Thực chất của phương pháp tổ chức và phát triển cộng đồng làngười làm CTXH sử dụng kiến thức, kỹ năng, xây dựng, thực hiện chương trình, dự án dựatrên sự huy động nguồn lực bên trong cộn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TRÀ CỔ - TP MÓNG CÁI
Sinh viên thực hiện: Ninh Thị Bích Ngọc Lớp: K3A-Móng Cái
Khoa: Công tác xã hội
Hệ đào tạo: Đại học
Trang 2
Tháng 6, 2017
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn và thực hiện đề tài
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3 Đối tượng, địa bàn thực hiện
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG.
1.1 Khái niệm cộng đồng, phát triển và phát triền cộng đồng
1.2 Bối cảnh ứng dụng phương pháp phát triển cộng đồng
1.3 Nguyên tắc tác nghiệp của phương pháp phát triển cộng đồng
14 Tiến trình phát triển cộng đồng
1.5 Dự án/chương trình phát triển cộng đồng
II: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO VÀ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC TA
2.1 Khái niện nghèo, chuẩn nghèo ở nước ta hiện nay
2 2 Nguyên nhân nghèo và chân dung hộ gia gia đình nghèo ở nước ta
2.3 Những khó khăn trong cuộc sống của người nghèo
2.4 Thực trạng nghèo ở nước ta
2.5 Quan điểm, chính sách giảm nghèo ở nước ta
III THỰC TRẠNG NGHÈO VÀ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TRÀ CỔ - TP MÓNG CÁI – TỈNH QUẢNG NINH
3.1 Khái quát về địa bàn phường Trà Cổ
3.1.1 Về điều kiện địa lý, tự nhiên, dân số
3.1.2 Tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội
3.1.3 Sự thể hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị, đoàn thể xã hộitrên địa bàn phường Trà Cổ - TP Móng Cái
3.1.4 Các vấn đề xã hội và tình hình thực hiện chính sách xã hội, an ninh xã hội trên địabàn phường
3.2 Tình hình nghèo trên địa bàn phường:
3.2.1 Số lượng thống kê và những biểu hiện cơ bản của tình hình nghèo trên địa bàn phường3.2.2 Nguyên nhân nghèo trên địa bàn phường
3.2.3 Một số trường hợp hộ nghèo trên địa bàn phường
3.3 Công tác giảm nghèo trên địa bàn thị trấn
Trang 33.3.1 Các chương trình và hoạt động trợ giúp người nghèo, thực hiện giảm nghèo trên địa bàn phường.
3.3.2 Kết quả đạt được của công tác giảm nghèo trên địa bàn phường
3.3.3 Hạn chế của công tác giảm nghèo trên địa bàn phường
3.3.4 Định hướng giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn phường
IV VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG XÂY DỰNG DỰ
ÁN GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG.
4.1 Cơ sở lựa chọn, xây dựng dự án giảm nghèo trên địa bàn phường.
4.2.5 Thuận lợi, khó khăn xây dựng và thực hiện dự án
4.2.6 Dự toán kinh phí chi tiết của dự án
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu Những năm gần đây, nhờnhững chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã có những bướcchuyển mình rất quan trọng Đặc biệt là vào năm 2010 đến nay Đảng và nhà nước ta đãcoi công tác xóa đói giảm nghèo là một trong trững nhiệm vụ quan trọng hành đầu Cácchương trình hỗ trợ giảm nghèo như chương trình 135,167…của Đảng và Nhà nước từngbước được triển khai đến từng địa phương Những chương trình đó đã làm cho nền kinh
tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đại bộ phận đời sống nhân dân đã được nâng lên mộtcách rõ rệt Song, một bộ phận không nhỏ dân cư đặc biệt là dân cư ở vùng cao, vùngsâu, vùng xa đang chịu cảnh nghèo đói, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu
Trang 5của cuộc sống như ăn, ở, mặc, đi lại Chính vì vậy, sự phân hoá giàu nghèo ở nước tangày càng diễn ra mạnh mẽ Nó không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của những nước cónền kinh tế phát triển trên thế giới, mà đối với nước ta khi nền kinh tế đang có sự chuyểnmình thì vấn đề phân hoá giàu nghèo càng được chú trọng hàng đầu Để có thể hoànthành mục tiêu quốc gia là Xoá đói giảm nghèo thì trước tiên phải rút ngắn sự phân hoágiàu nghèo Đây không chỉ là nhiệm vụ của bộ máy lãnh đạo mà còn là nhiệm vụ củatoàn thể nhân dân Phải phát huy truyền thống tinh hoa văn hoá người Việt trong nhiệm
vụ xoá đói giảm nghèo
Trà Cổ là phường thuộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam.Phường Trà Cổ có diện tích 1390,62 ha, giáp với phường Hải Xuân và Bình Ngọc Trà
