Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng quan trọng của chiến lược dạy học các môn ngôn ngữ ở trường phổ thông. Hiện nay các nước trên thế giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp là một trong những căn cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực nghe nói đọc viết cho người học. Trong thực tiễn dạy học môn Tiếng Việt và Văn học trước đây, môn Ngữ văn hiện nay, không phải khi nào cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đều được chú trọng rèn luyện và phát triển đồng thời. Thông thường người biên soạn sách và người dạy lại quá chú trọng vào việc dạy các tri thức Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn mà bỏ qua việc phát triển cho học sinh những kỹ năng, nghe, nói, đọc, viết trong những tình huống giao tiếp sinh động và gần gũi với cuộc sống sinh hoạt của các em. Hoặc cũng có nhiều giáo viên quá chú trọng đến đọc diễn cảm, đọc hiểu, hay quá chú trọng đến viết mà bỏ qua kỹ năng nghe, nói. Có một thực tế là nhiều thế hệ học sinh khi ra trường không biết lắng nghe và thấu hiểu, không biết nói ra những điều mình nghĩ, không truyền đạt được chính xác một thông tin hoặc không nói đúng theo những nguyên tắc giao tiếp, không biết viết những văn bản tối thiểu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, không biết cách đọc, hiểu chính xác về một văn bản…
Trang 1A Đặt vấn đề
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những t tởng quan trọng của chiến lợc dạy học các môn ngôn ngữ ở trờng phổ thông Hiện nay các nớc trên thế giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp là một trong những căn cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực nghe - nói - đọc - viết cho ngời học
Trong thực tiễn dạy học môn Tiếng Việt và Văn học trớc đây, môn Ngữ văn hiện nay, không phải khi nào cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đều đợc chú trọng rèn luyện và phát triển đồng thời Thông thờng ngời biên soạn sách và
ng-ời dạy lại quá chú trọng vào việc dạy các tri thức Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn
mà bỏ qua việc phát triển cho học sinh những kỹ năng, nghe, nói, đọc, viết trong những tình huống giao tiếp sinh động và gần gũi với cuộc sống sinh hoạt của các em Hoặc cũng có nhiều giáo viên quá chú trọng đến đọc diễn cảm, đọc hiểu, hay quá chú trọng đến viết mà bỏ qua kỹ năng nghe, nói Có một thực tế là nhiều thế hệ học sinh khi ra trờng không biết lắng nghe và thấu hiểu, không biết nói ra những điều mình nghĩ, không truyền đạt đợc chính xác một thông tin hoặc không nói đúng theo những nguyên tắc giao tiếp, không biết viết những văn bản tối thiểu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, không biết cách đọc, hiểu chính xác về một văn bản…
Từ thực tiễn giảng dạy theo chơng trình SGK cũ và chơng trình SGK mới cải cách, tôi nhận thấy rằng một trong những điểm mới của SGK ngữ văn hiện nay là đã chú trọng hơn đến việc hình thành và phát triển kỹ năng nói Qua ba năm giảng dạy và thực nghiệm với chơng trình giáo khoa mới, tôi đã thực hiện
đợc việc “Rèn luyện kỹ năng nói trong chơng trình Ngữ văn THCS” và kết quả bớc đầu khá thành công Vì vậy tôi mạnh dạn đa ra kinh nghiệm “Cách tổ chức cho học sinh hoạt động để phát triển kỹ năng nói qua môn Ngữ văn ở THCS” Đây có thể cũng là vấn đề mà nhiều giáo viên dạy môn Văn đang quan
tâm, trăn trở, nhất là trong khi chúng ta thực hiện đổi mới phơng pháp dạy học
Trang 2B Giải quyết vấn đề
I Điều tra thực trạng :
Để tăng tính thực hành ứng dụng cho chơng trình Ngữ văn đối với học sinh THCS và khắc phục hạn chế quá chú trọng đến đọc - viết hơn nghe - nói của
ch-ơng trình và SGK cải cách giáo dục, SGK Ngữ văn THCS mới đã bố trí mỗi học
