Đinh Thị Hồng Vững với Luận văn Thạc sỹ Triết học Quan niệm của J.Locke về nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” 2013, đã đi sâu vào phân tích quan niệm của J.Locc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Hạnh
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Sau đại học và các phòng ban khác của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho em được học tập, nghiên cứu tại trường Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Triết học đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt thời gian qua
Em xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, các phòng ban trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Hà Nội đã tạo điều kiện cho e m công tác và học tập nâng cao kiến thức chuyên môn
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến T.S Hoàng Thị Hạnh, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Triết học của mình
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, đã hết lòng quan tâm giúp đỡ
và động viên tác giả luận văn trong quá trình học tập, nghiên cứu Cảm ơn gia đình đã luôn là điểm tựa vững chắc cả về mặt vật chất và tinh thần để em có thể học tập, công tác và hoàn thành Luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả
Đặng Thị Loan
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của T.S Hoàng Thị Hạnh, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả
Đặng Thị Loan
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8
5 Giả thuyết khoa học 8
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 9
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Kết cấu của luận văn 9
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 9
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA J LOCKE VỀ QUYỀN SỞ HỮU VÀ KHÁI QUÁT “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN” 11
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành quan niệm của J Loke về quyền sở hữu 11
1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội các nước Tây Âu thế kỷ XVII 11
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh thế kỷ XVII 12
1.2 Tiền đề lý luận hình thành quan niệm của J Loke về quyền sở hữu 16
1.3 Khái quát “Khảo luận thứ hai về chính quyền” 20
1.3.1 Thân thế và sự nghiệp của J.Locke 20
1.3.2 Khái quát “Khảo luận thứ hai về chính quyền” 22
Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM CỦA J LOKE VỀ QUYỀN SỞ HỮU
TRONG “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN” VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 33
2.1 Quan niệm của J Loke về quyền sở hữu 33
2.1.1 Quan niệm của J Loke về nguồn gốc, bản chất quyền sở hữu 33
Trang 52.1.2 Quan niệm của J.Loke về cách thức đảm bảo quyền tư hữu trong xã hội
dân sự 48
2.1.3 Giá trị và hạn chế trong quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu 60
2.2 Ý nghĩa quan niệm của J Locke về quyền sở hữu đối với Việt Nam hiện nay 67
2.2.1 Ý nghĩa lý luận 67
2.2.2 Ý nghĩa thực tiễn 78
Tiểu kết chương 2 87
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, vấn đề quyền con người luôn được Đảng Cộng Sản và Nhà nước Việt Nam đặt lên hàng đầu Trong các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, đặc biệt là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII khẳng định rõ mục tiêu nhất quán là: Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến Pháp năm 2013, gắn quyền với trách nhiệm và nghĩa vụ Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân, chăm lo cho con người, tôn trọng và bảo
vệ quyền con người, quyền tự do của công dân và xây dựng Nhà nước Việt Nam thành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
Trong bối cảnh chính trị quốc tế đang có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt hiện nay một số lực lượng chính trị bá quyền đang lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền như một ngọn cờ tập hợp lực lượng với luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ các nước khác Nhân quyền trở thành một vấn đề nhạy cảm và phức tạp trong quan hệ quốc tế, để có thái độ ứng xử đúng đắn, chủ động, giữ vững chủ quyền đất nước, ổn định chính trị, phát triển kinh tế thì việc nắm vững lý luận về quyền con người là một yêu cầu cấp bách
Mầm mống tư tưởng quyền con người đã xuất hiện từ thời cổ đại, nhưng
tư tưởng về “quyền con người” thực sự xuất hiện ở thời cận đại, trong quan niệm của nhiều triết gia, trong số đó, có thể nhắc tới John Locke, ông là một triết gia lớn người Anh, một nhà trí thức đa tài và được xem là một trong những cội nguồn tri thức của phong trào Khai Sáng Ông đã để lại nhiều tác phẩm có ý
nghĩa cả về triết học, chính trị học lẫn kinh tế học, trong đó có “Khảo luận thứ
hai về chính quyền” Trong tác phẩm này, J Locke đã đề cập đến các quyền con
người như: quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền sở hữu, ông cho rằng quyền sở hữu của con người là quan trọng nhất
Trang 7Sở hữu là vấn đề của mọi quốc gia, mọi dân tộc nên thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tư tưởng, trong đó có các nhà Mácxit C Mác đã đánh giá tầm
quan trọng của quyền sở hữu khi ông viết: “Quyền sở hữu là điều kiện sinh sống
cơ bản của con người” [30,765] Tuyên ngôn thế giới về quyền con người
(1948) tại điều 17 ghi rõ: Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hoặc tài sản sở hữu chung với người khác, không ai bị tước đoạt tài sản một cách tùy tiện
Ở Việt Nam tại điều 58 Hiến pháp năm 1992 thừa nhận quyền sở hữu của
mọi công dân: “công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để
dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế hợp pháp của công dân” [19,98] Nước ta trong một
thời gian dài trước đổi mới tiến hành công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu nhằm nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản song chế
độ công hữu chưa phát huy được tác dụng Vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam
đã quyết định đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới tư duy lý luận mà trước hết là
tư duy kinh tế trong đó quan trọng là đổi mới về sở hữu Từ chỗ chỉ thừa nhận chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu đến thừa nhận chế độ tư hữu, thừa nhận sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế Hiện nay,
cả nước đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì vấn đề sở hữu càng trở nên nóng bỏng và càng có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ lịch sử đã chứng minh chỉ có giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu chúng ta mới thoát khỏi khủng hoảng, đưa nền kinh tế phát triển
Như vậy, lý luận về quyền con người trong đó có quyền sở hữu là giá trị mang tính phổ biến toàn nhân loại mà quan niệm của J Locke là một trong những cội nguồn tư tưởng của lý luận đó
Trang 8Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: “Quan niệm của J Locke về quyền sở hữu trong “Khảo luận thứ hai về chính quyền” và ý nghĩa của nó ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Triết học của J Locke từ lâu đã có sức lôi cuốn, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài, điều đó được thể hiện qua các sách chuyên khảo, luận văn, các bài viết trên các tạp chí…
Ở Việt Nam cuốn Khảo luận thứ hai về chính quyền của J Locke do dịch
giả Lê Tuấn Huy dịch sang tiếng Việt được nhà xuất bản Tri thức xuất bản năm
2007 đã dành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Để đáp ứng nhu cầu của đông đảo độc giả năm 2013 nhà xuất bản Tri thức đã cho tái bản lần thứ hai
cuốn sách Khảo luận thứ hai về chính quyền, điều đó chứng tỏ sức hút to lớn của
cuốn sách này Liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài có thể chia thành các nhóm nghiên cứu như sau:
*Nhóm thứ nhất: nghiên cứu triết học J.Locke nói chung:
Các công trình nước ngoài nghiên cứu triết học J Locke được dịch sang tiếng Việt:
Tác phẩm 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới do Đăng Thục Sinh
chủ biên, được dịch bởi Tùng Giang do Nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản năm
2002 Tác phẩm này là kết quả tuyển chọn dựa theo tiêu chí của cuộc bình chọn
“Những kiệt tác thế giới được dịch ra chữ Hán” do Bộ văn hóa Trung Quốc tổ chức năm 1980 – 1981 Trong đó từ cuốn sách số 1 đến số 24 phản ánh những diễn biến tư tưởng của nhân loại về quy chế chính trị, tổ chức nhà nước suốt
2000 năm lịch sử từ Đông sang Tây Tác phẩm đã trình bày khái quát những nội dung chủ yếu trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền của J Locke và cũng đã khẳng định giá trị to lớn của quyền con người trong tiến trình phát triển của nhân loại
Trang 9Cuốn sách 106 nhà thông thái của P.S Taranop, do dịch giả Đỗ Minh
Hợp dịch, xuất bản năm 2000, trong đó trình bày khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng triết học chính trị cơ bản của J Locke
Công trình Lịch sử triết học và các luận đề của Samuel Enoch Stumpt,
dịch giả Đỗ Văn Thuấn, Lưu Văn Hy, nhà xuất bản Lao Động, năm 2004 Trong
đó giới thiệu khái quát về cuộc đời, các tác phẩm tiêu biểu, các quan niệm triết học cơ bản: về nhận thức luận, đạo đức, chính trị của J Locke