Cổ có bãi biển nước cạn dài đến 17 km nên thu hút nhiều khách du lịch đến tắm biển.Đây được đánh giá là một trong những bãi biển đẹp nhất ở miền Bắc Việt Nam, tuynhiên cơ sở hạ tầng còn chưa phát triển Dân số khoảng 4392 người, chủ yếu sống bằngnghề dịch vụ, đánh cá và nuôi trồng thuỷ sản Do số hộ nghèo trên địa bàn phường cònkhá cao nên công tác giảm nghèo của Đảng và Nhà nước cùng với sự quan tâm của lãnhđạo các cấp và địa phương đã thực hiện nhiều chính sách giảm nghèo và đã đạt đượcnhững hiệu quả nhất định, góp phần giảm đáng kể số hộ nghèo toàn thị trấn, đời sốngnhân dân được cải thiện Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó
khăn, hạn chế Nhằm góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”
Xuất phát từ những lí do trên và qua tìm hiểu thực tế về các chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về công tác Xoá đói giảm nghèo ở địa phương Kết hợp với việcnghiên cứu các số liệu về thu nhập, việc làm, đời sống vật chất, tinh thần của hộ nghèonói riêng và của nhân dân trong xã nói chung
Trang 62 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại phường Trà Cổ,
đề tài đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về thực trạngnghèo đói xóa đói giảm nghèo ở địa phương, góp phần thực hiện mục tiêu giảm tỉ lệ đóinghèo xuống mức thấp nhất trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ của đề tài
Tìm hiểu về thực trạng đói nghèo và xóa đói giảm nghèo, đưa ra những nguyênnhân dẫn đến đói nghèo Bước đầu có những kiến nghị về các giải pháp chủ yếu nhằmgóp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại địa phươngtrong thời gian tới
3 Đối thượng, địa bàn thực hiện:
- Đối tượng: Đề tài hướng đến đối tượng là thực trạng nghèo và công tác giảmnghèo ở phường Trà Cổ
- Địa bàn thực hiện: phường Trà Cổ - TP Móng Cái – Tỉnh Quảng Ninh
Trang 7NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG:
1.1 Khái niệm cộng đồng, phát triển và phát triển cộng đồng.
Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin, có vấn đề, có nhu cầu thành cộng đồng tự lực và giải quyết các vấn đề đặt ra thông qua việc giáo dục giúp đỡ các thành viên trong cộng đồng, nhận thức rõ tình hình, vấn
đề hiện tại của họ, phát huy hết khả năng và tài nguyên sẵn có của họ
Phát triển cộng đồng là một tiến trình qua đó có sự nỗ lực của chính dân cư trongcộng đồng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội,văn hóa của cộng đồng và để cộng đồng có điều kiện hội nhập và tham gia tích cực vàođời sống của toàn xã hội Thực chất của phương pháp tổ chức và phát triển cộng đồng làngười làm CTXH sử dụng kiến thức, kỹ năng, xây dựng, thực hiện chương trình, dự án dựatrên sự huy động nguồn lực bên trong cộng đồng (nội lực) kết hợp với nguồn lực của xã hội,
có sự tham gia của nhà nước hoặc các nguồn hỗ trợ từ bên ngoài (tổ chức phi chính phủ, tổchức xã hội), để cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, tăng cường khả năng tự lựccủa cộng đồng trong việc giải quyết vấn đề của mình
Đối tượng tác động của phương pháp này là cộng đồng người, sinh sống trên mộtđịa bàn dân cư có những đặc điểm chung cơ bản về kinh tế, xã hội và văn hóa, có vấn đềhoặc nhu cầu xã hội Mục đích của CTXH với cộng đồng là thông qua việc nhận diện vấn
đề của cộng đồng, đánh giá các nguồn lực, khai thác và phát huy tiềm năng của cộngđồng, từ đó tổ chức hoạt động, thực thi những chương trình hành động mang lại nhữngchuyển biến tích cực cho cộng đồng: từ chỗ khó khăn, kém phát triển trở thành cộngđồng tiến bộ, ổn định, phát triển
Quá trình ứng dụng phương pháp CTXH tác nghiệp với cộng đồng, người làmCTXH tổ chức và phát triển cộng đồng cùng với cộng đồng xác định vấn đề gặp phải,phân tích tìm ra nguyên nhân của những trở ngại khó khăn ảnh hưởng tới sự phát triểncủa cộng đồng và tạo ra mối quan hệ, liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng, giữacộng đồng với các cơ quan chức năng, tổ chức, thông qua các chương trình, dự án hoạtđộng làm thay đổi, chuyển biến tích cực cộng đồng: từ yếu, kém, có vấn đề, có nhu cầutrở thành cộng đồng thức tỉnh, lên khá và phát triển - cộng đồng tự lực
