1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng chính trị xã hội của lê quý đôn trong tác phẩm quần thư khảo biện

110 900 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Quý Đôn đã đưa ra một số quan điểm chính trị - xã hội mà nhiều học giả quan tâm, song việc làm sáng tỏ những quan điểm đó cho đến nay vẫn chưa được thực hiện triệt để, chưa thấy hết n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thị Thọ

Nội dung và các trích dẫn nêu trong luận ăn có nguồn gốc rõ ràng và trung thực

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về đề tài nghiên cứu của mình

Hà Nội, tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Thúy Hằng

Trang 3

Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy giáo,

Cô giáo trong khoa Triết Học, Đại học Sư phạm Hà Nội đã cung cấp cho tôi những tri thức quý báu trong suốt quá trình học tập, cũng như đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, xin giử lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn đồng hành, động viên và giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Thúy Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9

5 Giả thuyết khoa học 9

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 9

8 Phương pháp nghiên cứu 10

9 Kết cấu luận văn 10

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 10

CHƯƠNG 1 LÊ QUÝ ĐÔN VÀ TÁC PHẨM QUẦN THƯ KHẢO BIỆN 11 1.1 Lê Quý Đôn cuộc đời và sự nghiệp 11

1.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội, chính trị thời Lê - Trịnh 11

1.1.2 Cuộc đời Lê Quý Đôn 21

1.1.3 Sự nghiệp của Lê Quý Đôn 24

1.1.4 Tiền đề tư tưởng hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn 29

1.2 Tác phẩm “Quần thư khảo biện” 38

1.2.1 Sự ra đời của tác phẩm 38

1.2.2 Nội dung cơ bản của tác phẩm 40

Tiểu kết chương 1 44

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA LÊ QUÝ ĐÔN TRONG “QUẦN THƯ KHẢO BIỆN” 45

2.1 Tư tưởng về đường lối trị nước 45

2.1.1 Tư tưởng trị nước với sự kết giữa “Đức trị” và “Pháp trị” 45

2.1.2 Quyền hành tập trung một mối, trọng dụng hiền tài 61

Trang 5

2.2 Tư tưởng thân dân và trách nhiệm của nhà vua đối với dân 70

2.2.1 Coi trọng sức mạnh từ dân, lấy dân làm gốc 71

2.2.2 Đạo đức trách nhiệm của người cai trị 77

2.3 Ý nghĩa tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong Quần thư khảo biện với Việt Nam hiện nay 86

2.3.1 Ý nghĩa về sự kết hợp hài hòa giữa đức trị và pháp trị ở Việt Nam hiện nay 87

2.3.2 Ý nghĩa của tư tưởng thân dân với việc quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” 93

Tiểu kết chương 2 99

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

Việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam là việc làm cần thiết, không chỉ khơi dậy niềm tự hào dân tộc, mà còn góp phần giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực và thế giới, để khẳng định bản sắc, tính chủ quyền, độc lập của dân tộc

Chế độ phong kiến Việt Nam ở thế kỷ XVIII lâm vào khủng hoảng, cho

dù nhà nước phong kiến Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong thi hành nhiều chính sách cải cách nhưng đều không thành, không xây

Trang 7

dựng được bộ máy vững mạnh Mặc dù trong bối cảnh như vậy vẫn xuất hiện nhiều tư tưởng sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân, lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết… với mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn của nhiều nhà

tư tưởng kiệt xuất như Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm, Hương Hải Thiền Sư và trong các nhà tư tưởng đó không thể không kể đến một “nhà bác học lớn của Việt Nam trong thời kỳ phong kiến” - đó là Lê Quý Đôn Ông là một học giả xuất sắc, một nhà tư tưởng lớn trong lịch sử Việt Nam dưới thời phong kiến, sinh trưởng trong bối cảnh xã hội loạn lạc, phức tạp, có nhiều thay đổi Dù xã hội như vậy, nhưng nền kinh tế thời kỳ này lại đang trên đà khởi sắc, sự phát triển ngoại thương đã dẫn tới sự phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp,

sự tiếp xúc với chủ nghĩa tư bản phương Tây làm cho thị trường nước ta có sự thay đổi, sự gia tăng thành thị, sự chuyển biến trong tư tưởng đã làm xuất hiện những tư tưởng lớn, tiến bộ Với trí thông minh, vốn tri thức uyên bác, tinh thần học hỏi không ngừng, có cơ hội đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người, nhiều luồng tư tưởng nên Lê Quý Đôn đã chắp bút và để lại cho hậu thế một kho tàng tri thức phong phú, quý báu cả về Lịch sử, Văn học, Địa lý và Triết học

Các tác phẩm của Lê Quý Đôn, như Kiến văn tiểu lục,Vân đài loại ngữ,

Thánh mô hiền phạm lục, Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Quần thư khảo biện… đến nay vẫn là những sử kiện quý giá mà hầu hết các nhà nghiên cứu

lịch sử tư tưởng, các nhà sử học, nhà văn học cả của Việt Nam và thế giới đều trân trọng, quan tâm nghiên cứu Lê Quý Đôn đã đưa ra một số quan điểm chính trị - xã hội mà nhiều học giả quan tâm, song việc làm sáng tỏ những quan điểm đó cho đến nay vẫn chưa được thực hiện triệt để, chưa thấy hết những giá trị mà tư tưởng của ông để lại cho nhân loại

Cuộc đời Lê Quý Đôn là cuộc đời của một đại trí thức và của một người làm quan Đánh giá về cuộc đời trí thức, ông được tôn vinh là nhà bác học lớn của Việt Nam dưới triều đại phong kiến Nhưng về cuộc đời quan chức, vẫn còn nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu sâu, thậm chí là bỏ ngỏ như tư tưởng

Trang 8

của ông về trọng pháp, thân dân, đổi mới quan trường, ý thức dân tộc Các công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học và chính trị - xã hội qua các tác phẩm của Lê Quý Đôn còn ít dù những tư tưởng này được thể hiện một cách

tương đối rõ ràng trong nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt trong hai tác phẩm

Vân đài loại ngữ và Quần thư khảo biện

Nghiên cứu Quần thư khảo biện, là chúng ta quay về với cuội nguồn,

qua tìm hiểu tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn giúp chúng ta hiểu hơn về những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đây chính là một trong những động lực tinh thần giúp dân tộc ta vượt qua khó khăn và phát triển đến nay Mặt khác, đây là một trong những nguồn tư liệu khoa học để nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Vì những lý do trên việc nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội của Lê

Quý Đôn trong Quần thư khảo biện là việc làm cần thiết nó không chỉ khẳng

định lịch sử tư tưởng nước nhà, mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc, góp phần vào việc gìn giữ, giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực và thế giới Để góp phần nghiên cứu nhỏ bé của mình vào lĩnh vực lịch sử tư tưởng Việt Nam, để bồi dưỡng tốt hơn cho công tác chuyên môn, tôi chọn đề tài

“Tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Quần thư khảo biện” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành triết học của mình

Có những nghiên cứu tập trung về cuộc đời sự nghiệp của Lê Quý Đôn, có tài liệu nghiên cứu về tư tưởng văn học, lịch sử, triết học, đạo đức, có tài liệu

Trang 9

nghiên cứu về nội dung các tác phẩm của ông Về tác phẩm Quần thư khảo

biện cũng đã có các học giả nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích ở những khía cạnh

và nội dung khác nhau như nghiên cứu về tác giả, một số nội dung chính của tác phẩm, tư tưởng dân tộc Việt Nam thế kỷ XVIII Song trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi muốn chú trọng đến những công trình liên quan đến thân thế, sự nghiệp và những nội dung tư tưởng chính trị - xã hội quan trọng của Lê Quý

Đôn trong Quần thư khảo biện

Có thể kể đến một số nhóm công trình tiêu biểu như sau:

Nhóm thứ nhất, những nghiên cứu về lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội

ở Việt Nam

Chính trị - xã hội là một trong những đề tài nghiên cứu được nhiều tác

giả quan tâm dành nhiều công sức để tìm hiểu Trong đó có “Lịch sử tư tưởng

Việt Nam”, tập 1 của Viện Triết học, do GS, TS Nguyễn Tài Thư chủ biên,

Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1993 Đã đề cập đến nhiều nhà

tư tưởng tiêu biểu trong lịch sử của dân tộc, trong đó có Lê Quý Đôn Công trình nghiên cứu đã nêu những quan niệm về chính trị xã hội, triết học, ý thức dân tộc tự lực tự cường, mặc dù các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu kỹ về những nội dung về thế giới, chưa giải thích rõ nhiều quan điểm của Lê Quý Đôn, mà chỉ dừng lại ở chỗ, khẳng định Lê Quý Đôn có khuynh hướng trị nước bằng pháp trị và nhân trị, dùng cặp phạm trù “lý” và “khí” để lý giải bản chất của thế giới Tuy nhiên, các tác giả chưa tìm hiểu sâu để phân tích nguồn gốc của những quan điểm đó Khi trình bày quan điểm “Tam giáo đồng nguyên” qua tư tưởng của Lê Quý Đôn lúc bấy giờ ở nước ta, các tác giả cũng chưa lý giải kỹ vì sao khuynh hướng của Lê Quý Đôn lại phủ nhận sự độc tôn của Nho giáo cho dù ông là nhà Nho

Qua tác phẩm cho thấy Lê Quý Đôn là một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu của dân tộc ta, là một nhà tư tưởng tiêu biểu trên mọi lĩnh vực,

Trang 10

không chỉ có triết học Từ đó đã giúp chúng ta có được những định hướng khi nghiên cứu về Lê Quý Đôn ở nhiều lĩnh vực khác nhau, những khẳng định trong khuynh hướng tư tưởng của ông chính là những đề tài mở, cho nhiều tác giả nghiên cứu kỹ hơn về ông

Công trình “Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước

đến đầu thế kỷ XX, PGS.TS Doãn Chính (chủ biên) do Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia - Sự thật, ấn hành năm 2013 Tác phẩm đã đề cập đến tư tưởng chủ đạo về bản thể luận và nhận thức luận, đề cập đến một cách tổng quan nhất về

tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn về tư tưởng lấy dân làm gốc, về lòng tự tôn tự hào dân tộc, sự dung hòa giữa đức trị - pháp trị - nhân trị, về đạo đức xã hội… qua việc dẫn chứng các tác phẩm của Lê Quý Đôn Tuy nhiên, công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam, chứ mục đích nghiên cứu không đi sâu tìm hiểu về một tác giả nào cụ thể, đây chính là tài liệu bổ ích cho các bạn đọc làm cơ sở để tìm hiểu về sự hình thành lịch sử tư tưởng Việt Nam