kỳ 2 tiết luyện nói gắn với từng kiểu bài văn bản tạo lập trong chơng trình Mục
đích của các giờ học này là tiếp tục rèn luyện cho học sinh kỹ năng nói trớc tập thể về kiểu bài văn vừa đợc học và thể hiện suy nghĩ cá nhân về những vấn đề gần gũi, thiết thực với cuộc sống hàng ngày Cụ thể là :
* Lớp 6 :
- Luyện nói kể chuyện (bài 7, bài 10)
- Luyện nói về quan sát, tởng tợng, so sánh và nhận xét trong văn bản miêu tả (bài 20)
- Luyện nói về văn miêu tả (bài 23)
* Lớp 7 :
- Luyện nói về văn biểu cảm (bài 10, bài 13)
- Luyện nói bài văn giải thích một vấn đề (bài 26)
* Lớp 8 :
- Luyện nói về kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả biểu cảm (bài 10)
- Luyện nói về văn thuyết minh (bài 14)
* Lớp 9 :
- Luyện nói tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm (bài 14)
- Luyện nói văn nghị luận : nghị luận về một đoạn thơ (bài 27)
Thực tế qua trao đổi, tôi thấy rằng tâm lý chung của các giáo viên Ngữ văn
là ngại dạy các giờ luyện nói Nguyên nhân cơ bản có lẽ do mâu thuẫn giữa thời gian luyện nói có hạn (45 phút) mà yêu cầu luyện tập thì không đơn giản Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân tơng đối quan trọng nh : Học sinh cha có kỹ
Trang 3đối thoại, đàm thoại, thảo luận Số lợng học sinh trong một lớp quá nhiều, giáo viên lúng túng khi tổ chức một giờ luyện nói, những vấn đề lý thuyết cũng nh
đúc kết thực tiễn về dạy kỹ năng nói trong nhà trờng phổ thông cha đợc nghiên cứu và phổ biến tới giáo viên đứng lớp, vì vậy việc luyện nói trong nhà trờng hiện nay có những thuận lợi và khó khăn sau:
1) Thuận lợi :
- Học sinh THCS đã có vốn từ vựng phong phú, năng lực giao tiếp tốt
- Học sinh THCS đã đợc học tập và rèn luyện nhiều về các kiến thức và kỹ năng nói qua chơng trình Tiếng Việt tiểu học và chính trong chơng trình Ngữ văm THCS
2) Khó khăn :
- Kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh cha nhiều so với việc rèn luyện kỹ năng viết
- Học sinh cha chủ động và tự tin khi nói trớc đông ngời
- Lớp học quá đông, thời gian một tiết học quá ngắn, khó tạo điều kiện cho tất cả các học sinh đều đợc nói
- Hệ thống bài tập rèn luyện và phát triển kỹ năng nói trong chơng trình cha phong phú, đa dạng
- Số tiết luyện nói so với tổng thời lợng dạy học môn Ngữ văn cha nhiều
- Sách giáo viên cha có định hớng giúp giáo viên chú trọng rèn luyện và phát triển kỹ năng nói qua từng giờ học
II Phơng pháp nghiên cứu :
1) Ph ơng pháp khảo sát :
- Khảo sát thực trạng dạy học
2) Ph ơng pháp phân tích, tổng hợp :
- Đọc, nghiên cứu sách giáo khoa và một số tài liệu, khái quát thành một số nhận định và luận điểm chung
Trang 43) Phơng pháp thực nghiệm :
- Hớng dẫn, thực nghiệm với các đối tợng học sinh lớp 7 tại trờng nơi công tác
III Những công việc đã làm:
1) Những yêu cầu mang tính bắt buộc để phát triển kỹ năng nói trong môn Ngữ văn:
Để làm tốt việc rèn luyện và phát triển kỹ năng nói, ngoài những yêu cầu
cụ thể về nội dung của mỗi giờ luyện nói trong chơng trình vẫn là rèn cho học sinh có kỹ năng nói tiếng Việt tự tin, thành thạo, chính vì thế khi tiến hành các giờ luyện nói, giáo viên cần hớng học sinh tuân thủ theo những yêu cầu sau:
- Phải nói theo dàn bài đã đợc chuẩn bị trớc.(dàn bài ngắn gọn, bám sát yêu cầu của đề bài, nêu đợc các ý chính)
- Tránh nói vo, tránh đọc lại hoặc học thuộc lòng để đọc lại bài văn chi tiết
đã có trớc (bài mẫu)
- Giọng nói rõ ràng, cao độ vừa phải, đúng chuẩn ngữ âm, truyền cảm và thuyết phục ngời nghe (biết lên bổng xuống trầm hoặc thể hiện cảm xúc chân thành, tự nhiên, không gò bó, áp đặt)
- Tác phong tự nhiên, tự chủ, phản xạ ngôn ngữ nhanh nhạy
- Không nói ra ngoài những gì mà đề bài yêu cầu
2) Cách tổ chức cho học sinh hoạt động để phát triển kỹ năng nói qua môn Ngữ văn ở THCS.
