1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

GT kỹ thuật nuôi giun quế

59 341 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 48,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: KỸ THUẬT NUÔI GIUN QUẾBÀI 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GIUN QUẾ Giun quế thuộc nhóm giun ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy, trong

Trang 1

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TỈNH QUẢNG TRỊ

-o0o -TÀI LIỆU ĐÀO TẠO NGHỀ

KỸ THUẬT NUÔI GIUN QUẾ

(Dùng cho trình độ dưới 3 tháng )

Đơn vị biên tập:

Trường Trung học Nông nghiệp và PTNT Quảng Trị

Năm 2013

Trang 2

PHẦN I: KỸ THUẬT NUÔI GIUN QUẾ

BÀI 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GIUN QUẾ

Giun quế thuộc nhóm giun ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy, trong tự nhiên ít tồn tại với phần thể lớn và không có khả năng cải tạo đất trực tiếp như một số loài giun địa phương sống trong đất

Giun quế là một trong những giống giun đã được thuần hóa, nhập nội và đưa vào nuôi công nghiệp với các quy mô vừa và nhỏ Đây là loài giun mắn đẻ, xuất hiện rải rác ở vùng nhiệt đới, dễ bắt bằng tay, vì vậy rất dễ thu hoạch

Hàm lượng Protêin trong giun cao, khoảng 60 – 65 % VCK; Protein của giun đất

có mặt đầy đủ các acid amin thiết yếu, việc sử dụng giun đất làm thức ăn bổ sung chất đạm cho vật nuôi sẽ tăng trọng nhanh và nâng cao được sức đề kháng

1 Đặc tính sinh học

Giun quế có kích thước tương đối nhỏ, độ dài vào khoảng 10 - 15 cm, thân hơi dẹt, bề ngang của con trưởng thành có thể đạt 0,1 - 0,2 cm, có màu từ đỏ đến màu mận chín (tùy theo tuổi), màu nhạt dần về phía bụng, hai đầu hơi nhọn Cơ thể trùn

có hình thon dài nối với nhau bởi nhiều đốt, trên mỗi đốt có một vành tơ

Giun quế nuốt thức ăn bằng môi ở lỗ miệng, lượng thức ăn mỗi ngày được nhiều nhà khoa học ghi nhận là tương đương với trọng lượng cơ thể của nó Sau khi qua hệ thống tiêu hóa với nhiều vi sinh vật cộng sinh, chúng thải ra phân ra ngoài rất giàu dinh dưỡng, những vi sinh vật cộng sinh có ích trong hệ thống tiêu hóa này theo phân ra khỏi cơ thể nhưng vẫn còn hoạt động ở “màng dinh dưỡng” một thời gian dài Đây là một trong những nguyên nhân làm cho phân trùn có hàm lượng dinh dưỡng cao và có hiệu quả cải tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên

2 Đặc tính sinh lý

Giun quế rất nhạy cảm, chúng phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và biên độ nhiệt cao, độ mặn và điều kiện khô hạn Nhiệt độ thích hợp nhất với giun quế nằm trong khoảng từ 20 - 30 0C, ở nhiệt độ khoảng 30 0C và độ ẩm thích hợp, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh Ở nhiệt độ quá thấp, chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết; hoặc khi nhiệt độ của luống nuôi lên quá cao cũng bỏ đi hoặc chết Chúng

có thể chết khi điều kiện khô và nhiều ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại trong môi trường nước có thổi Oxy

Giun quế quế rất thích sống trong môi trường ẩm ướt và có độ pH ổn định từ 4 –

9, thích hợp nhất vào khoảng 7.0 - 7.5, pH quá thấp chúng sẽ bỏ đi

Giun quế thích nghi với phổ thức ăn khá rộng, chúng ăn bất kỳ chất thải hữu cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia súc, gia cầm…)

Trang 3

Tuy nhiên, những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao sẽ hấp dẫn chúng hơn, giúp cho chúng sinh trưởng và sinh sản tốt hơn.

Trong tự nhiên, giun quế thích sống nơi ẩm thấp, gần cống rãnh, hoặc nơi có nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy và thối rữa như trong các đống phân động vật, các đống rác hoai mục chúng rất ít hiện diện trên các đồng ruộng canh tác dù nơi đây có nhiều chất thải hữu cơ

3 Đặc điểm sinh sản và sinh trưởng

3.1 Đặc điểm sinh sản:

Giun quế thành thục sớm 3- 4 tháng bắt đầu đẻ, cứ khoảng cách 7 - 10 ngày giun giao phối và đẻ 1 kén chứa 1 - 20 trứng, 14 - 20 ngày kén nở ra giun con; tái sinh nhanh (3 - 4 thế hệ/năm )

3.2 Đặc điểm sinh trưởng:

Quá trình sinh trưởng của giun là quá trình tăng số lượng đốt thân và tăng tiết diện đốt thân Từ lúc mới nở cho đến khi xuất hiện đai sinh dục, giun tăng trưởng nhanh Thời gian sau giai đoạn sinh sản giun tăng trưởng chậm lại Giun đạt kích thước tối đa (trưởng thành) lúc 6 - 8 tháng tuổi

Sự già đi của giun biểu hiện ở đặc điểm đai sinh dục ngày càng thoái hóa, trọng lượng giảm sút và chết Tuổi thọ của giun biến động trong 4-8 năm tuổi

Trong điều kiện nuôi nhân tạo, việc giao phối diễn ra quanh năm, vì vậy việc

cho sinh khối đặc biệt cao Nuôi đúng kỹ thuật năng suất có thể đạt 1,5- 2 kg giun

tươi/m2/tháng hay 180 - 240 tấn giun tươi/ha/năm, và lượng phân giun thải ra tương đương 500 - 600 tấn/ ha/ năm

Bài 2: TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NUÔI GIUN QUẾ

I Vai trò lợi ích từ giun quế

1 Bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp sinh thái

Giun có sức tiêu hóa lớn Tác dụng phân giải hữu cơ của giun chi đứng sau các vi sinh vật, Một tấn giun có thể tiêu hủy được 70 – 80 tấn rác hữu cơ, hoặc 50 tấn phân gia súc trong một quý Tất cả các loại phân của gia súc, gia cầm; rơm rạ, thân cây lạc, dây khoai lang ủ hoai mục; rác hữu cơ thối rữa, bùn cống rảnh; thức ăn tinh, vỏ củ quả bỏ đi đều có thể tận dụng trở thành thức ăn gián tiếp hoặc trực tiếp có giá trị đối với giun đất, qua hệ thống tiêu hoá của giun các loại phân, rác thải đều trở thành phân sạch

Giun sống trong đất sẽ làm tăng độ phì nhiêu của đất Phân giun góp phần làm giảm mức sử dụng phân hóa học, giúp cây trồng phát triển tốt, tăng khả năng chống sâu bệnh, giảm bớt việc sử dụng thuốc trừ sâu, nhờ đó bảo vệ được môi trường Với những khu vực ô nhiễm, nếu nuôi giun cũng làm sạch được môi trường nước Hơn nữa, giun đất có thể xử lý chất thải hữu cơ, phân gà, phân lợn, phân bò và chuyển

Trang 4

hóa phân bón hữu cơ có chất lượng cao, và bằng cách đó cải thiện môi trường sinh thái các vùng nông thôn

Phân giun còn có tác dụng như chất khử mùi, vì trong đó có chứa vi khuẩn háo khí, một lớp mỏng được đặt trên đống phân gia súc sẽ trung hoà được mùi vị hầu như ngay lập tức, vi khuẩn trong phân giun sẽ phân huỹ chất hữu cơ

2 Làm thức ăn bổ dưỡng cho gia súc, gia cầm, thủy sản

Giun là loài thức ăn giàu đạm, chất lượng cao để nuôi gia súc, gia cầm và thủy hải sản, đồng thời làm giảm chi phí thức ăn chăn nuôi

