Với lý do trên, tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp Công tác xã hội cá nhân vào hỗ trợ giải quyết những vấn đề gặp phải của người cao tuổi neo đơn trên địa bàn xã ………
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách, vàgiữ vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thầnđối với NCT, đặc biệt là những NCT neo đơn là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước vàtoàn xã hội Điều này thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống văn hóa tốtđẹp bao đời nay của dân tộc ta Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiềuchủ trương, chính sách, những mô hình chăm sóc NCT, NCTNĐ và đã đem lại nhữnghiệu quả nhất định Tuy nhiên, hiện nay đời sống của NCTNĐ vẫn còn gặp rất nhiều khókhăn, rất cần sự chung tay giúp đỡ của gia đình, xã hội, cộng đồng nhiều hơn nữa Trongthời gian tới, nước ta đẩy mạnh phát huy cao vai trò của nhân viên Công tác xã hội, ứngdụng các phương pháp của CTXH nói chung, và CTXH cá nhân nói riêng trong việc trợgiúp và cải thiện chất lượng cuộc sống, giúp NCT có thêm niềm tin và nghị lực trongcuộc sống, góp phần làm cho cuộc sống của những NCT nói chung, nhất là NGNĐ nóiriêng tìm được niềm vui, tiếp tục cống hiến, sống có ý nghĩa cho gia đình, cho xã hội vàcho chính bản thân họ Đồng thời, khảng định tính chuyên nghiệp và tính ứng dụng caocủa ngành nghề CTXH trong công tác trợ giúp những người yếu thế trong xã hội có mộtcuộc sống tốt đẹp hơn
Với lý do trên, tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp Công tác xã hội cá nhân vào hỗ trợ giải quyết những vấn đề gặp phải của người cao tuổi neo đơn trên địa bàn xã ……….”
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng NCT trên địa bàn xã…………qua đó, vận dụngphương pháp công tác xã hội cá nhân vào hỗ trợ những vấn đề gặp phải của họ
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của người già, người già không nơi nươngtựa
- Tìm hiểu những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống của người già khôngnơi nương tựa
- Đánh giá thực trạng những vấn đề gặp phải của NCT ở trên địa bàn xã
………
- Đánh giá hiệu quả từ một số mô hình chăm sóc sức khỏe của NCT đã được
t trên điển khai trên địa bàn xã …………
- Đề xuất phương hướng, giải pháp, và vận dụng tiến trình Công tác xã hội cánhân vào hỗ trợ một trường hợp NCT trên địa bàn xã ………
3 Đối tượng, địa bàn thực hiện
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những người cao tuổi và người cao tuổi neo đơn
Trang 2- Cán bộ Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội.
- Người chăm sóc, hàng xóm láng giềng, người quen, bạn bè của Người cao tuổi
3.2 Địa bàn thực hiện
- Xã …………
Trang 3NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CTXH CÁ NHÂN
1.1 Khái niệm, đặc trưng của CTXH cá nhân
* Khái niệm
CTXH với cá nhân là quá trình và là một phương pháp tác động đến cá nhân có vấn đề xã hội (bị mất hoặc yếu về chức năng xã hội), giúp cá nhân tự nhận ra vấn đề của bản thân, củng cố, khôi phục và phát huy năng lực của bản thân để có thể tự giải quyết được vấn đề của mình trong tình huống, nghĩa là giải quyết vấn đề cá nhân trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã hội của cá nhân đó.
* Đặc trưng của CTXH cá nhân
+ CTXH với cá nhân không phải là một hoạt động, một tác động nhất thời mà phải
là một qúa trình Quá trình này bắt đầu từ việc tiếp cận đối tượng, nhận diện vấn đề chođến việc thu thập thông tin, chuẩn đoán, lên kế hoạch trị liệu, triển khai trị liệu, lượng giá
và cuối cùng kết thúc khi đã đạt được mục đích đặt ra
+ CTXH với cá nhân là một phương pháp CTXH bao gồm nhiều phương pháp, kỹnăng cụ thể, có sự kết hợp linh hoạt, rộng rãi với các lĩnh vực khác (hệ thống tri thức củacác khoa học khác, hệ thống chính sách, các kinh nghiệm của các NVXH và của đốitượng…)
+ Khi tiến hành CTXH với cá nhân cần phải đặt cá nhân trong mối quan hệ tươngtác với các cá nhân khác, với điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường xã hội mà cá nhânđang sinh sống Phương pháp tác động tập trung vào các mối quan hệ về tâm lý xã hội,bối cảnh xã hội mà ở đó vấn đề của thân chủ đang diễn ra và bị ảnh hưởng, chi phối.+ Điều cốt lõi và là mục đích cao nhất của phương pháp CTXH với cá nhân là giúp
cá nhân tự nhận ra, mong muốn và tự giải quyết được vấn đề của mình Quan điểm hành
động trong CTXH với cá nhân là “đối tượng là chuyên gia trong việc giải quyết vấn đề của chính mình” Để làm được điều này phụ thuộc rất lớn vào vai trò của NVXH, vì thân
chủ là người trong tình huống, thường không sáng suốt, thiếu bình tĩnh, tự tin hoặc hànhđộng liều lĩnh, vội vàng
1.2.Đối tượng, tác nghiệp của CTXH cá nhân
Đối tượng tác động của phương pháp CTXH cá nhân là những cá nhân hoặc giađình có vấn đề xã hội Đây là những người có hoàn cảnh khó khăn, gặp phải rủi ro, bấthạnh trong cuộc sống, bị yếu thế trước xã hội; những người nghèo đói, thất nghiệp; người
bị khuyết tật; NCT, người cô đơn; trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, sống lang thang,
bị ngược đãi, bị lạm dụng tình dục, lạm dụng sức khoẻ, bóc lột sức lao động; phụ nữ bịbạo hành, bất bình đẳng trong gia đình và xã hội; người bị nhiễm các dịch bệnh hiểmnghèo; người nghiện ma tuý, hành nghề mại dâm, tội phạm xã hội,… Các cá nhân có vấn
đề trở thành thân chủ của tham vấn khi họ luôn cảm thấy không hài lòng trong một mốiquan hệ, một sự kiện nào đó, luôn gây bất bình cho những người xung quanh, ở họ xuất
Trang 4hiện những cá tính hiếm thấy, có những hành động không xảy ra trong tiền lệ, cảm thấybuồn chán, lo âu, căng thẳng, đau khổ, sợ hãi,… lặp đi lặp lại, nói nhiều, nói lảm nhảm,biểu hiện phi lý trong nhận thức cá nhân, thể hiện trong hoạt động mà người khác thấykhông bình thường, khó thích nghi hoặc không thích nghi, hay luôn luôn hành động theocách có ảnh hưởng đến mục tiêu hoạt động của mình, hoạt động của những người xungquanh.