2.1) Rèn luyện qua các tiết luyện nói trong chơng trình:
Để nâng cao chất lợng các giờ luyện nói, giáo viên cần linh hoạt vận dụng các hình thức đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng tích cực hoá hoạt động học tập của ngời học, vận dụng sáng tạo lý thuyết giao tiếp vào dạy các giờ luyện nói
Trang 5a) Giúp học sinh chuẩn bị tốt nội dung bài nói để các em hình dung đợc mình sẽ nói cái gì (xác định đề tài), nói với ai (xác định đối tợng giao tiếp), nói trong hoàn cảnh nào (xác định hoàn cảnh giao tiếp), nói để làm gì (xác định mục đích giao tiếp), nói nh thế nào (cách thức giao tiếp để thuyết phục ngời nghe)
b) Tạo cho học sinh các nhu cầu muốn nói, muốn đợc bộc lộ Điều này t-ởng chừng đơn giản nhng tơng đối khó thực hiện trong nhà trờng hiện nay bởi
đa số học sinh rất ngại nói hoặc không tự tin khi nói trớc đông ngời mặc dù trong giờ chơi, trong cuộc sống các em nói năng lu loát Vì thế trong quá trình luyện nói, ngời giáo viên phải tạo ra đợc những tình huống giả định tơng đối gần gũi với cuộc sống thờng ngày của học sinh để học sinh có thể nói đợc và có nhu cầu muốn nói về vấn đề mà các em đã quen thuộc
c) Tạo cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi trong giờ luyện nói nh: không khí hào hứng của lớp học, thái độ dễ hợp tác của những ngời cùng tham gia giao tiếp, sự động viên khuyến khích kịp thời của giáo viên
* Minh hoạ ở tiết luyện nói số 1
(SGK ngữ văn 7 - tập I)
Tuần 10 Bài 10
Tiết 40 Tập làm văn Luyện nói văn biểu cảm về sự vật, con ngời
A Kết quả cần đạt
- Học sinh nói đợc theo chủ đề biểu cảm
- Rèn kỹ năng tìm ý, lập dàn ý
B Các bớc tiến hành tổ chức để phát triển kỹ năng nói qua tiết luyện nói số 1 (Chỉ nêu các bớc chính)
B
ớc 1 : Hớng dẫn học sinh chuẩn bị
+ Phân nhóm : Chia học sinh thành 4 nhóm (có thể ứng với 4 tổ trong lớp) + Yêu cầu, nhiệm vụ : Mỗi nhóm chuẩn bị một đề bài, trao đổi, thảo luận, hình thành dàn ý bài nói (trên cơ sở chuẩn bị bài ở nhà- Giáo viên đã hớng dẫn ở cuối tiết học trớc) Học sinh tập nói từng phần, đoạn trong nhóm, cử đại diện nói trớc lớp
Trang 6- Nhóm 1 : Thực hiện đề số 1
Cảm nghĩ về thày, cô giáo, những “ngời lái đò” đa thế hệ trẻ “cập bến tơng lai”.