Với hàm lượng Protein thô chiếm 70% trọn lượng khô, hàm lượng đạm của giun tương đương với bột cá, thường được dung trong thức ăn chăn nuôi Giun còn hội đủ

12 loại Axit Amin, nhiều loại Vitamin, chất khoáng cần thiết cho gia súc, gia cầm và thủy sản Đặc biệt giun còn có các loại kích thích tố sinh trưởng tự nhiên mà trong bột cá không có Thức ăn chăn nuôi có bột giun sẽ không có mùi tanh và khét của cá

và dầu cá, hấp dẫn vật nuôi, lại bảo quản được lâu hơn thức ăn có dùng bột cá

Chỉ cần nuôi 10 m2 giun quế, sẽ cung cấp đủ thức ăn đạm cho 100 con gà , vịt hoặc 100 con cá trê phi

3 Là nguồn dược liệu quí

Y học cổ truyển của nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đã dùng giun đất để chữa các bệnh về huyết áp, tim mạch, thần kinh, kháng ung thư, hen suyễn, sốt rét, thấp khớp, đậu mùa, thương hàn, gẫy tay chân v v… Ngoài ra nó còn điều trị suy nhược thần kinh toàn diện, trí nhớ kém, ngủ kém, khứu giác bất thường

4 Làm thực phẩm cho người và sản xuất mỹ phẩm

Giun có hàm lượng Protein cao, giàu nguyên tố vi lượng tương tự thịt thỏ – là loại thịt giàu đạm, ít chất béo Trong giun có tới 8 loại Axit Amin cần thiết cho con người Hàm lượng Vitamin B1, B2 trong giun gấp 10 lần khô đậu tương, 14 lần bột

cá, cùng sự phong phú về Vitamin A, E, C và các vi lượng khoáng chất có lợi cho sức khỏe dinh dưỡng của con người

Giun cũng cung cấp nguyên vật liệu thô tốt nhất cho công nghiệp Một số Enzyme và hoạt chất được chiết xuất từ giun để làn thuốc, thức ăn, mỹ phẩm Hiện giun đang được quan tâm nghiên cứu sử dụng trong sản xuất mỹ phẩm

4 Phân giun quế là làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản và là loại phân hữu cơ vi sinh tốt nhất

Thức ăn chủ yếu của giun là phân trâu bò, ngựa, dê, cừu, thỏ, lợn, gà; phế thải, rau của quả, cây thân thảo và các loại rác hữu cơ hoai mục…; sau khi được giun tiêu hóa sẽ trở thành phân giun, có chứa một số Axit Amin như: Tyrosin, Arginin, Cystin, Methiomin, Histidin… thì phân giun có thể làm thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm, thủy sản

Trang 5

Phân giun chứa một hỗn hợp vi sinh có hoạt tính cao, dễ hòa tan trong nước, chứa hơn 50% chất mùn Do đó phân giun không chỉ kích thích tăng trưởng cây trồng, mà còn tăng khả năng cải tạo đất Hàm lượng N-P-K, Ca và các chất khoáng vi lượng trong phân giun, cao gấp 2-3 lần phân trâu bò, phân ngựa; gấp 1,5-2 lần phân lợn và phân dê Hơn nữa, phân giun không có mùi hôi thối như các loại phân gia súc, gia cầm, lại có thể để lưu giữ lâu ngày trong túi nilon mà không sợ bị mốc Phân giun làm giảm lượng axit cacbon trong đất và gia tăng nồng độ nitơ ở trạng thái cây trồng

có thể hấp thụ được

Phân giun có thể giúp chống sự xói mòn và tăng khả năng giữ nước trong đất Cây trồng khi bón phân giun sẽ không bị “cháy”, khống chế được các kim loại nặng xâm nhập cây gây đột biến làm phát sinh tế bào lại có hại, gây hoại tử rễ… Chất mùn trong phân giun loại trừ được những độc tố, nấm, và vi khuẩn có hại trong đất có thể ngăn ngừa các bệnh về rễ và đẩy lùi nhiều bệnh của cây trồng Phân giun có tác dụng điều hòa môi trường đất rất tốt, giúp cây phát triển ngay cả khi nồng độ pH trong đất quá cao hoặc thấp

Chỉ cần nuôi 10 m2 giun quế thì lượng phân giun thải ra đủ cung cấp cho 300 m2

chuyên canh sản xuất rau sạch Nếu nuôi cả 1 ha giun thì lượng phân thải ra cũng không phải là nhỏ (600 tấn/năm)

5 Những tác dụng khác của giun

- Giun là một sinh vật chỉ thị về môi trường thổ nhưỡng, có thể đánh giá được mức

độ ô nhiễm kim loại nặng và hóa chất độc hại của môi trường vùng đất mà giun sống

- Giun là một trong những loại mồi câu cá, bẫy chim

- Giun còn được sử dụng làm học cụ trong nhà trường, có thể tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, vừa rẻ tiền, thao tác dễ dàng, mà việc thu nhập bảo quả tiêu bẩn lại an toàn cho thầy giáo và học sinh

II Ý nghĩa kinh tế - xã hội đối với việc đưa giun quế vào nuôi ở nông hộ

- Nuôi giun là một nghề dễ thực hiện, vốn đầu tư nuôi ít, chi phí đầu tư không lớn, thức ăn để nuôi giun chủ yếu sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có như rác hữu cơ (rau, củ, hoa quả, vỏ trái cây loại bỏ, rơm rạ, các loại bã đã ép dầu…), phân trâu, bò,

dê, lợn, gà… rất dồi dào và rẻ tiền Nuôi giun ít bị bệnh, ít rủi ro, tốn ít công chăm sóc, kỹ thuật đơn giản, dễ làm, sớm có thu nhập Nếu sản xuất hàng hóa để bán thì có lợi nhuận đáng kể, mang lại giá trị cao

Giun sinh sản rất nhanh, nên chỉ cần đầu tư con giống một lần đầu tiên Từ 1

kg giun giống, sau 60 ngày nuôi có thể thu được 2 đến 3 kg giun Mỗi hộ chỉ cần nuôi khoảng 10m2 giun quế; Vừa tạo được một số lượng giun khá lớn để làm thức ăn cho gia cầm, vừa có phân để trồng hoa màu, tiết kiệm được một số tiền không nhỏ

- Giúp cho nông dân tiếp cận với một vật nuôi mới, có triển vọng; Vừa cung cấp nguồn protein tốt, góp phần giải quyết nguồn thức ăn giàu đạm, giảm giá thành -

Trang 6

nâng cao chất lượng sản phẩm; Vừa góp phần xử lý chất thải trong chăn nuôi Làm trong sạch và bảo vệ môi trường Đồng thời sản xuất ra một khối lượng lớn phân hữu cơ tốt nhất cho cây trồng, nhằm tạo ra sản phẩm sạch, an toàn và tươi ngon phục

vụ cho đời sống con người

- Phổ biến cho nông dân một nghành nghề mới, nâng cao ý thức của họ về bảo

vệ môi trường, góp phần tăng thu nhập cho người lao động

Bài 3: KỸ THUẬT NUÔI GIUN QUẾ

1 Các phương thức nuôi giun quế có thể áp dụng:

Mô hình nuôi giun quế ngoài trời

Mô hình nuôi giun quế trong nhà

1.1 Các phương thức nuôi giun

- Nuôi trong nhà, có kê thêm các tầng

- Nuôi bể có mái che

- Nuôi trong tự nhiên (ngoài trời), có mái che khi thời tiết khắc nghiệt

Trang 7

1.2 Các dụng cụ nuôi giun:

- Chum vại, chậu hoa, thùng gỗ

- Bao bì thức ăn gia súc, túi nilông có đường kính 0,8- 1m

- Hố nuôi giun xây bằng gạch

1.3 Một số yêu cầu đối với bể và nhà nuôi giun

- Bố trí tiện việc chăm sóc, nơi cao ráo không bị ngập lụt Bề dài hố nuôi giun tùy ý, bề rộng chỉ nên 1m

