thể nào đó trong lịch sử, một hình thức nhất định của các quan hệ xã hội, là một xã hội ở vào trình độ phát triển nhất định trong lịch sử, như xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản, xã hội xã hội chủ nghĩa Hiểu theo nghĩa này, xã hội đồng nhất với khái niệm hình thái kinh tế xã hội (HTKTXH) [102, tr.964]
Quan niệm về xã hội theo nghĩa hình thái kinh tế xã hội thể hiện rõ trong đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định:
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;
có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới [21, tr.70]
* Khái niệm văn hoá - xã hội
Khái niệm văn hoá và xã hội như đã trình bày là những khái niệm có nội hàm phong phú, có tính độc lập với nhau Tuy vậy, trên thực tế văn hoá và xã hội là những khái niệm chỉ có tính độc lập tương đối; những vấn đề văn hoá và xã hội gắn
bó hết sức chặt chẽ với nhau, là nhân quả của nhau Con người chỉ có thể sáng tạo các giá trị văn hoá trong xã hội, các giá trị văn hoá trở thành một bộ phận tất yếu
Trang 17cấu thành xã hội, trở thành thước đo sự phát triển của xã hội Ở chiều ngược lại, con
người sở dĩ là người bởi họ kết thành xã hội, xã hội nâng đỡ và nuôi dưỡng sự sáng
tạo văn hoá của con người Những vấn đề văn hoá và xã hội luôn gắn bó chặt chẽ
với nhau, có quan hệ nhân quả và tuỳ thuộc lẫn nhau Vì vậy, khi diễn đạt những
vấn đề văn hoá và xã hội người ta dùng gạch nối giữa hai khái niệm này (văn hoá -
xã hội) để diễn đạt một nội dung xã hội phong phú hơn, đó là một xã hội cụ thể, đặc
thù có sự thống nhất và không thể tách rời lẫn nhau giữa hai mặt văn hoá và xã hội
Bản chất của một chế độ xã hội được thể hiện trên mặt văn hoá - xã hội của nó
Không thể nói một chế độ xã hội tốt đẹp, nếu xã hội đó đầy rẫy bất công, bạo lực,
mất dân chủ và văn hoá suy đồi Từ những diễn giải nói trên về văn hoá, xã hội và
mối quan hệ giữa chúng, khái niệm văn hoá - xã hội nêu trong luận án được hiểu:
Là thuật ngữ phản ánh xã hội Viêtn Nam thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, trong đó các tầng lớp nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đang không
ngừng lao động sáng tạo, thụ hưởng, bảo tồn và tái tạo những giá trị văn hoá làm
nên diện mạo của xã hội ViêtNam hiện đại; đồng thời, bằng những hoạt động sống
thiết yếu của con người có văn hóa, nhân dân ta đang nỗ lực bảo đảm cho xã hội
phát triển ổn định, nâng đỡ, khuyến khích các sáng tạo văn hóa nhiều hơn nữa Văn
hoá - xã hội mà luận án đề cập là văn hoá - xã hội ở nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, thuộc Hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa, ở vào giai đoạn đầu của
thời kỳ quá độ, với những nội hàm lớn như đã dẫn ở trên Tuy nhiên, đi vào cụ thể,
nội dung khái niệm đó bao gồm: hoạt động sáng tạo các giá trị văn hoá của các tầng
lớp nhân dân trong lao động sản xuất; trong sinh hoạt cộng đồng; trong đấu tranh
chống thiên tai, địch hoạ; trong hoạt động chính trị - xã hội; trong đời sống tâm
linh… Cùng với quá trình lao động sáng tạo, bảo tồn và phát triển các giá trị văn
hoá, các tầng lớp nhân dân cũng không ngừng chăm lo, gìn giữ những điều kiện bảo
đảm cho đời sống của mình diễn ra bình yên, hạnh phúc, đó là các hoạt động: duy
trì nòi giống, xây dựng gia đình và nuôi dạy con cái; xoá đói, giảm nghèo và khắc
phục những bất bình đẳng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ sức khoẻ cộng
đồng; chống mất an toàn nhân mạng trong lao động, trong giao thông, trong sinh
hoạt… Tất cả những hoạt động đó của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, cấu thành nội hàm của khái niệm văn hoá - xã hội
2.1.2.2 Đặc điểm văn hoá - xã hội các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Nhân dân ở các tỉnh ĐBSH giàu truyền thống yêu nước, mưu trí, dũng cảm trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, địch hoạ, đồng thời cũng rất cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất xây dựng quê hương, đất nước hoà bình Với truyền thống bất khuất đó, trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc (sau Công nguyên), nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân các tỉnh ĐBSH nói riêng, luôn vùng lên đấu tranh giành độc lập, không cam chịu để các thế lực phong kiến Phương Bắc thực hiện âm mưu thôn tính, đồng hoá và biến nước ta thành quận, huyện của chúng Với chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, quân dân ta đã chấm dứt ách đô hộ một ngàn năm của các thế lực phong kiến Phương Bắc, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập Kể từ đó về sau, nhân dân Việt Nam còn phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng đất nước khỏi hoạ ngoại xâm của phong kiến Phương Bắc, nhưng đó là thời kỳ đấu tranh nhân dân ta đã có nhà nước phong kiến tập quyền, bảo vệ độc lập, chủ quyền của quốc gia, dân tộc
Bước vào thời kỳ lịch sử cận đại và hiện đại, Việt Nam nói chung, trước hết
là vùng ĐBSH nói riêng, lại hứng chịu âm mưu thôn tính của chủ nghĩa thực dân,
đế quốc Phương Tây Các giáo sĩ Phương tây đi tiên phong mở mang “nước chúa” của họ vào Việt Nam, điểm đặt chân đầu tiên là các tỉnh đồng bằng sông Hồng Đi theo sau các giáo sĩ là những tên đế quốc thực dân nhòm ngó lãnh thổ, toan tính âm mưu xâm lược, biến nước ta thành thuộc địa của chúng Những diễn biến lịch sử diễn ra trên đất nước ta trong suốt thế kỷ XIX, đến nửa sau của thế kỷ XX đã minh chứng rất rõ những mưu toan nói trên của chủ nghĩa đế quốc thực dân cũ và mới Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 là một đòi hỏi tất yếu của lịch sử Việt Nam hiện đại, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam khỏi ách áp bức, xâm lược của chủ nghĩa thực dân - phong kiến cũ và mới Đảng Cộng sản Việt Nam đã khơi dậy, tiếp nối và phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập tự do và thống nhất tổ quốc, đưa cả nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa Những bản hùng ca bất tử về chiến tranh chống
Trang 18ngoại xâm của quân, dân Việt Nam trong suốt thiên niên kỷ thứ hai, chủ yếu diễn ra
ở khu vực ĐBSH Đặc điểm lịch sử nổi bật đó của các tỉnh ĐBSH chi phối mạnh
mẽ những đặc điểm văn hoá - xã hội của vùng đất này
Các tỉnh ĐBSH được xem là “cái nôi văn hoá” của dân tộc Việt Nam từ ngàn
xưa Trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển của vùng đất này, đời sống văn
hoá - xã hội của nhân dân được nuôi dưỡng và phát triển bởi hai dòng chảy chủ đạo
của lịch sử Việt Nam, đó là lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, chống thiên tai, địch
hoạ và lịch sử xây dựng quê hương đất nước hoà bình, khẩn hoang, mở mang bờ cõi
Thực tiễn lịch sử xã hội nói trên đã chi phối, tác động và để lại trong đời sống văn
hoá - xã hội hiện tại của nhân dân các tỉnh ĐBSH một số đặc điểm chủ yếu sau:
Một là, nhân dân các tỉnh ĐBSH có đời sống tinh thần gắn bó sâu nặng với
văn hoá làng, xã
Trong đời sống xã hội Việt Nam cổ truyền, làng có vị trí quan trọng đặc biệt:
làng là đơn vị cơ bản hình thành nên quốc gia dân tộc Nước (quốc gia) chỉ là tổng
số, là kết quả của sự liên kết các làng xã Làng “Là một đơn vị xã hội của văn hoá
Việt Nam, làng của người Việt là một môi trường văn hoá Ở đó, mọi thành tố, mọi
hiện tượng văn hoá được sinh thành phát triển, lưu giữ và trao truyền tới mọi cá thể”
[113, tr.47] Làng xã có vai trò gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc Các
nhà khoa học, văn hoá học và xã hội học đều thống nhất nhận định: làng, xã ở Việt
Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước, bảo vệ sự
trường tồn của dân tộc Việt trước âm mưu thôn tính, đồng hoá của các thế lực ngoại
xâm Còn làng thì còn nước, khi mất nước, nhưng vẫn giữ được làng thì sẽ còn cơ
hội để để giành lại nước Cái hồn của làng Việt Nam là văn hoá làng xã, tiêu biểu là
văn hoá làng xã vùng ĐBSH Các nhà khoa học cho rằng: “Văn hoá làng có thể
hiểu một cách khái quát nhất là bản sắc riêng của làng, là toàn bộ cuộc sống của
làng, với những đặc điểm mang tính truyền thống từ ăn, ở, đi lại, mọi hoạt động,
cách tổ chức, những quy ước, lối ứng xử, những phong tục tập quán, tôn giáo, tín
ngưỡng cho đến cả tâm lý của mọi thành viên trong làng với những đặc điểm riêng
của nó” [27, tr.75] Trên cơ sở quan niệm như vậy, các nhà khoa học cũng chỉ ra ba
đặc trưng quan trọng của văn hoá làng xã vùng ĐBSH là: “văn hoá vùng nông
nghiệp trồng lúa nước; có tính cố kết cộng đồng từ trong gia đình, làng xã đến vùng,
miền và cả nước; có tính dân chủ và tính tự chủ” [27, tr.77-90] Bản sắc văn hoá làng xã Việt Nam là yếu tố cơ bản của bản sắc văn hoá Việt Nam mà cội rễ là văn hoá làng xã vùng ĐBSH Vì vậy có thể nói, cái nôi văn hoá làng xã Việt Nam từ ngàn xưa đến nay chính là khu vực ĐBSH
Làng là không gian sống của người nông dân (chủ nhân chính của các làng)
từ lúc chào đời cho đến khi đi vào cõi vĩnh hằng Đã là người dân của làng, thì dù sống ở làng, hay sống nơi phố thị, những hình ảnh thân thuộc về làng như: cổng chùa, ngôi đình, cây đa, bến nước, dòng sông và luỹ tre xanh luôn in đậm trong tâm trí mỗi người dân vùng này Bởi thế, những dịp lễ hội quan trọng nhất trong năm như: Tết Nguyên đán, Tết độc lập (Quốc khánh 2-9) và tiệc làng, người dân vùng này không quên về với làng của mình
Làng được xem là một không gian văn hoá - xã hội ở nông thôn các tỉnh ĐBSH, trong mỗi làng, người dân có nghĩa vụ đóng góp xây dựng và được hưởng chung các thiết chế văn hoá làng như: chùa làng, đình làng, đền và miếu thờ thần, hương ước, lệ làng Chùa làng là nơi người dân trong làng lên chùa lễ phật những ngày mồng một và ngày rằm hàng tháng, nhằm thoả mãn những nhu cầu tâm linh
mà không nhất thiết phải là phật tử Đình làng vừa để dân làng thờ vọng các vị thần, vừa làm công sở của chính quyền phong kiến xưa, đồng thời là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng: hội họp, tổ chức các lễ hội truyền thống, biểu diễn văn nghệ và vui chơi giải trí hàng ngày của nhân dân Trong sách Việt Nam phong tục, nhà văn hoá Phan Kế Bính cho rằng:
Mỗi làng phụng thờ một vị Thành hoàng, có làng thờ hai, ba vị, có làng
thờ năm, bảy vị, tức gọi là Phúc thần, Phúc thần chia làm ba hạng: 1) Thượng đẳng thần; 2) Trung đẳng thần; 3) Hạ đẳng thần Thượng đẳng
thần là những thần Danh sơn Đại xuyên và các bậc thiên thần như Đổng
Thiên Vương, Sóc Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh các vị ấy
có sự tích linh dị mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, nên gọi là Thiên
thần Hai là các vị Nhân thần như là Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,
v.v Các vị này khi sinh tiền có đại công lao với dân, với nước lúc mất
đi, hoặc bởi nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ, hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ
Trang 19Trung đẳng thần là những vị thần dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà
không rõ công trạng, hoặc có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc những
thần có chút linh dị thì triều đình cũng liệt vào tự điển mà phong làm
Trung đẳng thần Hạ đẳng thần là những thần dân xã thờ phụng mà
không rõ sự tích làm sao, nhưng cũng thuộc bậc chính thần thì triều đình
cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần [10, tr.85-86]
Làng thờ thần phải có đình và miếu Miếu là nơi thần ngự hàng ngày, đặt ở
nơi yên tĩnh, linh thiêng; đình là nơi dân thờ vọng các vị thần, thường được đặt ở
trung tâm của làng để tiện cho sinh hoạt Đến ngày tiệc của làng, dân làng rước các
linh vị thần từ miếu ra đình, hết tiệc, rước ngược lại Hầu hết các đình, miếu ở các
tỉnh ĐBSH đều thờ Phúc thần
Mỗi làng thường có cổng làng, sau cổng làng là một không gian văn hoá
trọn vẹn, ở đó chứa đựng những giá trị văn hoá hết sức sâu sắc của người Việt từ
bao đời nay Ngày nay, do quy mô dân số tăng cao, các xóm trong làng xưa kia
được nâng lên thành thôn, mỗi thôn có trưởng thôn, chi đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh, chi hội phụ nữ, chi hội cựu chiến binh, chi hội Mặt trận tổ quốc
Việt Nam thôn đóng vai trò cánh tay nối dài của chính quyền, Mặt trận tổ quốc
và các đoàn thể chính trị xã hội xã, thị trấn; nhưng làng thì không thể phân chia
được, bởi dân của một làng có chung chùa thờ phật, miếu, đình thờ thánh đã đi
vào tâm thức người dân Muốn lập làng mới, được nhân dân thừa nhận thì không
thể thiếu không gian văn hoá làng Tuy nhiên, hiện tại đã có nhiều đơn vị dân cư
phát triển thành quy mô các làng, ở đó có các nhà văn hoá thôn, nhưng nhà văn
hoá thôn vẫn chưa khoả lấp được sự trống vắng của không gian văn hoá làng
mang tính bản sắc ở các tỉnh ĐBSH
Hai là, nhân dân các tỉnh ĐBSH có truyền thống hiếu học, tôn vinh những
người có học thức, khoa bảng và tài năng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Trong xã hội hiện đại, việc học tập cho mỗi người dân là công việc không
chỉ của người dân mà còn là công việc của Nhà nước và toàn xã hội Học tập đã trở
thành một quyền, một nghĩa vụ, một nhu cầu bức thiết của mỗi người dân để phát
triển xã hội Đối với nhân dân các tỉnh ĐBSH, từ bao đời nay, người dân luôn coi
trọng sự học và tôn vinh những người có khoa bảng, thực tài Ở nhiều làng quê các tỉnh ĐBSH, có những dòng họ đời nối đời sinh ra những người tài danh, đỗ đạt, cống hiến lớn cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước Nhân dân thường ghi nhớ công đức của các vị khoa bảng bằng việc lập đình, đền, miếu thờ Ví dụ: làng Quan
Tử, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc lập đền thờ Đỗ Khắc Chung, một nhà giáo đã từng dạy học cho các Hoàng tử và nhiều thế hệ con em dân làng thành đạt
Ở Làng Vũ Thành, xã Thái Hưng, huyện Thái Thuỵ tỉnh Thái Bình có đình Đoài thờ Thành hoàng làng là ông Bùi Công Đán Thần phả chép, ông đỗ tiến sĩ thời vua Huệ Tông nhà Lý, từng làm đến chức tham tri bộ lễ đời nhà Trần Ông có công lớn với làng, nước nên được vua ban cho dân làng lập đình thờ để ghi nhớ công đức Làng Bảo Tháp, xã Đông Cừu, huyện Gia Bình, tỉnh Băc Ninh lập đền thờ Lê Văn Thịnh, quan Trạng thời Lý (1050) Ông là một nhà khoa bảng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, có tài năng lớn, được triều đình Nhà Lý thăng tới chức Thái sư
