Thực trạng các bất cập, hạn chế trong quá trình phát triển văn hoá của thành phố Đà Nẵng thời gian qua cần được các giới, các ngành, các cấp quan tâm, bàn luận, nghiên cứu, mạnh dạn đề x
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Những ý kiến khoa học trong luận văn chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đà Nẵng, ngày 25 tháng 02 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Hồng Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ 10
1.1 Khái niệm công cụ 10 1.2 Chu trình chính sách phát triển văn hóa và việc xác định vấn đề chính sách phát triển văn hoá 13 1.3 Đặc điểm và những nhân tố tác động đến chính sách phát triển văn hoá 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG, BAN HÀNH, THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 1997-2015 24
2.1 Các nhân tố chủ yếu tác động và tình hình thực hiện chính sách phát triển văn hoá ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2015 24 2.2 Thực trạng và nguyên nhân của các vấn đề chính sách phát triển văn hoá đặt ra từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2015 44
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC PHÁT HIỆN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 63
3.1 Mục tiêu về chính sách phát triển văn hoá của thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, tầm nhìn 2030 63 3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực phát hiện và đề xuất các vấn đề chính sách phát triển văn hoá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian sắp tới 64
KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTƢ : Ban Chấp hành Trung ƣơng
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CSVH : Chính sách văn hoá
NQTƢ5 KVIII : Nghị quyết Trung ƣơng 5 khoá VIII
VH, TT&DL : Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới ngày càng nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của văn hoá, cũng như CSVH đối với sự phát triển bền vững đất nước
Ở Việt Nam, từ những nhận thức đó, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm và đề ra nhiều chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá NQTƯ5 KVIII “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã ghi nhận một bước tiến mới về việc nhận thức vai trò của văn hóa, chính sách phát triển văn hóa đối với sự nghiệp phát triển đất nước Trong suốt hơn 15 năm sau khi NQTƯ5 KVIII được ban hành, nhiều CSVH đã ra đời góp phần phát triển văn hóa nước nhà và những CSVH
đó không những tạo điều kiện để người dân có cơ hội sáng tạo văn hóa, mà còn mở rộng mức hưởng thụ văn hoá cho người dân, góp phần phát triển con người Việt Nam một cách toàn diện
Quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn hoá, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng hết sức quan tâm lĩnh vực quan trọng này và những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội của thành phố thời gian qua có một phần đóng góp không nhỏ
từ các CSVH hiệu quả mang lại Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu thì việc hoạch định và triển khai thực hiện những CSVH của thành phố thời gian qua vẫn tồn tại không ít những bất cập, hạn chế tác động xấu đến các lĩnh vực của đời sống xã hội và trong chính lĩnh vực văn hoá, cần ban hành những chính sách để giải quyết Trong số các vấn đề chính sách phát triển văn hoá từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng thời gian qua có thể thấy nổi bật lên hai vấn đề chính sách: Văn hoá thành phố vẫn chưa được đầu tư phát triển tương xứng
Trang 8với kinh tế và nhu cầu thụ hưởng của người dân, ĐTH đã làm biến đổi mạnh
mẽ văn hoá và lối sống của cư dân Đà Nẵng
Thực trạng các bất cập, hạn chế trong quá trình phát triển văn hoá của thành phố Đà Nẵng thời gian qua cần được các giới, các ngành, các cấp quan tâm, bàn luận, nghiên cứu, mạnh dạn đề xuất các vấn đề chính sách nhằm sửa đổi, bổ sung những CSVH bất cập, không còn phù hợp, kịp thời đề ra những CSVH mới đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu của sự phát triển bền vững Từ
những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Vấn đề chính sách phát triển văn
hoá từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn chính sách công là xuất
phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế và có ý nghĩa thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, phạm trù chính sách công, CSVH còn khá mới mẻ vì thế những công trình nghiên cứu về đối tượng này chưa nhiều Hơn nữa, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập tới vấn đề chính sách phát triển văn hóa, đặc biệt
là từ thực tiễn một địa phương, cụ thể là thành phố Đà Nẵng Có thể khái quát
một số công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:
2.1 Nghiên cứu về chính sách công
- Công trình Tìm hiểu về khoa học chính sách công (NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1999) của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa
học chính trị và cuốn Đại cương về chính sách công (NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2013) do Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hoà (Đồng chủ biên) là hai trong nhiều công trình mà tôi tiếp cận để tìm hiểu một cách khái quát về khoa học chính sách công ở khía cạnh lịch sử, khái niệm, bản chất
- Công trình Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách
(NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2001) của Lê Chi Mai đã đưa ra những quan niệm về khái niệm, bản chất, vai trò chính sách công
Trang 9được chấp nhận rộng rãi Công trình này cũng đã chỉ ra các bước của quy trình chính sách công, từ xây dựng đến triển khai chính sách
- Trong bài Đánh giá chính sách công ở Việt Nam: Vấn đề và giải pháp
(trên Tạp chí Cộng sản online, ngày 17-12-2012), Nguyễn Đăng Thành đã phân tích một khâu quan trọng của quy trình chính sách, đó là đánh giá chính sách Trên cơ sở đó, tác giả nhận diện vấn đề chính sách và đề xuất giải pháp
- Trong Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, niên khoá 2011-2013, tài liệu Phân tích chính sách công: Nhập môn, Chương 3: Cấu trúc các vấn
đề chính sách của William N Dunn đã giới thiệu bản chất, đặc điểm, cấu trúc
vấn đề chính sách Đây là một trong những nguồn tài liệu mà tác giả luận văn tham khảo để xây dựng phần cơ sở lý luận
