Nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng, phong phú và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống ở các địa phương
Trang 1- -
NGUYỄN THỊ MINH HẰNG
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA LỄ HỘI LIM
Ở BẮC NINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2- -
NGUYỄN THỊ MINH HẰNG
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA LỄ HỘI LIM
Ở BẮC NINH HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS VĂN THỊ THANH MAI
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trìng nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Văn Thị Thanh Mai, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được đề cập trong luận văn Các tài liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Hằng
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Sau Đại học và các phòng ban khác của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu tại quý trường Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Triết học đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian qua
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến
TS Văn Thị Thanh Mai, Phó Tổng biên tập Tạp chí Tuyên Giáo, Ban Tuyên giáo Trung ương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Triết học của mình
Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã hết lòng quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Hằng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7
5 Giả thuyết khoa học 8
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
7 Phạm vi nghiên cứu 8
8 Phương pháp nghiên cứu 8
9 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 8
10 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI LIM Ở BẮC NINH HIỆN NAY 10
1.1 Lễ hội trong đời sống của người Việt 10
1.1.1 Quan niệm về lễ hội, lễ hội cổ truyền 10
1.1.2 Giá trị văn hóa của lễ hội 15
1.1.3 Đặc trưng của lễ hội cổ truyền 17
1.2 Nguồn gốc lễ hội Lim 21
1.2.1 Một số yếu tố có ảnh hưởng đến lễ hội Lim ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 21
1.2.2 Lịch sử chùa Lim và sự ra đời của lễ hội Lim 27
1.2.3 Quá trình diễn ra lễ hội Lim 32
Trang 6NINH HIỆN NAY 62
2.1 Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội Lim 62
2.1.1 Giá trị văn hóa của lễ hội Lim 62
2.1.2 Quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội Lim hiện nay 69
2.2 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội Lim 79
2.2.1 Kết quả đạt được 75
2.2.2 Hạn chế 88
2.3 Phương hướng, giải pháp và kiến nghị bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội Lim 92
2.3.1 Phương hướng 92
2.3.2 Giải pháp 93
2.3.3 Kiến nghị 97
Tiểu kết chương 2 100
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ LỄ HỘI LIM 111
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội truyền thống xuất hiện từ rất lâu đời trong lịch sử nhân loại, bắt nguồn và phát triển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội; từ sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của cộng đồng Hầu như quốc gia nào, dân tộc nào, vùng miền nào cũng có lễ hội, tuy hình thức và nội dung có thể không giống nhau Lễ hội truyền thống là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần, chứa đựng những khát vọng, những ước muốn tâm linh vừa linh thiêng, vừa trần tục của cộng đồng dân cư trong những hoàn cảnh cụ thể Đây là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc, được lưu giữ suốt chiều dài lịch sử của mỗi quốc gia dân tộc
Cha ông ta qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã để lại cho các thế hệ chúng ta hôm nay và mai sau những di sản truyền thống vô cùng quý giá, trong đó có hệ thống lễ hội văn hóa đặc sắc Lễ hội, một di sản văn hóa quý báu đã đồng hành, tồn tại và tạo nên ký ức văn hóa của dân tộc Vượt qua thời gian, lễ hội đã lan tỏa và có sức sống lâu bền trong đời sống nhân dân Những năm qua, khi đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân được nâng cao Do đó, lễ hội và việc tham gia các lễ hội truyền thống càng trở thành một nhu cầu, một món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng, phong phú và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống ở các địa phương; trong đó, một mặt, khai thác, phát huy những giá trị đặc sắc của mỗi lễ hội, mặt khác khắc phục được những hạn chế, tiêu cực từ công tác tổ chức và các hoạt động của lễ hội đã trở thành yêu cầu bức thiết
Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, năm 2015, cả nước hàng năm có hơn 8.000 lễ hội, trong đó, tại Bắc Ninh có gần 600 lễ hội với quy mô lớn nhỏ
Trang 8khác nhau Miền đất Kinh Bắc xưa là nơi địa linh nhân kiệt, quê hương của Kinh Dương Vương, Lý Bát Đế, nơi hội tụ của kho tàng văn hóa nghệ thuật đặc sắc với những làn điệu Quan họ trữ tình đằm thắm đã được UNESCO công nhân là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hóa Kinh Bắc, mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như; tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, vẽ tranh dân gian Bắc Ninh cũng là vùng đất có nền văn hóa lâu đời, với nhiều lễ hội truyền thống, đặc sắc nhất là lễ hội Lim - cơ sở, điều kiện để văn hóa Quan họ
ra đời và phát triển Lễ hội Lim đã khơi dậy truyền thống tốt đẹp của quê hương, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa tâm linh và văn hóa tinh thần của đông đảo tầng lớp nhân dân
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân, nên sự độc đáo, ý nghĩa nhân văn của lễ hội Lim; trong đó hát Quan họ, đấu võ, đấu vật đầu cờ đã có những biến tướng, gây phản cảm với du khách tham gia lễ hội Hát Quan họ với cảnh ngửa nón xin tiền gây bức xúc, cảnh đấu võ dẫn đến đấu lộn tại lễ hội, các hiện tượng tiêu cực, mê tín dị đoan, thương mại hóa trong lễ hội… là nỗi trăn trở của các cơ quan chức năng, quản lý và cả du khách Từ thực tế đó, việc nghiên cứu về lễ hội Lim, thông qua đó góp phần làm sâu sắc hơn giá trị văn hóa của lễ hội Lim, nâng cao chất lượng việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội là một việc làm hết sức cần thiết, thiết thực xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của đất nước Trên tinh thần đó, tác giả chọn đề tài:
“Bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội Lim ở Bắc Ninh hiện nay” làm đề tài
Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Triết học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Từ rất sớm, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu và khảo sát về lễ hội truyền thống nói chung và lễ hội Lim nói riêng, với nhiều góc độ
Trang 9nhìn nhận khác nhau nhằm tìm kiếm, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
2.1 Nhóm công trình nghiên cứu lễ hội
Trước Cách mạng Tháng Tám, các công trình nghiên cứu về lễ hội ít được chú ý Một số học giả thời kỳ này đã đề cập đến lễ hội trong các công
trình nghiên cứu văn hóa như: “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính;
“Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh; “Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam” của Nguyễn Văn Huyên Sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945 đến năm 1954, do hoàn cảnh cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nên hầu như lễ hội ít được quan tâm, nghiên cứu, sưu tầm
Từ năm 1954 đến năm 1975, đất nước tạm thời bị chia cắt, các công trình nghiên cứu về lễ hội ở hai miền Nam - Bắc cũng khác nhau Miền Bắc
có các công trình nghiên cứu: “Một số tục cổ và trò chơi Việt Nam trong tết nguyên đán và xuân” của Nguyễn Đổng Chi; "Thời Đại Hùng Vương” của Lê Văn Lan; "Hà Nội nghìn xưa” của Trần Quốc Vượng Miền Nam có một số công trình nghiên cứu như: "Lễ tế xuân hay Đám rước thần nông” của Nguyễn Bửu Kế; "Nhớ lại hội hè đình đám” của Nguyễn Toại; "Mùa xuân với đời sống tình cảm Việt Nam”, "Trẩy hội hành hương” của Nguyễn Đăng Thục; "Nếp cũ hội hè đình đám quyển thượng” của Toan Ánh
Từ 1975 đến nay đã có nhiều học giả quan tâm nghiên cứu sâu sắc về lễ
hội như “Đất lề quê thói” của Nhất Thanh; "Lễ hội truyền thống và hiện đại" của Thu Linh - Đặng Văn Lung; “60 lễ hội truyền thống Việt Nam" của Thạch Phương - Lê Trung Vũ; “Lễ hội Việt Nam” của Lê Trung Vũ - Lê Hồng Lý;
"Lễ hội cổ truyền" do Lê Trung Vũ chủ biên; "Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại" do Đinh Gia Khánh - Lê Hữu Tầng chủ biên; “Ý nghĩa
xã hội và văn hóa của hội lễ dân gian và văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt” của Đinh Gia Khánh; “Lễ hội cổ truyền của người
Trang 10Việt ở Bắc Bộ” của Lê Trung Vũ… cùng một số công trình khác như: Hội thảo khoa học quốc tế “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại”;
Đề tài khoa học cấp Bộ Văn hóa - Thông Tin về “Quản lý lễ hội cổ truyền: thực trạng và giải pháp” (Nguyễn Thu Linh - Phan Văn Tú) Trong đó:
Hội thảo quốc tế về Lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội và hiện đại
của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), 1993, đã luận bàn về vai trò của lễ hội truyền thống trong xã hội đương đại Trong đó, tác giả Vũ Ngọc Khánh đã cho rằng: Lễ hội không phải
là một hiện tượng văn hóa bất biến, mà nó có sự đổi thay qua thời gian Sự biến đổi và tiếp tục của các lễ hội chính là sự hài hòa của nó đối với không gian và thời gian nhất định
Thừa nhận sự trường tồn của lễ hội cổ truyền, các nhà nghiên cứu cho rằng: Lễ hội là sự luyến tiếc quá khứ, để lui vào huyền thoại, cô lập con người
Lễ hội cũng không phải tồn tại để con người quay ra tìm sự huyền bí với những cảm giác bồng bềnh, ngây ngất, nhằm mục đích thoát ly cuộc sống, mà lễ hội là
ký ức, là những giá trị văn hóa tinh thần được lưu truyền, trao truyền cho các thế
hệ sau Bên cạnh đó, GS Lê Hữu Tầng đã đặt câu hỏi: Lễ hội có thực sự là nhu cầu của đa số người dân hay không? hay đó chỉ là nhu cầu do một số người muốn lợi dụng lễ hội để tiến hành các hoạt động mê tín dị đoan, nhất là kinh doanh lễ hội để kiếm lời khai thác? Những biến đổi kinh tế - xã hội sẽ tác động ra sao đối với nhu cầu hội lễ của người dân và ngược lại?
