1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lễ hội tịch điền đọi sơn và ý nghĩa của nó đối với việc khuyến nông ở hà nam hiện nay

97 433 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta có rất nhiều loại hình lễ hội như: lễ hội nông nghiệp, lễ hội tín ngưỡng, lễ hội thi tài…Từ xưa, lễ hội nông nghiệp đã được cha ông ta coi là lễ hội quan trọng nhất phản ánh cu

Trang 1



NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN ĐỌI SƠN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC KHUYẾN NÔNG

Ở HÀ NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Trang 2



NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN ĐỌI SƠN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC KHUYẾN NÔNG

HÀ NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Triết học

Mã số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ NGỌC ANH

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Tác giả hoàn thiện luận văn này dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Trần Thị Ngọc Anh Trong luận văn, tác giả có kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Các tài liệu, số liệu tác giả sử dụng trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kiều Oanh

Trang 4

Với những tình cảm chân thành tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc đến trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Triết học, cùng quý thầy cô giảng dạy lớp Cao học Triết khóa 25 đã tận tình hướng dẫn, dạy bảo, tạo mọi

điều kiện cho tác giả được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới Tiến sĩ Trần Thị Ngọc Anh, giảng

viên khoa Triết học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người hướng dẫn tác giả trong quá trình nghiên cứu khoa học Cô đã dành cho tác giả rất nhiều thời gian, tâm huyết, những lời động viên, sự chỉ bảo ân cần cùng với kiến thức và kinh nghiệm quý báu Tất cả những điều cô làm đã giúp tác giả vững tin vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn của mình

Qua đây tác giả xin được cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, những người đã luôn ở cạnh bên, giúp đỡ, động viên, dành những tình cảm tốt đẹp nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tác giả cũng cảm ơn nhân dân xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện để tác giả được nghiên cứu, hoàn thiện luận văn

Mặc dù đã cố gắng với tất cả nỗ lực của bản thân, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được sự đóng góp chỉ dẫn của quý thầy cô, các đồng nghiệp và những người quan tâm

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kiều Oanh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 4

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7

5 Giả thuyết khoa học 7

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 8

8 Phương pháp nghiên cứu 8

9 Kết cấu của luận văn 8

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 8

Chương 1: GIỚI THIỆU VỀ LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN Ở XÃ ĐỌI SƠN, HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM 9

1.1 Một vài khái niệm cơ bản 10

1.1.1 Khái niệm Lễ hội 10

1.1.2 Khái niệm “Lễ hội Tịch Điền” 12

1.1.3 Nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển của Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn 14

1.2 Giới thiệu sơ lược về nền nông nghiệp ở tỉnh Hà Nam 22

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 22

1.2.2 Đặc điểm kinh tế 23

1.2.3 Đặc điểm xã hội 27

1.3 Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn ở Hà Nam qua phục dựng năm 2009 29

Trang 6

Chương 2: Ý NGHĨA CỦA LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN ĐỌI SƠN ĐỐI VỚI

VIỆC KHUYẾN NÔNG Ở TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY 53

2.1 Lễ hội khuyến khích nông nghiệp Hà Nam phát triển tích cực 53

2.1.1 Trước khi phục dựng Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn (trước năm 2009) 53

2.1.2 Sau khi phục dựng Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn (sau năm 2009) 54

2.2 Lễ hội đã nâng cao tình yêu với nông nghiệp của người nông dân 63

2.2.1 Tình yêu đối với đất nông nghiệp 63

2.2.2 Tình yêu đối với vật nuôi 66

2.2.3 Tình yêu đối với cây trồng 68

2.3 Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn giúp đời sống tâm linh của người dân tỉnh Hà Nam thêm phong phú 73

2.3.1 Ý thức tâm linh Tôn giáo 73

2.3.2 Thiêng liêng hóa hoạt động nông nghiệp 74

2.4 Một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy những giá trị khuyến nông trong lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn 77

2.4.1 Về phương hướng 77

2.4.2 Về một số giải pháp cơ bản 80

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lễ hội là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể và một hiện tượng văn hóa có tính chất cộng đồng Ở nước ta có rất nhiều loại hình lễ hội như: lễ hội nông nghiệp, lễ hội tín ngưỡng, lễ hội thi tài…Từ xưa,

lễ hội nông nghiệp đã được cha ông ta coi là lễ hội quan trọng nhất phản ánh cuộc sống của nhà nông trong quá trình làm ăn, sinh hoạt, cải tạo thiên nhiên, xây dựng làng, xã; bao gồm: lễ hội cầu mùa, lễ hội được mùa, lễ hội xuống đồng hay lễ hội Tịch Điền…Ngày nay, đời sống vật chất được cải thiện, nhu cầu của con người về đời sống tinh thần ngày càng cao nên các lễ hội nông nghiệp cũng được coi trọng, giữ gìn, phát triển Việt Nam là một nước thuần nông nên có nhiều lễ hội truyền thống về nông nghiệp diễn ra ở khắp các vùng miền Những lễ hội đó trở thành hoạt động cộng đồng, đáp ứng nhu cầu giao lưu văn hóa, kế thừa giá trị truyền thống và xây dựng những giá trị phù hợp, tốt đẹp Từ thời dựng nước, các bậc đế vương đã chăm lo, duy trì nghề nông cho người dân nên tổ chức lễ hội Tịch Điền để thể hiện chính sách khuyến nông, trọng nông

1.2 Hà Nam có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời với bề dày truyền thống văn hiến Nhận thấy vùng đất này có tiềm năng cho phát triển nông nghiệp nhưng còn gặp nhiều khó khăn vì là đồng chiêm trũng thuộc Châu thổ Sông Hồng nên các vị Vua ngày trước đã rất quan tâm đến canh tác, sản xuất, khuyến nông Người xưa đã nói, một hành động có công hiệu hơn cả ngàn lời nói, Vua gần dân thì kỷ cương phép nước được giữ vững, đất nước

vững vàng, kinh tế phát triển Trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi chép,

vào đầu xuân năm 987, vua Lê Đại Hành “cày Tịch Điền” để khuyến khích nhân dân tăng gia sản xuất tại Đọi Sơn, tỉnh Hà Nam - lễ Tịch Điền đầu tiên

mà một vị Vua đi cày được sử sách ghi nhận Như vậy, trong suốt chiều dài

Trang 8

lịch sử, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam đã tổ chức nghi lễ Tịch Điền nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp, phát huy truyền thống trọng nông của dân tộc và khuyến nông thực sự trở thành quốc sách [42, tr.43] Nghi lễ Tịch Điền cũng trở thành quốc lễ, không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của nước nhà đối với nông nghiệp và nông dân, mà còn tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, lòng biết

ơn tiền nhân, tích cực phát triển sản xuất nông nghiệp

Sau khi nước ta giành được độc lập, nhất là từ khi miền Bắc giải phóng, nhân dân xây dựng hậu phương lớn, tiến lên chủ nghĩa xã hội, Bác Hồ cũng rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp Người trực tiếp phát động phong trào “nông dân thi đua canh tác” vào tháng 2 năm 1951 và trực tiếp sửa chữa rất kỹ bản dự thảo Điều lệ Hợp tác xã Đặc biệt, hình ảnh Bác xắn quần lội ruộng, tát nước chống hạn với người dân là những hình ảnh đẹp phản ánh quan niệm trọng nông, vì đời sống nông dân, luôn sống mãi trong lịch sử nước nhà Bác Hồ dẫu bận trăm công ngàn việc nhưng vẫn có thói quen đi thăm đồng, nhổ cỏ lúa, tát nước, trò chuyện với nông dân Trong Di chúc, Người căn dặn:

“Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức, bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần

cù Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng” vì thế Đảng, Nhà Nước ta phải có kế hoạch sẵn sàng, để tránh bị động,

thiếu sót và sai lầm Ngay trong phiên họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu

Kiến quốc, ngày 10-01-1946, Bác nhấn mạnh “Chúng ta đã hy sinh, phấn đấu

để giành độc lập, chúng ta đã tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” Hội

nghị Ban chấp Hành Trung Ương Đảng lần thứ 7 - khóa X - có nghị quyết

Trang 9

riêng về vấn đề “tam nông”, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh cho rằng: “Nông

nghiệp là cơ sở, nông thôn là địa bàn, nông dân là lực lượng đông đảo góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định chính trị - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng” Từ quan điểm này ta thấy muốn phát triển đất nước

phải chú trọng hơn nữa vào việc phát triển nông nghiệp và nông thôn

Hà Nam là vùng đất có nhiều lễ hội truyền thống, di tích lịch sử và nền văn hóa dân gian phong phú Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn ở Hà Nam là một lễ hội điển hình thể hiện tinh thần trọng nông, tôn vinh nền nông nghiệp và có mục đích cầu mùa, nhân khang, vật thịnh Sau khi được phục dựng, Đảng, Nhà Nước luôn nhắc nhở các ngành, các cấp và tất cả người dân cùng nhìn nhận đầy đủ hơn trong việc khai thác nét tinh túy của lễ hội để phục vụ cho phát triển nông nghiệp bền vững

1.3 Trong xu thế toàn cầu hóa, Đảng, Nhà Nước rất quan tâm gìn giữ, bảo tồn và duy trì bản sắc dân tộc, vấn đề cấp bách đặt ra đó là việc “hòa nhập” nhưng không “hòa tan” Văn hóa truyền thống cũng được quan tâm trong đó có nhiều lễ hội nông nghiệp được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn hóa, tinh thần con người Việt Nam

Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn là điểm nhấn văn hóa đầu năm đi vào tâm thức của mọi người với hình ảnh một cao niên khoác áo Long bào, khoan thai

đi đường cày đầu tiên, lật lên những lớp đất nâu, tơi xốp hứa hẹn những vụ mùa bội thu Việc phục dựng thành công lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn (từ năm 2009) có ý nghĩa to lớn về văn hóa, chính trị và đặc biệt là phát triển kinh tế nông nghiệp Những năm qua, từ khí thế đầu xuân của lễ hội này, nông dân