2.2 Nghiên cứu về chính sách phát triển văn hóa
Thực tế có khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá, nhưng nghiên cứu ở khía cạnh CSVH thì không nhiều, còn nghiên cứu về vấn đề chính sách phát triển văn hoá thì hầu như không có:
- Trong công trình Phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011-2020: Những vấn đề phương pháp luận (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009),
Phạm Duy Đức đã bàn đến các vấn đề phương pháp luận nghiên cứu, thực trạng và giải pháp để phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020 căn cứ từ Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 của nước ta với những định hướng và nhiệm vụ được xác định cụ thể
- Cuốn Chính sách văn hoá (Giáo trình dành cho sinh viên Đại học và
Cao đẳng các trường văn hoá - nghệ thuật, Hà Nội, 2012) đã giới thiệu các khái niệm, đặc tính, vai trò CSVH của một số nước trên thế giới và những vấn
đề cốt yếu trong CSVH Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là thời
kỳ đổi mới Đây là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả luận văn xây dựng phần cơ sở lý luận của đề tài
Trang 10- Trong công trình Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ đổi mới (NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012), tác giả
Nguyễn Danh Tiên giúp người đọc có thêm tài liệu về quá trình đổi mới quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa từ năm 1986 đến nay
- Tổng kết 15 năm thực hiện NQTƯ5 KVIII, tác giả Nguyễn Tri Nguyên
đã có bài viết: Đổi mới và hoàn thiện chính sách văn hoá (Báo Nhân dân cuối
tuần online, ngày 17-9-2013) Ở công trình này, tác giả khẳng định vai trò của CSVH Ông viết: “Chính sách văn hóa hiện thực hóa được những tư tưởng cơ bản trong các nghị quyết của Đảng ta về văn hóa, thực chất là ý chí, quan điểm và định hướng, tạo điều kiện cơ bản để quản lý văn hóa của đất nước với
tư cách là phương tiện hiệu quả để thiết lập cuộc sống tốt đẹp đồng thời với việc phát triển một nền sản xuất và thị trường văn hóa lành mạnh”
- Trong cuốn Văn hoá sức mạnh nội sinh của phát triển, Phùng Hữu
Phú, Đinh Xuân Dũng (Đồng chủ biên) (NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2004), các bài viết chuyên sâu của nhiều nhà khoa học đầu ngành về văn hoá đã đưa ra một cái nhìn khá toàn diện về những vấn đề lý luận và thực tiễn
về phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới ở nước ta; đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp có tầm chiến lược và tính đột phá trong việc xây dựng và phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện nay
2.3 Nghiên cứu về văn hoá Đà Nẵng
Nghiên cứu về văn hoá Đà Nẵng có thể đề cập đến một số bài viết của các nhà nghiên cứu trên Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, như sau:
- Lê Hữu Ái trong công trình Đô thị hoá và các hiệu ứng văn hoá cho sự phát triển kinh tế ở thành phố Đà Nẵng hiện nay vào năm 2011 đã chỉ ra những
nét khác biệt trong lối sống của cư dân Đà Nẵng so với các vùng miền khác, chịu tác động của quá trình ĐTH nhưng lối tư duy tiểu nông (tính tuỳ tiện, tính
vô tổ chức ) của người dân Đà Nẵng, cũng như của những người nhập cư
Trang 11trong nước khó có thể nhanh chóng thay đổi để phù hợp với lối sống đô thị văn minh, hiện đại; đồng thời đề xuất biện pháp khắc phục những tồn tại trên
- Năm 2012, Viện Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến của người dân về thực trạng và nhu cầu sử dụng đối với hệ thống thiết chế văn hoá thể thao trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (2002-2012) tại 3 phường thuộc quận Hải Châu (Hoà Cường Bắc, Bình Hiên và Thuận Phước) và 2 xã thuộc huyện Hoà Vang (Hoà Tiến và Hoà Châu) và trên cơ sở này Huỳnh Năm và Đàm Thị Vân Dung đã căn cứ để nhận định vấn đề trên
với bài viết Hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở tại thành phố Đà Nẵng, thực trạng và nhu cầu qua ý kiến của người dân và đề xuất một số giải pháp, kiến
nghị góp phần xây dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ
Trên đây là những công trình, bài viết đề cập đến văn hoá Đà Nẵng trên các khía cạnh liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn, tuy không trực tiếp nhưng cũng góp phần giúp tác giả tìm hiểu văn hoá Đà Nẵng ở những nét nổi bật
Nhìn chung, nội dung của những công trình, tài liệu nghiên cứu trên đề cập tới những vấn đề lý luận: chính sách công, CSVH, các vấn đề phát triển văn hóa ở Đà Nẵng (chưa khai thác dưới góc độ vấn đề chính sách phát triển văn hoá) Đây là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá giúp tác giả kế thừa
Trang 12và xây dựng nên hệ thống cơ sở lý luận của đề tài; liên hệ nghiên cứu lĩnh vực văn hoá ở hướng tiếp cận mới: vấn đề chính sách, từ đó có thể đề xuất một số giải pháp giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn phát triển văn hóa ở thành phố Đà Nẵng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
- Xác định các vấn đề chính sách từ thực tiễn phát triển văn hóa của thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực phát hiện và đề xuất các vấn đề chính sách phát triển văn hóa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chính sách công, vấn đề
chính sách công, CSVH, chính sách phát triển văn hóa, chu trình chính sách phát triển văn hoá và việc xác định vấn đề chính sách phát triển văn hoá
Thứ hai, từ việc phân tích và đánh giá thực trạng về những bất cập, hạn
chế trong xây dựng và phát triển văn hóa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thời gian qua, tìm ra nguyên nhân (khách quan, chủ quan) của các vấn đề chính sách phát triển văn hóa đó
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực phát hiện và đề xuất
các vấn đề chính sách phát triển văn hoá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề chính sách phát triển văn hóa từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: từ năm 1997 đến năm 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Khoa học chính sách công: Phân tích chu trình chính sách từ phát hiện
vấn đề, xây dựng chính sách, ban hành, triển khai thực hiện, kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả, phát hiện vấn đề và tiếp tục hoàn thiện chính sách