Các công trình trong nước nghiên cứu triết học J Locke:
Lịch sử triết học (2004) do Nguyễn Hữu Vui chủ biên, trong đó đã trình
bày các quan niệm triết học của J Locke nhưng chủ yếu tập trung phương diện nhận thức luận
Tác giả Lưu Kiểm Thanh và Phạm Hồng Thái với Lịch sử các học thuyết
chính trị (2006); Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với Lịch sử tư tưởng chính trị (2001); Nguyễn Tiến Dũng với Lịch sử triết học phương Tây (2006);
Trần Văn Phòng và Dương Minh Đức với Lịch sử triết học phương Tây trước
Mác (2003)…Nhìn chung các công trình trên chủ yếu bàn về quan niệm chính
trị, xã hội của J.Locke như một phần không thể thiếu trong tư tưởng chính trị, xã hội cận đại ở phương Tây
*Nhóm thứ hai: nghiên cứu trực tiếp quan niệm của J Locke trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền:
Một số tư tưởng triết học chính trị của John Locke: Thực chất và ý nghĩa lịch sử của Đinh Ngọc Thạch, Tạp chí Triết học (số 1), năm 2007 Trong bài viết
này, tác giả đã chỉ ra và luận giải thực chất và ý nghĩa lịch sử trong một số tư tưởng triết học chính trị của J Locke trên cơ sở so sánh quan điểm của J Locke với quan điểm của các nhà triết học trước và sau ông Đó là những tư tưởng về nhà nước pháp quyền, về quyền con người, về mối quan hệ giữa quyền và luật pháp
John Locke – nhà tư tưởng lớn của phong trào Khai sáng của Phạm Văn
Đức, Tạp chí Triết học (số 2), năm 2008 Trong bài viết này, tác giả đã trình bày
Trang 10hệ thống triết học của J Locke nhưng chủ yếu tập trung đi sâu vào làm rõ tư tưởng của ông về nhận thức luận và có đi vào phân tích quan niệm về quyền tự nhiên, về khế ước xã hội của ông Qua sự phân tích, tác giả đề cập đến quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu như những quyền tự nhiên
Locke và triết lý về con người của Lê Công Sự, Tạp chí Nghiên cứu Con
người (số 3) năm 2009 Trong bài viết này, tác giả nêu ra quan niệm của J Locke về quyền sở hữu trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền, tác giả chỉ ra rằng, theo J Locke lao động chính là nguồn gốc trực tiếp tạo nên quyền sở hữu, sự xuất hiện quyền sở hữu là bước đột phá căn bản làm phát sinh
xã hội dân sự
Nguyễn Thị Dịu với Luận văn Thạc sĩ Triết học Quan niệm chính trị - xã hội
của John Locke (2009), đã đi sâu vào phân tích quan niệm của J Locke về con
người, quyền con người và quyền lực nhà nước, trong đó tác giả cũng có đề cập đến quan niệm của J Locke về quyền sở hữu trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về
chính quyền xem đó như là một trong những quyền cơ bản của con người
Đinh Thị Hồng Vững với Luận văn Thạc sỹ Triết học Quan niệm của
J.Locke về nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
(2013), đã đi sâu vào phân tích quan niệm của J.Loccke về nguồn gốc, bản chất của quyền lực nhà nước, về giới hạn và sự phân chia quyền lực, về cơ chế hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước Trong đó, tác giả cũng đề cập đến quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu nhưng với tư cách là một trong những quyền cơ bản của con người, và mục đích của nhà nước là đảm bảo quyền tư hữu, chứ chưa đi sâu phân tích cụ thể quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu
Quan niệm của John Locke về quyền sở hữu trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” của Nguyễn Thị Thanh Huyền, Tạp chí Khoa học Đại
học quốc gia Hà Nội, chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn số 3 năm 2012
Ở bài viết này, tác giả đã chỉ ra nguồn gốc của sở hữu, từ đó khẳng định mục đích của nhà nước là bảo toàn sở hữu của con người Tác giả chưa làm rõ quan
Trang 11niệm của J Locke về cách thức đảm bảo quyền tư hữu và cũng chưa chỉ ra ý nghĩa quan niệm về quyền sở hữu của J.Locke trong tác phẩm Khảo luận thứ hai
về chính quyền đối với vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay
*Nhóm thứ ba: nghiên cứu về vấn đề sở hữu ở Việt Nam:
Tính đa dạng, sự liên kết và tính chất đan xen của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay của Lương Minh Cừ đăng trên Tạp chí Triết học số 6 (94), tháng 12 năm
1996 đã chỉ ra tính tất yếu của sự đa dạng, đan xen giữa các hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ ở nước ta đồng thời chỉ ra những tiến bộ, đổi mới và phát triển của nền kinh tế nước ta sau khi giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu so với
thời kỳ trước đổi mới
Đổi mới về sở hữu ở Việt Nam: một số cơ sở lý luận của Phạm Văn Đức
đăng trên Tạp chí Triết học số 2 (165) tháng 2 năm 2005 đã chỉ ra cơ sở lý luận căn bản của việc đổi mới về sở hữu ở Việt Nam là: sự đổi mới quan niệm về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; sự thay đổi quan niệm về
sở hữu, coi sở hữu vừa là mục đích vừa là phương tiện Từ đó, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần với các loại hình sở hữu khác nhau là chiến lược lâu dài và tối ưu nhằm phát triển lực lượng sản xuất
Vấn đề công hữu trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của Lê Xuân Tùng
đăng trên tạp chí Cộng sản số 6 (150) năm 2008 đã đưa ra những lý giải theo tư duy mới về chế độ công hữu, xem đó không phải là yếu tố duy nhất, không thể thay đổi trong nền sản xuất ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cũng như ở thời kỳ chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng xong
Luận án tiến sĩ triết học Nguyễn Thị Huyền với đề tài Các hình thức sở
hữu và vai trò của chúng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay đã chỉ ra vai trò của các hình thức sở hữu trong nền
kinh tế thị trường, từ đó đề ra quan điểm và các giải pháp nhằm phát huy vai trò của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Trang 12Bài viết Một số vấn đề về sở hữu tư liệu sản xuất ở Việt Nam qua 30 năm
đổi mới của Nguyễn Thị Như Hà đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2 năm
2015 đã nêu ra nhận thức về vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất, sự chuyển biến về
sở hữu trong nền kinh tế thời kỳ đổi mới
Lê Công Sự và Hoàng Thị Hạnh trong Học thuyết phạm trù trong triết
học Mác – Lênin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2009 khi chỉ ra những
biểu hiện tư duy siêu hình, chủ quan duy ý chí, giáo điều và kinh nghiệm chủ nghĩa trong việc xây dựng, nhận thức, vận dụng các khái niệm, phạm trù triết học Mác – Lênin ở nước ta thời kỳ trước đổi mới đã cho rằng, Đảng ta đã có sự đồng nhất, lẫn lộn giữa phạm trù “xã hội xã hội chủ nghĩa” với phạm trù “thời
kỳ quá độ” từ đó dẫn đến quan điểm đồng nhất một loạt các hệ vấn đề khác: đồng nhất khái niệm cải tạo quan hệ sản xuất với khái niệm xóa bỏ quan hệ sản xuất, đồng nhất phạm trù quan hệ sản xuất với phạm trù quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất… Do vậy nên trước thời kỳ đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành xóa bỏ sạch trơn quan hệ sản xuất của xã hội cũ, xóa bỏ sở hữu tư nhân và xác lập sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, coi đó là mô hình quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa thuần khiết (như ý)
Hoàng Thị Hạnh với Xây dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện đặc
thù ở Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 2016, khi nêu ra
những giải pháp về phương diện kinh tế để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cho rằng tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, coi các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những giải pháp chủ yếu
Nhìn chung, ở Việt Nam hầu hết các công trình nghiên cứu về triết học J Locke nêu trên chỉ giới thiệu tổng quan triết học của J Locke Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng triết học của J.Locke nói chung và quan niệm của ông về quyền sở hữu nói riêng còn khá khiêm tốn, trong số đó có rất ít công
Trang 13trình lớn đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu, nếu có chỉ dừng lại ở dạng bài viết đăng trên tạp chí Các công trình nghiên cứu về vấn đề sở hữu ở Việt Nam có khá nhiều nhưng chủ yếu nêu nên thực trạng
và giải pháp phát triển vấn đề sở hữu, vai trò của các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế mà chưa có sự kết nối với các quan niệm về sở hữu của các nhà tư tưởng tiền bối, đặc biệt là quan niệm về quyền sở hữu của J Locke
Do vậy, tác giả luận văn sẽ đi sâu khai thác quan niệm của J.Locke về
quyền sở hữu trong Khảo luận thứ hai về chính quyền, từ đó chỉ ra ý nghĩa của
quan niệm đó đối với vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận hình
thành quan niệm của J Locke về quyền sở hữu và tác phẩm Khảo luận thứ hai
về chính quyền, chỉ ra quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu trong Khảo luận thứ hai về chính quyền, từ đó thấy được ý nghĩa của quan niệm đó đối với vấn
đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
- Triết học của J Locke
4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Quan niệm của J Locke về quyền sở hữu trong tác phẩm Khảo luận thứ
hai về chính quyền
5 Giả thuyết khoa học
- Nếu phân tích, làm rõ quan niệm của J Locke về quyền sở hữu trong tác
phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền sẽ giúp chúng ta thấy đầy đủ hơn hệ
thống triết học của J.Locke, đặc biệt là quan niệm về quyền sở hữu, ý nghĩa của quan niệm đó đối với vấn đề sở hữu ở nước ta hiện nay
Trang 146 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tác giả luận văn thực hiện những
nhiệm vụ sau:
+ Phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận hình thành quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu
+ Phân tích quan niệm của J.Locke về nguồn gốc, bản chất và cách thức
đảm bảo quyền sở hữu của con người trong Khảo luận thứ hai về chính quyền
+ Ý nghĩa quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu đối với vấn đề sở hữu
ở Việt Nam hiện nay
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Với mục đích và nhiệm vụ nêu trên, tác giả luận văn tập trung nghiên
cứu dưới góc độ triết học quan niệm cơ bản của J.Locke về quyền sở hữu trong
Khảo luận thứ hai về chính quyền và ý nghĩa của nó đối với vấn đề sở hữu ở
Việt Nam hiện nay
8 Phương pháp nghiên cứu
- Tác giả luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp: phương pháp khái quát hóa và trừu tượng hóa, phương pháp thống nhất lôgic và lịch
sử, phương pháp phân tích và tổng hợp
9 Kết cấu của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm hai chương, 5 tiết
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản
- J Locke là nhà triết học tiêu biểu của nước Anh thế kỷ XVII, ông đã để lại cho nhân loại một kho tàng lý luận phong phú qua các tác phẩm tiêu biểu, trong
đó đặc biệt nhất là Khảo luận thứ hai về chính quyền
Trang 15- Trong Khảo luận thứ hai về chính quyền J Locke đã đề cập đến các
quyền của con người, trong đó ông cho rằng quyền sở hữu là quan trọng nhất
- Quan niệm về quyền sở hữu trong Khảo luận thứ hai về chính quyền của
J Locke không chỉ có ý nghĩa lịch sử lúc bấy giờ mà đến nay nó vẫn còn giá trị không chỉ trên thế giới mà còn ở Việt Nam
10.2 Đóng góp mới của luận văn
- Về mặt lý luận, luận văn làm rõ quan niệm của J Locke về quyền
sở hữu trong “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
Luận văn chỉ ra ý nghĩa quan niệm của J.Locke về quyền sở hữu đối với vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay
- Về mặt thực tiễn, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu lịch sử triết học nói chung cũng như cho những người tiếp tục đi sâu nghiên cứu hệ thống tư tưởng triết học của J Locke
Trang 16NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA J LOCKE
VỀ QUYỀN SỞ HỮU VÀ KHÁI QUÁT “KHẢO LUẬN
THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN”
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành quan niệm của J Loke về quyền
sở hữu
1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội các nước Tây Âu thế kỷ XVII
Từ thế kỷ XVI ở các nước châu Âu đã diễn ra những biến chuyển phức tạp và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã làm cho công cụ sản xuất được cải tiến và ngày càng hoàn thiện Việc sáng chế ra máy kéo sợi, máy in, các loại đồng hồ cơ học đã làm cho bộ mặt nền sản xuất và năng suất lao động thay đổi theo hướng ngày càng tiến bộ
Qúa trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ ở châu Âu đã làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất chủ yếu từ lao động thủ công sang sản xuất bằng máy móc và từng bước hình thành cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh, từ sản xuất quy mô nhỏ lên sản xuất quy mô lớn Nền sản xuất công trường thủ công đã dần thay thế cho nền kinh tế tự nhiên ở các nước ven Địa Trung Hải và nhanh chóng lan rộng ra các nước Anh, Pháp…
Những phát kiến về địa lý như việc tìm ra châu Mỹ, tìm ra đường hàng hải vòng quanh châu Phi càng tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển, thị trường trao đổi hàng hóa giữa các nước được mở rộng Các nước tư bản phát triển sớm như Anh, Pháp, Tây Ban Nha thi nhau tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa, nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên và để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của mình
Đồng thời, với sự phát triển của sản xuất, sự phát triển thương nghiệp và công nghiệp là sự phân hóa giai cấp trong xã hội châu Âu thời kì này ngày càng
rõ rệt Lúc này, cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai
Trang 17cấp tư sản đang trưởng thành và ngày càng lớn mạnh Giai cấp nông dân bị địa chủ phong kiến bóc lột nặng nề, không có ruộng đất, đời sống ngày càng cùng cực, hàng loạt nông dân đã phải rời bỏ quê hương di cư đến thành phố, trở thành người làm thuê cho các công trường, xưởng thợ
Lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ đã làm cho quan hệ sản xuất phong kiến không còn phù hợp và trở thành “xiềng xích”, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, ngăn cản sự phát triển của xã hội Giai cấp tư sản ngày càng có vai trò to lớn trong sự phát triển của xã hội nhưng lại không có quyền lực về chính trị, không chấp nhận được những đạo luật hà khắc của chế độ phong kiến đã lỗi thời, lạc hậu Điều đó dẫn đến việc giai cấp tư sản cùng kết hợp với những giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội đứng lên đấu tranh nhằm xoá
bỏ chế độ phong kiến và thiết lập bình đẳng pháp luật, đảm bảo tự do an ninh cá nhân và quyền sở hữu tư nhân, bằng cách tạo ra những sự bảo đảm cần thiết về chính trị và pháp lý Vì vậy, thời kỳ này đã diễn ra hàng loạt các cuộc cách mạng tư sản ở các nước như: Hà Lan (1560 – 1570), Anh (1642 – 1648), Pháp (1789 -1794)…
Những sự biến đổi phức tạp và sâu sắc của các nước Tây Âu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thời kỳ này đã có sự tác động mạnh mẽ đến điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh thế kỷ XVII
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh thế kỷ XVII
Hòa cùng bối cảnh châu Âu lúc đó, bước sang nửa sau của thế kỉ XVII, nước Anh đã đạt tới sự phát triển cao về kinh tế - xã hội, Anh đã trở thành một trong những cường quốc tư bản lớn bấy giờ
Những phát minh mới về kỹ thuật của thế giới đã được nước Anh áp dụng thành công vào sự nghiệp phát triển đất nước, làm cho năng suất lao động tăng lên Đặc biệt là ngành sản xuất len dạ - ngành sản xuất có truyền thống lâu đời ở Anh, đến thế kỷ XVII đã mở rộng ra cả nước, đã cung cấp một lượng hàng xuất khẩu lớn chiếm khoảng 80% toàn bộ hàng xuất khẩu của nước Anh sang bên ngoài
Trang 18Công nghiệp phát triển đã thúc đẩy thương nghiệp Anh phát triển, thương nhân Anh mở rộng buôn bán với thị trường thế giới, thành lập các công ty thương nghiệp hoạt động từ biển Ban Tích đến châu Phi, từ Trung Quốc đến châu Mỹ… Các ngành công nghiệp, thương nghiệp, hàng hải…phát triển tới mức độ chưa từng có, tạo nên những yếu tố cách mạng trong lòng xã hội phong kiến đang tan rã một quan hệ sản xuất mới – quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dần dần hình thành Ở nước Anh lúc đó đã xuất hiện những công trường thủ công tập trung với hàng trăm ngàn lao động làm thuê
Đầu thế kỉ XVII nước Anh mặc dù đã đạt được một số thành tựu về công nghiệp, thương nghiệp nhưng vẫn là một nước nông nghiệp Trong số 2,5 triệu dân chỉ có 1/5 sống ở thành thị, số còn lại sống ở nông thôn Quan hệ sản xuất phong kiến vẫn còn thống trị, nông dân làm ruộng phải nộp tô cho địa chủ theo
kỳ hạn và theo mức quy định Cho nên xét về thân phận, mặc dù họ được tuyên
bố là tự do, chế độ nông nô được bãi bỏ nhưng địa chủ vẫn có quyền xét xử và quyền quản lý về hành chính đối với những người sống trong trang viên, lãnh địa của họ Ngoài phần đất của địa chủ chiếm làm tư hữu, nước Anh lúc đó vẫn còn phần ruộng đất công xã như đất hoang, rừng núi, đồng cỏ thuộc quyền sở hữu chung, tất cả mọi người được sử dụng để chăn nuôi Để duy trì vị thế kinh tế của mình giai cấp tư sản Anh càng mở rộng các hoạt động thương nghiệp: cho vay nặng lãi, thậm chí xâm nhập cả vào lĩnh vực nông nghiệp Do sự phát triển của ngành công nghiệp len dạ, nên nghề nuôi cừu ở Anh trở thành nghề đem lại lợi nhuận cao nhất, để có được lợi nhuận cao nhất, giai cấp tư sản không từ một thủ đoạn nào để tước đoạt ruộng đất của nông dân Giai cấp tư sản Anh thu được nhiều lợi nhuận từ việc tước đoạt ruộng đất, mở rộng thị trường, có tiềm lực kinh tế ngày càng lớn mạnh nhưng lại dẫn đến một mâu thuẫn mới là họ không
có quyền lực chính trị, do quyền lực chính trị vẫn nằm trong tay các thế lực phong kiến
Trang 19Những biến động kinh tế đã kéo theo những biến đổi sâu sắc về mặt xã hội, trong giai cấp quý tộc Anh có sự phân hóa sâu sắc: Quý tộc cũ đại diện cho thế lực phong kiến, họ có nhiều đặc quyền đặc lợi nên họ chủ trương bảo vệ ngôi vua và duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của chế độ phong kiến Trong khi đó tầng lớp quý tộc mới hình thành – tức quý tộc đã tư sản hóa, có quyền lợi gắn chặt với giai cấp tư sản, tầng lớp này đại diện cho chế độ Nghị viện, họ là những người có quyền lực về kinh tế nhưng lại không có quyền lực chính trị Do vậy,
họ có thái độ thù địch với nhà vua, trở thành tầng lớp tư sản tích cực trong cuộc đấu tranh chống phong kiến