Hà Nam phấn khởi thâm canh, áp dụng khoa học kỹ thuật phát triển nông nghiệp toàn diện

Theo quan điểm của Triết học Mác - Lênin, mọi hành động của con người đều bắt nguồn từ nhận thức, do đó khi nhận thức đúng về lễ hội cổ

Trang 10

truyền thì việc phục dựng sẽ mang lại hiệu quả cao Việc phục dựng lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn cũng đặt ra một số vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân Hà Nam hiểu, trân trọng, giữ gìn, phát huy truyền thống và khuyến khích phát triển nông nghiệp

Từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn và ý

nghĩa của nó đối với việc khuyến nông ở Hà Nam hiện nay” làm đề tài luận

văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về lễ hội

Lễ hội, đặc biệt là lễ hội nông nghiệp liên quan đến cuộc sống của con người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên nên được rất nhiều nhà khoa học quan tâm

Tác phẩm của tác giả Phan Kế Bính "Việt Nam phong tục" (1909), Nhà

xuất bản Đồng Tháp là cuốn chuyên khảo đầu tiên nói về phong tục, tập quán,

lễ hội, lễ nghi, đình đám…của người Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế

kỷ XX, trong đó, tác giả đã đề cập khá chi tiết đến các giá trị tín ngưỡng dân gian và đưa ra những nhận xét về lễ hội truyền thống

Cuốn “Lễ hội cổ truyền của người Việt ở Bắc bộ”, 1992, Nxb KHXH,

Hà Nội do Lê Trung Vũ chủ biên đã trình bày khá chi tiết về các vấn đề liên

quan trực tiếp đến lễ hội cổ truyền như: vị trí, nguồn gốc, lịch sử lễ hội của người Việt ở Bắc bộ, trong đó có đề cập đến các lễ hội nông nghiệp

Tác giả Nguyễn Mạnh Cường có cuốn “Văn hóa tín ngưỡng của một số

dân tộc trên đất nước Việt Nam”, Nxb Văn hóa thông tin Cuốn sách này là

sự chắt lọc cái hay cái đẹp, giá trị văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc tiêu biểu trên mảnh đất Việt Nam: Thái, H’mông, Chăm, Khơ Me, Tày, Nùng… nhấn mạnh sự kết hợp giữa những nét tín ngưỡng trong văn hóa lễ hội của các dân tộc theo dòng lịch sử

Trang 11

Trong cuốn “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng” (2004) và “Những

giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống” (2010), tác giả Ngô Đức Thịnh, Nxb

Khoa học xã hội, đã có những nét phác họa chung về tín ngưỡng dân gian của các dân tộc ở Việt Nam Công trình này đã phác họa một số loại hình tín ngưỡng tiêu biểu và mối quan hệ giữa văn hóa tín ngưỡng với văn hóa nghệ thuật dân gian, đồng thời chỉ ra những giá trị của tín ngưỡng đối với văn hóa Việt Nam hiện nay Qua đó làm giàu thêm những hiểu biết của chúng ta về tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng qua các lễ hội của nước nhà

Tác giả Nguyễn Duy Hinh với cuốn “Tín ngưỡng thành hoàng” (1996),

Nxb KHXH, Hà Nội đã phân tích một cách sâu sắc, hệ thống về nguồn gốc, bản chất của tín ngưỡng thờ thành hoàng và rước thành hoàng trong một số lễ hội đặc sắc, tiêu biểu

2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về lễ hội Tịch Điền

Tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa với công trình“Lễ hội nông nghiệp cổ

truyền ở người Khơme vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Văn hóa

dân gian, 1987, số 4, tr.63-68, đã cho chúng ta thấy được những nét độc đáo

và đặc sắc trong lễ hội nông nghiệp của người Khơme từ xưa đến nay Qua lễ hội được tác giả khắc họa lại ta thấy nổi bật tinh thần đoàn kết cùng chung sức, đồng lòng giúp đỡ nhau trong quá trình canh tác, sản xuất nông nghiệp của người Khơme ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

Các tác giả Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng, Lê Sĩ Giáo, Lâm Bá Nam

công bố cuốn “Lễ cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam”, 1993, Nxb Văn hóa

dân tộc, Hà Nội Đây là kết quả của một công trình khoa học cấp Bộ đề cập đến tục cầu mùa của người Kinh, các dân tộc vùng Việt Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ cũng như vùng Trường Sơn - Tây Nguyên Công trình này đưa ra cái nhìn bao quát về lễ cầu mùa của các cư dân nông nghiệp ở các vùng, miền trên Và cũng nhờ đó mà chúng ta thêm hiểu biết về các lễ hội có liên quan đến tục cầu mùa của nhân dân Việt Nam

Trang 12

Tác giả Đàm Thị Hạnh với công trình nghiên cứu “Lễ hội Lồng

Tồng và ý nghĩa của nó trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người dân huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên”, 2013, trường Đại học Sư Phạm Hà

Nội, Hà Nội Công trình này đề cập đến nghi thức Tịch Điền của người dân tộc Tày, bao gồm những điểm giống và có thêm những điểm khác so với Tịch Điền của người Kinh Tuy tác giả chỉ đề cập đến một vài nét nghi thức Tịch Điền của dân tộc Tày nhưng qua đó chúng ta cũng phần nào thấy được sự khác biệt độc đáo của nghi thức ở vùng miền này so với những vùng miền khác

2.3 Nhóm công trình nghiên cứu về lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn

Lễ cày Tịch Điền Đọi Sơn về bản chất nằm trong hệ thống các lễ nghi nông nghiệp truyền thống của dân tộc Việt Nam Khi Nhà nước phong kiến tự chủ Đại Việt ra đời, các ông vua - mở đầu là vua Lê Hoàn đã đích thân đi cày, thể hiện tinh thần trọng nông, tôn vinh nông nghiệp, tôn vinh người nông dân

và các giá trị văn hóa làng xã của các vương triều phong kiến

Tác giả Bùi Thị Phương Thúy nghiên cứu công trình “Nghi lễ cày Tịch

điền Đọi Sơn huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam với phát triển du lịch”, 2011, Văn

hóa du lịch, Đại học dân lập Hải Phòng, Hải Phòng Công trình đã đánh giá vị trí của lễ hội Tịch điền Đọi Sơn trong hệ thống lễ nghi nông nghiệp của người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời đề xuất, nêu một số kiến nghị đối với việc tổ chức lễ hội này, từ đó phát huy và khai thác để phục vụ cho việc phát triển du lịch Hà Nam

Công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị Nhật Lệ, Nâng cao hiệu

quả công tác tổ chức và quản lý lễ hội Tịch Điền tại xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, 2013, Đại học Văn hóa Hà Nội, cung cấp một số thông tin

về cơ sở ra đời, quá trình hình thành, những đặc điểm cũng như tìm ra những giá trị tiêu biểu và thực trạng của công tác tổ chức và quản lý lễ hội

Trang 13

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến phần lý thuyết và trình bày chung, phần nào đem đến cho chúng ta những nét khái quát cơ bản về Lễ Hội Tịch Điền Đọi Sơn ở Hà Nam Dựa vào những tài liệu đã thu thập được, tôi muốn nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn những giá trị mà lễ hội này đem lại cho người dân tỉnh Hà Nam, đặc biệt là giá trị khuyến nông mà lễ hội Tịch Điền mang lại cho người dân cả nước nói chung và nhân dân Hà Nam nói riêng

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn và ý nghĩa của lễ hội đối với việc phát triển nông nghiệp ở Hà Nam hiện nay

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Tính triết học trong lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn, ở huyện Duy Tiên, tỉnh

Hà Nam

5 Giả thuyết khoa học

Nếu như đi sâu vào nghiên cứu lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn ở Hà Nam chúng ta sẽ thấy được ảnh hưởng rõ nét của lễ hội này đối với người dân Hà Nam, đặc biệt với việc khuyến khích phát triển nông nghiệp

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Giới thiệu khái quát về lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn - nét đẹp truyền thống của người dân Hà Nam

Trang 14

- Phân tích ý nghĩa của lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn với việc khuyến nông

ở tỉnh Hà Nam hiện nay

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Ý nghĩa triết học của Lễ hội Tịch Điền, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp nghiên cứu liên ngành trong triết học văn hóa, triết học lịch sử, triết học tôn giáo với những phương pháp cụ thể như sau: quan sát - thực địa, phỏng vấn - nghiên cứu tài liệu, điều tra xã hội học, phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh, logic - lịch sử,…

9 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận trong đó, phần nội dung gồm 2 chương và 8 tiết Ngoài ra còn có các phần: mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

10.1 Những luận điểm cơ bản

Trên cơ sở nghiên cứu công trình tìm những giá trị tốt đẹp trong lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn với những luận điểm:

- Khái quát về tỉnh Hà Nam

- Đặc trưng của Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn tỉnh Hà Nam

- Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn ở Hà Nam qua phục dựng 2009 (Không

gian lễ hội; hoạt động chuẩn bị cho lễ hội; nội dung, tiến trình của Lễ hội, các

Lễ được tiến hành trong Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn, diễn xướng các trò chơi)

- Lễ hội khuyến khích nông nghiệp Hà Nam phát triển tích cực (trước khi phục dựng Lễ Hội Tịch Điền Đọi Sơn (trước năm 2009); sau khi phục dựng Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn (sau năm 2009)

Trang 15

- Lễ hội đã nâng cao tình yêu của người dân với nông nghiệp (tình yêu đối với đất nông nghiệp; tình yêu đối với vật nuôi, cây trồng)

- Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn giúp đời sống tâm linh người dân Hà Nam thêm phong phú

- Một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao, phát huy những giá trị khuyến nông trong lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn

10.2 Đóng góp mới của luận văn

- Đóng góp về mặt lý luận

Công trình luận giải một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn góp phần là một nguồn tư liệu, dẫn chứng để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói chung và khuyến khích phát triển nông nghiệp ở Hà Nam nói riêng; đồng thời làm phong phú và đa dạng thêm cho kho tàng tư liệu văn hóa dân tộc về các lễ hội

