Đạo lý làm người cũng như các nội dung khác trong hệ thống Luật tục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng dân cư, xây dựng tính đoàn kết, điều hòa xã hội và trong v
Trang 1- -
LÒ HẢI YẾN
QUAN NIỆM VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI TRONG LUẬT TỤC THÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG NGƯỜI THÁI
Ở SƠN LA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2- -
LÒ HẢI YẾN
QUAN NIỆM VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI TRONG LUẬT TỤC THÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG NGƯỜI THÁI
Ở SƠN LA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ DUY HOA
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Lê Duy Hoa, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu có liên quan đã được công bố Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Lò Hải Yến
Trang 4Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Sau đại học và các phòng ban khác của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho em được học tập, nghiên cứu tại quý trường Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Triết học đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt thời gian qua
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thư viện tỉnh Sơn La, Thư viện huyện Quỳnh Nhai đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em được nghiên cứu, tìm hiểu trong quá trình thực hiện Luận văn
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến
TS Lê Duy Hoa, cán bộ giảng dạy khoa Triết học, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, là người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Triết học của mình
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ
và động viên tác giả Luận văn trong quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Lò Hải Yến
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8
5 Giả thuyết khoa học 8
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 9
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Cấu trúc Luận văn 9
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của Luận văn 9
Chương 1 : KHÁT QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI VÀ LUẬT TỤC THÁI Ở VIỆT NAM 11
1.1 Người Thái ở Việt Nam và người Thái ở Sơn La hiện nay 11
1.1.1 Lịch sử hình thành, tên gọi, địa bàn cư trú 11
1.1.2 Đặc trưng văn hóa của người Thái 16
1.1.3 Người Thái ở Sơn La hiện nay 22
1.2 Luật tục Thái và quan niệm về đạo làm người trong luật tục Thái 25
1.2.1 Một số khái niệm: luật tục, luật tục Thái và đạo làm người 25
1.2.2 Nội dung của Luật tục Thái 31
1.2.3 Quan niệm về đạo làm người trong Luật tục Thái 34
Chương 2 : ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN NIỆM VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI TRONG LUẬT TỤC THÁI ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA HIỆN NAY 44
2.1 Ảnh hưởng của quan niệm về đạo làm người trong Luật tục Thái đến đời sống vật chất của người Thái ở Sơn La 44
Trang 62.1.2 Ảnh hưởng của quan niệm về đạo làm người trong Luật tục
Thái đến việc phòng ngừa tội phạm 47
2.2 Ảnh hưởng của quan niệm về đạo làm người trong Luật tục Thái đến đời sống tinh thần của người Thái ở Sơn La 52
2.2.1 Ảnh hưởng của quan niệm về đạo làm người trong Luật tục Thái đến giáo dục ý thức học tập, sáng tạo 52
2.2.2 Ảnh hưởng của quan niệm về đạo làm người trong Luật tục Thái đến xây dựng đoàn kết cộng đồng 55
2.2.3 Ảnh hưởng của quan niệm về đạo làm người trong Luật tục Thái đến việc xây dựng hôn nhân, gia đình 58
2.2.4 Ảnh hưởng của quan niệm về đạo làm người trong Luật tục Thái đến việc phòng, chống quan liêu, tham nhũng 61
2.3 Giá trị của quan niệm về đạo làm người trong đời sống người Thái ở Sơn La hiện nay 62
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 72
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang ở trong thế kỷ XXI - thế kỷ của hội nhập và toàn cầu hóa Nước Việt Nam ta cũng không nằm ngoài xu thế đó Mọi mặt của đời sống nước nhà đang biến chuyển và thay đổi mạnh mẽ Trước sức mạnh của sự bùng nổ thông tin, mạng xã hội, du nhập văn hóa đa sắc màu, nền văn hóa của nước ta đang bị đe dọa một cách đáng báo động Vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa, đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số luôn là một vấn đề lớn
và mang tính thời sự Nghị quyết 5, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (Khóa VIII) đã đề ra 10 nhiệm vụ cụ thể nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đặc biệt nhấn
mạnh việc “coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và phát
triển những giá trị mới về văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số”
Văn hóa Thái với sự đa dạng những giá trị văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần của mình, từ lâu đã được biết đến với vai trò là một nền văn hóa lớn, nó còn được coi là văn hóa đại diện cho vùng Tây Bắc Luật tục người Thái, trong đó có đạo lý làm người là một yếu tố cấu thành nên văn hóa Thái Đạo lý làm người cũng như các nội dung khác trong hệ thống Luật tục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng dân cư, xây dựng tính đoàn kết, điều hòa xã hội và trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái Đặc biệt, nó có sức ảnh hưởng to lớn tới sinh hoạt của cộng đồng người Thái nói chung cũng như hình thành hành vi và nhân cách của mỗi cá nhân nói riêng
Đạo lý làm người (đạo làm người) trong văn hóa Việt Nam nói chung không phải là một vấn đề mới, tuy nhiên đạo lý làm người trong Luật tục Thái cũng như những ảnh hưởng hiện tồn của nó đến đời sống của dân tộc Thái hiện nay lại là một vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều
Trang 8Sơn La - xứ sở hoa ban huyền thoại của vùng Tây Bắc nước ta, nơi sinh sống của mười hai dân tộc anh em, trong đó người Thái chiếm đến 54% dân số toàn tỉnh Sơn La - mảnh đất “hòn ngọc ngày mai của Tổ quốc” đang dần thay da đổi thịt với sự vươn mình phát triển trong cả ba mặt trận: Kinh
tế, chính trị, văn hóa Và đúng như tên gọi của ba mặt trận ấy, để phát triển một cách toàn diện thì mặt trận văn hóa, mà đặc biệt là việc gìn giữ, phát huy văn hóa tộc người Thái ở địa phương là một trong những thách thức và yêu cầu cấp bách được đặt ra Đạo lý làm người hay những lệ luật khác trong bản Luật tục Thái cho đến nay vẫn còn ảnh hưởng sâu rộng đến đại bộ phận người Thái nơi đây
Với tư cách là một người con dân tộc Thái cư trú lâu năm tại mảnh đất Sơn La anh hùng.Tác giả tự hào và muốn đóng góp những nghiên cứu của mình vào công cuộc gìn giữ văn hóa Thái nói chung và văn hóa của người Thái ở Sơn La nói riêng Đây không phải là lần đầu tiên tác giả đi nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa dân tộc Thái và mỗi lần nghiên cứu tác giả lại đi sâu vào những khía cạnh mới và hấp dẫn hơn Qua những nghiên cứu của mình tác giả luôn cố gắng thể hiện một cách sinh động nhất bức tranh văn hóa Thái, qua đó thể hiện tình yêu quê hương và dân tộc mình
Với những lý do nêu trên, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “Đạo lý làm người trong Luật tục Thái và ảnh hưởng của nó đến đời sống của người Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay” làm Luận văn Thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Nền văn hóa Tây Bắc (trong đó có tỉnh Sơn La) là nền văn hóa giàu tính cội nguồn, tính bản địa và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Với sự phong phú và sinh động của mình, văn hóa Thái luôn là một chủ đề nghiên cứu hấp dẫn
• Về người Thái ở Việt Nam, người Thái ở Sơn La
Đầu tiên, có thể kể đến cuốn “Dân tộc Thái” của Nguyễn Quang Lập
biên soạn, NXB Kim Đồng năm 2005 Trong đó trình bày một số nét về
Trang 9nguồn gốc, phong tục, tập quán, quan hệ cộng đồng, hôn nhân, tang lễ và ẩm thực của dân tộc Thái
Hay cuốn “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam” của tác giả
Cầm Trọng, NXB Chính trị Quốc Gia năm 2005 đã giới thiệu về văn hóa Thái trong lịch sử Việt Nam, sự phân chia thành các vùng văn hóa và nhóm địa phương, quang cảnh tự nhiên nơi người Thái cư trú và sinh hoạt kinh tế, vấn
đề ăn uống, quan hệ gia đình và một số nét cơ bản về văn hóa phi vật thể của người Thái ở Việt Nam
Cũng một ấn phẩm khác của tác giả Cầm Trọng, đó là “Người Thái ở
Tây Bắc Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội năm 1978 Với nội dung tương tự,
cuốn này nói về những nét đặc trưng về đời sống dân tộc, sự hình thành các nhóm Thái ở Tây Bắc nước ta, về quan hệ kinh tế, xã hội, quá trình biến đổi cách mạng của người Thái từ khi có Đảng lãnh đạo