Nhóm thứ hai, những nghiên cứu về triết học của Lê Quý Đôn

Trong “Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu” của

Cao Xuân Huy, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1995, là một trong những công trình đã bàn khá sâu sắc về những quan điểm triết học tự nhiên

của Lê Quý Đôn, thông qua bài viết Lê Quý Đôn và học thuyết lý, khí Bài viết

ngoài việc trình bày về tư tưởng của Lê Quý Đôn về bản thể của thế giới, vũ trụ, còn chỉ ra nguồn gốc hình thành tư tưởng của Lê Quý Đôn Từ đó, có những đánh giá về những tiến bộ và hạn chế của ông so với các nhà Nho cùng thời Trong công trình nghiên cứu, mặc dù các tác giả chưa đề cập đến các vấn đề triết học như vấn đề con người, chính trị - xã hội… Nhưng tác giả đã chĩ rõ nguồn gốc hình thành tư tưởng Lê Quý Đôn, chỉ ra những hạn chế, tiến

bộ của Lê Quý Đôn so với các nhà Nho cùng thời

Trang 11

Công trình dù đã trình bày khá cụ thể quan điểm về bản thể thế giới của Lê Quý Đôn, nhưng các bài viết chủ yếu vẫn mang tính giới thiệu, mang tính khái quát, chưa đánh giá, phân tích kỹ chưa giúp cho người đọc thấy được khuynh

hướng Tam giáo đồng nguyên trong tư tưởng của ông Các vấn đề về con người,

chính trị - xã hội các tác giả cũng chưa đề cập đến, chưa phân tích tới

Công trình Lê Quý Đôn - Nhà bác học Việt Nam thế kỷ XVIII, Sở Văn

hóa và Thông tin Thái Bình, (Kỷ yếu Hội nghị chuyên đề về những cống hiến của Lê Quý Đôn) Trong đó, các tác giả đã bàn về các phạm trù bản thể luận

của Lê Quý Đôn qua việc tìm hiểu phạm trù lý và khí trong Vân đài loại ngữ

Qua đó các tác giả đặt ra vấn đề và chứng minh các yếu tố trong vũ luận của

Nho gia Trung Quốc như lý và khí được Lê Quý Đôn biến đổi, cấu trúc theo cách riêng, không đối nhau mà lý trở thành thuộc tính của khí Song công

trình giành số trang để nghiên cứu về bản thể luận chưa nhiều và sâu mà chủ yếu mới dừng ở việc nêu ra và có một số nhận xét, phần lớn công trình trên tìm hiểu Lê Quý Đôn ở mặt tổng quát chung chưa phân tích sâu, cụ thể

Nhóm thứ ba, những công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của

Lê Quý Đôn

Công trình Lê Quý Đôn, nhà tư tưởng Việt Nam thế lỷ XVIII, của GS Hà

Thúc Minh do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1998, tái bản lần thứ nhất năm 1999 Đây là một trong những công trình nghiên cứu khái quát về Lê Quý Đôn trên mọi phương diện từ tư tưởng cho đến cuộc đời sự nghiệp, các tác phẩm tiêu biểu GS Hà Thúc Minh đã dày công tìm hiểu, nghiên cứu để trích dẫn đưa

ra những minh chứng thông qua các tác phẩm lớn của Lê Quý Đôn như: Quần

thư khảo biện, Thư kinh diễn nghĩa, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ… Để

trình bày những tư tưởng về chính trị - xã hội, triết học của Lê Quý Đôn Nhưng tác giả chỉ khái quát phần nào tư tưởng của Lê Quý Đôn trong khoảng 30 trang trên 151 trang công trình nghiên cứu, cho nên theo tôi công trình này chưa khai thác hết giá trị của các tác phẩm của Lê Quý Đôn đã được trích dẫn

Trang 12

Theo GS Hà Thúc Minh khi Lê Quý Đôn bàn về nguồn gốc thế giới đã

dựa vào “lý bản thể”, từ đó khẳng định lý có trước khí Tác giả nhận xét tuy quan niệm lý ở trong khí nhưng theo Lê Quý Đôn, thì lý vẫn là cái có trước, thực chất Lê Quý Đôn chỉ muốn nhấn mạnh sự tồn tại của lý trong khí, chứ không khẳng định lý có trước khí (trong Vân đài loại ngữ)

Bài viết “Vài nét về Lê Quý Đôn nhà bác học lớn của Việt Nam dưới thời

phong kiến” và “Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự nghiệp” của GS Văn Tân đăng

trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử năm 1976, cũng là nguồn tư liệu về triết học của

Lê Quý Đôn đáng tham khảo Bài viết chủ yếu tập trung đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp, khái quát hóa quan điểm triết học của Lê Quý Đôn qua việc giải quyết

mối quan hệ giữa lý và khí và hoạt động chính trị của ông Nhưng theo quan

niệm của GS Văn Tân thì tư tưởng triết học Lê Quý Đôn không thể vượt ra khỏi quan niệm triết học Tống Nho Điều này không hoàn toàn chính xác Mặc dù Lê Quý Đôn đã kế thừa và chịu ảnh hưởng của tư tưởng Tống Nho song ông cũng

có những quan điểm riêng của mình Có thể nói, Lê Quý Đôn đã xuất phát từ triết học Tống Nho để giải quyết các vấn đề theo quan điểm riêng, nó được thể

hiện khá rõ trong tác phẩm Vân đài loại ngữ Các nhà Tống Nho đề cao những giá trị đạo đức truyền thống của Nho giáo như Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín… Còn tìm hiểu Vân đài loại ngữ, chúng ta nhận thấy Lê Quý Đôn muốn giải thích tính

thống nhất của thế giới không phải là ở những giá trị đạo đức của Nho giáo, mà

là ở khí Điều này nói nên sự khác biệt giữa Lê Quý Đôn với phái Tống Nho Tư

tưởng của ông mang tính duy vật về bản chất của thế giới Về chính trị - xã hội, các nhà Nho luôn coi trọng nhân trị, đức trị, còn Lê Quý Đôn lại cho rằng phải kết hợp giữa Nhân trị và Pháp trị Tác giả đã sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác

nhau như Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí… Khi

tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn, đây là một trong những tư liệu có giá trị đối với các nhà nghiên cứu sau này

Ngoài những bài viết trên còn có bài “Vài nét về Lê Quý Đôn - Nhà bác

Trang 13

“Danh nhân Lê Quý Đôn - Cuộc đời và sự nghiệp”, tháng 8/2016 tại Thái

Bình, trình bày khái quát về sự nghiệp của Lê Quý Đôn qua hàng loạt tác phẩm của ông, từ đó khẳng định ông là nhà bác học lớn của lịch sử Việt Nam dưới triều đại phong kiến, là nhà tư tưởng tiến bộ trong đó có những tư tưởng

về tư tưởng yêu nước, thương dân qua tác phẩm Quần thư khảo biện Song bài

viết chưa thực sự bàn kỹ, nghiên cứu sâu đến tư tưởng chính trị - xã hội mà chỉ dừng lại ở việc đưa ra những luận điểm cơ bản của Lê Quý Đôn về mong muốn xây dựng một nhà nước dựa vào dân

Như vậy, chúng ta thấy có nhiều công trình nghiên cứu về Lê Quý Đôn liên quan đến đề tài của luận văn Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi vào nghiên cứu tư tưởng của Lê Quý Đôn một cách sâu sắc dưới góc độ triết học

trong tác phẩm Quần thư khảo biện Kế thừa những thành tựu từ các công

trình đã nghiên cứu về Lê Quý Đôn nói chung và về tư tưởng chính trị - xã hội của ông nói riêng, tác giả luận văn cố gắng tìm hiểu, phân tích đánh giá những nội dung, giá trị về tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn qua tác

phẩm Quần thư khảo biện

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu bối cảnh kinh tế - xã hội và tiền đề văn hóa, tư

tưởng cho sự ra đời tư tưởng triết học của Lê Quý Đôn và tác phẩm Quần thư

khảo biện Từ đó chỉ ra những nội dung cơ bản về tư tưởng chính trị - xã hội

của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Quần thư khảo biện

Trang 14

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Quần thư

khảo biện

5 Giả thuyết khoa học

Nếu phân tích, làm rõ các tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong

Quần thư khảo biện sẽ giúp chúng ta thấy được nội dung cơ bản trong tư tưởng

chính trị - xã hội của ông và thấy được vai trò lịch sử của Lê Quý Đôn ở thế kỷ XVIII, qua đó rút ra ý nghĩa tư tưởng chính trị - xã hội của ông đối với Việt Nam hiện nay

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, trình bày khái quát những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội

thời Lê - Trịnh, và những tiền đề văn hóa, tư tưởng cho sự cho sự ra đời tác

phẩm Quần thư khảo biện, cũng như những tư tưởng về chính trị - xã hội của

Lê Quý Đôn qua tác phẩm

Thứ hai, tìm hiểu, phân tích nội dung, chỉ ra những giá trị cơ bản về tư

tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Quần thư khảo biện

Từ đó trình bày ý nghĩa của tư tưởng chính trị - xã hội của ông đối với Việt Nam hiện nay

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Quần thư

khảo biện tương đối rộng, trong luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu

hai nội dung là: Tư tưởng về đường lối trị nước; Tư tưởng thân dân và trách nhiệm của nhà vua đối với dân

Trang 15

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa, chú giải tài liệu…

9 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 2 chương, 5 tiết

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

10.1 Những luận điểm cơ bản

- Lê Quý Đôn là một nhà bác học lớn của Việt Nam dưới triều đại phong kiến

- Lê Quý Đôn đã để lại cho hậu thế một kho tàng tri thức phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, qua các tác phẩm tiêu biểu của ông, trong

đó có tác phẩm Quần thư khảo biện

- Quần thư khảo biện là tác phẩm chứa đựng nhiều tư tưởng chính trị -

xã hội sâu sắc của Lê Quý Đôn Trong đó đặc biệt là tư tưởng về đường lối trị nước; tư tưởng thân dân và trách nhiệm của nhà vua đối với dân

10.2 Đóng góp mới của luận văn

Về lí luận, luận văn góp phần tìm hiểu thêm về lịch sử tư tưởng Việt

Nam thông qua nghiên cứu các nhà tư tưởng, mà cụ thể là Lê Quý Đôn Luận văn phần nào khái quát và phân tích một cách có hệ thống những nội dung

chủ yếu trong tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn qua tác phẩm Quần

thư khảo biện Từ đó nhấn mạnh những giá trị của những tư tưởng đó với Việt

Nam trong giai đoạn hiện nay

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu

tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập các môn học như: Lịch sử; Lịch sử tư tưởng Việt Nam; Lịch sử triết học Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1