- Bề cao của hố nên 0,3 – 0,5 m

- Đáy bể có thể thoát được nước

- Miệng bể thoáng, tăng dưỡng khí, thoát hơi độc dễ dàng

- Có biện pháp chống kiến, chống chuột, gà, vật gây hại cho giun (có lưới bảo vệ), chống sự trốn thoát của giun

- Bể nuôi hay nhà giun cần có mái che, chống được mưa nắng, tạo bóng râm, tối để giun sinh sản, sinh trưởng phát triển tốt

2 Ảnh hưởng các yếu tố môi trường đối với giun quế

2.1 Nhiệt độ:

- Giun có thể sống trong phạm vi nhiệt độ từ 5 - 30 0C

- Dưới 100C giun rất ít hoạt động, dưới 50C giun ngủ đông, dưới 00C giun chết

- Từ 25 - 280C giun sinh sản, sinh trưởng tốt nhất

- Từ 28 -300C giun hạn chế sinh sản, sinh trưởng; Trên 320C giun ngừng sinh trưởng, trên 400C giun chết

2.2 Ẩm độ:

- Ẩm độ thích hợp cho giun từ 60 -70% (môi trường + thức ăn)

- Ẩm độ quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh sản (chậm lớn, chậm phát dục) và có thể làm giun chết hoặc rời chổ ở

2.3 Ánh sáng:

- Giun không có mắt, nhưng có tế bào cảm nhận ánh sáng

- Ánh sáng, tia nắng mặt trời có hại cho giun

- Giun thích ánh sáng mờ, trong bóng râm Khi cường độ ánh sáng gia tăng giun có phản ứng né tránh

2.4 Không khí:

- Giun thích hợp với môi trường nhiều dưỡng khí (oxy)

- Giun sống được nhiều ngày trong nước nhưng chết rất nhanh chóng trong nước nhiều bùn đất do thiếu oxy

- Giun sinh trưởng kém, tăng trưởng chậm, đôi khi có thể chết trong môi trường không khí có nhiều mùi thối (H2S), nhiều mùi khai (NH3), khí Mê tan (CH4 ), khí clo (Cl2) có trong nước máy

Trang 8

- Có thể xử lý với các chế phẩm EM, thời gian ủ sẽ ngắn hơn (10- 15 ngày).

- Trước khi đưa phân ủ vào làm chất nền nuôi giun, cần phải đảm bảo và làm tơi để thải hết khí độc có trong phân ủ

4 Thức ăn cho giun:

- Thức ăn cho giun phải mền và ướt

- Phân trâu, bò, dê, thỏ tươi

- Phân heo, gà cần phải hoai

- Có thể bổ sung 20% vỏ khoai, mỳ xay nhỏ hay 10% thức ăn tinh vào phân bò

- Các loại thức ăn mới nếu muốn thử nuôi giun, ta thử 1 ít và theo dõi, nếu thấy giun bám vào ăn mạnh, bình thường thì có thể sử dụng được

5 Kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc:

5.1 Đưa chất nền đã xử lý vào bể, dụng cụ nuôi (tối thiểu dày 10cm)

Trang 9

- Loại bỏ những giun yếu, bị tổn thương, chết

- Thường xuyên quan sát giun có chịu ở yên hay bò đi (gặp khi chất nền không phù hợp)

5.4 Phủ mặt luống, bể nuôi giun:

- Mục đích tạo bóng tối, giun có thể bò lên ăn cả ngày; chống rét nhất là khi nuôi ngoài trời

- Có thể dùng bao đay.rơm rạ để phủ mặt luống giúp trao đổi dưỡng khí, thải khí độc khác dễ dàng

- Không dùng bao đựng thức ăn gia súc, hoặc nylong, giấy…có thể hạn chế sự thông thoáng, và có thể làm tăng nhiệt độ môi trường nuôi giun

5.5 Giữ ẩm cho chất nền và thức ăn:

- Giữ ẩm cho chất nền là giữ độ ẩm cho mặt ngoài cơ thể giun, đảm bảo cho giun hô hấp tốt; Mặt khác, chất nền cũng là thức ăn cho giun

- Giữ ẩm cho thức ăn 60 -70 %, giun mới ăn được dễ dàng Muốn như vậy có thể tưới nước hàng ngày hoặc 1-2 ngày một lần tùy theo thời tiết, chú ý tưới bổ sung bằng xoa lên thức ăn vừa đủ ướt; hạn chế tưới khi trời rét; Nước tưới phải trung tính, nếu dùng nước máy hoặc nước giếng đóng thì nước phải được chứa trong xô 1 – vài ngày cho bay hết khí clo, mê tan

- Trường hợp nuôi giun ngoài trời, khi gặp trời mưa cần che mặt luống và thoát nước tốt; Luống cần vun cao để giun ngoi lên tránh bị ngập nước

5.6 Giữ nhiệt độ thích hợp cho môi trường nuôi giun:

- Nhiệt độ thích hợp cho giun là từ 20 – 30 0C

* Khi nhiệt độ cao cần có những biện pháp chống nóng:

+ Nếu thức ăn là phân tươi, cần giảm bớt lượng thức ăn, chỉ cần đủ cho giun

ăn trong vài ngày rồi cung cấp tiếp

+ Tăng tưới nước mát (nhớ thoát nước tốt)

+ Tạm thời gỡ bỏ lớp phủ mặt bể mặt luống nuôi Nếu nuôi ngoài trời thì cần làm mái che tạm

* Khi nhiệt độ xuống thấp, cần phải có biện pháp chống lạnh:

+ Tăng lượng phân tươi lên cho giun

+ Hạn chế nước tưới

+ Có tấm phủ, hoặc phủ rơm lên luống nuôi và che chắn gió

5.7 Cho giun ăn:

- Thả giun được 1 ngày mới bắt đầu cho giun ăn

- Thức ăn được rải từng đám hoặc theo luống; có thể cho ăn vài ngày – 1 tuần/lần;

- Cho ăn khi lượng thức ăn lần trước đã tiêu thụ hết

Trang 10

5.8 San ô:

- Khi cần thay đổi chất nền

- Khi luống nuôi đã đầy hoặc mật độ giun trong hồ đã đặc

- Chuẩn bị ô nuôi giun

- Lấy toàn bộ giun và chất nền của luống củ sang luống mới ( 5 -10 cm lớp bề mặt); phần còn lại là phân giun, có thể dùng phân này để trồng cây hoặc đổ lại nơi đống phân bò, có thể tận dụng trứng còn sót, chúng có thể nở và phát triển rất tốt

5.9 Thu hoạch

- Thu hoạch bằng ánh sáng hoặc tưới ngập khi toàn bộ chất nền đều phải thải

- Thu hoạch băng cách nhữ mồi hoặc bằng tây khi vẫn giữ chất nền, giảm mật

độ giun trong luống

- Thu hoạch bằng điện

- Sinh khối của giun nhiều, nếu sử dụng không hết đem sấy khô, đóng bao sử dụng dần; 7 kg giun tươi cho ra 1kg giun khô

5.10 Chăm sóc, quản lý

- Tạo môi trường phù hợp cho giun sinh trưởng, phát triển, sinh sản tốt

- Chú ý hạn chế các địch hại giun như kiến, cóc, chuột và các loại khác…

- Sử dụng nước tưới không có hóa chất, khí độc đặc biệt là vôi và muối ăn…

Trang 11

- Những hôm trời giông gió, mưa to, giun có thể trốn thoát; cần chống giun bò

- Nguyên nhân gây bệnh: Do cho ăn quá nhiều thức ăn giàu đạm như phân bò,

lợn làm phân có mùi chua

- Triệu chứng: Giun nổi lên bề mặt luống và trườn dài sau đó chuyển sang màu tím bầm và chết