Ngoài ra, có thể kể đến tác phẩm “Văn hóa Thái - những tri thức dân
gian” của tác giả Đặng Thị Oanh, NXB Thanh niên, 2011, giới thiệu khái
quát về văn hóa của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, đồng thời tìm hiểu tri thức dân gian về hoa ban, cầu thang, nhà sàn cũng như phong tục và tín ngưỡng của người Thái
Nói về lễ hội Kin Pang Then của người Thái, ấn phẩm “Kin Pang Then
của người Thái trắng” của tác giả Đỗ Thị Tấc, NXB Văn hóa dân tộc, năm
2009, giới thiệu cho độc giả về người Thái Trắng, đặc biệt là các loại hình sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh của người Thái và Lễ hội Kin Pang Then
Cuốn “Phong tục tập quán các dân tộc ở Việt Nam” của nhóm tác giả
Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao và Hoàng Văn Trụ, NXB Văn hóa dân tộc (năm 2011) giới thiệu về lễ Tết, tục hội, ẩm thực, hôn nhân, sinh đẻ, đặt tên, tang ma, tín ngưỡng của một số các dân tộc ở Việt Nam, trong đó có dân tộc Thái
Trang 10Hay giáo trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do Trần Quốc Vượng chủ
biên (năm 2008) của NXB Giáo dục trình bày sơ lược về đặc điểm văn hóa Thái vùng Tây Bắc
Ngoài ra còn có công trình “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày,
Nùng, Thái ở Việt Nam” của Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, NXB Khoa học
xã hội (năm 1968) có đề cập tới sự hình thành, phát triển của dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung
Về người Thái ở Sơn La, có thể nhắc đến công trình “Vài nét về người
Thái ở Sơn La” của tác giả Vi Trọng Liên, NXB Văn hóa dân tộc, năm 2002
Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở mức độ trình bày sơ lược về người Thái
ở tỉnh Sơn La như tên gọi, các ngành, lời răn dạy cho con cháu của người Thái ở Sơn La, công trình còn khá sơ lược
Hay Luận văn Thạc sĩ sử học của tác giả Nguyễn Thị Luyến với đề tài
“Đời sống văn hóa dân tộc Thái ở Sơn La” năm 2010 Qua đó tác giả không
những mô tả lại bức tranh về đời sống vật chất, mà còn có cả những nét văn hóa về đời sống tinh thần của người Thái ở tỉnh Sơn La Tuy nhiên, công trình này còn mang tính sơ bộ, phạm vi còn hạn chế, chưa phản ánh được toàn bộ bức tranh văn hóa Thái ở tỉnh Sơn La
Phải kể đến công trình “Văn hóa dân gian người Thái vùng Mộc Châu,
Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La” của tác giả Lò Vũ Vân, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội (năm 2011) Trong đó tác giả đi giới thiệu chung về vùng đất và nguồn gốc của người Thái ở Mộc Châu, Bắc Yên và Phù Yên của tỉnh Sơn
La Công trình còn đề cập đến một vài tín ngưỡng tiêu biểu và các bài ca trong nghi lễ của người Thái trong phạm vi nghiên cứu nhất định
Các công trình và ấn phẩm kể trên là những công trình tiêu biểu về vấn
đề văn hóa Thái ở Việt Nam cũng như văn hóa Thái Sơn La Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình khác
Trang 11• Về Luật tục các dân tộc và Luật tục Thái
Tình hình sưu tầm, nghiên cứu Luật tục ở Việt Nam khá sôi nổi, thành phần các tác giả cũng đa dạng, từ học giả phương Tây cho đến phương Đông
và trong nước
Giữa thế kỷ XX, P.Guilleminnet xuất bản tại Paris tập sách “Luật tục
những bộ lạc Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai ở tỉnh Kon Tum” do Viện Viễn Đông
Bác cổ ấn hành bằng tiếng Pháp năm 1952
Một tác giả nước ngoài khác là Gerbair cũng công bố sưu tập về “Luật tục
của người Xtiêng” trên tạp chí của Viện Viễn Đông Bác cổ vào giữa thế kỷ XX
Cho đến năm 1995, nhóm nghiên cứu trong nước gồm Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu và GS Ngô Đức Thịnh đã giới thiệu tác phẩm song ngữ
Luật tục Ê Đê, NXB Chính trị quốc gia ấn hành (năm 1996)
Sau thành công của công trình, thời gian sau nhiều học giả khác tiếp tục
công bố các công trình như: Luật tục Mơ nông, Luật tục Gia Rai,…
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu về Luật tục của người Tà ÔI, Cơ Tu, Bru - Vân Kiều do nhóm tác giả Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Hồng và
Nguyễn Hữu Thông thực hiện được công bố trong cuốn sách Luật tục của
người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru - Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, NXB
Thuận Hóa, Huế (năm 2001)
Năm 2000, GS Ngô Đức Thịnh và GS Phan Đăng Nhật chủ biên cuốn
Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở
Việt Nam do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia và Ủy ban
Nhân dân tỉnh Đắc Lắc tổ chức tại Buôn Ma Thuột Cuốn Kỷ yếu gồm bốn phần trình bày các vấn đề chung của Luật tục cũng như ảnh hưởng của nó trong một số vấn đề bảo tồn, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên; quản lý
xã hội và văn hóa; và mối tương quan của luật tục với luật pháp
Ngoài công trình trên, đến năm 2003, GS Ngô Đức Thịnh công bố
thêm cuốn Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam” Cuốn sách hệ
Trang 12thống lại một số vấn đề đã và đang đặt ra trong quá trình nghiên cứu luật tục các dân tộc
Một cuốn sách nữa của GS Phan Đăng Nhật cũng đi nghiên cứu vấn đề
Luật tục đó là Luật tục với đời sống, NXB Tư Pháp (năm 2007) Trong đó, tác
giả nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa Luật tục và xã hội; sự khác biệt giữa Luật tục của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và Lệ mường của người Mường
và người Thái ở phía Bắc
Về Luật tục Thái, trong cuốn sách Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc
Thái của các tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Khà Văn Tiến và Tòng
Kim Ân đã bước đầu đi giới thiệu một số “Lệ mường” của người Thái ở Mai Châu, Hòa Bình Nhóm tác giả cũng đi đề cập thêm “Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu” sưu tầm được từ văn bản chép tay
Không thể không kể đến cuốn Luật tục Thái ở Việt Nam của tác giả
Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng do NXB Văn hóa Dân tộc ấn hành năm 1999
Bộ Luật tục được nhà nghiên cứu Cầm Trọng dịch từ bản chữ Thái cổ trong gia phả của họ Cầm ở Sơn La
Gần đây có bộ sách gồm 3 Tập Luật tục các dân tộc thiểu số Việt Nam
của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam do NXB Khoa học xã hội xuất bản năm
2014 Cuốn sách biên soạn khá tỉ mỉ tình hình nghiên cứu về Luật tục nói chung, nội dung được trình bày thành các chương với mục đích đề cập đến từng mối quan hệ trong đời sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số, như: Quan hệ cộng đồng, quan hệ với thủ lĩnh, quan hệ gia đình,…
• Về đạo làm người trong văn hóa Việt Nam và đạo lý làm người trong
văn hóa tộc người
Đạo làm người cũng là một chủ đề được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu bàn luận và đi sâu tìm hiểu Có thể kể đến những công trình tiêu biểu:
Năm 2006, GS Trần Văn Giàu với ấn phẩm Đạo làm người từ Lý
Thường Kiệt đến Hồ Chí Minh do NXB Quân đội nhân dân xuất bản Bài viết
Trang 13tập hợp một số bài tìm hiểu lịch sử tư tưởng Việt Nam về Đạo làm người từ thời Lý Thường Kiệt đến Hồ Chí Minh
Năm 2009, có công trình của nhóm tác giả Nguyễn Thế Kiệt, Phạm Bá
Lượng với tên gọi Đạo làm người trong truyền thống Việt Nam được NXB Lý
luận Chính trị phát hành
Giới thiệu một số bài viết, bài nghiên cứu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, về đạo làm người và học đạo làm người của Bác Hồ trong cuộc sống
chính là nội dung của công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo làm người do
nhóm nghiên cứu Phạm Quang Nghị, Vũ Ngọc Khánh, Hoàng Chí Bảo được NXB Hà Nội phát hành cùng năm 2009
Năm 2011, tác giả Nguyễn Nghĩa Dân với cuốn Đạo làm người trong
tục ngữ ca dao Việt Nam do NXB Thanh niên phát hành Đúng như tên gọi
của nó, phạm vi nghiên cứu của ấn phẩm chính là Đạo làm người trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, mà cụ thể chính là hệ thống ca dao, tục ngữ của dân tộc Việt Nam ta
Và gần đây nhất, Hội thảo Khoa học với chủ đề Đạo làm người trong
văn hóa Việt Nam được Khoa Triết học, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội tổ
chức vào ngày 25 tháng 4 năm 2014 Hội thảo thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, và được minh chứng qua số lượng bài viết, bài nghiên cứu nhận được Hội thảo đã nhận được 55 bài viết tập trung đề cập đến ba vấn đề chính là: Những vấn đề chung về Đạo làm người; Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam; Giáo dục Đạo làm người trong bối cảnh hiện nay Một số bài viết tiêu