Ở XÃ ĐỌI SƠN, HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

Trang 16

1.1 Một vài khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm Lễ hội

Trên thế giới, mỗi một quốc gia lại có một loại hình sinh hoạt văn hóa riêng, mang đậm bản sắc văn hóa của quốc gia mình, và có lẽ “lễ hội” là loại hình tiêu biểu nhất Đây là một loại hình sinh hoạt văn hóa đặc biệt có tính tập thể, phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt của người dân trong lao động sản xuất, hay trong việc hình dung lại các sự kiện lịch sử Lễ hội nào cũng có những hình thức rước xách, diễu hành, vui chơi nhưng ở mỗi quốc gia thì lễ hội lại

có những nét độc đáo riêng, mang đậm dấu ấn riêng của quốc gia đó Vì thế lễ hội giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và đời sống xã hội, nó chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống như: kinh tế - xã hội, văn hóa, tâm lý và tôn giáo tín ngưỡng của con người

Mỗi vùng miền, quốc gia lại có hình thức tổ chức Lễ hội khác nhau Chính vì thế mà đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hình thái sinh hoạt văn hóa này Sau đây là một số khái niệm điển hình về “lễ hội”:

- Khi nghiên cứu về đặc tính và ý nghĩa “lễ hội” ở nước Nga, M.Bachie cho rằng: “Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò biểu diễn, đó là cuộc sống chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiện, đạt tới hiện thực lý tưởng

mà ở đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả” [32]

- Ở Việt Nam, khái niệm Lễ hội mới chỉ xuất hiện cách đây không lâu, ban đầu chỉ có khái niệm lễ hoặc hội Cả hai khái niệm này đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục, chẳng hạn như: lễ Thành

Trang 17

Hoàng, lễ gia tiên cũng như vậy trong hội cũng có nhiều hội khác nhau như: Hội Gióng, Hội Lim Thêm chữ “lễ” cho “hội”, thời nay con người chúng ta mong muốn gắn hai hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, hai đặc trưng này

đi liền với nhau, đầu tiên là lễ bái, tế lễ thần linh, cầu phúc và sau là thăm thú, vui chơi ở nơi đông đúc, vui vẻ

- Trong “Từ điển Tiếng Việt” lại có định nghĩa về “Lễ hội” như sau: lễ

là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ

sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên hạnh phúc cho từng cá nhân, gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, gia cầm, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ

ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh" [71]

- Trong cuốn “Hội hè Việt Nam” các tác giả cho rằng “hội và lễ” là

một sinh hoạt văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam Hội và lễ có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội cũng tham gia để trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thập kỷ

- Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” - Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ hội là

một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc Lễ hội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch

sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai” [48]

Như vậy ta thấy “Lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời Lễ

là phần đạo đức tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người Hội là các trò diễn mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm

Trang 18

1.1.2 Khái niệm “Lễ hội Tịch Điền”

Lễ hội Tịch Điền nhằm cầu cho cầu quốc thái dân an, mùa màng bội thu, đồng thời tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, lòng biết ơn tiền nhân, tích cực phát triển sản xuất nông nghiệp

Năm 980, vua Lê Đại Hành (941 - 1005) lên ngôi, lãnh đạo nhân dân ta đánh bại lũ giặc phương Bắc, bình định phương Nam, ổn định lại việc triều chính, đồng thời thực thi nhiều chính sách khuyến khích nông nghiệp Mặc dù phải giải quyết rất nhiều nhiệm vụ cấp bách nhưng vua Lê Đại Hành vẫn tổ chức nghi lễ Tịch Điền vào dịp Tết Nguyên đán hằng năm cho nhân dân tham gia

Đến đời nhà Lý, nghi lễ Tịch Điền được triều đình tổ chức thường

xuyên ở nhiều địa điểm khác nhau Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: “Nhâm

Thân năm thứ 5 (1032), mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, vua ngự đến Tín Hương ở Đỗ Động giang cày ruộng tịch điền, có nhà nông dâng một cây lúa chiêm có 9 bông thóc Xuống chiếu đổi gọi ruộng ấy là ruộng Ứng Thiên Ngày ấy trở về cung Mậu Dần (Thông Thụy) năm thứ 5 (1038), mùa xuân, tháng 2, vua ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền Sau Hữu ty dọn cỏ đắp đàn Vua thân tế Thần Nông, tế xong tự cầm cày để làm lễ cày Các quan tả hữu có người can rằng: “Đó là công việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế”? Vua nói: “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lại lấy gì cho thiên hạ noi theo?” Nói xong đẩy cày ba lần rồi thôi Tháng 3 vua về Kinh sư Nhâm Ngọ (Càn Phù Hữu Đạo) năm thứ 4 (1042), mùa xuân, tháng 3 vua ngự ra cửa biển Kha Lãm cày ruộng tịch điền rồi về Kinh sư”

Nghi lễ Tịch Điền được miêu tả chi tiết, sâu sắc nhất trong các thư tịch lịch sử của triều Nguyễn Đại Nam thực lục chính biên có ghi: “Vua tay phải cầm cày, tay trái cầm roi, kỳ lão và nông phu đều hai người dắt trâu, thị

vệ hai người đỡ cày Ca sinh hát bài “Hoa từ”, nhạc sinh múa cờ màu; nhã nhạc cử nhạc Phủ Thừa Thiên bưng thùng lúa đi theo Hoàng tử cùng quan

Trang 19

bộ Hộ đều cử một người theo sau vãi lúa Vua cày ba đường đi ba đường lại xong, ngự lên đài Quan canh Các quan ở dưới đài chia hai bên đứng hầu Các hoàng tử, và thần công theo cày, đều đội mũ vàng mặc áo đỏ, cầm cày cầm roi cày năm đường đi năm đường lại, kế đến văn võ đại thần chín người, văn đội mũ văn công, võ đội mũ hở đầu, đều mặc áo lam, cùng cầm cày cầm roi cày chín đường đi chín đường lại Đều dùng thuộc lại kinh huyện đi theo sau bưng thùng lúa vãi lúa Lễ xong, vua ngự điện cụ phục, thay mặc long bào rộng tay, lên kiệu Đại nhạc, nhã nhạc đều nổi Các quan lại ở trong cửa phường quỳ tống”

Như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam đã tổ chức nghi lễ tịch điền nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp, phát huy truyền thống trọng nông của dân tộc Khuyến nông thực sự trở thành quốc sách Nghi lễ tịch điền cũng trở thành quốc lễ, không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của nước nhà đối với nông nghiệp và nông dân, mà còn tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế

hệ trẻ, lòng biết ơn tiền nhân, tích cực phát triển sản xuất nông nghiệp

Sau khi nước ta giành được độc lập, nhất là từ khi miền Bắc giải phóng, nhân dân xây dựng hậu phương lớn, tiến lên chủ nghĩa xã hội, Bác

Hồ cũng rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp Người trực tiếp phát động

phong trào “nông dân thi đua canh tác” vào tháng 2 năm 1951; trực tiếp sửa

chữa rất kỹ bản dự thảo Điều lệ Hợp tác xã Đặc biệt, hình ảnh Bác xắn quần lội ruộng, tát nước chống hạn với người dân là những hình ảnh đẹp phản ánh quan niệm trọng nông, vì đời sống nông dân, luôn sống mãi trong lịch sử nước nhà

Nhằm bảo tồn nét văn hóa tâm linh tốt đẹp này của dân tộc, phát huy truyền thống “dĩ nông vi bản”, Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn được phục hồi trở lại

từ năm 2009 với nhiều nghi lễ truyền thống hấp dẫn, giàu giá trị trọng nông,

Trang 20

khuyến khích người dân tham gia canh tác nông nghiệp

1.1.3 Nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển của Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn

Tỉnh Hà Nam nằm ở phía Tây Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ với hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ, đường sắt đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi về đi lại và vận chuyển hàng hóa cho các phương tiện cơ giới Cách trung tâm Thành phố

Hà Nội khoảng 60 km, Hà Nam có phía Bắc giáp với Hà Nội, phía Đông giáp với Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp với Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp với Hòa Bình Được gọi là cửa ngõ phía Nam của Thủ đô Hà Nội, vị trí địa lý này tạo thuận lợi cho việc phát triển, giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật của Hà Nam với các tỉnh, thành phố trong vùng và trong cả nước Toàn tỉnh Hà Nam gồm 6 đơn vị hành chính cấp thành phố và cấp huyện: thành phố Phủ Lý, huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng, huyện Lý Nhân, huyện Thanh Liêm, huyện Bình Lục

Xã Đọi Sơn, thuộc huyện Duy Tiên cách trung tâm tỉnh Hà Nam - thành phố Phủ Lý 10 km về hướng Bắc, đi từ Hà Nội đến ga Đồng Văn rẽ trái đi hướng thị trấn Hòa Mạc khoảng 16 km là đến xã Xã Đọi Sơn có 7 thôn (làng): Đọi Nhất, Đọi Nhì, Đọi Tam, Đọi Trung, Đọi Lĩnh, Đọi Tín và Ngân Hà, gồm 1048 hộ với 4.356 nhân khẩu Đọi Sơn - một vùng nông trang trù phú, có dòng sông Châu chảy qua phía Đông xã cùng với núi Đọi đã trở thành biểu tượng thiên nhiên vượt trội tiêu biểu của Hà Nam Từ trên đỉnh núi Đọi, phóng tầm mắt ra bốn phía thấy phong cảnh thật nên thơ: đồng lúa, bãi ngô, ruộng khoai mượt mà, tươi xanh, xa xa dòng sông Châu Giang quanh co, lượn khúc như dải lụa uốn lượn Với truyền thống từ xa xưa, các thế hệ người Đọi Sơn cần cù lao động, xây dựng quê hương, ngày càng làm cho quê hương đẹp giàu