- Văn hóa học phát triển: Với nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của bất kỳ lĩnh vực nào, trong đó
có lĩnh vực văn hoá, con người đều tôn trọng quan điểm phát triển Các nhà nghiên cứu văn hoá hiện nay quan niệm rất biện chứng khi cho rằng: văn hoá không chỉ thúc đẩy mà có khi còn cản trở sự phát triển Vì vậy, văn hoá về cơ bản vừa có vai trò động lực, mục tiêu, nguồn lực nội sinh đối với phát triển kinh tế - xã hội nhưng văn hoá cũng có thể trở thành lực cản đối với phát triển nếu nó lạc hậu, lệch lạc, thiếu đồng bộ trong chính bản thân nó hay đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập thông tin, số liệu từ
các văn bản triển khai thực hiện, tổng kết, đánh giá, thẩm tra của Thành uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng, Sở VH,TT&DL
và các đơn vị liên quan về lĩnh vực văn hoá
- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Thu thập thông tin, số liệu
bằng trao đổi, phỏng vấn sâu Phương pháp này khắc phục những hạn chế mà các phương pháp khác mắc phải: Trao đổi với một số lãnh đạo, quản lý lĩnh vực văn hoá ở thành phố Đà Nẵng; phỏng vấn nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá có uy tín của thành phố (ông Bùi Văn Tiếng, nguyên Trưởng Ban Tổ
Trang 14chức Thành uỷ Đà Nẵng, hiện là Chủ tịch Liên hiệp Hội văn học nghệ thuật thành phố)
Ngoài ra, trong luận văn tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội như tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài vận dụng lý thuyết về chính sách công, cụ thể là lý thuyết về chu trình chính sách công, trong đó có khâu xác định vấn đề chính sách công để xác định các vấn đề chính sách phát triển văn hóa từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng; do vậy, kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ, chứng minh và bổ sung cho các lý thuyết về chính sách công, đưa ra lý luận về khái niệm chính sách công, vấn đề chính sách công và chính sách phát triển văn hóa
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu vấn đề chính sách phát triển văn hóa từ thực tiễn thành phố
Đà Nẵng sẽ làm rõ những thuận lợi, khó khăn, những tồn tại, hạn chế trong thực thi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về văn hoá ở cấp địa phương Từ đó, giúp các nhà hoạch định chính sách (của địa phương, Trung ương) xác định các vấn đề chính sách, các mục tiêu, giải pháp công cụ giải quyết các vấn đề chính sách nhằm phát triển lĩnh vực văn hoá, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
- Ngoài ra, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, tìm hiểu chính sách phát triển văn hóa, các vấn đề chính sách phát triển văn hoá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 03 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1 Lý luận về vấn đề chính sách phát triển văn hoá
Trang 15Chương 2 Thực trạng xây dựng, ban hành, thực hiện chính sách phát triển văn hoá từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2015
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao năng lực phát hiện và đề xuất các vấn đề chính sách phát triển văn hoá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 16CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ
1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1 Chính sách công, vấn đề chính sách công và vấn đề chính sách phát triển văn hoá
- Chính sách công
Khoa học chính sách công được nghiên cứu ở phương Tây từ những năm
1940 của thế kỷ XX nhưng phải đến những năm 1980, chính sách công mới phát triển và được coi như một lĩnh vực nghiên cứu độc lập và định nghĩa chính sách công của William Jenkin (1978) được chấp nhận rộng rãi nhất:
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”1 Ngành nghiên cứu này ở Việt Nam cũng chỉ mới được bắt đầu chú ý vào đầu thế kỷ XXI Tác giả
Đỗ Phú Hải đã đưa ra một định nghĩa về chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” (Đỗ Phú Hải, Học viện Khoa học xã hội, 2012) Từ những phân tích trên, tác giả luận văn xin đưa ra quan niệm về khái niệm chính sách công như sau: “Chính sách công là những quyết định hành động của các cơ quan thuộc Nhà nước tác động đến các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của xã hội để đạt được các mục tiêu nhất định”
- Vấn đề chính sách công
Hiện nay, các nhà nghiên cứu về chính sách công ở nước ta đã đưa ra các
Trang 17quan niệm về vấn đề chính sách công Chung quy, có thể hiểu: Vấn đề chính sách công là một bộ phận của vấn đề xã hội, là vấn đề cần được trả lời và là mâu thuẫn cần phải giải quyết hoặc đang trong quá trình giải quyết về mặt chính sách của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội ) hay nói cách khác thì đây là những nhu cầu trong tương lai của đời sống xã hội cần được đáp ứng, cần đạt được về mặt chính sách của Nhà nước
- Vấn đề chính sách phát triển văn hoá
Từ cách hiểu về vấn đề chính sách công thì vấn đề chính sách phát triển văn hoá được hiểu là một bộ phận của các vấn đề xã hội dùng để chỉ những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển văn hoá hay những nhu cầu về văn hoá mà người dân cần được giải quyết, đáp ứng bằng chính sách của Nhà nước
Mâu thuẫn và vấn đề chính sách phát triển văn hóa: Trong quá trình
phát triển, nếu CSVH lạc hậu, sai lệch, không phù hợp hoặc thiếu chính sách thúc đẩy và vấn đề này tồn đọng, kéo dài gây kìm hãm cũng như tác động xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội và cả sự phát triển trong chính lĩnh vực văn hoá, cần được điều chỉnh, sửa đổi
Nhu cầu và vấn đề chính sách phát triển văn hóa: cơ sở của CSVH còn
dựa trên những nhu cầu văn hóa của nhân dân (nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hoá) và mục tiêu của CSVH là nhằm thỏa mãn nhu cầu đó Nếu CSVH chỉ xuất phát từ ý chí và thoả mãn quyền lợi của một nhóm người trong xã hội, thì CSVH đó sẽ nhanh chóng bị xơ cứng, không mang lại hiệu quả như mong muốn và một khi nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hoá của người dân không được thoả mãn thì sẽ không tạo nên được thế hệ những con người đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, văn hoá không thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình là động lực, mục tiêu, là hệ điều chỉnh… cho sự
Trang 18phát triển bền vững, nhân văn Như vậy, cả điểm xuất phát và đích đến của CSVH đều vì con người