biểu như: Đạo làm người qua cổ mẫu văn hóa của GS.TS Lê Huy Bắc; Đạo
làm người trong phong tục và nghi lễ cổ truyền Việt Nam của PGS.TS Phạm
Văn Chín; Thuần phong mỹ tục về tình yêu và hôn nhân của một dân tộc thiểu
số ở miền núi phía Bắc của PGS.TS Trần Mạnh Tiến; Gia đình và việc giáo dục Đạo làm người cho trẻ em Việt Nam hiện nay của TS Hoàng Thúc Lân;…
Trang 14Về đạo lý làm người của người Thái, tác giả có tìm đọc Lời răn người
do tác giả Hoàng Trần Nghịch sưu tầm và tuyển dịch được NXB Văn hóa Dân tộc xuất bản năm 1993 Cuốn sách gồm 121 trang với các câu Tục ngữ, thành ngữ Thái về xã hội và sản xuất
Nhìn vào tổng quan lịch sử nghiên cứu của vấn đề, có thể thấy rằng Đạo
lý làm người không phải là một vấn đề mới, tuy nhiên Đạo lý làm người trong Luật tục của một dân tộc có số dân đông thứ 3 cả nước (số liệu Tổng điều tra dân sô và nhà ở năm 2009) như dân tộc Thái thì lại là một vấn đề còn rất mới
mẻ và giá trị bởi nó chính là một yếu tố cấu thành nên nét đẹp của Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam Hơn nữa, ngoài nghiên cứu về Đạo làm người trong Luật tục Thái, Luận văn còn muốn đi tìm hiểu ảnh hưởng của nó đến đời sống của người Thái tại tỉnh Sơn La hiện nay - nơi mà số người Thái tại tỉnh chiếm đến 36,9% tổng số người Thái ở Việt Nam (số liệu năm 2009)
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung chính của Quan niệm về Đạo làm người trong Luật tục Thái, Luận Văn đi làm rõ những ảnh hưởng của nó đến đời sống thực tế của người Thái ở Sơn La hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Luật tục Thái ở Việt Nam và những ảnh hưởng hiện tồn của nó
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đạo lý làm người trong Luật tục Thái và ảnh hưởng của những nội
dung đó đến đời sống người Thái ở tỉnh Sơn La
5 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình nghiên cứu về Đạo lý làm người trong Luật tục Thái, tác giả nhận thấy nó còn ảnh hưởng đến đời sống của người Thái ở tỉnh Sơn
La Vì vậy, tác giả đưa ra giả thuyết: Đạo lý làm người trong Luật tục Thái có ảnh hưởng đến một số mặt trong đời sống của người Thái ở Sơn La
Trang 156 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích mà Luận văn đã đề ra, tác giả cần thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Một là, làm rõ nội dung của Đạo lý làm người trong Luật tục Thái Hai là, khảo sát mức độ và phạm vi ảnh hưởng của Đạo lý làm người
trong Luật tục Thái với đời sống của người Thái Sơn La
Ba là, từ việc nhận định được những ảnh hưởng nêu trên, tác giả có thể
đưa ra một số biện pháp bảo tồn văn hóa Thái ở địa phương
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sự ảnh hưởng của Đạo lý làm người trong Luật tục Thái đến đời sống của người Thái ở Sơn La Phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định ở một số địa bàn có người Thái cư trú mang tính điển hình trong tỉnh như: Thành phố Sơn La, huyện Quỳnh Nhai (ngành Thái Trắng) và huyện Thuận Châu, huyện Mai Sơn (ngành Thái Đen)
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chú trọng kết hợp các phương pháp: logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, khát quát hóa, điền rã, so sánh và khảo cứu,…
9 Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm hai chương, năm tiết
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của Luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản của Luận văn
- Khái quát về dân tộc Thái và luật tục Thái ở Việt Nam
- Ảnh hưởng của quan niệm về Đạo làm người trong Luật tục Thái đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Thái ở Sơn La hiện nay
Trang 16- Giá trị của quan niệm về Đạo làm người trong đời sống của người Thái ở Sơn La hiện nay
10.2 Đóng góp mới của Luận văn
Về mặt lý luận, Luận văn làm rõ những nội dung của Đạo lý làm người trong Luật tục Thái
Về mặt thực tiễn, Luận văn sẽ làm rõ những ảnh hưởng của Đạo lý làm người trong Luật tục Thái đến đời sống của người Thái ở địa phương mình đang cư trú Từ đó, đưa ra được một số biện pháp nâng cao hiệu quả giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người Thái tại địa phương
Luận văn cũng có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho những tác giả nghiên cứu về Đạo lý làm người, về Luật tục Thái và về đời sống văn hóa của người Thái ở Sơn La sau này
Trang 17Chương 1 KHÁT QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI
VÀ LUẬT TỤC THÁI Ở VIỆT NAM
1.1 Người Thái ở Việt Nam và người Thái ở Sơn La hiện nay
1.1.1 Lịch sử hình thành, tên gọi, địa bàn cư trú
Người Thái có bề dày lịch sử với hơn 1200 năm Họ cư trú ở khắp 63 tỉnh thành trên cả nước và đặc biệt là ở vùng Tây Bắc Việt Nam Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về vấn đề này đều tiếp cận theo hướng người Thái trên thế giới có chung một nguồn gốc Biểu hiện rõ nhất là thông qua ngôn ngữ, văn hóa Người Thái ở Việt Nam, xét về góc độ lịch sử tộc người được các nhà khoa học xác định có chung nguồn gốc với người Thái trên thế giới, hay rộng hơn là những người cùng ngữ hệ Thái nói chung
Những nghiên cứu về tập Quam tô mương của tác giả Đặng Nghiêm Vạn trong Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái như sau: “Đối với việc
thiên di và định cư của các nhóm Thái kể trên trong thời kỳ cổ xưa hiện còn thiếu những tài liệu đáng tin cậy Có thể trong thiên niên kỷ thứ I trước Công nguyên, tổ tiên họ bắt nguồn từ các nhóm Việt sinh tụ chủ yếu ở miền Nam sông Dương Tử (thuộc ba tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu) tách khỏi ngành phía Đông thiên di theo hướng tây - nam vào miền nam tỉnh Vân Nam
và miền tây Đông Nam Á theo dọc các con sông lớn đổ xuống châu thổ miền Đông Nam Á và những chi nhánh của các con sông đó Cùng lúc đó họ gặp phải cuộc thiên di của các nhóm tổ tiên các cư dân thuộc ngôn ngữ Tạng - Miến từ miền Trung Á và tây Trung Quốc tràn về Các bộ phận Tạng - Miến qua các đời thường phân bố chủ yếu ở phía tây và tây bắc; còn các bộ tộc Thái cổ phân bố ở phía nam và đông nam Ở miền này, tổ tiên người Thái cổ cộng cư với tổ tiên các dân tộc Môn - Khơme Đến thế kỷ thứ V sau Công
Trang 18nguyên, họ đã lập được một loạt “nhà nước” suốt từ thượng lưu sông Irauadi, sông Saluen, sông Mê kông tới tận miền giáp giới tỉnh Vân Nam, thượng Lào
và miền tây bắc Vân Nam Những “nhà nước” này nối liền với khu vực người đồng tộc của họ ở miền Lưỡng Quảng, Quý Châu, Hồ Nam và miền Việt Bắc (Việt Nam)” [43, tr.23]
Các tài liệu trong chính sử Trung Quốc đều chứng minh rằng vùng nam Vân Nam, miền Thượng Miến, Thượng Lào, Tây Bắc Bắc Bộ, từ đời Đường
có thể từ Tần Hán là nơi cư trú của tổ tiên người Thái Tập Quam tô mương
cũng góp phần xác minh vấn đề này Các huyền thoại và các truyền thuyết xưa đều ghi nhận quê hương xưa của người Thái trước khi di cư vào Tây Bắc
là ở miền “chín con sông gặp nhau” tức là miền các con sông Hồng (Nặm Tạo), sông Đà (Nặm Te) sông Mã (Nặm Ma), sông Mê kông (Nặm Không), Nặm U, Nặm Núa, Nặm Na và hai con sông chưa xác minh được ở Trung
Quốc Quan tô mương còn nhắc đến Mường Ôm, Mường Ai, Mường Lò,
Mường Bo Te… Mường Ôm, Mường Ai là vùng hai châu Hoàng Nham và
Tùng Lăng (Vân Nam) Trong cuốn Hưng Hóa xứ phong thổ lục của Hoàng
Bình Chính chép năm 1778, tác giả cho Mường Ôm (hay Mường Am) là tên gọi châu Hoàng Nham Hoàng Nham ở trên Tùng Lăng cách Lai Châu một tháng đường đi
Như vậy là ở miền Tây Nam Trung Quốc, tây bắc Đông Dương và một phần nhỏ Tây Bắc Việt Nam, người Thái đã cư trú ở đó vào những năm thuộc thiên niên kỷ thứ I trước Công nguyên Ở Tây Bắc Việt Nam, số lượng người Thái chắc chưa nhiều, vì đó là đất đai chủ yếu của các cư dân Môn Khơme và các cư dân Nam Á khác Trong các truyền thuyết của người Thái đều ghi nhận hồi đó có “555 giống Xá (chỉ các thổ dân Môn Khơme và các cư dân Nam Á khác) và 333 giống Thái”
Hiện nay cũng rất khó đoán định thời gian cụ thể có mặt của những
người Thái cổ ít ỏi kể trên ở Tây Bắc Tập Quam tô mương nói tới khi Lạng
Trang 19Chượng tiến quân vào Mường Thanh (Điện Biên) và đến đời tạo Cằm tạo Chiêu, cháu năm và sáu đời của Lạng Chượng (thế kỷ thứ XIII), người Thái Trắng đã làm chủ Mường Lay Như vậy tất họ phải có mặt ở đây sớm hơn Ở vùng ven sông Hồng và có thể bên hữu ngạn sông Đà, họ đến trước người Thái Đen vì trong hành trình tiến quân vào Tây Bắc, Lạng Chượng, một tù trưởng Thái Đen, đã gặp các tù trưởng người Thái Trắng ở dọc đường Bộ phận này sau phát triển thế lực sang các vùng như Quỳnh Nhai(Sơn La), Mường Tè (Lai Châu) qua Mường Lò, Mường Tấc tức Phù Yên (Sơn La) và một bộ phận xuống Đà Bắc (Hà Sơn Bình)” [43, tr.23-27]