LÊ QUÝ ĐÔN VÀ TÁC PHẨM QUẦN THƯ KHẢO BIỆN

1.1 Lê Quý Đôn cuộc đời và sự nghiệp

Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định của bất cứ một dân tộc nào đều chịu ảnh hưởng bởi những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Việc lựa chọn tư tưởng, đường lối chính trị phù hợp với bối cảnh lịch sử sẽ tác động tích cực đến sự phát triển của một quốc gia và ngược lại chính những điều kiện đó sẽ đánh giá sự phù hợp của các tư tưởng, các đường lối chính trị Đây là một trong những nguyên lý mà chủ nghĩa Mác đã khẳng định là tồn tại

xã hội quyết định ý thức xã hội

Cho nên khi tìm hiểu lịch sử nói chung hay lịch sử tư tưởng Việt Nam nói riêng, chúng ta cần tìm hiểu vấn đề trong bối cảnh lịch sử nhất định Lê Quý Đôn

là nhà bác học, nhà tư tưởng thế kỷ XVIII, ông đã để lại cho thế hệ sau một kho tàng tri thức đồ sộ, những tư tưởng chính trị - xã hội của ông ra đời chịu sự ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội, chính trị lúc bấy giờ

1.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội, chính trị thời Lê - Trịnh

Bối cảnh chung của xã hội Việt Nam lúc này là, nước Đại Việt chia cắt thành Đàng Trong - Đàng Ngoài, các cuộc nội chiến diễn ra triền miên, Đàng Ngoài thuộc vua Lê chúa Trịnh và Đàng Trong thuộc các chúa Nguyễn Chính

sự khủng hoảng của bộ máy nhà nước phong kiến lúc đó, sự chia cắt hai miền

đã ảnh hưởng đến bối cảnh kinh tế - xã hội, chính trị, thế kỷ XVIII

* Bối cảnh kinh tế - xã hội:

Ở Đàng Ngoài, tình trạng tư hữu ruộng đất ngày càng gia tăng, diện tích

ruộng đất công ngày càng bị thu hẹp, trong khi nhiều địa chủ có hàng trăm, hàng nghìn mẫu ruộng thì nhiều nông dân không có ruộng để cày cấy Cùng với đó các cuộc tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến như Mạc

Trang 17

- Trịnh, Trịnh - Nguyễn… dẫn đến sự lơ là trong sản xuất nông nghiệp Mặc

dù nhà nước Lê - Trịnh ở Đàng ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong không phát huy được vai trò của mình như thời Lý, Trần, Lê - Sơ, nhưng với truyền dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, tinh thần yêu nước, cần cù lao động những người nông dân vẫn cố gắng lao động sản xuất để duy trì cuộc sống, phát triển nền sản xuất nông nghiệp truyền thống Song, sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, kinh tế hàng hóa không phát triển như trước, các khu đô thị như Phố Hiến sau một thời gian phát triển hưng thịnh lâm đã vào tình trạng suy tàn “Chế độ tư hữu ruộng đất thuộc về tay địa chủ dẫn đến sự phân hóa giai cấp, giàu - nghèo trong xã hội ngày càng sâu sắc Cùng với đó là tình trạng thiên tai, mất mùa, hạn hán… liên miên đã dẫn đến đời sống nông dân lâm vào khổ cực Chỉ trong thế kỷ XVIII, riêng ở Đàng Ngoài có đến 16 năm xảy ra nạn lụt, vỡ đê và 10 năm bị hạn hán” [57; tr 258] Đời sống khổ cực, khó khăn buộc người nông dân phải bỏ làng ra đi tìm kế sinh nhai - đó chính

là công cuộc khai hoang lập xóm làng mới, mở rộng ruộng đất canh tác diễn

ra ở nhiều nơi nhất là các khu vực đồng bằng, hay ven biển Do đó, sản xuất nông nghiệp ở Đàng Ngoài về cơ bản vẫn duy trì sự phát triển nhất định thể hiện quan hệ sản xuất phong kiến Lê Quý Đôn cũng là một trong những vị quan bị ảnh hưởng bởi công cuộc khai hoang lúc đó, như việc ông đã vạch ra những kế hoạch khai hoang ruộng đất, vào năm 1770 ông đã dâng sớ xin tổ chức đồn điền

Ở Đàng Trong, sản xuất nông nghiệp với công cuộc khai phá đất hoang

được đẩy mạnh theo các hình thức và quy mô khác nhau Những nông dân ở Đàng Trong được chúa Nguyễn khuyến khích khai hoang lập làng, những ruộng đất được khai hoang trở thành công điền cho những người khai phá và

họ sản xuất trên mảnh đất đó nhưng phải nộp tô cho chính quyền, có một số

bộ phận nhỏ được giao quyền tư điền, công cuộc khai hoang đó chủ yếu diễn

Trang 18

ra ở vùng Thuận Quảng Ở vùng Thuận Quảng đất chủ yếu là công điền

nhưng tiến càng vào phía Nam lại càng ít mà chủ yếu là ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân là chính, tức là ruộng đất thuộc quyền sở hữu của địa chủ, quan lại, chúa Nguyễn còn cho phép các quan lại trao đổi mua bán nô tỳ Bọn địa chủ quan lại bóc lột nông dân bằng cách thu tô, quan hệ xã hội theo kiểu địa chủ - tá điền Cùng thời gian này thì ở Đàng Ngoài các phong trào khởi nghĩa của nông dân diễn ra sôi nổi, về cơ bản chế độ nô tỳ không còn

Lúc này, ruộng đất ở Đàng Trong chia thành các loại cho quan đồn điền, quan điền trang và ruộng đất công ở làng xã Quan lại hưởng bổng lộc từ ruộng đất, qua việc thu tô, thuế từ các điền trang, hay bắt nông nô cày cấy ở đồn điền, còn ruộng đất công ở làng xã được giao cho nông dân cày cấy và họ phải nộp tô Trong công cuộc khai hoang ở Đàng Trong chúa Nguyễn có nhiều hình thức giao đất để khuyến khích khai hoang, lập ấp, như: Giao ruộng đất do những người giàu để khai hoang, một số người từ Thanh Hóa đã theo chúa Nguyễn vào Thuận Quảng, ở Nam bộ thì giao đất cho người có công đầu khai hoang… Chúa Nguyễn sử dụng cả tù binh, nông dân bị bắt trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn ở Nghệ An để khai hoang ruộng đất, ở phía Nam chúa Nguyễn khuyến khích người Việt đã sinh sống lâu đời khai hoang, lập làng mới, khi số người khai hoang từ Thuận Quảng vào phía Nam ngày một đông, chúa Nguyễn khuyến khích quan lại, địa chủ, người phiêu tán đi khai khẩn tiếp để làm chủ vùng đất mới Chính việc mở rộng cả quy mô, hình thức khai hoang đã giúp chúa Nguyễn xây dựng được hệ thống bộ máy quan lại địa chủ nhiều cả về quy mô, hình thức, làm cho tầng lớp này ngày một giàu hơn Kinh

tế nông nghiệp ở Đàng Trong phát triển tạo cơ sở vững chắc cho chúa Nguyễn, vì tất cả ruộng đất đều thuộc sở hữu của chúa Nguyễn và nó sẽ đảm bảo sự duy trì cho sinh hoạt của nội phủ chúa Nguyễn Đồng thời càng làm trở ngại cho vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài

Trang 19

Bên cạnh sự phát triển sản xuất nông nghiệp, trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến XVII diễn ra sự phát triển giao thương trao đổi, mua bán hàng hóa của các đô thị nhưng sang thế kỷ XVIII lại bị suy yếu Vì tập trung phát triển nông nghiệp kiểu sản xuất khép kín, khai khẩn đất hoang nên không chú đến phát triển giao thương buôn bán với các thương gia nước ngoài, trong khi

đó nghề thủ công được phát huy như nghề làm gốm, dệt chiếu, lụa hoa, đúc chum, làm giấy…, đã hình thành một số khu thành thị mới như Kẻ Chợ, Phố Hiến ở Đàng Ngoài hay Hội An ở Đàng Trong

* Bối cảnh chính trị:

Bối cảnh chính trị khủng khoảng, cuộc nội chiến Nam - Bắc triều (1533 - 1592) kéo dài hơn nửa thế kỷ, tiếp theo đó lại là cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn, giữa triều đình Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong kéo dài 45 năm (từ năm1627 - 1672) đã làm cho đất nước ta bị tổn thất nghiêm trọng trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, làm ảnh hưởng đến truyền thống đoàn kết của dân tộc Họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong đều tăng cường xây dựng bộ máy nhà nước phong kiến quan liêu, nhằm củng cố quyền lực của dòng tộc dẫn đến nguy cơ bất ổn, khủng hoảng chính trị xã hội

Với thể chế chính trị cung Vua và phủ Chúa ở Đàng Ngoài, đây là lần

đầu tiên trong lịch sử Việt Nam xuất hiện thể chế chính trị đặc biệt Vua Lê Chúa Trịnh (1545 - 1786), bên cạnh ngai vàng của nhà vua là phủ chúa, nhưng không phải là quyền lực được chia đôi cho vua Lê và chúa Trịnh Trong thực

-tế, bắt đầu từ khi đất nước bị chia cắt làm hai miền thì họ Trịnh nắm toàn bộ chính quyền ở Đàng Ngoài chứ không phải vua Lê, sự tồn tại của vua Lê chỉ là hình thức, cái bóng; còn ở Đàng Trong thì quyền lực là của chúa Nguyễn

Đã có nhiều thắc mắc, nghi vấn được đặt ra tại sao quyền lực thuộc về chúa Trịnh, mà chúa Trịnh không chiếm luôn ngôi vua của họ Lê Nhìn lại

Trang 20

lịch sử chúng ta thấy rằng sau đời Lê Thánh Tông (1460 -1497) triều đình đã không còn đủ sức mạnh để thực hiện quyền lực của mình như trước nữa, trong bối cảnh xã hội hỗn loạn lúc đó muốn duy trì sự tồn tại của mình vua Lê phải nhờ vào sức mạnh của chúa Trịnh Còn đối với chúa Trịnh muốn khẳng định sức mạnh, cho sự tồn tại hợp lý của mình lại phải mượn cái bóng của vua Lê

Từ thế kỷ XVI đến XVIII, đã có đến bốn thế lực tham gia tranh giành quyền lực là Lê, Trịnh, Mạc, Nguyễn, nhưng theo quan điểm lúc đó thì vua Lê là tồn tại chính danh, vua Lê được Thiên triều ở Trung Quốc ban sắc phong Chúa Trịnh là người tinh thông thời cuộc lúc đó, đã khôn khéo nghe theo sự khuyên bảo của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “giữ chùa thì ăn oản”, nếu tham vọng

mà cướp ngôi vua Lê thì họ Trịnh sẽ bị coi là giặc phản nghịch, tất nhiên sẽ bị

dư luận phản đối, mặt khác sẽ gặp sự phản đối từ Trung Quốc Cho nên chúa Trịnh đã khéo léo hòa hợp với vua Lê, không lật ngôi như Mạc Đăng Dung đã làm năm 1527, mà chúa Trịnh âm thầm lấn át vua Lê, biến vua Lê thành “cái bóng” chỉ có danh, mà không có quyền Quyền lực trong tay chúa Trịnh nhưng bản thân chúa Trịnh không tránh khỏi sự rình rập của các đối thủ khác như Thiên triều ở phương Bắc, hay sau năm 1592 ở Cao Bằng vẫn còn tàn dư của họ Mạc Cả vua Lê và chúa Trịnh đều thấy được sự cần thiết dựa vào nhau để cùng tồn tại nên hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Lê đã bắt tay nhau, đây chính là lý do cơ bản mà chúa Trịnh dù đủ khả năng lật đổ vua Lê mà lại không làm