1.2 Nguyên tắc tác nghiệp của phương phát phát triển cộng đồng.
Đối tượng tác nghiệp của phương pháp tổ chức và phát triển cộng đồng làcộng đồng có nhu cầu, có vấn đề; với đặc thù cộng đồng là một thành tố của cấutrúc xã hội, được xác định dựa trên những tiêu chí nhất định, thường được hiểukhái quát là một tập hợp dân cư sinh sống trên cùng một địa bàn, do đó phải cónhững nguyên tắc tác nghiệp phù hợp Cùng với những nguyên tắc chung, trởthành những nguyên tắc cụ thể như: khẳng định và coi trọng đặc điểm riêng củacộng đồng; tôn trọng quyền tự quyết, tự chịu trách nhiệm của cộng đồng; cộngđồng vừa là đối tượng tác động, vừa là nguồn lực và lực lượng chủ yếu giải quyếtvấn đề, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng… còn có những nguyên tắc đặc thù
+ Các hoạt động phát triển cộng đồng phải dựa trên nhu cầu thiết yếu của cộngđồng Tác viên phát triển cộng đồng không làm thay, áp đặt chương trình phát triển từtrên hoặc từ bên ngoài vào mà phải được xuất phát từ bên trong cộng đồng Đây là
Trang 8nguyên tắc quan trọng hàng đầu, quyết định đến động lực, sự tham gia - điều kiện thànhcông của chương trình/dự án phát triển cộng đồng.
+ Phát triển cộng đồng phải dựa trên cơ sở và hướng tới thực hiện công bằng, bìnhđẳng, dân chủ Nguyên tắc này đòi hỏi công bằng, bình đẳng, dân chủ về thông tin, vềquyền tham gia, về mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng với lợi ích cá nhân và về hưởngthành quả từ trước, trong và sau quá trình triển khai thực hiện chương trình/dự án pháttriển cộng đồng
+ Khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực cho chương trình/dự án phát triểncộng đồng Các nguồn lực phát triển cộng đồng bao gồm nguồn lực vật chất và nguồn lựctinh thần, nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài Nguồn lực bên trong cộng đồngcần khai thác, phát huy như sức mạnh từ tinh thần cộng đồng, đoàn kết cộng đồng, vănhóa cộng đồng, cố kết cộng đồng, kinh nghiệm cộng đồng, cá nhân có uy tín trong cộngđồng Nguồn lực bên ngoài có thể là nguồn lực tài chính, khoa học – kỹ thuật, chínhsách và đặc biệt là vai trò của tác viên phát triển cộng đồng
+ Giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu chung và chú trọng những ưu tiên Chươngtrình/dự án phát triển cộng đồng, bên cạnh việc quan tâm đến nhu cầu chung của cộngđồng cũng cần chú trọng đến những đối tượng ưu tiên như người nghèo, người yếu thế,thiệt thòi, trình độ thấp
+ Các hoạt động phát triển cộng đồng là một tiến trình có sự hợp tác và sự liên kếtchặt chẽ: bắt đầu từ những hoạt động nhỏ để đạt được những thành công nhỏ Các hoạtđộng phát triển cộng đồng là một tiến trình có sự hợp tác và sự liên kết, nó đòi hỏi pháttriển phải được coi như là một tiến trình, trong đó có các bước đi thích hợp từ thấp đếncao, từ chỗ nhận diện, đánh giá nhu cầu đến những hành động dựa trên việc khai thác, sửdụng, phát huy nguồn lực, chuyển biến cộng đồng ở tình trạng yếu kém, chưa thức tỉnhtiến lên cộng đồng thức tỉnh, tự lực và phát triển Trong toàn bộ tiến trình, sự chia sẻ vềkinh nghiệm, chia sẻ về phương pháp, kĩ thuật và các sáng kiến từ đó có thể tránh đượcnhững mâu thuẫn, những xung đột xảy ra làm tổn hại đến sự phát triển cộng đồng là hếtsức quan trọng
+ Có niềm tin vào sức mạnh của cộng đồng Khuyến khích người dân phát huy khảnăng, tiềm năng của họ để cùng thảo luận, ra quyết định và thực hiện hành động trong cácchương trình hành động giải quyết vấn đề, phát triển cộng đồng Niềm tin và sự khích lệ
sẽ tạo ra những sự thay đổi trong cộng đồng, từ cộng đồng
1.3 Tiến trình phát triển cộng đồng:
Tiến trình PTCĐ là quá trình bao gồm các bước hoạt động thể hiện sự tương tácgiữa tác viên phát triển cộng đồng với một cộng đồng cụ thể nhằm đạt được mục đích vàcác mục tiêu đặt ra Thực chất tiến trình phát triển cộng đồng là quy trình thực hiện cácbước trước, trong và sau của một chương trình, dự án hoạt động đối với một cộng đồng.Tiến trình này bắt đầu từ lựa chọn, tiếp cận, nhận diện vấn đề, đánh giá nhu cầu, tiềmnăng, những điều kiện thuận lợi, khó khăn của một cộng đồng đến việc thiết kế/xây dựng,thực hiện chương trình, dự án phát triển cộng đồng và những hoạt động phát triển sauchương trình, dự án
Khái quát tiến trình phát triển cộng đồng được thực hiện qua bốn giai đoạn
+ Giai đoạn 1: Cộng đồng kém phát triển – có vấn đề hoặc gặp những trở ngại
trong tổ chức đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội
Trang 9+ Giai đoạn 2: Cộng đồng thức tỉnh Những người dân trong cộng đồng không
hiểu ngay chính họ và cuộc sống của họ nên việc thức tỉnh cộng đồng giúp người dântrong cộng đồng hiểu về chính mình thông qua các hoạt động trao đổi, thảo luận, điều travấn đề khó khăn và nhu cầu của họ từ đó xác định những nhu cầu ưu tiên, xây dựng các
dự án để giải quyết là việc làm cần thiết
+ Giai đoạn 3: Cộng đồng tăng năng lực Khi cộng đồng đã thức tỉnh cần tăng
cường cho họ về nhận biết các nguồn lực vốn có, những khả năng tiềm năng của họ nângcao năng lực trong khai thác và sử dụng, nguồn lực này, đồng thời hỗ trợ thêm các nguồnlực từ bên ngoài (vốn, kiến thức, năng lực tổ chức thực hiện…) để các hoạt động thựchiện có hiệu quả
+ Giai đoạn 4: Cộng đồng tự lực Thông qua sự tăng trưởng về nhiều mặt cộng
đồng phải có khả năng tự lực, mục đích cuối cùng không phảu là giải quyết huyết mọikhó khăn mà mỗi khi gặp khó khăn thì cộng đồng phải tự biết huy động tài nguyên bêntrong và bên ngoài, mỗi lần như vậy cộng đồng sẽ tăng trưởng và tự lực hơn trong việcgiải quyết các vấn đề của mình
1.5 Dự án/chương trình phát triển cộng đồng:
- Khái niệm dự án phát triển cộng đồng
Dự án phát triển cộng đồng là một loại dự án phát triển nhằm giải quyết một haymột số vấn đề của cộng đồng với sự tham gia tích cực của nhiều lực lượng xã hội, thểhiện bằng một kế hoạch can thiệp, hỗ trợ hay một chương trình hành động được xác địnhbởi một khung thời gian, nguồn nhân lực, tài chính và quản lý
Dự án phát triển cộng đồng là dự án hướng trực tiếp vào cộng đồng nhằm mụcđích giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển toàn diệncủa cộng đồng thông qua việc nâng cao năng lực của người dân và các tổ chức trong dânchúng
Như vậy, dự án phát triển cộng đồng phải hướng vào những mục tiêu phát triển cụthể, nó không phải là một dự án cứu trợ hay giải quyết tình huống khẩn cấp, tạm thời,trước mắt, nó được thực hiện có sự phối hợp của nhiều nguồn lực, lực lượng và đối tượngcủa dự án là tạo ra sự thay đổi tích cực tại cộng đồng, từ bên trong cộng đồng
- Quy trình thiết kế, thực hiện dự án phát triển cộng đồng
+ Thiết kế dự án: Bao gồm các khâu từ nhận diện cộng đồng, xác định nhu cầu,
xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, đánh giá nguồn lực, thuận lợi, khó khăn chođến việc hoạch định các hoạt động
+ Triển khai dự án: Là quá trình triển khai các hoạt động đã được hoạch định – lên
kế hoạch, bao gồm các hoạt động phối hợp, hoạt động giám sát và hoạt động quản lý
+ Đánh giá dự án: Là quá trình gồm các hoạt động đánh giá mức độ đạt được trên
cơ sở đối chiếu với mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể đã đề ra, tương ứng với chúng là
hệ thống các hoạt động, các nguồn lực đã được sử dụng và triển khai
II TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO VÀ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC TA:
2.1 Khái niệm nghèo, chuẩn nghèo ở nước ta hiện nay:
Trang 10- Khái niệm nghèo:
Tại hội nghị về xóa đói giảm nghèo ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương doESCAP tổ chức vào tháng 9 năm 1993 ở Bangkok - Thái Lan đã đưa ra khái niệm nghèonhư sau: “ Nghèo khổ là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thõa mãnnhững nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ pháttriển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy đã được
xã hội thừa nhận”
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạchnăm 1995 đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: “ Người nghèo là tất cả những ai mà cóthu nhập dưới một đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ muanhững sản phẩm thiết yếu để tồn tại” Tuy nhiên quan điểm này không nhận được sựđồng thuận của nhiều quốc gia do chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người của mỗiquốc gia là không thống nhất Quan niệm như vậy sẽ dẫn đến sự phân biệt quá lớn về tìnhtrạng nghèo của mỗi quốc gia đặc biệt là những quốc gia phát triển so với những quốc giakhông phát triển
Ngân hàng thế giới đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏiphạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập màcòn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khảnăng dễ bị tổn thương, quyền phát ngôn và quyền lực
Ở Việt Nam, trước năm 1995, khái niệm nghèo được khái quát: Nghèo là tìnhtrạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thõa mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơbản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trênmọi phương diện Hiện nay, đói nghèo được định nghĩa là tình trạng một bộ phận dân cưtrong cộng đồng, xã hội, biểu hiện cụ thể là những cá nhân, hộ gia đình không được đảmbảo, thoả mãn những nhu cầu thiết yếu, cơ bản cho cuộc sống, trước hết là nhu cầu về đờisống vật chất của con người được xác định theo tiêu chí đánh giá tại thời điểm nhất định
và gặp khó khăn, trở ngại trong việc tiếp cận điều kiện để vươn lên thoát cảnh đói nghèo
Theo Tổ chức Nông Lương Liêp Hợp quốc (FAO), Ngân hàng Thế giới (WB) vàChương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) thì nghèo được phân thành hai cấp độ:nghèo tương đối – nghèo và nghèo tuyệt đối – nghèo đói/nghèo khổ
+ Nghèo tương đối là tình trạng cá nhân, hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu
cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồngxét trên mọi phương diện (Tiêu chuẩn của Liên hợp quốc đưa ra, hiện đang sử dụng làngười có thu nhập bình quân dưới 2USD/1người/1ngày)
+ Nghèo tuyệt đối – nghèo khổ là tình trạng cá nhân, hộ gia đình có mức sống dưới
mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống tối thiểu, nói cáchkhác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thường xuyên thiếu ăn, đứt bữa, sống khổ cựcthiếu thốn, phải lo chạy ăn bữa, vay nợ và thiếu khả năng trả nợ (Tiêu chuẩn của LHQđưa ra là người có thu nhập bình quân dưới 1USD/1ngày)
Có thể với cộng đồng này thì nhóm người này (bộ phận dân cư này) là nghèonhưng cũng nhóm người ấy so sánh với cộng đồng dân cư hay bộ phận dân cư nghèo củacộng đồng dân cư khác thì lại có mức sống, điều kiện sống cao hơn Như vậy, nghèotuyệt đối là hệ quả trực tiếp của thu nhập thấp và các điều kiện sống khác như môitrường, điều kiện sản xuất, kinh doanh, canh tác, y tế, giáo dục, kết cấu hạ tầng cơ sở,
Trang 11mạng lưới thông tin thấp, còn nghèo tương đối là việc so sánh mức thu nhập, mức sống,điều kiện sống giữa các nhóm dân cư trong một cộng đồng dân cư xác định hoặc giữa cáccộng đồng dân cư với nhau Theo sự vận động, phát triển – chuyển biến và cải tiến khôngngừng của kinh tế – xã hội, đặc biệt là của quá trình sản xuất, tính chất sở hữu và phươngthức phân phối thu nhập thì tình trạng nghèo tuyệt đối sẽ có xu hướng giảm dần, songtình trạng nghèo tương đối sẽ có những khoảng cách và tồn tại lâu dài do tương quangiữa các nhóm dân cư, cộng đồng xã hội khác nhau.