Đến giữa thế kỷ XVII, chế độ phong kiến Anh ngày càng trở nên phản động, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ của xã hội Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, giai cấp tư sản Anh dần dần lớn mạnh, họ mong muốn nhanh chóng xoá bỏ chế độ phong kiến Trong lúc đó vua Charles I âm mưu phục hồi chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến và lợi dụng những tranh chấp giữa phái Trưởng lão và phái Độc lập trong Nghị viện để tiến hành cuộc phản kích, dẫn đến bùng nổ cuộc nội chiến lần II năm 1648 Cromwell (1599 – 1658) là một trong những lãnh tụ xuất sắc của phái Độc lập, tiêu biểu cho tầng lớp quý tộc mới loại vừa, ông là người có sức lực dồi dào, một nhà tổ chức và một nhà chỉ huy giỏi Ông vốn là một tín đồ Thanh giáo, phấn đấu cả đời vì sự nghiệp Thanh giáo, phẩm chất con người ông rất cao thượng và không có dục vọng quyền lực, song sóng gió của cách mạng đã đẩy ông đến đỉnh cao của quyền lực Cromwell
đã tập hợp quần chúng nhân dân và giai cấp tư sản, quý tộc mới chống lại chế độ phong kiến nhằm thủ tiêu vương quyền, xoá bỏ cơ quan quyền lực của giới quý tộc cha truyền con nối Cuộc cách mạng thành công, phe cách mạng thắng lợi, Charles I bị xử tử đánh dấu một bước tiến mới của cách mạng và thiết lập nền bảo hộ của Cromwell Cromwell trở thành “Nhà bảo hộ” độc tài, nắm trong tay mọi quyền hành và có quyền hạn tuyệt đối, Cromwell xây dựng một chính quyền có “bàn tay sắt”, vừa có khả năng trấn áp phong trào đấu tranh của quần
Trang 20chúng nhân dân trong nước vừa có khả năng chiến thắng những quốc gia bên ngoài Tuy nhiên, chính quyền bảo hộ cũng không thoát khỏi những khó khăn ngày càng trầm trọng, trong khi đó làn sóng căm phẫn của nhân dân vẫn không ngừng bùng lên và lan trong toàn quốc Sự sụp đổ của chế độ bảo hộ sau cái chết của Cromwell được nối tiếp bằng sự phục hồi của Charles II, với việc trở về với nền quân chủ, viện quý tộc và giáo hội Điều này đã đe doạ giai cấp tư sản và quý tộc mới, đồng thời khiến nước Anh tiếp tục có những xung đột mới giữa quốc vương với nghị viện
Bên cạnh những mâu thuẫn về mặt chính trị, ở nước Anh xảy ra những tranh cãi về sự khoan dung tôn giáo diễn ra trong thời gian 1660 – 1688 giữa người Tin lành, người Anh giáo và người Công giáo Thực chất cuộc tranh luận tôn giáo này là sự phản ánh mâu thuẫn giữa hai luồng tư tưởng tư sản và phong kiến, phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Anh khi chế độ phong kiến đang suy tàn và chế độ tư sản hình thành và lớn mạnh
Thời kỳ này kết thúc bằng cuộc cách mạng Vinh quang năm 1688 mà James II bị trục xuất khỏi nước Anh và vương vị được thay vào William III và
vợ là Mary II, định hình nền quân chủ lập hiến Có thể nói, cách mạng Vinh quang đã làm nên một bước ngoặt lịch sử của nước Anh Thành quả lớn nhất của cuộc cách mạng Vinh quang chính là ở chỗ nó đã làm thay đổi chính thể nước Anh, xây dựng ở Anh nền quân chủ lập hiến, chuyển quyền lực từ tay quốc vương sang tay quý tộc Vào thời kỳ này, J Locke là thành viên của “Hiệp hội hoàng gia Anh”, điều đó tạo điều kiện để ông tham dự tích cực vào sự kiện trên
J Locke cho rằng, giữa người bị thống trị và người thống trị tồn tại một quan hệ
“khế ước xã hội”, quyền lực của người thống trị có được là do sự đồng ý của người bị trị và một khi “khế ước xã hội” bị vi phạm thì người bị thống trị không
có nghĩa vụ phải phục tùng nữa Chính những quan điểm trên của J Locke đã cung cấp những cơ sở lý luận hợp lý cho cuộc cách mạng Vinh quang, mặc dù khi ông đề xuất tư tưởng này thì cách mạng Vinh quang chưa nổ ra.Thực chất
Trang 21cuộc cách mạng Vinh Quang là sự thoả hiệp giữa giai cấp tư sản đang lên và giai cấp địa chủ phong kiến đang suy tàn Những địa chủ đó thường xuất thân từ những dòng họ quyền quý cũ nhưng lại có xu hướng tư sản hơn là phong kiến
Vì vậy mà không thể coi sự kiện 1688 là một cuộc cách mạng đúng nghĩa, mà chỉ là một cuộc chính biến, một sự thoả hiệp của những tập đoàn trong giai cấp
tư sản nhằm thiết lập chế độ quân chủ lập hiến ở Anh
Những điều kiện kinh tế - chính trị, xã hội nước Anh thế kỷ XVII đã ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của J Locke, đặc biệt với sự thoả hiệp của giai cấp
tư sản trong cuộc cách mạng năm 1688 đã để lại dấu ấn lên toàn bộ thế giới quan của J Locke, Ph Ăngghen nhận xét, trong tôn giáo cũng như trong chính trị, J Locke là người con của sự thoả hiệp giai cấp năm 1688 Với tư cách là một chứng nhân lịch sử, J Locke đã thể hiện rất sinh động những biến cố lịch sử của
nước Anh trong một số tác phẩm của mình, trong đó tiêu biểu là tác phẩm Khảo
luận thứ hai về chính quyền
1.2 Tiền đề lý luận hình thành quan niệm của J Loke về quyền sở hữu
Trong tác phẩm “Logic học biện chứng”, E.V.Ilencov đã nói rằng: không
có bất kỳ một lý thuyết nào xuất hiện trên mảnh đất trống, không có sự tiếp thu, phê phán và kế thừa những tư tưởng của các nhà triết học tiền bối Quan niệm về quyền sở hữu nói riêng và tư tưởng triết học của J Locke nói chung cũng không nằm ngoài quy luật đó Thực chất tư tưởng về “quyền con người” thực sự xuất hiện ở thời kỳ cận đại, nhưng mầm mống của tư tưởng đó đã hình thành ngay từ thời cổ đại Vì vậy, có thể coi những tư tưởng sơ khai của các nhà triết học trước
J Locke là tiền đề tư tưởng cho quan niệm của ông về quyền sở hữu
Vào thời cổ đại, Xenophon (430-345 TCN) đã đưa ra quan niệm về quyền
sở hữu, ông cho rằng chỉ giai cấp chủ nô mới có quyền sở hữu của cải vật chất, của cải đóng vai trò quan trọng trong việc con người xác định vị thế xã hội của mình Giai cấp chủ nô muốn có được nhiều của cải thì họ cần có nhiều sản phẩm
dư thừa rút ra từ việc chỉ thoả mãn ở mức tối thiểu những nhu cầu của nô lệ
Trang 22Xenophon còn cho rằng, nhu cầu của con người về vàng, bạc là không giới hạn, con người càng tích trữ được nhiều vàng bạc thì càng trở nên giàu có, quyền sở hữu của con người càng lớn
Platon (427-347 TCN) trong lý thuyết về nhà nước lý tưởng của mình, chia xã hội thành 3 tầng lớp: tầng lớp vàng gồm các nhà triết học, các chính trị gia; tầng lớp bạc gồm các vệ quân; tầng lớp đồng và sắt gồm những người lao động chân tay và buôn bán Trong đó hai giai cấp trên không có quyền sở hữu bất cứ cái gì, mà chỉ có giai cấp mà ông gọi là “đám dân đen”, những người lao động chân tay và buôn bán mới có thể có “ruộng đất riêng, nhà cửa và tiền bạc” Trong học thuyết của Platon, sự giàu có và lòng từ thiện không thể dung hoà Do
đó, chỉ có làm cho các nhà triết học và các chiến sỹ thoát khỏi chế độ tư hữu thì nhà nước mới có thể có lòng từ thiện Theo Platon hai tầng lớp trên đó phải đứng ngoài chế độ tư hữu mới có thể tránh khỏi những sự tham lam, thiên vị, ích
kỷ Platon còn cho rằng, không những chế độ tư hữu mà ngay cả sở hữu cá nhân cũng đều không thích hợp với hai tầng lớp trên đó: “Không một người nào trong bọn họ lại nên có một thứ tài sản nào….Không một người nào trong bọn họ lại
có thể có những nhà ở, nhà ăn mà không ai có thể vào được Họ cần phải đi đến nhà ăn tập thể theo từng tập đoàn, họ cần phải sống tập thể” [63, 18] Platon thấy rằng, sở hữu tư nhân là nguồn gốc sinh ra điều ác, phá hoại tính chỉnh thể và tính thống nhất của nhà nước, làm cho mọi người bất hoà với nhau Vì vậy, Platon chủ trương nhà nước lý tưởng phải xoá bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân Nhưng chính ông lại vẫn thừa nhận quyền sở hữu của tầng lớp những người lao động trực tiếp làm ra của cải vật chất trong xã hội
Aristotle (384-322 TCN) cho rằng: “không thể hay ít ra khó lòng làm được điều thiện nếu người ta vô kế khả thi Vì nhiều hành động đòi hỏi thân hữu, tiền bạc, ít nhiều quyền hành chính trị làm phương tiện thi hành” [61, 42] Aristotle đề cao hoạt động tinh thần nhưng không triệt tiêu những giá trị vật chất, ông “cuồng nhiệt bảo vệ quyền sở hữu cá nhân, bởi ông cho rằng dường
Trang 23như sự thiếu thốn về vật chất, nghèo đói, tự chúng chưa thể sinh ra bạo loạn và phân tranh Ông tin vào khả năng màu nhiệm của sở hữu cá nhân sẽ hoà giải và đoàn kết chặt chẽ mọi thành viên trong xã hội” [56, 70-71] Aristotle coi một tài sản cá nhân vừa đủ là một điều kiện đủ để đảm bảo cho cá nhân đó có cuộc sống hạnh phúc Ông cho rằng, sở hữu chung sẽ làm cho con người mất đi phẩm hạnh, nếu như tất cả đều là của chung cho mọi người thì sự quan tâm, chăm lo của mỗi người đến chúng sẽ không thể bằng được khi chúng là của riêng cá nhân mỗi người Theo Aristotle, không phải tự sở hữu cá nhân mà chính sự kiếm tiền và sở hữu vô độ mới chính là nguyên nhân nảy sinh nhà nước Ông cho rằng, việc con người có tài sản phải tuân theo những nguyên tắc của đức hạnh
Xixeron (106 - 43 TCN), là nhà tư tưởng trong giới quý tộc chủ nô Ông luôn muốn bảo vệ các quyền lợi của tầng lớp quý tộc, đại điền chủ và quan chức Ông gắn vấn đề nguồn gốc nhà nước với sự giao tiếp vốn có ở người Theo Xixeron, nhiệm vụ chính của nhà nước là bảo vệ sở hữu cá nhân Theo ông, sở hữu cá nhân được nảy sinh không phải do tự nhiên mà do kết quả thực hiện của con người Ông cho rằng, nguyên nhân tạo nên nhà nước là do sự cần thiết phải bảo vệ tài sản của cá nhân cũng như nhà nước mà nó được coi là tài sản tập thể của giai cấp chủ nô