Trong các họ tộc, gia phả và nhà thờ họ luôn dành những nơi trang trọng nhất để vinh danh tài năng, công đức của những người có học thức, khoa bảng nhằm nêu gương cho con cháu noi theo Những dòng họ chưa có điều kiện xây nhà thờ họ, thì việc thờ cúng tổ tiên đặt tại nhà trưởng họ, song xu hướng chung là xây nhà thờ họ để tiện việc thờ phụng, cất giữ tộc phả và tiến hành các nghi lễ quan trọng của họ Ngày nay, ở nhiều họ tộc, nhà thờ họ được chọn làm nơi tổ chức hội nghị khuyến học, khuyến tài; nơi tôn vinh những người trong họ có học vấn, tài năng đóng góp cho quê hương, đất nước Có thể nói, hầu hết các dòng họ lớn thuộc các tỉnh ĐBSH hiện nay đều có nhà thờ của dòng họ mình
Ba là, các thiết chế văn hoá ở các tỉnh ĐBSH có sự bảo tồn, phát triển và thích ứng nhanh với yêu cầu phát triển hiện đại
Là vùng đất giàu truyền thống văn hoá, các tỉnh ĐBSH đã sớm có chủ trương bảo tồn và phát triển các thiết chế văn hoá cho phù hợp với yêu cầu của thời
kỳ mới Các công trình văn hoá tiêu biểu ở khắp các làng quê như đền, miếu, đình, chùa, nhà thờ họ, văn bia, phả hệ, sắc phong của các đời vua cho các vị thánh, thần được chính quyền địa phương tạo điều kiện để nhân dân khôi phục, tôn tạo, giữ gìn Mặt khác, không ít các làng quê khôi phục lại và bổ sung, phát triển các
Trang 20hương ước của làng cho phù hợp với luật pháp và nếp sống hiện đại Nhiều lễ hội
truyền thống có ý nghĩa văn hoá - lịch sử được phục hồi, tạo điều kiện phát triển
đúng hướng như: lễ hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương), lễ hội chùa Yên Tử (Quảng
Ninh), lễ hội đền Tây Thiên (Vĩnh Phúc), lễ tịch điển (Nam Định), hội Lim (Bắc
Ninh), lễ hội Phủ Dầy (Nam Định) Những giá trị văn hoá phi vật thể như: ca,
múa, nhạc dân tộc được sưu tầm, phục dựng, khuyến khích phát triển Có những
dân ca và điệu múa được công nhận ở tầm quốc tế như: dân ca Quan họ ở Bắc Ninh,
hát múa cửa đình (hát trống quân) ở Vĩnh Phúc, Ca trù, hát Xẩm ở Nam Định, Ninh
Bình Cùng với việc phục dựng, bảo tồn vốn văn hoá cổ để lại, hiện tại các tỉnh
ĐBSH đã đầu tư xây dựng mạng lưới các nhà văn hoá, thư viện ở cơ sở; các bảo
tàng, nhà truyền thống, nhà hát, rạp chiếu phim ở các trung tâm thị trấn, thị xã,
thành phố trực thuộc tỉnh Tương xứng với những vốn văn hoá cổ được bảo tồn và
những cơ sở văn hoá mới được xây dựng, chính quyền địa phương các cấp cũng
chú trọng đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ, nhân viên vận hành các thiết chế văn
hoá đó một cách hiệu quả Có thể nói, quá trình bảo tồn và phát triển các giá trị văn
hoá vật thể và phi vật thể ở các tỉnh ĐBSH là nhanh chóng, mau lẹ, phù hợp với yêu
cầu sáng tạo và thụ hưởng văn hoá của các tầng lớp nhân dân
Bốn là, sự du nhập và phát triển tôn giáo trong các cộng đồng dân cư hoà
đồng, ít xảy ra xung đột
Các tỉnh ĐBSH là nơi sớm du nhập và trở thành trung tâm của hai tôn giáo
lớn nhất Việt Nam là Phật giáo và Thiên chúa giáo Theo lịch sử phật giáo Việt
Nam, trong các năm từ 168 - 189 (sau Công nguyên), Khâu Đà La đến giảng đạo ở
Luy Lâu (thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay), là trị sở của quận
Giao Chỉ lúc bấy giờ “Chùa Dâu nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu,
được xây dựng từ năm 187 đến năm 226 thì hoàn thành Đây là ngôi chùa lâu đời
nhất, gắn với lịch sử Phật giáo Việt Nam” [37, tr.364] Từ thế kỷ X, XI, XII, Phật
giáo được các triều Đinh, tiền Lê, Lý, Trần coi là quốc đạo, giới tăng, lữ Phật giáo
được trọng vọng Vua Trần Nhân Tông (thế kỷ XIII) còn sớm xuất gia tu hành để
sáng tạo một dòng phật giáo mới của người Việt, Phật giáo Trúc lâm Yên tử Có thể
thấy, Bắc Ninh và các tỉnh thuộc ĐBSH, từ rất sớm trong lịch sử nước ta, đã du
nhập và trở thành trung tâm phật giáo Việt Nam
Thiên chúa giáo du nhập vào nước ta theo bước chân của các giáo sĩ Phương Tây từ thế kỷ XVI, “cứ trong quốc sử chép thì đời Nguyên Hoà, nguyên niên nhà
Lê (1523), người nước Hà Lan tên là I Nê Khu, mới bắt đầu đến các địa phương Nam Chân, Giao Thuỷ (thuộc tỉnh Nam Định) giảng đạo thiên chúa” [10, tr.85-86]
Kể từ đó, các tỉnh Nam Định, Ninh Bình đã tiếp cận đạo Thiên chúa và sớm trở thành trung tâm của đạo này ở Việt Nam
Việc theo hay không theo một tôn giáo nào đó trong các tầng lớp nhân dân các tỉnh ĐBSH là hoà đồng, không có kỳ thị, xung đột Ở các tỉnh có đông đồng bào theo đạo thiên chúa giáo như Nam Định, Ninh Bình, có những làng tôn giáo toàn tòng, nhưng cũng có không ít các làng người theo đạo Thiên chúa giáo và người không theo đạo sống xen lẫn nhau Người theo đạo Thiên chúa giáo phải tuân theo giáo lý, giáo luật chặt chẽ; song với phật giáo, ngoài những tăng ni tu hành ở chùa, người theo hay không theo phật giáo không có ranh giới rõ ràng Là người dân, ai cũng có thể lên chùa lễ phật như một nét văn hoá tâm linh, mà không nhất thiết phải
là phật tử hiểu giáo lý, giáo luật nhà phật Đối với các tôn giáo khác, việc người dân theo một tôn giáo nào đó (trong số những tôn giáo được Nhà nước công nhận) là tự nguyện và việc riêng của họ, những người không theo tôn giáo đều tôn trọng và ủng
hộ Tuy nhiên, cũng có những thời kỳ lịch sử, do các thế lực phản động thực hiện
âm mưu gây chia rẽ giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nên ở thời kỳ đó đã có những căng thẳng nhất định trong các cộng đồng dân cư
Năm là, các tỉnh ĐBSH là một trong những địa phương có nhiều lễ hội dân gian và lễ hội truyền thống nhất cả nước
Ngoài những ngày lễ mà nhân dân cả nước tổ chức kỷ niệm trọng thể như: ngày Giỗ tổ 10-3 âm lịch, ngày Quốc khánh 2-9, ngày Quốc tế lao động 1- 5, nhân dân các tỉnh ĐBSH còn có nhiều lễ hội mang tầm cỡ khu vực và lễ hội của các làng Những lễ hội lớn mang tầm cỡ khu vực với sự tham gia của người dân nhiều tỉnh như: Lễ hội đền Kiếp Bạc; lễ hội đền Tây Thiên; lễ hội đền Phủ Giầy; lễ hội đền Bà chúa kho; lễ hội Lim; lễ hội Yên Tử; lễ hội chùa Bái Đính; lễ phát Ấn đền Trần Ngoài những lễ hội lớn đó, hầu hết các làng quê trong vùng đều tổ chức lễ hội trong ngày tiệc làng
Trang 21Ngày tiệc làng thường là ngày giỗ của các vị Phúc thần có công với nước,
hoặc có công khai mở đất đai, nghề nghiệp cho dân, được dân làng tôn là Thành
hoàng, thờ tại miếu và đình làng Tiệc làng diễn ra hàng năm, có kèm theo lễ và
hội Hội làng được tổ chức thường niên, hoặc sau một số năm, tuỳ tình hình kinh
tế - xã hội địa phương mà dân làng quyết định Trong hội làng có lễ rước Thành
hoàng và tổ chức các trò vui dân gian liên quan đến sự tích về Thành hoàng Ngày
nay, một số nơi còn tổ chức hoạt động văn nghệ, thể thao trong ngày hội làng cho
thêm phần sinh động Tiệc làng là ngày vui lớn, con trai, con gái của làng sinh
sống ở xa quê vẫn nhớ và thu xếp công việc về dự Có những làng quy định, ngày
tiệc làng, con gái đi lấy chồng thiên hạ phải có lễ về trình Thành hoàng làng để tỏ
lòng tri ân với quê hương
Tiệc làng có thể rơi vào bất kỳ ngày nào trong năm, song thường được tổ
chức nhiều vào mùa xuân và mùa thu Mùa xuân, từ sau Tết Nguyên đán đến hết
tháng ba âm lịch; mùa thu, từ đầu tháng tám đến hết tháng chín âm lịch Đây là
khoảng thời gian người làm nghề nông khá rảnh rỗi công việc ngoài đồng ruộng nên
thuận lợi cho mở tiệc Lễ hội làng có vai trò gắn kết và củng cố mối quan hệ giữa
các thành viên trong cộng đồng làng, xã; góp phần giáo dục lòng biết ơn của thế hệ
hôm nay đối với các thế hệ đã qua, tôn vinh và ghi nhớ công đức của những người
có công với nước, với làng để con cháu noi theo
Sáu là, nhân dân các tỉnh ĐBSH có trình độ giáo dục, đào tạo phát triển;
nguồn nhân lực dồi dào, phong phú
Hiếu học là nét truyền thống văn hoá nổi bật của nhân dân các tỉnh ĐBSH
Trọng người có học, đề cao học vấn, khuyến khích con cháu học tập, noi theo
những người có khoa bảng cao đã thành một truyền thống tốt đẹp ở mọi làng quê
nơi đây Truyền thống hiếu học đó, ngày nay, đã và đang thúc đẩy hàng triệu học
sinh, sinh viên thi đua học tập đạt thành tích cao để lập thân, lập nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2012
cho thấy, nhân dân các tỉnh ĐBSH có trình độ dân trí khá cao so với các tỉnh khác
trong cả nước, nơi đây tập trung rất nhiều trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và các
cơ sở nghiên cứu khoa học Lực lượng cán bộ có trình độ đại học và trên đại học ở
các tình này chiếm tới 72,4% so với cả nước; lao động đã qua đào tạo chiếm tới
29,5% lao động xã hội, chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Mặc dù trong những năm qua, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên trong vùng giảm mạnh nhưng mật độ dân số vẫn cao nhất nước, với 934 người/km2, gấp 3,7 lần so với cả nước, gấp 2,14 lần so với vùng đồng bằng sông Cửu Long, gấp 8 lần so với miền núi và trung du phía Bắc và gấp hơn 10 lần so với Tây Nguyên [98, tr.9-12] Dân số đông, diện tích đất canh tác bình quân đầu người rất thấp (chưa đạt 450
m2/người) lại đang có xu hướng bị thu hẹp… là sức ép đối với sự lãnh đạo của cấp
uỷ các cấp Bên cạnh đó, tập quán, cách làm ăn cũ vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, làm cho kinh tế thị trường ở những nơi đó chưa phát triển mạnh Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo
đã giảm nhiều so với trước nhưng khoảng cách giàu, nghèo giữa các gia đình nông dân, giữa cư dân thành thị và nông thôn có xu hướng ngày càng doãng ra Một bộ phận dân cư thuộc vùng sâu, miền núi, hải đảo, dân tộc ít người còn gặp khó khăn
về đời sống vật chất và tinh thần Đây thực sự là thách thức không nhỏ đối với cấp
uỷ, chính quyền địa phương trong việc lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội, xây dựng nông thôn mới, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Bảy là, trong tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước
ta hiện nay, đời sống văn hoá - xã hội của nhân dân các tỉnh ĐBSH có sự thay đổi nhanh chóng, hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới
Nằm ở vùng kinh tế động lực của đất nước, các tỉnh ĐBSH đang diễn ra quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhanh và mạnh so với các tỉnh khác trong
cả nước Tiến trình CNH, HĐH đang làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế các tỉnh ĐBSH theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động ngành kinh
tế nông nghiệp; tăng dần tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động của ngành kinh tế công nghiệp, xây dựng, dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn Tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở các tỉnh ĐBSH đang làm thay đổi sâu sắc bộ mặt nông thôn và đời sống văn hoá - xã hội của nhân dân trong vùng trên các phương diện:
Trang 22Trước hết, về mặt kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn
các tỉnh ĐBSH đang được quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn
thay đổi sâu sắc theo hướng chuyển nhanh sang nông thôn đô thị Qúa trình đô thị
hoá nông thôn làm cho nhiều làng quê yên bình, khép kín sau luỹ tre xanh của
những năm tám mươi, thế kỷ XX trở về trước không còn nữa; thay vào đó là các
phố trong làng, phố chợ và các tụ điểm dân cư tập trung bên cạnh các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở giáo dục và cơ quan hành chính Cùng với tiến
trình đô thị hoá nông thôn, cư dân nông thôn làm nghề nông giảm đi nhanh chóng,
nhiều người dân làm nghề nông đã chuyển sang làm công nhân trong các khu công
nghiệp và cụm công nghiệp, làm dịch vụ và chế biến tiểu, thủ công nghiệp Những
người gắn bó với nghề nông thì chuyển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa thay
thế cho sản xuất tự cung, tự cấp Trình độ sản xuất và năng lực quản lý của một số
hộ nông dân được nâng lên rõ rệt Do tiếp cận với nền kinh tế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế, nhiều hộ nông dân đã vươn lên sản xuất hàng hóa, làm giàu chính
đáng Đời sống đại bộ phận nông dân được cải thiện cả về vật chất và tinh thần, một
số hộ trở nên khá giả và giàu có Cùng với tiến trình này, một hiện tượng đáng chú
ý khác của nông thôn các tỉnh ĐBSH là tình trạng di dân tạm thời của một bộ phận
nông dân từ nông thôn ra thành thị ngày một gia tăng Những lúc nông nhàn, họ
thường ra thành phố kiếm việc làm tăng thu nhập, đến mùa gieo trồng và thu hoạch
mùa màng, họ lại trở về làm nông nghiệp; thông qua bộ phận dân cư này, xã hội
thực hiện phân công lao động tự nhiên giữa nông thôn và thành thị, giữa nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Thứ hai, sự thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế dẫn đến những biến đổi to
lớn về văn hoá và xã hội Việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá, tôn trọng quy luật giá trị,
đề cao lợi ích cá nhân và sức mạnh đồng tiền, bên cạnh mặt tích cực về phát triển
kinh tế, nó cũng đang làm suy giảm nhanh những giá trị văn hoá làng xã truyền
thống nơi đây Song, vấn đề là ở chỗ những giá trị văn hoá truyền thống bị xem nhẹ,
những giá trị văn hoá mới lại chưa định hình rõ và chưa đủ khả năng dẫn dắt cộng
đồng phát triển Tình hình trên gây gây nên hiện tượng “đứt gãy văn hoá” trong xã
hội, tác động trước hết và chủ yếu vào tầng lớp thanh niên mới lớn Phải chăng sự
lệch chuẩn giá trị trong nhận thức, thị hiếu và suy nghĩ của một bộ phận thanh niên hiện nay có nguyên nhân từ những đứt gãy văn hoá nói trên
Sự phát triển kinh tế không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với phát triển văn hoá - xã hội Thực tế phát triển kinh tế ở các tỉnh ĐBSH những năm vừa qua cho thấy, có những vấn đề thuần tuý kinh tế - xã hội như tranh chấp đất đai và ô nhiễm môi trường ở nông thôn, việc làm và an sinh xã hội ở thành phố, song do quản lý chưa tốt đã đẩy thành điểm nóng mang tính chính trị Mặt khác, quá trình đô thị hoá khá nhanh làm cho cuộc sống của người dân các tỉnh ĐBSH tiếp cận gần hơn với thành phố, nhưng văn hoá đô thị lại chưa thể một sớm, một chiều hình thành Làng phát triển dần thành phố làng, đất đai thu hẹp, toàn bộ hoạt động sản xuất và tiêu dùng diễn ra trong phố làng, nạn ô nhiễm môi trường ngày càng lớn và khó giải quyết Lối sống xả thải tự nhiên của người dân sống trong ngôi làng xưa vẫn giữ nguyên trong thời kỳ phố làng, thành ra con người trở nên ích kỷ, nhà dân nào cũng chỉ lo giữ sạch cho riêng mình, chất thải đẩy ra môi trường để xã hội lo