Từ những ý kiến nêu trên, nhận xét có tính khẳng định của GS Ngô Đức Thịnh là: Lễ hội có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội nói chung và đời sống xã hội đương đại nói riêng Trong xã hội đương đại, lễ hội
truyền thống giữ năm giá trị cơ bản là: Một là, giá trị cộng đồng, trong đó, lễ hội
chính là “sự biểu dương sức mạnh của cộng đồng” và là chất kết dính tạo nên “sự
cố kết cộng đồng” Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm “cộng
Trang 11mệnh” và “cộng cảm” của sức mạnh cộng đồng Hai là, giá trị hướng về nguồn:
Lễ hội có nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc cộng đồng Chính vì vậy, lễ hội thường
gắn với hành hương - du lịch Ba là, giá trị cân bằng đời sống tâm linh: Lễ hội góp phần làm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người Bốn là, giá trị
sáng tạo và hưởng thụ văn hóa: Lễ hội do nhân dân tự tổ chức, làm tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, và cũng chính bản thân họ là những người hưởng
thụ các sinh hoạt văn hóa đó Năm là, giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc: Lễ hội truyền thống là một bảo tà`ng sống về văn hóa dân tộc, nhờ đó, nền văn hóa ấy được hồi sinh, tái tạo và truyền giao qua các thế hệ
Đề tài khoa học cấp Bộ Văn hóa - Thông tin “Quản lý lễ hội cổ truyền: thực trạng và giải pháp” của nhóm nghiên cứu Nguyễn Thu Linh và Phan
Văn Tú nhấn mạnh: “Con người các thế hệ đã biết và hiểu về lịch sử - văn hóa dân tộc/địa phương mình qua các trải nghiệm hội hè Rất nhiều trò chơi, trò diễn dân gian có giá trị tìm lại được môi trường phục sinh và tôn tạo Hàng loạt các nghề thủ công - mỹ nghệ, ẩm thực truyền thống… được củng cố và phát triển tạo ra những cơ hội việc làm và thu nhập cho không ít lao động, góp phần bảo vệ di sản công nghệ dân gian đang có cơ trở thành hàng hóa có giá trị trong
xã hội hiện đại” [57, tr.15 ]
Các ý kiến nêu trên đã khẳng định rằng, lễ hội đang trở thành một sản phẩm của ngành du lịch, có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế- văn hóa ở nhiều địa phương nói chung, trong đó có tỉnh Bắc Ninh Các công trình trên đã giúp tôi có cái nhìn tổng quan về vị trí, vai trò của lễ hội trong đời sống, nhất là nhu cầu về văn hóa, tinh thần Đồng thời những tư liệu này giúp tôi thêm hiểu biết về hệ thống lễ hội truyền thống, giúp chúng tôi kế thừa trong quá trình giải quyết yêu cầu của luận văn
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về lễ hội Lim
Trong những năm qua cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng
Trang 12cao, nhu cầu tìm về với những giá trị truyền thống ngày càng lớn Lễ hội Lim
- một lễ hội đặc sắc, mang đậm nét văn hóa dân tộc của người Kinh Bắc - Bắc Ninh thu hút được sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều giới Đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về lễ hội Lim như: “Hội xứ Bắc” của Sở Văn hóa thông tin Hà Bắc; “Địa chí Hà Bắc” của Trần Linh Quý; “Hội hè đình đám” của Toan Ánh; “Bắc Ninh thổ tạp kỹ” của Thư viện Thông tin Khoa học Xã hội Hà Nội; “Một số vấn đề về dân ca Quan họ” của Lê Thị Nhâm Tuyết; “Từ những
lề lối của hát Quan họ” của Mã Giang Lân; “Quan họ, nguồn gốc và quá trình phát triển” của Trần Linh Quý, Đặng Văn Lung, Hồng Thao; “60 lễ hội truyền thống của người Việt Nam” của Thạch Phương, Lê Trung Vũ; “Hội Lim truyền thống và hiện đại” (Sở văn hóa thông tin Tỉnh Bắc Ninh); “Các di tích lịch sử văn hóa Bắc Ninh” của Lê Viết Nga; “Quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa tỉnh Bắc Ninh gắn với hoạt động du lịch” của Sở Văn hóa thể thao Bắc Ninh; “Góp phần tìm hiểu lễ hội ở Hà Bắc” của Trần Đình Luyện;
“Những yếu tố cơ bản để xây dựng lễ hội ở Hà Bắc” của Lê Hồng Lý
Trong cuốn sách Hội xứ Bắc, Sở Văn hóa thông tin Hà Bắc, tập 2,
1989, tác giả Khổng Đức Thiêm với phần trình bày: Hội Lim, hồn nước gọi ta
về, đã nêu rõ về nguồn gốc, diễn biến của hội Lim khá chi tiết
Cuốn sách 60 lễ hội truyền thống của người Việt Nam, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội của các tác giả Thạch Phương, Lê Trung Vũ xuất bản năm
1995, có dành một phần trong sách để nói về lễ hội Lim, với những làn điệu dân ca Quan họ từ hát trong nhà, hát ngoài đồi, đến hát trên thuyền, thi cỗ chay, thi dệt vải, đấu vật,
Cuốn sách Các di tích lịch sử văn hóa Bắc Ninh của tác giả Lê Viết
Nga, Nxb Bảo tàng Bắc Ninh, 2005, đã liệt kê các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; trong đó có dành một chương trình bày về lễ hội Lim với những nét tiêu biểu, độc đáo
Trang 13Ngày 2-11-2004, Sở văn hóa thông tin tỉnh Bắc Ninh đã phối hợp với
Ủy ban nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tổ chức Hội thảo khoa học: Hội Lim truyền thống và hiện đại Với 21 tham luận trên tổng số 29 tham luận
của các nhà khoa học gửi đến, đây là lần đầu tiên, hội Lim được xem xét về nhiều mặt góp phần làm sâu sắc hơn những giá trị tinh thần của hội Lim trong đời sống người dân Việt Nam nói chung và người dân Bắc Ninh nói riêng
Bên cạnh đó, còn có rất nhiều bài viết nghiên cứu về lễ hội Lim đăng
trên báo Nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Văn học, Văn hóa - Nghệ thuật, Các trang báo điện tử như: tiendu.bacninh.gov.vn, nhandan.com.vn, daidoanket.vn, quanhobacninh.vn, dantri.com, lehoithegioi.com, như: “Lễ hội Lim”, “Nguồn gốc và ý nghĩa ngày hội Lim 13.1 âm lịch”, “Ghé về Bắc Ninh tham gia lễ hội Lim đặc sắc”, “Lễ hội Việt Nam: Lễ hội Lim” cũng đã
đề cập và tìm hiểu khá toàn diện, làm sáng tỏ những vấn đề về lễ hội Lim
Những công trình nghiên cứu, tài liệu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý báu giúp tác giả tìm hiểu và kế thừa nhữngkết quả nghiên cứu của những người đi trước trong quá trình triển khai luận văn Tuy nhiên, chưa có công
trình nghiên cứu chuyên sâu nào về “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của
lễ hội Lim ở Bắc Ninh hiện nay” Vì vậy, đề tài của luận văn là mới và không
trùng lặp với các công trình nghiên cứu và luận văn, luận án đã công bố
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội Lim ở Bắc Ninh, đề ra phương hướng, giải pháp và kiến nghị, góp phần nâng cao chất lượng bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội Lim ở Bắc Ninh hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Những giá trị văn hóa của lễ hội Lim
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu việc bảo tồn
và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội Lim ở Bắc Ninh hiện nay
Trang 145 Giả thuyết khoa học
Nếu phân tích, làm rõ được những thực trạng của lễ hội Lim, thì từ đó
sẽ đề ra được những biện pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của
lễ hội Lim ở Bắc Ninh hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải thực hiện được các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ nguồn gốc của lễ hội Lim, thực trạng cách thức tổ chức lễ hội Lim xưa và nay
- Nghiên cứu những giá trị văn hóa của lễ hội Lim
- Đề ra phương hướng, giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội Lim
7 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Phần lễ, phần hội trong lễ hội Lim ở tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian: Lễ hội Lim ngày xưa và hiện nay
8 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên lập trường thế giới quan của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về văn hóa nói chung, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống nói riêng, luận văn sử dụng các phương pháp của phép biện chứng duy vật và lịch sử để luận giải các vấn
đề có liên quan Đồng thời luận văn kết hợp phương pháp logic và lịch sử, phương pháp liên ngành và chuyên ngành, tổng hợp và phân tích để giải quyết yêu cầu của đề tài
9 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
Những luận điểm cơ bản
- Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội Lim
Trang 15- Những giá trị văn hóa của lễ hội Lim
- Thực trạng, giải pháp, kiến nghị về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội Lim ở Bắc Ninh hiện nay
Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn nghiên cứu có hệ thống về lễ hội Lim, cung cấp cho người đọc một hệ thống tư liệu phong phú, những giá trị văn hóa đích thực của lễ hội Lim trong đời sống của người Việt
- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội Lim, luận văn sẽ đề ra phương hướng, giải pháp, kiến nghị, góp phần nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo, quản lý lễ hội cổ truyền nói chung, lễ hội Lim nói riêng
10 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm có 2 chương, 5 tiết
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI LIM Ở BẮC NINH HIỆN NAY
1.1 Lễ hội trong đời sống của người Việt
1.1.1 Quan niệm về lễ hội, lễ hội cổ truyền
Lễ hội
Việt Nam là đất nước có nền văn hóa lâu đời, nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống trên một lãnh thổ thống nhất, cùng đóng góp phong tục tập quán mang bản sắc riêng của mỗi vùng miền, dân tộc, tôn giáo ; góp phần làm lên một nền văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc Trong đó, lễ hội là yếu
tố vừa mang nét đặc trưng cho mỗi dân tộc, vừa làm cho văn hóa của dân tộc Việt ngày càng phong phú và đặc sắc hơn
Cho đến hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau trong giới nghiên cứu Thực tế đã xuất hiện một số ý kiến hoặc nói
về chung lễ hội, hoặc nói riêng về từng phần lễ hay hội trong cấu trúc lễ hội Các ý kiến đó dựa trên thực tế có những sinh hoạt văn hóa dân gian có lễ mà không có hội hoặc ngược lại
Lễ hội theo học giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương thì
gọi là đại hội (vào đám hay vào hội) [1, tr.255] Về sau, nhiều học giả đã thay thuật ngữ này bằng các thuật ngữ tương đương Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu qua tên sách, tên bài viết đã có nhiều cách gọi khác nhau
Toan Ánh trong cuốn sách “Nếp cũ hội hè đình đám” quan niệm: hội hè
đình đám là những cuộc tổ chức hội họp tại các thôn xã nhân dịp vào đám và trong dịp đám này có nhiều trò mua vui cho dân thôn giải trí [2, tr.9] Quan niệm trên đã nhấn mạnh ý nghĩa tích cực của các hoạt động vui chơi, sinh hoạt tập thể có ý nghĩa giải trí, các yếu tố thuộc về nghi thức mang tính tâm linh tín ngưỡng thì chưa được đề cập sâu
Trang 17Theo Bùi Thiết, “Lễ là các hoạt động đạt tới trình độ nghi lễ, hội là các hoạt nghi lễ đạt trình độ cao hơn, trong đó có các hoạt động văn hóa truyền thống” [91, tr.125] Khác với Bùi Thiết, Thu Linh cho rằng: “Lễ (cuộc lễ) phản ánh những sự kiện đặc biệt, về mặt hình thức lệ trong các dịp này trở thành hệ thống những nghi thức có tính chất phổ biến được quy định một cách nghiêm ngặt nhiều khi đạt đến trình độ một “cải diễn hóa” cùng với không khí trang nghiêm đóng vai trò chủ đạo Đây chính là điểm giao thoa giữa lễ với hội, và có lẽ cũng vì vậy người ta thường nhập hai từ lễ hội” [52, tr 27]
Theo Nguyễn Quang Lê, thì bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm hai hệ
thống đan quện và giao thoa với nhau: 1) Hệ thống lễ: Bao gồm các nghi lễ
của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm đồ
lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc Thông qua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh (các nhiên thần và nhân thần), do chính con người tưởng tượng ra và họ cầu mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương lai cuộc
sống tốt đẹp của mình 2) Hệ thống hội: Bao gồm các trò vui, trò diễn và các
kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và
ca múa dân gian - chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước, song đôi khi chưa thể tách ra khỏi việc thờ cúng [49, tr.5-9]
Bên cạnh đó, theo Phạm Quang Nghị: “Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng, có tính phổ biến trong cộng đồng xã hội, có sức lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia Là sản phẩm sáng tạo của các thế hệ tiền nhân
để lại cho hôm nay, lễ hội chứa đựng những mong ước thiết tha vừa thánh thiện, vừa đời thường, vừa thiêng liêng, vừa thế tục của bao thế hệ con người”[66, tr 96]
Giáo sư Đinh Gia Khánh quan niệm: “Đặc điểm cơ bản của văn hóa dân gian (trong đó có lễ hội) là tính nguyên hợp tức nói rằng quan hệ nghệ thuật ấy
Trang 18người ta nhận thức hiện thực như một tổng thể chưa bị chia cắt” [42, tr.12] Tác giả Trần Bình Minh cho rằng: “Lễ và hội hòa quện, xoắn xít với nhau để cùng nhau biểu thị một giá trị nào đó của một cộng đồng Trong lễ cũng có hội và trong hội cũng có lễ” [69, tr 120]
Còn nghiên cứu về “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch”,
Dương Văn Sáu cho rằng: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một số sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên thần thánh và con người với xã hội” [81, tr 35] Nguyễn Tri Nguyên khẳng định: “Lễ hội là
sự thể hiện, là sự phát lộ của ký ức văn hóa dân tộc Giống như gien di truyền,
ký ức văn hóa chứa đựng hàm lượng thông tin các giá trị văn hóa của quá khứ qua các truyền thống văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc và sự đa dạng văn hóa, cũng thiết yếu đối với sự sống con người tựa như sự đa dạng sinh học trong thế giới tự nhiên” [68, tr 54 - 56]…
Như vậy, dù có khác nhau về cách diễn đạt, song các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau hai thành tố cấu trúc nên lễ hội (phần lễ tức là nghi
lễ, là mặt thứ nhất: tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng, linh thiêng; phần hội tức là hội hè, là mặt thứ hai: vật chất, văn hóa nghệ thuật, đời thường)
Từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thức như sau:
Lễ: Là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của
con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện
Hội: Là tập hợp các trò diễn có tính nghi thức, các cuộc vui chơi, giải
trí tại một thời điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôn giáo hay ở sát chúng, có đông người tham gia Là đời sống văn hóa hàng ngày
Trang 19và một phần đời sống của cá nhân và cả cộng đồng, nhân kỷ niệm một sự kiện quan trọng đối với một cộng đồng xã hội
Lễ hội là sản phẩm của xã hội quá khứ, được truyền lại tới ngày nay và
nó được người dân, cộng đồng tiếp nhận và thực hành trong đời sống sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng
Lễ và hội luôn gắn kết chặt chẽ với nhau, không có lễ thì sẽ không có hội Lễ hội thuộc phạm trù thiêng liêng của thế giới linh thiêng Ngôn ngữ lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên trên đời sống hiện hữu thường nhật Vì vậy, phần hội luôn gắn với phần lễ, là bộ phận sinh thái của phần lễ, nó gắn với cái thiêng liêng, với các vị thần, nhân vật mà con người thờ phụng Các sinh hoạt vui chơi, giải trí, trò diễn trong lễ hội mang tính nghi lễ phong tục chứ không phải là trò chơi, trò diễn thuần túy trần tục (mà trò diễn ở đây đã được thiêng liêng hóa)
Lễ hội cổ truyền
Lễ hội cổ truyền là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp, vừa độc đáo, vừa phong phú đa dạng của dân tộc Việt Nam, vốn có nguồn gốc phát sinh và phát triển từ rất lâu đời trong lòng lịch sử văn hóa nước nhà Có thể coi lễ hội cổ truyền là hình ảnh thu nhỏ của nền văn hóa dân gian cổ truyền dân tộc Bởi lẽ, trong lễ hội cổ truyền bao hàm hầu như đầy đủ các
hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, như: Về văn học dân gian: có truyền
thuyết, thần thoại, thần tích, thần phả, văn tế, văn bia, hoành phi câu đối, ca
dao, hò vè Về nghệ thuật biểu diễn dân gian: có diễn xướng, sân khấu dân gian, các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc Về tôn giáo: có phong tục và tín
ngưỡng dân gian gồm các nghi lễ, nghi thức, trò chơi, trò diễn, trò chơi dân gian, tục lệ, đối tượng thờ cúng, đức tin và kỵ hèm dân gian Do vậy, lễ hội
cổ truyền không chỉ là một hiện tượng văn hóa dân gian, mà còn là một hiện tượng lịch sử xã hội Nó phản ánh khá trung thực và rõ nét cốt cách, bản lĩnh
Trang 20và bản sắc dân tộc, cùng với tâm linh, nguyện vọng của nhân dân trong suốt thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Lễ hội cổ truyền ra đời, được bảo tồn và phát huy trong lòng lịch sử - văn hóa dân tộc, phản ánh khá đầy đủ và rất sinh động đời sống văn hóa - xã hội đã trải qua Nhiều yếu tố văn hóa tinh thần được lễ hội cổ truyền bảo lưu