Nhà Mạc được thành lập khi Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi vào năm 1527, ba năm sau Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh Năm 1530 Lê Ý ở Thanh Hóa nổi dậy nhằm lật đổ

họ Mạc, đến năm 1535 vua Ai Lao đã giúp đỡ Nguyễn Kim Tôn con của Lê Chiêu Tông lên làm vua đó là Lê Trang Tông, đóng đô ở Thanh Hóa và được

sự ủng hộ của phò tá theo hầu, đã tạo nên một triều đình mới đối lập với triều

Trang 21

đình họ Mạc ở phía Bắc, đến đây xã hội Đại Việt tồn tại một lúc hai triều đình Nam Triều và Bắc Triều Khi đó nhà Lê cùng với Trịnh Kiểm ủng hộ Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm được Nguyễn Kim tin cậy gả con gái là Ngọc Bảo, rồi được phong làm Đại tướng quân năm 1539, đến năm 1545 Nguyễn Kim bị một số tướng họ Mạc đầu độc chết, từ đó vua Lê phong Trịnh Kiểm lên thay Nhưng ông đã phản bội bố vợ và hại con trai cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông,

để bảo đảm tính mạng của mình người con thứ hai Nguyễn Hoàng phải nhờ

sự can thiệp của chị gái là Ngọc Bảo xin vào trấn thủ trong đất Thuận Hóa - Huế Nguyễn Hoàng bề ngoài tỏ thái độ thuần phục nghe theo họ Trịnh chống

họ Mạc, nhưng ngầm ý tạo cơ sở, lực lượng chống lại họ Trịnh, nên họ đã đẩy mạnh công cuộc khai hoang, mở rộng đất đai ở ĐàngTrong đến tận An Giang,

Hà Tiên Với khẩu hiệu “phù Lê diệt Mạc” mà họ Trịnh càng được tiếng, khi Trịnh Kiểm lên ngôi, họ Trịnh chủ yếu cai quản vùng phía Nam của Đại Việt, mặc dù trên danh nghĩa vẫn là dưới triều vua Lê

Năm 1527 khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê và cố gắng để chống lại tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh ở Thanh Hóa Trịnh Kiểm mất vào năm 1570, quyền lực lúc đó vào tay Trịnh Tùng, vua Lê cùng với Trịnh Tùng hòa hợp cho nên quân sĩ được quan tâm, khí thế hùng mạnh, Trịnh Tùng đem quân ra Thăng Long đánh dẹp nhà Mạc năm 1592, họ Mạc bị triều đình Lê - Trịnh dẹp yên, triều Lê được khôi phục, vua Lê Thánh Tông lên ngôi Vì thấy được công lao của mình trong việc dẹp họ Mạc, Trịnh Tùng ngày càng lộng hành yêu cầu vua Lê phải trao cho mình hàng loạt chức như Đô Nguyên súy, Tổng quốc chính, Thượng phụ bình an vương… có nhiều quyền lực trong tay ông thể hiện vị thế của mình khi đặt ra nhiều luật lệ, sắp đặt cả Thế tử của triều

Lê, được mọi người lúc đó gọi là Chúa, ông còn cho lập Phủ đình (còn gọi là Vương phủ) ngay bên cạnh vua Lê, cùng bàn việc nước, quyền lực nằm trong tay họ Trịnh, từ đây chế độ vua Lê – chúa Trịnh ra đời

Trang 22

Bộ máy chính trị thời Lê - Trịnh, từ đầu thế kỷ XVIII ngày càng mục nát, những thay đổi cải cách của họ đều nhằm mục đích thâu tóm quyền lực thuộc về tay chúa Trịnh, bộ máy cồng kềnh, phức tạp, theo kiểu con cháu Bắt đầu từ chúa Trịnh Giang, các chúa Trịnh ngày càng lún sâu vào cuộc sống ăn chơi, hưởng lạc, quan liêu, lũng đoạn làm khổ người dân lao động… Điều này cho thấy sự suy yếu, lung lay của hệ thống chính quyền quan lại thời Lê - Trịnh Những năm nửa sau thế kỷ XVIII, nội bộ phủ Chúa lục đục, tranh giành ngôi báu, các chúa Trịnh mải ăn chơi, hưởng thụ, phá vỡ cơ chế hai chính

quyền song song vua Lê - chúa Trịnh Lê Quý Đôn đã có nhận xét trong Văn

kiến Tiểu lục: “Đội ngũ quan liêu thời Lê - Trịnh có số lượng không nhiều so

với số lượng quan lại ở thời Hồng Đức; nhưng trong đó số người có tước vị bổng lộc mà không hoạt động gì lại tăng lên rất nhiều, khiến bộ máy quan chức thời kỳ này cồng kềnh và mang nặng tính quan liêu” [57; tr 266]

Trong khi đó, nhà Nguyễn ở Đàng Trong sau thất bại khi đánh chế độ Lê

- Trịnh ở Đàng ngoài năm 1620, đã đẩy mâu thuẫn giữa họ không thể giải hòa được, dẫn đến cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn bùng nổ năm 1627, đến năm

1672 hai bên chấp nhận lấy địa điểm là Sông Gianh là ranh giới vì hai bên bất phân thắng bại Khi Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp cha là Nguyễn Hoàng

đã thành lập riêng một chính quyền ở Đàng Trong, tại Đô thành Phú Xuân như một triều đại riêng gồm đủ sáu bộ: Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công, phát triển hưng thịnh về mọi mặt nhờ tài cai quản theo phép tắc công bằng, quân sĩ

có kỷ luật, sự khoan hòa nên được người dân quý mến, đức độ Trong khi tập đoàn phong kiến Đàng Ngoài bị suy yếu, tự nhận thấy tập đoàn phong kiến Đàng Trong là đối thủ mạnh, nên cần hòa hợp giữa vua Lê và chúa Trịnh, không thể quyền lực chia đôi Trước thực tế như vậy những người dân sống dưới triều đại đó cần phải linh hoạt, khôn khéo nhất là đối với đội ngũ quan lại để cùng chung sống dưới hai thể chế Đến đây lịch sử Việt Nam hình thành

Trang 23

một thể chế chính trị đặc thù là: một vua (Vua Lê) hai chúa (Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn) với hai thể chế chính quyền cùng tồn tại (chính quyền vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong)

Năm 1767 khi Trịnh Sâm lên cầm quyền, bộ máy cai trị ở Đàng Ngoài càng trở nên mục nát, tranh giành quyền lực, kèn cựa, tham ô, tham nhũng ngày càng nhiều Mới lên cầm quyền Trịnh Sâm đã hạ nhục em mình là Trịnh

Đệ, giết hại Thái tử Lê Duy Vĩ, sùng ái Đặng Thị Huệ, dung túng cho Đặng Mậu Lân… sa vào những cuộc ăn chơi dâm ô, sa đọa, trụy lạc nên chưa đầy

40 tuổi Trịnh Sâm đã bị bạo bệnh, từ đó mọi việc ở triều đình đều do Đặng Thị Huệ và Hoàng Đình Bảo quyết định Khi Trịnh Sâm mất, lại diễn ra cuộc chiến tranh tranh giành quyền lực giữa Trịnh Cán và Trịnh Khải, sau khi Trịnh Khải giành quyền đã phế truất Trịnh Cán, giết Hoàng Đình Bảo, làm cho cục diện chính trị ở Đàng Ngoài hết sức rối loạn, chế độ vua Lê - chúa Trịnh mục nát, không đủ khả năng để ổn định xã hội

Còn ở Đàng Trong, về cơ bản tình hình kinh tế - xã hội, chính trị tương đối ổn định đến giữa thế kỷ XVIII, khi Nguyễn Khúc Khoát chết, chế độ chúa Nguyễn lộng hành dẫn đến suy đồi Trương Phúc Loan phế bỏ di mệnh, lập Phúc Thuần lên ngôi chúa, tự xưng là Quốc phó, ông nắm giữ nguồn tài chính cùng với đó là bộ máy quan lại tăng nhanh, cồng kềnh, ăn bám làm gánh nặng lên người dân

Đây là giai đoạn mà các cuộc khởi nghĩa nông dân ở cả Đàng Ngoài và

Đàng Trong diễn ra Thế kỷ XVIII là “thế kỷ của nông dân khởi nghĩa”, khi

các tập đoàn phong kiến bằng mọi cách xây dựng, củng cố bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương Sự tồn tại bộ máy chính quyền cồng kềnh, chính sách thuế khóa nặng nề với những hình thức lạc hậu, bóc lột sức lao động của người dân, chế độ tư hữu ruộng đất của bọn địa chủ, trong khi đó bộ máy phong kiến lại tranh giành quyền lực Năm 1723, Trịnh Cương phải công

Trang 24

nhận “ruộng tư của dân phần nhiều lọt và tay nhà hào phú… hạng cùng dân ngày một quẫn bách” [34; tr 63]

Như đã nói ở trên, tình trạng tư hữu ruộng đất của địa chủ đã dẫn đến đẩy mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và địa chủ ngày càng rõ, bộ máy quyền lực ở làng xã trở thành công cụ cho giai cấp địa chủ cường hào để bóc lột nông dân lao động Rõ nhất là đến thời Trịnh Giang (1729 -1740), tình trạng rất trầm trọng, để có tiền chi phí cho những cuộc vui chơi sa đọa, vua Trịnh Giang đã tổ chức việc mua bán quan tước với những mức giá như: chức Tri phủ từ 1500 quan đến 2500 quan, chức Tri huyện từ 500 quan đến 1200 quan, quan Lục phẩm trở xuống cứ 500 quan sẽ được thăng một bậc, biến quan trường trở thành nơi trao đổi mua bán, tham nhũng càng làm cho đời sống người dân khổ cực

Ở Đàng Ngoài, người dân không còn tin vào sự điều hành của thể chế chính trị họ Trịnh, tất yếu dẫn đến hậu quả là những cuộc khởi nghĩa của nông dân, như Ngô Thế Lân đã nói: “Tục ngữ có câu: Một bữa không có ăn thì dù cha con cũng hết nghĩa Đến như cha còn không bảo được con, thì vua sao giữ được dân”

Bắt đầu từ cuối thế kỷ XVII sang đầu thế kỷ XVIII đã xuất hiện một vài cuộc khởi nghĩa nổi dậy lẻ tẻ với quy mô nhỏ của nhân dân ở cả miền ngược

và miền xuôi chống lại triều đình như khởi nghĩa ở vùng biển Yên Hưng - Quảng Ninh nổi dậy bạo động năm 1714; người Thái ở Đèo Mỹ Lầm ở châu Chiêu Tấn (Lai Châu) năm 1721, dân tộc thiểu số ở Cao Bằng năm 1724 Nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa do nhà sư Nguyễn Dương Hưng cầm đầu ở Tam Đảo (1736 - 1737), từ Tam Đảo nghĩa quân đã đánh về Thăng Long và nhiều nơi khác, đánh vào tầng lớp nhà giàu, để chia cho nhà nghèo Vua Lê - chúa Trịnh phải điều Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Lịch, Nguyễn Trọng Côn chia đường để dẹp cuộc khởi nghĩa Tiếp theo là cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật

Trang 25

(1738 - 1770), của Hoàng Công Chất (1739 - 1769), của Nguyễn Danh Phương (1740 - 1751), của Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751), hay các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển… Đến khoảng những năm 1770 các phong trào của nông dân bị suy yếu, mặc dù các cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng đã làm cho chính quyền Đàng Ngoài phải đối phó vất vả và bị lung lay, phần nào làm cho chế độ Lê - Trịnh bị suy yếu Các phong trào đó đã lôi cuốn được lực lượng đông đảo nông dân nghèo khổ bị bóc lột tham gia, phong trào lan rộng nhiều nơi, có cả các nhà Nho tham gia như Lê Duy Mật

Các phong trào của nông dân kéo dài, mở rộng khắp Đàng Ngoài, với mục tiêu chính là đánh đổ chính quyền phong kiến đã trở nên sa đọa, thối nát của họ Trịnh và bè lũ địa chủ, cường hào ở địa phương để đòi quyền lợi cho nông dân với khẩu hiệu “phù Lê, diệt Trịnh”, “lấy của nhà giàu chia cho người nghèo” Đây chính là đòn tấn công vào hệ thống chính quyền quan lại ở địa phương, đe dọa đến chính quyền họ Trịnh, mặc dù chưa giành thắng lợi quyết định song đã làm rung chuyển xã hội, lung lay đến thể chế vua Lê - chúa Trịnh, các phong trào đó chính là tiền đề tạo điều kiện chín muồi cho phong trào Tây Sơn sau này

Khi các phong trào của nông dân ở Đàng Ngoài chấm dứt thì phong trào của nông dân ở Đàng Trong mới bắt đầu nổi dậy, phát triển mạnh nhất là khi phong trào đấu tranh do anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ nổ

ra năm 1770, còn trước đó các phong trào nổi dậy của nông dân chỉ mang tính chất nhỏ lẻ Nếu cuộc đấu tranh ở Đàng Ngoài hầu như thất bại thì phong trào

ở Đàng Trong do anh em họ Nguyễn ở Tây Sơn lãnh đạo đã thắng lợi, lật đổ chính quyền chúa Nguyễn Nguyễn Huệ cùng với các anh em Tây Sơn đã lãnh đạo nông dân giành nhiều thắng lợi, trong đó nổi bật với chiến thắng ở Rạch Gầm - Xoài Mút, đã đánh bại 5 vạn quân Xiêm và 3 vạn quân Nguyễn Ánh; chiến thắng trận Ngọc Hồi - Đống Đa đã đánh bại 29 vạn quân Thanh, quân

Trang 26

Lê Chiêu Thống Thắng lợi đó, làm cho Nguyễn Huệ cùng các nghĩa quân càng thêm hào hứng, tiến ra Bắc Hà với danh nghĩa giúp vua Lê, đánh chúa Trịnh, với khẩu hiệu “phù Lê - diệt Trịnh” Cuộc khởi nghĩa đã làm nên lịch

sử khi đã xóa bỏ được giới tuyến Sông Gianh ngăn cách giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài năm 1786 Sau khi giải phóng Đàng Trong với việc chiếm Phú Xuân, tiếp theo nghĩa quân về Thăng Long năm 1768, để giải phóng Đàng Ngoài, đánh đổ chế độ phong kiến của họ Trịnh gần 300 năm Hai cuộc chiến thắng đã thể hiện sức mạnh của giai cấp nông dân chống lại chế độ phong kiến thối nát

Tóm lại, bối cảnh kinh tế - xã hội, chính trị, nước ta ở giai đoạn này có nhiều biến động, phức tạp, sự tranh giành quyền lực diễn ra mạnh mẽ, đời sống người dân khổ cực, cũng từ đó có nhiều tư tưởng tiến bộ được nêu ra để khắc phục tình trạng rối ren đó

1.1.2 Cuộc đời Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn thuở nhỏ là Lê Danh Phương, tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, quê ở Duyên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay thuộc thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm 1726 trong một gia đình dòng dõi làm quan, cha của Lê Quý Đôn

là Lê Trọng Thứ, đỗ tiến sĩ năm giáp thìn 1724, làm quan đến chức Hình bộ Thượng thư và được phong tước hầu, mẹ của Lê Quý Đôn họ Trương, không

rõ tên Các sách ghi chép về ông có nhiều quan điểm ví ông như thần đồng, hai tuổi đã đọc được chữ Hữu và chữ Vô Khi năm tuổi đọc được Kinh thư, năm mười tuổi học sử và Kinh dịch, mười bốn tuổi đã học hết Ngũ kinh, Tứ thư, sử truyện và cả Chư tử, trong một ngày Lê Quý Đôn có thể làm được mười bài phú không phải nghĩ, không phải nháp

Năm 1739, ông theo cha lên học ở Kinh thành Thăng Long, khi ông 17 tuổi (năm1743) đã đỗ giải Nguyên Năm 1752, Lê Quý Đôn đỗ đầu kỳ thi

Trang 27

Hội, ông đã đỗ Bảng nhãn (là danh hiệu của người đỗ tiến sĩ ở thời phong kiến, chỉ đứng sau trạng nguyên) khi thi Đình Năm 1754 được cử giữ chức Thụ thư ở Hàn lâm viện, được cử vào ban Toản tu quốc sử Năm 1756 ông cử

đi liêm phóng ở trấn Sơn Nam, tức là đi dò xét tình hình quan lại nhằm khen thưởng những quan liêm khiết và trừng trị những quan tham nhũng Tháng 5 năm 1756, ông được cử sang phủ chúa Trịnh trông coi việc quân sự, ông được

cử đi hiệp đồng với các đạo quân Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa…, tham gia cùng đạo quân đi đánh dẹp cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất lập được nhiều chiến công Năm 1757, Lê Quý Đôn được thăng chức Thị giảng ở Hàn lâm viện

Năm 1760, khi vua Lê Ý Tôn mất, Lê Quý Đôn cùng với Trần Huy Mật được cử dẫn đầu đoàn tang với nhà Thanh để dâng lễ cống Năm 1761 ông cùng phái đoàn sang Bắc Kinh, khi ở đây ông được tiếp xúc với các nho thần như Lương Thi Chính, Qui Hữu Quang của nhà Thanh cùng với các sứ thần Triều Tiên như Hồng Khải Hi, Triệu Vinh Kiến Lê Quý Đôn đã cho họ xem

bộ Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện, tập Tiêu tương bách vịnh và

chính Hồng Khải Hi đã viết lời tựa cho ba cuốn sách này

Năm 1762 sau khi đi sứ về nước, ông được thăng chức Hàn lâm viện thừa chỉ, giữ chức Học sĩ Bí thư các, năm 1764 được cử giữ chức Đốc đồng

xứ Kinh Bắc, năm 1765 ông được bổ nhiệm làm Thanh chính xứ Hải Dương song ông không nhận và xin cáo quan về nhà viết sách

Khi Trịnh Sâm lên thay cha năm 1767 đã gọi Lê Quý Đôn và trao cho ông chức Thị thư, tham gia biên soạn quốc sử, kiêm chức Tư nghiệp Quốc tử

giám Năm 1768 làm xong bản Toàn Việt thi lục dâng lên chúa Trịnh, năm

1768, ông cử làm Tán l quân vụ cùng với Phan Phái Hầu đem quân đánh Lê Duy Mật, Lê Đình Bản ở Thanh Hóa, đến năm 1769 Lê Quý Đôn đã nắm trong tay 9000 quân Kinh và Thổ hợp sức cùng quân Nghệ An buộc Lê Đình

Trang 28

Bản phải đầu hàng, ông được thăng chức Thị phó đô ngự sử Tháng 7 năm

1769 lại được thăng chức Công bộ hữu thị lang

Năm 1772, ông được cử đi điều tra tình hình của nông dân và tình hình tham nhũng của quan lại ở Lạng Sơn Ông đã báo cho chúa Trịnh những việc tham nhũng của viên đốc trấn Lê Doãn Thân, chúa Trịnh đã bãi chức viên quan này, được sự ủng hộ của Trịnh Sâm năm 1773, Lê Quý Đôn được thăng chức Bội tụng trong phủ chúa

Tháng 10 năm 1774, Lê Quý Đôn được giữ chức Lưu thủ ở Thăng Long, trong khi Trịnh Sâm mang quân đi đánh ở Thuận Hóa Ông đã trông nom đôn đốc việc phòng thủ các nơi, chỉ huy việc vận chuyển lương thực, tuyển mộ quân sỹ Năm 1775 Trịnh Sâm đem quân về Thăng Long vì Hoàng Ngũ Phúc đánh chiếm được Thuận Hóa, Lê Quý Đôn được thăng chức lên Lại bộ tả thị lang kiêm Quốc sử quán tổng tài Cùng năm đó trước sự kiện con trai Lê Quý Đôn là Lê Quý Kiệt đổi quyển thi với Đinh Thì Trung ở trường thi, vì Lê Quý Đôn là bậc đại thần nên được miễn tội, còn Lê Quý Kiệt bị tống ngục, Đinh Thì Trung bị lưu đày Năm 1776 khi Trịnh Sâm đặt ty trân phủ ở Thuận Hóa,

Lê Quý Đôn lại được giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ, trong quãng thời gian 6 tháng ở đây, ông ra sức chấn chỉnh lại bộ máy chính quyền, chăm lo

đời sống kinh tế, giáo dục cho nhân dân, ông còn viết xong bộ sách Phủ biên

tạp lục, cuối năm 1776 ông được cử giữ chức Hành bộ phiên cơ mật sự

Từ năm 1778 đến năm 1784 Lê Quý Đôn nhiều lần được thăng chức, như chức Quốc sử quán tổng đài, giao quyền Hiệp trấn ở Nghệ An, chức Công bộ thượng thư… Ngày 14 tháng 4 năm 1784, Lê Quý Đôn mất ở quê

mẹ tại làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, được Trịnh Khải đề nghị bãi triều ba ngày để tang ông và đặt tên thụy là Văn Trung, truy tặng tước Thiếu bảo