Cùng hướng với nghiên cứu trên của tác giả Đặng Nghiêm Vạn, theo
David Wyatt, trong cuốn Thailand: A short history, người Thái xuất xứ từ
phía nam Trung Quốc, có cùng nguồn gốc với các nhóm dân ít người bây giờ như Choang, Tày, Nùng Dưới sức ép của người Hán và người Việt ở phía đông và bắc, người Thái dần di cư về phía nam và tây nam Người Thái di cư đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13 Trung tâm của họ khi
đó là Điện Biên Phủ (Mường Thanh) Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi ở Đông Nam
Á bây giờ như Lào, Thái Lan, Bang Shan ở Miến Điện và một số vùng ở đông bắc Ấn Độ cũng như nam Vân Nam Theo sử sách Việt Nam, thời nhà Lý, đạo Đà Giang, man Ngưu Hống (tức người Thái) đến từ Vân Nam, đã triều cống lần đầu tiên vào năm 1067
Nằm trong cộng đồng ngôn ngữ Tày - Thái, người Thái ở Việt Nam có khoảng trên 60 vạn người phần lớn ở các tỉnh Hoàng Liên Sơn, qua Lai Châu, Sơn La, Hà Sơn Bình đến miền núi 2 tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Ở bên Lào, người Thái sinh sống rất đông xen lẫn với người Lào và nằm trong khối cộng đồng Lào Lum (người Lào ở thấp) Họ bao gồm nhiều ngành và mỗi ngành lại chia làm nhiều nhóm với những tên gọi khác nhau tùy theo từng địa phương Chỉ kể riêng ở Tây Bắc Việt Nam có những nhóm sau:
Trang 20- Thái Đen: cư trú chủ yếu ở tỉnh Sơn La, Hoàng Liên Sơn (Văn Chấn, Than Uyên) và Lai Châu (Điện Biên, Tuần Giáo) Nhóm địa phương tự nhận
mình là Tay Đăm (Thái Đen) có: Tay Mường Vạt (Tay Vạt) ở huyện Yên
Châu tỉnh Sơn La, người có tên Tay Thanh (Tay Nhại)
- Thái Trắng: Nhóm địa phương tự nhận tên Tay Đón thì có ở huyện
Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La, các huyện Mường Lai, Phong Thổ, Mường Tè tỉnh Lai Châu Ở vùng Văn Bàn, Dương Quỳ thuộc Hoàng Liên Sơn có một số Thái Trắng đã chịu ảnh hưởng đậm của văn hóa Tày Ở Sa Pa, Bắc Hà những nhóm gốc Thái Trắng nay đã Tày hóa
Một nhóm khác tự nhận tên Tay Khao cư trú chủ yếu ở Mộc Châu (Sơn
La), Mai Châu (Hà Sơn Bình) gần với một nhóm ở hai tỉnh miền núi Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh
Cho đến nay, địa bàn cư trú của người Thái ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở hai vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ; vùng Tây Bắc gồm các tỉnh Sơn
La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình; vùng Bắc Trung Bộ bao gồm hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa Ngoài ra, do chủ trương về định canh, định cư và di cư tự do, một số tỉnh miền Trung Tây Nguyên cũng có đồng bào Thái cư trú tập trung hoặc xen kẽ vào các dân tộc khác
Người Thái cư trú thành các bản làng và có thể thấy cộng đồng dân tộc Thái ở Việt Nam khá đông đảo và phân bố trên cả nước Họ chia thành nhiều ngành, nhóm tùy theo địa phương, phong tục tập quán, trang phục,… Trong
đó phải kể đến 3 nhóm Thái chính, là:
Nhóm Thái Đen (Tay Đăm) cư trú ở khu vực tỉnh Sơn La và Điện Biên (Mương La và Mương Then) Các nhóm Tày Thanh, Tày Mười, Tày Khăng ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An từ mạn Tây Bắc chuyển xuống khoảng ba trăm năm và bị ảnh hưởng bởi văn hóa và nhân chủng của cư dân địa phương
và Lào Nhóm Tày Thanh từ Mường Thanh (Điện Biên) đi qua Lào vào
Trang 21Thanh Hóa và tới Nghệ An định cư cách đây hơn hai trăm năm, nhóm này gần gũi với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởng văn hóa Lào Dân số của nhóm Thái Đen tại Việt Nam năm 2002 ước tỉnh khoảng 699.000 trong tổng số 763.950 người Thái Đen trên thế giới Ngoài ra, còn tới khoảng 50.000 người Thái Đen sinh sống tại Khăm Moan (Lào) và 10.000 người Thái Đen (theo phân loại của Trung Quốc) sinh sống tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và 700 người Thái Đen sinh sống tại Thái Lan
Nhóm Thái Trắng (Tay Đón hay Tay Khao) cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, Điện Biên và một số huyện thuộc tỉnh Sơn La Ở Đà Bắc (Hòa Bình),
có nhóm tự nhận là Tay Đón, được gọi là Thổ Một số Thái Trắng ở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai nay đã chịu ảnh hưởng đậm văn hóa Tày Ở Sa Pa, Bắc
Hà, nhiều nhóm Thái Trắng cũng đã bị Tày hóa Người Thái Trắng có mặt ở dọc hữu ngạn sông Hồng và các tỉnh Điện Biên, Lai Châu từ thế kỷ XIII và làm chủ Mường Lay (thuộc huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên ngày nay) Thế kỷ
XV, một bộ phận người Thái di cư xuống Đà Bắc và Thanh Hóa Dân số của nhóm Thái Trắng tại Việt Nam năm 2002 ước tính khoảng 280.000 người trong tổng số 490.000 người Thái Trắng trên toàn thế giới Người Thái Trắng tại Lào
là khoảng 200.000 người, tại Vân Nam (Trung Quốc) là 10.000 người
Nhóm Thái Đỏ cư trú chủ yếu ở một số huyện như Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hòa Bình) và các huyện miền núi Thanh Hóa, Nghệ An Theo số liệu năm 2002, dân số Thái Đỏ tại Việt Nam ước tính khoảng 140.000 người trong tổng số 165.000 trên toàn thế giới Ngoài ra, còn có khoảng 25.000 người Thái Đỏ sinh sống tại tỉnh Sầm Nưa (Lào)
Ngoài ba nhóm chính kể trên, còn có một số nhóm Thái có dân số ít hoặc chưa được phân định rõ ràng như Tay Mười (Thái Quỳ Châu) chỉ khoảng 300 người Tay Mường (Thái Hàng Tổng) có khoảng 10.000 người,
Tay Thanh có khoảng 20.000 người, Phu Thai với 209.000 người,…
Trang 22Ngoài ra còn có chừng 20.000 người Thái gốc Việt Nam sinh sống tại
nước ngoài, chủ yếu là Pháp và Hoa Kỳ
Như vậy, dù được rất nhiều nhà nghiên cứu sưu tầm và với những bằng chứng lịch sử thu thập được, chúng ta có thể khẳng định người Thái là một tộc người với lịch sử lâu đời Từ khi mới xuất hiện sau cuộc thiên di lịch sử từ vùng Xíp Xong Păn Na (Trung Quốc) cho đến khi phát triển ở Việt Nam, ra các nước Thái Lan, Lào,…, hay tỉnh Sơn La nói riêng, người Thái đã không ngừng sáng tạo ra những nét văn hóa của cộng đồng mình, để lại cả một kho tàng văn hóa lịch sử đồ sộ và giá trị
1.1.2 Đặc trưng văn hóa của người Thái
Nổi tiếng là nền văn hóa lớn, đặc trưng của vùng Tây Bắc, văn hóa Thái đã thể hiện sự đa dạng của mình trong các mặt như sau:
Về hình thái kinh tế, người Thái có phương thức canh tác khá đặc
trưng Họ canh tác ở các thửa ruộng trong các thung lũng lòng chảo, với đặc trưng dẫn thủy nhập điền (theo thành ngữ Thái: Mương, Phai, Lái, Lin) và sử dụng các công cụ sản xuất thành thạo Trước đây, người Thái nói chung chỉ làm nương một vụ (cấy vào tháng 5, tháng 6 Âm lịch) Nhưng từ khi bà con cùng góp ruộng làm chung trong hợp tác xã thì bắt đầu canh tác trong hai vụ:
vụ chiêm và vụ mùa Trong đó, vụ mùa là vụ lúa chính; còn vụ chiêm là sự tận dụng đất để làm Ngoài việc làm ruộng nương, người Thái còn chăn nuôi, chủ yếu là các loại gia cầm như gà, vịt và các loại gia súc như trâu, bò, lợn,… Các gia đình người Thái còn làm các nghề phụ như đan lát, dệt vải, thêu thùa,
Về văn hóa vật chất, người Thái ở nhà sàn làm bằng gỗ, tre lợp bằng
gianh hoặc ngói Đây là một công trình kiến trúc tài hoa, thể hiện trình độ sáng tạo và sự phát triển trong tư duy về kiến trúc của người Thái Nhà sàn Thái thể hiện sự hài hòa giữa các yếu tố: Thiên - Địa - Nhân Hiện nay, tuy nhà sàn Thái có nhiều sự thay đổi theo hướng hiện đại, tính thẩm mỹ cao,
Trang 23nhưng những nét văn hóa cổ truyền, độc đáo trong nhà sàn Thái thì vẫn được gìn giữ
Từ xưa cho đến nay, giao thông đi lại của người Thái vẫn diễn ra trên
cả đường bộ và đường sông Các phương tiện và hình thức đi lại của họ cũng khá phong phú và có nét sáng tạo, thể hiện trong nghề đóng thuyền của người Thái Trước đây, người ta làm cầu tre, cầu gỗ bắc ngang qua suối Cầu tre của người Thái là những mảnh gỗ, cây tre ghép lại, có khi chỉ là một cái thân cây rất đơn giản Ngoài ra, trên đường bộ người ta còn dùng trâu, ngựa lợi dụng sức kéo để thồ hàng hóa
Trên đường sông, người ta đi lại bằng thuyền bè, người Thái học hỏi được cách làm thuyền độc mộc từ người Xinh Mun, người Kháng Thuyền độc mộc là phương tiện vận chuyển con người và các sản phẩm khác qua sông suối trong mùa lũ Người ta làm thuyền độc mộc bằng những công cụ và
kỹ thuật rất đơn giản, truyền thống là đục, đẽo Tuy nhiên, hiện nay nghề làm thuyền độc mộc cũng mai một dần, thay vào đó là nghề đóng thuyền, có sự tiến bộ hơn về kỹ thuật và hiệu quả sử dụng được nâng lên
Trên đường bộ, có đường ô tô đường từ huyện về đến địa phương đang hoàn thiện phục vụ cho vận chuyển hàng hóa và đi lại Ngoài đường bộ, đường thủy cũng đang rất phát triển