và truyền tụng từ đời này sang đời khác, thực sự trở thành di sản văn hóa truyền thống vô giá Đó chính là kho tàng các giá trị thuộc về tinh hoa văn hóa, phản ánh rõ nét bản lĩnh và bản sắc dân tộc Việt Nam
Khái niệm cổ truyền được Từ điển tiếng Việt cắt nghĩa như sau:
“Cổ: Thuộc về thời xa xưa trong lịch sử”; “Truyền: Để lại cái mình
đang nắm giữ cho người khác, thường thuộc thế hệ sau”; “Cổ truyền: Từ xưa truyền lại, vốn có từ xưa” [112, tr 203, 204, 1053]
Trong cuốn sách “Lễ hội cổ truyền”, Phan Đăng Nhật cho rằng: “Lễ hội
cổ truyền là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc” và lễ hội “còn là bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Việt Chúng đã sống, đang sống và với đặc trưng của mình, chúng tạo nên sức cuốn hút và thuyết phục mạnh mẽ nhất”; “Hội lễ là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch sử, trong quá khứ, dồn nén lại cho đương thời” [111, tr 24]
GS Lê Trung Vũ và Nguyễn Hồng Dương khái quát: “Hội làng - Lễ hội truyền thống, là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng làng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống; sự tồn tại và phát triển cho
cả làng, sự bình yên cho từng cá nhân, niềm hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ; sự sinh sôi của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà bao đời đã quy tụ niềm mơ ước chung vào 4 chữ “Nhân khang vật thịnh”, hay “Quốc thái dân an” Theo đó: “Lễ hội truyền thống, còn gọi là lễ
Trang 21hội dân gian hay lễ hội cổ truyền thường tổ chức ở đình, chùa (hội chùa mang nội dung và chức năng hội làng), đền, miếu, phủ, điện trong các làng gọi là hội làng, hoặc ngày nay ở các thị trấn, tỉnh thành chỉ gọi là hội đình, hội đền, hội phủ; do dân làng - trước hết là các cụ, đại biểu nhiều mặt của cộng đồng làng xưa hoặc phường, phố tổ chức Đó là những lễ hội thường gồm hai phần:
lễ và hội Lễ với hệ thống lễ uy nghiêm, và thần bí; Hội với hệ thống hội, vui tươi và thế tục; kèm theo và xen kẽ là phong tục, trong đó mỗi hội thường có một tục hèm- tục kiêng- là đặc điểm của mỗi hội” [108, tr 8]
Lễ hội cổ truyền theo quan điểm của GS Ngô Đức Thịnh là: 1) Một hình thức diễn xướng dân gian bao gồm nhiều hình thức diễn xướng nhỏ, kết hợp hữu cơ với nhau tạo thành tổng thể diễn xướng lễ hội 2) Một hình thức diễn xướng tâm linh không còn là thế giới hiện thực mà đã vươn lên thế giới
biểu tượng linh thiêng Nó tái hiện lại lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội trong một thời điểm mạnh, thời điểm có giá trị đặc biệt, thời điểm thiêng, khác với
thời gian thường ngày 3) Diễn xướng lễ hội cổ truyền đạt tới hiệu quả xã hội nhiều mặt, tạo nên và biểu trưng cho sức mạnh cố kết cộng đồng, nó là niềm
cộng cảm và cộng mệnh của cộng đồng thỏa mãn ước vọng vươn tới sự hòa đồng giữa con người với thiên nhiên, với cội nguồn [93, tr 17 - 22]
Ngoài ra, lễ hội là một di sản văn hóa, một sản phẩm của lịch sử, là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, được hình thành trên cơ sở một nghi lễ, tín ngưỡng nào đó, tồn tại và vận hành trong bối cảnh xã hội hiện tại Các lễ hội cổ truyền là sinh hoạt văn hóa tiến hành theo định kỳ, mang tính cộng đồng (thường là cộng đồng làng), góp phần gắn kết cộng đồng trong đời sống tinh thần của người dân
1.1.2 Giá trị văn hóa của lễ hội
Nghiên cứu giá trị văn hóa của lễ hội cũng chính là tìm về lễ hội cổ truyền trong tư cách là một di sản văn hóa Lễ hội cổ truyền được xem như là
Trang 22một phạm trù thuộc khái niệm di sản văn hóa phi vật thể Đây là một khái niệm thu hút được nhiều sự chú ý trong thời gian 10 năm trở lại đây UNESCO đã thảo ra một công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa này
Trên thực tế, lễ hội cổ truyền là một hiện tượng xã hội tổng thể, trong
đó có một số các đặc trưng chủ yếu như: 1) Là một dạng sinh hoạt tín ngưỡng
- tâm linh; 2) Là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng địa phương; 3) Là dịp đoàn kết, giáo dục truyền thống cộng đồng; 4) Là hội chợ trưng bày các sản phẩm địa phương và các vùng khác; 5) Là dịp tổ chức các hoạt động giao tiếp như sinh hoạt nghệ thuật, các trò chơi giải trí, thể thao; 6) Là địa điểm hành hương, du lịch Tất cả những đặc trưng này đều gắn với một đặc điểm là: lễ hội là một sản phẩm của quá khứ, được gìn giữ cho hiện tại và mai sau,
lễ hội cổ truyền là một di sản văn hóa của cộng đồng người Việt
GS Ngô Đức Thịnh và Lê Hồng Lý cho rằng “phong tục tín ngưỡng và
lễ hội rất quan trọng đối với cuộc sống của người nông dân Đó có thể được xem như sự phản chiếu sinh động của truyền thống, bản sắc văn hóa cộng đồng cũng như là biểu tượng của tinh thần cố kết cộng đồng làng xã được hun đúc qua thời gian [92, tr 35 - 39] Phạm Quang Nghị lại nhấn mạnh đến khía cạnh:
“Bảo tàng văn hóa dân gian của lễ hội, theo đó lễ hội lưu trữ nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống, và nhiệm vụ của thế hệ ngày hôm nay là phải kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa ấy” và tiếp tục khẳng định: “Lễ hội là một di sản văn hóa phi vật thể đặc biệt (…) Lễ hội là một hiện tượng văn hóa gắn liền với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế và sinh hoạt của con người Lễ hội đã và
sẽ còn tồn tại hết sức lâu dài trong đời sống xã hội” [66, tr 3 - 7]
Khác với những di sản văn hóa vật thể, được xem là hóa thạch của văn hóa tại những thời điểm nhất định, di sản văn hóa phi vật thể (trong đó có lễ hội cổ truyền) là sự biến đổi, tích lũy và lựa chọn văn hóa qua thời gian Trong các lễ hội cổ truyền đang tồn tại ngày hôm nay, chúng ta có thể thấy
Trang 23những truyền thống văn hóa còn tồn đọng ở những hình thái nhất định Với tư cách là một di sản văn hóa, sự biến đổi của các lễ hội cổ truyền cho chúng ta thấy cách quan niệm và xử lý đối với di sản của từng thời kỳ lịch sử ra sao
Nhiều học giả cho rằng lễ hội cổ truyền là một bảo tàng sống về văn hóa dân tộc Nhờ đó, nền văn hóa ấy được hồi sinh, tái tạo và truyền giao qua các thế hệ Quan niệm này chứng tỏ rằng, lễ hội cổ truyền không phải là một thứ gì đó tĩnh tại, mà ngược lại, nó vận động và biến đổi trong không gian cũng như thời gian Một mặt, sự biến đổi của lễ hội cổ truyền chịu sự chi phối của ý thức hệ hay quan niệm của mỗi thời kỳ trong việc chuyển giao các di sản văn hóa của mình cho các thế hệ tiếp nối; mặt khác, lễ hội cũng lưu giữ những giá trị văn hóa - xã hội của một cộng đồng đối với cả không gian cũng như thời gian Các thế hệ sau có thể tìm hiểu về cuộc sống trong quá khứ Bên cạnh đó, với quan niệm lễ hội cổ truyền là một di sản văn hóa thích ứng với thời gian và không gian cụ thể, chúng ta sẽ xác định những biện pháp bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội cổ truyền trong xã hội hiện đại
Lễ hội cổ truyền với tư cách là di sản văn hóa thường tồn tại trong những không gian văn hóa vật thể (đình, đền, chùa, miếu ) và không gian văn hóa phi vật thể (tín ngưỡng, tâm linh, nghi thức, tế lễ, rước sách, thờ cúng ) Lễ hội cổ truyền là địa chỉ tiêu biểu của các giá trị văn hóa mà ông cha ta để lại cho con cháu muôn đời
1.1.3 Đặc trưng của lễ hội cổ truyền
Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền của nhiều dân tộc ở nước ta cũng như trên thế giới Nó là tấm gương phản ánh trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc Lễ hội cổ truyền có hai đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, lễ hội cổ truyền - một “hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể” Đó là, “một hiện tượng văn hóa mang tính phức thể, mà trong phức thể
Trang 24ấy, một yếu tố văn hóa dân gian nào đó giữ vai trò chủ đạo đó và cũng như gắn kết đa chiều với thực tại xã hội” [95, tr 334] Tổng thể của lễ hội không phải tổng thể “chia đôi” giữa phần lễ và phần hội như một số người quan niệm, mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (tường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử, hay một thần linh nghề nghiệp, thần linh huyền thoại ); rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hóa phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội Cho nên, trong lễ hội, phần