Trang 29

1.1.3 Sự nghiệp của Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn là vị quan sống ở thế kỷ XVIII - thời kỳ xã hội nước ta có nhiều biến động, xã hội đầy mâu thuẫn, sự xuất hiện những mầm mống của sản xuất hàng hóa thị trường, các nghề thủ công nghiệp được mở rộng…, đã làm cho xã hội có nhiều thay đổi Ông là người thông minh để hiểu rằng chỉ

có chúa Trịnh mới cho ông quyền lực nên chủ yếu Lê Quý Đôn làm việc trực tiếp với chúa Trịnh, bề ngoài ông tỏ lòng trung thành với vua Lê, nhiều khi ông phải thỏa hiệp, dung hòa để bảo vệ chính mình trước bối cảnh chính trị phức tạp khi đó Lê Quý Đôn đã nhiều lần bị thăng hay giáng chức khác nhau, ông được giao giữ nhiều chức vụ cả trong triều đình và phủ chúa, Lê Quý Đôn là một vị quan đã phụng sự cho hai đời chúa Trịnh, là Trịnh Doanh và Trịnh Sâm, cho một đời vua Lê Hiển Tông

Giai đoạn này đã xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Lê Hữu Trác… Trong đó, Lê Quý Đôn nổi tiếng là uyên bác về học vấn, các tri thức khoa học ở thời kỳ này được ông khái quát trong các tác phẩm trên các lĩnh vực như triết học, văn học, sử học, địa lý học, chú giải kinh điển…, các tác phẩm đó chính là cái mốc đánh dấu những thành tựu văn hóa của cả một thời đại với những ưu - nhược điểm, mà ông đã để lại cho hậu thế Cuộc đời của Lê Quý Đôn có 58 năm thì có đến 30 năm ông làm quan,

có đến 42 năm ông khảo cứu, biên soạn sách vở Về chính trị ông làm đến chức Bồi tụng, tức là tương đương với chức Phó tể tướng trong phủ chúa, cả đời ông giành cho việc đọc sách, có đến 40 năm giành cho việc biên soạn sách

- đây cũng là lĩnh vực thành công nhất của ông, qua việc đọc sách đã giúp Lê Quý Đôn tiếp thu và lĩnh hội các tri thức của nhân loại

Trong sự nghiệp Lê Quý Đôn có mấy sự kiện lớn ảnh hưởng đến cuộc đời

và sự nghiệp của ông: Trước hết là lần đi sứ Trung Quốc (1760 – 1762) khi tiếp xúc với các nhà trí thức nhà Thanh, các sứ thần Triều Tiên để bàn luận các vấn

Trang 30

đề về sử học, triết học…, ông có dịp tìm hiểu nhiều sách mới lạ cả sách phương Tây viết về địa lý, ngôn ngữ học, thủy văn học… Tiếp đến là vào những năm

1772 - 1774 khi Lê Quý Đôn đi công cán ở Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn với nhiệm vụ tìm hiểu đời sống khổ cực của người dân, tình trạng bóc lột, tham nhũng của quan lại, ăn hối lộ ở địa phương lúc đó Qua hai lần đó, ông đã có những trải nghiệm thực tiễn, với cơ hội được đi nhiều, tiếp xúc nhiều càng cung cấp thêm kiến thức, hiểu biết của Lê Quý Đôn được mở rộng, phong phú hơn không chỉ dừng lại ở sách vở mà đã được trải nghiệm từ thực tiễn

Là nhà bác học của Việt Nam ở thế kỷ XVIII, ông say sưa viết sách đến độ khi đi hiệp trấn ở Thuận Hóa có 6 tháng dù công việc bận rộn nhưng ông đã viết

xong tác phẩm Phủ biên tạp lục; hay khi đi sứ ở nước Thanh, Lê Quý Đôn đã đem theo tác phẩm Quần thư khảo biện và bộ Khánh mô hiền phạm lục, để đem

ra cùng chất vấn với các sứ thần khác nhằm trao đổi, bàn luận thêm những quan điểm mà ông đã viết Theo tài liệu còn ghi chép đã cho rằng Lê Quý Đôn là tác giả của nhiều tác phẩm ở các lĩnh vực khác nhau,có tới 40 bộ do ông viết, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc Những tác phẩm tiêu biểu của

Lê Quý Đôn còn giữ được đến nay, có thể kể ra như sau:

Thứ nhất, về sử học với các tác phẩm Đại Việt sử thông, Phủ biên tạp lục, Bắc sứ thông lục, Kiến văn tiểu lục…

Đại Việt sử thông: là một bộ sách về lịch sử nước Đại Việt do Lê Quý

Đôn biên soạn, thời gian bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa ở Lam Sơn của Lê Lợi

(1418 -1433), theo tác giả Lê Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí quyển 42, thì Đại Việt sử thông có 30 quyển nhưng trong thực tế đến nay chỉ

còn ba tập và một lời tựa do chính Lê Quý Đôn viết năm 1749 Bố cục của tác phẩm gồm bốn phần: Đế kỷ; Nghệ văn chí; Liệt truyện ( trình bày về: hậu phi, hoàng tử, công thần, gian nghịch); Họ Mạc

Trang 31

Phủ biên tạp lục đây là tập bút ký của Lê Quý Đôn viết về Đàng Trong,

mà chủ yếu là vùng Thuận Hóa, xứ Quảng Nam từ thế kỷ XVIII trở về trước, ghi chép kỹ càng tình hình chính trị xã hội, tác phẩm gồm 6 quyển được ông viết trong 6 tháng, đó là khoảng thời gian ông đi Hiệp trấn tham tán quân cơ ở phủ Thuận Hóa Bố cục tác phẩm gồm các chương: Lịch sử khai thác hai xứ Thuận Quảng; Núi sông, thành lũy, đường sá…; Ruộng công, ruộng tư, số lượng sản phẩm, thuế má…; Thượng du, biên phòng, thuế chợ, thuế mỏ…; Nhân tài, thơ văn; Phẩm vật, phong tục Trước tác phẩm này cùng có tác

phẩm Ô châu cận lục của Dương Văn An đời nhà Mạc cũng nói về núi sông,

phẩm vật, thành quách sứ Thuận Hóa nhưng chưa đầy đủ, chưa nói kỹ, mà

phải đến Phủ biên tạp lục thì các vấn đề đó mới được giới thiệu kỹ càng hơn,

đây cũng chính là tài liệu mà các sử thần trong Quốc sử quán triều Nguyễn đã

sử dụng khi biên soạn Đại Nam thực lục tiền biên Tác phẩm có giá trị không

chỉ với các nhà sử học, nhà văn học Việt Nam mà còn cần thiết đối với các nhà lịch sử, địa lý nước ta

Bắc sử thông lục là tác phẩm mà khi Lê Quý Đôn viết khi đi sứ bên nước

Thanh từ năm 1760 đến năm 1762, tác phẩm đã tập hợp những bài tấu, khải, truyền báo, ghi chép… về núi sông, đường sá, phong tục ở miền mà ông đã đi qua, đã thấy Tác phẩm được Lê Quý Đôn đã chép bài văn xuôi bằng chữ Nôm - đây là bài văn xuôi bằng tiếng Việt đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam Tác phẩm gồm bốn quyển, có bài tựa của tác giả vào năm 1780

Kiến văn tiểu lục, đây là tập bút ký của Lê Quý Đôn viết khi ông đọc,

tìm hiểu những tài liệu liên quan đến lịch sử nước Đại Việt từ thời Lý, Trần

đến Lê Tác phẩm gồm: Một là “Châm cảnh”, tức những ghi chép câu cách,

ngôn từ về cách tu thân xử thế, hành vi của một số nhân vật Việt Nam, Trung

Quốc, từ đó để khuyên răn, giáo dục mọi người; Hai là “Thể lệ thưởng” là

những ghi chép các lễ, về âm nhạc, các phép thi cử, luật lệ… của triều Lý,

Trang 32

Trần, Lê; Ba là “Thiên chương” chép về những nhân vật lịch sử đã làm các bài bia, bài minh, về sách vở, văn chương đời Lý, Trần; Bốn là “Tài phẩm”, ghi chép về tài năng, phẩm hạnh, tiết tháo… của một số danh nhân nước ta; Năm là

“Phong vực”, ghi chép về những danh lam, thắng cảnh, núi sông, thành quách, sản vật, thuế khóa, đường sá… như Sài Sơn, Tam Đảo, Đà Giang thuộc trấn Sơn

Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang; Sáu là “Thiền dật”, ghi chép về sự tích, văn thơ của các nhà sư Việt Nam từ Bắc thuộc đện Hậu Lê; Bảy là “Linh tích”, ghi chép

về các vị thần linh, thiên thần, nhân thần và hai mươi sáu chuyện nhỏ; Tám là

“Tùng đàm”, ghi chép 14 mẩu chuyện về các nhân vật nước ta thời Trần, Lê Cho đến nay, tác phẩm này còn thiếu phần “Thể lệ hạ”, “Phong vực trung”,

“Phong vực hạ”, “Phương thuật” Tác phẩm Phủ biên tạp lục không những có

giá trị về lịch sử mà còn có giá trị văn học qua đó phần nào giúp chúng ta biết được những phong tục, nghệ thuật thời Lý - Trần

Thứ hai, về văn thơ, Lê Quý Đôn có các tác phẩm như: Quế đường thi tập là

tập sách ghi chép lại những bài thơ của ông; Quế đường văn tập theo Phan Huy Chú, là tập văn của Lê Quý Đôn nhưng hiện nay không còn; Toàn việt thi lục gồm

897 bài thơ bằng chữ Hán từ đời Lý, Trần, Hồ, đến Lê Hồng Đức

Thứ ba, về triết học, với các tác phẩm như: Quần thư khảo biện, Thánh

mô hiền phạm, Âm chất văn chú, Vân đài loại ngữ

Quần thư khảo biện là bộ sách gồm 2 quyển, khi Lê Quý Đôn đi sứ nước

Thanh đã đem theo tác phẩm, khi đến Bắc Kinh ông đã đưa sách cho Chu Bội

Liên, Trần Triều Vu, Hồng Khải Hy đề tựa Cho nên Quần thư khảo biện có

bốn bài tựa một của tác giả và ba của Chu Bội Liên, Trần Triều Vu, Hồng Khải Hy Trong tác phẩm, ông đã đưa ra khoảng 223 các sự kiện lịch sử khác nhau của Trung Quốc từ thời Hạ Thương Chu đến nhà Minh, từ đó Lê Quý Đôn đã đưa ra lời bình luận, đánh giá, sau mỗi chủ đề lại có lời bình của Chu Bội Liên, Trần Triều Vu Qua tác phẩm cho thấy những quan điểm về chính

Trang 33

trị - xã hội, hay chính là những vấn đề kinh tế, chính trị, triết học… của Lê Quý Đôn

Thánh mô hiền phạm (còn có tên Thánh mô hiền phạm lục), là bộ sách

gồm 12 thiên (tức 12 đề mục) là: Thành trung; Lập hiếu; Tu đạo; Nhân tà; Đạt lý; Vệ sinh; Quan thủ; Tòng chinh; Khiêm thận; Thủ tiếp; Tôn nghị; Khổn huấn Tác phẩm được mở đầu với lời tựa của Chu Bội Liên, Trần Triều Vu, Hồng Khải Hy, đây là bộ sách được trích lục nguyên văn từng câu, từng đoạn các sách Kinh, Truyện, Sử, Bách gia chư tử của các Nho gia Lê Quý Đôn chỉ trích lục và hệ thống hóa lại chứ không bình luận hay phê phán gì, mà ý ông chỉ mượn lời các nhà Nho để khuyên bảo mọi người, giáo dục con người tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ theo quan điểm của Nho gia mà thôi