Trang 21

Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, ruộng tịch điền thuộc quyền quản lý trực tiếp của triều đình, giống lúa cấy trên ruộng được chọn để cho loại gạo ngon dùng vào việc tế lễ, đặc biệt là tế Thần Nông và thần Xã Tắc Tùy theo quan niệm phong thủy và tâm linh mà mỗi triều đại chọn nơi đặt ruộng tịch điền Dưới thời Lý, ruộng tịch điền đều ở đồng bằng sông Hồng, khá xa thành Thăng Long Thời Trần, sử cũ chỉ cho biết một lần vua Trần Minh Tông sai tế thần

Thời Hậu Lê, vào thời vua Lê Thánh Tông, lễ tịch điền tiến hành ở làng Hoàng Mai, ngoại thành Thăng Long.Thời Nguyễn, dưới triều vua Gia Long, ruộng tịch điền ở phòng Hòa Thái, ngưỡng trị trong Kinh thành, sau chuyển

về hai phường Yên Trạch và Hậu Sinh

Lê Đại Hành, vị vua lỗi lạc quê ở Hà Nam, là một trong những anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử nước ta Ông không chỉ nổi tiếng bởi mối tình chuyển giao triều đại với thái hậu Dương Vân Nga cũng như tài cầm quân kiệt xuất, phá Tống, bình Chiêm, giữ toàn vẹn bờ cõi trước sự nể trọng của phong kiến Trung Hoa mà còn được đường thời và hậu thế ngợi ca ở trị nước, đặc biệt là việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp để chấn hưng đất nước Không phải ngẫu nhiên mà Lê Đại Hành đã mở ra lễ hội tịch điền Đọi Sơn, lễ hội khuyến nông đầu tiên dưới chế độ phong kiến Việt Nam, một lễ nghi trọng đại ở một đất nước chủ yếu sống bằng nông nghiệp

mà các vương triều sau tiếp tục noi theo

Theo nhiều sử sách, Lê Đại Hành sinh năm 941 mất năm 1005 là người làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm, Hà Nam Cha mẹ qua đời sớm, Lê Hoàn được một vị quan là Lê Đột nhận về nuôi Lớn lên ông đi theo Nam Việt Vương Đinh Liễn và đã lập được nhiều chiến công lớn trong cuộc đánh dẹp

12 sứ quân lập nên nhà Đinh của Đinh Bộ Lĩnh nên được vua Đinh giao chức

vụ Thập đạo tướng quân (tướng chỉ huy mười đạo quân), Điện tiền đô chỉ huy

sứ - tức chức vụ tổng chỉ huy quân đội cả nước Đại Cồ Việt, trực tiếp chỉ huy

Trang 22

đội quân cấm vệ của triều đình lúc ông mới 27 tuổi Năm 979, cha con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại, Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi

Lê Hoàn trở thành nhiếp chính, nhanh chóng dẹp yên nội loạn, Thấy triều đình Hoa Lư rối ren, nhà Tống tỏ rõ ý định xâm lược, thái hậu Dương Vân Nga cùng tướng Phạm Cự Lạng và các triều thần tôn Lê Hoàn lên ngôi giữ nước Lê Hoàn lên ngôi mở ra triều Tiên Lê, tổ chức đánh thắng quân xâm lược Tổng trong năm 981 với hai trận quyết chiến chiến lược ở Bạch Đằng và Bình Lỗ đuổi giặc ra khỏi bờ cõi Một năm sau đó, năm 982, tức giận vì sứ thần của mình bị vua Chiêm Thành bắt giữ, Lê Đại Hành sai đóng chiến thuyền, sửa binh khí, đích thân dẫn đại quân bình Chiêm, đánh tan quân Chiêm ngay trên đất Chiêm Sự nghiệp bình Chiêm thời Lê Đại Hành được cho là đã trực tiếp chuẩn bị cho quá trình Nam tiến của người Việt, mở rộng thêm cương giới lãnh thổ của quốc gia Đại Việt

Đất nước ta dưới thời vua Lê Đại Hành được cho là kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn cả thời Đinh Vua hết sức chú trọng phát triển nông nghiệp Chính ông là vị vua đầu tiên tổ chức đào sông Di tích lịch sử sông đào Nhà

Lê (đi qua 4 tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) do Lê Đại Hành khởi dựng không những phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp mà còn là con đường giao thông thủy nội địa đầu tiên của Việt Nam Từ con sông đào

do Lê Hoàn khai phá trên đất Thanh Hóa, đến thời Lý, Trần sông đào đã xuất hiện ở đồng bằng Bắc Bộ đến Thanh - Nghệ - Tĩnh Đến thời Lê thì đã phát triển rộng ở Trung Bộ và đến thời Nguyễn thì sông đào có mặt ở khắp mọi

miền Việt Nam Theo "Viện sử lược", vào mùa xuân năm Đinh Hợi, niên hiệu

Thiên Phúc thứ 7 (năm 987), lần đầu tiên vua Lê Đại Hành cùng văn võ bá quan cày ruộng ở vùng Đọi Sơn và bắt được chum vàng, năm 988 cày ở Bàn Hải bắt được chum bạc Từ đó, hàng năm vào đầu xuân, nhà vua đã về Đọi Sơn mở Lễ tịch điền (đích thân vua xuống đi cày ruộng), cầu mưa thuận gió hòa, cầu được mùa, cầu quốc thái dân an, mở ra một lễ hội khuyến nông đầy ý nghĩa Nhận thức được tầm quan trọng của lễ hội này, các triều đại sau Lê Đại

Trang 23

Hành đều duy trì nghi lễ cày tịch điền Đọi Sơn với các hình thức khác nhau Thời Nguyễn là thời lễ tịch điền có nhiều "niêm luật" cụ thể, được tổ chức quy mô, do bộ lễ đứng ra chủ trì nhưng lễ hội này cũng chấm dứt dưới thời vua Khải Định [79] Sau một thời gian dài gián đoạn, từ năm 2009, phong tục tốt đẹp này được phục hồi lại Khác với thời Hậu Lê, Lê Hoàn không cho ruộng tịch điền ở gần trong kinh thành mà giống thời Lý, Lê Hoàn lấy đất Trường Châu là quê quán để cày ruộng tịch điền Hơn nữa, ruộng Tịch điền ở Đọi Sơn nằm trong vùng chịu sự quản lý trực tiếp của Vua Sử cũ ghi chép, sau khi lên ngôi, Lê Hoàn lần lượt phong vương cho các con, kể cả con nuôi rồi cử đi trấn, trị ở các vùng đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa, trừ Trường Châu Căn cứ vào bia Sùng Thiện Diên Linh hiện còn lưu giữ cẩn thận tại chùa Long Đọi Sơn có thể thấy vào thời Lê Hoàn, núi có tên là núi Long Đĩnh, nghĩa là núi rồng, núi thiêng Các phát hiện khảo cổ học quanh Đọi Sơn đã minh chứng từ thời mộ thuyền văn hóa Đông Sơn, mộ Hán, đến

mộ thời Hậu Lê, người chết đều được chôn quay đầu về núi Đọi và từ lâu lưu truyền phương ngôn:

“Đầu gối núi Đọi Chân dọi Tuần Vường Phát tích đế Vương Lưu truyền vạn đại”

Núi Đọi thì như trên đã nói, còn Tuần Vường là khúc sông Hồng giáp với huyện Lý Nhân và huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định) sóng to, gió lớn gây hiểm họa, thuyền bè rất sợ phải qua nơi này “Mười hai cửa bể cũng nể Tuần Vường” Phải chăng bốn câu phương ngôn này thể hiện triết lý Âm Dương: Núi Đọi (dương), Tuần Vường (âm), âm dương hài hòa chế áp lẫn nhau thì mọi

sự thịnh vượng thể hiện ước vọng, cầu nguyện hơn là thực tế hiển nhiên Từ Long Đĩnh thời Tiền Lê, đến thời Lý Nhân Tông núi có tên là Long Đội Sơn (hang rồng) Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Dưới chân núi có chín ngọn suối, lại có huyệt đã gọi là huyệt Hàm Rồng” Theo thuyết Âm- Dương Ngũ

Trang 24

hành của triết học phương Đông cổ đại, số chín là số thiêng, đó là con số cực dương, biểu tượng của sự sinh sôi, phát triển thuận lý Thời Hậu Lê núi đổi thành núi Đọi Sơn Đọi là từ thuần Việt, nghĩa cổ là cái bát, có lẽ hình dáng núi Đọi giống cái bát lộn ngược nên mới có tên như thế Các sách địa chí thời Nguyễn gọi núi là Long Đội, Long Đọi Sơn [53, tr.52]

Ngày nay, nhân dân quen gọi là núi Đọi, còn tên xã là Đọi Sơn Truyền thuyết dân gian vẫn ghi nhớ sự kiện cách đây 1010 năm, cánh đồng vua Lê cày tịch điền nằm sát chân núi phía Tây, trên cánh đồng còn lưu lại các địa danh: Nhà Hiến (nơi dân chúng dâng thức ăn lên nhà vua), Dinh trong (nơi vua ở), Dinh ngoài (nơi ở của các quan), Sứ tàu ngựa (chuồng ngựa của vua

và các quan)

Nói đến Đọi Sơn không thể không nhắc đến làng trống ngàn năm tuổi Đọi Tam, ở phía Tây Bắc chân núi Đọi Với bàn tay khéo léo đặc biệt, người Đọi Tam đã tạo ra được những chiếc trống với âm thanh rền vang, trầm bổng vang xa oai hùng, linh thiêng Giữa làng Đọi Tam có ngôi đình cổ, đình thờ Thành hoàng làng là hai ông tổ nghề Theo truyền thuyết, một ngày cách nay hơn 1000 năm, có hai anh em là Nguyễn Đức Năng và Nguyễn Đức Bản khi

đi qua làng Đọi Tam thấy vùng này có nhiều gỗ mít chín thơm lừng, gỗ mít vàng thơm lại không bị mọt, hai anh em liền chọn nơi này làm chốn định cơ để hành nghề làm trống Truyền thuyết cũng kể lại rằng, năm 986, được tin Vua