lễ là gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phái sinh tích hợp
Nhìn một cách tổng thể, thì lễ hội chủ yếu vẫn thuộc phạm trù cái thiêng, của thế giới thiêng liêng chứ không phải “cái tục”, cái thuộc về đời sống trần tục Ngôn ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên trên đời sống hiện hữu hàng ngày Ngay một số sinh hoạt vui chơi, giải trí, thi tài diễn
ra trong lễ hội, như đua thuyền, đấu vật, kéo co, thậm chí các trò chơi mang tính phồn thực vẫn mang tính nghi lễ, phong tục chứ không còn mang tính
“trần tục” thuần túy, mà đã trở thành “cái tục” của thế giới thiêng liêng Từ đây rút ra một hệ quả mang tính thực tiễn là, hiện nay chúng ta đang phục hồi, phát huy lễ hội cổ truyền thì phải luôn nhận thức lễ hội thuộc phạm trù cái thiêng, cái biểu tượng, vượt lên trên thế giới trần tục, thực tại; nếu biến lễ hội thành cái trần tục, thì lễ hội với đúng nghĩa của nó sẽ không còn nữa
Lễ hội là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng hợp, nên phải tiếp cận
nó như một hệ thống, phân biệt đâu là yếu tố tạo hệ thống, đâu là yếu tố tích hợp, phái sinh, tìm ra mối quan hệ hữu cơ giữa chúng và mối quan hệ giữa lễ hội với thực tại xã hội Nói cách khác, phải nhận thức diện mạo, bản chất của
xã hội như thế nào đã sản sinh ra hiện tượng lễ hội như thế
Thứ hai, lễ hội cổ truyền - một hình thức diễn xướng tâm linh Là một
hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, một hình thức diễn xướng tâm linh Theo đó, “tâm” là vô hình và là động lực ở chiều sâu thúc đẩy thế giới vật
Trang 25chất và toàn bộ cơ thể, hoạt động của con người Còn “linh” là linh diệu, linh cảm, linh nghiệm, linh ứng và linh thiêng, khó cảm nhận, đo lường, vượt qua
lẽ thông thường, khác với hiện tượng đời thường ai cũng biết, cũng cảm nhận được, đo lường được, nhưng không hoàn toàn tách biệt mà cũng biến hóa trong đời thường “Diễn xướng” được hiểu với hàm nghĩa khá rộng, bao gồm những hành động và lời nói nhằm biểu đạt một thông tin nào đó giữa một người hay một nhóm người với một nhóm người khác
Như vậy, có thể coi toàn bộ các sinh hoạt văn hóa dân gian tồn tại dưới dạng các diễn xướng Hay nói cách khác, diễn xướng là một môi trường thể hiện, tồn tại và biến đổi của văn hóa dân gian Vì vậy, về mặt phương pháp luận thì mọi hiện tượng văn hóa dân gian đều được tiếp cận trong môi trường diễn xướng Từ quan niệm chung như vậy, chúng ta có thể bàn tới lễ hội với
tư cách là một diễn xướng tâm linh [95, tr 338]
Trong lễ hội cổ truyền, tính “diễn xướng” và tính “cộng đồng” đều được thể hiện một cách khá rõ nét và tiêu biểu Thông qua trình diễn bằng hành động và lời nói của tập thể những con người trong cộng đồng, người ta muốn tái hiện lịch sử, xã hội, cội nguồn của tự nhiên và con người Tham gia
lễ hội là toàn thể thành viên của cộng đồng ở phạm vi làng xã, vùng hay toàn quốc Trong lễ hội cổ truyền, không có những người trình diễn chuyên nghiệp, hay có những người chỉ biết thưởng thức, hưởng thụ, mà toàn thể thành viên đều tự nguyện tham gia trình diễn với niềm háo hức, phấn khởi
Thời điểm diễn ra lễ hội là thời điểm thiêng tức là ngày kỵ, giỗ của thần linh (ngày sinh, ngày hóa) và cùng với các hành động hội mang tính biểu trưng làm cho thời điểm diễn ra lễ hội là “thời điểm thiêng”, “thời điểm mạnh” Đó là thời điểm mà người xưa tin rằng có giá trị đặc biệt, có ý nghĩ thiêng liêng, khác với thời điểm bình thường của đời sống hàng ngày
Ngôn ngữ của diễn xướng lễ hội rất đa dạng, như tế lễ, rước, các trò
diễn Cụ thể: 1) Tế là nghi thức tưởng niệm, tôn vinh thần linh, với ngôn ngữ,
Trang 26ăn mặc và điệu bộ theo quy định của từng địa phương Ngoài tế, trong lễ hội còn có nhiều nghi thức khác nữa, đặc biệt là lễ khai hội và lễ rã hội Đây là
những hình thức diễn xướng mang tính thiêng liêng nhất của lễ hội 2) Rước
cũng là một nghi lễ thiêng có ở các lễ hội, thể hiện sự nghênh tiếp thần linh, phô diễn sức mạnh cộng đồng Rước thường là màn trình diễn rất ngoạn mục vừa mang tính trang nghiêm lại vừa rất sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo cộng đồng với các nghi trượng tiêu biểu như cờ, kiệu, lễ vật dâng cúng, chiêng, trống, lọng và dàn nhạc bát âm Tùy theo các di tích thờ cúng là đền, đình hay chùa và đặc tính của các vị thần linh mà đám rước có sắc thái khác
nhau 3) Các trò diễn và diễn xướng cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng
trong các lễ hội Có nhiều trò diễn và diễn xướng khác nhau, như diễn xướng
sự tích Cả lễ hội là một đại diễn xướng, trong đó bao gồm nhiều diễn xướng lớn, nhỏ khác nhau, tuy nhiên chúng kết hợp theo một trình tự và cấu trúc chặt chẽ, không dễ thay đổi một cách tùy tiện Thường là diễn xướng nghi lễ (lễ,
tế, rước) giữ vai trò chủ đạo trong mọi lễ hội, nó diễn ra từ ngày mở đầu đến kết thúc lễ hội như: diễn xướng thi tài, diễn xướng vui chơi giải trí
Từ những phân tích trên, có thể rút ra một số nhận xét sau: Một là, lễ
hội cổ truyền là một hình thức diễn xướng dân gian xuất hiện xa xưa trong lịch sử, trong đó bao gồm nhiều loại hình diễn xướng nhỏ, kết hợp hữu cơ tạo
nên một tổng thể diễn xướng lễ hội Hai là, lễ hội cổ truyền là một loại hình
diễn xướng tâm linh, nó không còn là thế giới hiện thực, “trần tục” nữa, mà
nó vươn lên thế giới biểu tượng, linh thiêng Nó tái hiện lại lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội trong một “thời điểm mạnh”, thời điểm có giá trị đặc biệt, thời
điểm thiêng khác với thời gian thường ngày Ba là, diễn xướng lễ hội cổ
truyền đạt tới hiệu quả lễ hội nhiều mặt, nó tạo nên và biểu trưng cho sức mạnh cố kết cộng đồng, nó là niềm cộng cảm và cộng mệnh của cộng đồng thỏa mãn ước vọng vươn tới sự hòa đồng giữa con người với thiên nhiên, với cộng đồng
Trang 271.2 Nguồn gốc lễ hội Lim
1.2.1 Một số yếu tố có ảnh hưởng đến lễ hội Lim ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Vị trí địa lý
Tiên Du là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tâm tỉnh 5km về phía nam, cách thủ đô Hà Nội 25km về phía Bắc Theo số liệu thống kê năm 2007, Tiên Du có diện tích 9.568,65 ha [40] Huyện Tiên Du giáp danh với các địa phương sau: Phía bắc giáp thành phố Bắc Ninh và huyện Yên Phong; phía nam giáp huyện Thuận Thành; phía đông giáp huyện Quế Võ; Phía tây giáp thị xã Từ Sơn
Huyện Tiên Du có địa hình địa tương đối phức tạp, có hệ thống đồng bằng xen kẽ với các ngọn núi thấp như: đồi Lim, núi Vân Khám, núi Chè, núi Phật Tích, núi Bát Vạn, núi Đông Sơn… độ cao từ 20-120m, cùng với đó là
hệ thống kênh rạch chằng chịt bao quanh Đất đai ở huyện tương đối đa dạng
về loại hình, bao gồm: đất đá, đất đỏ bazan ở các núi, đất phù sa cổ ở đồng bằng, đất phù sa ngập nước… thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp và lúa hai vụ
Địa lý hành chính
Tên gọi của huyện Tiên Du là từ tên dãy núi Tiên Du nằm tại thôn Phật Tích Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép “khi Triệu Đà tiến quân đánh An Dương Vương đóng quân ở núi này” và “tướng quân Nguyễn Thủ Thiệp thời
12 sứ quân cũng đóng quân tại vùng này” Còn theo sách Đại Nam nhất thống chí tên huyện Tiên Du là có từ thời Trần trở về trước [40, tr.64] Thời thuộc Minh (1414 - 1427), huyện Tiên Du thuộc châu Vũ Ninh và là một bộ phận của phủ Bắc Giang [20, tr.64] Bắt đầu từ thời Lê (1428), huyện Tiên Du thuộc phủ Từ Sơn Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi và Hồng Đức bản
đồ ghi rằng huyện này thời Lê (1428 - 1781) có đến 52 xã [33,tập 2, tr.420]
Trang 28Thời Gia Long (1802 - 1819), huyện có 9 tổng với 52 xã, gồm: tổng Phù Đổng; tổng Dũng Vĩ; tổng Đại Vi; tổng Đông Sơn; tổng Thụ Triền; tổng Nội Duệ; tổng Khắc Niệm; tổng Chi Nê; tổng Nội Viên Các xã: Nguyễn Xá, Phù Đổng, Văn Trinh năm 1807 phiêu tán, đến năm 1808 phục hồi
Đến năm Đông Khánh thứ nhất (1886), huyện có 9 tổng với 56 xã thôn [20, tr.490], gồm: tổng Phù Đổng; tổng Dũng Vị; tổng Đại Vi; tổng Đông Sơn; tổng Thụ Phúc; tổng Nội Duệ; tổng Khắc Niệm; tổng Chi; tổng Nội Viên Đến thế kỷ 20, tổng Khắc Niệm được chuyển về huyện Võ Giàng, sau
đó một thời gian được chuyển trả lại cho huyện Tiên Du