- Cách xử lý: Hốt hết phần phân cho ăn ra và tưới nước lên luống

6.2 Bệnh trúng khí độc

- Nguyên nhân gây bệnh: Do đáy chất nền bị thối rữa trong thời gian dài, chất

nền tiếu khí oxy làm cho khí cacsbonic chiếm lĩnh hết khe hở của chất nền

- Triệu chứng: Giun chui lên bề mặt và bò đi

- Cách xử lý: Dùng cuốc chĩa xới luống và tưới nước

Trang 12

PHẦN II: NUÔI VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO GÀ

CHƯƠNG I: KỸ THUẬT CHĂN NUÔI GÀ

Bài 1: Chuẩn bị điều kiện chăn nuôi gà

1 Chuẩn bị chuồng nuôi gà

1.1 Xác định kiểu chuồng nuôi gà

- Kết cấu chuồng nuôi gà nuôi trên nền:

Tùy theo quy mô tùy theo phương thức chăn nuôi, tùy đối tượng gà mà có thể thiết kế kiểu chuồng nuôi khác nhau Nhìn chung khi xây dựng chuồng nuôi gà, kết cấu chuồng phải thỏa mãn các yêu cầu:

+ Nền phải kiên cố, chắc để dễ vệ sinh, dễ sát trùng tiêu độc, nền có độ dốc thích hợp dễ thoát nước, không ẩm ướt, tránh bị chuột đào bới Bởi vậy, nền chuồng thường láng xi măng hoặc lát gạch

+ Diện tích nền chuồng tùy thuộc vào quy mô, mức độ thâm canh nhưng phải đảm bảo đủ rộng

Chuồng nuôi gà con: 10 - 12 con/m2

Chuồng nuôi gà dò: 5 - 6 con/m2

Chuồng nuôi gà đẻ trứng giống: 4 – 4,5 con/m2

+ Mái chuồng làm bằng vật liệu ít hấp thu nhiệt để chống nóng Mái có thể lợp bằng ngói hoặc lá tranh, lợp qua vách chuồng khoảng 1m để tránh mưa hắt làm ướt nền chuồng Có thể làm chuồng một mái hoặc 2 mái

+ Tường, vách chuồng: Xây cách mái hiên 1 - 1,5 m, vách chỉ nên xây cao 30

- 40 cm còn phía trên dùng lưới thép hoặc phên nứa Trường hợp tường vách được coi là tường bao thì phải có thêm cửa sổ để chuồng thông thoáng

+ Rèm che: Dùng vải bạt, bao tải, phên nứa Che cách vách tường

20 cm phía ngoài chuồng nuôi, nhằm bảo vệ cho gia cầm tránh được mưa, gió rét nhất là ở giai đoạn gà nhỏ

+ Chuồng được ngăn làm nhiều ô, tùy diện tích nhưng ít nhất nên ngăn thành 2

- 3 ô để dễ quản lý đàn gà nhất là gà sinh sản Nên ngăn ô bằng lưới thép hoặc nan tre để đảm bảo độ thông thoáng của chuồng nuôi

Trang 13

Nên thiết kế nền chuồng chắc chắn bằng xi măng ( thuận lợi cho việc vệ sinh, tiêu độc và khử trùng), đồng thời nền chuồng cần có độ nghiêng nhất định và hệ thống rãnh thoát nước.

+ Khung, tường chuồng:

Khung chuồng phải bền vững, chịu được gió bão mạnh, thường được xây dựng bằng sắt, gỗ hay tre loại tốt

Vách chuồng có thể dùng các loại nguyên vật liệu khác nhau để làm như lưới săt, gỗ, tre, nứa Bên ngoài vách chuồng có hệ thống rèm che, có thể điều chỉnh linh hoạt để giữ ấm cho gà vào mùa đông và che nắng, che mưa khi cần thiết

+ Mái chuồng: Làm bằng vật liệu nhẹ nhưng tương đối bền vững, cách nhiệt và

dễ vệ sinh sát trùng nên có thể được làm bằng: Fibro xi măng, tôn, ngói, lá cọ, tranh + Chuồng làm cao 1,5 m, dài 2,5 m, rộng 2m Chuồng có 1 hoặc 2 cửa cho gia cầm ra vào, có cầu thang để gà có thể lên xuống chuồng dễ dàng

Hình 1: chuồng sàn làm bằng lưới mắt cáo

* Chuồng phải được vệ sinh khử trùng tiêu độc trước khi nuôi Có thể dùng Formol 2% với liều 1ml/m, Bencokid hoặc Han - iodine phun khử trùng trước khi bắt gà về nuôi từ 5 - 7 ngày

1.2 Địa điểm xây dựng chuồng gà

Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để xây chuồng gà Nên xây chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều

1.3 Chuẩn bị vườn thả (bãi chăn)

- Bãi thả nên có cây bóng mát (trồng cây ăn quả hoặc cây lâm nghiệp), có trồng cỏ xanh là nguồn thức ăn có chứa nhiều vitamin, khoáng, là nguồn dinh dưỡng cho gà Có thể làm lán tạm để treo thêm máng ăn (chú ý tránh mưa ướt) và máng uống cho gà trong thời gian chăn thả Cây bóng mát trồng cách hiên chuồng nuôi 4 -

5 m, tán cây che nắng phải cao hơn chiều cao mái hiên chuồng nuôi để tăng cường thông thoáng

Trang 14

Yêu cầu diện tích bãi chăn thả tối thiểu là từ 0,5 đến 1m2/gà

- Bãi chăn thả được san lấp bằng phẳng, dễ thoát nước, không có vũng nước tù đọng Thường xuyên duy trì thảm thực vật ở bãi chăn để có môi sinh, môi trường tốt cho khu trang trại, hơn nữa còn bổ sung thêm nguồn thức ăn xanh, giàu vitamin cho gà

Hình 2 : Bãi chăn có cây bóng mát

2 Chuẩn bị dụng cụ và trang thiết bị nuôi gà

2.1 Rèm che

- Rèm che để che mưa, nắng, gió, rét nhất là thời kỳ gà con

- Rèm che làm bằng vải bạt, bao tải… sử dụng che phía bên ngoài chuồng nuôi Đầu trên của rèm treo cách mái nhà 30 - 35cm để không khí lưu thông, đầu dưới phủ kín mép tường lửng 20cm

có đường kính 2,8 - 3,0 m Một quây gà đường kính như trên nuôi được 300 - 500

gà con vào mùa hè

- Mùa hè, ngày tuổi thứ 5 thì mở rộng quây và đến ngày thứ 10 thì có thề

tháo bỏ quây Mùa đông, ngày tuổi thứ 7 thì mở rộng quây và cuối tuần thứ 2 - 3 thì

có thể tháo bỏ quây

- Bố trí trong quây úm :

Khay, mẹt cho gà con ăn và máng uống nhỏ được bố trí xen kẽ nhau trong quây đảm bảo cho gà con ăn uống được thuận tiện Chụp sưởi thường treo giữa quây

gà, treo cao 40 - 50 cm so với mặt nền

Chú ý: Tùy theo tình hình thực tế, sau 10 ngày úm, có thể bố trí một quây úm

phụ trong phòng úm để tách nuôi riêng những gà còi cọc, ốm yếu

- Vệ sinh trước khi úm gà:

Trang 15

Trước khi đưa gà một ngày tuổi vào nuôi, cần phải vệ sinh phòng úm và quây

úm như sau:

Trước khi nhận gà tối thiểu 7 - 10 ngày nền phòng úm, tường, rèm che phải được quét sạch bụi bẩn Sau đó nền phòng úm phải được sát trùng kỹ bằng thuốc sát trùng (thuốc thường dùng là Haniodine hoặc Chloramin B pha với tỉ lệ 100ml với 10 lít nước thành dung dịch để phun sát trùng dụng cụ và chuồng nuôi) hoặc quét nước vôi đặc