1.1.2 Chính sách văn hóa và chính sách phát triển văn hoá
- Chính sách văn hoá
CSVH là một bộ phận của chính sách công, đã được thế giới quan tâm trong những thập kỷ gần đây với định nghĩa của các chuyên gia văn hoá tại Monaco năm 1967 và của UNESCO cuối thế kỷ XX Trên đại thể, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: “Chính sách văn hoá là một hệ thống các nguyên tắc, các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực văn hoá nhằm phát triển và quản lý thực tiễn đời sống văn hoá theo những quan điểm phát triển
và cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh thần sẵn
có của xã hội” [28, tr.21]
- Chính sách phát triển văn hóa
Phát triển văn hóa là một khái niệm chưa được thống nhất trong các nhà nghiên cứu ở nước ta Nhà nghiên cứu Hồ Bá Thâm cho rằng: “Phát triển văn hoá là quá trình hoạt động sáng tạo các giá trị tinh thần và vật chất, phát huy các giá trị truyền thống, tiếp thu, tiếp biến giá trị văn hoá trong giao lưu, đưa văn hoá vào cuộc sống thành nền tảng tinh thần, động lực và nguồn nội sinh, mục tiêu của phát triển kinh tế và chính trị, xã hội, tạo nên chất lượng mới của
cuộc sống” [66, tr.37] Trong khi đó, Dương Phú Hiệp lại cho rằng: “Về đại
thể, phát triển văn hoá là một quá trình có tính tất yếu và khách quan trong sự vận động của các lĩnh vực văn hoá Quá trình này dẫn tới sự biến đổi giá trị và
hệ giá trị Tính tất yếu và khách quan của quá trình này, tuy không đơn giản, không đơn tuyến, và thậm chí có lúc thụt lùi, tha hoá, nhưng xu hướng chung vẫn là đảm bảo cho cuộc sống của con người hướng tới cái tốt, cái thiện và
cái đẹp ngày một cao hơn, nhân đạo hơn” [35, tr.39]
Trang 19Khi nói văn hoá và phát triển thực chất là văn hoá trong phát triển hay văn hoá phát triển, tức gồm: văn hoá kinh tế, văn hoá môi sinh, văn hoá chính trị, văn hoá tinh thần mà trung tâm là hoạt động sáng tạo của con người với những hệ thống giá trị và phương thức thể hiện theo hướng nhân văn, hướng tới chân - thiện - mỹ Nhắc đến phát triển văn hoá, ta nghĩ ngay đến khái niệm bảo tồn văn hoá và mối quan hệ giữa chúng Giữa phát triển văn hóa và bảo tồn văn hoá đôi khi được coi là đối lập, tuy nhiên, nhìn ở phạm vi vĩ mô, phát triển văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự bảo tồn văn hoá vì trong quá trình phát triển văn hóa thì tự thân nó sẽ có sự đào thải yếu tố văn hoá lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với hiện thực khách quan Như vậy, hoạt động bảo tồn văn hoá không triệt tiêu sự phát triển văn hóa mà ngược lại phát triển văn hóa sẽ có chức năng bảo tồn văn hoá Chính vì vậy, bảo tồn văn hoá giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa và phát triển văn hóa tạo điều kiện cho bảo tồn văn hoá
Dựa trên sự phân tích các khái niệm trên, chúng tôi xây dựng định nghĩa
về chính sách phát triển văn hóa như sau: “Chính sách phát triển văn hoá là một hệ thống các quyết định thực hành của nhà nước trên lĩnh vực văn hoá, có những quan điểm và có cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu đời sống văn hoá tinh thần, vật chất của người dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất, tinh thần sẵn có của xã hội và cả sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới tiên tiến đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về hưởng thụ và sáng tạo văn hoá của người dân”
1.2 Chu trình chính sách phát triển văn hóa và việc xác định vấn đề chính sách phát triển văn hoá
1.2.1 Chu trình chính sách phát triển văn hoá
Quy trình hay chu trình chính sách công nói chung, chính sách phát triển văn hóa nói riêng là khái niệm để chỉ một hoạt động mang tính khép kín từ
Trang 20khâu đầu cho đến khâu cuối và đó cũng là điểm bắt đầu cho một hoạt động chính sách ở tầm cao hơn, diễn ra theo một lôgic, có trật tự và đặc biệt có tính
kế thừa rất cao Như vậy, chu trình chính sách phát triển văn hoá lần lượt trải qua các bước sau: Xác định vấn đề chính sách; Xây dựng chính sách; Ban hành chính sách; Đánh giá chính sách
a) Xác định vấn đề chính sách văn hoá
Xác định vấn đề chính sách văn hoá là giai đoạn khởi đầu nằm trong chu trình chính sách phát triển văn hoá, bao gồm từ bước khởi đầu phát hiện ra những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển văn hoá hay những nhu cầu về văn hoá mà người dân cần được giải quyết, đáp ứng bằng chính sách; đưa vào chương trình để thảo luận – tức là xác lập nghị trình Mọi vấn đề chính sách nói chung, vấn đề chính sách văn hoá nói riêng có thể thấy đều nảy sinh từ dữ kiện thực tế, thông qua ba nguồn quan trọng nhất: số liệu thống kê, các sự kiện và các nhận định
Như vậy, xác định vấn đề chính sách phát triển văn hoá là bước quan trọng đầu tiên để từ đó xác định thứ tự, phương hướng, mục tiêu, cách thức giải quyết các vấn đề văn hoá bằng chính sách của Nhà nước
b) Xây dựng chính sách phát triển văn hoá
Chính sách PTVH ở nước ta được xây dựng bởi các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước theo yêu cầu của xã hội, của nhân dân, là sản phẩm của quá trình thực thi quyền lực chính trị Trong quá trình xây dựng, chính sách phát triển văn hóa được tổ chức tham vấn ý kiến của các bên tham gia soạn thảo, ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, đối tượng thụ hưởng trực tiếp và gián tiếp của CSVH để khi chính sách được ban hành vừa đảm bảo tính khoa học, trách nhiệm xã hội, vừa có hiệu lực
c) Ban hành chính sách phát triển văn hoá
Trong những năm qua, đã có một số bộ Luật về văn hóa đã được ban
Trang 21hành như: Luật Di sản văn hoá, Luật sở hữu trí tuệ, Luật Điện ảnh… Các cơ quan Chính phủ xây dựng các Nghị định hướng dẫn thực hiện luật; các Bộ soạn thảo và ban hành các thông tư - tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thực hiện chính sách Ở cấp địa phương, Thành uỷ, Tỉnh Uỷ, Uỷ ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân, các Sở VH, TT&DL có thể xây dựng, ban hành các văn bản hành chính phù hợp với thẩm quyền của mình nhằm cụ thể hoá chủ trương, đường lối, chính sách văn hoá của Đảng, Nhà nước thành văn bản pháp quy để triển khai thực hiện phù hợp với thực tế địa phương
Một số văn bản liên quan đến phát triển văn hóa ở nước ta: Quyết định