- Chuẩn nghèo ở nước ta hiện nay.
Ở Việt Nam trong mỗi giai đoạn khác nhau thì có những quy định khác nhau vềchuẩn nghèo phụ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế mỗi giai đoạn
+ Giai đoạn 1993 - 1995: hộ nghèo bình quân thu nhập đầu người quy gạo/thángdưới 13kg đối với thành thị và dưới 8kg đối với khu vực nông thôn
+ Giai đoạn 1995 - 1997: Hộ nghèo là hộ có thu nhập: Vùng nông thôn, miền núi,hải đảo dưới 15kg/ người/ tháng; Vùng nông thôn đồng bằng, trung du dưới 20kg/ người/tháng; Vùng thành thị dưới 25kg/ người/ tháng;
+ Giai đoạn 1997 - 2000 (Theo công văn số 175/LĐTBXH): Hộ nghèo là hộ cóthu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn, miền núi,hải đảo: dưới 15kg/ người/ tháng (tương đương 55000 đồng); Vùng nông thôn đồng bằngtrung du: dưới 20kg/ người/ tháng (tương đương 70000 đồng); Vùng thành thị: dưới25kg/ người/ tháng (tương đương 55000 đồng)
+ Giai đoạn 2001 - 2005 (Theo quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH): Chuẩn
hộ nghèo được phân ra làm 3 mức theo 3 khu vực: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo là80.000 đồng/ người/ tháng; Vùng nông thôn đồng bằng là 100.000 đồng/ người/ tháng;Vùng thành thị là 150.000 đồng/ người/ tháng
+ Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 2010, Theo quyết định số 170/2005/QĐ - TTgcủa Thủ tướng Chính phủ: Vùng thành thị là 260.000 đồng/ người/ tháng; Vùng nôngthôn là 200.000 đồng/ người/ tháng;
+ Giai đoạn 2010 - 2015 theo đề xuất ban hành chuẩn nghèo mới của Bộ Lao độngThương binh và Xã hội: Vùng thành thị là 450.000 đồng/ người/ tháng; Vùng nông thôn
là 350.000 đồng/ người/ tháng Chuẩn nghèo mới được áp dụng cho giai đoạn 2011 –
2015 theo Chỉ thị số 1752, ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ, ở khu vực nôngthôn, những hộ có thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng là hộ nghèo, ở khuvực thành thị là 500.000đồng/người/tháng
Chỉ thị này cũng đề ra chuẩn xác định các hộ cận nghèo là những hộ có mức thunhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000đồng/người/tháng (khu vực nông thôn) và
từ 501.000 đồng đến 650.000đồng/người/tháng (khu vực thành thị)
Việc xác định chuẩn nghèo có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định đốitượng cần có sự giúp đỡ để vươn lên cải thiện cuộc sống, đạt mức sống bằng mức sốngtrung bình của xã hội nhằm đảm bảo công bằng xã hội
2.2 Nguyên nhân nghèo và chân dung hộ gia đình nghèo ở nước ta.
- Nguyên nhân nghèo ở nước ta.