Sát trùng chất độn chuồng (trấu hoặc dăm bào) bằng thuốc sát trùng 2 lần Trong quá trình phun, đảo đều đệm lót, ủ thành từng đống, sau đó phơi cho thật khô Trải một lớp đệm lót trên nền chuồng dày tối thiểu 5cm - 8cm và san phẳng để gà con đi lại dễ dàng

Sau khi vệ sinh sát trùng xong, kéo rèm che và đóng kín phòng úm 7 - 10 ngày Thời gian để trống chuồng sau khi vệ sinh càng lâu thì gà nuôi càng tốt Nếu nhận gà con vào mùa hè khi nhiệt độ ngoài trời trên 300C thì không cần làm phòng

úm mà chỉ cần làm quây úm Nếu nhận gà con vào mùa đông khi nhiệt độ ngoài trời thấp thì cần làm thêm phòng úm để giữ nhiệt tốt cho gà

2.3 Chụp sưởi

- Chụp sưởi có thể dùng một trong các loại sau đây: Bóng điện, bóng hồng

ngoại Chụp sưởi được đặt ở giữa quây gà

- Bóng hồng ngoại được treo cách nền chuồng từ 30 - 60cm Bóng điện 60 - 100W treo cách nền 30 - 60cm và có chao đèn để tập trung nhiệt vào quây

- Chụp sưởi phải được khởi động trước khi nhận gà về một thời gian để đảm bảo nhiệt độ trong quây trước

- Nuôi úm gà con giai đoạn từ 1 đến 21 ngày việc cung cấp nhiệt sưởi đủ ấm cho gà con là rất quan trọng Nếu không cung cấp đủ nhiệt gà bị lạnh sẽ không ra ăn cho dù thức ăn có chất lượng tốt, để cung cấp nhiệt đủ ấm cần sử dụng chụp sưởi và bóng điện đủ công suất

Hình 3: Chụp sưởi bóng điện Hình 4: Đèn hồng ngoại

2.4 Hệ thống làm mát

- Trồng cây bóng mát xung quanh chuồng nuôi và ngoài vườn chăn thả

- Làm mái chuồng bằng chất liệu chống nóng như: lá cọ, rơm rạ, ngói…

- Sử dụng hệ thống quạt gió đăt trong chuồng nuôi

Trang 16

- Sử dụng hệ thống phun hơi nước trên mái

2.5 Máng ăn, máng uống

- Máng ăn: có thể sử dụng bằng khay ăn, máng ăn sau:

Hình 5: Máng ăn

Hình 6: Khay ăn Hình 7: Máng ăn dài

- Các loại máng ăn và kích thước:

+ Máng ăn cho gà lớn có thể làm từ ống tre, ống bương có chiều dài 1,0 - 1,5m được khoét 1/3 phía trên

+ Sử dụng máng ăn tròn, treo dây:

Máng ăn tròn bằng nhựa, có chu vi vành ngoài khoảng 150 cm, định mức 2cm

- 4cm/gà thì một máng như vậy dùng cho 35 - 70 gà

Cũng có thể sử dụng máng ăn dài có chân đế đặt trực tiếp xuống nền chuồng

và điều chỉnh độ cao máng thông qua giá đỡ, định mức là 5cm /gà

Lưu ý:

Máng ăn phải được vệ sinh hàng ngày và định kỳ hàng tuần sát trùng

Máng ăn phải được điều chỉnh sao cho mép máng ngang tầm với sống lưng gà, không treo máng quá cao hoặc quá thấp

- Máng uống: Có thể sử dụng các loại máng như galon, máng dài

Hình 8: Máng galon Hình 9: Máng uống dài

Trang 17

2.6 Ổ đẻ

Làm ổ đẻ bằng thùng, hoặc chuồng đẻ cho cả đàn gà Để ở nơi tối, khuất bóng

gà trống hoặc gà mái khác; tùy từng giống gà,một ổ đẻ cho 5-10 gà mái

2.7 Dàn đậu cho gà:

Dàn đậu làm bằng tre, gỗ Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5 m, cách nhau 0,3-0,4 m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau

3 Vệ sinh, tiêu độc chuồng nuôi gà

3.1 Thu dọn các trang thiết bị trong chuồng nuôi

Sau mỗi đợt nuôi phải dọn dẹp vệ sinh tiêu độc sát trùng chuồng trại:

- Đưa toàn bộ các dụng cụ, trang thiết bị chăn nuôi đã dùng ra ngoài

- Đưa hết chất độn chuồng ra khu vực quy định

- Loại bỏ rèm che cũ đã bị rách hỏng

3.2 Quét dọn và rửa chuồng

- Quét bụi mạng nhện toàn bộ trần nhà, tường lưới, rèm che, dây treo

máng ăn và máng uống Nạo phân nền chuồng và quét sạch Chú ý quét thật kỹ các góc ô chuồng, quét theo hướng dẫn từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài

- Sau khi quét dọn sạch sẽ ta dùng vòi nước cao áp để rửa chuồng: Rửa theo nguyên tắc từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài theo thứ tự: rửa trần, dây treo máng

ăn, máng uống, tường, lưới, rèm che, nền chuồng, kho, hành lang

Chú ý: hố thoát nước phải lấy hết các chất bẩn ứ đọng Cọ rửa thật kỹ các góc nhà, sào đậu, bệ máng nước

Trang 18

lượng 0,5 lít/m2 hoặc có thể sử dụng Benkocid, Han - Iodin

- Han- Iodine và benkocid, phun theo hướng dẫn trên vỏ chai

- Sau khi phun thuốc sát trùng xong đóng kín cửa chuồng nuôi ít nhất là 42 giờ

- Trước khi nhận gà 24 giờ, đổ dung dịch crezine 3%, Benkocid, Han-Iodine vào các hố hoặc khay sát trùng trước cửa ô chuồng và cửa ra vào trại

Bài 2: Giống gà và kỹ thuật nuôi

I Chọn giống

1.1 Chọn gà con 1 ngày tuổi

- Trong thực tế bà con mua gà giống để nuôi thả vườn trong gia trại không thể thực hiện được việc cân trọng lượng như trong công nghiệp Bà con nên quan sát bằng cảm quan Không nên chọn những gà quá bé hơn so với trung bình chung của giống

- Chọn về ngoại hình: Trước khi chọn phải rửa tay bằng xà phòng

- Chọn gà con phải cẩn thận, nhẹ nhàng Mỗi tay chỉ bắt 1 con để chọn Bắt gà con sao cho đầu gà hướng về phía cổ tay, lưng gà áp sát vào lòng bàn tay, bụng ngửa lên

- Dùng ngón tay cái và ngón tay giữa bóp nhẹ vào bụng gà xem cứng hay mềm Mắt quan sát chân, mỏ của gà con có bị dị tật không, rốn có khép kín không Nếu rốn bị lông che kín không nhìn rõ thì có thể dùng ngón tay trỏ sờ vào rốn để kiểm tra

- Quan sát xem gà con có đứng vững không, đi lại có bình thường không, đồng thời xem lại gà con có bị dị tật không

Tiêu chuẩn gà con ở 1 ngày tuổi

Tiêu chuẩn cần chọn Loại thải gà không đạt tiêu chuẩn

- Khối lượng sơ sinh lớn

- Khỏe mạnh, tinh nhanh, hoạt bát,

thân hình cân đối

- Mắt tròn sáng mở to

- Chân bóng, thẳng đứng vững,

ngón chân không vẹo

- Lông khô, bông tơi xốp, sạch,

Trang 19

Hình 11: Gà con 1 ngày tuổi khỏe mạnh

Hình 12: Gà con hở rốn Hình 13: Gà con yếu chân

1.2 Chọn gà hậu bị ( 57 - 63 ngày tuổi )

- Tiến hành chọn vào lúc thời tiết mát

- Chọn về khối lượng: Gà phải đạt khối lượng theo tiêu chuẩn của dòng giống, nằm trong khoảng trung bình chung của đàn Không chọn con quá béo, không chọn con quá gầy

- Chọn về ngoại hình: Bắt từng con quan sát từng bộ phân so sánh với tiêu chuẩn chọn giống

Chọn những con khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thân hình cân đối, cấu trúc cơ thể thanh nhẹn, mào phát triển bình thường và đỏ tươi Lông mọc đều, bóng mượt, màu sắc đúng giống (đúng tiêu chuẩn ngoại hình)

Tiêu chuẩn về con giống hậu bị.