số 581/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 (2009); Quyết định số 1211/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá giai đoạn 2012-
2015 (2012); Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín BCHTƯ (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (2014)…
d) Đánh giá chính sách văn hoá
Đánh giá chính sách công nói chung, CSVH nói riêng là khâu rất quan trọng nhưng thường ít được quan tâm thích đáng từ thực tiễn Việt Nam Sau khi chính sách phát triển văn hoá được thực hiện, Chính phủ tổ chức điều tra khách quan đối với những đối tượng hưởng lợi, các đối tượng chịu tác động trực tiếp từ CSVH và đánh giá kết quả thực hiện chính sách
Sau khi tiến hành đánh giá, vấn đề CSVH ban đầu được xem xét lại là đã giải quyết tận gốc chưa, nếu chưa thì phải điều chỉnh lại từ khâu xác định vấn
đề và giải pháp chính sách Chu trình CSVH cũng như chính sách công nói chung có tính xoay vòng cho đến khi vấn đề chính sách được giải quyết
1.2.2 Xác định vấn đề chính sách phát triển văn hoá
Xác định vấn đề chính sách phát triển văn hóa là khâu mấu chốt trong
Trang 22toàn bộ chu trình chính sách phát triển văn hoá Yêu cầu cao nhất của khâu này
là khả năng nhìn ra vấn đề phụ thuộc ở năng lực nhận thức, biểu đạt nó cũng như cơ chế nêu vấn đề để vấn đề văn hoá trở thành chính sách Từ dữ kiện thực
tế, thông qua 3 nguồn cơ bản: số liệu thống kê, các sự kiện, các nhận định của những nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước mà vấn đề CSVH nảy sinh
Xác định vấn đề và đề xuất chính sách phát triển văn hoá được thực hiện theo các bước sau:
- Tổng quan vấn đề: Tổng quan rõ ràng về các tồn tại, hạn chế, trở ngại,
khó khăn, vướng mắc trong đời sống kinh tế - xã hội dưới tác động của đường lối, pháp luật, CSVH cần được giải quyết bằng chính sách hoặc các bất hợp lý gây mâu thuẫn, mất cân bằng, mất ổn định về văn hoá, ngăn cản tăng trưởng hoặc những nhu cầu trong tương lai cho phát triển xã hội hay trong chính lĩnh vực văn hoá cần đạt được bằng chính sách Như vậy, theo quy luật vận động, vấn đề chính sách trong xã hội mang cả tính hiện thực và tương lai, vì các hiện tượng đang tồn tại thực tế sẽ làm nảy sinh những vấn đề trong tương lai
- Xác định quy mô, mức độ nghiêm trọng của vấn đề: Từ tổng quan các
vấn đề chính sách phát triển văn hoá của quá trình phát triển văn hoá đã xác định cần tiến hành nghiên cứu thực tiễn để xác định quy mô, mức độ nghiêm trọng của các vấn đề đó để định rõ phạm vi và mức độ can thiệp của chính sách, thông qua các chỉ số tin cậy và biện pháp đo lường khoa học để nhận biết rõ: tên gọi vấn đề từ thực tiễn phát triển văn hoá, bằng chứng vấn đề, qui
mô và mức độ nghiêm trọng của vấn đề, khung thời gian dự định áp dụng chính sách
- Trình bày vấn đề: Sau khi nghiên cứu, các vấn đề chính sách phát triển
văn hoá cần được trình bày một cách rõ ràng, nội dung đầy đủ các phần (mô
tả vấn đề, nguyên nhân gây ra, phân tích bản chất vấn đề)
- Đề xuất phương án chính sách: Dựa trên kết quả phân tích nguyên
Trang 23nhân và bản chất vấn đề từ thực tiễn phát triển văn hoá ở địa phương và trên phạm vi cả nước để đề xuất các phương án chính sách nhằm giải quyết được những vấn đề chính sách phát triển văn hoá
Việc lựa chọn vấn đề chính sách dựa vào tính bức xúc của nó so với nhu cầu xã hội, ý nguyện của người dân, đồng thời căn cứ vào yêu cầu quản lý nhà nước, năng lực tổ chức giải quyết của nhà nước đối với vấn đề chính sách, khả năng tham gia giải quyết vấn đề của đối tượng chính sách
- Phân tích chính sách: Phân tích cụ thể các phương án chính sách phát
triển văn hoá, xem xét ưu nhược điểm của mỗi phương án làm cơ sở cho việc lựa chọn chính sách nào là cần thiết nhất, phù hợp nhất
Điểm mấu chốt là cần xác định được mối quan hệ nhân quả của các yếu
tố tác động tới vấn đề chính sách phát triển văn hoá để xác định đúng bản chất của vấn đề Giả thuyết về các mối quan hệ và xác minh các giả thuyết đó để nêu thành danh mục các mối quan hệ (còn được gọi là cây vấn đề) Việc xác minh một cách khoa học các mối quan hệ này sẽ giúp xác định đâu là vấn đề chính và cốt lõi, đâu là vấn đề phụ và vấn đề nhánh, đồng thời cũng đưa ra danh mục các vấn đề cần giải quyết và vấn đề có thể giải quyết
- Đề xuất chính sách: Và giai đoạn cuối cùng của khâu xác định vấn đề
chính sách phát triển văn hoá là hoàn thiện phương án tối ưu và đề xuất việc ban hành chính sách phát triển văn hoá để giải quyết các vấn đề chính sách phát triển văn hoá đó
1.3 Đặc điểm và những nhân tố tác động đến chính sách phát triển văn hoá
1.3.1 Đặc điểm của chính sách phát triển văn hoá
Để nhận diện chính sách công nói chung, chính sách phát triển văn hoá nói riêng phải thấy được một số tính chất nổi bật để phân biệt nó với các thực thể khác:
Trang 24Tính chất cơ bản: Tính cưỡng chế (của quyền lực công - tức nhà nước), tính thứ bậc (do tính thứ bậc của tổ chức nhà nước), tính mục tiêu (do tính mục tiêu của quyền lực chính trị), tính hệ thống (do sự liên quan giữa các biện pháp trong mối quan hệ với mục tiêu cuối cùng, cũng như tính khoa học cần
có của các chính sách phát triển văn hoá)
Ngoài những tính chất cơ bản trên, để có một chính sách phát triển văn hoá hiệu quả cần đảm bảo một số tính chất: Tính giai cấp (chính sách đó phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền), tính dân tộc (phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hoá, tâm lý… dân tộc), tính nhân loại (phù hợp với xu hướng phát triển văn hoá tiến bộ của nhân loại), tính khả thi kỹ thuật (đủ trình độ, kiến thức chuyên ngành văn hoá để thực hiện); tính khả thi về tài chính (có đủ nguồn tài chính), tính đồng bộ (phù hợp với các chính sách khác)…
Để một chính sách phát triển văn hoá mang trong mình hay thoả mãn các đặc điểm vốn phải có, đáp ứng những đặc điểm phụ trợ nhưng không kém phần quan trọng thì người làm chính sách phải có thái độ tôn trọng tính khoa học trong quá trình hoạch định chính sách Như vậy, bản thân nhà hoạch định chính sách phải có nhận thức trách nhiệm xã hội cao và xét một cách khái quát, để một CSVH thực sự hiệu quả thì nó phải chứa đựng cả tính khoa học
và tinh thần chính trị lấy phụng sự cộng đồng làm mục tiêu, đây là hai tiêu chí
cơ bản thể hiện tính hiệu lực của chính sách phát triển văn hoá