Trang 12Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói và mỗi hộ gia đình nghèođói có những đặc thù về gia cảnh, về lý do khác biệt nhất định, xong có thể khái quát ởhai nguyên nhân – yếu tố tác động: khách quan và chủ quan Việc phân biệt nguyên nhânkhách quan và nguyên nhân chủ quan là dựa trên việc xác định hộ gia đình là trung tâm,
là chủ thể của sự tác động
Xét trên bình diện vĩ mô, khu vực, quốc gia, lãnh thổ, vùng miền, địa hạt hànhchính thì sự phân định này chỉ có ý nghĩa tương đối, trên thực tế chúng đan xen vào nhau,
có những yếu tố tác động vừa là yếu tố khách quan, vừa được xem là nhân tố chủ quan
Vì vậy, ở tầm vĩ mô và khách quan trong mối quan hệ với hộ gia đình thì nguyên nhâncủa nghèo đói thường được xác định là do sự suy giảm môi trường - thiên tai, cạn kiệtnguồn tài nguyên thiên nhiên; do bùng nổ dân số - tốc độ gia tăng quá nhanh, quy mô cao
mà không kiểm soát được dẫn đến tình trạng quá đông hay sự quá tải về dân số; do chiếntranh và dịch bệnh; do lợi thế so sánh để phát triển kinh tế thấp, các quy định thương mạiquốc tế không công bằng, tụt hậu về khoa học – kỹ thuật – công nghệ và về giáo dục; dođường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội không phù hợp, kém hiệuquả, năng lực quản lý yếu kém, thất thoát do tham nhũng, lãng phí cao; bất bình đẳng giới
về sự tham gia hoạt động kinh tế - xã hội, tạo cơ hội vươn lên và các lĩnh vực khác.Xemxét những tác động, chi phối ở tầm vi mô cùng với yếu tố chủ quan của từng cá nhân conngười và hộ gia đình thì nguyên nhân của nghèo đói rất đa dạng
Ở nước ta, tình trạng nghèo đói của các hộ gia đình được xác định là do cácnguyên nhân khách quan, chủ quan, tác động vĩ mô và vi mô chủ yếu sau: Thiếu hoặckhông đáp ứng yêu cầu về vốn và tư liệu sản xuất, đặc biệt là thiếu ruộng đất canh táchoặc đất đai, đồi núi, sông suối, đầm phá phục vụ cho sản xuất quá khó khăn ở các vùngnông thôn (bạc màu, cằn cỗi, hoang hóa, hiểm trở, ô nhiễm, thường xuyên bị thiên tai ),thất nghiệp thường xuyên, không có vốn hoặc không đảm bảo sức khỏe để có việc làm,thu nhập ở thành thị; Thiếu kinh nghiệm, thiếu trình độ tay nghề, tổ chức sản xuất, khôngđược đào tạo, trình độ học vấn thấp, yếu kém về nhận thức, hiểu biết và tay nghề, chưađược hoặc tiếp cận ít với khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất, kinhdoanh ; Gia đình đông con, nhiều nhân khẩu, ít lao động hoặc thừa lao động, thiếu việclàm - cái vòng luẩn quẩn của nghèo với nhận thức, với sức khỏe và với việc sinh đẻkhông có kế hoạch; Rủi ro thiên tai, lũ lụt, bão tố, mất mùa, dịch bệnh, tai nạn thươngtích, làm ăn, kinh doanh thất bát, thua lỗ, phá sản ; Lười lao động, ăn chơi, đua đòi, chitiêu lãng phí, vượt quá khả năng (thu nhập) hoặc sa vào các tệ nạn xã hội (nghiện hút,rượu chè bê tha, cờ bạc, lô đề ); Ốm đau, bệnh tật hoặc do tàn tật bởi chiến tranh, tainạn, ảnh hưởng chất độc hại; Bị chèn ép, bị tước đoạt các cơ hội, điều kiện làm ăn bởingười khác; Chưa được tiếp cận cơ chế, chính sách phù hợp hoặc chưa được tiếp nhận vàtiếp nhận, ứng dụng chưa hiệu quả các nguồn lực trợ giúp từ bên ngoài
- Chân dung hộ gia đình nghèo ở nước ta.