Trong CTXH cá nhân, đó là mối quan hệ một - một (NVXH – thân chủ), được thểhiện trong cả tiến trình làm việc, trợ giúp thân chủ Phát huy nội lực, kết hợp nguồn lựcbên ngoài trợ giúp cá nhân hòa nhập cộng đồng vươn lên phát triển - sự thành công củaCTXH cá nhân
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng CTXH cá nhân là phương pháp tác động haichiều, trong đó NVXH đóng vai trò định hướng, giúp phát huy năng lực của thân chủ,còn thân chủ là đối tượng, là trung tâm của quá trình tác động, chuyển biến thay đổi tìnhtrạng yếu kém năng lực xã hội trở thành chủ thể tích cực của việc giải quyết vấn đề củabản thân mình
1.3 Nguyên tắc tác nghiệp trong CTXH cá nhân
- Nguyên tắc cá biệt hóa đối tượng
Mỗi thân chủ phải được hiểu như một cá nhân độc nhất, với cá tính riêng biệt vàkhông phải là cá nhân của một đám đông Con người không phải được sinh ra trong mộtđám đông cũng không chết trong một đám đông trừ khi có tai họa
- Nguyên tắc chấp nhận thân chủ
NVXH chấp nhận thân chủ với mọi phẩm chất tốt, xấu của người ấy, những điểm mạnh và những điểm yếu, không xem xét đến hành vi của anh ta Nền tảng của nguyên tắc này là giả định triết học cho rằng mỗi cá nhân có giá trị bẩm sinh, không kể đến địa vị
xã hội hoặc hành vi của họ Thân chủ được quyền lưu ý và thừa nhận là một con người dùanh ta có phạm tội Chấp nhận không có nghĩa là tha thứ cho hành vi mà xã hội không thểchấp nhận, mà có nghĩa là sự quan tâm và thiện chí hướng về con người ẩn sau hành vi
- Không phê phán và không kết án
Điều này có nghĩa là không tỏ vẻ bất bình với thân chủ, không đổ lỗi bằng cách tranh luận về nguyên nhân – kết quả hoặc đưa ra lời phê phán cho rằng người đó đáng bị trừng phạt vì hành vi của họ Thuật ngữ kết án một cá nhân và thái độ xem thường người khác là không được chấp nhận trong CTXH Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là
NVXH biện hộ, chạy tội cho phạm nhân Khi NVXH nói chuyện và đối xử với cung cáchnhư thế thì thân chỉ thấy họ được chấp nhận hoàn toàn và thân chủ sẽ bộc lộ vấn đề của họ
- Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ
Nguyên tác này cho rằng cá nhân có quyền tự quyết định những vấn đề thuộc về cuộc đời họ và người khác không có quyền áp đặt quyết định lên họ Trong CTXH cá
Trang 5nhân, NVXH không ra quyết định, lựa chọn hay vạch kế hoạch cho thân chủ Tuy nhiên, thân chủ có thể được hướng dẫn và giúp đỡ để đưa ra quyết định riêng
Sự tự quyết, cũng như sự tự do, có những giới hạn riêng của nó Đó không phải là một quyền tuyệt đối Quyết định mà thân chủ đưa ra phải nằm trong phạm vi quy định của xã hội, kết quả của quyết định đó không gây tổn hại đến bản thân và người khác Hơnnữa, hành vi tự quyết định phải thuộc những chuẩn mực hành vi mà xã hội có thể chấp nhận được Điều này cũng có ý nghĩa thân chủ phải tự chịu trách nhiệm thực hiện quyết định cũng như những hậu quả của việc thực hiện quyết định đó
Giá trị của nguyên tắc này thừa nhận thân chủ như họ vốn có Chấp nhận hay từ chối một dịch vụ nào đó là do thân chủ quyets định Trong tiến trình CTXH cá nhân, NVXH thảo luận và xem xét các phương án, thảo luận kỹ lưởng giúp cân nhắc những khókhăn và thuận lợi Quyền tự quyết được xác nhận, được giải thích ở giai đoạn đầu, vào giai đoạn giữa, và giai đoạn cuối của tiến trình
NVXH ứng dụng kiến thức, sự hiểu biết và kĩ năng với giả định cơ bản là cá nhân
co nhu cầu, quyền lựa chọn và quyền ra quyết định
- Nguyên tắc cùng tham gia giải quyết vấn đề
Tiến trình giúp đỡ và được giúp đỡ không dừng lại ở thời điểm thân chủ ra quyết định mà nó còn tiến xa hơn hơn nữa nhờ những kế hoạch được theo đuổi và những hành động được thực hiện Vì vậy theo nguyên tắc này, thân chủ trở thành diễn viên chính trong việc theo đuổi kế hoạch và thực hiện hành động, NVXH là người tạo thuận lợi
- Giữ bí mật
NVXH phải có nhiệm vụ giữ bí mật những thông tin thu nhận được từ thân chủ, chỉtrong những trường hợp thân chủ cho phép thì NVXH mới tiết lộ thông tin với người thứ
ba (thành viên trong gia đình hoặc chuyên gia khác…)
- Sự can dự có kiểm soát