1.3.2 Những nhân tố tác động đến chính sách phát triển văn hoá
* Tác động của toàn cầu hoá
Trong quá trình toàn cầu hoá, nền văn hoá nước ta, ở mỗi địa phương có những cơ hội và thách thức nhất định:
Cơ hội:
- Tiếp thu tinh hoá văn hoá nhân loại, làm phong phú văn hoá dân tộc; học hỏi và tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm tổ chức, quản lý văn hoá tiên tiến
Trang 25- Quảng bá đất nước, con người, văn hoá Việt Nam, đặc biệt là những
giá trị bản sắc Việt (“Truyện Kiều”, nhạc Trịnh Công Sơn, tà áo dài của phụ
nữ Việt Nam…) ra thế giới thông qua việc tham gia các hoạt động văn hoá, đăng cai tổ chức sự kiện văn hoá tiêu biểu, kênh ngoại giao văn hoá và vai trò của kiều bào ở nước ngoài, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, mối quan hệ hợp tác, hữu nghị, bình đẳng giữa các quốc gia, giữa các nền văn hoá, giữ gìn môi trường hoà bình, nhân văn…
- Quá trình ĐTH nhanh chóng dễ gây nên hiện tượng mai một các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc trước sự xâm nhập ồ ạt của văn hoá ngoại lai (có tiến
bộ nhưng cũng không ít biểu hiện suy đồi, phản văn hoá)
- Với lối tư duy tiểu nông (tự do, tuỳ tiện, ý thức kém), sự tụt hậu về cơ
sở vật chất, khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý hạn chế đang là những vật cản không nhỏ trong tiến trình hội nhập quốc tế trên lĩnh vực văn hoá của nước ta
* Tác động của kinh tế thị trường
Phát triển văn hoá Việt Nam theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa đối mặt với cơ hội và thách thức sau:
Cơ hội:
- Cơ chế kinh tế thị trường với quy luật cung - cầu, cạnh tranh, giá cả tạo nên một thị trường trao đổi sản phẩm, dịch vụ văn hoá vô cùng sôi động, thông thoáng, cá nhân tham gia năng động hơn, trình độ hưởng thụ văn hoá
Trang 26của người dân ngày càng được nâng lên
- Xã hội hoá hoạt động văn hoá, tăng cường các nguồn lực cho phát triển văn hoá tạo điều kiện để văn hoá phát triển mạnh mẽ, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của người dân
- Giải phóng tiềm năng, tạo điều kiện để mỗi cá nhân trong xã hội chủ động đóng góp tài năng, tâm lực cho sự nghiệp phát triển văn hoá dân tộc
- Với sự tác động của cơ chế kinh tế thị trường tạo nên sự thay đổi trong
ý thức, năng lực quản lý nhà nước về văn hoá theo hướng năng động, sáng tạo, hiệu quả hơn
Thách thức:
- Tác động của mặt trái kinh tế thị trường cuốn con người vào vòng xoáy
“kim tiền”, lối sống thực dụng… từ đó làm biến đổi các giá trị truyền thống văn hoá dân tộc như: tính cộng đồng, lòng thương người,… đạo đức xuống cấp, tệ nạn xã hội phát sinh…
- Xuất hiện ngày càng nhiều các dịch vụ, sản phẩm văn hoá gây khó khăn cho hoạt động quản lý, kém giá trị, chạy theo thị hiếu tầm thường, coi nhẹ giá trị giáo dục và nghệ thuật
- Khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội gia tăng tạo nên sự phân cực, phân tầng trong hưởng thụ văn hoá
* Tác động của quá trình CNH, HĐH, ĐTH
CNH, HĐH đồng hành là quá trình ĐTH là xu thế khách quan của nước
ta vừa là cơ hội, vừa tạo ra không ít thách thức:
Trang 27chuyển biến tích cực của bộ mặt văn hoá trên các lĩnh vực
- Hình thành lối sống công nghiệp, nếp sống văn minh đô thị, nhu cầu văn hoá mới (văn hoá mạng, trò chuyện trực tuyến…)
Thách thức:
- Quá trình ĐTH tác động mạnh mẽ đến môi trường sinh thái, môi trường văn hoá ở cả thành phố và nông thôn, làm mờ nhạt, biến dạng các giá trị bản sắc văn hoá truyền thống: tính cộng đồng, tình làng nghĩa xóm…
- Xuất hiện một số phương thức hoạt động văn hoá mới, khó quản lý về nội dung thông tin (mạng xã hội) Bên cạnh, những tiện ích của văn hoá mạng đem lại thì những hệ luỵ cũng không nhỏ: những thông tin, sản phẩm văn hoá độc hại, phản động tác động đến tư tưởng, lối sống của người dân, đặc biệt là giới trẻ
* Tác động của xu hướng tìm về cội nguồn và đời sống tâm linh
Cơ hôi:
Các CSVH của Đảng, Nhà nước ta thời gian qua đã tạo môi trường pháp
lý để các tầng lớp nhân dân hướng về cội nguồn dân tộc, thoả mãn niềm tin tâm linh
- Các di sản văn hoá dân tộc (vật thể và phi vật thể), di tích lịch sử… được Nhà nước và các tầng lớp nhân dân quan tâm, bảo tồn và phát huy
- Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cố kết cộng đồng, những giá trị nhân văn, dân chủ làng xã được giữ gìn, phát huy thông qua các hoạt động văn hoá
- Các giá trị văn hoá, đạo đức truyền thống được kế thừa, phát huy: uống nước nhớ nguồn, tôn vinh những người có công với nước với dân… góp phần
xây dựng nhân cách con người Việt Nam
Thách thức:
- Không ít nơi nhân danh trở về với cội nguồn dân tộc, giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp để khơi dậy các lễ hội, phong tục… đã lỗi thời, lạc hậu,
Trang 28mê tín dị đoan
- Xuấn hiện các sản phẩm, hoạt động văn hoá, văn nghệ truyền bá tư tưởng duy tâm thần bí (gọi hồn, xóc thẻ, ), khơi dậy tư tưởng dân tộc hẹp hòi, kích động chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc
- Văn hoá tôn giáo diễn biến phức tạp bởi gần đây trong xã hội xuất hiện những lời răn dạy của các giáo chủ, giáo lý tôn giáo an ủi, khuyên răn con người “tu nhân tích đức”, tự bằng lòng với hoàn cảnh… đã làm sa sút ý chí vươn lên sống tốt đời, tinh thần cách mạng trong thời hiện đại
Tiểu kết chương 1
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến phát triển văn hoá, coi văn hoá
là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển đất nước và ngày càng nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của chính sách phát triển văn hoá, coi đây là công cụ có tính chất quyết định sự phát triển, mở rộng mọi nguồn lực cho phát triển đất nước Và việc phát hiện, xác đinh và đề xuất các vấn đề chính sách phát triển văn hoá là khâu quan trọng đầu tiên trong chu trình chính sách phát triển văn hoá
Trong chương 1, tác giả luận văn nghiên cứu, tìm hiểu khái quát những khái niệm cơ bản (chính sách công, vấn đề chính sách công, CSVH), đưa ra quan niệm về các khái niệm (chính sách công, chính sách phát triển văn hoá); dựa vào chu trình chính sách công nói chung xây dựng chu trình chính sách phát triển văn hoá và xác định vấn đề chính sách phát triển văn hoá; tìm hiểu đặc điểm và những nhân tố tác động đến chính sách phát triển văn hoá ở nước