Âm chất văn chú, là tác phẩm gồm 2 quyển, có bài tựa của tác giả và Bùi

Huy Bích cùng với sự tham gia hiệu đính của các học trò Lê Quý Đôn Ông

đã chú giải và dẫn chứng bằng các sự kiện của Trung Quốc qua Âm Chất Văn

Chú (hai quyển) của Tống Tư Nhân năm Càn Long 41 (1776) Hai bản Âm

Chất Văn Chú của Lê Quý Đôn mà hiện nay còn giữ được đã khắc in năm Minh Mạng 20 (1839) và năm Tự Đức 16 (1863)

Vân đài loại ngữ là tác phẩm tập hợp nhiều kiến thức khác nhau của Lê

Quý Đôn như triết học, văn học, sử học, địa lý … Ông đã trình bày quan điểm của mình về triết học tự nhiên, triết học xã hội dưới dạng các đề mục: “Lý khí” – nói về quan niệm thế giới; “Hình tượng” – những tri thức của chính mình về thiên văn; “Khu vũ” – nói về địa lý học; “Vựng điển” – nói về lễ văn chế độ…

Qua những tác phẩm ở nhiều lĩnh vực của Lê Quý Đôn đã khẳng định ông là nhà bác học lớn của nước ta dưới triều đại phong kiến, là người đọc và viết sách không biết mỏi mệt, trong những năm làm quan dưới thời nhà Lê khoảng 30 năm với nhiều công việc bộn bề khác nhau, di chuyển đến những

Trang 34

địa điểm khác nhau nhưng ông lúc nào cũng chăm lo đọc sách và viết sách

Về địa lý học, Lê Quý Đôn là người Việt Nam đầu tiên biết rằng ngoài châu

Á, còn có châu Âu La - ba, châu Á - mạt - ly - á (châu Phi), châu Á - mạt - ly

- gia (châu Mỹ), ông cho rằng châu Á là tổ tiên, chính là nơi chôn nhau cắt rốn của con người

Quan điểm triết học của Lê Quý Đôn xuất phát từ cặp phạm trù lý và khí

của Tống Nho để giải quyết vấn đề bản thể thế giới, từ đó các quan niệm triết học của ông mang tính tự nhiên, ông đề cao triết học Tống nho, đặc biệt là Chu Hy – như bậc tiền bối Mặc dù vậy, Lê Quý Đôn không hoàn toàn đứng trên lập trường của Tống nho để giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Nếu

các nhà Tống nho đứng trên lập trường duy tâm về lý và khí, thì ông lại coi

khí là một vật chất cụ thể, là bản thể của vũ trụ, còn lý là quy luật vận động

của khí, lý là ở trong khí, có khí rồi mới có lý, lý là thuộc tính khí, không có khí thì lý không dựa vào đâu mà có được Quan điểm triết học đó không thể vượt ra khỏi hạn chế lịch sử, với sự ảnh hưởng của triết học Tống nho, nhất là quan điểm của Chu Hy, ông đã xây dựng ra thuyết lý khí để giải thích vũ trụ, cho rằng lý là bản thể của vũ trụ, vạn vật, có lý rồi mới có vũ trụ vạn vật, nếu không có lý thì không có gì hết

1.1.4 Tiền đề tư tưởng hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn

Ngoài bối cảnh kinh tế - xã hội, chính trị ảnh hưởng đến tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn chúng ta còn phải nói đến những tiền đề ở lĩnh vực tư tưởng Đây là thời kỳ nhấn mạnh khuynh hướng “Tam giáo đồng nguyên” trên cơ sở lấy Nho giáo là tôn giáo giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân lúc bấy giờ Trong giai đoạn này xã hội có sự chuyển biến về tư tưởng, Phật giáo vốn giữ vị trí quan trọng từ thời Lê Sơ đã đánh mất vị trí chính trị của mình, Nho giáo dần trở thành độc tôn, nhưng vào

Trang 35

khoảng cuối thời kỳ nhà Lê thì Nho giáo càng ngày càng bộc lộ những bất lực, không thể giải quyết trước các vấn đề xã hội Trong bối cảnh đất nước loạn lạc, chia cắt, đời sống nhân dân khổ cực, quan lại tham nhũng, lũng đoạn…, với mong muốn làm cho đất nước thống nhất, yên vui, hết loạn lạc song các chủ trương mà Nho gia đưa ra không đem lại hiệu quả như mong muốn, nên bên cạnh Nho giáo còn có sự tồn tại của các tôn giáo khác

Ảnh hưởng của Nho giáo, là một học thuyết chính trị - xã hội, đạo đức

của giai cấp phong kiến do Khổng Tử sáng lập (khoảng thế kỷ thứ VI Tr.CN)

ở Trung Quốc Khoảng năm 192 Tr.CN, các thế lực phong kiến phương Bắc luôn kiên trì đeo đuổi ý định đồng hóa dân tộc ta, cũng như cố đồng hóa nhiều dân tộc khác nhằm mục đích truyền bá văn hóa, truyền bá Nho giáo Nhưng nhân dân ta đã đấu tranh vừa giữ nước, vừa không để bị đồng hóa, đồng thời sẵn sàng tiếp thu ảnh hưởng văn hóa nước ngoài khi du nhập vào ta trên cơ sở Việt hóa Vào thời nhà Ngô, Đinh, Lê trong buổi đầu của việc xây dựng nhà nước phong kiến, đánh đuổi giặc ngoài, ổn định giặc trong cho nên chú ý đến

võ hơn văn Mặt khác, để đem lại đời sống tinh thần cho người dân, cho nên dẫn đến đặc trưng riêng ở xã hội Việt Nam lúc đó là sự xuất hiện “Tam giáo đồng nguyên”, với đặc điểm: Nho giáo chi phối con người về mặt đạo đức, nghĩa vụ xã hội; Phật giáo chi phối con người về mặt tình cảm, tưởng tượng, ước mơ mang tính nhân văn cao cả; Đạo giáo chi phối con người về mặt ý chí khắc phục khó khăn trần thế bằng phương thuật bí ẩn “vô vi”

Xét trên bình diện lịch sử, Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi chế độ phong kiến của Trung Quốc, từ thời Tần Thủy Hoàng đã thành lập ba quận Quế Lâm, Tượng và Nam Hải (Tượng chính là Bắc bộ và Trung bộ của Việt Nam); từ thời Tần Hán đến thời Đường nước ta chịu hơn 1000 năm Bắc thuộc (207 TCN - 906) Sau đời nhà Tống chúng ta thành lập vương triều riêng, Nho học cùng với chính sách cai trị của nhà nước phong kiến Trung Hoa đã trải

Trang 36

qua nhiều thăng trầm Sang đến thời nhà Trần đã lấy tư tưởng Nho gia làm chủ đạo cho quan điểm chính trị - xã hội của mình, lập nên hệ thống giáo dục; năm 1370 nhà Trần còn lập bàn thờ Chu Văn An tại Văn Miếu cho thấy sự phát triển của Nho gia trong thời kỳ này Như vậy, thời Trần và Hậu Lê là thời kỳ Nho học phát triển mạnh, lấy Nho giáo làm tư tưởng chủ đạo để trị dân kiến quốc, lấy đạo đức để ổn định chính trị, xã hội Thời Hậu Lê chú ý đến lễ, nghĩa, in ấn các tác phẩm kinh điển của Nho giáo, thời kỳ này cho ra

đời “Bộ luật Hồng Đức”, đào tạo nhiều Nho sĩ, trong đó có Lê Quý Đôn Lê

Quý Đôn được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ Nho học hưng thịnh, cho nên trong quan điểm của ông ít hay nhiều đều chịu ảnh hưởng từ các tư tưởng của Nho giáo Trung Quốc, nhất là của Chu Hy hay Nhị Trình Ông đã xuất phát từ

phạm trù lý và khí của Tống Nho để giải thích bản thể luận mang tính triết

học tự nhiên, hay khi trình bày các vấn đề chính trị - xã hội ông còn dựa trên các dữ liệu lịch sử của Trung Quốc để phân tích, chứng minh Xuất phát từ lập trường của Nho giáo, nên ông đặt mục đích cao cả của cuộc đời ông là học, đọc sách, học để làm quan, tìm tòi cách cai trị một đất nước, con đường nắm quyền lực… Tóm lại, Nho giáo nhất là Tống nho là một trong những tư tưởng ảnh hưởng lớn đến Lê Quý Đôn

Ảnh hưởng của Phật giáo, Phật giáo là một trào lưu triết học - tôn giáo

xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 Tr.CN ở Bắc Ấn Độ Người sáng lập

là Tất Đạt Đa (Siddhatha), sự du nhập của Phật giáo vào nước ta không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền trực tiếp từ Ấn Độ Khi quốc gia Âu Lạc đã bị Nam Việt của Triệu Đà thôn tính vào năm 179 Tr.CN và lập thành quận Giao Chỉ (năm 110 Tr.CN), từ đó Nam Việt trở thành nội thuộc của nhà Hán, Giao Châu theo đó có hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân Từ thời Hậu Hán, đã tồn tại ba trung tâm Phật giáo là Luy Lâu, Lạc Dương và Bành Thành, khoảng thế kỷ thứ hai ở Luy Lâu đã tồn tại như

Trang 37

một trung tâm Phật giáo quan trọng và phồn thịnh Điều này cho thấy việc du nhập Phật giáo vào Giao Châu là rất sớm khoảng thế kỷ thứ II và nó trở thành một tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người dân, gần gũi với tư tưởng đạo đức của người Việt Chính vì vậy, khi Phật giáo vào Việt Nam lại không phải bằng con đường xâm lược, với sự hòa đồng, gần với truyền thống dân gian đã không vướng phải sự chống đối của các tín ngưỡng khác Phật giáo ở Giao Châu phát triển cùng với đó là khoảng thế kỷ III, Phật giáo phương Bắc cũng có sự du nhập cho nên ít nhiều Phật giáo Việt Nam cũng có liên hệ với Phật giáo Trung Hoa và nó có sự phát triển mạnh mẽ nhất trong giai đoạn từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIV

Thời Đinh, Tiền, Lê, Phật giáo thâm nhập sâu vào đời sống tinh thần hàng ngày của người dân, không chỉ ảnh hưởng đến đời sống tâm linh mà còn ảnh hưởng đến việc giáo dục đạo đức Chính từ việc giáo dục đó đã xây dựng niềm tin trong dân về ý thức dân tộc, lòng yêu nước để dù dân tộc ta bị Bắc thuộc nhưng chúng ta không bị đồng hóa Những công việc hàng ngày của nhà Phật rất gần gũi, thiết thực đến cuộc sống tinh thần của người dân như dạy học ở các chùa (Lý Công Uẩn từng được giáo dục ở chùa), họ là những thầy lang bốc thuốc chữa bệnh, hay là những thầy cầu an, làm ma, chọn đất, xem ngày, chia sẻ nỗi khổ của chúng sinh… Những việc làm đó đem lại đời sống tinh thần cho người dân, cho nên sức ảnh hưởng của Phật giáo lan rộng khắp nơi rất nhanh