Từ khái niệm và những tiêu chí xác định hộ gia đình nghèo, chúng ta đã có thểnhận diện và phác họa “chân dung” về người nghèo, hộ gia đình nghèo đói ở nước ta trêncác khía cạnh cụ thể: nhân khẩu, lao động - năng lực kinh tế, thu nhập, tài sản, đời sốngvật chất, tinh thần, chăm sóc sức khỏe và giáo dục
+ Về nhân khẩu, lao động – năng lực kinh tế: Đa số hộ gia đình nghèo thường gắn
với tình trạng đông nhân khẩu nhưng sức lao động thấp (trẻ em, người già, thiếu lao động,sức khỏe kém và trình độ, năng lực lao động không cao…) Do đó, phần lớn các hộ gia
Trang 13đình nghèo rơi vào tình trạng của cái vòng luẩn quẩn giữa số lượng nhân khẩu với năng lựclao động sản xuất khiến cho khả năng tự lực thoát cảnh nghèo là rất mong manh.
+ Về thu nhập: Thu nhập của các hộ gia đình nghèo rất thấp, bấp bênh, không ổn
định và chủ yếu là từ hoạt động lao động chân tay
+ Về tài sản: Theo quan niệm truyền thống, tài sản của mỗi gia đình là nhà cửa
(đất đai, ruộng vườn) và các phương tiện phục vụ đời sống sinh hoạt, sản xuất làm ăn.Trong hầu hết các hộ gia đình nghèo ở nước ta, những tài sản đó có giá trị rất thấp (không
có tài sản đáng giá), nhà cửa lụp xụp, dột nát, tạm bợ, thiếu thốn phương tiện, tư liệu sảnxuất, đồ đạc phục vụ sinh hoạt cũ kỹ, đơn sơ Xe máy, xe đạp, tivi, tủ lạnh, đầu máyvideo/ VCD/DVD, điện thoại, quạt điện, điều hòa, giường, tủ, bàn ghế và các phươngtiện/tư liệu/công cụ sản xuất như máy bơm nước, máy tuốt lúa, máy gặt, máy làm đất lànhững cái cụ thể để so sánh tài sản giữa các hộ gia đình trong cộng đồng xã hội
+ Về đời sống vật chất, tinh thần và chăm sóc sức khỏe: Đối với các hộ gia đình
nghèo, việc đáp ứng nhu cầu vật chất như ăn, mặc, ở còn chưa đủ, luôn gặp khó khănthiếu thốn, do đó đời sống tinh thần rất hạn chế, hầu như không có hoặc rất ít cơ hội đượctiếp cận và thụ hưởng giá trị tinh thần, vui chơi, giải trí trong đời sống cộng đồng xã hội.Người nghèo thường khó có điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, ít có kiếnthức về dự phòng, bảo vệ sức khỏe, khi ốm đau, bệnh tật không có hoặc không đủ thuốcmen và đến khám chữa bệnh tại cơ sở y tế
2.3 Những khó khăn trong cuộc sống của người nghèo.
- Không có điều kiện để đi chưa bệnh
- Không cho con cái theo học lên lớp cao
- Ăn uống phải hà tiện, không giám đi chơi với bạn bè, người thân.
- Tư tưởng lúc nào cũng lo nghĩ, âu sầu có cảm giác người giàu không tôn trọng mình.
- Thường xuyên xa lãnh mọi người…
2.4 Thực trạng nghèo ở nước ta:
Việt Nam đi lên xây dựng CNXH từ một nước có nền kinh tế lạc hậu, kém pháttriển, bị chiến tranh kéo dài, tàn phá nặng nề và hậu quả để lại rất lớn, phải mất nhiều thờigian mới khôi phục và hàn gắn được Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực của toàn dântộc, đặc biệt từ khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, cả đất nước đã không ngừngphấn đấu, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và từng bước vươn lên mạnh mẽ, thuđược những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Kinh tế tăng trưởng khá cao liên tục(giai đoạn 1986 – 2005 đạt bình quân khoảng 7%, năm 2006 đạt 8,04%, năm 2007 là8,5%, năm 2008 khi kinh thế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng thì tăngtrưởng kinh tế Việt Nam vẫn đạt 6,23% và năm 2009 tăng 5,32%); Mặt bằng xã hội nóichung và đời sống nhân dân khồng ngừng được cải thiện
Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam vẫn là một nước nằm trong nhóm những nướcnghèo (có khả năng ra khỏi nhóm này vào năm 2009) và là nước đang phát triển trên thếgiới Hai trong những biểu hiện rõ nét của tình trạng nước nghèo là: (1)thu nhập bìnhquân đầu người ở nước ta còn rất thấp trong khu vực và thế giới (năm 2009 khoảng