Lê Đại Hành sửa soạn về làng cày ruộng khuyến nông, hai anh em cụ Năng và

cụ Bản đã tự tay làm một cái trống to để đón vua Tiếng trống vang như sấm rền nên về sau hai ông được dân làng tôn là trạng Sấm Trước khi Thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông về đây xây dựng chùa Long Đọi Sơn năm 1118, làng trống Đọi Tam dưới chân núi Đọi Sơn đã có lịch sử trên 200 năm

Nghề làm trống Đọi Tam nổi tiếng khắp nơi Thợ của làng có mặt ở mọi miền đất nước Theo quy định, kỹ thuật làm trống chỉ được truyền cho

Trang 25

con trai, không truyền cho con gái, con rể hay người ngoài làng Nhà nào vi phạm quy định này sẽ bị đuổi khỏi làng hoặc là chịu lời nguyền sẽ không làm

ăn, buôn bán được nữa Chính vì lẽ đó, con trai trong làng được dạy cho biết làm trống từ hồi 12, 13 tuổi, đến 14, 15 tuổi, người con trai làng Đọi đã vai đeo bọc da trâu và chão, theo cha rong ruổi đi khắp các tỉnh đồng bằng Bắc

Bộ, lên miền núi, vào cả miền Trung Họ đến các làng để làm trống mới hay sửa chữa lại trống cũ, bưng lại mặt trống Thợ làng Đọi Tam làm đủ các loại trống: trống đại, trống tiểu, trống dùng trong cung đình, trống dùng trong trường học, trống trung thu… trong đó trống sấm chỉ dành cho cánh đàn ông khỏe mạnh, có kinh nghiệm và kỹ thuật điêu luyện

Để làm được một chiếc trống phải qua ba bước: làm da, làm tang và bưng trống Da được chọn làm trống là da trâu cái, đem bào hết lớp màng, ngâm nước, chống thối rồi phơi khô Lớp da ngoài được dùng làm trống to, lớp da dưới dùng làm trống cho trẻ em Gỗ làm tang trống chủ yếu là gỗ mít - loại gỗ dẻo, mềm, không bị cong vênh, hơn nữa “Gỗ mít đánh ít kêu nhiều”

Gỗ được cắt thành nhiều khúc sau đó pha thành từng “dăm” Tùy theo kích cỡ của trống mới định ra bao nhiêu “dăm”, cũng như độ cong và độ dẻo của dăm

để khi ghép với thân trống vừa khít, không có kẽ hở Ngoài ra, để cho trống thật kín, người ta còn dùng sơn miết vào các khe, cứ một lớp sơn lại có một lớp vải màn Cuối cùng là bưng trống, da trâu được quay tròn căng hết cỡ trên mặt trống, đóng đinh cố định vào thân trống bằng đinh chốt làm từ vầu hoặc tre già Vẫn là những bước làm trống cơ bản nhưng trống Đọi Tam nổi tiếng nhờ độ bền, đẹp, nhờ bí quyết riêng cũng như tinh thần trách nhiệm của người thợ Ngay cả thời kỳ khó khăn, Đọi Tam vẫn duy trì được nghề nhờ truyền thống của cha ông Trên địa bàn có 550 hộ thì có tới gần 600 thợ làm trống với gần 40 cơ sở làm các công đoạn về trống: 14 cơ sở sản xuất khung trống,

13 cơ sở sản xuất da trâu và trên 10 cơ sở làm hoàn chỉnh trống

Trang 26

Làng trống Đọi Tam đã được cấp bằng công nhận làng nghề truyền thống Tiểu thủ công Hà Nam tháng 10-2004 Và vào tháng 11-2007, làng

trống Đọi Sơn được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam trao Bằng khen “Làng

nghề tiêu biểu Việt Nam” Kết quả đó là sự cố gắng nỗ lực của người dân làng

nghề và chính quyền xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Làng Đọi Tam thành lập một đội trống gồm 60 người để đi phục vụ các lễ hội, các chương trình lớn ở các tỉnh Đội trống gồm có 12 cụ già khỏe mạnh, có kinh nghiệm; 48 cô gái đã có chồng Mỗi người phụ trách một quả trống, trống cái

to nhất đứng giữa gọi là trống sấm, hai cánh gà có hai trống nhỡ, và các trống con đứng xung quanh Âm thanh của mỗi quả trống như một nốt nhạc trong

cả dàn nhạc oai hùng, vang xa mãi

Đời sống tâm linh của người Đọi Sơn khá phong phú Ngoài tín ngưỡng thờ gia tiên, người dân còn thờ Phật, thờ thần, thờ Mẫu, thờ Thành hoàng làng tại các đình, chùa, đền, miếu Đến với Đọi Sơn nhất là vào dịp đầu xuân, chúng ta bắt gặp cái hư thực của cùng đồng chiêm trũng trong tiếng chuông như thức tỉnh lòng người cõi sắc sắc không không của ngôi chùa cổ kính - Diên Linh tự tọa lạc trên núi Long Đọi, nhìn hướng Nam Chùa do Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan cho xây dựng từ năm 1054, Tể tướng Dương Đại Gia và Thiền sư Đàm Cứu Chỉ đến trụ trì và tham gia xây dựng Đến mùa hạ tháng Năm niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ chín năm 1118, Vua Lý Nhân Tông cho xây dựng chùa và tháp Sùng Thiện Diên Linh, đến năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ hai năm 1121, hoàn thành nhân đó vua đặt tên cho núi là Long Đọi Sơn

Tương truyền, chùa Long Đọi Sơn nằm trên thế đất Cửu Long, bởi toàn cảnh núi Đọi trông xa giống như một con rồng đất lớn nằm giữa một dải đất rộng, bằng phẳng của vùng chiêm trũng, đầu núi Đọi hơi nhô cao về hướng Thăng Long Đứng trên đỉnh núi có thể nhìn thấy 9 con đường sông chảy về

Trang 27

giống như 9 con rồng Mắt rồng là 9 cái giếng hiện nằm xung quanh dãy núi Đọi trong các khu dân cư dưới chân núi

Đầu thế kỷ XV, khi giặc Minh xâm lược nước ta, chùa bị phá hủy nhiều Mãi tới cuối thế kỷ XVI, năm 1591 đời Mạc Mậu Hợp, tức là gần 170 năm sau, nhân dân địa phương mới “dựng lại bia đổ, bắc lại xà nhà và những chỗ tường hư hỏng, làm cửa xây tường khiến cho sau hơn 500 năm, một nơi thắng cảnh trong chốn tùng lâm lại được mới mẻ” (Bài văn khắc mặt sau bia Sùng Thiện Diên Linh) Hai bên chùa là 18 gian hành lang thờ thập bát La Hán Ngay ngõ vào là hai dãy nhà đắp cảnh thập điện Ngoài ra, chùa còn có nhà tổ, nhà khách, tăng phòng…tất cả có tới 125 gian Trong kháng chiến chống Pháp, chùa Long Đọi Sơn bị bỏ hoang, các sư sãi tản cư đi nơi khác Sau ngày hòa bình lập lại, năm 1975 các sư sãi cùng các tín đồ phật tử và nhân dân địa phương sửa chữa, tôn tạo lại chùa Chùa Long Đọi Sơn là một trong số ít chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật mỹ thuật thời Lý có giá trị Nổi bật trong đó như bia đá Sùng Thiện Diên Linh cao hơn 2,5m; rộng hơn 1,65m; dày 0,3m Bệ bia là khối đá hình chữ nhật dài 2,4m tạc hình hai con rồng, uốn khúc Mặt bia được chia làm hai nửa, tạc hình hai con rồng, đuôi ở đoạn sau, xoắn thành 4 khúc, đây là một trong số ít những bia thời Lý còn đến tận bây giờ Trải qua nhiều lần trùng tu, Chùa Long Đọi Sơn bên cạnh những kiến trúc pho tượng cũ, các kiến trúc pho tượng mới cũng được sắp đặt kỳ công và giữ được nét cổ kính lâu đời của ngôi chùa Đã gần 1000 năm qua, chùa Long Đọi Sơn cùng với đất nước, con người Việt Nam chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử và vẫn đứng sừng sững giữa đất trời làm rung động lòng người, thu hút khách tham quan du lịch

Ngày nay, chùa Long Đọi Sơn là một quần thể kiến trúc khang trang, với khuôn viên xây dựng rộng hơn 10.000m2, giữa diện tích rừng rộng hơn 1ha

Hệ thống đường lên từ cổng chùa dưới chân núi Đọi lên đến Tam quan được

Trang 28

xây cấp bằng bê tông đá cứng với khoảng 317 bậc đá uốn lượn nhiều khúc tựa như con rồng đang nằm nghỉ bên sườn núi Hàng năm chùa tổ chức lễ hội thờ Phật vào từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 3 Âm lịch Hội có lễ dâng hương tưởng niệm Lý Nhân Tông, người có công mở mang xây dựng chùa Lễ hội là hoạt động phản ánh rõ nét nhất những sinh hoạt văn hóa của một cộng đồng cư dân trong một không gian cụ thể và là môi trường tốt nhất để lưu giữ những giá trị truyền thống qua thời gian Mỗi làng quê Việt đều nằm trong dòng chảy văn hóa thống nhất những nét riêng của con người nơi đó, tạo nên một bức tranh văn hóa lễ hội phong phú và đa dạng Nói đến lễ hội ở Hà Nam, không thể không nhắc đến lễ hội chùa Long Đọi Sơn như một trung tâm hội tụ văn hóa truyền thống của cư dân vùng chiêm trũng quanh năm ngập úng Lễ hội Tịch Điền được phục dựng lại sau gần 100 năm “thất truyền”, cũng là dịp để du khách chiêm ngưỡng vẻ uy nghiêm của chùa Long Đọi Sơn Vì tính chất linh thiêng như trên, Đọi Sơn đã được chọn làm nơi cày Tịch Điền