Các nhóm Thái có trang phục về cơ bản giống nhau Trong đó trang phục của nữ giới mang những nét rất đặc trưng cho từng nhóm
Thái Trắng: Áo của phụ nữ ăn mặc hàng ngày là xửa cỏm (áo cóm) Áo
cóm của người con gái Thái thường là màu trắng hoặc là những vải có hoa văn to Áo có thể may cộc tay hoặc dài tay, cổ áo là cổ chữ V, phía sau áo phần vai bả vai được chít thêm cho vừa vặn với người, nhìn chiếc áo được
phẳng, đẹp (nẻm xở) Phía trước ngực, dọc cổ áo đi xuống là hai hàng cúc bạc, gắn với truyền thuyết về câu chuyện tình giữa Khun Lú - Nàng Ủa Xửa cỏm
Trang 24được mặc với váy (xỉn) Xưa kia thì váy của người Thái làm từ vải nhuộm
chàm, nhưng bây giờ có thể bằng vải xa tanh, vải nhung Bộ trang phục
truyền thống của phụ nữ Thái còn có xửa luông (áo dài) Áo dài được khoác bên ngoài bộ xửa cỏm và xỉn Áo dài thường được phụ nữ Thái mặc vào
những dịp Lễ hội, cưới hỏi, đám ma Ngoài ra phụ kiện của phụ nữ Thái còn
có thắt lưng, nón, xà tích, hoa tai, vòng cổ, vòng tay Trang phục của nam Thái Trắng lại đơn giản hơn trang phục của nữ và có phần giống với trang phục truyền thống của nam Thái Đen Áo nam thường là áo may từ vải nhuộm chàm và được may dài tay, khuy áo được làm từ vải nút lại Áo không
có hoa văn trang trí nào Ngày xưa, đàn ông còn cuốn khăn vải trắng trên đầu, tục này đã được bỏ khá lâu
Thái Đen: cũng như Thái Trắng, trang phục phụ nữ Thái Đen cũng cầu
kỳ hơn trang phục của đàn ông Xửa cỏm của người Thái Đen thường may từ vải màu đen, cũng có cả những màu sắc khác Điểm khác của xửa cỏm Thái
Đen so với của Thái Trắng là cổ áo của họ cao hơn và ôm sát lấy cổ Theo quan niệm của họ cổ áo cao như vậy là để khi về nhà chồng thì áo của người con gái được kín đáo Phụ kiện phân biệt rõ nhất giữa Thái Đen và Thái Trắng
là Thái Đen có thêm chiếc khăn Piêu Khăn Piêu là vật dụng “cầm tay” của cô gái Thái Con gái Thái đến 10-12 tuổi đã bắt đầu tập thêu khăn Piêu Khăn Piêu được thêu với nhiều họa tiết, hoa văn hình thù khác nhau Trang phục nam của Thái Đen giống với của Thái Trắng Chỉ có điều trước đây cúc của
họ không phải cúc vải mà là cúc đồng
Nhìn chung, trang phục của người Thái gọn, không cầu kỳ Khi vận váy, áo làm nổi bật đường nét của cơ thể phái đẹp thật hấp dẫn Màu sắc được
sử dụng rất khéo, tạo được sự nổi bật
Thức ăn chính của đồng bào Thái là gạo nếp đồ xôi, nay có nơi dùng thêm cơm tẻ Dùng kèm xôi còn có rau và cá (nổi bật với một số loại rau
Trang 25rừng) Đồng bào ưa các món ăn từ cá, ếch và nhái Một số loại côn trùng như: ong non, trứng kiến, châu chấu, bọ xít non hay dế mèn cùng trở thành thức ăn trong bữa cơm Người Thái cũng ưa chế biến các món ăn theo cách đồ (hấp cách thủy) thay vì luộc Các vị chủ đạo trong bữa ăn được người Thái ưa thích
là chua, đắng, cay, chát,… Họ hay ăn sống hoặc tái với các loại gia vị khác nhau Một số món ăn nổi tiếng của người Thái như: Mắm cá chua, xôi ngũ sắc, thịt gác bếp, rêu sông hay một số món nộm rau rừng,… Đặc biệt, linh hồn
trong bữa ăn người Thái đó chính là món Chéo Chéo hay Chẩm chéo là món nước chấm của người Thái, được làm khá cầu kỳ, có rất nhiều loại Chéo phù
hợp với từng món ăn hoặc được đặt theo tên gọi của nguyên liệu chính trong
món Chéo đó
Về quan hệ xã hội, bản mường là đơn vị hành chính nhỏ được hình
thành trong quá lịch sử phát triển của nhiều dân tộc, trong đó có dân tộc Thái Người Thái thường cư trú ở ven sườn đồi, các thung lũng Bản của họ thường tựa lưng vào núi, nhìn ra sông suối, phiêng bãi Bản nhỏ thường có từ 5-7 hộ dân, nhưng bản lớn có thể có đến trên 20 hộ Đứng đầu bản thường là người thuộc dòng họ quý tộc Sở dĩ như vậy vì những nghi thức, nghi lễ chung của bản thường phải do người đứng đầu quyết định Các hộ dân trong bản, mường thì thường có quan hệ thân thích, thân tộc với nhau Đặc biệt, trong quan niệm của người Thái thì người chết cũng có bản Tên gọi “mường” hiện nay trở nên hiếm hơn Trong lịch sử người Thái ở Sơn La có những “mường” như:
Mường La, Mường Muổi, Mường Tấc Mường là đơn vị kinh tế - xã hội
trên bản, là đơn vị tổ chức xã hội dựa trên cộng đồng lãnh thổ và mang những nét đặc trưng của cộng đồng người Thái ở nước ta
Xã hội Thái cổ truyền có sự phân chia đẳng cấp rất rõ ràng: quý tộc, những người có chức dịch cấp cao với nông dân gồm nông dân tự do và gia
nô Về quan hệ dòng họ gia đình, người Thái có ba quan hệ về họ hàng, đó là:
Trang 26Ải - nọong (anh - em), nhính - sao (vợ - chồng), lúng ta (quan hệ với bên nhà
vợ - anh, em bên ngoại) Trong gia đình người Thái, chế độ phụ quyền chi phối mọi hoạt động, người phụ nữ Thái ở địa vị thấp kém hơn người nam, không được tham gia quyết định việc gia đình mà chủ yếu là nội trợ và sinh con đẻ cái Sau giải phóng, quan hệ trong gia đình người Thái cũng có nhiều thay đổi, phụ nữ được đảm bảo quyền bình đẳng, được tự do đi lại và tham gia các công việc chung của gia đình cũng như toàn xã hội
Chuyện hôn nhân trong xã hội người Thái xưa nói chung và người Thái
ở Sơn La nói riêng đều chung một điểm đó là cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy Ở
đây, hôn nhân giữa hai người nam và nữ không phải là kết quả của tình yêu
mà dựa trên sự gán ghép của hai họ theo sự phù hợp về đẳng cấp, địa vị của gia đình Bởi vậy, hôn nhân người Thái cũng thể hiện một sự phân chia đẳng cấp nghiệt ngã Ngoài ra, phong tục cưới xin của người Thái xưa kia còn rất cầu kỳ và nhiều hủ tục Người Thái có tục ở rể, tục mua dâu thách cưới, và rất nhiều thủ tục khác khi tổ chức lễ cưới Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển chung của xã hội hiện đại, một số thủ tục rườm rà cơ bản những khoản chi phí
vô nghĩa đã lược bỏ bớt trong lễ cưới xin
Về tôn giáo, tín ngưỡng, Tín ngưỡng dân gian có ảnh hưởng đến đời
sống xã hội của đại bộ phận người Thái “Do sinh sống bằng nông nghiệp trong điều kiện còn phụ thuộc vào thiên nhiên, khoa học còn kém phát triển, người Thái tin rằng các lực lượng siêu nhiên quyết định số phận của họ” [41, tr.32] Ngay từ thuở sơ khai, con người đã sống dựa vào tự nhiên, thời tiết, khí hậu Cuộc sống con người bị tự nhiên và các thế lực siêu nhiên chi phối Như vậy, người Thái đã sớm có những tư duy sơ khai về vũ trụ, về thế giới Trong quan niệm về thế giới, người Thái cho rằng có thế giới của người
âm và người dương; trần sao thì âm vậy, người chết đi thì sẽ về Mường Trời, Mường Ma Với quan niệm vạn vật hữu linh, các bản làng người Thái còn thờ
Trang 27phụng và tổ chức các lễ tế cầu mùa màng, bình an với Thần Sông, Thần Núi, Thần Nước, (Tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La có đền thờ Linh Sơn Thủy
Từ - thờ Thần Sông, Thần Núi) Trong Thế giới, người ta quan niệm có nhiều
loại Phi (ma), có cả ma lành và ma ác Ngoài quan niệm về Phi (ma), người Thái còn quan niệm về Khoăn (hồn) Con người không thể nhìn thấy khoăn
(hồn), tất cả mọi người ai cũng có khoăn (hồn)
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng là một trong những hình thức tín ngưỡng dân gian điển hình của người Thái Việc thờ cúng tổ tiên là thể hiện sự tôn kính của con cháu với ông bà, cha mẹ đã mất, mong tổ tiên sẽ phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, thành đạt, làm ăn phát tài Như vậy, có thể thấy người Thái ứng xử một cách hài hòa giữa người sống và người đã mất, giữa con người với vạn vật xung quanh luôn biết giữ gìn, vun đắp để vạn vật tồn tại, phát triển, đồng hành với cuộc sống của mình
Về văn nghệ dân gian, với lịch sử phát triển lâu đời cùng với 53 dân tộc
anh em còn lại trên dải đất Việt Nam, người Thái đã góp một phần không nhỏ vào kho tàng văn hóa chung của dân tộc Việt Nam Người Thái có chữ viết từ rất sớm, chữ Thái cổ có lịch sử hơn 2000 năm Cư dân Thái đã lưu lại bằng chữ viết của mình những cuốn sử sách, những bộ luật, luật tục, các nghi lễ, lời răn dạy con cháu, những bản trường ca, truyện thơ, sử thi, dài hàng trăm trang
Có thể thấy, vốn văn nghệ cổ truyền của người Thái vô cùng phong phú Với tác động của lịch sử, quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, những tri thức về chữ Thái đã bị mai một nhiều Hiện nay, ở các địa phương có người Thái sinh sống, đặc biệt là tỉnh Sơn La, ở một số trường học trong tỉnh đã bước đầu cho dạy học chữ Thái từ bậc tiểu học Ngoài ra, ở một số cơ quan,
tổ chức cũng cử cán bộ, nhân viên học chữ Thái nhằm giữ gìn, phát huy văn hóa cổ truyền của địa phương