Sự hội nhập sâu rộng về kinh tế, văn hoá - xã hội của nhân dân các tỉnh ĐBSH với các địa phương trong cả nước và với thế giới đã thúc đẩy khu vực này phát triển toàn diện Có thể nói trình độ phát triển văn hoá - xã hội tính theo các tiêu chí về phổ cập giáo dục, về tỷ lệ người lao động được đào tạo nghề, về chỉ số phát triển con người, về tỷ lệ mức sinh thô, chết thô, tỷ lệ người mắc các bệnh xã hội không cách biệt nhiều giữa Thủ đô Hà Nội và các tỉnh ĐBSH Mức sống của các tầng lớp dân cư được cải thiện rõ rệt; số người sống phụ thuộc trong một gia đình ít hơn số lao động của hộ Tuy nhiên, tháp dân số đang thay đổi theo hướng không như mong muốn, dân số nông thôn đang “già hoá”, “phụ nữ hóa”; mô hình gia đình
ba, bốn thế hệ đang giảm nhanh, mô hình gia đình hai thế hệ tăng cao, khả năng trao truyền các giá trị văn hoá truyền thống giữa thế hệ những người lớn tuổi với con trẻ
bị hạn chế nhiều
Tám là, trong quá trình bảo tồn và trao truyền các gía trị văn hoá - xã hội truyền thống, nhân dân các tỉnh ĐBSH còn khá bảo thủ trong việc giữ gìn những phong tục, tập quán không còn phù hợp với điều kiện sống mới
Văn hoá làng xã, bên cạnh những mặt tích cực to lớn, được xem như “hằng
số văn hoá Việt Nam” nói trên, nó cũng có những mặt tác động tiêu cực không nhỏ
Trang 23vào đời sống văn hoá - xã hội hiện nay Trước hết, nói về xây dựng môi trường văn
hoá lành mạnh, giàu bản sắc, việc tổ chức lễ hội truyền thống là cần thiết và phát
huy trong điều kiện hiện đại để giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam, hướng lòng dân
biết ơn các thế hệ đi trước đã hy sinh xương máu để gìn giữ đất nước tươi đẹp như
hôm nay Tuy nhiên, khi lễ hội mở, không ít người dân đến với lễ hội chủ yếu để
cầu phúc, cầu lộc, cầu tài theo lối mê tín, dị đoan; việc hiểu biết và tri ân thánh nhân
trong lễ hội bị xem nhẹ Một số lễ hội không còn phù hợp với điều kiện sống mới,
song dân làng vẫn cố duy trì như lễ chém lợn ghê sợ ở Bắc Ninh Việc cưới, việc
tang là những việc lớn của mỗi gia đình và cộng đồng, cần được coi trọng và tổ
chức chu đáo; tuy vậy, ở nhiều làng quê các tỉnh ĐBSH còn quá cầu kỳ, hoài cổ, tốn
kém và gây ảnh hưởng môi trường Lo hậu sự cho người thân, với quan niệm “trần
sao, âm vậy”, hầu hết những người dân (không theo đạo Thiên chúa giáo) đều thực
hiện chôn cất và cải táng; sau cải táng đua nhau xây cất mồ mả to đẹp vừa gây lãng
phí đất công, tiền của vừa gây ô nhiễm môi trường
Tính cộng đồng, truyền thống “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách
nhiều” là hết sức nhân văn, tốt đẹp, tuy nhiên truyền thống ấy có phần phát triển
lệch lạc khi nó đề cao thái quá tính cộng đồng, quan hệ dòng tộc, lễ nghi, địa vị xã
hội; xem nhẹ trí tuệ, tài năng cá nhân, bằng lòng với suy nghĩ “khôn độc không
bằng ngốc đàn” và không muốn ai hơn mình Hương ước, gia phong, tục lệ đẹp
phù hợp với quy định của pháp luật nhà nước rất cần được khuyến khích phát
triển; tuy nhiên tập quán, lối sống, thói quen, nếp nghĩ: “phép vua thua lệ làng”
không dễ xoá bỏ trong tâm thức người dân Sức mạnh cộng đồng không gắn với
yêu cầu sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật có nguy cơ xâm hại kỷ cương
phép nước khôn lường; việc cộng đồng bao che lẫn nhau làm việc sai như: buôn
lậu, trốn thuế, làm hàng giả không khó tìm ví dụ ở các làng quê ĐBSH hiện nay
Tư tưởng trọng nam, khinh nữ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” vốn không bắt
nguồn từ văn hoá Việt Nam, nhưng do ảnh hưởng lâu dài của Nho giáo đã thấm
dần vào văn hoá Việt Chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, chính sách xoá
đói, giảm nghèo, chính sách giáo dục và an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước gặp
rất nhiều khó khăn khi phải đối mặt với tàn dư tư tưởng lạc hậu này Đông con đi
cùng với thất học, đói nghèo, bệnh tật là vấn đề xã hội ai cũng biết, nhưng gốc rễ
văn hoá của vấn đề lại là tư tưởng trọng nam, khinh nữ chưa được khắc phục trong
số đông người dân nơi đây
Kinh tế thị trường, định hướng XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng khó tránh khỏi phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội Song, thay vì chấp nhận phân tầng hợp thức như một tất yếu của quá trình phát triển để vươn lên, thì một bộ phận người dân quay ra đổ lỗi chính sách thiếu công bằng, căm ghét hoặc sợ hãi thái quá người giàu có, tự làm mất đi tính tự chủ bản thân Thói ích kỷ, đố kị, hẹp hòi, tư hữu
và hám lợi có cơ hội trỗi dậy làm xói mòn tính tương thân, tương ái vốn là nét đẹp trong văn hoá làng truyền thống Việt Nam
2.1.3 Phát triển văn hóa - xã hội của các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng hiện nay - khái niệm, nội dung
2.1.3.1 Một số khái niệm chủ yếu liên quan đến phát triển văn hóa - xã hội hiện nay
* Khái niệm phát triển
Phát triển là một phạm trù triết học chỉ tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất Phát triển
là một trong những nguyên lý phổ biến của thế giới khách quan Mọi sự vật và hiện tượng trên thế giới không tồn tại ở trạng thái bất biến, mà không ngừng vận động, biến đổi trải qua các trạng thái: xuất hiện (sinh), hình thành đầy đủ (thành), biến đổi (dị) và diệt vong (diệt) Phạm trù phát triển phản ánh tính chất chung ấy của những biến đổi trong thế giới hiện thực Nhưng sự vận động, biến đổi diễn ra trong thế giới hiện thực theo chiều hướng nào? Chúng có lặp lại nguyên vẹn những trạng thái đã trải qua để trở lại điểm xuất phát? Phạm trù phát triển chỉ ra rằng:
Bất kỳ một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ có biến đổi, mà luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái đã có, bởi vì trạng thái của bất kỳ sự vật hay hệ thống nào cũng đều được quyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong mà còn bởi các mối liên hệ bên ngoài Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đâu tranh của các mặt đối lập Phương thức phát triển là chuyển hoá những thay đổi về
Trang 24lượng thành những thay đổi về chất, và ngược lại theo kiểu nhảy vọt
Chiều hướng phát triển là sự vận động xoáy trôn ốc [101, tr.424]
Phát triển là sự vận động, biến đổi của thế giới hiện thực tuân theo những
quy luật khách quan, làm cho các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực không
ngừng biến đổi về lượng và chất, trên cơ sở kế thừa những thuộc tính ưu trội vốn có
của các sự vật, hiện tượng đó
* Khái niệm phát triển văn hoá - xã hội ở Việt Nam
Khái niệm “Phát triển văn hoá - xã hội” là khái niệm phổ biến của khoa học
chính trị, trong đó chứa đựng quan điểm, chủ trương, chính sách của các đảng cầm
quyền và các nhà nước hiện đại về những vấn đề văn hoá- xã hội Phát triển văn hoá
- xã hội Việt Nam là thuật ngữ phản ánh quá trình biến đổi nền văn hoá - xã hội
nước ta thông qua sự gia tăng không ngừng khả năng bảo tồn, sáng tạo và thụ
hưởng những giá trị văn hoá - xã hội của các tầng lớp nhân dân, cũng như quá
trình đấu tranh ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của những giá trị phản văn hoá - xã
hội (ngoại lai hoặc nội sinh) tác động vào đời sống văn hoá - xã hội của nhân dân,
nhằm xây dựng con người mới và xã hội mới Việt Nam là một nước đang phát
triển, xây dựng kinh tế được xem là nhiệm vụ trung tâm, phát triển văn hoá - xã hội
là nhiệm vụ xây dựng nền tảng tinh thần xã hội và động lực cho sự phát triển nói
chung Nếu phát triển kinh tế ở nước ta là quá trình biến nền kinh tế chậm phát triển
thoát khỏi ngèo nàn, lạc hậu, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng trưởng
kinh tế bền vững gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, thì phát triển văn hoá - xã hội
ở nước ta có nội dung cốt lõi là phát triển con người xã hội chủ nghĩa có nhân cách
toàn diện
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhân cách con người
hình thành và phát triển trong điều kiện còn có sự phân công lao động hết sức sâu
sắc giữa lao động chân tay và lao động trí óc; giữa lao động thừa hành và lao động
quản lý, chỉ huy; còn có sự tách rời giữa trình độ sinh hoạt vật chất với sinh hoạt
tinh thần Trong điều kiện đó, chúng ta không thể nôn nóng, mong muốn có ngay
những con người có nhân cách toàn diện, ở một xã hội hoàn thiện, có nền văn hoá -
xã hội phát triển Theo C.Mác (trong “Hệ tư tưởng Đức”), con người phát triển toàn
diện là con người không bị lệ thuộc phiến diện vào phân công lao động xã hội,
không bị trói buộc vào một nghề, đó cũng là mục tiêu lâu dài trong phát triển kinh tế
- xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng và toàn dân chúng ta hướng tới là như vậy
Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ, để khắc phục thực trạng khác biệt nói trên, nhân dân ta kiên định phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, tái
cơ cấu nền kinh tế theo hướng tạo ra năng suất lao động cao, giá trị gia tăng lớn; tổ chức lại lao động xã hội gắn với tổ chức lại đời sống văn hoá - xã hội Con người là chủ thể phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của đất nước, tuy nhiên đối với mỗi con người cụ thể không ai lựa chọn được hoàn cảnh mình sinh ra, thành thử, hoàn cảnh kinh tế, văn hoá - xã hội đến lượt nó tác động trở lại và quy định sự phát triển của mỗi cá nhân Vì vậy, phát triển văn hoá - xã hội trong một nước, cũng như ở mỗi vùng trong một nước, có vai trò tạo ra nền tảng tinh thần và động lực xã hội cho mỗi con người phát triển Quan niệm nói trên về phát triển văn hoá - xã hội thể hiện những nội hàm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta là nhân dân Việt
Nam, bao gồm tất cả các giai cấp và tầng lớp nhân dân, từ miền ngược đến miền xuôi, từ đồng bằng, đô thị đến trung du và miền núi; bao gồm tất cả các dân tộc và tôn giáo, các cộng đồng dân cư trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, trong đó liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là nền tảng của xã hội Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa không nói tới vai trò phát triển văn hoá - xã hội của các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các cộng đồng người nước ngoài đang làm ăn và sinh sống ở Việt Nam
Thứ hai, đối tượng phát triển văn hoá - xã hội mà nhân dân ta đang sáng tạo
và thụ hưởng bao gồm: các giá trị văn hoá - xã hội vật thể và phi vật thể; các thiết chế văn hoá - xã hội; các cơ cấu văn hoá - xã hội; các thể chế văn hoá - xã hội; đời sống văn hoá - xã hội đang diễn ra hàng ngày của các cộng đồng dân cư; cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống các tàn tích văn hoá - xã cũ, hội lạc hậu, cũng như đấu tranh chống các giá trị phản văn hoá ngoại lai, nội sinh đang hàng ngày tác động vào đời sống xã hội
Thứ ba, mục tiêu của phát triển văn hoá - xã hội là trên cơ sở kế thừa những
giá trị văn hoá - xã hội truyền thống, bản sắc, không ngừng học hỏi các giá trị văn
Trang 25hoá - xã hội tiến bộ của nhân loại để sáng tạo và thụ hưởng những giá trị văn hoá -
xã hội mới, nhằm: “Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn
diện, hướng đến chân, thiện, mỹ thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ
và khoa học” [22, tr.46-47] tương xứng với tầm vóc của đất nước trên con đường
phát triển
Thứ tư, nội dung phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta rất rộng, gồm nhiều
lĩnh vực, nhiều nhiệm vụ, liên quan đến nhiều tầng lớp xã hội khác nhau Chỉ riêng
trong lĩnh vực phát triển văn hoá, tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung
ương khoá VIII, Đảng ta chỉ rõ mười nội dung: một là, xây dựng con người Việt
Nam thời kỳ mới với những đức tính tiêu biểu; hai là, xây dựng môi trường văn
hoá; ba là, phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bốn là, bảo tồn và phát huy các
di sản văn hoá; năm là, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công
nghệ; sáu là, phát triển và quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; bảy là, bảo tồn
và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số; tám là, xây dựng chính sách văn hoá với
tôn giáo; chín là, mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá; mười là, xây dựng và hoàn
thiện thể chế văn hoá
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trong Báo cáo chính trị trình Đại
hội, Đảng ta trình bày quan điểm, nhiệm vụ về chăm lo, phát triển văn hoá với bốn
nội dung chủ yếu: một là, củng cố và tiếp tục xây dựng mội trường văn hoá lành
mạnh, phong phú, đa dạng; hai là, phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật, bảo tồn,
phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền thống, cách mạng; ba là, phát triển hệ
thống thông tin đại chúng; bốn là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về
văn hoá Đáng chú ý là, đến Đại hội này, quan điểm về “chăm lo phát triển văn hoá”
Đảng ta không đưa vào đó nội dung: phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa
học - công nghệ, như quan điểm của Hội lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương
khoá VIII (tháng 7 năm 1998)
Tiếp đến Hội nghị lần thứ IX, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, sau khi
tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về “xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Đảng ta ban
hành Nghị quyết “về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt nam đáp ứng
yêu cầu bền vững đất nước”, trong đó xác định 6 nội dung về phát triển văn hoá giai
đoạn hiện nay gồm: một là, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; hai
là, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh; ba là, xây dựng văn hoá trong chính trị
và kinh tế; bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hoá; năm là, phát triển công nghiệp văn hoá, đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hoá; sáu
là, chủ động hội nhập quốc tế về văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
Như vậy có thể thấy, để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển văn hoá của đất nước, trong quan niệm về “phát triển văn hoá” theo tinh thần của Đại hội XI, tuy Đảng ta không đưa nội dung “phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ” vào mục VI của Văn kiện bàn về “chăm lo phát triển văn hoá” [21, tr.223], nhưng không có nghĩa là Đảng lãnh đạo chăm lo phát triển văn hoá không
có nội dung “phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ” Bởi, cũng ở Văn kiện này, khi trình bày Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, ở mục III của Cương lĩnh, khi bàn “về văn hoá, xã hội” [21, tr.104] Đảng ta có đề cập nội dung phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ trong đó