- Nhóm 2 : Thực hiện đề số 2
“Cảm nghĩ về tình bạn”
- Nhóm 3 : Thực hiện đề số 3
“Cảm nghĩ về sách vở mình đọc và học hàng ngày”
- Nhóm 4 : Thực hiện đề số 4
“Cảm nghĩ về món quà mà em đã đợc nhận thời thơ ấu”
* Học sinh có thể dễ dàng viết và nói nếu nh giáo viên có thể mở rộng phạm vi đề bài hơn hoặc thu gọn phạm vi đề bài lại ở một đối tợng cụ thể Vì vậy ở tiết luyện nói này, ứng với 4 đề bài trên, giáo viên có thể cho học sinh lựa chọn thêm 4 đề bài tơng ứng sau để các em lựa chọn và thực hiện:
- Đề 1b : Cảm nghĩ về một ngời thày(cô) giáo đã để lại cho em một kỷ niệm sâu sắc nhất trong những ngày đi học
- Đề 2b : Cảm nghĩ về một tấm gơng ngời bạn học giỏi, vợt khó
- Đề 3b : Cảm nghĩ về một cuốn sách hay em đợc đọc và khiến em nhớ mãi (hoặc một lần em tập viết bài gửi báo)
- Đề 4b : Cảm nghĩ của em về một món quà, bánh tuổi thơ
* Giáo viên gợi ý, bài mẫu :
A Mẫu chung của bài nói :
I/ Mở đầu :
Kính tha thày (cô) giáo và các bạn!
Tất cả những ai đã từng cắp sách tới trờng đều có những kỷ niệm sâu sắc về mái trờng, thày cô, bạn bè…Một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất để lại cho
em nhiều suy nghĩ và tình cảm là…
II/ Nội dung cụ thể của câu chuyện, kỷ niệm…
III/ Kết thúc :
Em xin đợc ngừng lời ở đây Cảm ơn thày (cô) và các bạn đã chú ý lắng nghe!
Trang 7B Mẫu riêng của phần II cho từng đề :
- Giáo viên minh hoạ trên máy chiếu hoặc bảng phụ để học sinh tham khảo (Chỉ đa ra ý chính của một bài nói)
* Đề 1 (hoặc 1b) :
- ý 1 : Ngạn ngữ phơng Tây có câu : “Mọi thiên tài đều bắt đầu từ chữ A”
Có nghĩa là ai cũng bắt đầu tự sự học tập của mình từ việc đánh vần các chữ cái A,B,C… Nghĩa rộng hơn : Bắt đầu từ những kiến thức sơ đẳng nhất để rồi sau
đó mới học lên thành tài Trong những ngày đầu bỡ ngỡ ấy em đã đợc thày cô giúp đỡ tận tình, em không bao giờ quên lời nhắc nhở của cô giáo từ ngày ấy:
“Nét chữ, nét ngời”.
- ý 2 : Trong những năm qua em đã đợc học rất nhiều thày cô giáo Mỗi thày, cô có một vẻ nhng đều giống nhau nơi phẩm chất tận tuỵ với công việc dạy chữ, dạy ngời Vì vậy mà em luôn kính trọng và biết ơn các thày cô giáo
- ý 3 : Kỷ niệm sâu sắc nhất của em là một lần em không thuộc bài, bị cô giáo Liên cho điểm kém Hết buổi học, em lo lắng không dám về nhà, phần vì buồn bã, phần vì xấu hổ Thế nhng khi về đến nhà thì đã thấy cô giáo đang ngồi nói chuyện với bố, mẹ em Cô gọi em lại gần, vuốt nhẹ mái tóc em, nói khẽ:
“Cô không thể tin nổi là em lại bị điểm kém nh vậy! Nhng bây giờ thì cô hiểu rồi! Cô xin lỗi em nhé!” Em đã khóc và gục đầu vào ngực cô Chả là hôm ấy
mẹ em ốm phải nằm viện Bố phải vào viện chăm sóc mẹ Suốt đêm hôm ấy một mình em trông đứa em nhỏ cha đầy hai tuổi