Trang 28Hát là một hình thức sinh hoạt không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của người Thái Lời hát của người Thái bắt nguồn từ những lời thơ khác nhau Mỗi truyện thơ có một làn điệu khác nhau Những truyện thơ nổi tiếng như:
sử thi Táy Pú Xấc, truyện thơ Khun Lú, Nàng Ủa, đặc biệt là truyện thơ nổi tiếng Xống chụ xon xao, “Kháp báo sao” giao duyên trên Hạn Khuống, là
nơi mà trai gái có dịp gặp gỡ, tìm hiểu nhau
Người Thái còn nổi tiếng với những điệu Xòe Thái Múa xòe thể hiện
sự đoàn kết, gắn bó tập thể Xòe Thái có từ rất lâu rồi, những đêm hội xòe với bếp lửa hồng ở giữa, những cái tay nắm chặt tay, chân đưa theo nhịp dưới ánh trăng khiến cho lễ hội trở nên hấp dẫn, độc đáo Những cô gái Thái trẻ trung, xinh xắn, rực rỡ bên bộ trang phục truyền thống của họ, những động tác, thướt tha, nhẹ nhàng
1.1.3 Người Thái ở Sơn La hiện nay
Tỉnh Sơn La là một trong những cái nôi của văn hóa Thái, một vùng nước non hùng vĩ và tươi đẹp, đồng thời cũng là mảnh đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng
Sơn La nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, phía Bắc giáp hai tỉnh Yên Bái, Lào Cai; phía Đông giáp Hòa Bình và Phú Thọ; phía Tây giáp Lai Châu
và Điện Biên; phía Nam giáp với tỉnh Thanh Hóa; phía Tây Nam giáp với tỉnh Luông Pha Bang (CHDCND Lào) Diện tích tự nhiên của Sơn La là 14.055
km2, chiếm 4,27% diện tích cả nước
Những dấu tích về sự cư trú, khai thiên lập địa của con người xuất hiện
ở Sơn La từ rất sớm Tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La hiện nay còn có Di chỉ Khảo cổ học Mái đá bản Mòn Đây là di tích ghi lại dấu ấn văn hóa cổ xưa nhất từ thuở bình minh của loài người được tìm thấy ở Sơn La
do nữ học giả người Pháp bà M.Côlani phát hiện và khai quật năm 1927 Qua
đó khẳng định dấu tích sinh sống của người Việt cổ trên đất Sơn La
Trang 29Có thể nhận định, Sơn La là địa danh có lịch sử hình thành và phát triển
từ thuở hồng hoang Thời Hùng Vương dựng nước, Sơn La thuộc bộ Tân Hưng Sau đó đến thời Lý, vùng đất này thuộc đạo Lâm Tây Qua một thời gian có tên gọi đạo Đà Giang Đến năm 1397, dưới triều Trần, Sơn La nằm trong trấn Thiên Hưng Đây là thời kì đồng bào các dân tộc cùng chung sức khai sơn, phá thạch, dựng nên nhiều châu, mường (Mường Muổi, Mường Tấc, Mường Sang, Mường Vạt,…) Đến thời kì Pháp thuộc, ngày 24 tháng 5 năm
1886, Tổng trú sứ Trung - Bắc Kỳ ra Nghị định chuyển Châu Sơn La thành đơn vị hành chính cấp tỉnh do viên Công sứ Pháp điều hành Trong thời kỳ này, Sơn La nhiều lần bị thực dân Pháp hợp lại cùng Lai Châu, Nghĩa Lộ thành một Tiểu quân khu, khi lại chia ra thành các Tiểu quân khu Sau cách mạng tháng Tám và trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Sơn
La lần lượt thuộc các chiến khu: Chiến khu II, Liên khu Việt Bắc, Liên khu X, Liên khu XIV và khu Tây Bắc Ngày 24 tháng 12 năm 1962, tỉnh Sơn La chính thức được tái lập Cho đến nay, tỉnh Sơn La bao gồm 1 thành phố và 11 huyện với 12 dân tộc cùng sinh sống Có thể kể đến một số di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng của tỉnh Sơn La trong các thời kì kháng chiến như: Di tích lịch sử Nhà tù Sơn La, Khu căn cứ Mộc Hạ (huyện Mộc Châu), Cây đa Pắc Ma (huyện Quỳnh Nhai), Đồn Mường Chiến (huyện Mường La), Bia căm thù (huyện Mộc Châu), Cầu Sắt Yên Châu (huyện Yên Châu),…
Lịch sử đấu tranh cách mạng của tỉnh Sơn La gắn liền với tinh thần cách mạng, đấu tranh kiên cường và đoàn kết một lòng của 12 dân tộc anh
em, trong đó có dân tộc Thái Người Thái - theo dòng lịch sử thiên di của mình, đã sớm có mặt tại Sơn La
Người Thái ở Sơn La có cùng chung nguồn gốc với cộng đồng người Thái trên Thế giới và người Thái ở Việt Nam nói riêng Dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung chia làm hai nhánh là Thái Đen (Tay đăm) và Thái Trắng
Trang 30(Tay đón, Tay khao) Trong tác phẩm ‘Vài nét về người Thái ở Sơn La’, nhà
nghiên cứu Vi Trọng Liên đã đưa ra một số thông tin về tên gọi, các ngành Thái,… ở Sơn La như sau: Về ‘Tên tự gọi: Tay, Phủ Tay, Côn Tay, Chựa sai Tay Các ngành: Tay đăm (ngành đen), Tay đón - Tay khao (ngành trắng) Hệ ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái’ [14, tr.12] Tác giả Vi Trọng Liên cũng khẳng định lịch sử người Thái ở Sơn La căn cứ theo câu chuyện
lịch sử Quam tô mương của người Thái và chính từ những kết luận của các
nhà khoa học, Thái học, người Thái ở Sơn La có cội nguồn ở vùng Đông Nam
Á và tổ tiên của họ đã có mặt và thiết lập bản mường ở Sơn La từ rất xa xưa
Họ là tộc người có tỉ lệ dân số đông đúc nhất ở Sơn La (chiếm 53,2% dân số toàn tỉnh - Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009), thường cư trú dọc theo sông Đà, ven thung lũng nhỏ, với nghề trồng lúa nước, chăn nuôi, dệt vải Cộng đồng dân tộc Thái ở Sơn La khá đông đảo, họ cư trú thành các bản làng và phân bố trên toàn tỉnh Thống kê tính đến ngày 28/02/2017 của Ban dân tộc tỉnh Sơn La, dân số người Thái tại tỉnh Sơn La là 658.836 người, chiếm 53,7% dân số toàn tỉnh Họ phân chia thành nhiều ngành, nhóm tùy theo địa phương, phong tục tập quán, trang phục,…‘Nhìn qua trang phục của nam và nữ để phân biệt và nhận biết thuộc ngành nào Thái Trắng ở huyện Phù Yên, Bắc Yên, Mộc Châu và Quỳnh Nhai Trước đây, hầu hết chị em phụ
nữ đều mặc áo cóm trắng, đội khăn trắng, thắt lưng trắng bằng vải sợi Thái Đen ở các huyện Yên Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu, Mường La, Thị
xã Sơn La Hầu hết nam giới đều mặc quần áo chàm đen, phụ nữ đội khăn piêu màu sặc sỡ Khi có chồng, người phụ nữ Thái Đen ‘Tẳng cẩu’ (búi tóc ngược), còn phụ nữ Thái Trắng thì không tẳng cẩu’ [14, tr.13]
Các dòng họ tiêu biểu của người Thái ở Sơn La có thể kể đến: họ Xa (Mộc Châu), họ Hoàng (Yên Châu), họ Cầm (Mai Sơn), họ Cầm (Phù Yên),
họ Bạc (Thuận Châu), họ Điêu (Quỳnh Nhai)
Trang 31Nhìn chung, về sinh hoạt vật chất như ăn, ở, đi lại,…và sinh hoạt tinh thần như phong tục cưới xin - tang ma, các lễ nghi, lễ hội,… cũng như cơ cấu
tổ chức xã hội, bản mường của người Thái ở Sơn La có nhiều điểm tương đồng với người Thái ở Việt Nam nói chung và vùng Tây Bắc nói riêng
Những thông tin này đã được đề cập đến ở mục 1.1.2 Hiện nay, xã hội Thái
đã có nhiều thay đổi so với trước cách mạng Cơ cấu xã hội bản mường cũ đã
bị phá vỡ, các tầng lớp trong xã hội xưa với những đặc quyền, đặc lợi riêng đã
bị xóa bỏ, chính quyền cách mạng được hình thành, đem lại quyền bình đẳng,
tự do, quyền làm chủ cho nhân dân Bộ mặt cuộc sống mới được hình thành trên khắp các bản mường người Thái không chỉ riêng ở Sơn La Cho đến nay, phần lớn những nét đẹp trong văn hóa Thái vẫn được giữ gìn và bảo tồn, nhiều lễ nghi, phong tục, nếp sống vẫn tồn tại song hành với nhịp sống mới
1.2 Luật tục Thái và quan niệm về đạo làm người trong luật tục Thái
1.2.1 Một số khái niệm: luật tục, luật tục Thái và đạo làm người
Luật pháp là một hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt
ra, có tính quy phạm phổ biến, tính xác định chặt chẽ và tính bắt buộc chung
Luật pháp ra đời gắn với sự ra đời của Nhà nước
Trong thời kì cộng sản nguyên thủy, tuy chưa có sự tồn tại của nhà nước, hay nói cách khác, trong xã hội chưa có pháp luật, thì trong các xã hội tiền Nhà nước luật tục giữ vai trò thống trị và duy trì trật tự Đối với Việt
Nam, từ dân tộc đa số là người Việt cũng có hình thức luật tục (gọi là hương
ước) và các dân tộc thiểu số khác đều có luật tục của riêng mình để điều chỉnh
các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng tộc người
Tuy còn nhiều ý kiến về khái niệm luật tục, nhưng cơ bản được thống
nhất thành một khái niệm trong từ điển luật học như sau: ‘Luật tục là những
quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc do các cộng đồng làng xã xây dựng nên và được truyền từ đời này sang đời khác’’ [2, tr.528] Luật tục có thể tồn
Trang 32tại bằng truyền miệng hoặc được ghi chép thành văn bản Văn bản luật tục có
thể được xây dựng đơn giản như hương ước hay được trình bày dưới dạng bộ
luật như Luật tục Ê đê gồm 11 chương và 236 điều Khác với tập quán thông thường, luật tục có tính chất bắt buộc, luật tục là pháp luật của cả một cộng đồng dân tộc thiểu số hay cộng đồng làng xã
Giữa luật tục và pháp luật cũng có những điểm giống và khác nhau Về
sự tương đồng, luật tục và luật pháp đều có cùng mục đích là tạo ra sự ổn định
và trật tự xã hội, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và định hướng hành vi, nhân cách của con người trong xã hội theo khuôn mẫu chung Các nội dung điều chỉnh của luật tục và luật pháp đều xoay quanh ba mặt: kinh tế, chính trị