Trong lĩnh vực phát triển xã hội, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI xác định nội dung phát triển xã hội gồm: một là, tập trung giải quyết tốt chính
sách lao động, việc làm và thu nhập; hai là, bảo đảm an sinh xã hội; ba là, nâng cao
chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình,
bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em; bốn là, đấu tranh phòng, chống có hiệu
quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông Chúng tôi cho rằng quan niệm như vậy về phát triển xã hội là thoả đáng, đã thể hiện được những nội dung quan trọng nhất của lĩnh vực này
Khái quát lại, khi bàn về khái niệm phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta hiện nay, trên cơ sở quan điểm của Đảng và quá trình nghiên cứu, tiếp thu ý kiến các nhà khoa học đi trước về vấn đề này, chúng tôi xin trình bày tóm tắt những nội dung chủ
yếu của khái niệm phát triển văn hoá - xã hội ở nước ta hiện nay gồm: một là, phát
triển con người Việt Nam thời kỳ mới với những phẩm chất tiêu biểu về tư tưởng,
đạo đức, lối sống và khoẻ mạnh về thể chất; hai là, xây dựng môi trường văn hoá -
xã hội lành mạnh trên các lĩnh vực; ba là, phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật;
bốn là, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc (bao gồm bảo tồn di sản văn
Trang 26hoá các dân tộc ít người); năm là, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa
học - công nghệ; sáu là, phát triển và quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; bảy
là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách văn hoá trên các lĩnh vực đời sống xã
hội (bao gồm chính sách văn hoá đối với các tôn giáo, chính sách văn hoá trong
kinh tế, chính sách kinh tế trong văn hoá); tám là, xây dựng văn hoá trong Đảng,
trong cơ quan Nhà nước và trong hoạt động kinh tế; chín là, giải quyết tốt chính
sách lao động, việc làm và thu nhập; mười là, bảo đảm an sinh xã hội; mười một là,
nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hoá
gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em; mười hai là, đấu tranh phòng,
chống có hiệu quả với các tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông
2.1.3.2 Nội dung phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh đồng bằng sông
Hồng nước ta hiện nay
Các tỉnh đồng bằng sông Hồng có vinh dự là cái nôi văn hoá của dân tộc
Việt Nam Để hiểu sâu sắc cội nguồn văn hoá - xã hội của con người Việt Nam hiện
đại, không thể không tìm về và nghiên cứu cái nôi văn hoá của người Việt ở các
tỉnh ĐBSH hiện nay Có thể nói mà không phóng đại rằng, đến với các tỉnh đồng
bằng sông Hồng, người Việt Nam ở đâu trên đất nước này đều cảm thấy có hình
bóng văn hoá của mình nơi đây Vì vậy, phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh
ĐBSH không chỉ phát triển cho riêng các tỉnh ĐBSH, mà còn có trách nhiệm lưu
giữ, tiếp nối và phát triển những giá trị văn hoá - xã hội truyền thống tiêu biểu của
người Việt Nam hôm nay và mai sau Để tiếp tục bảo tồn, gìn giữ, phát triển sáng
tạo những giá trị văn hoá truyền thống, cũng như ra sức học tập, nghiên cứu sáng
tạo những giá trị văn hoá - xã hội mới phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội hiện
đại, nội dung phát triển văn hoá - xã hội của các tỉnh ĐBSH hiện nay vừa bao gồm
cái chung, vừa có cái riêng của các tỉnh ĐBSH sau đây:
Thứ nhất, phát triển con người và xây dựng môi trường văn hoá - xã hội
trong các lĩnh vực hoạt động ở các tỉnh ĐBSH thời kỳ mới với những phẩm chất
tiêu biểu về trí tuệ, tư tưởng, đạo đức, lối sống; có số lượng và cơ cấu hợp lý, lành
mạnh về môi sinh
Phát triển con người với những phẩm chất tiêu biểu về trí tuệ, tư tưởng, đạo
đức, lối sống vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội nói chung
Các tỉnh ĐBSH có lợi thế của miền châu thổ bao xung quanh Thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng, nhân dân lại có truyền thống văn hiến lâu đời, vì vậy, trên nền tảng dân trí đã khá cao, các đảng bộ và chính quyền địa phương cần tiếp tục đầu tư phát triển giáo dục nhằm nâng cao trình độ mọi mặt cho người dân; tuyên truyền, vận động đến từng người dân thấm nhuần quan điểm học tập suốt đời, học
để sáng tạo cuộc sống mới
Về mặt đạo đức cá nhân, phải xác định giá trị cốt lõi và nền tảng của đạo đức của mỗi người dân là lòng trung thực với mình, với mọi người và xã hội Về mặt tư tưởng, phải làm cho những giá trị tư tưởng phổ quát như lòng yêu nước, yêu quê hương, gia đình được hoà quyện với tình cảm yêu kính lãnh tụ, yêu chế độ xã hội mà toàn Đảng và toàn dân đang ra sức phấn đấu xây dựng; ngăn chặn lối sống thực thực dụng, vọng ngoại, biến thái Về số lượng, mật độ và cơ cấu dân số các tỉnh ĐBSH hiện nay cần được tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh để có tháp dân số lý tưởng Về mặt sinh học, các cơ quan có trách nhiệm phải đặt vấn đề đầu tư nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn nhằm góp phần cải tạo thể chất, vóc, dáng người dân để sớm thoát khỏi tình trạng thấp, bé và yếu như hiện nay
Xây dựng môi trường văn hoá - xã hội lành mạnh là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu của phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh ĐBSH hiện nay
Về mặt khoa học, xây dựng môi trường văn hoá - xã hội là một khái niệm rộng, phản ánh nhiều môi trường hoạt khác nhau của con người, tuy nhiên cần tập trung nghiên cứu phát triển một số môi trường văn hoá - xã hội chủ yếu sau đây: một là, môi trường văn hoá - xã hội ở các khu dân cư nông thôn và thành thị; hai là, môi trường văn hoá - xã hội trong công sở; ba là, môi trường văn hoá - xã hội trong sản xuất kinh doanh; bốn là, môi trường văn hoá - xã hội trong các trường học và đơn vị
sự nghiệp; năm là, môi trường tự nhiên dưới tác động của con người Đây là những môi trường văn hoá - xã hội chủ yếu nhất, ở đó thường xuyên diễn ra hoạt động của người dân và các quan chức Nhà nước Trong số những môi trường văn hoá - xã hội nói trên, môi trường văn hoá - xã hội ở các khu dân cư có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi đây là môi trường hoạt động có tính xã hội và tính cộng đồng ổn định và mạnh mẽ nhất; bất kỳ là ai cũng phải sống trong môi trường văn hoá - xã hội đó
Trang 27Thứ hai, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ
Khi bàn về phát triển giáo dục - đào tạo ở các tỉnh ĐBSH, cần chú trọng xem
xét những vấn đề chủ yếu như: phát triển quy mô giáo dục đào tạo và mạng lưới cơ
sở giáo dục - đào tạo; chất lượng giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội đến
mức nào; các nguồn lực đầu tư và xã hội hoá giáo dục - đào tạo; sự công bằng, bình
đẳng trong giáo dục - đào tạo; công tác quản lý giáo dục - đào tạo Về phát triển
khoa học công nghệ, cần chú trọng đầu tư, nghiên cứu trên các mặt: một là, KHCN
cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chủ chương, phương hướng nhiệm vụ
công tác của đảng bộ và chính quyền tỉnh; hai là, đổi mới và phát triển KHCN trên
các mặt: nâng cao trình độ công nghệ, chuyển giao công nghệ, phát triển công nghệ
cao; ba là, đổi mới cơ chế và chính sách KHCN với các nội dung như: đổi mới tổ
chức và cơ chế quản lý, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, phát triển thị
trường công nghệ; bốn là, tham gia hợp tác và hội nhập quốc tế về KHCN
Thứ ba, phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật ở các địa phương
Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực hoạt động rất phong phú, có nhiều nội dung
cần đầu tư nghiên cứu phát triển Đối với các tỉnh ĐBSH, phát triển văn học nghệ
thuật cần chú trọng những nội dung sau đây: một là, khuyến khích sáng tác, biểu
diễn, thụ hưởng và truyền bá các giá trị văn học, nghệ thuật; hai là, phát triển lý
luận, phê bình văn học, nghệ thuật; ba là, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hoạt
động trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật; bốn là, tăng cường quản lý nhà nước đối với
các hoạt động văn học nghệ thuật
Thứ tư, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc và di sản văn hoá
các dân tộc ít người
Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thông là cơ sở và điều kiện
thiết yếu để sáng tạo những giá trị văn hoá - xã hội mới đáp ứng yêu cầu xã hội hiện
đại Đối với các tỉnh ĐBSH hiện nay, việc đầu tư nghiên cứu để bảo tồn và phát huy
các di sản văn hoá dân tộc cần tập trung vào những nội dung sau: một là, gắn kết
chặt chẽ nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá với phát triển du lịch
và hoạt động thông tin tuyên truyền nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hoá
trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài; hai là, thực hiện các
chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục đào tạo, bảo tồn, phát huy giá
trị văn hoá các dân tộc thiểu số trên địa bàn; ba là, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ làm công tác văn hoá - xã hội có chuyên môn sâu về các giá trị văn hoá dân tộc
Thứ năm, phát triển và quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng ở các tỉnh ĐBSH
Hệ thống thông tin đại chúng có vai trò to lớn đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đối với phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH nói riêng Hệ thống thông tin đại chúng vừa là một bộ phận cấu thành của văn hoá - xã hội, nói lên tiếng nói của lĩnh vực văn hoá - xã hội, vừa là sản phẩm và thành quả phát triển của hoạt động văn hoá - xã hội Nghiên cứu về phát triển và quản lý hệ
thống thông tin đại chúng cần đi sâu vào các nội dung: một là, nâng cao tính tư
tưởng của các cơ quan thông tin đại chúng và chất lượng các ấn phẩm thông tin
đại chúng; hai là, thực hiện tốt các chức năng của thông tin đại chúng như: giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội; ba là, khắc phục xu hướng thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích hoạt động của báo chí, xuất bản; bốn là, quy hoạch mạng
lưới, kiện toàn tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và đầu tư nguồn lực hợp lý để
phát triển hệ thống thông tin đại chúng; năm là, chủ động hợp tác nghiên cứu khoa
học, nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý và điều hành hệ thống thông tin đại chúng
Thứ sáu, xây dựng chủ trương, biện pháp nhằm thực hiện tốt các chính sách văn hoá - xã hội của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt
là chính sách văn hoá - xã hội đối với các tôn giáo
Ở các tỉnh ĐBSH hiện nay, việc đầu tư, nghiên cứu để thực hiện tốt các chính sách văn hoá - xã hội của Đảng và Nhà nước trên địa bàn cần chú trọng toàn diện các nội dung: một là, thực hiện chính sách văn hoá - xã hội đối với các tôn giáo; hai là, thực hiện chính sách văn hoá - xã hội trong kinh tế; ba là thực hiện chính sách kinh tế trong văn hoá - xã hội Tuy nhiên, ở cấp độ khu vực và do tính chất quan trọng của các chính sách văn hoá - xã hội của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo, nên chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu nội dung này
Về thực hiện các chính sách văn hoá - xã hội đối với tôn giáo, cần chú
trọng những vấn đề sau: một là, thống nhất nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất, vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội; hai là, bảo tồn,
Trang 28tôn tạo các cơ sở thờ tự của tôn giáo; ba là, kết hợp sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo
với các lễ hội dân gian và văn hoá tâm linh lành mạnh; bốn là, quan tâm đào tạo,
bồi dưỡng những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp; năm là, tạo điều kiện
để các sản phẩm, ấn phẩm phục vụ hoạt động tôn giáo được trao đổi, mua thuận
lợi bán trên thị trường
Thứ bảy, xây dựng văn hoá trong các cơ quan Đảng và Nhà nước ở
địa phương
Xây dựng văn hoá trong hoạt động của Đảng và các cơ quan Nhà nước có
nội dung rất rộng, bao gồm: môi trường văn hoá, năng lực tư duy, trí tuệ, mục tiêu
lý tưởng của toàn Đảng và của từng người đảng viên, hệ thống tổ chức và phong
cách làm việc, hệ thống văn bản phục vụ công tác lãnh đạo của Đảng, hoạt động
quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, trong phạm vi hoạt động của các đảng bộ tỉnh
thuộc ĐBSH, nội dung xây dựng văn hoá chỉ tập trung nghiên cứu: một là, xây
dựng môi trường văn hoá tiêu biểu trong hoạt động của Đảng bộ và cơ quan Nhà
nước; hai là, bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng, trau dồi đạo đức, phong cách của đội
ngũ đảng viên và công chức, viên chức hoạt động trong các cơ quan của Đảng và
Nhà nước ở địa phương
Thứ tám, tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hoá giữa các tỉnh
với các đối tác nước ngoài
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và hợp tác toàn diện về kinh tế, văn hoá -
xã hội của nước ta với các nước trên thế giới hiện nay, xu thế mở rộng và tăng
cường quan hệ hợp tác quốc tế về văn hoá - xã hội giữa các tỉnh ĐBSH với các địa
phương tương ứng và với các tổ chức quốc tế ở nước ngoài là một tất yếu, bảo đảm
cho các quan hệ chính trị, kinh tế văn hoá - xã hội các tỉnh tiếp tục phát triển mạnh
mẽ hơn nữa Thông qua hợp tác văn hoá - xã hội, nhân dân các tỉnh ĐBSH đến với
các quốc gia khác trên thế giới để quảng bá đất nước, con người Việt Nam bằng các
giá trị văn hoá, và cũng nhờ đó mà tăng cường hợp tác kinh tế, chính trị Thông qua
hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hoạt động trên lĩnh
vực văn hoá - xã hội nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ
cán bộ chuyên trách, các nhà lãnh đạo, quản lý Tiến hành trao đổi, giao lưu quảng
bá các tác phẩm nghệ thuật ra nước ngoài, đồng thời tiếp thu các thu các sản phẩm
ưu tú của nước ngoài để học hỏi, đồng thời qua đó gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam
Thứ chín, thực hiện tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập
Để thực hiện tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập ở các tỉnh ĐBSH, việc đầu tư, nghiên cứu của các địa phương phải thực hiện các nội dung: một là, đầu tư để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tạo nhiều việc làm cho người lao động, nhất là nông dân, có ưu đãi về thuế, đất đai cho đào tạo nghề; hai là, khắc phục bất hợp lý về tiền công, tiền lương, trợ cấp xã hội phù hợp điều kiện kinh tế của địa phương, gắn tiền lương với hiệu quả sản xuất, kinh doanh; ba là, chú trọng bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định trong các đơn vị có sử dụng người lao động
Thứ mười, bảo đảm an sinh xã hội cho các thành viên trong cộng đồng
An sinh xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa là một vấn đề mới và lớn ở nước ta nói chung, ở các tỉnh ĐBSH nói riêng Để bảo đảm đảm an sinh xã hội cho các thành viên trong cộng đồng ở địa
phương cần đầu tư, nghiên cứu những nội dung sau: một là, sửa đổi, hoàn thiện hệ
thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội, nghiên cứu xã hội hoá dịch vụ bảo hiểm xã hội, chuyển hình thức trợ giúp, cứu trợ xã hội sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng; hai là, thực hiện
có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở những vùng còn nhiều khó khăn và các đối tượng đặc biệt, đẩy mạnh giáo dục dạy nghề để giaỉ quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo; ba là, huy động nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công, giải quyết những tồn đọng về chính sách người có công, đặc biệt là người tham gia hoạt động
bí mật, lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong trong các thời kỳ cách mạng và kháng chiến
Thứ mười một, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em
Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Để thực hiện tốt vấn đề này
Trang 29cần tập trung nghiên cứu giải quyết tốt những nội dung sau: một là, đầu tư công tác
ý tế dự phòng và chăm sóc sức khoẻ nhân dân theo hướng: hoàn thiện mạng lưới y
tế cơ sở, nâng cao năng lực các bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh, tăng đầu tư từ
ngân sách và đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt đông y tế, làm tốt công tác phòng chống
dịch bệnh, an toàn thực phẩm; hai là, thực hiện nghiêm chính sách pháp luật về dân
số, duy trì mức sinh hợp lý, quy mô gia đình ít con, bảo đảm các quyền cơ bản của
trẻ em, thực hiện nghiêm chiến lược quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ
nữ., ngăn bạo lực trong gia đình
Thứ mười hai, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với các tệ nạn xã hội và
tai nạn giao thông
Tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông là một trong những vấn đề gây nhức nhối
dai dẳng ở các tỉnh ĐBSH trong nhiều năm gần đây Kinh tế phát triển chưa làm
cho tệ nạn xã hội thuyên giảm mà ngược lại, có phần gia tăng cùng với những bước
tiến của kinh tế Để phòng chống có hiệu quả với các tệ nạn xã hội và tai nạn giao
thông, cần tập trung nghiên cứu và tìm giải pháp tháo gỡ những nội dung: một là,
đẩy mạnh giáo dục cộng đồng, coi trọng và đề cao giáo dục gia đình đối với thanh,
thiếu niên về tác hại của ma tuý, mại dâm, cờ bạc và các tệ nạn khác; hai là, huy
động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành vào cuộc làm giảm
thiểu tai nạn giao thông theo hướng nâng cao hiểu biết pháp luật, xử lý nghiêm các
vi phạm pháp luật giao thông, đề cao trách nhiệm của các lực lượng chuyên trách,
phát triển hạ tầng kỹ thuật và năng lực tổ chức giao thông
2.1.4 Vai trò phát triển văn hóa - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông
Hồng trong giai đoạn hiện nay
Phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH có vai trò hết sức quan trọng đối
với phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh trật tự ở địa phương
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh
ĐBSH không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với khu vực ĐBSH, mà còn quan trọng
đối với cả nước, vì các tỉnh ĐBSH là cái nôi văn hoá của dân tộc từ ngàn xưa Tầm
quan trọng to lớn của phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH có thể khái quát
trên những nội dung chính sau đây:
Một là, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vì vậy, phát triển văn hoá -
xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước nói chung, phát triển kinh tế nói riêng Phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH là trực tiếp bồi đắp, củng cố nền tảng tinh thần xã hội trong vùng, tạo động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng - an ninh ở địa phương Sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm giành độc lập tư do cho dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội chính là nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tạo lập một xã hội phát triển toàn diện, lành mạnh, nhân văn
Thực tiễn những năm đổi mới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta cho thấy, kinh tế không thể phát triển bền vững, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn
xã hội không thể đảm bảo nếu văn hoá - xã hội chậm phát triển Nhờ những thành tựu trong phát triển con người, trong giáo dục - đào tạo và y tế, trong chăm lo chính sách
an sinh xã hội… ở các tỉnh ĐBSH trong những năm vừa qua nên đã tạo ra nguồn lực lớn về con người để kinh tế có điều kiện phát triển mạnh Hơn nữa, sự phát triển kinh
tế đem lại những lợi ích vật chất rất khác nhau cho mỗi cá nhân, nhóm và giai tầng xã hội, nhưng phát triển văn hoá - xã hội đã tạo ra môi trường sống tốt đẹp cho tất cả mọi người, để ai cũng được hưởng thụ thành quả của sự phát triển
Hai là, phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH không chỉ tạo ra cuộc
sống xã hội tốt đẹp và động lực phát triển cho nhân dân các tỉnh ĐBSH, mà còn là trách nhiệm với cả nước trong việc gìn giữ tôn tạo, phát triển những giá trị văn hoá truyền thống, những di sản thiên nhiên tươi đẹp cho hôm nay và mai sau Các tỉnh ĐBSH đang lưu giữ, khai thác, tôn tạo và phát triển kho tàng các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể hết sức đồ sộ của đất nước, nếu hôm nay chúng ta không nhận thức đầy đủ về những giá trị đó, để cho con người và thiên nhiên tàn phá, thì sẽ không bao giờ có thể tìm lại được nữa Những cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp bị san lấp, đập phá và bê tông hoá vì lợi ích kinh tế trước mắt sẽ làm cho những bãi biển đẹp nên thơ, những trái núi hình thù kỳ dị chỉ còn trong ký ức, sách vở và lời ca mà không sao có thể phục dựng lại được
Mặt khác, là nôi văn hoá truyền thống của dân tộc, các tỉnh ĐBSH có trách nhiệm giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá truyền thống như người giữ "lửa
Trang 30thiêng" cho sự trường tồn của dân tộc, cho ý chí bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất
nước Gìn giữ, tôn tạo, bảo tồn, phát triển sáng tạo các giá trị văn hoá - xã hội tốt
đẹp, nhưng không nệ cổ, bảo thủ là yêu cầu của thời đại mới, đòi hỏi các đảng bộ và
nhân dân các tỉnh ĐBSH phải giải quyết thích đáng
Ba là, phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH có vai trò làm gương, làm
mẫu để các tỉnh trong cả nước tham khảo, vận dụng kinh nghiệm Thực ra không
một tỉnh nào ở ĐBSH đặt ra mục tiêu và nhiệm vụ gương mẫu về sự phát triển như
vậy Song, do vị trí địa lý tự nhiên, do tiềm năng, thế mạnh của các tỉnh nơi đây,
muốn hay không muốn, thì nhân dân cả nước vẫn phải đến với các tỉnh ĐBSH
Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước đòi hỏi các tỉnh ĐBSH phải làm tốt vai trò
gương mẫu phát triển về kinh tế, văn hoá - xã hội cho các tỉnh trong cả nước
Bốn là, phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH góp phần tạo nên “áo
giáp” quốc phòng - an ninh về tư tưởng, văn hoá - xã hội cho Hà Nội, Hải Phòng
Các tỉnh ĐBSH có vị trí cực kỳ quan trọng về quốc phòng - an ninh của đất nước
Nơi đây có địa thế hiểm yếu về địa lý tự nhiên để phòng thủ và tiến công các loại kẻ
thù xâm lược Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, kẻ thù ra sức tấn công Đảng, Nhà
nước và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên mặt trận tư tưởng, văn hoá - xã hội
bằng các thủ đoạn diễn biến hoà bình, bạo loạn, lật đổ khi có thời cơ Vì vậy, phát
triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH sẽ tạo ra bức tường thành vững chắc về văn
hoá - tư tưởng để bảo vệ Thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng
2.2 CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
VĂN HOÁ - XÃ HỘI HIỆN NAY - KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC
* Chức năng của Tỉnh ủy
Là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai nhiệm kỳ đại hội, tỉnh uỷ
thực hiện những chức năng sau: Thứ nhất, tỉnh uỷ lãnh đạo, chỉ đạo mọi hoạt động
của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương theo quy định của Điều lệ
Đảng và pháp luật của Nhà nước Chức năng lãnh đạo đó thể hiện ở việc: triển
khai và cụ thể hóa đường lối, nghị quyết, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và nghị quyết của đại hội đảng bộ tỉnh thành nghị quyết của Tỉnh
uỷ, xác định nhiệm vụ chính trị của địa phương một cách đúng đắn, sáng tạo Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng thuộc quyền; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; thường xuyên chăm lo củng cố và xây dựng
hệ thống chính trị vững mạnh, củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa đảng bộ với nhân dân Điều 19, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ XI) quy định: “Cấp uỷ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là tỉnh uỷ, thành uỷ)… lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên” [20, tr.33]
Trong quá trình thực hiện chức năng lãnh đạo của mình, tỉnh uỷ không chỉ ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quyết định lãnh đạo, mà còn tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên và các tổ chức thuộc hệ thống chính trị trong việc thực hiện nghị quyết Thực ra việc tỉnh uỷ ban hành chỉ thị, nghị quyết để lãnh đạo và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, cũng như kiểm tra, giám sát thực hiện là một thể thống nhất của sự lãnh đạo, là hai khâu của một quy trình lãnh đạo thống nhất Đảng ta đã khẳng định: lãnh đạo mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo: “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng” [20, tr.50] Vì vậy, lãnh đạo và kiểm tra, giám sát việc thực hiện sự lãnh đạo là hai mặt thống nhất trong hoạt động của mỗi cấp ủy đảng Nội dung kiểm tra, giám sát của cấp ủy đảng chủ yếu
là việc thực hiện các nghị quyết, chủ trương, đường lối, Điều lệ Đảng, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Thông qua kiểm tra, giám sát cấp ủy Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo của mình
Thứ hai, tỉnh uỷ chăm lo xây dựng nội bộ đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức; xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên Tỉnh uỷ tích cực tham gia xây dựng và cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; chuẩn
Trang 31bị nội dung và kế hoạch tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, từ cấp cơ sở cho đến cấp
tỉnh theo quy định của Điều lệ Đảng và sự chỉ đạo của Trung ương Xây dựng và
thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
toàn bộ hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh; bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong
cấp ủy đảng, trước hết là trong ban thường vụ và thường trực cấp ủy
* Nhiệm vụ của tỉnh ủy
Căn cứ Điều lệ Đảng và quy chế làm việc của tỉnh uỷ, tỉnh ủy có những
nhiệm vụ chung sau đây: Một là, quán triệt đầy đủ và cụ thế hóa các Chỉ thị, Nghị
quyết của Trung ương và nghị quyết của đại hội đảng bộ tỉnh để xác định nhiệm vụ
cụ thể của đảng bộ tỉnh trong từng thời gian nhất định Lãnh đạo và chịu trách
nhiệm trước đảng bộ tỉnh và Trung ương trong việc lãnh đạo tổ chức thực hiện các
Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương trên địa bàn tỉnh đạt kết quả cao nhất Lãnh đạo
xây dựng đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức Hai
là, lãnh đạo xây dựng chính quyền và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị
vững mạnh, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được quy định; chuẩn bị kế hoạch
tiến hành đại hội đảng bộ theo quy định của Điều lệ Đảng và sự chỉ đạo của cấp
trên Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và khen thưởng, kỷ luật theo quy định
của Điều lệ Đảng Ba là, lãnh đạo các mặt công tác của đảng bộ tỉnh giữa hai nhiệm
kỳ đại hội, trong đó lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của địa phương là
một trong những nhiệm vụ trung tâm của tỉnh uỷ Bốn là, thường xuyên chăm lo
xây dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng tổ
chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng
viên Năm là, lãnh đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị mà đại
hội đảng bộ tỉnh đề ra và nhiệm vụ của cấp trên giao
2.2.1.2 Đặc điểm các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng hiện nay
Một là, đặc điểm về tổ chức và nhân sự
Căn cứ theo quy định của Điều lệ Đảng, các văn bản hướng dẫn của các
Ban đảng Trung ương, ban chấp hành đảng bộ tỉnh (gọi tắt là tỉnh ủy), là cơ quan
lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai nhiệm kỳ đại hội, do đại hội đại biểu đảng bộ
tỉnh bầu ra với số lượng uỷ viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh tương ứng với số
lượng đảng viên của đảng bộ, về dân số và vị trí tầm quan trọng của tỉnh Nhiệm
kỳ đại hội đảng bộ tỉnh khoá 2010 - 2015, chín đảng bộ tỉnh bầu được 484 tỉnh uỷ viên, trong đó đại hội Đảng bộ các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định bầu được số lượng tỉnh uỷ viên cao nhất là 55 đồng chí Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Hà Nam bầu được số lượng tỉnh uỷ viên thấp nhất là 51 đồng chí Số tỉnh uỷ viên là người địa phương chiếm gần 98% (những người sinh ra và lớn lên
Về trình độ chuyên môn: 99,6% các đồng chí ủy viên ban chấp hành đảng
bộ tỉnh có trình độ đại học trở lên, đạt chuẩn về trình độ cán bộ theo quy định Trong đó có 166 đồng chí đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, chiếm 34,3% so với tổng số