Thời kỳ trung cổ, Augustine (354 - 430) bảo vệ quyền sở hữu của nhà thờ Thiên chúa giáo, ông nêu lên châm ngôn: “Ai không làm thì không ăn” và kêu gọi mọi người phải lao động Về thực chất, điều đó phản ánh nguyện vọng của nhà thờ là muốn trở nên giàu có hơn bằng cách tăng tài sản của nhà thờ, tài sản
đó dường như để “giúp đỡ những người thân cận”
Bước sang thời kỳ Phục hưng, nhà tư tưởng tư sản sơ khai người Ý là Nicolo Macheavelli (1469-1527) đã chú ý đến vai trò của các quyền lợi vật chất trong đời sống và hành vi con người Ông nói: Sau sự cần thiết này (tự bảo vệ khỏi bị diệt vong), con người có khuynh hướng mãnh liệt nhằm trả thù khi bị
Trang 24lăng nhục, bị thiệt hại về tài sản, các vị quân vương cần biết tự kiềm chế khỏi những điều lăng nhục ấy hơn cả Đặc biệt cần kiềm chế việc tước đoạt tài sản của người khác, bởi lẽ người ta dễ quên cái chết của cha mình hơn là bị mất tài sản thừa kế Ông cho rằng, chính trên cơ sở các quyền lợi tài sản khác nhau mà
có sự xung đột giữa người giàu và người nghèo Khi giải thích sự ra đời nhà nước, Macheaveli chỉ rõ, mục đích của nhà nước là đảm bảo cho mỗi người được tự do sử dụng tài sản và an toàn Ông là một trong những người chỉ rõ ý nghĩa to lớn của các quyền lợi kinh tế trong đời sống chính trị
Thời kỳ cận đại, Jean Bodin (1530-1596) nói, Platon định thủ tiêu tư hữu trong nhà nước của mình, do vậy xã hội lý tưởng của ông không thể gọi là nhà nước Bodin coi trọng quyền tư hữu, xem quyền tư hữu là có ý nghĩa quan trọng nhất Ông khẳng định quốc vương “có quyền đối với tất cả và chỉ có chúa
là cao hơn ông” song ông không có quyền tự ý bắt thần dân của mình nộp thuế
và xâm phạm đến tài sản cá nhân Luận điểm này của ông đã phản ánh quan điểm của giai cấp tư sản thời đó: đấu tranh chống tầng lớp đại phong kiến, giai cấp tư sản bảo vệ chủ quyền của quốc vương, đồng thời cũng không muốn cho phép nhà nước phong kiến xâm phạm đến cơ sở tồn tại của mình - sở hữu tư nhân Ông cho rằng, quyền sở hữu tư nhân của con người là vô cùng thiêng liêng, bất khả xâm phạm
Như vậy, mặc dù dưới hình thức sơ khai, các nhà tư tưởng phương Tây trước J Locke đã đề cập đến quan niệm về quyền sở hữu gắn liền với các quyền khác của con người Tuy nhiên, trong suốt nhiều thế kỷ trước, khái niệm “sở hữu” đã được dùng với nghĩa “chiếm giữ” Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu các quan niệm đó và từ thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp tư sản Tây Âu nói chung và giai cấp tư sản Anh nói riêng chống lại đặc quyền, đặc lợi phong kiến, J Locke xây dựng quan niệm của mình về quyền con người nói chung và quyền sở hữu nói riêng
Trang 251.3 Khái quát “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
1.3.1 Thân thế và sự nghiệp của J.Locke
J Locke sinh ngày 29 tháng 8 năm 1632 ở Wrington, một làng nhỏ ở Somerset nước Anh Ông xuất thân trong gia đình thương nhân, cha là luật sư theo Thanh giáo Gia đình ông không giàu có nhưng trong thời kỳ cách mạng tư sản cha ông ủng hộ phái Nghị viện (tư sản) nên ông có điều kiện để học hành chu đáo Ngay từ tuổi thơ ấu J Locke đã được gia đình truyền dạy lối sống giản
dị, đức tính cần cù, tình yêu lao động, điều này đã tác động lớn đến sự hình thành nhân cách của triết gia về sau Do ảnh hưởng bởi gia đình và đặc biệt là của người cha, J Locke luôn đấu tranh bênh vực chế độ Nghị viện
Mùa thu năm 1647, J Locke học trung học Westminster School (Luân Đôn), tại đây ông không chỉ học ngữ văn Hy Lạp mà cả tiếng Do Thái cổ và tiếng Ả Rập Ông nhận học vị cử nhân trường Westminster vào tháng 2 năm 1652
Sau đó ông đến Christ Church College of Oxford, vào thời J Locke theo học thì nơi đây vẫn mang nặng tính chất giáo dục trung cổ, nên trong quá trình học tập tại đây ông không hứng thú với các môn khoa học truyền thống, ông bắt đầu nghiên cứu khoa học tự nhiên, triết học Tháng 6 năm 1658, ông nhận học vị thạc sĩ văn chương tại đại học Christ Church, sau đó, ông được chọn làm giảng viên tiếng Hy Lạp và giảng viên môn hùng biện tại trường từ năm 1660
Với lòng say mê khoa học và sự quan tâm đến vấn đề sức khỏe, trạng thái tâm sinh lý của con người đã dẫn ông đến với y học Việc lựa chọn theo học ngành y đã tạo điều kiện để ông kết bạn với bác sĩ David Thomas, từ quan hệ này, J Locke lại có dịp tiếp xúc với Lord Ashley – bá tước Shaftesbury, là một trong những người giàu có nhất nước Anh và có chân trong chính quyền nước này, từ đây J Locke càng bị cuốn hút vào các vấn đề chính trị đang rất nóng bỏng ở nước Anh Ashley đã mời J Locke đến Luân Đôn không chỉ với tư cách một bác sĩ riêng cho ông mà còn là thư ký, người nghiên cứu, người phụ trách đặc vụ chính trị và là một người bạn Sống và làm việc cạnh Ashley, J Locke
Trang 26nhận ra mình đang ở vùng tâm điểm của nền chính trị Anh những năm 1670 –
1680 Khi Ashley thuyết phục vua Charles II thành lập Ban thương mại và thuộc địa J Locke trở thành thư ký của ban này và J Locke nhanh chóng hòa nhập vào những tư tưởng và kế hoạch cấp tiến của con người này Trong quá trình tham gia vào lĩnh vực chính trị J Locke đã bị ảnh hưởng rất lớn bởi những quan điểm,
tư tưởng của Ashley Do vậy, những vấn đề chính trị - xã hội của nước Anh được J Locke phản ánh rất sâu sắc trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền Tác phẩm không chỉ là sự thể hiện những tư tưởng thuần túy của J Locke mà còn thể hiện sự trải nghiệm của ông khi tham gia trực tiếp vào đời sống chính trị của nước Anh Những trải nghiệm đó đã giúp J Locke đưa ra những luận điểm sâu sắc về vấn đề quyền con người, quyền lực nhà nước
Năm 1674, sau khi Ashley rời khỏi chính quyền, J Locke trở lại đại học Oxford hoàn tất chương trình y khoa, lấy bằng cử nhân y khoa và giấy phép hành nghề rồi sang miền Nam nước Pháp trong thời gian 15 tháng, trong thời gian này ông tập trung nghiên cứu kinh tế và chính trị
Khi Shaftesbury trở lại vũ đài chính trị thì J Locke lại trở về Anh năm
1679 Kế hoạch ám sát anh em James II của Đảng Quê Hương Ashley không thành, Ashley phải chạy sang Hà Lan tháng 11 năm 1682 và chết ở đó vào tháng
1 năm 1683 Khi địa điểm mưu sát hoàng gia bị phát hiện, năm 1683 J Locke bị kết án trong nhóm 24 tội phạm chính trị, phải lên tàu sang Hà Lan như một nhà cách mạng lưu vong Nơi đây, ông viết “Lá thư về lòng khoan dung” bằng tiếng
La Tinh và trước khi rời Hà Lan, tháng 2 năm 1689 tác phẩm “Luận về sự hiểu biết của con người” được hoàn thành Cuộc cách mạng Vinh quang 1688 thành công đã không chỉ đánh dấu một bước ngoặt cho nước Anh mà cả với J Locke, ông trở về Anh trên du thuyền hoàng gia của nữ hoàng Mary quay về Anh cùng chồng cai trị vương quốc Trong giai đoạn này ông xuất bản tác phẩm “Luận về
sự hiểu biết của con người” và “Khảo luận thứ hai về chính quyền – chính quyền dân sự”
Trang 27Năm 1696, Uỷ ban thương mại được phục hồi, J Locke tiếp tục công việc
ở đó như một người có vai trò quan trọng bậc nhất Tuy nhiên, lĩnh vực triết học vẫn thu hút sự quan tâm của ông và J Locke đã thành công ở cả hai lĩnh vực triết học và chính trị J Locke luôn đấu tranh cho lẽ phải và đôi khi đưa ông đến
sự không nhất quán trong tư tưởng, điều này thể hiện trong câu nói của ông:
“Không có chân lý nào được toàn bộ nhân loại thừa nhận” Tuy là người có nhiều thiện cảm, song bị cuốn hút bởi những hoạt động khoa học - chính trị nên
J Locke không có cơ hội lập gia đình, suốt đời ông sống độc thân
Năm 1700, J Locke về hưu, ông trở về Oates sống những năm cuối đời và mất ngày chủ nhật 28 tháng 10 năm 1704 vì chứng hen suyễn
J Locke để lại khá nhiều tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm đã làm nên tên tuổi của ông trong lịch sử tư tưởng nhân loại
Những tác phẩm chính của ông: “Bàn về nghệ thuật y học” (1668); “Khảo luận thứ hai về chính quyền – chính quyền dân sự” (1689); “Luận về nhận thức con người” (1689); “Thư về lòng khoan dung” (1689); “Một số suy nghĩ về hậu quả của việc hạ thấp tỷ giá và tăng giá trị của tiền tệ” (1691); “ Một số suy nghĩ
về giáo dục” (1693); “Tính hợp lý của Thiên chúa giáo” (1695)
Ngoài ra, ông còn có một số tác phẩm được viết sau khi ông trở về Anh và được công bố sau khi ông mất như: “Thuyết trình về phép màu của chúa”; “Xem xét ý kiến của cha Malebranche nhìn thấy tất cả mọi việc nhân danh chúa”;
“Nhận xét về một số tác phẩm của ông Norris”; “Con đường của hiểu biết”; “Lá thư gửi giám mục xứ Worcester” Trong đó, tác phẩm thu hút sự quan tâm của tác giả luận văn nhất là “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
1.3.2 Khái quát “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
Trong thời gian xảy ra khủng hoảng của dự luật tống xuất anh em Quốc
vương James II, J Locke viết “Hai khảo luận về chính quyền”trong thời kỳ ông
ở Hà Lan, khảo luận thứ nhất về chính quyền là phê phán chính quyền thần thánh của Robert Filmer, còn khảo luận thứ hai viết về chính quyền dân sự Về