và xã hội Cơ cấu và tính chất của luật tục và luật pháp đều có những quy định, chế tài các quan niệm về tội phạm,… Cả luật tục và luật pháp đều được
thực thi trong sự kết hợp với: đạo đức, dư luận, thiết chế Về sự khác biệt, luật
tục mang tính quy định riêng của một cộng đồng hẹp, còn luật pháp mang tính quy định chung, phổ quát Luật tục thể hiện ý chí chung và sự đồng thuận của
cả bản, làng còn luật pháp mang tính áp đặt và bắt buộc của giai cấp thống trị với toàn xã hội Luật tục hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, là sự đúc kết kinh nghiệm của nhiều thế hệ để đi đến sự đồng thuận chung, còn luật pháp có thể mỗi thời kì một khác, mỗi nhà nước lại có một luật pháp riêng tùy theo ý kiến chủ quan của giai cấp thống trị Về cơ cấu, luật tục mang tính mềm dẻo hơn, chủ yếu là răn đe, giáo dục còn luật pháp có những chế tài cụ thể, chi tiết hơn với các hình thức phạt tù, tử hình, trái lại luật tục không có hình thức nhà tù, chủ yếu là phạt vạ và dùng dư luận xã hội
Luật tục và pháp luật tuy có những điểm giống và khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ, mối tương quan với nhau Mối quan hệ đó vừa làm phong phú thêm pháp luật lại vừa phát huy được vai trò, sự bổ sung, hoàn thiện của pháp luật với những hạn chế của luật tục, mà ở đây chính là luật tục người Thái
Trang 33Luật tục hay tập quán pháp là một hiện tượng xã hội phổ biến của nhân loại thời kì phát triển tiền công nghiệp và còn tồn tại đến ngày nay ở nhiều tộc người, phổ biến nhất Châu Á và Châu Phi Luật tục như một kho tàng tri thức bản địa về ứng xử và quản lý cộng đồng, nó đã sớm được các nhà sử học, văn hóa học, dân tộc học,… quan tâm nghiên cứu
Cũng giống như người Việt, Luật tục của người Thái cũng được văn
bản hóa và thường được gọi với tên Hịt khoong (Hịt khoong bản mường), mà
khi dịch ra tiếng Việt có lúc là ‘Phong tục tập quán’, ‘Lệ tục’, ‘Lệ’, thậm chí
là ‘Luật’ nữa [43, tr.34] Cuốn ‘Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái’ do
Đặng Nghiêm Vạn chủ biên là công trình khoa học đầu tiên đề cập đến Luật
tục Thái Hầu như mỗi mường của người Thái xa xưa đều có bản Luật lệ bản
mường, tức là những quy định chung về ranh giới mường, về hệ thống bộ máy
quản lý, về quyền sở hữu, về hôn nhân gia đình, về nghi lễ và hội hè, về tội phạm và các hình thức xét xử trừng phạt,…
Một hình thức nữa của người Thái mang tính chất như là một Lệ tục
hay phong tục, đó là các quy định về hành vi của mỗi cá nhân (Quam son côn
- Lời răn người - Đạo lý làm người), các quy định về tang ma, cưới xin, các
nghi lễ cúng bái,… Ở những phần này, yếu tố ‘tục’, ‘lệ’ nổi rõ hơn là ‘luật’
Như vậy, có thể nói, Luật tục Thái là hệ thống những văn bản thành văn mang tính chất bắt buộc, có từ lâu đời, được hình thành trong lịch sử sơ khai của cộng đồng người Thái ở Việt Nam Luật tục Thái bao gồm hai bộ phận hợp thành, đó là các Luật của bản mường và các Lệ tục của đời sống mỗi con người và cộng đồng, hợp thành Luật tục của dân tộc Thái Đến nay, tuy chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về Luật tục Thái ở vùng Tây Bắc Việt Nam nói chung hay Luật tục Thái ở Sơn La nói riêng, mà các công trình nghiên cứu quanh vấn đề Luật tục Thái chủ yếu dựa vào các văn bản chép tay được để lại từ xưa Trong cuốn ‘Luật tục Thái ở Việt Nam’, tác giả Ngô Đức
Trang 34Thịnh và Cầm Trọng đã hệ thống tình hình các văn bản Luật tục Thái ở Việt Nam như sau:
- Bản ‘Lệ luật người Thái Đen ở Thuận Châu’: Bản này được dịch từ bản chép tay sao lại của cụ Lò Văn Sôn, từ bản chép tay của cụ Lường Văn Hơn
- Bản ‘Luật lệ bản mường’ của mường Mụa (Mai Sơn - Sơn La), một trong những trung tâm quan trọng nhất của người Thái Đen ở Tây Bắc Bản này được công bố đầu tiên, từ bản chép tay bằng chữ Thái cổ, lưu trữ ở Ban dân tộc Khu ủy Tây Bắc là dịch từ bản chép tay của cụ Cầm Văn Oai (1870-1933) là một thủ lĩnh và nhà thơ nổi tiếng người Thái ở Mường Mụa (Mai Sơn)
- Bản ‘Luật Mường’ (Hịt khoong bản mường) là bản luật tục duy nhất
không có phần chữ Thái cổ kèm theo, được trích nguyên văn trong phần ‘lai lịch dòng họ Hà Công’ của công trình do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên
- Bản ‘Tục lệ cưới xin của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam’: là bản ghi chép từ các lời hát, lời kể truyền miệng trong dân gian do hai soạn giả Cầm Trọng và Ngô Đức Thịnh sưu tầm
- Bản ‘Tục lệ tang ma của người Thái Đen’ do ông Liêm Phính (Thuận Châu - Sơn La) viết bằng chữ Thái cải tiến
- Phần ‘Đạo lý làm người’ (Quam son côn): một phần trong cuốn ‘Luật
tục Thái ở Việt Nam’ được tách từ bản chép tay từ bản ‘Luật lệ bản mường’ của cụ Cầm Văn Oai
Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu liên quan đến luật tục Thái, tác giả rút ra một số đặc điểm về luật tục Thái như sau:
Thứ nhất, Luật tục Thái là hình thức phát triển cao của phong tục, tục lệ
dân tộc Thái và là hình thức sơ khai của pháp luật hiện nay Nó phù hợp với
xã hội tiền công nghiệp và phù hợp với từng nhóm người, nhóm địa phương
cụ thể Các luật tục của dân tộc nói chung đều có đặc điểm này
Thứ hai, Luật tục Thái tồn tại dưới hai dạng: Luật Mường và những tục
lệ liên quan đến cưới xin, ma chay, tang lễ Luật Mường được coi như cơ sở
Trang 35bắt buộc chính thức để điều hành mọi hoạt động của bản, mường Luật Mường đề cập đến các vấn đề: Lai lịch Mường, ranh giới Mường, bộ máy quản lý Mường và quyền lợi của các chức dịch; nghĩa vụ quyền lợi của người dân; việc tổ chức các nghi lễ; quy định về thưởng phạt liên quan đến quan hệ
sở hữu, hôn nhân và gia đình, việc xâm phạm thân thể, các phong tục tập quán,… Luật tục người Thái còn bao gồm các đạo lý và phong tục như các câu châm ngôn về đạo làm người, tục lệ cưới xin, tang ma,… Phần này yếu tố
‘luật’ mờ nhạt mà chủ yếu là các ‘tục’, các đạo lý
Thứ ba, Khác với hương ước làng Việt chỉ có giá trị trong một làng thì
Luật tục Thái có thể có giá trị với cả mường, cả vùng thậm chí cả một đồng tộc Trong Luật tục Thái có một phần quan trọng dành cho việc răn dạy đạo
lý, có tựa đề là Quam son côn nghĩa là đạo lý làm người, riêng phần này có ý
nghĩa áp dụng với toàn cộng đồng người Thái
Thứ tư, Luật tục người Thái thiên về răn đe, giáo dục, phòng ngừa là
chính, tuy cả hình thức tử hình (nhưng rất ít), nếu có thì trước khi áp dụng hình thức tử hình đã tiến hành các hình thức giáo dục từ thấp đến cao Chẳng hạn, trong Luật Mường, luật lệ định ra có ba loại người phải tử hình, đó là: Người ăn cướp (loại người này không có các hình thức giáo dục); Người hay
hớt lẻo, xỏ xiên, tội nhỏ thì bắt, tội to thì giết; Người ngỗ nghịch (côn ngàn),
lần đầu thì mắng, mắng không chừa thì đánh, đánh không chừa thì bắt, bắt không chừa thì giết
Thứ năm, Luật tục Thái là luật của xã hội phong kiến sơ kỳ của người Thái
với quyền lực cao nhất là an nha (chúa đất) An nha là lãnh chúa phong kiến của một vùng đất tương ứng với một châu của nước ta thời phong kiến An nha cai
quản nhiều bản mường với các chức dịch được tổ chức một cách chặt chẽ
Thứ sáu, Luật tục Thái quan tâm đến việc xử lý các mối quan hệ xã hội
Cùng với đó là việc xử lý các mối quan hệ gia đình, dòng họ Luật tục Thái
Trang 36còn tìm cách xử lý những mối quan hệ giữa xã hội con người với xã hội linh thiêng Có thể thấy điều đó ở nhiều cộng đồng người trên thế giới Luật tục của người theo đạo Kitô được thể hiện trong Kinh Thánh, Luật tục của người theo đạo Hồi được thể hiện trong Kinh Coran Qua đó có thể thấy Luật tục không chỉ quan tâm đến các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác mà còn giữa con người với thế giới tâm linh
Cũng như các dân tộc khác, Luật tục của người Thái là tấm gương phản chiếu nhiều mặt của đời sống: Môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội, thế giới trần tục và thế giới linh thiêng, quan hệ sản xuất và phân phối, quan
hệ ứng xử trong gia đình và dòng họ, tổ chức chính trị xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, luật pháp và đạo đức,… Tuy xã hội Thái đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX vẫn còn ở trình độ phong kiến sơ kỳ, xong bộ máy trong xã hội đó cũng
đã sớm thống nhất và thuộc vào hệ thống bộ máy Nhà nước Đại Việt Với những sắc thái độc đáo của mình, người Thái cũng đã sớm ý thức rất rõ rằng mình thuộc cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Về khái niệm đạo làm người, theo Từ điển Hán Việt, ‘đạo’ được hiểu
‘là dẫn, đưa’, ‘đưa đường, chỉ dẫn, chỉ bảo’, là thông suốt không bị ngăn