- ý 4 : Cứ mỗi lần nhớ lại kỷ niệm ấy, em lại bồi hồi nghĩ rằng cô Liên không chỉ là ngời lái đò thầm lặng mà còn là một ngời mẹ nhân hậu, không chỉ của riêng em, mà còn của nhiều bạn học sinh khác
* Đề 2 (hoặc 2b) :
- ý 1 : Em may mắn đợc sinh ra trong một gia đình hoà thuận, hạnh phúc Nhng ban đầu em cha hiểu hết đợc giá trị của sự may mắn đó Em thờng vòi vĩnh bố mẹ mua cho nhiều thứ đồ chơi đắt tiền Nhng vốn tính cả thèm
Trang 8chóng chán nên chỉ sau một thời gian ngắn là em quẳng lăn lóc mỗi thứ một nơi
Đến khi lên lớp 6, nhờ có bạn Hiền, em mới dần dần tiến bộ
- ý 2: Bạn Hiền phải chịu rất nhiều thiệt thòi Bố bạn không may mất sớm
do mắc bệnh hiểm nghèo Mẹ Hiền do phải vất vả, lo nghĩ nhiền nên cũng yếu,
ốm đau liên miên Hiền là chị lớn của hai đứa em nhỏ Bạn gầy gò, mảnh khảnh, nhng học rất giỏi và đều ở các môn Bạn cũng rất chạn hoà với mọi ngời
- ý 3 : Có một lần, bố em chiêu đãi cả nhà một chầu phở đêm, sau khi đi xem biểu diễn ca nhạc ở rạp, Lúc ấy khoảng gần 23 giờ Khi vừa bớc vào quán phở, em bỗng giật mình thẫn thờ nh ngời mất hồn Hiền đang tất tởi thu dọn bát
đĩa
- ý 4 : Sau lần tận mắt chứng kiến Hiền phải lao động vất vả để kiếm sống
mà vẫn cố gắng học giỏi, em tự thấy mình có lỗi với bố mẹ, với thày cô và với cả bạn Hiền Giờ đây, bạn ấy không chỉ là một tấm gơng cho em noi theo mà còn là một trong những ngời bạn thân nhất của em
* Đề 3 (hoặc 3b)
- ý 1 : Em rất thích đọc báo Thiếu niên Tiền phong Bởi vì ở đó có những mẩu chuyện giống nh nhiều chuyện thờng xảy ra ở lớp em Vì yêu thích tờ báo nên em cứ ao ớc giá mình viết đợc một mẩu chuyện đăng báo thì thú vị biết mấy! Thế là em hì hục tập viết
- ý 2 : Mẩu chuyện đầu tiên em kể về bạn Hoàng nhặt đợc của rơi nhng
đem trả ngời đánh mất Gửi bài đi rồi, em thấp thỏm chờ đợi Lâu quá không thấy báo đăng, em lại viết tiếp mẩu chuyện thứ hai kể về tấm gơng bạn Hiền vợt khó, học giỏi Chờ mãi báo cũng không đăng…
- ý 3 : Rất lâu sau, em lại cầm bút, lại tiếp tục viết Lần này em viết về tình cảm của mình đối với bạn Hải Mẹ bạn Hải chẳng may mất sớm Có lẽ vì thế nên đôi mắt bạn Hải lúc nào cũng ngơ ngác buồn Kết quả học tập của Hải cũng thất thờng Có những buổi chiều em sang chơi thì thấy bạn cứ ngồi im lặng ở
cửa nh đang ngóng đợi một ai đó Em hỏi, bạn khẽ trả lời “Tớ đợi bố tớ…” Bố
bạn Hải thờng về muộn và ngày càng về muộn Có khi đến đêm mới về Em
Trang 9hỏi mẹ: “Sao bố bạn Hải hay về muộn thế mẹ nhỉ?” Mẹ ôm em vào lòng, thở dài : “Bạn ấy có lẽ sắp có mẹ kế, con ạ!” Em ôm chặt cổ mẹ, thì thào trong nỗi
lo lắng, mơ hồ không hiểu từ đâu dấy lên :
- Mẹ ơi! Mẹ đừng ốm, mẹ nhé!