NVXH khởi đầu mối quan hệ với thân chủ, biểu thị bằng sự chấp nhận và sự khẳngđịnh, mối quan hệ được xây dựng thông qua xúc cảm của nhân viên xã hội Sự xúc cảmđược cần đến mức mà NVXH cảm nhận được mức độ xúc cảm của thân chủ và nhìn tìnhthế như người ấy nhìn nó Tuy nhiên, NVXH phải có cái nhìn khách quan để khỏi mùquáng bởi cảm xúc quá độ về tình huống của thân chủ NVXH có thể giúp thân chủ nhìnvấn đề của người ấy một cách khách quan, tích cực và vạch kế hoạch một cách thực tế
1.4 Tiến trình CTXH cá nhân
*Khái niệm tiến trình CTXH cá nhân
Tiến trình là những bước công việc cần làm trong một khoảng thời gian nhất định.Khi giúp đỡ một cá nhân, NVXHthực hiện những bước đi trong một tiến trình gọi là tiến
trình giải quyết vấn đề hay tiến trình giúp đỡ *Các giai đoạn của tiến trình CTXH cá nhân
Gồm có 7 giai đoạn:
(1) Tiếp nhận thân chủ
Trang 6(2) Nhận diện vấn đề
(3) Thu thập thông tin
(4) Đánh giá chuẩn đoán
(5) Lên kế hoạch giải quyết vấn đề
(6) Thực hiện kế hoạch
(7) Lượng giá
Giai đoạn 1 : Tiếp nhận thân chủ
Đây là bước đầu tiên, quan trọng, tạo tiền đề và có ý nghĩa rất lớn đến sự thànhcông của CTXH với cá nhân đối với từng trường hợp cụ thể Ngay từ bước thứ nhất - tiếpcận thân chủ, NVXH phải cố gắng thiết lập được mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng vàhợp tác với thân chủ
Giai đoạn 2 : Nhận diện vấn đề
Việc nhận diện vấn đề của thân chủ là một việc không hề đơn giản Việc nhận diệnvấn đề đúng vấn đề gặp phải của thân chủ, xác định chính xác nguồn gốc làm nảy sinhvấn đề là cơ sở để NVXH thực hiện các bước tiếp theo, nó liên quan đến khả năng đápứng nhu cầu cũng như huy động sự tham gia của thân chủ vào giải quyết vấn đề Nhận
diện vấn đề cần trả lời hai câu hỏi:1 Vấn đề hiện tại của thân chủ là gì?2 Ai là thân chủ trọng tâm?
Giai đoạn 3 : Thu thập thông tin
Thu thập thông tin và xử lý số liệu là một tập hợp các thao tác kỹ thuật mà NVXHthực hiện nhằm kiểm chứng tính chính xác rình trạng hiện tại, nguyên nhân, các yếu tốyếu tố tác động đến thân chủ và vấn đề của thân chủ, từ đó đưa ra sự đánh giá toàn diện
về thân chủ làm cơ sở trực tiếp cho bước tiếp theo trong tiến trình CTXH cá nhân
Giai đoạn 4 : Đánh giá chuẩn đoán
Về cơ bản, việc xác định vấn đề ưu tiên và trọng tâm giải quyết vấn đề là một bướcđược thực hiện sau các bước tiếp cận thân chủ, nhận diện vấn đề, thu thập và xử lý thôngtin Nó là điểm mấu chốt kiểm định lại tính phù hợp, đúng đắn của các bước đồng thời là
cơ sở quyết định đến bước tiếp theo - xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề Nó cũng chỉ
ra cho cả NVXH và thân chủ thấy rõ được kết quả của sự tương tác, trong việc đánh giánhu cầu, nguồn lực, thuận lợi, khó khăn khi giải quyết vấn đề Tuy nhiên, trong nhữngtrường hợp cụ thể, bước này có thể được thực hiện sớm hơn, thậm chí là bước đầu tiên,khi gặp và quyết định giải quyết tình trạng khẩn cấp
Giai đoạn 5: Lên kế hoạch giải quyết vấn đề
Kế hoạch chính là những công việc cụ thể cần thực hiện nhằm đạt các mục tiêutrong tương lai nhờ việc sử dụng các nguồn lực hiện có và sẵn có một cách hợp lý, hiệuquả
Giai đoạn 6: Thực hiện kế hoạch
Trang 7Đây là bước thực hiện hoá các hoạt động cụ thể theo các mục tiêu, giải pháp nhằmđược hỗ trợ cá nhân giải quyết vấn đề dựa trên kế hoạch đã xây dựng Trong quá trìnhnày, khi cần thiết NVXH có thể cung cấp một số dịch vụ cụ thể, tham vấn, hỗ trợ, biệnhộ… giúp thân chủ để việc giải quyết vấn đề có hiệu quả cao hơn, kịp thời hơn NVXH làngườ định hướng, trợ giúp cho thân chủ về huy động nguồn lực, cải thiện mối quan hệ xãhội, giúp thân chủ thay đổi tâm trạng thái độ, hành vi và năng lực giải quyết vấn đề
Giai đoạn 7: Lượng giá
Đây là sự đo lường, thẩm định đánh giá toàn bộ các quá trình đã thực hiện trongtiến trình trợ giúp, giải quyết vấn đề đối với thân chủ Sự lượng giá cuối cùng phải dựatrên sự lượng giá của từng quá trình đã triển khai những mục tiêu cụ thể Lượng giá cần
có sự tham gia của cả NVXH và thân chủ nhằm đo lường và thẩm định một cách trungthực, khách quan các tiến bộ của thân chủ, kết quả của sự tác động, đối chiếu giữa cái đạtđược với mục tiêu đề ra
1.5 Hệ thống kỹ năng tác nghiệp cơ bản của CTXH cá nhân gồm:
Kỹ năng quan sát, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng tư duy suyđoán
II TỔNG QUAN VỀ NCT NEO ĐƠN KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA VÀ
QUAN ĐIỂM CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NCT NEO ĐƠN Ở NƯỚC TA.