trở’ ‘Đạo đức’ được hiểu là chỉ chung những điều dựa theo lẽ phải và nết tốt của con người, mà ai cũng phải theo để sống có ý nghĩa Theo Từ điển Tiếng
Việt của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ‘đạo’ được định nghĩa là ‘đường đi’;
‘đạo làm người’ là ‘đường lối phải noi theo’ Từ điển Tiếng Việt của tác giả Đăng Khoa - Thúy Uyên xuất bản năm 2001 định nghĩa ‘đạo lý’ là ‘lẽ phải, lẽ
hợp với đạo đức’ Có rất nhiều lý tưởng, nguyên tắc cũng như cách định nghĩa
về ‘đạo’, ‘đạo lý’, nhưng tất cả đều có chung một nền tảng cơ bản là dựa trên
cái thiện, trong sáng, lành mạnh, chân chính để mưu cầu hạnh phúc và bình an
cho con người Như vậy, có thể rút ra định nghĩa về đạo làm người, đạo làm
người chính là những nguyên tắc, quy tắc dựa trên chuẩn mực chung của xã
Trang 37hội, những lời răn dạy về cách sống, cách đối nhân xử thế giữa con người với
xã hội và giữa con người với chính con người, nó vừa mang tính bắt buộc vừa mang tính chuẩn mực
Trong lịch sử nhân loại, có không ít trường phái triết học cũng như các tôn giáo đã nghiên cứu và khẳng định vai trò của đạo làm người với đời sống
xã hội Các trường phái triết học hay các tôn giáo đều có quan điểm chung là khuyên con người dù tồn tại ở bất kỳ xã hội nào, thời đại nào cũng phải thực hiện đạo làm người để trở thành những công dân tốt, có ích cho cộng đồng, cho
xã hội, thực hiện tốt vai trò, bổn phận đối với quốc gia, cộng đồng, dân tộc
Quan niệm về đạo làm người của người Thái thực chất là những câu tục ngữ, thành ngữ được đúc kết từ xa xưa, cho đến hiện tại vẫn còn những giá trị
to lớn, ảnh hưởng đến lối sống của người Thái ở Sơn La nói riêng và người Thái trên khắp Tổ quốc Việt Nam nói chung
1.2.2 Nội dung của Luật tục Thái
Luật tục Thái là lệ luật của xã hội người Thái trong thời kì phong kiến
sơ kỳ Nó đề cập tới các vấn đề khác nhau của đời sống tộc người Thái, liên quan quan tới cộng đồng mà trước nhất là cộng đồng bản, mường và đời sống
cá nhân mỗi con người trong cộng đồng tộc người đó Như đã nói ở trên, luật tục Thái bao gồm hai phần: Luật Mường và các lệ tục liên quan đến đạo đức,
lễ nghi, các phong tục ma chay, cưới xin
Về phần luật mường, có đến ba văn bản luật mường được sưu tầm, đó
là: Luật mường (Mai Châu), Luật lệ người Thái Đen ở Thuận Châu và Luật lệ
bản mường (Mường Mụa - Mai Sơn) Các văn bản luật mường này có độ dài
ngắn khác nhau, cùng đề cập đến một số vấn đề chung của cộng đồng mường, tuy nhiên mỗi bộ luật mường này cũng có những sắc thái riêng
Trong ba bộ luật mường kể trên thì hai bộ luật của Mường Mụa - Mai Sơn và Thuận Châu đều để những trang đầu tiên nói về gốc tích và dòng dõi
Trang 38của mường và giới quý tộc mường Chẳng hạn, Luật lệ người Thái Đen ở
Thuận Châu mở đầu như sau: ‘Ngày xưa người Thái Đen ở đất Hán, đưa nhau
xuống ‘ăn’ Mường Lò Mường bản đầy người, Mường Lò trở nên ‘chật nơi
ăn, hẹp nơi ở’ Còn bộ Luật lệ bản mường (Mường Mụa - Mai Sơn) thì dành hẳn 22 điều đầu tiên để kể chuyện bản mường, bắt đầu từ gốc Lạng Chượng ở
đất Mường Lò qua nhiều đời đến Cầm Thạch (Cầm Văn Oai) cùng ba người con trai làm chủ đất Mường Mụa vào những năm 30 đến 60 của thế kỷ này, tức các chúa đất cuối cùng của Mường Mụa
Các bộ luật mường đều có mục ranh giới mường, tức là xác lập quyền
sở hữu về lãnh thổ của mường mà chúa đất cai quản Ngoài ra, luật mường
của người Thái còn nói về tạo dựng quan lại, chức dịch và bổng lộc mà họ
được hưởng (đặc biệt ở hai bộ luật Mường Mụa - Mai Sơn và luật mường của
Thái Đen Thuận Châu) Qua đây, có thể thấy được diện mạo tầng lớp trong xã hội người Thái trước đây Vấn đề cơ cấu quyền lực kèm theo những quyền lợi
về vật chất và tinh thần rất được quan tâm cho thấy các chức dịch cấu thành nên một bộ phận quý tộc, thống trị xã hội và có sự phân biệt rõ ràng với đại
đa số nông dân tự do và nông nô
Cũng giống như hương ước làng Việt, các bộ luật tục của người Thái rất chú ý tới các phong tục, nghi lễ ở phạm vi toàn mường, bản cũng như ở mỗi gia đình Trong ba văn bản luật mường kể trên đều đề cập đến nghi lễ và phong tục, tuy nhiên trong luật mường của Thái Đen Thuận Châu vấn đề này được quy định chi tiết và hệ thống hơn cả Chẳng hạn, bộ luật dành các điều
từ 138 đến 1650 quy định các chức quan trong phòng cúng lễ và lệ luật cũng
ở Mường Muổi (Thuận Châu) Bộ luật còn quy định rõ các nghi lễ được tổ chức trong năm, quy định về việc thu chi các khoản chi phí cho các nghi lễ
đó Ngoài ra, luật mường Thái Đen Thuận Châu còn có những điều luật về cúng lễ trong mỗi gia đình người Thái
Trang 39Nếu luật lệ Mường Mụa - Mai Sơn và luật mường Thuận Châu dành phần lớn các điều luật cho việc trình bày lai lịch bản mường, ranh giới mường, hệ thống quan lại, chức dịch và các quyền lợi của họ cũng như các nghi lễ,… thì ở bộ luật mường Mai Châu các vấn đề trên ít hay không được
đề cập tới mà nhằm vào quy định về các điều cấm và hình thức xử phạt đối
với những người vi phạm các điều cấm đó Có lẽ đây là bộ luật quy định chi
tiết và kỹ lưỡng nhất về các mối quan hệ cộng đồng, một trong những lĩnh vực cơ bản nhất đảm bảo sự cân bằng trong sinh hoạt của người dân trong bản, mường Chẳng hạn, trong luật mường Mai Châu, trước khi trình bày 17 hình thức phạm tội và hình phạt, người ta dành hẳn phần đầu tiên nói về 47 loại người trong mường Đó là các loại người: ăn trên, ăn cướp, ăn hiếp, người hay kiện tụng, người hám của, người dại khờ, người xỏ xiên, người lười biếng, người hớt lẻo, người khoác lác, người gan dạ, người nhân từ,… trong quan niệm của người Thái, tất cả 47 loại người này có thể chia thành hai loại: người tốt và kẻ xấu, cũng như thái độ của cộng đồng (thông qua luật tục) đối với từng loại người như thế nào Đây chính là nét độc đáo trong quan niệm dân gian, vừa mang tính đạo đức ứng xử và phần nào mang tính pháp luật Ngoài ra, Luật Mường Mai Châu còn trình bày điều luật về 17 lĩnh vực
khác nhau, trong đó luật về ăn cắp và luật trộm yêu là hai lĩnh vực được quy
định một cách kỹ lưỡng và chi tiết nhất
Về phần lệ tục các nghi lễ và ứng xử, trong cuốn ‘Luật tục Thái ở Việt
Nam’ của nhóm tác giả Cầm Trọng và Ngô Đức Thịnh có đề cập đến các văn
bản lệ tục về đạo lý làm người, tang ma và cưới xin của người Thái
Phần đạo làm người là tập hợp các câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, câu nói cửa miệng dưới dạng văn bản với mục đích giáo dục và hướng dẫn ứng xử của con người Đây là phần ít mang tính ‘luật’, thậm chí cả tính ‘tục lệ’, mà thuần túy chỉ là các quy ước, chuẩn mực ứng xử cá nhân Tuy nhiên, nếu các
Trang 40quy ước, chuẩn mực ứng xử cá nhân này mà giải quyết tốt, thì sẽ nuôi dưỡng nền tảng đạo đức để khuyến khích cái thiện, hạn chế cái xấu, cái ác Đây cũng chính là nét đặc trưng quan trọng nhất của luật tục để phân biệt với pháp luật, mà việc phát huy những ảnh hưởng của nó vào đời sống hiện nay chính là góp phần bảo tồn văn hóa Thái và điều hòa các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng
Phần tục lệ cưới xin, văn bản luật tục tiêu biểu đề cập đến tục lệ này là
‘Tục lệ cưới xin của người Thái Đen ở Tây Bắc’ Văn bản tục lệ cưới xin này
gồm hai phần: Tạo lấy vợ và trai gái họ dân lấy vợ chồng, trong đó phần cưới xin của dòng họ Tạo được trình bày rất kỹ lưỡng, chi tiết và được coi như tập
tục cưới xin tiêu biểu của người Thái Còn tục cưới xin của dòng họ dân chỉ trình bày giản lược
Phần tục lệ tang ma, trong tác phẩm ‘Luật tục Thái ở Việt Nam’, nhóm
soạn giả Cầm Trọng và Ngô Đức Thịnh có đề cập đến hai văn bản tục lệ tang
ma tương ứng với hai ngành Thái tiêu biểu ở nước ta, đó là: Tục lệ tang ma của người Thái Đen và Tục lệ tang ma của người Thái Trắng Bản ‘Tục lệ tang ma của người Thái Đen’ được trình bày khá chi tiết, các nghi thức tang lễ được trình bày theo thứ tự từng ngày, từ ngày thứ nhất tới ngày thứ 5, 6 kết
thúc tang lễ Ngày đầu tiễn là ‘Ngày thức ma dậy - Ngay quàn’ Ngày thứ hai
với nghi thức ‘Ngày đón rể’ và con trai đọc bài khóc tiễn đưa hồn Ngày thứ
ba là ngày đưa thi thể người chết ra khỏi nhà để vào rừng thiêng Ngày thứ tư được gọi là ‘Ngày đưa’ Ngày thứ năm và sáu của nghi lễ diễn ra những nghi
lễ còn lại của lễ tang ‘Tục lệ tang ma của người Thái Trắng’ không trình bày các bước nghi lễ tang ma như của người Thái Đen, mà chỉ là hai bài hát kể:
Khóc điếu và Phân chia các hồn
1.2.3 Quan niệm về đạo làm người trong Luật tục Thái
Trong cuốn ‘Luật tục Thái ở Việt Nam’, phần đạo làm người được
nhóm tác giả của cuốn sách đề cập đến thực chất là những sưu tập, những ghi