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi cấp tổng bị bãi bỏ, đơn vị hành chính xã cũ được giữ nguyên và trực thuộc huyện Tiên Du Năm 1948, các xã được thành lập trên cơ sở một số làng sát nhập lại Ngày 20 tháng 4 năm 1961, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, xã Phù Đổng và xã Trung Hưng (sau đổi là Trung Màu) chuyển về huyện Gia Lâm (Thành phố Hà Nội)
Ngày 14 tháng 3 năm 1963, Hội đồng Chính phủ ra quyết định 25/QĐ nhập hai huyện Tiên Du và Từ Sơn thành một huyện lấy tên là Tiên Sơn Cũng theo quyết định này, 2 xã Phú Lâm và Tương Giang của huyện Yên Phong được chuyển về huyện Tiên Sơn và chuyển 2 xã Đông Thọ và Văn Môn của huyện Từ Sơn về huyện Yên Phong (nay là xã Tương Giang, Thị xã Từ Sơn)
Ngày 4 tháng 6 năm 1969, Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định 84-CP hợp nhất huyện Tiên Sơn và huyện Yên Phong thành một huyện lấy tên là Tiên Phong Nhưng đến ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định số 17-CP phê chuẩn đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc thôi không hợp nhất huyện Tiên Sơn với huyện Yên Phong
Ngày 3 tháng 5 năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 130-HĐBT về việc điều chỉnh giới các huyện Tiên Sơn, Quế Võ và Thị xã Bắc Ninh Sau khi điều chỉnh lộ giới, huyện Tiên Sơn có 26 xã và 1 thị trấn
Trang 29Đó là các xã: Khắc Niệm, Hạp Lĩnh, Lạc Vệ, Tân Chi, Phú Lâm, Vân Tương, Liên Bão, Hiên Viên, Việt Đoàn, Minh Đạo, Cảnh Hưng, Nội Duệ, Tương Giang, Hoàn Sơn, Phật Tích, Tri Phương, Tam Sơn, Đồng Nguyễn, Tân Hồng, Đại Đồng, Hương Mạc, Phù Khê, Châu Khê, Đồng Quang, Đình Bảng, Phù Chẩn và Thị xã Từ Sơn
Ngày 10 tháng 12 năm 1998, Chính phủ ban hành nghị định số 101/1998/NĐ-CP về việc thành lập thị trấn Lim - thị trấn huyện lỵ huyện Tiên Sơn trên cơ sở toàn bộ 488 ha diện tích tích nhiên và 9.778 nhân khẩu của xã Vân Tương Ngày 11 tháng 8 năm 1999, Chính phủ ra nghị định số 68/1999/NĐ
- CP tách huyện Tiên Sơn thành hai huyện Tiên Du và Tiên Sơn Tại thời điểm
đó, huyện Tiên Du có 10.630,03 ha diện tích đất tự nhiên và 125.157 nhân khẩu, với 16 đơn vị hành chính trực thuộc (bao gồm 15 xã và 1 thị trấn)
Đến năm 2007 theo nghị định số 60/2007/NĐ - CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Yên Phong, huyện Quế Võ, huyện Tiên Du để mở rộng thành phố Bắc Ninh, từ ngày 24 tháng 4 năm 2007, toàn bộ diện tích đất
tự nhiên và nhân khẩu của xã Khắc Niệm và xã Hạp Lĩnh được chuyển về thành phố Bắc Ninh Từ đó cho đến nay, huyện Tiên Du có 14 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 13 xã và 1 thị trấn
Phong tục, tập quán, tín ngưỡng
Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, các phong tục thờ cúng tổ
tiên, ông bà là một phần rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân huyện Tiên Du Ngoài việc các gia đình đều có bàn thờ làm không gian thờ tự vào ngày giỗ, ngày rằm, mùng một để tưởng nhớ ông bà tổ tiên mình, người dân Tiên Du còn dựng các từ đường, nhà thờ, khắc gia phả và bia đá để các thế hệ con cháu đi nhớ đến nguồn gốc, tổ tông của dòng họ mình
Từ rất sớm, huyện Tiên Du đã có sự xâm nhập ảnh hưởng của Phật giáo, chính vì vậy hàng tháng cứ đến ngày mùng 1, ngày rằm, người dân lại
Trang 30đến các ngôi chùa làng, các đại danh lam như chùa Phật Tích, chùa Hồng Ân
để bái Phật, cầu cho bản thân, gia đình luôn được bình an, hạnh phúc, tạo nên một nét đặc sắc của tín ngưỡng nơi đây
Ngoài ra, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng cũng là một phong tục không thể thiếu trong đời sống văn hóa tâm linh của người dân Tiên Du Do quan niệm “đất có thổ công”, mỗi vùng đất, mỗi làng đều có một vị thần bảo
hộ để giúp cho dân chúng tránh mọi tai ương, làm ăn yên ổn
Ngoài những tín ngưỡng trên, huyện Tiên Du còn có phong tục Kết chạ Kết chạ là tục có ở hầu hết các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, nhưng ở vùng Kinh Bắc xưa, tục Kết chạ mới đậm đặc hơn cả Tỉnh Bắc Ninh (theo địa bàn hành chính hiện nay) có ít nhất 30 chạ Tiên Du nổi tiếng với chạ hàng tổng Nội Duệ gồm tất cả 6 xã phường của tổng: xã Lũng Giang, xã Xuân Ổ, xã Nội Duệ, xã Nội Duệ Khánh, xã Nội Duệ Nam và giáo phường Tiên Du (gồm 3 làng: Lũng Giang, Lũng Sơn, Duệ Đông) [40,tr 30]
Di tích lịch sử văn hóa và lễ hội truyền thống
Huyện Tiên Du là vùng đất có địa hình tương đối phong phú, lịch sử phát triền lâu đời, dân cư đông đúc, nơi giao thoa của nhiều yếu tố văn hóa, nơi đây có một hệ thống di tích vô cùng phong phú về số lượng, đa dạng về chủng loại như đinh, chùa, miếu, ban sơn thần, điện thờ cúng, từ đường, lăng mộ… Theo thống kê, huyện Tiên Du có 128 di tích các loại [40, tr 15], với
58 di tích đã được xếp hạng, trong đó có các di tích nổi tiếng như chùa Phật Tích, lăng Quận công Đỗ Nguyễn Thụy, Nguyễn Diễn… Ngoài ra nơi đây còn có núi non hùng vĩ như núi Nguyệt Thường, Lạn Kha được nhắc đến trong các câu chuyện Vương Chất xem cờ… đã góp phần tô điểm cho cảnh sắc nơi đây Có thể kể tới một số di tích nổi bật
Chùa Phật Tích: Chùa xưa có tên là Vạn Phúc Tự, chùa tọa ở sườn núi
Lạn Kha, chùa được xây dựng vào thời nhà Lý năm Thái Bình thứ 4 (1057) Ngôi chùa được coi là trung tâm văn hóa chính trị thời Phật giáo Lý - Trần Thời
Trang 31vua Trần Nhân Tông cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa, lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi tiến sỹ) Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua, chùa được xây dựng với quy mô rất lớn, có giá trị nghệ thuật cao Sử chép: Khoảng niên hiệu Xương Phù nhà Trần, thi khoa Thái học sinh, niên hiệu Cảnh Hưng nhà Lê mở yến hội lớn, đều ở chùa này, cho nên người ta cho đây là nơi thắng tích Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và quá trình tiêu thổ kháng chiến khiến chùa bị tàn phá nhiều Từ khi hòa bình lập lại đến nay, chùa Phật Tích được trùng tu dần Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại
3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng Adiđà bằng đá quý giá Tháng 4 năm
1962, Nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử - văn hóa
Lăng Nguyễn Diễn: Lăng được xây dựng từ năm Cảnh Hưng thứ 30
(1769) trên đỉnh núi Lim, nay thuộc thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Lăng Nguyễn Diễn còn được gọi là lăng quan trấn, lăng “Hiếu Trung hầu” hoặc như tên cũ của nó được khắc trên tấm biển đá là lăng “Hồng Vân” Năm 1952, thực dân Pháp vào tàn phá nên cấu trúc lăng gần như bị phá hủy, chỉ còn lại một số các tác phẩm điêu khắc như: các pho tượng đá, võ sĩ, tượng thú, bàn thờ…
Lăng quận công Đỗ Nguyễn Thụy: Lăng được xây dựng vào năm Giáp
Dần niên hiệu Long Đức (1734), tại thôn Đình Cả xã Nội Duệ Cổng lăng được xây dựng bằng đá ong, cổng có ba cửa, trên cửa lớn có một biển đá khắc
ba chữ “Thọ Phúc Môn” Phía bên trong cổng lăng, sát vách cổng có đặt hai tượng võ sĩ bằng đá cầm đao đứng trang nghiêm Trên ngực một võ sĩ đề
“Hùng tướng quân”, còn người đối diện đề “Dũng tướng quân” Trên mặt khu sinh phần có bày một ngai đá đặt trên một chiếc sập quỳ bằng đá Hai bên ngai đá lại bày hai pho tượng đá nhỏ trong tư thế quỳ khoanh tay, nhưng kích thước to hơn một chút hai pho trên bàn thờ Đối xứng khu sinh phần là khu nhà bia, có quy mô tương đối lớn, được xây bằng đá ong, ở bên phải nhà bia
có một tấm bia lớn 4 mặt Sau khu sinh phần là phần mộ
Trang 32Tiên Du là vùng đất được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử; gắn liền với các truyền thuyết về việc thần tiên du chơi, với hàng trăm
di tích lịch sử văn hóa, cùng với đó là hệ thống các lễ hội truyền thống đặc sắc
mà không bất cứ nơi nào có được, như:
Lễ hội Lim: Là lễ hội lớn nhất của huyện Tiên Du, rất phong phú, đa
dạng về nội dung, bao gồm nhiều nghi thức tế lễ và trò chơi, diễn xướng dân gian như: đánh vật, chọi gà, cờ người, tổ tôm điếm, đánh đu trên đồi Lim, và đặc biệt nhất là hát Quan họ (chính vì thế, người ta còn gọi hội Lim là hội Quan họ) Quan họ trong lễ hội không chỉ mang tính chất diễn xướng mà đã trở thành một nếp văn hóa, một lối chơi, một phong tục lâu đời Trong những ngày diễn ra lễ hội, không chỉ có các “bọn Quan họ - từ gốc được dùng từ ngàn xưa” của địa phương tham gia diễn xướng, mà còn có “bọn Quan họ” từ khắp nơi đến kết bạn, giao duyên