1 Khái niệm về NCT, NCT neo đơn không nơi nương tựa
1.1.Khái niệm về NCT
Khái niệm về NCT hay người già ở mỗi nước có sự khác nhau do sự khác biệt trongvăn hóa của mỗi quốc gia Một số quốc gia coi những người từ 60 tuổi trở lên là NCT,trong khi ở một ở một số nước khác NCT là những người từ 65 tuổi hoặc hơn
Ở Việt Nam, theo định nghĩa của những nhà Dân số học, những người trên 60 tuổikhông phân biệt nam, nữ được gọi là NCT
NCT hay người cao niên hay NCT là những người lớn tuổi, thường có độ tuổi từ 60uổi trở lên Pháp lệnh NCT ở Việt Nam (số 23/2000/PL-UBTVQH, ra ngày 28/4/2000)
nhận định: “NCT có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội”
Về mặt Pháp luật, theo Luật NCT quy định NCT là: “Công dân nước CHXHCN Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” Tuy nhiên, quy định này không thống nhất với Bộ lao động
TB&XH hiện hành Quy định về tuổi về hưu của Luật Lao động Việt Nam có sự phânbiệt giới với 60 tuổi đối với nhóm nam và 55 tuổi đối với nhóm nữ Như vậy, phụ nữ đãnghỉ hưu nhưng lạ chưa được xác định là nhóm NCT và chưa phải hội viên Hội NCT.Khái niệm NCT được sử dụng thay cho khái niệm NCT vì thực tế nhiều người từ 60 tuổitrở lên vẫn còn hoạt động Vì cụm từ “NCT” bao hàm tính kính trọng hơn cụm từ
“NCN” Tuy nhiên, về khoa học thì cả hai cụm từ này đều được sử dụng như nhau
Trang 8Mặc dù còn khá nhiều quan điểm khác nhau về độ tuổi của NCT, nhưng thực tế chothấy việc phân chia nhóm tuổi để quy định về nhóm NCT còn phụ thuộc vào nhiều yếu tốkhác như: điều kiện kinh tế - xã hội, tình trạng sức khỏe, môi trường,…
Như vậy, ta có thể hiểu NCT hay NCN (người cao niên) là công dân Việt Nam từ
đủ 60 tuổi trở lên
1.2 Khái niệm về NCTNĐ không nơi nương tựa
NCT là những người từ 60 tuổi trở lên sống độc thân, còn vợ hoặc chồng nhưng giàyếu, không có con cháu, người thân thích, ruột thịt để nương tựa và không có nguồn thunhập để đảm bảo cuộc sống, đảm bảo nhu cầu thiết yếu Ngoài ra, những NCT có concháu, nhưng bị con cháu đối xử ngược đãi, bỏ rơi, không quan tâm chăm sóc và không có
nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập cũng được coi là NCT neo đơn không nơi
nương tựa
2 Đặc điểm của NCTNĐ không nơi nương tựa
- Tâm lý mặc cảm, cô đơn Không chỉ những người già sống một mình (con cháu ởriêng, không có con cháu, hoặc con cháu làm ăn, công tác ở xa) mà ngay cả những ngườisống chung cùng con cháu vẫn có thể rơi vào tâm trạng mặc cảm, cô đơn Những ngườigià ở nông thôn, cuộc sống sinh hoạt theo nếp truyền thống đang từng bước bị thay đổi,khả năng con cháu ra ở riêng hoặc đi xa hoặc ở chung nhưng kinh tế độc lập – gia đìnhtrong gia đình sẽ khiến cho người già có cảm giác mình là người vô dụng, thừa thãi,không còn được tôn trọng, không được kính trọng và bị bỏ rơi Những người thoát lynông nghiệp, làm cán bộ, công chức, viên chức, công nhân đến tuổi về hưu, từ chỗ bậnmải với công việc nay về nghỉ cảm thấy bị hụt hẫng, mất vai trò, vị trí, quyền lực trong xãhội có thể nảy sinh cú sốc, sang chấn, khủng hoảng tâm lý Các tình trạng trên sẽ làm chongười cao tuổi có cảm tưởng bị bỏ rơi, không còn hữu ích nên mặc cảm, cô đơn, tủi phận,buồn bã, trống trải
+ Tâm lý hoài cổ, nhớ rất sâu đậm về quá khứ xa xưa, nhưng có khi lại quên những
gì hiện tại hoặc mới diễn ra Đại đa số người già thường lưu luyến về quá khứ, nhớ vềthời tuổi trẻ, xa xưa, tiếc nuối thời trẻ, thích nhắc lại hoặc kể lại những gì đã qua từ rấtlâu Những sự kiện, trải nghiệm từ quá khứ được nhắc đến nhiều hơn những gì diễn rahiện tại và họ thường tự hào về kinh nghiệm sống đã qua của mình Người già nhạy bénvới cái mới, cái hiện đại, với những biến động của cộng đồng, xã hội nhưng hầu nhưmuốn so sánh với “thời ngày xưa của mình”, đề cao giá trị ngày xưa và ít chấp nhận cáihiện tại (dù cái đó là tiến bộ, phát triển) Đối với những người già về hưu thì tâm lý tiếcnuối quá khứ càng rõ nét
+ Tâm lý bận tâm Người già thường quan tâm đến rất nhiều vấn đề diễn ra tronggia đình, dòng họ, hàng xóm láng giềng, cộng đồng và xã hội Đặc biệt, người già luôncanh cánh trong lòng, lo toan về con cháu, mặc dù con cháu trẻ khỏe, trưởng thành
Trang 9Những quan tâm, lo lắng của người già nhiều khi được coi là “rỗi hơi”, chẳng đâu vàođâu nhưng người già vẫn bận tâm đến mọi thứ.