Hình nh mẹ cũng khóc
- ý 4 : Ba tuần sau, em đợc tin có bài đăng báo Tiết sinh hoạt, cô giáo đọc mẩu chuyện của em đợc đăng trên báo Thiếu niên Tiền phong cho các bạn cùng nghe Cả lớp hớng ánh mắt về phía Hải Tất cả đều có chung một ý nghĩ : Phải giúp đỡ bạn Hải học tập tốt hơn
- ý 5 : Thế là em đã đạt đợc ớc mơ Nhng lớn hơn cả ớc mơ là em cảm thấy mình đã lớn, làm đợc một việc có ích để bài tỏ tình cảm chân thành đối với bạn Hải
* Đề 4 (hoặc 4b)
- ý 1 : Có một nhà văn đã viết : “Một mảng kỷ niệm lớn của đứa trẻ là món ăn - đặc biệt là cái thứ mà ngời dân Bắc gọi là quà bánh…Gọi là món
ăn, nhng thực chất là món ăn tinh thần Bởi ngời ta ăn ngon chủ yếu là do kỷ niệm Những món ăn thủa nhỏ là những thứ ngon nhất còn lại cả đời ngời”
Điều đó quả thật rất đúng với tôi
- ý 2 : Các bạn tôi ai cũng thích ăn quà, mỗi đứa thích một kiểu Riêng tôi rất thích ô mai gừng ôi những quả ô mai nâu, mềm nằm cùng những miếng gừng đã đợc nghiền nhỏ mới hấp dẫn làm sau Vai đeo cặp, đi bộ trên đờng tới trờng hay tan học trở về nhà có ô mai gừng làm bạn, đờng đi nh ngắn lại
- ý 3 : Cảm giác khi quả ô mai vào miệng rồi, không thể diễn tả hết cái ngon của nó: Vừa chua, vừa ngọt, vừa cay, vừa thơm Thích nữa là khi nhìn bọn bạn tôi, mắt chúng sáng rực lên khi tôi xoè gói ô mai Mỗi đứa nhón một quả,
có đứa lại chỉ thích tí gừng, vừa ăn vừa chèm chẹp miệng “ngon ngon, thơm thơm…”
- ý 4 : Tôi thờng tiết kiệm tiền quà sáng để dành mua ô mai gừng Năm trăm, một nghìn, chỉ thế thôi là chúng tôi lại có ô mai Kỷ niệm và tình bạn gắn
Trang 10liền với món quà học sinh giản dị mà “cảm giác ngon của nó lu lại cả đời ng-ời…”
B
ớc 2 : Hớng dẫn tập nói trên lớp :
- Giáo viên dựa vào gợi ý A, B trong bớc 1, yêu cầu 4 đại diện của 4 nhóm lên trình bày bài nói của mình, các bạn bổ sung, góp ý (ớc lợng thời gian để gọi
số học sinh khác tham gia nói)
- Giáo viên chốt :
1) Muốn ngời nghe hiểu thì ngời nói phải lập ý và trình bày theo thứ tự ý1, ý2, ý 3 ý 4, ý 5…
2) Muốn truyền đợc cảm xúc cho ngời nghe thì :
- Tình cảm phải chân thành
- Từ ngữ phải chính xác, trong sáng
- Bài nói phải mạch lạc và đảm bảo tính liên kết chặt chẽ
B
ớc 3 : Hớng dẫn luyện tập ở nhà:
- Học sinh chọn 1 trong 4 đề viết thành bài văn hoàn chỉnh
* L
u ý khi thực hiện (đối với giáo viên).
- Tiết luỵên nói thực chất là tiết luyện tập về tạo lập văn bản với mục tiêu chính là rèn luyện kỹ năng nói theo chủ đề Vì vậy, giáo viên cần có bớc luyện tập bằng văn bản mẫu Từ văn bản mẫu (nói hoặc viết) học sinh sẽ đợc truyền hứng thú và có định hớng để thực hiện bài văn nói hoặc viết Đó cũng là mục
đích cuối cùng của dạy học Tập làm văn Quá trình này đợc thể hiện trên sơ đồ sau :
Đề bài Dàn bài Văn bản sáng tạo
Văn bản mẫu Dàn bài Văn bản sáng tạo
Cách thức luyện tập Bớc bắt buộc Mục đích dạy học tập làm văn