( Chọn gà hậu bị khi kết thúc giai đoạn gà con, sau 57 ngày tuổi )

Trang 20

Màu vàng, bóng, ngón chân ngắn

Mềm, sáng, phát triển tốt

Ưa hoạt động

Nhỏ, nhợt nhạt Hẹp, ngắn, lông Phát triển kém, khảng cách giữa xương ức và xương háng hẹp

Màu nhợt, thô xáp, ngón chân dài

Xù, kém phát triển

Dữ tợn hoặc uể oải

1.3 Chọn gà đẻ

- Tiến hành chọn vào lúc thời tiết mát

- Chọn về khối lượng: Gà phải đạt khối lượng theo tiêu chuẩn của dòng giống

- Chọn về ngoại hình: Bắt từng con quan sát từng bộ phân so sánh với tiêu chuẩn chọn giống

+ Chọn những gà mái lên sinh sản ngoại hình phát dục biểu hiện bằng độ bóng của lông, mào tích đã đỏ, bụng mềm, khoảng cách giữa 2 mỏm khung xương chậu

và khoảng cách giữa mỏm xương chậu với mỏm cuối của xương ngực (xương lưỡi hái) có độ rộng lọt 2 - 3 ngón tay trở lên

+ Đối với gà trống: Chọn những con có mào thẳng đứng và nở to, to, chân cao thẳng, ngón chân thẳng, hai cánh vững chắc, úp gọn trên lưng, dáng hùng dũng

Tiêu chuẩn về con giống gà trước khi vào đẻ.

( Chọn gà mái đẻ khi kết thúc giai đoạn gà hậu bị, gà đạt 133 ngày tuổi trở lên)

Rộng, sâu, cân đối, to vừa

phải và diện mạo khỏe

Màu đỏ tươi, phát triển tốt,

Thon, to vừa phải

Thẳng, cân đối, chắc khỏe phát

triển tốt, khảng cách giữa xương

Hẹp, dài, méo và diện mạo không khỏe

Nhợt nhạt, thô nhăn, vảy trắng, tím bầm và phát triển không tốt

Nhỏ, mầu nâu xanh, sâu, lồi, đục, không tinh nhanh

Thịt, nhănDài, mảnh, ngắn, vẹo, phát triển không bình thường

Hẹp, vẹo, ngắn

Xệ, treo, lệch Thân không bình thường, yếuPhát triển kém, khoảng cách giữa

Trang 21

Thưa, xơ xác, kém phát triển, mọc không đều

Dữ tợn hoặc chậm chạp, nhút nhát

Tiêu chuẩn đối với gà mái đang đẻ

Rộng, mềm, để lọt 3 ngón tay

Ướt, to, cử động, mầu nhạt

Không thay lông cánh hàng thứ nhất

Đã giảm màu vàng theo thời gian đẻ

Nhỏ, nhợt nhạt, khô Hẹp, để lọt 1 - 2 ngón tay, cứng

Cứng, hẹp, chỉ để lọt 1- 3 ngón tay

Khô, bé, ít cử động, mầu sắc đậm

Lông cánh hàng thứ nhất thay từ 5 chiếc trở lênMàu vẫn giữ nguyên hoặc ít thay đổi theo thời gian

Hình 14: Ngoại hình gà mái đẹp

Trang 22

II Chăm sóc nuôi dưỡng

2.1 Cho gà con ăn, uống

+ Cho gà con ăn:

Dùng thức ăn gà con chủng loại 1 - 21 ngày (nếu là thức ăn hỗn hợp viên), nếu thức ăn tự chế biến phải căn cứ vào chế độ dinh dưỡng có trong 1kg thức ăn hỗn hợp

để phối trộn các nguyên liệu đáp ứng đủ nhu cầu Nguyên liệu thức ăn phải có chất lượng tốt

Rải mỏng, đều thức ăn lên khay ăn hoặc mẹt có độ dầy 1cm, sau đó từ 2 - 3 giờ dùng bay sắt cạo sạch thức ăn lẫn phân có trong khay đem sàng để gạt bỏ phân ra ngoài, tận thu thức ăn cũ và tiếp thêm lượt mỏng thức ăn mới để cho gà ăn

Cho gà ăn tự do cả ngày đêm, bổ sung thêm thức ăn cho gà trong một ngày đêm từ 5 - 8 lần

Khi gà được 3 tuần tuổi trở đi thay thế khay ăn bằng máng ăn cỡ trung

bình P30

+ Cho gà con uống nước:

Dùng máng uống gallon chứa nước cho gà uống, 2 tuần đầu dùng máng cỡ 1,5-2,0 lít, các tuần sau dùng máng cỡ 4,0lit

Đế máng uống kê thật phẳng bằng gạch mỏng hoặc rổ tre ( gà dễ bám vào leo lên uống nước ) cao hơn độn lót chuồng từ 1cm đến 3cm tùy theo độ lớn của gà để

gà không bới độn lót vào làm bẩn nước uống Máng uống đặt xen kẽ với khay ăn Máng uống được rửa sạch hàng ngày theo quy định của thú y, hàng ngày thay nước uống cho gà khoảng 4 lần(sáng, chiều, tối, và giữa đêm)

2.2 Chăm sóc

Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà

ăn nhiều thức ăn hơn

Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha mọt ít kháng sinh hoặc Vitamine C

Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn

Trang 23

Hình 15: Tập cho gà con ăn Hình 16: Cho gà ăn trên báo cũ

+ Giai đoạn từ 0 - 4 tuần tuổi nên sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh

+ Sau 4 tuần tuổi có thể tập cho gà con ăn thêm các loại thức ăn sẵn có như bột bắp, cám, rau xanh, Tuy nhiên cần lưu ý, tập cho gà làm quen dần với thức ăn mới, ban đầu chỉ cho khoảng 1/5 lượng thức ăn trong ngày, sau đó tăng dần theo từng ngày, tránh hiện tượng thay đổi thức ăn đột ngột Nếu sử dụng thóc cho gà ăn thì bà con nên dùng sau 1,5 tháng tuổi ( sau 6 tuần tuổi )

+ Nếu sử dụng thức ăn tự phối trộn thì phải đảm bảo ít nhất phải có 1/4 - 1/3 thức ăn giàu đạm ( bột cá, giun đất, thức ăn đậm đặc )

Chương II: PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH

I CÁC BIỆN PHÁP VỆ SINH PHÒNG BỆNH

Vệ sinh phòng bệnh là vấn đề là công tác chủ yếu, đảm bảo “Ăn sạch, ở sạch, uống sạch” Nên chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả

Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tuỳ theo từng địa phương Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng, đặc biệt đối với gà thả nền thì cần phải phòng bệnh cầu trùng khi cho xuống nền và thả vườn

- Quanh chuồng nuôi phải phát quang

- Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh

1.2 Phòng bằng Vaccine:

Lưu ý khi dùng vắc xin phòng bệnh:

- Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe

- Lắc kỹ vắc xin trước và trong khi dùng

- Vắc xin mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ

Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm

Trang 24

Lịch dùng vacxin cho gà thả vườn

Ngày

tuổi

Thuốc Loại vắc xin dùng và cách sử dụng

1- 3 Men tiêu hóa Ampicillin

3 – 5 Men tiêu hóa, gluco C - K

15 – 18 Bio – anticocci, men tiêu hóa

26 – 28 Bio – anticocci, men tiêu hóa

dưới da Tiêm nhắc lại sau 4 tháng

- Tiêm vắc xin Tụ huyết trùng, tiêm dưới da Tiêm nhắc lại sau 4 tháng

- Lưu ý khi sử dụng vắc xin:

+ Một số loại vắc xin luôn bảo quản 2 – 80C (đúng với chỉ dẫn ghi trên nhãn mác)

Không để vacxin ở nhiệt độ bên ngoài, không để ánh sáng chiếu trực tiếp + Vắc xin bệnh nào chỉ dùng để phòng bệnh đó

+ Khi dùng vắc xin phải kiểm tra: nhãn mác, hạn dùng, chủng loại, trạng thái, màu sắc của vắc xin Không dùng vắc xin quá hạn, biến màu, viên đông khô

bị vỡ, bị teo nhỏ, vắc xin nhũ dầu bị tách lớp, biến màu

+ Dụng cụ, ống tiêm, kim tiêm, nước cất phải vô trùng, sau khi hấp hoặc luộc phải để nguội mới dùng

+ Đối với vắc xin nhược độc không dùng cồn sát trùng dụng cụ sử dụng

+ Đối với vắc xin có bổ trợ phải lắc kỹ trước khi lấy ra và tiêm bắp sâu

+ Vắc xin thừa, dụng cụ dùng xong phải được tiệt trùng và không vứt bừa bãi + Chỉ dùng vắc xin cho gà khoẻ, không dùng cho gà đang ốm bệnh

- Các đường đưa vắc xin vào cơ thể gà

+ Nhỏ mắt, nhỏ mũi

+ Chủng vào màng cánh

+ Tiêm dưới da cổ ở khoảng cách 2/3 cổ kể từ đầu trở xuống

+ Tiêm bắp đùi hoặc lườn

Trang 25

Hình 17: Nhỏ mắt, nhỏ mũi Hình 18: Tiêm bắp

- Cách pha vắc xin đông khô

+ Chỉ sử dụng những lọ vắc xin có viên đông khô còn nguyên vẹn, không vỡ, không teo nhỏ, không biến màu

+ Lấy 2ml nước cất vào bơm tiêm, bơm vào lọ vắc xin, lắc kỹ cho viên

đông khô tan đều, rút vắc xin đã tan đó ra pha vào lượng nước cất cần dùng để

nhỏ đủ số gà cần phải dùng vắc xin

1.3 Phòng bằng thuốc:

- Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxytetracyclin, chloramphenicol…

- Bệnh đường hô hấp: Tylosin, Tiamulin,…

Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-5 ngày

II MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở GIA CẦM

1 Bệnh Niu – cát – xơn ( Gà rù )

Bệnh Niu- cát - xơn là bệnh nguy hiểm ở gà thường xảy ra quanh năm Bệnh do virút gây ra và lây lan nhanh, mạnh, tỷ lệ gà mắc bệnh và chết cao ở mọi lứa tuổi gây thiệt hại cho người chăn nuôi Vì vậy người chăn nuôi cần nhận biết và phân biệt bệnh Niu cát xơn như sau:

Trang 26

1.1 Nguyên nhân:

Bệnh lây lan qua đường tiêu hóa và hô hấp, do tiếp xúc giữa gà ốm và gà khỏe,

do phương tiện vận chuyển thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh, do tiếp xúc với động vật, chim hoang dã mang mầm bệnh, bệnh gây viêm, xuất huyết, loét niêm mạc đường tiêu hoá, nhiễm trùng máu, thần kinh… nên thường gây tử vong ở gà rất cao

1.2 Triệu chứng:

Khi gà bị bệnh có thể quan sát thấy gà bỏ ăn, đứng ủ rủ như “khoác áo tơi”, chân lạnh, hắt hơi, khò khè, chảy nước mũi nhớt trắng, khát nước uống nhiều nước, diều căng chứa nhiều thức ăn không tiêu, chảy nước nhớt có dây ở miệng, gà thường vươn cổ kêu cho dễ thở, lúc đầu gà đi phân táo bón sau đó lại tiêu chảy phân có mầu trắng Một số con có triệu chứng phù đầu, nhắm mắt Thường tụ từng đám do lạnh

Gà nung bệnh từ 5-6 ngày, sốt cao, không ăn được vì thế khi chết xác rất gầy Gà đẻ giảm sản lượng trứng, trứng có vỏ mềm Tỷ lệ chết tăng dần và đạt tới 50 - 90% tùy theo đàn Gà sống sót để lại di chứng thần kinh, nghẹo cổ, đi vòng quanh, mổ thức

ăn không chính xác

Hình 21: Triệu chứng động kinh

1.3 Chẩn đoán bệnh

- Chẩn đoán dựa vào triệu chứng và bệnh tích

- Cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh:

+ Bệnh tụ huyết trùng: Quá trình xảy ra bệnh nhanh, gà chết đột ngột, gan hoại tử

+ Bệnh viêm khí quản truyền nhiễm (IB): Tổn thương nặng đường hô hấp, khó thở nặng, không bị xuất huyết đường tiêu hoá

+ Bệnh Gumboro: Da, cơ có những điểm xuất huyết hoặc những vệt xuất huyết, ít viêm loét đường hô hấp

+ Chứng thiếu Vitamin: Có màng giả ở vùng hầu họng, không xuất huyết

ở dạ dày và ruột

1.4 Phòng và trị bệnh:

+Phòng bệnh: Bằng vắc xin theo quy trình, nếu đàn gà bị dịch, xác gà phải chôn rắc vôi hoặc đun chín kỹ, lông chôn sâu, khu chuồng nuôi và dụng cụ rửa

Trang 27

sạch, rắc vôi sau đó phun sát trùng kỹ bằng hóa chất, để chuồng nghỉ 1 - 2 tháng mới nuôi tiếp

+ Điều trị: Không có thuốc trị bệnh Tuy nhiên phát hiện sớm thì dùng

kháng thể gumboro tiêm 2 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày, nếu gà khỏe dần lên và không chết thì sau đó 7 - 8 ngày phải tiêm vắc xin nhược độc Niu cát xơn hệ 1

ngay theo đúng quy trình sử dụng vắc xin

2 Bệnh Gumboro.

Bệnh thường xảy ra trên gà ở giai đoạn 1-12 tuần tuổi, rõ nhất là giai đoạn 3-6 tuần tuổi Tất cả các giống gà đều mắc bệnh Gà nhỏ hơn 3 tuần tuổi mắc bệnh không biểu hiện triệu chứng nhưng sẽ làm gà suy giảm miễn dịch Tỷ lệ mắc bệnh là 100%, tỷ lệ chết từ 10-50% hoặc cao hơn nếu kết hợp với các bệnh khác

2.1 Nguyên nhân: Vi rút Gumboro thuộc họ Birnaviridcae và thuộc giống Birna

virut Vi rút Gumboro gồm hai typ gây bệnh chính: Typ 1: Gây bệnh ở gà ta

Typ 2: Gây bệnh ở gà tây

Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gà khoẻ mạnh qua

phân, chất độn chuồng, qua thức ăn, nước uống nhiễm bệnh vào đường tiêu hoá

Gà mổ cắn nhau

2.2 Triệu chứng:

Nung bệnh 2 - 3 ngày và biểu hiện gà bay nhảy náo loạn trong chuồng, mổ nhau, sau đó ủ rũ từng đám, lông xù, tụ đống, lù đù và sốt cao, phân ỉa chảy nhớt màu trắng sữa hoặc màu xám xanh, trọng lượng giảm nhanh, đi run rẩy, tiếp theo

gà chết với tỷ lệ tăng nhanh mỗi ngày từ 5 - 30% nếu không ghép với bệnh cầu

trùng, CRD…nếu ghép tỷ lệ chết tới 70%, khi gà chết thường kêu ré lên, bị liệt chân Gà thịt tuổi phát bệnh thường từ 20 - 40 ngày, gà hậu bị tuổi nhiễm bệnh 30.-.80 ngày, cũng có trường hợp phát bệnh sớm hơn từ 4 ngày gọi là nhiễm bệnh sớm

Phân nước mầu trắng lông xơ rụng

Hình 22: Gà bệnh nằm ủ rũ, xù lông Hình 23: Phân trắng loãng

2.3 Bệnh tích:

- Xác chết khô, lông xơ xác, chân khô

- Cơ đùi, cơ ngực, cơ cánh xuất huyết đỏ thành vệt hoặc thâm đen

Trang 28

- Mổ khám túi Fabricicus sưng to, đỏ, có xuất huyết tấm tấm hoặc cả đám, thận sưng nhạt màu Xuất huyết trên niêm mạc dạ dày tuyến (chổ tiếp giáp giữa mề và tiền mề), ruột sưng to có nhiều dịch nhầy bên trong.