+ Tâm lý bi quan, phiền muộn Người già càng ngày càng đi đến giới hạn cuối cùngcủa cuộc đời, có cảm giác như “ngọn đèn trước gió”, “gần đất xa trời” nên sinh ra tâm lý
bi quan Quy luật sinh học tất yếu, sự già hóa các cơ quan cơ thể và suy giảm chức năng,nhất là đối với những người già mắc bệnh tật thì tâm lý bi quan, phiền muộn càng rõ rệt.Sức khỏe yếu, lao động giảm sút, thu nhập ít đi, vị trí xã hội thay đổi đều là nhữngnguyên nhân cơ bản có thể gây ra tâm lý bi quan, phiền muộn của người già Bên cạnh
đó, người già cũng dễ mủi lòng, tủi thân khi những nhu cầu hay yêu cầu, ý kiến của mìnhkhông được con cháu, người khác lưu tâm, đáp ứng đầy đủ, nhanh chóng Đặc biệt lànhững người đã giành phần lớn tâm sức, thời gian của cuộc đời mình cho việc chăm sóc,nuôi dạy, lo lắng, dựng nghiệp cho con cháu với mong muốn được con cháu đền đáp, báohiếu lúc tuổi già
+ Tâm lý đa nghi Đa số người già cho rằng sự trải nghiệm, kinh nghiệm trường đờicủa mình nên hiểu hơn, biết hơn, đúng đắn hơn, chuẩn mực hơn, “khôn hơn” người trẻtuổi, hơn con cháu Cùng với việc thính lực, thị lực người già suy giảm, quan sát hành vi,
cử chỉ, nghe người khác nói có khi không trọn vẹn, không đầy đủ, không rõ ràng nên dễdẫn đến nghe sai lệch nội dung, hiểu sai ý người nói và lại hay suy đoán động cơ, mụcđích của người khác Sự chậm chạp, có thể suy giảm hoặc mất đi chức năng này, chứcnăng khác, phải lệ thuộc hay nhờ vả người khác nên người già lo lắng quá mức, dẫn đếnviệc lặp đi lặp lại một câu nói, một ý nghĩ, một yêu cầu khiến cho người khác hiểu sailệch là các cụ bị lẩm cẩm, thậm chí bực dọc, cáu giận với các cụ Vì vậy, người già nảysinh tính đa nghi, khó tin tưởng người khác, nếu có thì sự tin tưởng phải rất thận trọng.Tính đa nghi của người cao tuổi sẽ tăng lên và trầm trọng hơn khi tuổi tác ngày một cao.Quá mẫn cảm với cảm giác của cơ thể cộng với những thông điệp không rõ ràng hoặckhông được tiếp nhận rõ ràng là nguồn gốc chủ yếu sinh ra tính đa nghi của người già.+ Tâm lý nóng nảy, giận giữ và không ổn định Có rất nhiều lý do, thậm chí cónhững lý do rất vô lý dẫn đến tâm lý nóng nảy, dễ cáu gắt, giận giữ, giận hờn của ngườigià Tinh thần không ổn định, diễn biến phức tạp, các cảm giác tự ti, mất vai trò, vị trí, là
“người thừa – vô tích sự”, cùng những tác động từ bên ngoài, từ môi trường sống, nhất làthái độ của người trong gia đình, họ hàng, cộng đồng, đồng nghiệp cũ khiến cho ngườigià có thể nóng giận, cáu gắt, thậm chí tình trạng nóng nảy đến từ những nguyên nhân rấtnhỏ nhặt
Sự khủng hoảng tâm lý của người già không phải diễn ra một cách đồng đều vàkhông thay đổi mà nó có những sự biểu hiện khác nhau ở những lứa tuổi khác nhau Lứatuổi 60 – 70 sẽ có khác biệt nhất định so với lứa tuổi 70 – 80 và trên 80 tuổi sẽ có nhữngthay đổi nhiều hơn Đặc biệt, đối với những người già nghỉ hưu, do những biến động vềcông việc, cuộc sống, sinh hoạt, thu nhập dễ tạo ra những biến động tâm lý khiến họ khó
Trang 10khăn hơn trong việc thích nghi với cuộc sống mới, hoàn cảnh mới, được gọi là “hộichứng về hưu” Biểu hiện rõ rệt của hội chứng này là buồn chán, trống trải, hẫng hụt, dễcáu gắt, dễ nổi giận hoặc rơi vào trầm cảm Cá biệt có những người rơi vào tình trạngsốc về tâm lý, sa sút rõ rệt về tinh thần, sức khỏe sinh ra ốm đau, bệnh tật
3 Nhu cầu của người cao tuổi neo đơn không nơi nương tựa
Cũng như mọi nhóm lứa tuổi khác, NCT - NCTNĐ có những nhu cầu cơ bản, thiếtyếu trong cuộc sống Đó là các nhu cầu về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đượcđảm bảo chế độ dinh dưỡng, ăn uống, đi lại, nhà ở, được tôn trọng, được nâng cao, đượcgiao tiếp, quan hệ cộng đồng, xã hội, được tìm hiểu thông tin và tham gia các hoạt độngcộng đồng Tuy nhiên, do đặc thù về tuổi tác với những đặc điểm về thể chất, tâm sinh lýcho nên ở người già có những nhu cầu đặc trưng cần được quan tâm và thỏa mãn, nhưnhu cầu được chăm sóc, yêu quí, kính trọng; nhu cầu sức khỏe, được khám chữa bệnh khiđau ốm; nhu cầu được tôn vinh, được thừa nhận, được thấy mình còn có ích cho gia đình,cộng đồng, xã hội; nhu cầu được vui hưởng tuổi già, được sự quan tâm, chia sẻ, nươngtựa về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, nhất là với con cháu, gia đình, dòng họ, bàcon lối xóm
Người già vẫn mong muốn được tiếp tục cống hiến cho gia đình và xã hội Tuỳ theosức khỏe, khả năng, người già muốn được đóng góp sức lực của mình vào công việc giađình (trông nom nhà cửa, chăm sóc, vui đùa cùng con cháu, lao động phù hợp) và nhữngcông việc cộng đồng xã hội để một mặt chứng tỏ vị trí, sự hữu ích của mình, mặt kháccũng là nhu cầu thiết thân, gia đình và xã hội cần quan tâm, hiểu đúng và đáp ứng
Người già cần được giao lưu, quan hệ, giao tiếp và tham gia các hoạt động cộngđồng, xã hội như các hoạt động của làng xóm, bạn bè, đồng môn, đồng đội, đồng niên
Họ mong được hội họp, trao đổi, chuyện trò với những người trong xã hội, với nhữngngười tâm giao, những người trong tổ chức, đoàn thể để được tiếp tục khẳng định vai trò,giá trị và hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, xã hội, họ không muốn bị đứng ngoài, bịlạc lõng, bị bỏ lại nhất là trong bối cảnh xã hội đầy tính thời sự, biến động, nóng bỏng,vận động không ngừng
Người già cũng rất muốn tham gia, thể hiện và thực hiện các việc làm từ thiện, nhân
ái, giúp đỡ những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong cộng đồng xã hội Những việc làm