1.2 Giới thiệu sơ lược về nền nông nghiệp ở tỉnh Hà Nam

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên

- Vị trí địa lý

Hà Nam nằm ở Tây Nam châu thổ sông Hồng, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội với diện tích đất tự nhiên 84.952 héc ta, trong đó một phần không nhỏ là đất dành cho phát triển nông nghiệp; có thành phố Phủ Lý là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh, cách Hà Nội 58 km, tương lai không xa sẽ trở thành thành phố vệ tinh của Hà Nội Hà Nam có mạng lưới giao thông rất thuận lợi, là tỉnh nằm trên trục đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1A - huyết mạch giao thông quan trọng của cả nước, tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu hợp tác kinh tế với các tỉnh, thành phố và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước cũng như

từ đó tới các cảng biển, sân bay ra nước ngoài

Trang 29

- Đặc điểm địa hình

Hà Nam có địa hình đa dạng vừa có đồng bằng, có vùng bán sơn địa, vừa có vùng trũng Vùng đồi núi phía Tây có nhiều tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là đá vôi, để phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, nhất

là xi măng; cũng là vùng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch Vùng đồng bằng có diện tích đất đai màu mỡ, bãi bồi ven sông Hồng, sông Châu, là tiền

đề để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm và du lịch sinh thái Địa hình đó là điều kiện để phát triển kinh

tế nông nghiệp đa dạng, với hướng kết hợp kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng với kinh tế nông nghiệp vùng đồi núi

- Khí hậu

Hà Nam cũng như các tỉnh đồng bằng sông Hồng có khí hậu mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, mùa đông lạnh hơn nhiều với điều kiện trung bình cùng vĩ tuyến Nhiệt độ trung bình khoảng 230C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là tháng 1 khoảng 15,10C và cao nhất là tháng 6 khoảng

290C Tổng giờ nắng trung bình khoảng 1.100 - 1.200 giờ Lượng mưa trung bình năm 1.700 - 2.200 mm, song lượng mưa không đều tập trung 70% lượng mưa cả năm vào mùa hạ (từ tháng 5 đến tháng 10); mùa khô kéo dài từ tháng

11 năm trước đến tháng 4 năm sau, ít mưa khô lạnh Khí hậu Hà Nam rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp với diện tích không nhỏ trồng lúa và hoa màu theo mùa

1.2.2 Đặc điểm kinh tế

* Nông nghiệp

Hà Nam là tỉnh có tiềm lực kinh tế nông nghiệp với nhiều tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản Cơ cấu nông nghiệp trong GDP giảm dần từ 39,3% năm 2000 còn 28,4% năm 2005 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 4,1% (2001-2005) Trong đó: trồng trọt tăng

Trang 30

1,7%, chăn nuôi tăng 6,7%, dịch vụ 31%, sản lượng lương thực đạt 420 tấn/năm, sản lượng thuỷ sản năm 2005 đạt 11.500 tấn, giá trị sản xuất trên

1 ha đạt 38,5 triệu đồng Hình thành vùng cây lương thực chuyên canh, thâm canh có năng suất cao ở ba huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục Tại đây đầu tư vùng lúa đặc sản xuất khẩu có năng xuất cao Chuyển diện tích trũng ở vùng độc canh, hoang hoá sang sản xuất đa canh để nuôi trồng thủy sản là 5.188 ha Chuyển một phần đất màu sang trồng rau sạch chuyên canh

và trồng hoa Trên địa bàn Hà Nam khoáng sản chủ yếu là đá carbonate (có trữ lượng trên 7,4 tỷ m³) và đất cát Nguồn đất, đá này cung cấp cho sản xuất xi măng, xây dựng, bột mịn cho xây trát, bột nhẹ thương phẩm; còn phần đất cát là nơi Đá quý (đá vân hồng tím nhạt ở huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, có vỉa cao 60 m, dài 30 - 40m, song cũng có vỉa dài tới gần 200

m Đá vân mây da báo ở Thanh Liêm Đá đen tập trung ở Bút Sơn Đất sét với tổng trữ lượng 393,1 triệu tấn (trong đó, đất sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng 331 triệu tấn; đất sét làm gạch ngói 62 triệu tấn) Than bùn có trữ lượng trên 11 triệu mét khối tại vùng Hồ Tam Chúc - Ba Sao, hồ Đồng Hán, Xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng (nguyên liệu này có thể làm phân vi sinh và một số chất phụ gia khác) Cát xây dựng ở Hà Nam rất dồi dào, đặc biệt là nguồn cát đen ở bãi ven sông Hồng dài 10 km, bãi sông Đáy, sông Châu, sông Nhuệ hàng năm cung cấp cho san lấp và xây dựng, có khả năng cung cấp cho tỉnh ngoài hàng triệu mét khối cát Không chỉ vậy, đất cát ven các con sông còn là địa điểm phát triển nghề trồng trọt với lượng phù sa màu mỡ do các con sông bồi đắp

* Công nghiệp

- Hà Nam đã xây dựng được các khu công nghiệp sau:

+ Khu Công nghiệp Đồng Văn I và Khu Công nghiệp Đồng Văn II thuộc địa bàn thị trấn Đồng Văn với tổng diện tích 410 héc ta Với giao thông

Trang 31

thuận tiện, đây là một trong số ít các khu công nghiệp giáp với ba phía đều giáp với quốc lộ lớn phía Đông giáp với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, phía Nam giáp quốc lộ 38, phía Tây giáp quốc lộ 1A Khu công nghiệp cũng liền kề với ga Đồng Văn thuộc hệ thống đường sắt Bắc Nam

+ Khu công nghiệp Châu Sơn 200ha - nằm trong thành phố Phủ Lý + Khu công nghiệp Hòa Mạc 200ha - thuộc thị trấn Hòa Mạc - Duy Tiên

- Các dự án khu công nghiệp khác (đang thi công)

+ Khu công nghiệp Ascendas - Protrade, diện tích 300ha

+ Khu công nghiệp Liêm Cần - Thanh Bình, diện tích 200ha

+ Khu công nghiệp Liêm Phong, diện tích 200ha

+ Khu công nghiệp ITAHAN, diện tích 300 héc ta

Công nghiệp chủ đạo của tỉnh là xi măng, vật liệu xây dựng Công nghiệp dệt may và tiểu thủ công nghiệp với làng nghề dệt lụa Nha Xá, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên chuyên dệt lụa tơ tằm, đũi, quy mô hiện tại có 500 khung dệt, công suất đạt từ 850.000 - 1.000.000 mét lụa/năm; làng nghề dệt vải xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân chuyên sản xuất vải, khăn tắm, khăn ăn các loại; làng nghề thêu ren thủ công xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm với các sản phẩm thêu chăn, ga, gối, đệm, khăn ăn, khăn trang trí,… chủ yếu xuất sang châu Âu và Bắc Á (doanh thu mỗi năm làng nghề đạt 25 -30 tỷ đồng) Mây tre giang đan ở Hoàng Đông, Duy Tiên với các sản phẩm chủ yếu là hàng mây, giang, đan thủ công, thị trường tiêu thụ là ở châu Âu, châu Mỹ và một phần Bắc Á Nghề sừng thủ công mỹ nghệ ở xã An Lão - Bình Lục, dùng nguyên liệu sừng động vật để chế tác ra các vật dụng trang trí, đồ dùng sinh hoạt, thị trường xuất khẩu chủ yếu của sản phẩm là Đông Âu, Bắc Á, doanh thu bình quân 1 năm từ 2 - 3 tỷ đồng

Ngoài ra tỉnh cũng xây dựng được nhiều cụm công nghiệp và đã cho các doanh nghiệp và tư nhân thuê, tạo việc làm cho nhiều nhân lực Phát triển

Trang 32

công nghiệp dồn dập cũng đã ít nhiều mang lại các hậu quả về môi trường, xong tỉnh cũng đã từng bước thanh kiểm tra các khu công nghiệp và dần tốt đẹp hơn Nhiều khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý rác thải hoạt động hiệu quả và kinh tế.

- Về du lịch sinh thái: Hà Nam có nhiều điểm du lịch sinh thái khá hấp dẫn như: Khu du lịch đền Trúc thờ vị anh hùng Lý Thường Kiệt và Ngũ Động Thi Sơn là quả núi năm hang nối liền nhau cách thành phố Phủ

Lý 7 km Đã quy hoạch Khu du lịch Tam Chúc thuộc huyện Kim Bảng với quy mô gần 2000 ha với 9 khu chức năng Diện tích mặt nước hồ khoảng

600 ha, diện tích phụ cận và khu du lịch sinh thái là 600 ha Xây dựng các nhà nghỉ, khách sạn, sân gôn, quần vợt, công viên nước, nhà thủy tạ Nơi đây cách chùa Hương 7 km, cách Hà Nội 60 km, Nam Định 40 km, Ninh Bình 45 km, Hưng Yên 40 km là điểm dừng chân cho khách du lịch nhiều tỉnh, nơi nghỉ dưỡng và giải trí vào các ngày nghỉ cuối tuần của khách thập phương, đang thu hút đầu tư

- Chùa Long Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Di tích Long Đọi Sơn được xếp hạng từ năm 1992 Hàng năm có trùng tu, tôn tạo

để gìn giữ cho muôn đời sau

- Khu trung tâm du lịch thành phố Phủ Lý: Được xây dựng 2 bên dòng sông Đáy, giáp cửa sông Châu; có khách sạn 3 sao, 11 tầng, có khu du lịch bến thủy phục vụ du khách đi chùa Hương, Ngũ Động Sơn, chùa Bà Đanh, Hang Luồn Nơi đây còn là địa điểm bơi thuyền dọc sông Châu, sông Đáy vãng cảnh nước non Phủ Lý

- Đền Trần Thương, ở huyện Lý Nhân, thờ quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, được xây dựng năm 1783 với diện tích 1,4 héc ta

Trang 33

1.2.3 Đặc điểm xã hội

Hà Nam có dân số 786.860 người và diện tích tự nhiên 860,5 km2, mật

độ dân số 914 người/ km2 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,7% / năm Tỉnh có 6 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 01 thành phố (Phủ Lý), 05 huyện (Duy Tiên, Bình Lục, Kim Bảng, Thanh Liêm, Lý Nhân), 06 phường, 07 thị trấn,