- Nếu gà nhiễm bệnh đến ngày thứ 5,6,7 thì túi Fabricius nhỏ lại, đến ngày thứ

8 thì chỉ bằng 1/3 trọng lượng ban đầu

Hình 24: Xuất huyết cơ đùi

Hình 25: Túi Fabricius sưng to, đỏ, xuất huyết

2.4 Chẩn đoán bệnh:

- Chẩn đoán dựa vào đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích

- Cần phân biệt với một số bệnh:

+ Hội chứng thiếu máu xuất huyết (Viêm gan thể vùi): Gà cũng suy nhược, lờ đờ nhưng hay ngồi xổm và lông dựng ngược Gan sưng, màu hơi vàng, xuất huyết điểm hoặc từng đám và dễ vỡ

+ Bệnh Niu cát xơn: Cũng yếu, lờ đờ, tiêu chảy phân xanh phân trắng Nhưng biểu hiện thần kinh như liệt chân, cánh, ngoẹo đầu cổ Có tiếng kêu toóc toóc Xuất huyết đỉnh ống tuyến Xuất huyết và loét ruột non, van hồi manh

tràng, lỗ huyệt Không xuất huyết cơ đùi, ngực Gà mọi lứa tuổi đều bị bệnh

- ADE.B COMPLEX: 2g/kg thức ăn, trộn cho ăn liên tục

Trang 29

Khi dịch đã xảy ra phải cách li ngay nhưng con có triệu chứng bị bệnh và những con nghi mắc bệnh Xử lý những con chết, phân rác độn chuồng phải chôn hoặc ủ

+ Vắc xin phòng bệnh: Hiện nay có rất nhiều loại vắc xin phòng bệnh Gumboro Thông thường ở những đàn gà hướng thịt người ta có thể cho gà uống vacxin nhược độc Gumboro hai lần, lần 1 có thể lúc 5 ngày tuổi trở lên, lần 2 cách sau đó 7 ngày

Cũng có hướng dẫn: dùng vắc xin Gumboro vô hoạt nhũ dầu tiêm cho đàn

gà bố mẹ để gà con nở ra từ chúng có kháng thể thụ động trong máu Với đàn gà bố

mẹ, ngoài hai lần uống vacxin nhược độc như trên thì vào lúc hai tháng tuổi tiêm vắc xin Gumboro vô hoạt nhũ dầu và trước khi gà đẻ bói (4-5 tháng tuổi) tiêm nhắc lại lần hai

* Điều trị:

Bệnh do virus do đó không có thuốc đặc hiệu điều trị Các biện pháp sau đây

nếu thực hiện tốt sẽ hạn chế tỷ lệ chết ở mức thấp nhất:

- Cung cấp qua nước uống đầy đủ chất điện giải và vitamin

- Tiêm ngay kháng thể Gumboro cho toàn đàn hai mũi cách nhau 3 ngày

- Đồng thời pha vào nước uống tính cho 10 lít gồm đường Glucoza 500g, hòa vào

1 lít nước uống điện giải 100g, acetamin 50g, B.complex 10g, vitamin C và vitamin K mỗi thứ 10g, có thể dùng bột tổng hợp vitamin K và C Cho gà uống nước suốt ngày đêm, lưu ý tăng cường thêm máng uống vì gà rất khát nước khi bị bệnh này

- Tuyệt đối không sử dụng kháng sinh điều trị sẽ làm tăng tỷ lệ chết, nếu

ghép bệnh dùng thuốc trị đúng bệnh đó với liều ½ liều trị 3 ngày đầu, sau tăng

đúng liều từ 2-3 ngày sau cùng

3 Bệnh tụ huyết trùng.

3.1 Nguyên nhân:

Bệnh tụ huyết trùng ở gà do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra Bệnh thường xảy ra vào lúc thời tiết thay đổi, khi cơ thể gà giảm sức đề kháng Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm qua đường tiêu hoá và hô hấp, do gia cầm ăn phải thức ăn, nước uống nhiễm bệnh hoặc hít phải bụi ngoài không khí có mầm bệnh Tất cả các loài gia cầm đều cảm thụ với bệnh, gà vịt thường bệnh nặng và hay xảy ra nhiều vụ dịch lớn

3.2 Triệu chứng:

Thời gian nung bệnh ngắn, thường 1 – 2 ngày, ở gà lớn có thể từ 4 – 9 ngày Cũng có trường hợp xuất hiện triệu chứng muộn đến vài tuần sau khi chịu ảnh hưởng của các tác nhân gây bệnh Có ba thể bệnh chủ yếu:

+ Thể quá cấp tính: Bệnh diễn biến nhanh đến không kịp quan sát triệu chứng

Nếu có chỉ thấy con vật ủ rũ và chỉ sau 1 – 2 giờ gà bệnh có thể chết

Ngày đăng: 09/06/2017, 21:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: chuồng sàn làm bằng lưới mắt cáo - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 1 chuồng sàn làm bằng lưới mắt cáo (Trang 13)
Hình 2 : Bãi chăn có cây bóng mát - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 2 Bãi chăn có cây bóng mát (Trang 14)
Hình 5: Máng ăn - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 5 Máng ăn (Trang 16)
Hình 8: Máng galon                       Hình 9: Máng uống dài - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 8 Máng galon Hình 9: Máng uống dài (Trang 16)
Hình 11: Gà con 1 ngày tuổi khỏe mạnh - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 11 Gà con 1 ngày tuổi khỏe mạnh (Trang 19)
Hình 12: Gà con hở rốn  Hình 13: Gà con yếu chân - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 12 Gà con hở rốn Hình 13: Gà con yếu chân (Trang 19)
Hình 14: Ngoại hình gà mái đẹp - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 14 Ngoại hình gà mái đẹp (Trang 21)
Hình 15: Tập cho gà con ăn                            Hình 16: Cho gà ăn trên báo cũ - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 15 Tập cho gà con ăn Hình 16: Cho gà ăn trên báo cũ (Trang 23)
Hình 17: Nhỏ mắt, nhỏ mũi  Hình 18:  Tiêm bắp - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 17 Nhỏ mắt, nhỏ mũi Hình 18: Tiêm bắp (Trang 25)
Hình 21: Triệu chứng động kinh 1.3. Chẩn đoán bệnh - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 21 Triệu chứng động kinh 1.3. Chẩn đoán bệnh (Trang 26)
Hình 22: Gà bệnh nằm ủ rũ, xù lông.                        Hình 23: Phân trắng loãng - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 22 Gà bệnh nằm ủ rũ, xù lông. Hình 23: Phân trắng loãng (Trang 27)
Hình 24: Xuất huyết cơ đùi - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 24 Xuất huyết cơ đùi (Trang 28)
Hình 26: Mào, tích tím tái + Thể mãn tính: Thường thấy ở cuối ổ dịch, ở gà bệnh đầu tiên yếm thường - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 26 Mào, tích tím tái + Thể mãn tính: Thường thấy ở cuối ổ dịch, ở gà bệnh đầu tiên yếm thường (Trang 30)
Hình 27: Gà bệnh lông khô, xù, ủ rủ - GT kỹ thuật nuôi giun quế
Hình 27 Gà bệnh lông khô, xù, ủ rủ (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w