Về trình độ chính trị: các ban chấp hành đảng bộ tỉnh có 481 đồng chí đã tốt nghiệp chương trình cử nhân chính trị hoặc chương trình cao cấp lý luận chính trị, chiếm 99,3%, đặc điểm này cho thấy, trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị của đội ngũ tỉnh uỷ viên các tỉnh ĐBSH là rất cao, tuy vậy, trong số đó vẫn còn có một số ít tỉnh uỷ viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng theo quy định Về giới tính, số tỉnh uỷ uỷ viên là nữ ở các tỉnh uỷ ĐBSH chỉ có 56 đ/c, chiếm 13% trên tổng số; Tỉnh uỷ Hải Dương có số nữ tỉnh uỷ viên cao nhất là 9 đồng chí, chiếm 19,5% trên tổng số
Về độ tuổi, các đồng chí tỉnh uỷ viên có tuổi đời từ 55 đến 60 là 265 đ/c; từ
45 đến 54 tuổi là 188 đ/c; từ 35 đến 44 tuổi chỉ có 21 đ/c Tính đến tháng 7 năm
2014, những tỉnh uỷ viên có tuổi đời từ 55 tuổi trở lên chiếm 54,7% so với tổng số Đặc điểm này cho thấy, một số lượng lớn các đồng chí tỉnh uỷ viên hết tuổi hoặc gần hết tuổi để được các đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 bầu vào ban chấp hành đảng bộ khoá mới (Xem phụ lục số 8, 9)
Trang 32Hai là, đặc điểm về nhiệm vụ
Ban chấp hành đảng bộ tỉnh là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai
nhiệm kỳ đại hội đảng bộ Các đồng chí ủy viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh được
giới thiệu và lựa chọn kỹ từ các tổ chức đảng trong toàn đảng bộ theo đúng quy
hoạch, quy trình, đủ tiêu chuẩn và được bầu một cách công khai, dân chủ theo quy
định của Điều lệ Đảng Tỉnh uỷ là hạt nhân lãnh đạo chính trị của đảng bộ, đại biểu
cho tinh thần đoàn kết thống nhất, cho trí tuệ, năng lực và phẩm chất đạo đức của
toàn đảng bộ Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của các tỉnh uỷ nói chung, gắn thực
tiễn nhiệm vụ chính trị của địa phương, đặc điểm nhiệm vụ của các tỉnh uỷ các tỉnh
đồng bằng sông Hồng hiện nay thể hiện trên những điểm sau đây:
Thứ nhất, lãnh đạo chính quyền và nhân dân địa phương quán triệt và thực
hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, các
Nghị quyết của Trung ương và nghị quyết của đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh nhiệm
kỳ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội,
quốc phòng, an ninh, trật tự, bảo đảm cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng trở thành
những tỉnh tiêu biểu về phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng - an ninh
vững mạnh
Thứ hai, lãnh đạo chính quyền và nhân dân địa phương các tỉnh đồng bằng
sông Hồng xây dựng mỗi tỉnh thành một đơn vị chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội
vệ tinh, năng động của Thủ đô Hà Nội; xây dựng mỗi tỉnh thành một khu vực
phòng thủ vững chắc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa Thực hiện sự kết nối chặt chẽ, toàn diện giữa các tỉnh với Trung
ương, giữa các tỉnh trong vùng với nhau; giữa các tỉnh trong vùng với cả nước và
quốc tế
Thứ ba, lãnh đạo chính quyền và nhân dân địa phương các tỉnh đồng bằng
sông Hồng phát huy truyền thống cách mạng, truyền thống văn hoá và lịch sử vẻ
vang, xây dựng các tỉnh đồng bằng sông Hồng giữ vững vai trò “cái nôi” văn hoá
dân tộc của nước Việt từ ngàn xưa Văn minh công nghiệp sẽ phát triển mạnh mẽ ở
vùng đất này, song để văn minh công nghiệp không lấn át, tàn phá nền văn hoá dân
tộc vô cùng phong phú ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, thì sự lãnh đạo của các
tỉnh uỷ trong việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị của nó trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là một nhiệm vụ chính trị hết sức quan trọng và cấp thiết
2.2.2 Khái niệm các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội giai đoạn hiện nay
* Khái niệm lãnh đạo
Hiện nay có khá nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau về thuật ngữ “lãnh đạo” Khoa học quản lý (trong lĩnh vực sản xuất) quan niệm hoạt động lãnh đạo như
là một bộ phận của hoạt động quản lý, là phương tiện để thực hiện quản lý có hiệu quả Những nghiên cứu này cho rằng, nhà quản lý muốn quản lý tốt các hoạt động sản xuất, phải có kỹ năng lãnh đạo tốt Theo đó, nhà quản lý phải có khả năng thuyết phục, lôi cuốn, động viên tư tưởng và tình cảm của người lao động cống hiến cho doanh nghiệp Nhà quản lý phải thể hiện một tấm gương tốt trước những người lao động, nếu họ muốn người lao động noi theo
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (Nguyễn Hoàng Phê chủ biên) xuất bản năm 1995, giải thích: “lãnh đạo là đề ra chủ trương đường lối và tổ chức động viên thực hiện” [52, tr.524] Theo cách giải thích về khái niệm “lãnh đạo” nói trên thì lãnh đạo là một quá trình gồm hai khâu chính: Một là, xác định quan điểm, chủ trương, đường lối, nghĩa là xác định các nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu và mục tiêu của việc cần làm trong một thời kỳ hay một giai đoạn cụ thể; xác định các nguyên tắc, biện pháp tiến hành để định hướng đối tượng lãnh đạo hành động theo quan điểm, đường lối đã xác định Hai là, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối đã xác định Đây là khâu có tính quyết định hiệu lực và hiệu quả của sự lãnh đạo nhằm thực hiện mục tiêu đề ra
Trong thực tế hoạt động cách mạng, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã luận bàn khá nhiều về khái niệm lãnh đạo Trong cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành hẳn một chương để bàn về cách lãnh đạo Theo Người, lãnh đạo đúng là một quá trình công tác gồm các khâu gắn bó chặt chẽ với nhau, người viết: “Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1 Quyết định mọi vấn đề một cách đúng ;
2 Tổ chức thực hiện cho đúng ; Tổ chức kiểm soát ” [47, tr.285] Với tư là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo mọi mặt hoạt động của Nhà nước và xã hội Vì
Trang 33vậy, sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền có sự khác biệt với hoạt động quản lý của
Nhà nước, đối tượng lãnh đạo của Đảng
V.I.Lênin, khi phê phán cách lãnh đạo ôm đồm, thiếu khoa học của một
số cán bộ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nga, đã nêu rõ cần phải phân định
giữa lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ mà lãnh đạo đề ra, Người viết: “Không
nên tự mình làm tất cả, làm quá sức mà vẫn không kịp, làm một lúc hàng hai
chục việc mà không việc nào ra trò”, bởi vì “Những người cộng sản ở nước ta
chưa hiểu rõ nhiệm vụ lãnh đạo của mình là như thế nào” [39, tr.293] Người
cũng rất đúng khi chỉ ra rằng: phải phân định rõ rằng giữa nhiệm vụ của đảng,
nhiệm vụ của người lãnh đạo, với nhiệm vụ của chính quyền, nhiệm vụ của
khách thể lãnh đạo, trong mối quan hệ giữa đảng và chính quyền Từ những
phân tích trên cho thấy: lãnh đạo là một quá trình trong đó chủ thể xác định
chủ trương, đường lối, mục tiêu và tổ chức, động viên, khuyến khích, thuyết
phục, huy động mọi nỗ lực, tiềm năng sáng tạo của khách thể (đối tượng lãnh
đạo) thực hiện chủ trương, đường lối đã vạch ra, đồng thời kiểm tra, giám sát
việc thực hiện đó
* Sự lãnh đạo của Đảng
Thuật ngữ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam là đồng nhất, song được tiếp cận dưới hai góc độ khác nhau:
dưới góc độ lãnh đạo là một động từ, lãnh đạo trả câu hỏi Đảng lãnh đạo ai (đối
tượng lãnh đạo)? Dưới góc độ là một danh từ, sự lãnh đạo, nói về công việc lãnh
đạo của Đảng với một đối tượng nào đó Cả hai cách diễn đạt đều nói tới cùng một
nội dung, phương thức, mục đích lãnh đạo, với một đối tượng cụ thể
Về sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đối với các lĩnh vực của đời sống
xã hội, theo phân tích nội hàm khái niệm lãnh đạo trên đây thì, sự lãnh đạo của
Đảng đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội là: Quá trình Đảng đề ra các quan
điểm, chủ trương, đường lối, chính sách đối với các lĩnh vực đời sống xã hội (để
các tổ chức và cá nhân hoạt động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đó thực
hiện); đồng thời tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát các tổ chức, các cơ quan và
cán bộ, đảng viên có liên quan nhằm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, bảo đảm cho quan điểm đường lối chính sách đó được thực thi trong thực tiễn
* Khái niệm các Tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội hiện nay
Các tỉnh uỷ vùng ĐBSH lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội hiện nay là tổng
thể các hoạt động của tỉnh ủy tác động có định hướng, có mục đích vào hệ thống
chính trị và xã hội, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để phát triển văn hóa - xã hội
trên địa bàn Tỉnh uỷ là người đề ra quan điểm, chủ trương, nghị quyết về lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành việc triển khai và
tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết đó Xét về bản chất, tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội là quá trình tiến hành các hoạt động chính trị, tư tưởng,
tổ chức để tác động, định hướng, nêu gương dẫn dắt các tổ chức, các lực lượng xã hội ở địa phương có vai trò, trách nhiệm phát triển văn hoá - xã hội trên địa bàn Xét
về nội dung, tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội là quá trình tỉnh uỷ xác định nội dung, hình thức, phương pháp lãnh đạo đối với lĩnh vực này sao cho có hiệu quả nhất
Từ những diễn giải trên đây, có thể định nghĩa các tỉnh ủy ĐBSH lãnh đạo
phát triển văn hoá - xã hội: là tổng thể các hoạt động của tỉnh ủy trong việc đề ra
chủ trương, nghị quyết về phát triển văn hoá - xã hội; tổ chức, chỉ đạo hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, nhân dân trong tỉnh thực hiện nghị quyết; đồng thời kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện nghị quyết, bảo đảm cho nghị quyết của tỉnh ủy được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn theo hướng không ngừng nâng cao năng lực bảo tồn, sáng tạo và thụ hưởng những giá trị văn hoá - xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần xây dựng con người mới, xã hội mới xã hội chủ nghĩa
Khái niệm nói trên về tỉnh ủy lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thể hiện những nội dung sau đây:
Một là, chủ thể lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội các tỉnh đồng bằng sông Hồng là các đảng bộ tỉnh ở ĐBSH, trong đó trách nhiệm chính, trực tiếp, thường
xuyên là các tỉnh uỷ và ban thường vụ tỉnh ủy
Hai là, lực lượng tham gia vào quá trình tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá
- xã hội là các huyện uỷ và ban thường vụ huyện uỷ; ở xã là đảng uỷ và ban thường
Trang 34vụ đảng ủy xã; chi bộ đảng; là cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các ngành, các
cấp có trách nhiệm lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hoá - xã hội ở ngành
và địa phương mình phụ trách Là các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, các đơn vị
sự nghiệp, doanh nghiệp, các lực lượng vũ trang hoạt động trên địa bàn
Ba là, đối tượng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội của Tỉnh uỷ là các tổ
chức và lực lượng xã hội, là cán bộ, đảng viên và nhân dân với tư cách là người
sáng tạo và thụ hưởng các thành quả phát triển văn hoá - xã hội Đối tượng ấy gồm:
các đảng bộ và tổ chức đảng trực thuộc; các cơ quan nhà nước thuộc tỉnh; các tổ
chức khác trong hệ thống chính trị; cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân địa
phương; các lực lượng vũ trang nhân dân và các đơn vị sự nghiệp; các thành phần
kinh tế và các lực lượng xã hội khác có liên quan Ngoài ra, còn các lực lượng
chuyên môn, chuyên trách tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển văn hoá - xã
hội ở địa phương
Bốn là, quá trình lãnh đạo của tỉnh ủy bao gồm các bước: ban hành chủ
trương, nghị quyết, quyết định những vấn đề về phát triển văn hoá - xã hội; lãnh
đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng thuộc quyền, chính quyền và các tổ chức trong hệ
thống chính trị tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết đó; tổ chức kiểm tra, giám
sát các tổ chức đảng và đảng viên thuộc quyền thực hiện nghị quyết lãnh đạo của
Tỉnh ủy
Năm là, mục tiêu lãnh đạo của tỉnh ủy đối với nhiệm vụ phát triển văn hoá -
xã hội là xây dựng con người mới, xã hội mới xã hội chủ nghĩa thông qua con
đường làm thay đổi sâu sắc đời sống văn hoá - xã hội ở địa phương từ một nền
văn hoá - xã hội nông nghiệp chậm phát triển, sớm trở thành nền văn hoá - xã hội
công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc Cả ở nông
thôn và thành thị có cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật được xây dựng theo quy
hoạch khoa học; có hệ thống chính trị vững mạnh; kinh tế - xã hội phát triển bền
vững; môi trường tự nhiên và môi trường xã hội xanh, sạch, lành mạnh; quốc
phòng, an ninh và trật tự xã hội được giữ vững Nói cách khác, mục tiêu lãnh đạo
phát triển văn hoá - xã hội của các tỉnh ủy ĐBSH là xây dựng các tỉnh trở thành xã
hội giàu bản sắc, văn minh, hiện đại, con người phát triển toàn diện theo định
hướng xã hội chủ nghĩa
2.2.3 Nội dung lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển văn hóa - xã hội
Đến nay đã có khá nhiều công trình khoa học luận bàn về nội dung lãnh đạo của Đảng nhưng đáng chú ý hơn cả là đề tài khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 1991 -
1995 về: “Đặc điểm, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh
vực trọng yếu”, đề tài đã được nghiệm thu và in thành sách với tiêu đề: “Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước ta” Các tác giả
của đề tài đã đưa ra quan niệm về nội dung lãnh đạo của Đảng đối với một số lĩnh vực trọng yếu như: lĩnh vực công tác tư tưởng, lý luận; lĩnh vực kinh tế; lĩnh vực văn học - nghệ thuật Đối với lĩnh vực kinh tế, nội dung lãnh đạo của Đảng được xác định: Đảng “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Đảng quyết định đường lối và những chủ trương lớn về kinh tế; Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước vững mạnh đủ sức quản lý có hiệu quả nền kinh tế quốc dân; lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ công chức và lao động có tay nghề cao” [42, tr.130-140]
Đối với lĩnh vực văn học - nghệ thuật, nội dung lãnh đạo của Đảng được xác định là: “Giữ vững định hướng tư tưởng cho hoạt động sáng tác và cảm thụ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo, phổ biến và tiếp nhận các sản phẩm; Tạo sự gắn
bó giữa văn nghệ sĩ, công chúng và các cơ quan quản lý văn học, nghệ thuật; Chăm sóc tài năng văn học, nghệ thuật; Đánh giá đúng, khách quan các tác phẩm văn học
- nghệ thuật” [42, tr.207-214] Như vậy, đối với mỗi lĩnh vực đời sống xã hội cụ thể, nội dung lãnh đạo của Đảng có sự khác nhau nhất định, xuất phát từ đặc điểm riêng của từng lĩnh vực
Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSH đối với phát triển văn hoá - xã hội thể hiện tập trung ở những nội dung lãnh đạo cụ thể và ở phương thức thực hiện những nội dung đó Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của các tỉnh ủy ĐBSH và nội dung, mục tiêu phát triển văn hoá - xã hội của các tỉnh giai đoạn 2010 - 2020 có thể xác định nội dung lãnh dạo phát triển văn hoá - xã hội của các tỉnh ủy ĐBSH như sau:
Một là, tỉnh uỷ xác định quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp cho từng nội dung phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương
Tỉnh uỷ xây dựng chủ trương, nghị quyết xác định rõ mục tiêu, giải pháp, điều kiện để thực hiện từng nội dung phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương như: phát triển con người các tỉnh ĐBSH của thời kỳ mới với những phẩm chất tiêu biểu
Trang 35về trí tuệ, tư tưởng, đạo đức, lối sống, có số lượng và cơ cấu hợp lý, khoẻ mạnh về
thể chất và vóc dáng; xác định mục tiêu, nhiệm vụ, tiêu chí cần đạt được trong xây
dựng môi trường văn hoá - xã hội; xác định phương hướng giải pháp phát triển kinh
tế, giải quyết việc làm và an sinh xã hội cho người lao động hiện nay; phương
hướng, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp nhằm giải quyết tốt vấn đề tăng trưởng kinh
tế, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, khắc phục tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông
và tai nạn lao động… Từng nội dung trong số những nội dung phát triển văn hoá -
xã hội ở địa phương phải được nghiên cứu, xem xét quyết định một cách thận trọng,
vừa bảo đảm lãnh đạo toàn diện, vừa có trọng điểm nhằm giải quyết khâu đột phá,
nhiệm vụ trọng điểm của từng thời kỳ
Hai là, tỉnh ủy lãnh đạo hệ thống chính trị nói chung(HTCT), đặc biệt là
lãnh đạo chính quyền địa phương thực hiện thắng lợi các chủ trương, nghị quyết
của tỉnh uỷ về phát triển văn hoá - xã hội
Lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội là nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp, lâu
dài, nó đòi hỏi phải làm thay đổi thói quen, nếp nghĩ, lối sống không còn phù hợp
của từng người và toàn bộ cộng đồng nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới Nói
về những khó khăn lâu dài của phát triển văn hoá - xã hội, người ta dùng hai hành vi
trái ngược để diễn tả: “vứt một cọng rác ra nơi công cộng, người ta chỉ mất một
giây, nhưng để cúi xuống nhặt một cọng rác nơi công cộng, phải mất một trăm
năm” Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển văn hoá - xã hội, các tỉnh ủy phải
lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị nói chung, đặc biệt là lãnh đạo chính quyền tỉnh
thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của tỉnh ủy thành kế hoạch, quy hoạch,
chiến lược có tính pháp quy để các lực lượng xã hội thực hiện; đồng thời, tinh uỷ
phải lãnh đạo chăm lo xây dựng chính quyền thực sự vững mạnh, có hiệu lực, hiệu
quả để làm tốt các chức năng theo quy định của pháp luật Đây được xem là nội
dung lãnh đạo có ý nghĩa quyết định thắng lợi trong tổ chức thực hiện nghị quyết
của tỉnh ủy về phát triển văn hoá - xã hội
Ba là, tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng thuộc quyền thực
hiện các chủ trương, nghị quyết của tỉnh uỷ về phát triển văn hoá - xã hội
Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng thuộc quyền quán triệt và
vận dụng sáng tạo nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển văn hoá - xã hội để lãnh đạo
cơ quan, đơn vị, địa phương mình có bước chuyển biến mạnh mẽ từ trong đảng bộ
ra đến nhân dân trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, chủ trương và nghị quyết của Tỉnh ủy về phát triển văn hoá -
xã hội ở địa phương
Bốn là, tỉnh uỷ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách có phẩm chất và năng lực làm công tác văn hóa - xã hội ở địa phương
Phát triển văn hoá - xã hội là sự nghiệp lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có các cơ quan chuyên trách tinh thông nghiệp vụ, đội ngũ cán bộ yêu nghề và giỏi nghề Các cơ quan tham mưu và đơn vị sự nghiệp chuyên trách của tỉnh uỷ và chính quyền tỉnh hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - xã hội hết sức phức tạp, gồm nhiều loại hình chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau như: ban tuyên giáo tỉnh uỷ; sở văn hoá - thông tin; sở bưu điện và truyền thông; sở lao động, thương binh và xã hội; sở tài nguyên, môi trường; sở y tế; sở giáo dục và đào tạo; các báo, tạp chí của tỉnh, đài truyền thanh, truyền hình tỉnh; trường chính trị, trường văn hoá - nghệ thuật, trường đại học và cao đẳng thuộc tỉnh… Để có đội ngũ cán bộ và các cơ quan chuyên trách như vậy, tỉnh uỷ phải thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn đội ngũ cán bộ đúng đắn; xây dựng và kiện toàn tổ chức, bộ máy của những cơ quan, đơn vị này Công tác tạo nguồn, lựa chọn nguồn để sử dụng cần xem xét trên hai phương diện vừa có kiến thức, kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, vừa có phẩm chất đạo đức, lối sống phù hợp công việc của người cán bộ văn hoá -
xã hội Cán bộ văn hoá - xã hội phải là những người yêu nghề, yêu người, nhiệt thành với công việc, có năng lực chuyên môn, thậm chí, trên một số mặt công tác cán bộ phải có năng khiếu nhất định mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Các cơ quan tuyển dụng cán bộ phải hết sức chú ý đến đặc điểm nghề nghiệp văn hoá - xã hội để lựa chọn, bố trí sử dụng cán bộ
Năm là, tỉnh uỷ lãnh đạo Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội tham gia phát triển văn hoá - xã hội trên địa bàn
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là nơi đoàn kết, tập hợp các lực lượng xã hội phấn đấu xây dựng xã hội mới, con người mới, nền văn hoá mới tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
Trang 36không chỉ là lực lượng xã hội quan trọng tham gia xây dựng nghị quyết, tổ chức
thực hiện nghị quyết lãnh đạo của tỉnh uỷ, mà còn thực hiện chức năng giám sát,
phản biện hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương Vì vậy, phát huy vai
trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là một nội dung
lãnh đạo không thể thiếu của tỉnh uỷ
2.2.4 Phương thức lãnh đạo của tỉnh ủy đối với phát triển văn hóa - xã hội
Đề tài khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 1991 - 1995 về: “Đặc điểm, nội
dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu” và sách
“Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước
ta” khi luận giải về phương thức lãnh đạo Đảng đối với lĩnh vực văn học - nghệ
thuật đã chỉ rằng, Đảng lãnh đạo văn học - nghệ thuật:
bằng việc xây dựng, củng cố tổ chức đảng trong cơ quan văn hoá và các
hội văn học - nghệ thuật, kiện toàn bộ máy tham mưu về văn hoá - nghệ
thuật; Lãnh đạo bằng bộ máy quản lý nhà nước, hệ thống luật pháp và các
chính sách; Lãnh đạo thông qua các hội chuyên ngành và liên hiệp các hội
văn học - nghệ thuật; Lãnh đạo thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên hoạt
động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật; lãnh đạo thông qua đội ngũ cán
bộ lý luận, phê bình và sự phê bình của công chúng [42, tr.216-222]
Tiếp theo ý này, trong cuốn“Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” các
tác giả cũng cho rằng: “Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các hình thức,
phương pháp, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà Đảng
sử dụng nhằm làm cho đường lối chủ trương, chính sách của Đảng được thực hiện
có hiệu quả cao nhất trong cuộc sống” Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) ở nước ta hiện nay, Đảng
ta khẳng định: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội:
bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ
trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức,
kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng
thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới
thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt
động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị [21, tr.88-89]
Phương thức lãnh đạo và nội dung lãnh đạo của Đảng có quan hệ mật thiết với nhau, khi đã xác định được nội dung lãnh đạo đúng thì cần phải tìm ra phương thức lãnh đạo phù hợp mới có thể làm cho nội dung lãnh đạo được thực hiện tốt trong thực tiễn Trong thực tế, giữa nội dung lãnh đạo và phương thức lãnh đạo không có sự phân biệt rạch ròi, sự khác nhau giữa chúng chỉ là tương đối Tuy nhiên, chúng ta cần làm rõ sự khác nhau giữa nội dung lãnh đạo và phương thức lãnh đạo để có giải pháp tác động phù hợp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng Thực tế đã chứng minh: khi có đường lối đúng, có tổ chức hợp lý mà không
có phương thức lãnh đạo phù hợp thì hiệu quả lãnh đạo thấp, thậm chí còn làm vô hiệu hoá cả chủ trương đúng của Đảng và của các cấp uỷ Đảng Phương thức lãnh đạo của Đảng sẽ thay đổi khi hoàn cảnh, điều kiện thay đổi, tình hình cách mạng thay đổi
Từ những vấn đề nêu trên có thể quan niệm phương thức lãnh đạo của các
tỉnh uỷ ĐBSH đối với phát triển văn hoá - xã hội là: hệ thống các hình thức,
phương pháp, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà tỉnh uỷ
sử dụng để tác động vào hệ thống chính trị, nhất là các tổ chức đảng, chính quyền, các ngành, các cấp, các lực lượng xã hội ở địa phương nhằm thực hiện tốt nội dung lãnh đạo của tỉnh uỷ về phát triển văn hoá - xã hội trên địa bàn, qua các giai đoạn khác nhau Khái niệm trên cho thấy, phương thức lãnh đạo của các Tỉnh ủy ĐBSH
đối với phát triển văn hoá - xã hội thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, tỉnh ủy lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua ban hành các chủ trương, nghị quyết và những định hướng lớn về phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương để các tổ chức, các lực lượng xã hội thực hiện theo chức năng, nhiệm
vụ của mình
Trên cơ sở nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển văn hoá - xã hội, ban thường
vụ tỉnh ủy cho ý kiến về những vấn đề trọng tâm của phát triển văn hoá - xã hội của tỉnh trước khi đưa ra HĐND tỉnh bàn bạc, thảo luận ra nghị quyết để tổ chức thực hiện Đồng thời, cho ý kiến về hoạt động của các cơ quan tham mưu cho tỉnh uỷ và chính quyền tỉnh liên quan đến công tác văn hoá - xã hội như: ban tuyên giáo tỉnh
uỷ, sở văn hoá thông tin, sở lao động và thương binh xã hội để các cơ quan này
Trang 37hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định, đảm bảo cho các nghị
quyết của tỉnh ủy về phát triển văn hoá - xã hội được thực hiện thắng lợi ở địa
phương Trong trường hợp phát sinh những vấn đề phức tạp về văn hoá - xã hội,
ban thường vụ tỉnh uỷ sẽ cho ý kiến định hướng giải quyết trước khi HĐND tỉnh
xem xét, quyết định
Hai là, tỉnh ủy lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua các cơ quan
nhà nước cấp tỉnh
Tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền tỉnh cụ thể hóa nghị quyết của tỉnh ủy về phát
triển văn hoá - xã hội thành nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án công tác của
hội đồng nhân dân và UBND tỉnh, qua đó thực hiện quản lý nhà nước đối với các
hoạt động văn hoá - xã hội Trong từng giai đoạn nhất định, căn cứ vào nghị quyết
lãnh đạo của tỉnh ủy, nghị quyết của hội đồng nhân và uỷ ban nhân dân tỉnh, các cơ
quan chức năng của uỷ ban nhân dân sẽ xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án
công tác thực hiện các nội dung phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương, qua đó
đưa nghị quyết lãnh đạo của tỉnh uỷ thành hiện thực
Ba là, tỉnh ủy lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua công tác tổ
chức, cán bộ của đảng bộ
Thông qua công tác tổ chức, cán bộ, tỉnh uỷ chăm lo xây dựng, kiện toàn tổ
chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND, UBND tỉnh và lãnh đạo,
chỉ đạo các cấp uỷ trực thuộc lãnh đạo chính quyền cùng cấp Đây là một nội dung
rất quan trọng trong PTLĐ của tỉnh uỷ đối với nhiệm vụ phát triển văn hoá - xã hội
Không có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ cán bộ chuyên môn say
nghề và yêu nghề hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - xã hội làm nòng cốt thì không
thể phát triển được văn hoá - xã hội ở địa phương Cho nên, phương thức lãnh đạo
phát triển văn hoá - xã hội thông qua công tác tổ chức cán bộ là phương thức lãnh
đạo cơ bản, hiệu quả của tỉnh uỷ trên lĩnh vực công tác này
Bốn là, tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua công tác tư
tưởng của Đảng
Tiến hành các mặt công tác của đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh
đạo Nhà nước và xã hội là một phương thức lãnh đạo phổ biến và quan trọng của
Đảng đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, đối với lĩnh vực văn hoá -
xã hội nói riêng Thông qua công tác tư tưởng của đảng bộ, tỉnh ủy tiến hành tổng kết thực tiễn, góp phần phát triển và hoàn thiện lý luận về phát triển văn hoá - xã hội, cung cấp những căn cứ khoa học và thông tin, tư liệu khách quan phục vụ quá trình lãnh đạo của tỉnh ủy trên lĩnh vực này
Năm là, tỉnh uỷ lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
Lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua công tác kiểm tra, giám sát là phương thức lãnh đạo quan trọng của tỉnh uỷ Bởi, từ rất sớm Đảng ta đã khẳng
định: “Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo” Thông qua
công tác kiểm tra, giám sát, tỉnh ủy phát hiện những nhân tố mới trong lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội, tạo điều kiện cho những nhân tố đó phát triển, đồng thời uốn nắn những lệch lạc, xử lý nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, đảm bảo cho nghị quyết của tỉnh ủy được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn
Sáu là, tỉnh ủy lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội thông qua vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên hoạt động trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan
Lãnh đạo thông qua phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên của Đảng là đòi hỏi tất yếu và là một trong những nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSH đối với phát triển văn hoá -xã hội hiện nay Trên thực tế, tất cả những vị trí quan trọng của cơ quan chính quyền, đoàn thể, của các tổ chức văn hoá - xã hội từ tỉnh đến cơ sở đều do đảng viên nắm giữ Những đảng viên này lại chịu sự quản lý, giáo dục trực tiếp của các tổ chức đảng được lập ở các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội tương ứng Vì vậy, phát huy tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - xã hội, tự nó đã làm nên sức mạnh lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân
Trang 38Tiểu kết chương 2
Chương 2 của luận án nghiên cứu, xem xét những vấn đề lý luận, thực tiễn
liên quan đến sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ ĐBSH đối với phát triển văn hoá - xã hội
ở địa phương giai đoạn hiện nay, cụ thể là:
Trình bày khái quát những đặc điểm tự nhiên, kinh tế và văn hoá, xã hội của
các tỉnh ĐBSH hiện nay; làm rõ chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của các tỉnh uỷ
ĐBSH, qua đó thấy rõ bối cảnh thực tế sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ đối với phát
triển văn hoá - xã hội ở địa phương Sự lãnh đạo của tỉnh uỷ luôn chịu những tác
động mạnh mẽ của tình hình khách quan, biểu hiện trên những đặc điểm chủ yếu
được trình bày trong luận án
Làm rõ những khái niệm công cụ quan trọng liên quan trực tiếp đến đề tài
luận án như: văn hoá, xã hội, văn hoá - xã hội, phát triển văn hoá - xã hội ở Việt
Nam nói chung, phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH nói riêng Luận án chú
trọng làm rõ nội hàm khái niệm phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH hiện
nay với mười hai nội dung chủ yếu
Trên cơ sở các khái niệm: Đảng lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội, phát
triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh ĐBSH hiện nay, luận án trình bày khái niệm trung
tâm của luận án là: các Tỉnh uỷ ĐBSH lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay
Luận án đã trình bày và phân tích làm rõ nội hàm của khái niệm này Luận án nêu:
các Tỉnh uỷ ĐBSH lãnh đạo phát triển văn hoá - xã hội hiện nay là tổng thể các
hoạt động của Tỉnh ủy trong việc đề ra chủ trương, nghị quyết về phát triển văn hoá
- xã hội; lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên,
nhân dân thực hiện nghị quyết; đồng thời kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện,
bảo đảm cho nghị quyết của Tỉnh ủy được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn theo
hướng không ngừng nâng cao năng lực bảo tồn, sáng tạo và thụ hưởng những giá
trị văn hoá - xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần xây dựng con người mới,
xã hội mới xã hội chủ nghĩa Những kết quả nghiên cứu ở chương 2 của luận án là
cơ sở lý luận phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu ở chương 3 của luận án, chương đánh
giá thực trạng phát triển văn hoá - xã hội và sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ ĐBSH đối
với phát triển văn hoá - xã hội ở địa phương hiện nay
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI HIỆN NAY - NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM 3.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
3.1.1 Những thành tựu chủ yếu trong phát triển văn hoá - xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay
3.1.1.1 Các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã chú trọng đầu tư phát triển con người và chăm lo xây dựng môi trường văn hoá - xã hội đạt nhiều thành tựu tốt đẹp
* Về phát triển con người
Sự phát triển con người ở các tỉnh ĐBSH trong thời gian vừa qua đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ về trí tuệ, tư tưởng, đạo đức, lối sống; có số lượng và cơ cấu tương đối hợp lý, được cải thiện về thể chất và vóc dáng Xem xét đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển con người và nguồn lực con người ở các tỉnh ĐBSH trong những năm vừa qua, có thể đánh giá tổng quát trên các mặt sau đây: Theo niên giám thống kê của 9 tỉnh ĐBSH, tính đến hết năm 2012, dân số các tỉnh là 9.765.445 người Về quy mô dân số, các tỉnh ĐBSH có mật độ dân số so với các tỉnh khác, thuộc loại cao nhất nước, vì vậy là điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH Năm 2012, tuổi thọ trung bình ở các tỉnh là 75,8 tuổi, cao hơn tuổi thọ trung bình của cả nước một chút (74,8 tuổi)
Về cơ cấu dân số, dân số trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên, đang làm việc trong các thành phần kinh tế có sự phát triển khá nhanh: năm 2008 là 6.345.570 người, đến năm 2012 là 6.761.359 người
Về trình độ học vấn, trí tuệ, đạo đức và tư tưởng, các tỉnh ĐBSH có lợi thế của miền châu thổ bao xung quanh Thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng, nhân dân có truyền thống văn hiến lâu đời, các đảng bộ và chính quyền địa phương
đã và đang tiếp tục đầu tư lớn cho phát triển giáo dục, đào tạo và dậy nghề, nâng cao trình độ mọi mặt cho người dân Các tỉnh ĐBSH đã phổ cập giáo dục trung học
cơ sở, đang nỗ lực hướng tới phổ cập giáo dục trung học phổ thông vào năm 2020
Trang 39Trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động đã qua đào tạo nghề đang tăng
mạnh cùng với quy mô mở rộng các cơ sở đào tạo nghề trong vùng
Công tác tuyên truyền, vận động đến từng người dân thấm nhuần quan điểm
học tập suốt đời, học để sáng tạo cuộc sống mới đạt được nhiều thành tựu quan
trọng: Về mặt đạo đức xã hội, các cấp bộ đảng và chính quyền nơi đây đã nhận thức
rõ vai trò to lớn của đạo đức xã hội đối với sự phát triển toàn diện của cá nhân con
người cũng như đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội nói chung Người
lãnh đạo và quản lý đều đã thấy rõ giá trị cốt lõi và nền tảng của đạo đức của mỗi
người dân là lòng trung thực với mình, với mọi người và xã hội Không có đạo đức
trong kinh doanh, trong sản xuất, cũng như trong tiêu dùng thì kinh tế chỉ phát triển
đến một chừng mực nào đấy sẽ phải dừng lại, vô đạo đức sẽ phá hoại phát triển kinh
tế, phá hoại môi sinh, phá hoại sự sống của chính những người đang sản xuất kinh
doanh và tiêu dùng Các cấp bộ đảng ĐBSH cũng chú trọng giáo dục cho các tầng
lớp nhân dân những giá trị tư tưởng phổ quát về lòng yêu nước, yêu quê hương, gia
đình được hoà quyện với tình cảm yêu kính lãnh tụ, yêu chế độ xã hội mà toàn
Đảng và toàn dân đang ra sức phấn đấu xây dựng; ngăn chặn lối sống thực thực
dụng, vọng ngoại, biến thái Đánh giá thành tựu xây dựng tư tưởng, đạo đức lối
sống của con người, tỉnh Quảng Ninh nhận định: “Tư tưởng đạo đức, lối sống, lĩnh
vực then chốt của văn hoá đã có chuyển biến quan trọng Chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển ngày càng tỏ rõ giá trị bền vững
là nền tảng và kim chỉ nam cho hành động và nhân tố hàng đầu bảo đảm cho đời
sống tinh thần của xã hội phát triển” [95]
Các tầng lớp nhân dân, nhất là tầng lớp thanh niên đã sớm thích ứng với mô
hình kinh tế chuyển đổi từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, và đi liền với nó là những thay đổi định hướng giá trị trong
phát triển nguồn lực con người, và phát triển nhân cách Lớp người trẻ tuổi tiếp cận
rất nhanh với những giá trị văn hoá - xã hội mới, có ý chí vươn lên làm giàu, tự lập
và tự chủ Ở tỉnh nào trong vùng khi nói đến các ông chủ, người ta đều hình dung là
những ông chủ trẻ tuổi, trưởng thành trong thời kỳ đất nước đổi mới
* Về chăm lo xây dựng và phát triển môi trường văn hoá - xã hội
Những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển văn hoá xã hội đã nhận được sư đồng tình cao của các đảng bộ, chính quyền các tỉnh ĐBSH, vì vậy các chủ trương, nghị quyết của Đảng nêu ở Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII và Văn kiện Đại hội XI về phát triển văn hoá - xã hội đã sớm
đi vào cuộc sống Trong số những nhiệm vụ, nội dung phát triển văn hoá - xã hội, nhiệm vụ xây dựng và phát triển môi trường văn hoá - xã hội được xem là nhiệm vụ
trọng tâm Ở các tỉnh ĐBSH, tỉnh uỷ, chính quyền, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị xã hội đều xác định rõ vị trí, vai trò quan trọng của xây dựng, phát triển môi trường văn hoá - xã hội, bởi đây là không gian, môi trường sống của mỗi con người, có vai trò gắn kết và xây dựng con người trở nên có văn hoá Trên cơ sở sự lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh uỷ, hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, đề án, kế hoạch xây dựng
và phát triển môi trường vă hoá - xã hội ở địa phương Mặt trận tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh phối hợp cùng chính quyền đồng loạt tổ chức các phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “làng, khu phố văn hoá”, “gia đình văn hoá” tạo thành một phong trào vận động xã hội mạnh mẽ, có tác dụng rất tốt trong đời sống tinh thần của nhân dân UBND tỉnh Bắc Ninh đánh giá:
“sau một thời gian triển khai, phong trào trên địa bàn tinh đã đạt được nhiều kết quả và trở thành cuộc vận động văn hoá - xã hội lớn, đem lại những kết quả có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần tạo diện mạo mới trong đời sống văn hoá - xã hội của tỉnh, đặc biệt là trên địa bàn khu dân cư” [104] Phong trào xây dựng “gia đình văn hoá” đã góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, đề cao giá trị đạo đức, phát huy truyền thông gia đình Việt Nam Đánh giá kết quả phong trào xây dựng gia đình văn hoá, tỉnh Hưng Yên nhận định: “Phong trào xây dựng
"Làng văn hoá", "Gia đình văn hoá", "Khu dân cư văn hóa", "Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con trung hiếu, cháu thảo hiền" ngày càng tăng về số lượng và chất
lượng Năm 1997 cả tỉnh có 37 làng văn hoá, năm 2003 có 387 làng và 1 khu phố văn hoá, chiếm tỷ lệ gần 47% tổng số làng và khu phố toàn tỉnh, năm 2012 có 81% số làng, khu phố văn hóa… năm 1997 cả tỉnh có 115.000 gia đình văn hoá
Trang 40(chiếm tỷ lệ 42,5% tổng số hộ gia đình của toàn tỉnh), năm 2003 có 148.000 gia
đình văn hoá (chiếm 72%); năm 2012, có 86% gia đình được công nhận gia đình
văn hoá; 47.269 gia đình được công nhận danh hiệu "Ông bà, cha mẹ mẫu mực,
con trung hiếu, cháu thảo hiền" [92]
Tính đến năm 2013, hầu hết các khu dân cư ở nông thôn, khu phố ở thành
phố, thị xã thuộc tỉnh đều có nhà văn hoá, câu lạc bộ, sân bãi thể thao, để nhân dân
hội họp, tập luyện sức khoẻ, vui chơi, giải trí Nhiều làng, xã mở được thư viện và
duy trì hoạt động phục vụ cộng đồng Theo báo cáo của tỉnh Hưng Yên: “Toàn tỉnh
có gần 1.300 câu lạc bộ các loại hình, trong đó có trên 500 câu lạc bộ văn hóa, văn
nghệ hoạt động thường xuyên và có hiệu quả Nhiều câu lạc bộ thu hút đông đảo
hội viên tham gia như: CLB thơ Phố Hiến (TP Hưng Yên); CLB dưỡng sinh (Yên
Mỹ); CLB thơ, CLB sinh vật cảnh (Mỹ Hào, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ); CLB ca
trù, CLB trống quân (Khoái Châu)…” [92]
3.1.1.2 Chăm lo phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ đạt
được những thành tựu nổi bật
* Về phát triển giáo dục - đào tạo
Một là, trong những năm vừa qua, các tỉnh ĐBSH đã phát triển mạnh quy
mô giáo dục đào tạo và mạng lưới cơ sở giáo dục - đào tạo, dạy nghề nhằm đáp
ứng tốt hơn nhu cầu học tập và lao động của nhân dân Trong 5 năm vừa qua, quy
mô các cấp học, bậc học đều tăng nhanh cả về số trường, lớp, học sinh, sinh viên,
giáo viên và giảng viên Theo niên giám thống kê năm 2012, năm giữa nhiệm kỳ
đại hội đảng bộ tỉnh (2010 2015) của 9 tỉnh ĐBSH, ở bậc học mầm non, số trường
học đã phát triển lên 3.469 trường, với 627.878 học sinh và 36.266 giáo viên Ở
bậc học phổ thông, cả ba cấp học: tiểu học, trung học cơ sở; trung học phổ thông,
số liệu thống kê cho thấy đều tăng về số trường, số học sinh và giáo viên Ví dụ, ở
cấp trung học phổ thông, 9 tỉnh ĐBSH có 360 trường, bình quân mỗi tỉnh có hơn
40 trường; số học sinh theo học là 384.732 người; số giáo viên phục vụ là 20.503
người (phụ lục 3) Ở bậc học đại học và cao đẳng, hiện mở 20 trường đại học với
78.251 sinh viên theo học và 4.522 giảng viên phục vụ, tính trung bình mỗi tỉnh có
hơn 2 trường đại học; có 36 trường cao đẳng các loại, với 86851 sinh viên theo
học và 4.837 giáo viên phục vụ Về dạy nghề và trung học chuyên nghiệp, hiện có
39 trường trung học chuyên nghiệp (vừa đào tạo văn hoá, vừa đào tạo nghề), với 51.472 học sinh và 1.891 giáo viên Riêng các cơ sở chuyên làm công tác dạy nghề thì số lượng lớn hơn nhiều Chỉ tính ở Vĩnh Phúc đã có “22 trung tâm dạy nghề; 24 cơ sở khác có dạy nghề, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề được chú trọng đầu tư… hiện số giáo viên của các cơ sở dạy nghề đăng ký hoạt động là 1.830 người” [103, tr.121-123]
Đánh giá về những đầu tư mở rộng cơ sở giáo dục đào tạo ở địa phương, UBND tỉnh Bắc Ninh nhận định, tỉnh đã: “tập trung chỉ đạo tăng cường cơ sở vật chất trường học, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia Kinh phí ngân sách đầu tư tăng từ 20.575 triệu đông năm 1997 lên 214.374 triệu đồng Đến hết năm 2012, toàn tỉnh Bắc Ninh đã có 95% trường học được kiên cố” [104]
Hai là, chất lượng giáo dục - đào tạo ở các cấp học đã đáp ứng nhu cầu học
tập, nâng cao dân trí cho nhân dân, bước đầu đáp ứng yêu cầu học nghề và dạy nghề cho người lao động trong các thành phần kinh tế Các tỉnh đã chú trọng huy động các nguồn lực đầu tư và xã hội hoá giáo dục - đào tạo Với việc mở rộng mạng lưới và cơ sở giáo dục - đào tạo, dạy nghề trong những năm vừa qua, các tỉnh ĐBSH đã bắt đầu chú ý nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Giaó dục mầm non và phổ thông có chất lượng khá tốt Giaó dục đại học và cao đẳng trong điều kiện có nhiều khó khăn về đầu tư cơ sở vật chất, tài chính, số lượng, chất lượng giảng viên, nhưng đã có nhiều cố gắng duy trì năng lực, chất lượng đào tạo như đã
có, nhất là khối các trường đại học và cao đẳng công lập; tổng kết 15 năm thực hiện NQTW 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, báo cáo của các Tỉnh uỷ ĐBSH về chất lượng giáo dục - đào tạo ở các cấp học ở địa phương đều khẳng định ý này Tỉnh Nam Định cho rằng: “Chất lượng giáo dục đại trà được nâng lên… Các trường đã chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, “dạy chữ” luôn đi liền với
“dạy người” Môi trường văn hoá trong các trường học được chú ý, tỷ lệ học sinh chăm ngoan, có đạo đức xếp loại khá và tốt ngày càng tăng” [93] Tỉnh Quảng Ninh đánh giá: “giáo dục đào tạo tiếp tục duy trì quy mô và nâng cao chất lượng ở