từ thiện đó là thăm hỏi, động viên, đóng góp tiền bạc và tổ chức các hoạt động giúp đỡngười thiệt thòi, bất hạnh Chính trong các hoạt động đó, người già sẽ tìm thấy thêm niềmvui sống, giá trị sống, vai trò hữu ích của bản thân, mặc dù tuổi cao
Người già quan tâm, chú trọng đến đời sống tâm linh, vì vậy có nhu cầu tham giacác hoạt động tâm linh như tích cực đến với các lễ hội, đền thờ, chùa chiền, nhà thờ đểvừa cầu phúc, may cho bản thân, cho gia đình, cộng đồng vừa tìm sự thanh thản về tinhthần
Trang 11Tuy nhiên, tuổi càng cao, sức khỏe càng yếu, cùng với những tác động bên ngoài,nhất là môi trường tự nhiên, môi trường xã hội có những diễn biến phức tạp, suy thoái sẽkhiến cho người già gặp phải những trở ngại, những nguy cơ trong cuộc sống, trong đóđặc biệt là những nguy cơ về bệnh tật, bởi nhiều chức năng sinh lý của người già bị suygiảm rõ rệt Theo các nghiên cứu, thống kê thì người già có rất nhiều nguy cơ về sứckhỏe thể chất, tinh thần, trong đó điển hình là các nguy cơ: suy dinh dưỡng; bệnh về timmạch, huyết áp; bệnh về hệ hô hấp; bệnh về đường tiêu hóa; bệnh về hệ tiết niệu - sinhdục; bệnh về hệ vận động – cơ, xương, khớp; bệnh về hệ thần kinh, nhất là thần kinhtrung ương; các bệnh khác như ung thư, bệnh về gan, thận, mật
4 Thực trạng Người cao tuổi neo đơn không nơi nương tựa ở nước ta
NCT neo đơn không nơi nương tựa là những người từ 60 tuổi trở lên sống độc thân,còn vợ hoặc còn chồng nhưng già yếu, không có con cháu, người thân thích, ruột thịt đểnương tựa và không có nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống, đảm bảo nhu cầu thiếtyếu Ngoài ra, những người già có con cháu, nhưng bị con cháu đối xử ngược đãi, bỏ rơi,không quan tâm chăm sóc và không có nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập cũngđược gọi là người già neo đơn không nơi nương tựa
Ở nước ta, theo đánh giá của UNFPA, dân số Việt Nam đang có tốc độ già hóanhanh nhất thế giới Năm 2007, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng (theo tỷ lệ cứ có
2 người trong độ tuổi lao động mới có 1 người trong độ tuổi phụ thuộc), theo các dự báothì đến năm 2015 dân số nước ta mới bước vào giai đoạn già hóa (người từ 60 tuổi trở lênchiếm 10% dân số) và vào khoảng năm 2025 – 2030 trở thành nước có dân số già (20%dân số có độ tuổi từ 60 trở lên, trong đó có trên 7% trên 65 tuổi) Nhưng trên thực tế, dotuổi thọ bình quân ngày một tăng, trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất tử vong giảm nên tốc
độ già hóa dân số rất nhanh Nếu như trong 50 năm qua, tuổi thọ bình quân của người dântrên thế giới tăng 20 tuổi (từ 48 lên 68) thì tuổi thọ bình quân của người Việt Nam đãtăng 32 tuổi (từ 40 lên 72) Năm 2010 dân số nước ta chính thức bước vào giai đoạn giàhóa Để chuyển từ dân số vàng sang dân số già ở nhiều nước trên thế giới, nhất là cácnước phát triển cần trải qua một thời gian dài (Pháp là 115 năm, Thụy Điển khoảng 80năm, Nhật Bản trên 30 năm), còn Việt Nam sẽ chỉ mất 15 – 20 năm1
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 01/4/2008, cả nước có 8,05triệu người cao tuổi, chiếm 9,45% dân số Trong đó: người từ 60 – 69 tuổi là 3,29 triệu,chiếm 4,61% dân số; người từ 70 – 79 tuổi là 2,9 triệu, chiếm 3,41% dân số; người từ 80tuổi trở lên là 1,17 triệu, trong đó có 9.830 người từ 100 tuổi trở lên Các số liệu thống kêcác năm 2009, 2010 cho thấy số lượng, tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân số ngày càngtăng, dự báo năm 2011, người cao tuổi ở nước ta có khoảng trên 9,2 triệu người (trên10% dân số)
1
Trang 12Với thực tế dân số già hóa, số lượng người cao tuổi chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân
số, cùng những sự biến động của nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở cửa hộinhập kinh tế, sự di chuyển, cơ động trong lao động, sản xuất kinh doanh, tìm kiếm việclàm thu nhập, sự tăng cường mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước,bên cạnh đó một phần có những sự chuyển biến, thay đổi đáng kể các giá trị truyềnthống, lối sống, nếp sống, nhất là quan niệm về đời sống gia đình (từng bước phá bỏ trật
tự, thói quen về gia đình nhiều thế hệ sống cùng nhau trong cùng một mái nhà) dẫn đếntình trạng sẽ có không ít những người già phải sống riêng, không ở cùng con cháu vàtrong số đó sẽ có những người già rơi vào tình trạng neo đơn Ngoài ra, do nhiều nguyênnhân khác nhau, do bệnh tật, ốm đau, do không có con cháu, không còn người ruột thịtnên trong cộng đồng, xã hội tất yếu có một bộ phận không nhỏ những người già neo đơnkhông nơi nương tựa có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Phần lớn người cao tuổi sống ở nông thôn (chiếm 72,9% tổng số người cao tuổi).Những người cao tuổi sống ở nông thôn chủ yếu là những người lao động nông nghiệp,thủ công, nghề tự do và do vậy rất ít người có lương hưu hay các trợ cấp xã hội khác Chỉ
có một bộ phận những người cao tuổi ở nông thôn có lương hưu (đi làm việc ở nơi khác
về nghỉ hưu ở nông thôn hoặc tham gia công việc tại địa phương rồi nghỉ hưu tại địaphương, khoảng 9 – 30% người cao tuổi có lương hưu Theo PGS.TS Nguyễn Đình Cử –Viện trưởng Viện Dân số và các Vấn đề xã hội thì có khoảng 16 – 17% người cao tuổi cólương hưu hoặc mất sức, 10% hưởng trợ cấp người có công với đất nước Theo kết quảkhảo sát của Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam (VNCA) cho thấy, trong tổng