ta hiện nay Đây là cơ sở lý luận quan trọng giúp tác giả nghiên cứu những nội dung quan trọng ở chương tiếp theo, phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực phát hiện và đề xuất các vấn đề chính sách phát triển văn hoá ở thành phố Đà Nẵng
Những cơ sở về mặt lý luận trên sẽ giúp chúng ta nhận thức đúng đắn,
Trang 29khoa học các vấn đề chính sách phát triển văn hoá từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng trong những năm vừa qua (cụ thể là trong giai đoạn 1997-2015) nhằm đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp phát triển văn hoá thành phố, cũng như của đất nước trong thời gian tới
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG, BAN HÀNH, THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Nhân tố khách quan
Nhân tố kinh tế:
Thực tế trong một thời gian dài ở tầm tư duy hoạch định chính sách phát triển thì Đà Nẵng coi trọng phát triển kinh tế hơn văn hoá: Sau năm 1975, thành phố với nền kinh tế kém phát triển, bị thương tích nặng nề bởi chiến tranh, sự lựa chọn của thành phố là ưu tiên phát triển kinh tế để thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Hơn nữa, việc xây dựng và thực hiện CSVH đòi hỏi phải
có một nguồn kinh phí nhất định, thường do ngân sách Nhà nước và địa phương cấp, do các tổ chức, cá nhân, các nước tài trợ và tăng trưởng kinh tế
ổn định tạo nền tảng, điều kiện và tiền đề cho phát triển văn hoá (cung cấp các yếu tố vật chất, kỹ thuật và tài chính) Tuy nhiên, đến giai đoạn hiện nay, kinh
tế thành phố Đà Nẵng tăng trưởng nhanh, chuyển động mạnh theo hướng
Trang 31ĐTH nhưng “…lĩnh vực văn hoá - xã hội vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc chậm được giải quyết, một mặt do không đủ điều kiện đầu tư, mặt khác do chưa
được quan tâm chỉ đạo đúng mức” [7, tr.288] Vì vậy hiện nay Đà Năng đang
đặc biệt quan tâm, có kế hoạch tăng đầu tư, tích cực điều chỉnh về mặt chính sách để vừa khắc phục những hệ luỵ do phát triển văn hoá chưa tương xứng với kinh tế mang lại, đồng thời thoả mãn và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hoá ngày càng cao của nhân dân thành phố
Nhân tố về chính trị:
Nhân tố chính trị tức nói đến bản chất chính trị, lý tưởng chính trị, trình
độ chính trị của đội ngũ lãnh đạo Đảng, chính quyền; trong đó tinh thần trách nhiệm với dân, cung cách lãnh đạo, điều hành quyết đoán là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng CSVH
Đóng góp lớn nhất vào hiệu quả CSVH là năng lực quản lý điều hành của bộ máy chính quyền từ thành phố đến quận, huyện, phường, xã mà trực tiếp là Sở VH, TT&DL và các cơ quan trực thuộc Sở VH, TT&DL với tư cách là cơ quan chuyên môn của Uỷ ban Nhân dân thành phố có chức năng tham mưu và giúp Uỷ ban Nhân dân thành phố quản lý Nhà nước về lĩnh vực văn hoá; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố và theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, ý thức chính trị (chấp hành pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước…) của người dân đóng góp quan trọng vào việc thực hiện thành công các CSVH của thành phố, phát huy tác dụng ngay cả khi những chính sách đó chưa phải hoàn hảo nhất
- Nhóm nhân tố về văn hoá - xã hội:
Về dân cư - dân số, trước năm 1975, dân các vùng lân cận “chạy giặc” đến và ở lại sinh sống, sau năm 1997 với sự phát triển nhanh chóng của thành phố cũng đã thu hút khá lớn lượng dân từ các tỉnh phía Bắc miền Trung với
Trang 32đặc điểm đời sống, nếp nghĩ, nét văn hoá vùng miền… đa dạng Trước tình hình đó, thành phố đã có những chính sách, cách làm cụ thể để ổn định, đoàn kết, không tạo ra sự kỳ thị phân biệt, phát huy sự đa dạng về văn hóa trí tuệ,
về tư duy sáng tạo, xây dựng thành phố ngày càng đáng sống
Hơn nữa, hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ với những thành tựu đạt được đã từng bước góp phần vào việc xây dựng các luận cứ khoa học
và thực tiễn nâng cao năng lực quản lý, xây dựng và ban hành chính sách công nói chung, CSVH nói riêng
Ngoài ra, quan hệ ngoại giao của Đà Nẵng với các thành phố lớn trên thế giới, khu vực cũng là cơ sở để thành phố, các cấp, các ngành, trực tiếp là Sở
VH, TT&DL mở rộng kiến thức, tích luỹ kinh nghiệm lý luận và cả thực tiễn trong quản lý văn hoá, hoạch định CSVH…
- Về chủ quan
Quan điểm, hệ thống giá trị cá nhân của người làm chính sách (thành kiến, kinh nghiệm, tri thức) tác động trực tiếp, chi phối quy trình hoạch định chính sách phát triển văn hoá: “Tri thức càng cao hệ thống giá trị càng vững
chắc, do đó xu hướng quyết định theo cách nghĩ của mình càng mạnh” [15, tr.172] Mặc dù, lĩnh vực văn hoá của thành phố chưa được quan tâm, đầu tư
đúng mức nhưng hiệu quả các chính sách công nói chung, CSVH nói riêng của Đà Nẵng thời gian qua đã cho thấy cái tâm, cái tầm của giới lãnh đạo thành phố: dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm
Mặt bằng trình độ của cán bộ hoạch định chính sách cấp trưởng, phó phòng trở lên ở thành phố, trực tiếp là đội ngũ cán bộ, lãnh đạo của Sở VH, TT&DL, trong đó kỹ năng nghiệp vụ soạn thảo, hoạch định chính sách, cơ hội, điều kiện tiếp cận thông tin, khả năng tiếp cận thực tế và sự hỗ trợ của trang thiết bị thông tin hiện đại không ngừng được nâng lên là điều kiện thúc đẩy tính khoa học, hiệu quả của các chính sách phát triển văn hoá thành phố
Trang 332.1.2 Tình hình thực hiện chính sách phát triển văn hoá ở thành phố
Đà Nẵng giai đoạn 1997-2015
2.1.2.1 Những chính sách phát triển văn hoá chủ yếu của thành phố Đà Nẵng được ban hành và thực hiện trong giai đoạn 1997- 2015
Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng sớm nhận thức và định hướng “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”: kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống, kết hợp với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; gắn liền với quá trình ĐTH và chỉnh trang đô thị