Mặc dù giúp nhà Tiền Lê nhưng do sự tha hóa của Lê Long Đĩnh mà sư Vạn Hạnh đã ủng hộ Lý Công Uẩn lên ngôi, rồi ông thuyết phục Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long để bảo vệ nền độc lập của dân tộc Sang tới đời vua Trần, vua Trần Nhân Tông (1258 - 1308), là người đã xây dựng một giáo hội lớn thống nhất đó là thiền phái Trúc Lâm với chủ trương nhập thế Phật giáo trở thành lực lượng tinh thần ủng hộ cho chính trị, có vai

Trang 38

trò trong chính quyền, sự phát triển Phật giáo ở giai đoạn vua Trần Thái Tông được xem là giai đoạn Phật giáo hưng thịnh, ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta lúc đó

Từ sau đời sư Huyền Quang (1254 -1334), Phật giáo không còn hưng thịnh như trước nữa bởi nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có Nho giáo đang lớn mạnh dần, việc nhà Minh xâm lược nước Đại Việt vào đầu thế kỷ

XV với chính sách diệt nền văn hóa độc lập nước ta, trong đó Phật giáo cũng

bị ảnh hưởng… Đặc biệt, ở nhà Hậu Lê khi vua Lê Thánh Tông đưa Nho giáo lên vị trí đầu càng làm cho Phật giáo bị suy thoái Tuy bị tẩy chay nhưng nó không bị diệt vong mà vẫn tồn tại, phục hồi, nhất là ở các cùng nông thôn nước ta, chùa vẫn được xây dựng, nhà chùa có kinh tế riêng, gắn bó trực tiếp đến đời sống lao động hàng ngày của nhân dân ta

Lê Quý Đôn là một nhà khoa học, với trí tuệ hiểu biết của mình mặc dù

là nhà Nho nhưng ông đã dung hòa được Phật giáo với Nho giáo hay với các tôn giáo khác Ông đã kế thừa những giá trị tích cực của Phật, để khẳng định tinh thần tự chủ, ý thức và niềm tự hào dân tộc, như trong quãng thời gian ông đi sứ ở Trung Quốc, khi thấy các quan lại Trung Quốc gọi sứ bộ nước ta là “di quan”, ý coi thường, ông đã yêu cầu quan lại Trung Quốc không được gọi như thế và họ

đã đổi lại là “An Nam cống sứ” Ngoài ra những giá trị đạo đức của Phật giáo còn ảnh hưởng đến tư tưởng chính trị - xã hội của ông, khi cho rằng phải kết hợp giữa đức trị và pháp trị, thiên về bên nào quá đều không tốt Có thể thấy rằng Phật giáo đã có sức ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Lê Quý Đôn

Ảnh hưởng của Đạo giáo, là một trong tam giáo tồn tại từ thời cổ đại, ra

đời khoảng thế kỷ thứ IV Tr.CN ở Trung Quốc, khi tác phẩm Đạo đức kinh

của Lão Tử xuất hiện với mục đích hướng dẫn con người con đường đi, là sự dạy dỗ con người Đạo giáo du nhập vào nước ta khoảng thế kỷ thứ II, khi vua Hán Linh Đế qua đời, xã hội Trung Hoa lâm vào cảnh loạn lạc, chỉ có đất Giao Châu được yên ổn, người phương Bắc sang Giao Châu lánh nạn và

Trang 39

mang theo tư tưởng Đạo giáo Khi Đạo giáo truyền vào Việt Nam, chia thành hai phái: Đạo giáo Phù thủy dùng pháp thuật trừ tà, trừ ma, trị bệnh giúp người dân khỏe mạnh; Đạo giáo Thần tiên dạy con người cách tu luyện đạt đến tiên, luyện thuốc trường sinh bất tử cho giới quí tộc Có nhiều đạo sĩ, quan lại Trung Hoa sang cai quản nước ta đã luyện trường sinh theo cách nhịn

ăn, như Cao Biền ở đời Đường, nhiều người đã truyền nhau ông "cưỡi diều tìm long mạch" (đi khắp nước để yểm huyệt cắt đứt long mạch không cho phát sinh thêm đế vương, nhân tài nữa để triệt nguồn nhân tài Việt Nam), khám phá các mỏ (nơi) để luyện thuốc trường sinh

Đạo giáo vào Việt Nam nhất là Đạo giáo phù thủy tìm thấy nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng ma thuật dân gian của người Việt, nên nó dễ dàng

ăn sâu vào đời sống thường ngày của người dân Vì trước đó người Việt đã tin vào ma thuật, phù phép, thần chú có thể chữa được bệnh, trị được tà ma Thời Hùng Vương theo tương truyền do giỏi phù phép nên đã thu thập được 15 bộ

để thành lập nước Văn Lang

Đạo giáo vào Việt Nam có hai phái là Đạo giáo nhân gian thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng đế, Thái thượng Lão quân, thần Trấn Vũ (Huyền Vũ), quan Thánh Đế quân; bên cạnh đó là Đạo giáo kết hợp với tín ngưỡng dân gian thờ nhiều vị thần thánh khác của người Việt như Đức thánh Trần, Thánh mẫu Liễu Hạnh, Tam phủ, Tứ phủ, thờ thần Ngũ Hổ Khi hòa quyện với tín ngưỡng dân gian của nước ta, Đạo giáo hình thành khuynh hướng của những con người thật sự chứ không phải hư ảo như tư tưởng của phái Đạo giáo thần tiên, đó là những Nhà Nho (trí thức), do không gặp thời, bất bình nơi quan trường, hay các bậc anh hùng đã làm xong phận sự công thành, ưa cuộc sống thanh tịnh, về ở ẩn, vui thú điền viên… như Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ… Ở thời kỳ Bắc thuộc, Đạo giáo chủ yếu phổ biến trong dân gian nhưng sang đến thời Đinh,

Lê, Lý, Trần đã coi trọng các đạo sĩ cũng bằng các tăng sư

Trang 40

Lê Quý Đôn cũng chịu ảnh hưởng bởi Đạo giáo, trong tác phẩm Vân Đài

loại ngữ khi nói về phần địa lý ông đã bàn về phép làm bản đồ, bàn về kinh đô,

về địa lý thế giới qua đó ông thể hiện mình như một thầy địa lý, xem phong thủy, bắt long mạch…, qua đó thể hiện giống như một đạo sĩ Lê Quý Đôn đã vận dụng những kiến thức phong thủy để lựa chọn núi sông, ao hồ, hướng đất của các vùng đất kinh đô, cũng như sự thịnh - suy của các triều đại Hay bên cạnh tư

tưởng triết học mang tính duy vật khi bàn về khí với tư cách là bản thể của vạn vật nhưng ông lại đề cao tính huyền bí của khí và lý nên đã không giữ được lập

trường duy vật mà chuyển sang duy tâm thần bí như tin vào thuật phong thủy, bói toán, xem số, đoán mệnh… Khi bắt gặp những vấn đề không luận giải được,

ông đã dựa vào Đạo giáo để chứng minh, trong tác phẩm Vân Đài loại ngữ ông

cho rằng: “Số vận lớn của nhà nước, hưng hay suy, mà phần mệnh thường của các sỹ phu, cùng hay đạt, cũng được dự định ở trong chỗ u minh Đến cả như họ tên, tướng mạo, đi đứng, động tĩnh cũng đều có định trước, không phải người ta được tự do muốn sao là được vậy” [22; tr 72]

Ngoài những tôn giáo trên, Lê Quý Đôn bị ảnh hưởng bởi một số trường phái khác như Pháp gia, với tư tưởng đề cao vị trí của pháp luật để trị nước, coi

pháp là nội dung chính trong cai trị đất nước, còn thế là công cụ, phương tiện để

có sức mạnh, thuật là phương thức, cách thức để thực hiện nội dung cai trị, với

đại biểu là Hàn Phi Tử Trước bối cảnh xã hội thế kỷ XVIII, sự tranh giành quyền lực, bất ổn Lê Quý Đôn đã thấy được vai trò của pháp luật trong việc cai trị xã hội, trong giai đoạn làm quan ông từng xin Trịnh Doanh thiết định pháp chế trên cơ sở kết hợp đức trị của Nho gia và pháp trị của Pháp gia, song không được chấp nhận, qua đó thể hiện tư tưởng tiến bộ của Lê Quý Đôn trong việc học tập, tiếp thu những mặt tích cực của các tư tưởng khác nhau

Cùng với những tôn giáo thì công giáo khi du nhập vào nước ta đã ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người dân trong đó có Lê Quý Đôn Công

Ngày đăng: 09/06/2017, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2016), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2016
2. Minh Anh (2007), Tư tưởng triết học của các nhà sử học Việt Nam thế kỷ XV – XVII, Tạp chí triết học,(số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí triết học
Tác giả: Minh Anh
Năm: 2007
3. Trần Quang Ánh (1996), Quan niệm về dân trong tác phẩm Luận ngữ và Mạnh Tử, Tạp chí Triết học, (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Trần Quang Ánh
Năm: 1996
4. Huỳnh Công Bá (2007), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2007
5. Đỗ Bang (1997), Tổ chức bộ máy nhà nước dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802 -1884, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bộ máy nhà nước dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802 -1884
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1997
7. Lương Minh Cừ (2005), Tư tưởng dân bản trong học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử, Tạp chí triết học, (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng dân bản trong học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử
Tác giả: Lương Minh Cừ
Năm: 2005
8. Doãn Chính (2011), Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ "XV" đến thế kỷ XIX
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
9. Doãn Chính (2013), Lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XIX, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2013
10. Nguyễn Trọng Chuẩn (Chủ biên) (2006), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
11. Phan Đại Doãn (1998), Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
12. Phan Đại Doãn (1998), Nho giáo xưa và nay, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
13. Nguyễn Tài Đông (2001), Vấn đề về bản thể trong học thuyết lý khí của Lê Quý Đôn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề về bản thể trong học thuyết lý khí của Lê Quý Đôn
Tác giả: Nguyễn Tài Đông
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
19. Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học và xã hội Nhân văn, Khoa Lịch sử (2000), Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (1995 – 2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chặng đường nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học và xã hội Nhân văn, Khoa Lịch sử
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
20. Trần Văn Giáp (dịch), (2006), Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, tuyển tập, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân đài loại ngữ
Tác giả: Trần Văn Giáp (dịch)
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
21. Trần Văn Giáp (dịch), (1962), Vân đài loại ngữ, tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân đài loại ngữ
Tác giả: Trần Văn Giáp (dịch)
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1962

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w