số người cao tuổi sống ở nông thôn có khoảng 75% sống cùng con cháu, 25% sống riêng,trong đó có 8,3% sống cô đơn, đa phần là phụ nữ đơn thân do chồng mất trước, góachồng, không có con Ở thành thị, tồn tại tình trạng người già neo đơn (sống một mìnhhoặc sống riêng với con cái) chiếm tỷ lệ cao hơn nông thôn nhưng đa số có thu nhập từcác nguồn tích luỹ, hoặc lao động làm thêm, hoặc lương hưu, hoặc trợ cấp, phụ cấp cùngvới mặt bằng an sinh xã hội tốt hơn nên cuộc sống của người già ở thành thị nói chung,người già neo đơn nói riêng ít khó khăn hơn so với người già neo đơn ở nông thôn Bêncạnh đó, tại thành thị thường có các nhà dưỡng lão hoặc các trung tâm bảo trợ xã hộichăm sóc, nuôi dưỡng những người già có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và cả nhữngngười có con cháu nhưng vì nhiều lý do khác nhau, có nhu cầu tự nguyện nên đến sốngtrong các cơ sở, trung tâm đó Ngoài ra ở thành thị tồn tại tình trạng có nhiều người giàneo đơn, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ nhiều địa phương khác đến sinh sống bằngcách lang thang kiếm sống Đây là một trong những thực tế quan ngại về cuộc sống củangười già neo đơn, không nơi nương tựa ở nước ta
5 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về hỗ trợ đối với NCT neo đơn, không nơi nương tựa ở nước ta.
Trang 13Người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách vàgiữ vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thầnđối với người cao tuổi đăc biệt là những người già neo đơn, không nơi nương tựa là tráchnhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội Điều này thể hiện đạo lý “uống nước nhớnguồn” truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta
đã có nhiều chủ trương, chính sách, những mô hình chăm sóc người cao tuổi như: trợ cấp
xã hội và các khoản ưu đãi khác cho người già không nơi nương tựa, người già không cólương hưu, xây dựng nhà dưỡng lão để chăm sóc người có công, lập các trung tâm bảotrợ xã hội để nuôi dưỡng người già cô đơn, không nơi nương tựa
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách hỗ trợ người già neo đơn khôngnơi nương tựa, được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc các kỳ Đạihội VIII, IX và trong một số chỉ thị, nghị quyết của Đảng Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần
thứ X, Đảng ta khẳng định: “Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa” Quan điểm của Đảng về hỗ trợ người già neo đơn không nơi nương tựa được tiếp tục đề cập trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (Bổ sung, phát triển năm 2011): Hoàn thiện hệ
thống an sinh xã hội Thực hiện tốt chính sách đối với người cao tuổi có công với nước Chăm lo đời sống những người cao tuổi, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động Đổi mới vàhoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh và viện phí phù hợp chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi
Quan điểm và chủ trương của Đảng về quan tâm, chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi,đặc biệt là người cao tuổi neo đơn, không nơi nương tựa được từng bước hiện thực hóa trongchính sách, pháp luật của Nhà nước: Pháp lệnh người cao tuổi (Số 23/2000/PL –UBTVQH ngày 28/4/2000), quy định; “Luật Người cao tuổi” năm 2009; Nghị định67/2007/NĐ - CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội quy định đối tượngcần được bảo trợ xã hội, trong đó có người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình ngheo;người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích
để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo; Thông tư số 09/2007/TT - BLĐTBXH về Hướngdẫn một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ - CP về chính sách trợ giúp các đối tượngbảo trợ xã hội; Nghị định 13/2010/NĐ - CP ngày 27/02/2010, Nghị định số 06/2011/NĐ -
CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điềuluật của Người cao tuổi, trong đó đặc biệt quan tâm đến đối tượng người già cô đơn Ngoài ra, Nhà nước khuyến khích các tổ thức cá nhân thành lập các cơ sở cung ứngdịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại các huyện, thành phố; khuyến khích các huyện xâydựng mô hình nhà xã hội cho người cao tuổi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người caotuổi lang thang, người cao tuổi cô đơn tại các địa phương có chỗ nương tựa và tham giasinh hoạt vui chơi, giải trí, điều trị bệnh
Trang 14Như vậy, trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn thể hiện sự quan tâmđến người già nói chung, người già neo đơn không nơi nương tựa nói riêng Điều đó đượcthể hiện ở việc Đảng, Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách phù hợp, tạo cơ chếnền tảng cho việc xây dựng, thực hiện các mô hình chăm sóc người già cô đơn không nơinương tựa, xây dựng nhà dưỡng lão chăm sóc những người có công, lập các trung tâmbảo trợ xã hội để nuôi dưỡng người già cô đơn, không nơi nương tựa Bên cạnh đó, cácđoàn thể và tổ chức xã hội như Hội Chữ thập đỏ, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, HộiNgười cao tuổi, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hảo tâm cũng tổ chức nhiều hoạtđộng như xây dựng trung tâm chăm sóc người già nội trú, nhận chu cấp kinh phí đểphụng dưỡng trọn đời, hỗ trợ xoá nhà tạm, chăm sóc, chữa bệnh cho người già neo đơnkhông nơi nương tựa để giúp họ sống vui khoẻ, có ích trong quãng đời còn lại Chủtrương của Đảng, chính sách của Nhà nước và các chương trình hành động thiết thực đãmang lại những kết quả tích cực cho việc chăm sóc, hỗ trợ người già neo đơn, không nơinương tựa Tuy nhiên mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu và thực hiện hỗ trợ canthiệp, chăm sóc, giải quyết vấn đề được một số lượng ít những người già neo đơn, khôngnơi nương tựa trong cộng đồng, xã hội.