Hội chùa Phật Tích: Là một trong những ngôi chùa có lịch sử lâu đời,
chùa được xây dựng từ thời Lý, đến nay đã có hơn 1000 năm lịch sử Hàng năm vào ngày mùng 4 tết Nguyên Đán, nhân dân thường mở hội truyền thống
để tưởng nhớ công lao các vị tiền bối đã khai sinh và tu tạo chùa Trong những ngày xuân tưng bừng ấy, khách thập phương về đây lễ Phật, hái hoa mẫu đơn, thưởng ngoạn cảnh đẹp vùng Kinh Bắc hoặc tham dự các trò chơi trong hội
Nằm trong không gian văn hóa Kinh Bắc có lịch sử phát triển lâu đời,
vô cùng phong phú về các thể loại hình thức nghệ thuật dân gian, từ lâu Tiên
Du đã nổi tiếng khắp cả nước với các tục hát diễn xướng đặc trưng mà ít nơi
có được, trong đó nổi bật nhất là Quan họ và hát Chèo Chải hê
Quan họ: Là một hình thức nghệ thuật điển hình của vùng quê Tiên Du,
theo thống kê trong 49 làng Quan họ gốc của vùng Kinh Bắc xưa thì Tiên Du
có tới 9 làng Quan họ ở nơi đây đã đi sâu vào trong đời sống văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân, nó gắn liền với những ngày xuân hội hè đình đám; gắn liền
Trang 33với tình bạn thắm thiết thủy chung của những “bọn Quan họ”; gắn liền với lời
ăn tiếng nói; cách ứng xử đối đãi của người với người; hay nó còn gắn liền với không gian hẹn hò, bầu bạn của con người nơi đây Chính vì vậy, Quan họ
là một hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp, bao gồm nhiều nội dung như: hát Quan họ, tục kết bạn Quan họ, văn hóa hành vi Quan họ, lễ hội Quan họ
và tính ngưỡng Quan họ, trong đó dân ca Quan họ là hoạt động chiếm vị trí trung tâm Hát Quan họ nơi đây diễn ra trong nhiều không gian khác nhau như đình, hội hè, nhà chứa Quan họ… song hát Quan họ tại các lễ hội là phổ biến, bao trùm lên các không gian khác Không chỉ là hát, là một hình thức nghệ thuật đơn thuần, Quan họ còn ẩn sâu trong nó văn hóa, phong tục mà hiếm hình thức nghệ thuật nào có được - Đó là văn hóa Quan họ giữa những
“bọn Quan họ” kết bạn với nhau Các “bọn Quan họ” này kết bạn với nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời này qua đời khác (kết bạn Quan họ truyền đời), cứ thế duy trì cho tới tận ngày nay
Chèo Chải hê: Tiên Du không chỉ là quê hương của những bài hát
Quan họ mượt mà, tình tứ mà còn là quê hương của nhiều loại dân ca, trò diễn khác chẳng kém phần độc đáo, một trong số đó là Chèo Chải hê Chèo Chải
hê còn có tên gọi khác là “Hát Phường bội” và “Chèo Nhị thập Tứ hiếu”,
được phổ biến ở các làng Lũng Giang (với 3 xóm Chùng, Chỉnh, Đông) và thị trấn Lim, đây là một lối hát đặc sắc gắn liền với các phong tục tín ngưỡng cổ truyền của người dân địa phương Chèo Chải hê thường được biểu diễn vào ngày rằm tháng 7, ngày xá tội vong ân, các đám tang, hay những dịp đốt vàng
mã tại đình chùa, với quan niệm là đưa tiễn những linh hồn về miền cực lạc
1.2.2 Lịch sử chùa Lim và sự ra đời của lễ hội Lim
Chùa Lim
Chùa Lim nằm cạnh quốc lộ 1A, cách Hà Nội 20 km và cách thành phố Bắc Ninh 7 km Đi từ Hà Nội qua thị xã Từ Sơn là đến Chùa Lim được xây dựng trên khu đồi khá bằng phẳng núi Lim thuộc thị trấn Lim ngày nay Núi
Trang 34Lim có tên chữ là “Hồng Vân sơn” là quả núi nhỏ và thấp nên còn gọi là đồi Lim Trên đồi Lim lộng gió có chùa Hồng Ân - một di tích lịch sử quý, nơi lưu giữ nhiều những cổ vật quý là điểm hội tụ của đông đảo quý khách thập phương trong và ngoài nước yêu say mê dân ca Quan họ, mỗi độ xuân về khi người vùng Lim từng bừng mở hội hát xướng
Từ xưa núi Hồng Vân đã là nơi đất đẹp cảnh vật thành kỳ, đột khởi giữa vùng quê Quan họ trù phú Theo lời văn bia “Hồng Vân từ ký” thì đồi Lim là
“quả núi tương đối bằng phẳng, không cao, nơi có nhiều đất đẹp, cảnh vật thanh
kỳ Ngước nhìn lên bầu trời lửng lơ một đóa mây hồng Người đời lấy đó đặt tên cho núi nói rằng đây là nơi địa linh nhân kiệt, nảy sinh những danh hiền vang tiếng thế gian, mọi người ngưỡng vọng” Núi Hồng Ân nằm sát đường quốc lộ 1A
- con đường huyết mạch nối Thăng Long - Hà Nội với Lạng Sơn, con đường giao lưu kinh tế - văn hóa giữa nước ta với Trung Quốc từ ngàn xưa và ngày nay càng tấp nập các hoạt động giao thương, tiếp xúc hội nhập kinh tế, văn hóa với các vùng miền với các nước trong khu vực Xưa kia, núi Hồng Vân rừng cây xanh ngắt mọc đầy cây Lim, vì vậy mang tên là núi Lim, xung quanh núi Lim là những làng quê, Quan họ trù mật và nay trung tâm huyện Tiên Du đóng sát chân núi
Đứng ở đỉnh núi Lim ta có thể thu vào tầm mắt một vùng nước non hùng vĩ, sông núi ruộng đồng trù phú Đó là Lũng Sơn, Lũng Giang, với nhà cửa khang trang san sát, rồi đến Đình Cả, Lộ Bao, Duệ Đông, Duệ Nam, Bắc Hợp… những làng nông nghiệp đồng thời là những làng thợ nổi tiếng tài hoa làm ăn phát đạt Xa hơn nữa là ba làng Bịu (Bịu Thượng, Bịu Trạng, Bịu Thị) làng Dọc, làng Chè ba ngọn Tam Sơn, núi Tiêu, núi Tích, dãy Nguyệt Hằng, sông Cầu, sông Đuống… Trong bề dày lịch sử và truyền thống văn hiến, có thể nói núi Lim và vùng Lim là một trong những nơi hội tụ cảnh quan lịch sử văn hóa Kinh Bắc - Bắc Ninh Nơi đây trên núi Hồng Ân có chùa Hồng Ân, một di tích lịch sử văn hóa quý trải qua nhiều thế kỷ vẫn trường tồn trên đỉnh
Trang 35núi Theo thuyết xưa thì núi này có hình con cá vọng trăng đầu hướng về sông Nguyệt Đức (tức sông Cầu), đuôi về phía nam nơi núi Nguyệt Hằng vốn có huyền thoại Từ Thức lên Tiên - chùa Hồng Ân được đặt nơi đầu cá
Thời điểm dựng chùa chưa có tài liệu nào cho biết đích xác nhưng qua bài thơ “Lên chơi chùa Hồng Ân” của Tiến sĩ Nguyễn Thiên Tích vị danh thần triều Lê người làng Đình Cả ở đầu thế kỷ XV đã có thơ ca ngợi cảnh chùa Hồng Ân Chùa được xây cất khá quy mô với nhiều hạng mục công trình và tượng phật Đến thế kỷ XVIII chùa Hồng Ân lại liên tục được trùng tu mở rộng Điều này đã được ghi nhận trong tài liệu văn bia ở Lăng Đỗ Nguyên Thụy (đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử năm 1992) đặt tại quê ông
là thôn Đình Cả cho hay vào đầu thế kỷ XVIII quận công Đỗ Nguyên Thụy đã cung tiến nhiều tiền của ruộng đồng để mở mang tập tục, hội hè và chùa chiền cho cả tổng Nội Duệ trong đó có chùa Hồng Ân Tiếp theo là công lao tu bổ, sửa chữa ngôi chùa Hồng Ân của tướng công Nguyễn Đình Diễn được nhân dân trong vùng suy tôn làm hậu phật và đúc tượng đồng ở chùa Hồng Ân Nhưng người có công lớn đối với chùa Hồng Ân là Bồ Đề Ni tục gọi là Mụ Ả
Bà họ Nguyễn người Nội Duệ Nam xuất gia thụ giới ở chùa Hồng Ân rồi giao cho các xã trong tổng Nội Duệ số ruộng hương hỏa Người Nội Duệ vùng Lim
đã dựng tháp và tạc tượng bà để thờ ở khu chùa Hồng Ân trong nhà tổ, truy phong bà là “Thánh tiên liệt nữ”
Căn cứ vào các nguồn tài liệu chữ Hán ghi trên chuông đồng, bia đá, trên sắc phong, hoành phi câu đối, các đồ thờ tự, di vật còn lại cùng hệ thống tượng Phật trong chùa cho biết rõ thêm những nhân vật ở chùa Hồng Ân trên núi Hồng Vân Đó là những nhân vật được nhân dân trong tổng Nội Duệ - cầu Lim xưa ghi tạc thờ cúng, sử sách biên chép như: Đức thánh Trần, Nguyễn Đình Diễn, Bồ Đề
Ni, các danh thần người quê hương; các công trình xây dựng: Tòa Tam Bảo, dãy hành lang, nhà mẫu, nhà diện, nhà tổ, tháp chuông do chính nhân địa phương
Trang 36kiến tạo nên có cấu trúc đẹp càng tăng cảnh sắc thanh kỳ của núi Hồng Vân như người xưa đã từng đánh giá nhận xét và ghi tạc [40, tr 20]
Núi Lim - chùa Hồng Ân hiện giữ vai trò chứng tích với nhiều sự kiện lịch sử, sự kiện văn hóa đã diễn ra và in dấu trên núi Hồng Vân và ngôi chùa
cổ kính Hồng Ân Tại đây, suốt nhiều thế kỷ qua, núi Lim và chùa Hồng Ân
đã là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân các xã trong tổng Nội Duệ Đồng thời, núi Lim cũng là trung tâm mở hội hát xướng rước bạn, đón chạ và
ca hát Quan họ vào ngày 13 tháng giêng Đó là sinh hoạt văn hóa cộng đồng của nhân dân vùng Lim - trung tâm của miền quê Quan họ đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, được mọi người trong và ngoài nước mền mộ
Nguồn gốc ra đời của lễ hội Lim
Tiên Du là vùng quê có truyền thống khoa bảng, là quê hương của nhiều lễ hội dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Về với Tiên Du vào ngày 13 tháng Giêng hàng năm, du khách có thể tham dự các hoạt động văn hóa Quan họ tại lễ hội vùng Lim của quê hương Bắc Ninh