Trang 28tên của tác phẩm, được dịch giả Lê Tuấn Huy dịch là “Khảo luận thứ hai về chính quyền – chính quyền dân sự” Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi viết tên tác phẩm rút ngắn theo cách nói phổ biến là “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
“Khảo luận thứ hai về chính quyền” bao gồm 19 chương khác nhau, tuy nhiên quan niệm bao trùm trong toàn bộ tác phẩm là trên cơ sở khẳng định các quyền tự nhiên của con người, J Locke chỉ rõ sự hình thành xã hội dân sự, chính quyền nhà nước nhằm mục đích bảo vệ các quyền của con người do những bất cập của trạng thái tự nhiên
Mở đầu của tác phẩm, J Locke phê phán quan niệm “quân chủ tuyệt đối” của Robert Filmer Tiếp đó, J Locke đưa ra quan niệm cho rằng, con người có nhiều loại quyền lực khác nhau, quyền lực của người cha đối với người con, quyền lực của người chồng với người vợ và quyền lực của người cai trị và người
bị cai trị, do đó ông yêu cầu cần phải phân biệt các loại quyền lực khác nhau đó
J Locke cho rằng, đôi khi những quyền lực khác nhau này lại ngẫu nhiên tồn tại
có ở cùng một con người Vì vậy, cần phải đặt người đó vào những mối quan hệ khác nhau để phân biệt các loại quyền lực đó
Cuối chương 1, J Locke đưa ra định nghĩa về quyền lực chính trị: “là quyền làm luật có án phạt tử hình, và do đó, bao hàm tất cả những hình phạt thấp hơn, để quy định và bảo toàn sở hữu, quy định và bảo toàn việc sử dụng vũ lực của cộng đồng khi thực thi các luật này, trong việc phòng vệ của cộng đồng quốc gia trước những phương hại gây ra từ nước ngoài; và tất cả những việc như thế chỉ duy nhất là vì lợi ích công” [29, 32]
Chương 2 J Locke viết về trạng thái tự nhiên của xã hội loài người, J Locke cho rằng, xã hội loài người trải qua hai trạng thái, trạng thái tự nhiên và trạng thái xã hội công dân Trạng thái công dân gắn liền với sự hình thành xã hội, còn trạng thái tự nhiên thì đã có từ rất xa xưa
Theo J Locke, trạng thái tự nhiên có trước các quốc gia dân tộc Sống trong trạng thái tự nhiên, con người có các quyền cơ bản: quyền tự do, quyền
Trang 29bình đẳng và quyền sở hữu Trạng thái tự nhiên là trạng thái tự do hoàn hảo, con người có quyền tự do đầy đủ nhất, tất cả mọi người đều bình đẳng và độc lập như nhau, không ai có quyền hạn hơn người khác, con người sinh ra khác nhau
về những phương diện cá nhân nhưng đều bình đẳng về quyền con người Theo
J Locke, những quyền này là quyền tự nhiên của con người, bắt nguồn từ bản chất “muôn đời và bất biến” của con người và phải được bảo vệ ở mọi chế độ xã hội Những quyền tự nhiên của con người có ngay khi con người sinh ra, không
ai có quyền xâm phạm, đồng thời cũng không cho phép ai chà đạp lên quyền tự nhiên của những người khác J Locke cho rằng, con người có quyền lực tuyệt đối trong việc bảo vệ các quyền tự nhiên Nếu như có bất kì ai đó có ý định hay
có những hành động vi phạm đến quyền tự nhiên của người khác mà không được sự cho phép của người đó thì người đó có quyền “trừng phạt” kẻ xâm phạm để bảo vệ các quyền tự nhiên của mình và có quyền đặc biệt là “tìm kiếm
sự bồi thường thiệt hại từ người gây hại” Còn những kẻ có ý định hay hành
động xâm phạm các quyền tự nhiên của người khác thì bản thân họ đã tự đặt mình vào trong “trạng thái chiến tranh” – là “trạng thái của thù địch và sự hủy diệt” [29, 49], người đó đã tự tuyên bố rút khỏi những nguyên tắc của bản tính con người và là một sinh vật có hại hay kẻ bị “tha hóa” bản tính người
Ở trạng thái tự nhiên, theo J Locke con người có đầy đủ các quyền tự do
mà không phải phụ thuộc vào bất kỳ ai, nhưng ông cũng đã chỉ rõ rằng, đây không phải là một trạng thái lộn xộn mà phải tuân theo “luật tự nhiên”, nếu vượt qua khuôn khổ cho phép của luật tự nhiên con người sẽ mất tự do và sẽ bị những người khác và chính luật tự nhiên trừng trị
Theo J Locke, trong trạng thái tự nhiên tất cả mọi người đều giữ vai trò hành pháp, thực thi luật tự nhiên nhằm bảo vệ những quyền lợi của họ và để
chống lại những kẻ vi phạm những quyền này: “việc thực thi luật tự nhiên, trong
trạng thái này được đặt vào tay của mỗi người, vì vậy, mỗi người đều có quyền trừng phạt những kẻ xâm phạm đến luật của nó, đến mức có thể cản trở sự vi
Trang 30phạm này Vì luật tự nhiên như tất cả các luật khác liên quan đến con người trên
thế giới này, sẽ là vô hiệu nếu như không một ai trong trạng thái tự nhiên có
quyền lực để thực thi luật đó, nhằm bằng cách này mà bảo vệ con người vô tội
và ngăn chặn kẻ vi phạm” [29, 37]
Tuy nhiên, J Locke cũng chỉ ra rằng: trong trạng thái tự nhiên, người này
có được quyền lực đối với người kia, nhưng không phải là quyền lực tuyệt đối hay quyền lực độc đoán để xử sự với một tội phạm mà quyền lực đó phải ở trong giới hạn kiểm soát của lý trí và lương tâm chứ không phải bằng sự cáu giận hay
sự cực đoan vô độ từ ý chí của riêng mình J Locke cho rằng, đây là hai lý do để giải thích cho việc gây hại hợp pháp của một người đối với người khác Từ hai quyền này, J Locke cũng chỉ ra những bất cập của việc con người tự mình trở thành người thực thi, bảo vệ quyền tự nhiên của mình, đó là việc mà người cai trị sẽ lợi dụng địa vị, quyền lực mình có trong tay bằng sự yêu ghét chủ quan của bản thân mà thiên vị cho người thân và bạn bè; bên cạnh đó, bản tính xấu, sự xúc động và thù hằn cá nhân sẽ đưa họ đi quá xa khi trừng phạt người khác, và
từ đây, theo sau nó sẽ không là gì khác ngoài sự hỗn độn và rối loạn
Chính vì vậy, mà J Locke cho rằng, không nên kéo dài trạng thái tự nhiên, mà phải được thay thế bằng một chính quyền dân sự: J Locke “dễ dàng
chấp nhận rằng chính quyền dân sự là phương thức thích đáng cho những bất
tiện của trạng thái tự nhiên – một trạng thái chắc chắn là cao quý hơn mà người
ta có thể là quan tòa cho trường hợp riêng của mình” [29, 44] Nhà nước được thành lập trên cơ sở thoả thuận của những con người sống trong cộng đồng đó, thông qua một hiệp ước trừu tượng - “khế ước xã hội” Khi gia nhập vào xã hội, con người tự nguyện trao quyền lực của mình cho chính quyền, từ bỏ những gì
họ có trong trạng thái tự nhiên để đạt tới sự bảo toàn tốt hơn cho chính mình
Khi quốc gia thành lập, thì các cơ quan quyền lực cũng được thiết lập
để thực hiện những nhiệm vụ, yêu cầu của quốc gia Cơ quan quyền lực lập pháp được thiết lập đầu tiên, cơ quan này có nhiệm vụ soạn thảo, ban hành
Trang 31luật pháp để duy trì trật tự xã hội Để duy trì trật tự xã hội, bất kỳ nước nào cũng đều phải có sự đồng thuận của những người bị trị Nhận thấy rằng, khó
có thể đạt được sự đồng thuận tuyệt đối cho một luật lệ cụ thể được đưa ra, J Locke chủ trương phải chấp nhận đặt sự quyết định dựa trên ý kiến của đa số Trong tổ chức cộng đồng này, con người sẽ phải sống và hành động tuân theo hình thức đa số trị, bởi vì xã hội cần phải sinh hoạt theo một hướng chung Hơn nữa, thỏa mãn ý muốn của tất cả mọi người là việc không thể thực hiện được vì mỗi người có một quan điểm riêng, nếu ai cũng muốn làm những điều mình muốn mà điều đó lại bao hàm điều mong muốn của người khác thì sẽ dẫn đến những mâu thuẫn, đấu tranh giành quyền lợi, đây là điều không thể
tránh khỏi ở mọi tập thể người, nên theo J Locke: “Nơi mà đa số không thể
quyết định so với phần còn lại, nơi đó họ không thể hành động với tư cách một cơ thể chung và do đó sẽ lại lập tức tan rã” [29, 140]
Theo J Locke bất cứ ai ra khỏi trạng thái tự nhiên và hợp nhất vào một cộng đồng phải nhận thức được việc từ bỏ mọi quyền lực một cách nhất thiết, cho những mục đích mà vì đó họ đã hợp thành xã hội, tạo nên đa số của cộng
đồng, “đem lại sự khởi đầu cho bất kì một chính quyền hợp pháp nào trên thế
giới này” [29, 141]
Khi mọi người đã thỏa thuận với nhau để trao quyền lực của mình, hợp nhất thành tổ chức rồi, từ đó họ có thể dựng nên hình thức chính quyền mà họ cho là thích hợp, lựa chọn người cai trị thông thái, dũng cảm nhất để chỉ huy họ trong chiến tranh và lãnh đạo họ chống lại kẻ thù Các quan cai trị không tước đoạt các quyền tự nhiên của họ mà chỉ phân xử những tranh cãi có thể xảy ra, tức là họ bảo vệ những quyền lợi chung của cộng đồng, vì cộng đồng mà làm việc J Locke chỉ ra rằng, để trở thành thành viên của một cộng đồng quốc gia thì con người phải kí kết một bản “khế ước xã hội”: “phục tùng luật pháp của quốc gia đó, việc sống bình yên và thụ hưởng những ân huệ cùng sự bảo hộ của
nó không khiến cho một người trở thành thành viên của xã hội đó”, mà phải
“bằng một cam kết xác thực cùng với một lời hứa và giao ước được diễn đạt” [29, 171] cho việc anh ta gia nhập vào xã hội đó
Trang 32J Locke nhận định rằng, chính quyền chỉ là công cụ của dân và không thể giữ vai trò ngang hàng hay cao hơn vai trò của nhân dân Đối với nhân dân thì chính phủ không có quyền mà chỉ có nhiệm vụ Dân giao cho chính phủ một số trách nhiệm và chính quyền phải thi hành theo đúng ý dân, chính phủ được hình thành là chính quyền của nhân dân, do nhân dân lập ra, và hoạt động vì lợi ích của nhân dân Theo J Locke, nhà nước không cần có quá nhiều quyền lực, vì như vậy chỉ khiến người dân bị đè nén Ông cũng nhận thấy nguy cơ của quyền lực tuyệt đối, quyền độc tài dù trao cho một cá nhân hay một nhóm người Do vậy J Locke cho rằng, hình thức nhà nước tốt nhất là quyền lực của hệ thống chính quyền được hạn chế bằng cách chia thành các nhánh có quyền hạn riêng cần thiết đủ để thực hiện chức năng của mình