III THỰC TRẠNG NGƯỜI CAO TUỔI NEO ĐƠN VÀ VIỆC HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ GẶP PHẢI CỦA NGƯỜI CAO TUỔI NEO ĐƠN TẠI XÃ
……….
1 Khái quát về địa bàn xã………
2 Tình trạng người cao tuổi neo đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã
……….
2.1 Khái quát số lượng NCT neo đơn không nơi nương tựa trên địa bàn xã.
Hiện tại, Hội NCT có 4 chi hội tương ứng với 4 thôn trên địa bàn xã với số lượnghội viên đủ 60 tuổi trở lên là 642 (trong đó nam là 290, và nữ là 352) Có 208 cụ đượchưởng chế độ 180.000đ đến 270.000đ/tháng (trong đó có 195 cụ được hưởng chế độ 80tuổi trở lên); 15 cụ hưởng chế độ tàn tật và thương binh Với những NCT thuộc hộ nghèo,khó khăn, tàn tật, neo đơn không nơi nương tựa gồm 7 trường hợp được nhận trợ cấp xãhội hàng tháng và được cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) miễn phí với mệnh giá bằng mệnhgiá mua thẻ BHYT cho người nghèo hoặc được khám, chữa bệnh không phải trả tiền tạicác cơ sở y tế công lập
2.2 Đặc điểm hoàn cảnh người cao tuổi neo đơn không nơi nương tựa.
+ Về điều kiện nhà ở
NCT cô đơn chủ yếu sống ở những ngôi nhà cấp bốn đã xây dựng từ nhiều năm,không có các đồ dùng tối thiểu để đáp ứng nhu cầu của NCT như tivi, quạt máy, bếpnấu, Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt, nước sạch và đặc biệt là các tài sản có giá trịsinh hoạt văn hoá, đi lại và đời sống hàng ngày khác còn nhiều hạn chế
Trang 15+ Điều kiện kinh tế
Kinh tế là một trong những vấn đề hết sức quan tâm của NCT nói chung và NCTneo đơn nói riêng, họ không có người thân Nếu có thì người thân cũng có hoàn cảnh khókhăn, không thể hỗ trợ, cộng thêm với điều kiện sức khỏe ốm yếu, không thể làm đượccông việc gì tạo ra thu nhập Do đó, đời sống kinh tế của NCT neo đơn gặp rất nhiều khókhăn Vì thế, NCT neo đơn phải hoàn toàn dựa vào sự trợ cấp xã hội, sự giúp đỡ củachính quyền địa phương, tổ chức xã hội, gia đình và những người xung quanh chỉ chiếmmột phần nhỏ, sự trợ giúp không mang tính lâu dài, chủ yếu là sự động viên tinh thần chohọ
+ Về tình trạng sức khoẻ
NCT neo đơn tuổi càng cao, sức khỏe càng yếu, cùng với những tác động bênngoài, nhất là môi trường tự nhiên, môi trường xã hội có những diễn biến phức tạp, sẽkhiến cho NCT NĐ gặp phải những trở ngại, những nguy cơ bệnh tật trong cuộc sống
2.3 Nhu cầu của NCT neo đơn.
Người cao tuổi neo đơn cần hỗ trợ về nhà ở, kinh tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe,
nhu cầu hoạt động văn hóa thể dục thể thao hòa nhập cộng đồng
2.4 Một số trường hợp NCT neo đơn trên địa bàn.
- Trường hợp bà: Nguyễn Thị Thanh ở thôn , chồng mất sớm bà không có con Hiện nay bà 71 tuổi đang sống một mình, có người cháu họ đến chăm nom thường xuyên
- Trường hợp ông: Nguyễn Văn Nam 75 tuổi ở thôn , vợ mất sớm, con trai ông bị bệnh tâm thần, kinh tế khó khăn Cuộc sống của ông chủ yếu nhờ sự trợ giúp của
xã hội
- Trường hợp bà: Ngô Thị Hoa 81 tuổi ở thôn , hiện đang sống một mình thi thoảng được người cháu họ đến chăm sóc Mọi chi tiêu và sinh hoạt hàng ngày của bà phụ thuộc vào trợ cấp của xã hội và xóm làng
3 Các hoạt động can thiệp, hỗ trợ, giải quyết vấn đề gặp phải của NCT neo đơn trên địa bàn xã Hồng Đức.
Đối với việc hỗ trợ NCT trên địa bàn xã còn gặp nhiều khó khăn về nguồn kinh phí
để tổ chức thực hiện các hoạt động đó Với đặc thù là một xã thuần nông, nguồn thu nhậpchủ yếu của người dân là từ nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi nên đời sống của họ cònrất vất vả và nghèo khó Vì thế, nguồn tài chính hạn hẹp là yếu tố quan trọng đầu tiên ảnhhưởng đến chất lượng và mức độ hỗ trợ của chính quyền xã đối với NCT Ngoài ra, cơcấu tổ chức của các cơ quan của địa phương còn thiếu tính phối hợp, chưa chặt chẽ, chưa