103 xã Theo thống kê mới nhất của Cục thống kê Hà Nam: dân số Hà Nam là 786,9 nghìn người, mật độ dân số là 914 người/ km2 Trong đó, dân số nông thôn là 207.970 người (chiếm 90,2 %), dân số sinh sống ở khu vực đô thị là 77.087 người (chiếm 9,8 %) Số người trong độ tuổi lao động toàn tỉnh là 493.095 người (chiếm 62,8 % dân số) Số lao động tham gia thường xuyên trong nền kinh tế quốc dân là 452.230 người (chiếm gần 91 % nguồn lao động toàn tỉnh) Hàng năm, lực lượng lao động bổ sung là 2 vạn người Đây là nguồn nhân lực phục vụ cho cộng cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh những đồng thời cũng gây ra sức ép về việc làm Như vậy, có thể thấy số người trong độ tuổi lao động của Hà Nam khá cao (493.095 người) mặc dù tốc độ gia tăng dân số giảm

Để có thể phát huy tối đa lợi thế sẵn có của Tỉnh trong phát triển nông nghiệp, Hà Nam trung vào những mũi nhọn đột phá, tận dụng hết điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp trình độ cao, chất lượng cao, gắn với chế biến, xuất khẩu; huy động tối đa nguồn lực trong dân, trong xã hội cho đầu tư phát triển Bên cạnh đó, Hà Nam chú trọng liên kết vùng, liên kết với các khu vực khác trong cả nước, liên kết để bổ sung thế mạnh cho các địa phương bạn, đồng thời khắc phục những mặt còn hạn chế của tỉnh

Đảng, Nhà nước và lãnh đạo tỉnh Hà Nam cũng đã định hướng, Hà Nam cần tập trung tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy

mô lớn, giá trị gia tăng cao, bền vững Từ đó, tổ chức sản xuất theo hướng phát triển mô hình liên kết trong sản xuất gắn ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ

Trang 34

thuật, tiêu thụ sản phẩm, liên kết tự nguyện giữa nông dân với nông dân, nông dân với hợp tác xã, với doanh nghiệp Theo định hướng đó, doanh nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc tìm đầu ra, đặt hàng sản xuất, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm sản xuất ổn định, bền vững

Ngoài ra, Hà Nam cũng huy động mọi nguồn lực nhằm đẩy nhanh tiến

độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, xác định đây là nhiệm vụ chính trị, thường xuyên, lâu dài, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn; làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, để người dân hiểu đây là việc của dân, do dân và vì dân, từ đó người dân sẽ chủ động và tự nguyện tham gia Chương trình Phấn đấu hết năm

2015 toàn tỉnh Hà Nam đạt trên 25 % số xã đạt chuẩn nông thôn mới Trong thời gian qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Nam đã ban hành chính sách hỗ trợ mua máy cơ giới hóa áp dụng vào sản xuất nông nghiệp cho tập thể, cá nhân,

hộ gia đình Do đó, đã nâng mức độ cơ giới hóa khâu làm đất lên trên 80 % Cùng với đó, tỉnh cũng chỉ đạo ngành nông nghiệp tích cực nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, góp phần giảm sức lao động

và tăng sản lượng, giá trị trên một đơn vị diện tích canh tác, từng bước chuyển dịch lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ (Tỷ lệ lao động nông nghiệp bình quân giai đoạn 2011 - 2015 còn 51,8 %, giảm 8,3 % so với giai đoạn 2006 - 2010) Công tác đào tạo nghề trên địa bàn cũng được chú trọng với trên 8.000 lao động nông thôn được đào tạo; xây dựng 2.111 mô hình chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học, 234

mô hình trồng nấm mộc nhĩ và nấm rơm; 10.000 hec ta lúa gieo thẳng và hàng trăm mô hình khuyến nông Đến nay, đã có 32 xã đạt tiêu chí thu nhập Các xã cũng đã làm tốt công tác rà soát, bình xét các hộ nghèo; tỷ lệ hộ nghèo chung của cả tỉnh giảm xuống 6,48 % trong năm 2013 Bên cạnh đó, các xã đã tích cực chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tuyên truyền vận động người dân tham gia các lớp đào tạo, tập huấn về tiến bộ khoa học trong sản xuất

Trang 35

động nông thôn có việc làm thường xuyên trên địa bàn huyện đạt trên 90 %

và 100 % các xã đạt tiêu chí này

1.3 Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn ở Hà Nam qua phục dựng năm 2009

1.3.1 Không gian lễ hội

Không gian chính của hội là núi Đọi, chùa Đọi - trung tâm của một quần thể di tích, danh thắng nổi tiếng nằm trên địa bàn xã Đọi Sơn

Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn được tổ chức trên cơ sở một số lễ hội truyền thống của xã Đọi Sơn, đồng thời khôi phục lại một số nghi lễ trong lễ hội tại khu vực xung quanh núi Đọi mà trọng tâm là khôi phục lễ hội Tịch Điền

Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn được phục dựng có cơ quan chỉ đạo, cơ quan

tổ chức, các cơ quan phối hợp, lực lượng tham gia các nghi lễ và thành phần khách mời

1.3.2 Hoạt động chuẩn bị cho lễ hội

- Chuẩn bị cơ sở vật chất, trang phục, đạo cụ

Đầu tháng 12 năm 2008, Ban tổ chức lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn đã có nhiều công văn chuyển xuống để triển khai công tác chuẩn bị cho lễ hội trong việc huy động lực lượng và cơ sở vật chất cho lễ hội

- Chuẩn bị về lực lượng tham gia

Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn diễn ra từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 7 tháng Giêng, là một liên hoàn các nghi lễ và diễn xướng trong một không gian rộng (trung tâm là chùa Đọi đến làng Đọi Tam ra đến bến sông Châu Giang) Đây là năm đầu tiên lễ hội Tịch Điền được phục dựng, nên lực lượng tham gia vào lễ hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng để lễ hội thành công; trong đó, lực lượng chủ yếu là người dân thôn Đọi Tam

UBND xã Đọi Sơn huy động hơn 600 người vào các đội rước phục vụ tại Lễ hội, cụ thể như sau:

+ Cầm cờ: 200 người;

+ Số người khiêng kiệu: 40 người;

Trang 36

+ Ban điều hành: 10 người;

+ Lực lượng an ninh, dân quân xã: 30 người;

+ 100 cán bộ công an tỉnh, huyện phối hợp cùng công an xã bảo đảm

an ninh

Trong hội còn có một lực lượng đông đảo tham gia vào các trò chơi trong lễ hội; trong đó, ấn tượng nhất là hội thi vẽ, trang trí trâu được tổ chức vào ngày mồng 6, với sự tham gia của 30 họa sĩ đương đại được mời về từ các vùng miền trên đất nước và một số nước trong khu vực Đông Nam Á Lựa chọn 30 con trâu béo tốt, khỏe mạnh được chọn làm chất liệu trang trí đặc biệt

để các họa sỹ sáng tạo cho những ý tưởng của mình Bên cạnh hội thi vẽ, trang trí trâu là giải vật mùa xuân năm 2009 với 50 đô vật với đủ các hạng cân đến từ 6 huyện, thành phố trong tỉnh Hà Nam

Các trò chơi đan xen, tạo không khí vui chơi thoải mái đầu xuân cho

Trang 37

mắt bắt dê, đi ván, kéo co… hay các trò chơi hiện đại như thi đấu bóng chuyền da, bóng chuyền hơi… thu hút đông đảo người dân tham gia

Một việc đặc biệt quan trọng là lựa chọn một vị bô lão trong xã đóng giả vua làm lễ cày tịch điền Người được chọn là một cụ cao niên trong làng khỏe mạnh, có dáng dấp phong thái khoan thai, đường bệ, gia đình ấm êm, hạnh phúc Trong tất cả các năm từ lúc phục dựng đến giờ (từ 2009, đến năm 2017) đều chọn cụ Đinh Trọng Tế, một cụ cao tuổi ở xóm 9, thôn Đọi Tín đóng làm vua

Chuẩn bị cho lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, Ban tổ chức lễ hội đã huy động

30 con trâu của người dân trong xã để tham gia trong hội thi vẽ, trang trí trâu

và tham gia lễ cày Tịch điền vào sáng mồng 7 tháng Giêng Những chú trâu béo tốt, khỏe mạnh, là những giống trâu thuần, dễ bảo, dễ sai khiến và phải làm quen với nơi đông người, tiếng trống nhạc, tránh sợ hãi, góp phần quan trọng để lễ hội diễn ra đúng nghi thức và kế hoạch đã đề ra

Toàn bộ lực lượng tham gia lễ hội Tịch Điền đã được tập luyện từ mồng 1 đến 25 tháng Chạp Mọi công việc đã được hoàn tất trước ngày 25 tháng Chạp để chuẩn bị cho tổng duyệt và diễn lễ

- Luyện tập các nghi lễ trong lễ hội Tịch Điền

Sau gần 100 năm thất truyền, lễ hội Tịch điền Đọi Sơn đã được phục dựng Để chuẩn bị cho lễ hội, người dân xã Đọi Sơn đã nhiệt tình, hăng say tập luyện các nghi lễ Họ coi đây là công việc quan trọng có ý nghĩa vô cùng

to lớn Trong Lễ hội các nghi lễ được diễn ra phải đảm bảo tính trang trọng, thiêng liêng, nghiêm cẩn và thành thục của các thành viên tham gia

Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn diễn ra trong 3 ngày từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 7 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (từ ngày 30 - 01 đến ngày 01 - 02 -2009) Từ trước Tết, người dân trong xã đã náo nức chào đón lễ hội, các tầng lớp từ già trẻ, trai gái, các bô lão cùng các tăng ni, phật tử, đều cảm thấy vinh

dự được tham gia vào lễ hội đều rất tự hào và phấn khởi, do đó họ tự ý thức

Trang 38

Sau khi các công việc chuẩn bị phục vụ cho Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn

2009 đã cơ bản hoàn thành, trong 2 ngày 25, 26 tháng Chạp năm Mậu Tý, Ban Tổ chức tiến hành tổng duyệt toàn bộ chương trình lễ hội sẽ diễn ra, đặc biệt là nghi lễ cày Tịch Điền Sau khi buổi tổng duyệt kết thúc, dưới sự chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, một số công việc tồn tại đã được Ban Tổ chức nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và giao cho các Sở, ban ngành,

cơ quan liên quan tiếp tục chuẩn bị thật chu đáo và báo cáo kết quả với thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban Tổ chức lễ hội vào ngày mồng 5 tháng Giêng Kỷ Sửu (năm 2009)

1.3.3 Nội dung, tiến trình của Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn

1.3.3.1 Các nghi thức được tiến hành trong lễ hội

a Lễ rước chân nhang vua Lê Đại Hành

Ngay từ sáng mồng 5 Tết, người dân trong vùng cùng cán bộ tỉnh, huyện, xã đã tham gia lễ rước chân nhang thờ Vua Lê Đại Hành từ đền Lăng,

xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm về chùa Long Đọi Sơn

Đoàn rước chân nhang vua Lê do Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng với sư trụ trì chùa Long Đọi Sơn và các tăng ni phật tử thực hiện

Tới đền thờ Vua Lê Đại Hành, cả đoàn rước xuống xe, đi đầu là 2 lá cờ, tiếp theo là bát hương, đi sau là cán bộ tỉnh, các nhà sư, lãnh đạo huyện, xã,

bô lão…Sau đó, nhà sư tiến hành làm lễ xin chân nhang vào bát hương Nghi

lễ này được thực hiện nhằm bảo đảm tính linh thiêng cho toàn bộ lễ Tịch Điền

và đại lễ giải hạn cầu an ở chùa Đọi Nghi lễ được thực hiện với ý nghĩa rước vua Lê từ quê gốc của vua về Đọi Sơn để chứng kiến cảnh con cháu tiếp nối nghi lễ tốt đẹp do Người mở ra là cày Tịch Điền đầu xuân khuyến khích nông nghiệp phát triển; đồng thời rước Vua Lê về thờ tại chùa Đọi là công việc chuẩn bị để các năm sau không phải rước từ quê vua ra mỗi khi tổ chức lễ hội Tịch điền Khi chân nhang được cắm vào bát hương, nhà sư khấn xin rước ra

Trang 39

xe, đưa linh vị Vua Lê Đại Hành lên kiệu Long đình Sau đó cả đoàn rước lên

xe trở về với đội hình ban đầu từ đền Lăng về chùa Long Đọi Sơn

Rước kiệu Long đình do 6 thanh niên khỏe mạnh đảm nhiệm Đi sau là cán bộ tỉnh, huyện, nhà sư và các tăng ni, phật tử cùng người dân trong vùng Đoàn rước leo lên hơn 300 bậc đá để lên chùa Đọi Tiếp đó, nhà sư khấn xin đặt bát hương lên nhang án và làm lễ yên vị

b Lễ rước nước

Sáng mồng 6 Tết, hàng trăm người dân và cán bộ trong vùng tập trung

ở chùa Long Đọi Sơn để tiến hành lễ rước nước từ giếng Lạc lên chùa Đọi Nghi lễ rước nước mở ra một không gian văn hóa trang trọng, linh thiêng cho

lễ cầu an Đi đầu đoàn rước nước là rồng vàng Tiếp đến hàng chục người được tuyển chọn làm chân kiệu và dân binh mặc áo đỏ, quần đỏ, viền vàng, chân đi hài, cầm cờ, quạt lọng Trung tâm của buổi lễ là kiệu Phật Đình do 4 thanh niên khỏe mạnh, trang phục gọn gàng khênh Trên kiệu đặt một chóe đựng nước có nắp, phủ kín bằng vải đỏ Đại đức Thích Thanh Vũ - trụ trì chùa Long Đọi đi trước kiệu rước chóe, phật tử và dân làng lập thành đoàn nối bước đi sau kiệu, kéo dài tới nửa cây số Đoàn rước nhộn nhịp trong tiếng trống rền vang của làng Đọi Tam, đi từ chùa Long Đọi Sơn xuống đền Thánh thì dừng lại Đây là một am nhỏ được tạo thành từ một hõm đá dưới chân núi Long Đọi Giữa am ngay dưới bệ thờ Thánh có một giếng nước bốn mùa luôn trong vắt Trên bờ giếng lấy nước có cắm cờ ngũ hành và một bức trướng có 4 chữ Hán “Thanh thủy mộc dục” Đại đức Thích Thanh Vũ tự tay lấy nước ở giếng đưa vào chóe để đoàn rước lên chùa Nước này sẽ được dùng để “làm phép” tẩy rửa mọi bụi bặm trần thế, thanh tịnh tâm hồn trong lễ mộc dục và lễ sái tịnh Khi chóe đầy nước, hai thanh niên khỏe mạnh rước đặt lên kiệu, đậy nắp chóe, phủ khăn đỏ lên trên Sau đó theo thứ tự như khi đi, rước nước về chùa, đặt trước cửa thượng điện, làm lễ yên vị, đặt chóe lên ban thờ Lễ rước

Trang 40

nước này là một nghi thức tâm linh rất đặc sắc, một mặt tạo sự uy nghiêm, linh thiêng nơi cửa Phật; mặt khác là sự cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu của người nông dân

Theo quan niệm từ ngàn xưa, nước luôn là yếu tố quan trọng đầu tiên trong nông nghiệp Nước rước về chùa bên cạnh việc dùng cho lễ mộc dục - một nghi thức tắm rửa và thay quần áo, mũ mão cho tượng thần trước khi khai hội, còn hàm chứa ý nghĩa sâu sắc của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, cầu mong một năm lúa thóc đầy bồ, mùa màng tươi tốt và hơn hẳn là cầu cho người dân ấm no, hạnh phúc, quốc thái dân an

c Lễ Mộc Dục

Buổi tối, sau khi nước được rước lên chùa Đọi, Đại đức Thích Thanh

Vũ cùng các tăng ni, phật tử đã tiến hành lễ mộc dục Trước khi tắm rửa, dùng khăn đỏ cùng với nước sạch được rước từ giếng lên cùng với nước thơm Phải tắm 2 lần, lần đầu dùng nước giếng hoặc nước sông trong sạch, nhúng khăn

đỏ vào lau Lau xong lại lau một lần nữa bằng nước thơm Trong khi tắm cho tượng, nhà chùa cùng các tăng ni và các tín lão Phật tử tụng kinh Địa tạng, kinh Dược sư Sau khi tắm xong tiến hành lễ an vị cho thần tượng

d Lễ Cáo yết Đình Đọi Tam

Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn diễn ra dưới chân núi Đọi thuộc làng Đọi Tam Do đó, theo truyền thống, mỗi lần mở hội, các cộng đồng sở tại phải làm một nghi lễ mở cửa đền (cửa đình) hay lễ cáo yết với ý nghĩa xin phép vị thần của cộng đồng ấy cho dân làng mở hội Ngôi đình làng Đọi Tam thờ hai anh

em cụ Năng và cụ Bản là Tổ nghề của làng trống Đọi Tam, sau đó hai ông được tôn làm thành hoàng làng

Tham gia nghi lễ Cáo yết có lãnh đạo UBND xã Đọi Sơn, Ban khánh tiết của làng Đọi Tam và người dân trong xã Nghi lễ Cáo yết bắt đầu bằng ba hồi trống, chiêng Ban Khánh tiết mang lễ vật (gồm có hương, nến, hoa quả,

Ngày đăng: 09/06/2017, 14:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1992
2. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1992
3. Đào Duy Anh (2001), Hán - Việt từ điển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán - Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
4. Nguyễn Sơn Anh, Nguyễn Sơn Văn (2009), Lễ hội cầu phúc cầu lành ở Việt Nam, Nxb Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cầu phúc cầu lành ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Sơn Anh, Nguyễn Sơn Văn
Nhà XB: Nxb Văn hóa - thông tin
Năm: 2009
5. Toan Ánh (1992), Nếp cũ - Hội hè đình đám (quyển thượng), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ - Hội hè đình đám
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản khóa XIII (2000), Nghị quyết Trung ương V, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương V
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản khóa XIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
7. Ban tổ chức lễ hội Tịch Điền (2009), Diễn văn khai mạc lễ hội, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn văn khai mạc lễ hội
Tác giả: Ban tổ chức lễ hội Tịch Điền
Năm: 2009
8. Nguyễn Chí Bền (2001), Văn hóa dân gian Việt Nam, những suy nghĩ, Nxb Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam, những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2001
9. Trấn Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích người Việt, Nxb văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ thờ trong di tích người Việt
Tác giả: Trấn Lâm Biền
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 2003
10. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Đồng Tháp, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Đồng Tháp
Năm: 1990
11. BT, “Cần tạo điều kiện thuận lợi phát triển cơ giới hóa ngành nông nghiệp”, Tạp chí Đảng cộng sản Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần tạo điều kiện thuận lợi phát triển cơ giới hóa ngành nông nghiệp”, "Tạp chí Đảng cộng sản Việt Nam
12. Chi cục Thống kê tỉnh Hà Nam (2010), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Chi cục Thống kê tỉnh Hà Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
14. Hoàng Đình Cúc (2008), “Vấn đề con người trong học thuyết Mác và phương hướng, giải pháp phát triển con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong học thuyết Mác và phương hướng, giải pháp phát triển con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Đình Cúc
Năm: 2008
15. Nguyễn Mạnh Cường, Văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc trên đất nước Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc trên đất nước Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
16. Phan Hữu Dật và cộng sự (1993), Lễ cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam”
Tác giả: Phan Hữu Dật và cộng sự
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1993
17. Ngô Văn Doanh, Vũ Quang Thiện (1997), Phong tục các dân tộc Đông Nam Á, Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục các dân tộc Đông Nam Á
Tác giả: Ngô Văn Doanh, Vũ Quang Thiện
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội
Năm: 1997
18. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hóa công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Nxb Lao động và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hóa công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Nxb Lao động và Xã hội
Năm: 2003
19. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thái tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
20. Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hóa tâm linh, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2002
21. Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2000), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVI, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hà Nam
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w