J Locke đưa ra lý thuyết về sự phân chia quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên hiệp
Theo J Locke, chính thể tốt nhất là chính thể đại diện cho dân giữ quyền lập pháp trong tay, cơ quan lập pháp là cơ quan quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước và thuộc về Nghị viện Nghị viện phải họp định kỳ để thông qua các đạo luật nhưng không thể can thiệp vào việc thực hiện chúng, phần việc thực hiện chúng là phần việc của cơ quan hành pháp Cơ quan lập pháp là nền tảng của mọi cộng đồng quốc gia, là sự bảo toàn của xã hội, của mỗi cá thể Tất cả các quyền lực khác đều phụ thuộc nó, là quyền lực thiêng liêng mà không thể thay thế bằng bất kỳ một sắc lệnh nào Tất cả mọi người sống trong cộng đồng phải tuân thủ quyền lực tối cao này, và cơ quan lập pháp có những hướng dẫn cụ thể, chi tiết, rõ ràng cho những người thực hiện Mọi người có thể tự mình hoặc tập hợp, liên kết với nhau để ban hành những quy định pháp luật Sau khi thống nhất các bộ luật thì họ lại tách ra, trở thành đối tượng để tuân theo những quy định mà họ lập, tức là họ vừa là chủ thể ban hành luật vừa là người thực thi, tuân thủ luật pháp đó, chịu sự quản lý của những luật đó Tất cả những điều này không được hướng đến mục đích nào khác
ngoài sự an toàn và vì lợi ích chung cho tất cả mọi công dân: “hòa bình, an toàn và
lợi ích công của nhân dân” [29, 178]
Trang 33Quyền hành pháp tồn tại để thi hành các bản án hay các đạo luật được lập
ra bởi cơ quan lập pháp Những người có quyền hành pháp được xem như là những người đại diện cho quốc gia, hành động theo ý chí của xã hội: “ông (cơ quan hành pháp) được xem như hình ảnh, biểu tượng hay đại diện của cộng đồng quốc gia, hành động theo ý chí của xã hội” [29, 206] Do vậy, những người thực thi luật pháp không được hành động theo ý chí nào khác ngoài ý chí và quyền lực
mà luật pháp cho phép Nếu những người thi hành các quyền hành pháp mà vi phạm đến những định chế của luật pháp thì họ sẽ phải chịu những sự trừng phạt nặng nề hơn những công dân khác trong xã hội Trong trường hợp vi phạm pháp luật, những người thi hành pháp luật không thể làm gương cho những người khác,
do đó họ không thể có quyền gì đối với việc yêu cầu những người khác phải tuân thủ pháp luật Nếu những nhà hành pháp mà vi phạm ý chí của xã hội và hành động theo ý chí riêng của mình thì người đó đã “tự giáng chức và chỉ là một cá thể tư riêng không có quyền lực, không có ý chí của cộng đồng” và vì thế “không
có quyền trước sự tuân thủ của các thành viên trong xã hội”
Những người có quyền hành pháp đặt dưới sự quản lý của cơ quan lập pháp, phụ thuộc và có trách nhiệm giải trình với cơ quan lập pháp, và nếu muốn
cơ quan lập pháp có thể thay đổi hoặc cách chức họ, cơ quan hành pháp phải luôn hiện diện để thi hành các luật được ban ra Mặc dù, cơ quan quyền lực hành
pháp có “đặc quyền để triệu tập và giải tán các hội nghị như thế của cơ quan
lập pháp” [29, 212] nhưng không phải vì thế mà có vị thế cao hơn cơ quan lập
pháp Cơ chế hành pháp thực sự chỉ là công cụ của cơ chế lập pháp
J Locke không đặt hai quyền lập pháp và hành pháp vào tay của một người hay một cơ chế chính trị, bởi vì nguy cơ lạm quyền dễ xảy ra Mặc dù đặt
cơ chế lập pháp lên trên cơ chế hành pháp, song J Locke nhận thấy cơ chế hành pháp cần những quyền hạn đặc biệt để giải quyết những vấn đề một cách hữu hiệu trong các trường hợp cần thiết Quyền hạn đặc biệt này được J Locke gọi là
“đặc quyền hành động”
Trang 34Ngoài quyền lập pháp và hành pháp, theo J Locke “còn có một quyền lực khác trong mỗi cộng đồng quốc gia mà người ta có thể xem là tự nhiên, vì nó là
điều đáp ứng cho cái quyền lực mà mọi người đương nhiên có trước khi gia nhập vào xã hội… quyền lực về chiến tranh và hoà bình, tạo nên liên minh và đồng minh, cũng như tất cả các giao kết khác, với mọi cá nhân và cộng đồng bên
ngoài cộng đồng quốc gia, và có thể được gọi là quyền liên hiệp” [29, 200-201]
Tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền còn nêu lên trường hợp chính quyền quốc gia được thành lập không phải bằng con đường hòa bình với sự chấp thuận của đa số nhân dân sống trong cộng đồng ấy, mà có những chính quyền được thành lập trên cơ sở dùng vũ lực quân sự Theo J Locke, người đi xâm
lược, vốn đã “tự đặt mình vào tình trạng chiến tranh với người khác, xâm lấn
một cách bất chính đối với quyền của người khác bằng cuộc chiến tranh phi
nghĩa, như vậy, có thể không bao giờ đi đến chỗ có được quyền đối với người bị
chinh phục” [29, 235-236] J Locke không tán thành việc thành lập chính quyền
bằng con đường dùng vũ trang này
Chương cuối cùng của tác phẩm J Locke nói đến những nguyên nhân khiến cho chính quyền giải thể, theo đó thì chính quyền có thể bị tan rã bởi nguyên nhân bên trong và bên ngoài
Nguyên nhân bên ngoài dẫn đến chính quyền bị giải thể là do sự xâm lược của những thế lực ngoại bang: Một khi xã hội tan rã thì chắc chắn chính quyền của xã hội đó cũng không thể tồn tại J Locke đã ví sự tồn tại của xã hội và chính quyền như sự tồn tại của khung nhà và những vật liệu xây dựng lên khung nhà đó
Chính quyền không chỉ bị giải thể bởi các thế lực ngoại bang xâm chiếm
mà nó còn bị giải thể bởi vì những nguyên nhân ở bên trong, nguyên nhân đầu tiên ở trong bản thân chính quyền đó khiến cho nó bị giải thể đó là “khi cơ quan lập pháp bị hoán đổi” Cơ quan lập pháp bị hoán đổi là do nhiều nguyên do khác nhau, đó có thể là do một vị quân vương đã đặt ý chí độc đoán của mình vào luật pháp, hoặc khi quân vương cản trở cơ quan lập pháp tập hợp vào thời gian đã
Trang 35được quy định, hay cản trở nó hoạt động tự do và theo đuổi những mục đích mà
vì đó nó được thiết lập thì cơ quan lập pháp đã bị hoán đổi Do vậy, “người nào lấy đi tự do hay cản trở sự hoạt động của cơ quan lập pháp vào những kỳ được
quy định của nó thì trên thực tế đã tước bỏ cơ quan lập pháp và đặt một kết thúc
cho chính quyền” [29, 279-280] Cơ quan lập pháp còn bị biến đổi khi quân
vương bằng sự độc đoán của mình không được sự chấp thuận của nhân dân đã tự
ý thay đổi giới cử tri hay thay đổi cách thức tuyển cử, việc làm này gây mâu thuẫn với quyền lợi của nhân dân Và khi quân vương hay cơ quan quyền lực lập pháp “chuyển giao nhân dân, đưa họ vào vòng khuất phục đối với quyền lực ngoại quốc” [29, 280], thì chắc chắn là một thay đổi đối với cơ quan lập pháp,
và vì thế cũng là sự tan rã của chính quyền
Ngoài việc cơ quan lập pháp bị hoán đổi còn có một con đường thứ hai làm cho chính quyền tan rã ngay từ bên trong là khi cơ quan lập pháp hay quân vương, hoặc cả hai hành động trái với sự ủy thác mà họ được giao, khi mà họ cố tình xâm đoạt sở hữu của nhân dân biến nó thành của mình, hoặc một số người nào đó của xã hội trở thành những ông chủ và quyết định một cách độc đoán quyền tự do hay vận mệnh của nhân dân Việc chính quyền giải thể trong những trường hợp nêu trên do lỗi của quân vương, vì hiển nhiên khi ông có sức mạnh
vũ lực, có ngân khố của quốc gia cùng với các quan chức nhà nước để sử dụng vậy mà ông đi ngược lại với ý chí của xã hội, ngụy tạo cho những lý do đưa ra nhằm che mắt nhân dân, ảnh hưởng đến quyền lợi chung của xã hội
Chính quyền đi đến chỗ tan rã còn do người có quyền hành pháp tối cao sao nhãng và bỏ mặc nhiệm vụ, đến mức các luật đã có không còn có thể được thực thi Điều này tạo điều kiện cho phát sinh tình trạng vô chính phủ và như thế làm cho chính quyền tan rã nhanh Bởi ở đây luật pháp không thể được thực thi thì hoàn toàn như là không có luật pháp, và nếu không có luật pháp thì chính quyền không thể tồn tại
Theo J Locke, quyền lực chính trị tối thượng trong quốc gia luôn ở trong tay nhân dân, thuộc về nhân dân và được nhân dân sử dụng trong các cuộc bầu
Trang 36cử Nhân dân thỏa thuận với nhau để lập nên một chính quyền, họ trao quyền lực cho chính quyền để chính quyền hoạt động vì quyền lợi công của cả xã hội Nhưng khi chính quyền có những hành động đi ngược lại lợi ích của đa số nhân dân, làm mất lòng tin của dân cũng như chỉ lợi dụng quyền hành để phục vụ quyền lợi cá nhân hay bè phái của họ thì nhân dân cũng có thể thay đổi chính quyền đó bằng cách mạng Nhân dân nắm giữ vai trò thẩm phán để xét xử các vi phạm của chính quyền, khi đã mất lòng tin tưởng, nhân dân có thể “nổi loạn” để thay đổi chính quyền Tuy nhiên, J Locke khuyên nhân dân nên cẩn thận trước khi làm cách mạng, nhân dân chỉ nên thực hiện cách mạng khi nào chính quyền không thể hoàn tất các trách nhiệm được giao phó và khi chính quyền lạm dụng quyền gây ảnh hưởng đến lợi ích của xã hội Nhân dân có thể thay đổi một chính quyền thiếu khả năng bằng lá phiếu bầu cử Cách mạng chỉ nên xảy ra khi nhân dân mất hết tin tưởng vào chính quyền và các phương pháp thay đổi chính quyền khác (bầu cử…) không thể thực hiện được