Không gian lễ hội được tọa lạc trên đồi Lim, bao quanh là các làng xóm
và phố chợ bên tỉnh lộ 295B (xưa là tổng Nội Duệ) nay là thị trấn Lim, các xã Nội Duệ và Liên Bão Đây là một vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương của những danh hiền nổi tiếng như: Lưỡng Quốc Trạng Nguyên: Nguyễn Đăng Đạo, Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo, Tiến sĩ Nguyễn Thiên Tích, Tướng công Nguyễn Đình Diễn, Quận công Phạm Ban… Vào ngày hội, dân các làng thuộc tổng Nội Duệ xưa tổ chức rước từ đình hai xã về đình Lim, từ Nội Duệ
về lăng tướng công Nguyễn Đình Diễn; và tổ chức tế lễ để tỏ lòng biết ơn những người có công với quê hương đã giúp dân sửa sang đình, chùa, khuyến khích học hành, khoa cử, mở mang văn hóa và phát triển kinh tế Đặc biệt, tướng công Nguyễn Đình Diễn người có công chuyển lễ hội Lim từ tháng 8 sang lễ hội hàng tổng vào ngày 13 tháng Giêng hàng năm Ngày nay, trở thành lễ hội Quan họ nổi tiếng của quê hương Bắc Ninh - Kinh Bắc Bên cạnh
Trang 37đó, cũng có giả thuyết cho rằng: Hội Lim có nguồn gốc từ hội chùa, hội hát, liên quan đến tiếng hát của chàng Trương Chi mà dấu xưa để lại là hình vết dòng sông Tiêu Tương khá rõ ở các làng quê vùng Lim Giả thuyết này căn cứ vào truyền thuyết Trương Chi - Mỵ Nương và tính chất, đặc điểm của hội Lim
là lễ hội sinh hoạt văn hóa và ca hát Quan họ
Hội Lim vốn có lịch sử rất lâu đời, và phát triển tới quy mô hội hàng tổng (tổng Nội Duệ) Trên cơ sở lễ hội truyền thống của các làng trong tổng Nội Duệ (bao gồm 6 xã phường: Nội Duệ (Đình Cả và Lộ Bao), Nội Duệ Khánh, Nội Duệ Nam, Lũng Giang, Xuân Ổ và phường hát cửa đình Tiên Du, sau là Duệ Đông) được tổ chức vào mùa thu tháng Tám với nhiều nghi lễ rước, tế lễ và các hoạt động nghệ thuật dân gian hết sức phong phú: hát trống quân, hát chèo, ca trù, hát tuồng và hát Quan họ…
Viên quận công Đỗ Nguyên Thụy - người thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc đã tự hiến nhiều ruộng vườn và tiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa, mở mang hội hè, gìn giữ thuần phong mỹ tục Ông đã quy định lễ nhập tịch cầu phúc vào dịp tháng Giêng hàng năm, theo truyền thống “xuân thu nhị kỳ” Theo quy định này, hai thôn Đình Cả, Lộ Bao và xã Xuân Ổ đến đền Cổ Lũng làm lễ nghênh thần về đình Đình Cả Mỗi thôn, xã đem theo một mâm xôi gà, trầu cau, hương nến để cúng tế, rồi ca hát cho đến hôm làm lễ tống thần Năm nào không mở hội thì vẫn duy trì việc tế lễ ở đền Cổ Lũng, còn việc ca hát dành vào dịp đại lễ Trung thu Như vậy, quận công Đỗ Nguyên Thụy là người có công phát triển từ lễ hội đình tế thần cầu phúc của các làng xã vùng Lim lên lễ hội hàng tổng Nội Duệ vào dịp mùa thu, tháng Tám, với những quy định chung, đồng thời ông cũng chính là người xây dựng bước đầu những lệ tục của lễ hội vào mùa xuân, tháng Giêng
Những quy định về phát triển, đổi mới hội Lim do quận công Đỗ Nguyên Thụy xây dựng được duy trì trong vòng 40 năm Vào nửa sau thế kỷ XVIII, cũng chính người làng Đình Cả, tướng công Nguyễn Đình Diễn lại tiếp
Trang 38tục phát triển và đổi mới hội Lim Ông đã cấp ruộng và tiền cho hàng tổng để chuyển hội hàng tổng từ mùa thu, tháng Tám sang hẳn mùa xuân, tháng Giêng Ông cũng bỏ tiền mua nửa quả núi Hồng Vân (tức núi Lim) để xây lăng mộ của mình trên đỉnh núi Kế đó, bà Mụ Ả, người Nội Duệ Nam, tu ở chùa Hồng Ân (tức chùa Lim) cũng bỏ tiền mua nốt phần còn lại của núi Hồng Vân làm hương hỏa, mở mang chùa Lim và quy định ba năm hàng tổng mở hội một lần tại núi Lim [38, tr.32]
Hội Lim được duy trì trong suốt thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, hội Lim không được mở trong nhiều thập niên cho đến tận những năm sau đổi mới Ngày nay, hội Lim được diễn ra từ ngày 12 - 14 tháng Giêng âm lịch hàng năm
1.2.3 Quá trình diễn ra lễ hội Lim
* Công tác chuẩn bị cho lễ hội
Để chuẩn bị cho lễ hội, Ban Tổ chức lễ hội hàng năm căn cứ vào quy
định truyền thống quyết định: Về thời gian: Lễ hội Lim được tổ chức trong vòng ba ngày từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Giêng hàng năm Về địa điểm:
Tại ba xã thuộc tổng Nội Duệ xưa, nay là thị trấn Lim, xã Nội Duệ và xã Liên Bão Trong đó trung tâm lễ hội là núi Hồng Vân (núi Lim) trị trấn Lim
Lễ hội Lim là một lễ hội lớn không chỉ được biết đến trong phạm vi của một làng, một huyện, một tỉnh mà còn được đông đảo du khách các tỉnh trong
cả nước và cả du khách nước ngoài biết đến Vì vậy, ngay từ những ngày trước Tết âm lịch hàng năm công tác chuẩn bị cho lễ hội Lim đã được tiến hành và được thể hiện rõ nhất là những ngày sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Để chuẩn bị cho lễ hội, Ủy ban nhân dân huyện Tiên Du đã thành lập ra ban chỉ đạo lễ hội là các ban, ngành trong huyện và cơ quan trực tiếp nhất đó chính là phòng Văn hóa thông tin huyện Ủy ban nhân dân huyện Tiên Du giao cho Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổng thể từ nhiều ngày trước đó, kế hoạch
Trang 39phải được Thường vụ Huyện ủy thông qua, đồng thời phải báo cáo lên Ủy ban nhân dân tỉnh và phân công công việc cụ thể đến từng thành viên
Để tuyên truyền về các hoạt động của lễ hội, Ban Tổ chức đã cho in tờ rơi, quảng cáo và làm bốn cụm panô sơ đồ hướng dẫn không gian lễ hội để du khách dễ nhận biết được quy mô của lễ hội Tại khu vực bãi rộng trên đồi Lim trước mặt chùa Hồng Ân là trung tâm của lễ hội, Ban Tổ chức cho dựng những bức trướng lớn tại khu nền lăng cũ tướng Nguyễn Đình Diễn làm nền cảnh cho buổi lễ tế khai mạc hội Sườn đồi dọc theo hai bên đường lên chùa Lim, cho dựng năm lán trại hát Quan họ và một sân khấu lớn dành cho sinh hoạt văn hóa Quan họ Phần ca nhạc Quan họ trên sân khấu và hát giao lưu tại các lán trại do trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Ninh và Trung tâm Văn hóa huyện Tiên Du đảm nhiệm Các lán trại câu lạc thơ, thư pháp và khu vực tổ chức trò chơi Tổ tôm điếm do hội người cao tuổi xã Nội Duệ và thị trấn Lim phụ trách Công tác đảm bảo an ninh trật tự cho lễ hội được giao cho Công an huyện, Ban chỉ huy quân sự huyện Tiên Du và dân quân tự vệ thị trấn Lim
* Diễn biến của lễ hội Lim
Trang 40vẻ Chấm cỗ xong, hạ xuống thụ lộc, từ người có chức quyền đến bạch đinh ai
ai cũng được chia phần Sau ba ngày tế chung ở đình hai xã, mỗi làng về chuẩn bị rước và tế riêng tại đình làng mình
Đám rước hội Lim: Để chuẩn bị cho đám rước, dân làng phải tập luyện
công phu từ nhiều ngày tháng trước đó Rước là công việc chuyển bài vị các
vị thần từ đình hai xã, từ các nghè giáp Đông, Đoài, Nam - Bắc về đình Lim
để làm tế lễ Đám rước không đơn thuần là việc khiêng kiệu, vác cờ, kéo ngựa mà là cuộc diễu hành thể hiện những giá trị thẩm mỹ, biểu dương lực lượng đại diện cho cộng đồng làng xã
Sáng ngày 13 từ rất sớm, các vị trong ban tế của giáp nào đi tế sinh thần tại nghè của giáp ấy Tế xong mọi người ăn uống, sau đó ra đình Lim
Đồ thờ gồm kiệu ngựa, cờ quạt, tàn lọng đều để ở điếm chạ chuẩn bị sẵn sàng cho đám rước Khoảng 8 giờ sáng ngày 13 tháng Giêng đám rước khởi hành
từ đình Lim lên đình hai xã rước Phương Dung công chúa và các vị thần thờ tại ngôi đình này về đình Lim Cũng thời gian ấy, từ đình Lim đám rước toả ra
ba nghè rước này vị thần Đình Lim lúc bấy giờ mới mở, đám rước đi lên đình hai xã cờ không tở ra (quấn lại), chiêng trống không đánh, kiệu ngựa đi bình thường, nghĩa là không đi chậm như sau này rước phụng nghinh Khi đến đình hai xã, các loại tàn lọng, chiêng, trống, đồ bát bửu, chấp kích, gươm trường để ở trước sân đình, riêng ngựa, kiệu để ở bãi chồng kiệu gần đường cái Sau khi tế chủ tế lễ xong, tự tay bưng nồi hương ra đặt lên hương án, buổi rước bắt đầu
Đi đầu là giáo hàng đội và trống hàng đội (tức là trống tiền quân, những người đã từng tham gia đi lính) làm nhiệm vụ dẹp đường Giáo hàng đội có 6 người, đội nón chóp dứa, mặc áo ngắn quần chẽn, thắt lưng nai nịt gọn gàng, chân đi giầy Trước bụng mỗi người gài một chiếc roi, giữa roi sơn đỏ hai đầu sơn vàng, cây giáo làm bằng gỗ sơn son thiếp bạc Cứ hai người đi thành một cặp đôi và đi theo hai hàng dọc, mỗi hàng 3 người Trống hàng đội, do hai