Khi chính quyền tan rã thì nhân dân lại tự do lo liệu cho chính mình, bằng cách xây dựng một cơ quan lập pháp mới khác với cơ quan cũ thông qua việc thay đổi con người trong đó hay hình thức của nó hoặc thay đổi cả hai, khi mà
họ nhận thấy đây mới là điều tốt nhất mang lại cho họ sự an toàn và cả lợi ích
Như vậy, trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền từ chỗ phê phán chính quyền của Robert Filmer, J.Locke khẳng định các quyền tự nhiên của con người, đó là những quyền tự nhiên bất biến, không ai có thể xâm phạm Sống trong trạng thái tự nhiên con người có đầy đủ các quyền tự nhiên đó, nhưng việc thụ hưởng nó lại không được đảm bảo và luôn bị đe dọa Do đó con người tiến lên trạng thái xã hội dân sự Nhà nước được thiết lập với các cơ quan quyền lực và các công cụ, biện pháp thực thi luật pháp nhằm mục đích đảm bảo các quyền tự nhiên cho con người
Trang 37Tiểu kết chương 1
Qua sự nghiên cứu trên ta thấy, J Locke đã xuất phát từ bối cảnh lịch sử nước Anh thế kỷ XVII để xây dựng tư tưởng triết học của mình Với sự quan tâm đặc biệt đối với những vấn đề chính trị, J Locke đã trở thành một nhà chính trị học và với sự trải nghiệm trực tiếp các sự kiện chính trị ở Anh lúc bấy giờ đã tạo điều kiện để J Locke hình thành nên những tư tưởng triết học sâu sắc Những biến động chính trị - xã hội Anh thế kỷ XVII đã được J Locke phản ánh trong “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, cùng với những điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh thế kỷ XVII và trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tư tưởng về quyền sở hữu của các nhà triết học tiền bối, J Locke đã xây dựng quan niệm của mình về quyền con người nói chung và quyền sở hữu của con người nói riêng
Quan niệm bao trùm toàn bộ “Khảo luận thứ hai về chính quyền” là trên
cơ sở J Locke khẳng định các quyền tự nhiên của con người: quyền bình đẳng, quyền tự do và quyền sở hữu, ông chỉ rõ nguồn gốc hình thành của xã hội dân sự nhằm mục đích cao quý và chủ yếu là bảo vệ các quyền tự nhiên của con người, khắc phục những bất cập của trạng thái tự nhiên Theo ông trạng thái sống đầu tiên của loài người là trạng thái tự nhiên chưa có nhà nước, đó là một trạng thái bình đẳng, sự bình đẳng này không phải do lý tính con người nguyên thủy bày đặt, cũng không phải kết quả cuộc đấu tranh xã hội, mà do bản năng tự nhiên con người đem lại Nhưng ở trong trạng thái tự nhiên này thì các quyền tự nhiên của con người không được đảm bảo và luôn bị đe dọa, nên các thành viên trong
xã hội đã thỏa thuận với nhau thành lập nên xã hội dân sự Nhà nước thành lập
để thực hiện mục đích đảm bảo các quyền tự nhiên cho các thành viên trong xã hội đó Trong các quyền tự nhiên đó thì quyền sở hữu là quyền đặc biệt quan trọng, để đảm bảo cho con người thụ hưởng an toàn những sản phẩm do lao động của mình làm ra thì xã hội cần thiết lập các cơ quan quyền lực đặc biệt: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan liên hiệp Mỗi một cơ quan có những quyền hạn và thực hiện những nhiệm vụ khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm mục đích cao nhất đảm bảo quyền sở hữu cho con người
Trang 38CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM CỦA J LOKE VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRONG “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN”
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong Khảo luận thứ hai về chính quyền J Locke dành cả chương V để
trực tiếp viết về quyền sở hữu, đây được xem là một trong những chương có ảnh
hưởng và quan trọng nhất trong tác phẩm Trong Khảo luận thứ hai về chính
quyền J Locke trình bày nhiều quan niệm về sở hữu, tuy nhiên trong phạm vi
luận văn chúng tôi chỉ đề cập đến những nội dung cơ bản: nguồn gốc hình thành quyền sở hữu, bản chất của quyền sở hữu và những cách thức để bảo vệ quyền
sở hữu
2.1 Quan niệm của J Loke về quyền sở hữu
2.1.1 Quan niệm của J Loke về nguồn gốc, bản chất quyền sở hữu
Như đã trình bày ở trên, theo J Locke, loài người trải qua hai trạng thái phát triển xã hội: trạng thái tự nhiên và trạng thái xã hội dân sự Ở trong trạng thái tự nhiên, con người có được đầy đủ các quyền tự nhiên như: quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền sở hữu, đó là những quyền thiêng liêng, không thể xâm phạm Trong đó, bình đẳng được coi là phẩm chất đầu tiên của con người
“Không có gì hiển nhiên hơn là những sinh vật của cùng một loài và một hạng, được sinh ra một cách ngẫu nhiên với cùng những thuận lợi tự nhiên, sử dụng cùng những năng lực, cũng phải là những sinh vật bình đẳng với nhau mà không
có sự lệ thuộc hay khuất phục” [29, 33] Phẩm chất tự nhiên thứ hai của con
người là tự do vô hạn: “Quyền tự do tự nhiên của con người, là sự tự do trước
bất kỳ quyền lực cao hơn nào nơi trần thế và không chịu sự chi phối của ý chí hay thẩm quyền lập pháp, mà chỉ có luật tự nhiên dùng làm quy tắc cho họ” [29, 57] Phẩm chất tự nhiên thứ ba của con người là quyền sở hữu: “Dù mọi vật được trao tặng chung, nhưng con người, bằng việc là chủ nhân của bản thân và
Trang 39chủ sở hữu của riêng cá nhân mình và của hành động hay lao động của nó,
trong tự thân mỗi người vẫn có một nền tảng cao cả cho sở hữu” [29, 82] Trong
các quyền tự nhiên đó, J Locke cho rằng quyền sở hữu của con người là quyền
cơ bản nhất
Theo J Locke, ngay từ khi mẹ tự nhiên sinh ra con người trên trái đất thì con người đã có quyền sở hữu: toàn bộ cây trái và thú vật trên trái đất đều là những ban tặng mà Thượng đế ban cho con người Thượng đế sinh ra con người đồng thời cũng ban cho con người đầy đủ những điều kiện để con người có thể duy trì sự sống như: thức ăn, nước uống… và những điều kiện đem lại sự sung túc cho sự sống của họ: “Tất cả cây trái mà nó tạo ra, thú vật mà nó nuôi ăn, một cách tự nhiên là thuộc chung của cả loài người” [29, 62] Tất cả những sản vật
đó đều được tạo ra từ bàn tay của tự nhiên, do đó theo J Locke con người có quyền sở hữu đối với những sản phẩm mà tự nhiên ban tặng khi con người sinh
ra Quyền sở hữu của con người ngay khi sinh ra là quyền sở hữu chung cho toàn thể mọi người, không một ai có quyền lực riêng vì trong trạng thái tự nhiên tất cả mọi người đều bình đẳng, mọi thứ đều là của chung của xã hội, không ai
có quyền hạn gì hơn người khác J Locke cho rằng, quyền sở hữu chung đó là quyền tự nhiên của con người, và con người có quyền bảo vệ quyền sở hữu chung đó
Nhưng dù có như vậy, thì theo J Locke, việc mà tự nhiên trao tặng mọi thứ trên trái đất cho con người nhất thiết phải có biện pháp để con người có thể
“chiếm giữ” được chúng, biến chúng thành của riêng cá nhân Theo quan niệm của J Locke thì việc con người “chiếm giữ” những vật chất đó đã hình thành
nên quyền sở hữu tư nhân Quyền sở hữu trong Khảo luận thứ hai về chính
quyền theo J Locke là quyền sở hữu tư nhân (tư hữu), về quá trình hình thành
quyền đó
J Locke sống vào thời kỳ mà việc biện hộ cho quyền sở hữu tư nhân của con người gặp rất nhiều khó khăn do sự chống đối của chế độ phong kiến
Trang 40Nhưng bằng sự thông minh và khéo léo, ông đã làm được điều đó, J Locke bắt đầu với một tiền đề mà không ai có thể tranh cãi: là con người có quyền sở hữu đối với lao động của chính bản thân họ và không ai có quyền đối với sở hữu này
ngoài chính anh ta: “lao động của cơ thể anh ta, sản phẩm của đôi tay anh ta –
hoàn toàn có thể nói – đích thị là của anh ta” [29, 63] Ở đây, J Locke chưa hiểu được sự khác nhau giữa lao động và sức lao động nên đã đồng nhất chúng và gọi chung là lao động Sau này C Mác đã nhìn nhận rõ danh giới giữa hai phạm trù
“lao động và sức lao động”, nhờ có quan điểm đúng đắn về lao động và sức lao động mà ông đã trở thành người đầu tiên trình bày một cách khoa học lý luận về hàng hóa sức lao động Lý luận này đã từng bước hoàn thiện qua nhiều tác phẩm khác nhau và đạt đến đỉnh cao trong bộ Tư bản
Theo J Locke, sở hữu tư nhân hình thành thông qua lao động, nếu không
có lao động tác động vào sự vật để lấy chúng ra khỏi bàn tay của mẹ tự nhiên thì không có cách nào mà vật đó lại có thể trở thành vật sở hữu riêng của một người
mà không vấp phải sự phản đối của những người xung quanh Nếu không có quá trình lao động của con người gắn kết vào tài sản thì những tài sản đó sẽ mãi mãi thuộc quyền sở hữu chung của toàn thể nhân loại
Từ chỗ cho rằng, con người có quyền sở hữu đối với lao động của mình thì tất yếu người đó có quyền sở hữu đối với những sản phẩm mà do lao động của mình làm ra Bất cứ thứ gì mà con người dùng sức lao động “khảm” vào và lấy nó ra từ trong trạng thái tự nhiên thì sẽ trở thành sở hữu riêng của cá nhân, không một ai có thể nói rằng vật đó không phải là của anh ta Chính việc con người dùng sức lao động gắn kết vào bất cứ một thứ gì đó đã giúp người đó loại trừ được quyền hạn chung của những người khác đối với vật đó, biến nó thành
tư hữu Đặc biệt khi mà trong xã hội vẫn còn đủ những vật như thế và chất lượng của những vật còn lại cũng không khác gì so với vật mà anh ta chiếm giữ được để lại chung cho những người còn lại J Locke nói rằng, lao động đã tách biệt giữa những thứ mà con người lấy từ tự nhiên với cái chung của tự nhiên, lao