Công cuộc phát triển sự nghiệp văn hoá của thành phố Đà Nẵng cũng như các địa phương khác thực chất là quá trình nắm và điều hành bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác của Nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, quyền hạn của địa phương, cụ thể: Xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật; Lập kế hoạch, quy hoạch, chương trình chỉ đạo triển khai thực hiện; Thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách; Tổ chức đào tạo, tập huấn cán bộ; Sắp xếp tổ chức bộ máy điều hành, quản lý; Quy định và hướng dẫn thực hiện chính sách, kiểm tra giám sát và tổng kết Trong những năm qua, Đà Nẵng đã xây dựng, ban hành nhiều chính sách văn hóa và những chính sách đó đã và đang đi vào thực tiễn, đem lại những hiệu quả nhất định cho đời sống văn hoá của người dân, phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Bảng 2.1 Những chính sách phát triển văn hoá chủ yếu của thành phố Đà
Nẵng được xây dựng và ban hành trong giai đoạn 1997-2015
STT Số ký hiệu Ngày tháng
năm Tên gọi và trích yếu Tác giả
01 CTr/TU 10-10-1998 Chương trình hành động số
05-CTr/TU của Thành uỷ Đà Nẵng
về lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII)
Thành uỷ
Trang 34“Thành phố 5 không”
Uỷ ban Nhân dân
03 CTr/TU 19-11-2003 Chương trình hành động số
16-CTr/TU của Thành uỷ thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị “Về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Uỷ ban Nhân dân
và phát huy giá trị lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Uỷ ban Nhân dân
Uỷ ban Nhân dân
Trang 3508
3967/KH-UBND
01-7-2010 Kế hoạch số 3967/KH-UBND
của Uỷ ban Nhân dân thành phố
Đà Nẵng về việc thực hiện Quyết định số 581/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 tại thành phố
Đà Nẵng
Uỷ ban Nhân dân
09
3095/KH-UBND
24-5-2012 Kế hoạch số 3095/KH-UBND
của Uỷ ban Nhân dân thành phố
Đà Nẵng về việc “Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức để xây dựng con người Đà Nẵng có nếp sống văn hóa, văn minh đô thị giai đoạn 2012-2015”
Uỷ ban Nhân dân
Uỷ ban Nhân dân
Uỷ ban Nhân dân
Trang 3614 36-CTr/TU 13-8-2014 Chương trình hành động số
36-CTr/TU của Thành uỷ thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 (khóa
XI) “Về xây dựng và phát triển
văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”
Thành uỷ
15 43-CT/TU 25-12-2014 Chỉ thị 43-CT/TU của Ban
Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng
về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện “Năm văn hóa, văn minh đô thị 2015”
Thường vụ Thành ủy
16
190/KH-UBND
12-01-2015 Kế hoạch số 190/KH-UBND của
Uỷ ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc tổ chức triển khai
“Năm văn hoá, văn minh đô thị 2015”
Uỷ ban Nhân dân
Uỷ ban Nhân dân
Trang 37Uỷ ban Nhân dân
Nguồn: Sở VH,TT&DL 2.1.2.2 Hiệu quả của những chính sách phát triển văn hoá của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1997-2015
- Tư tưởng, trí tuệ và nhân cách con người thành phố Đà Nẵng từng bước được xây dựng và hoàn thiện; môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống
văn hoá, văn minh đô thị được định hình
Chương trình hành động số 05-CTr/TU ngày 10-10-1998 về lãnh đạo thực hiện NQTƯ5 KVIII của Thành uỷ Đà Nẵng khẳng định: xây dựng và hoàn thiện con người Đà Nẵng về tư tưởng, trí tuệ và nhân cách là nhiệm vụ hàng đầu của sự nghiệp phát triển văn hoá; đồng thời tạo lập môi trường văn hoá lành mạnh, nếp sống văn minh đô thị, nơi con người Đà Nẵng phát triển toàn diện Và nhắc đến Đà Nẵng, không ai không biết hiệu quả của Chương trình “5 không, 3 có”2
trên các mặt của đời sống xã hội thành phố Hiệu quả của chương trình đó là, năm 2003, hoàn thành mục tiêu “không có hộ đói”, năm 2009 hoàn thành mục tiêu “không có người mù chữ”, không còn nạn lang thang, xin ăn…
Thực hiện Nghị quyết số 25/2005/NQ-HĐND ngày 26 tháng 7 năm 2005 của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa VII, kỳ họp thứ 5 về thực hiện Chương trình “Thành phố 3 có”, Uỷ ban Nhân dân thành phố ban
2 “5 không”: Không có hộ đói; Không có người lang thang, xin ăn; Không có người mù chữ; Không có giết người để cướp của; Không có người nghiện ma túy ở cộng đồng “3 có”: Có nhà ở; Có việc làm; Có nếp
sống văn hoá văn minh đô thị
Trang 38hành Đề án “Xây dựng nếp sống văn hóa - văn minh đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010” Tiếp đó, ngày 25 tháng 12 năm 2014, Ban Thường vụ Thành uỷ ban hành Chỉ thị số 43-CT/TU “Về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Năm văn hoá, văn minh đô thị 2015” và hiệu quả bước đầu từ chính sách trên là: nếp sống văn hoá, văn minh đô thị dần được định hình3 trong đời sống xã hội thành phố
Cùng thời gian này, thành phố cũng hưởng ứng thực hiện cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở” giai đoạn 1995-2010, giai đoạn 2010-2015 gắn với Đề án “Xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh
đô thị”
Việc triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị (khóa XI) đã giúp cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân thành phố thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, cảnh giác trước âm mưu “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; ý thức và hành động có trách nhiệm với bản thân, gia đình và góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh
Với việc thực hiện các chính sách phát triển văn hoá thời gian vừa qua của thành phố Đà Nẵng đã tạo nên một phong trào thi đua yêu nước rộng khắp, ý thức tự giác của các hộ gia đình, các cá nhân được nâng lên, số hộ nghèo giảm, hình thành nhiều nét đẹp trong cuộc sống, góp phần bài trừ các tệ nạn xã hội,
3 Đà Nẵng đã từng bước xây dựng được môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn minh đô thị với nhiều kết quả đáng khích lệ: năm 2000 có 31,2% KDC không phát sinh tội phạm mới, đầu năm 2005 là 58%, cuối năm 2011 có 1.462/2.245 KDC, đạt 65,1%; năm 2011: có 1.569 KDC không có người nghiện ma tuý trong cộng đồng, đạt 69,8%; 2.052 KDC không có trẻ em bỏ học, đạt 91,4%; 1.685 KDC không có người sinh con thứ 3 trở lên, đạt 70% và 94,68% tổ dân phố đạt “Tổ dân phố không có tội phạm và tệ nạn ma túy” Và hiện nay, 100% cơ quan, doanh nghiệp của thành phố đạt chuẩn văn hóa và 100% xã, phường đạt danh hiệu văn hóa gắn liền với phát triển kinh tế và các thiết chế văn hoá cơ sở
Trang 39bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của thành phố
- Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa - lịch sử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có nhiều tiến bộ
Năm 1997, khi mới chia tách tỉnh, thành phố Đà Nẵng mới chỉ có 4 di tích cấp quốc gia (Danh thắng Ngũ Hành Sơn, Thành Điện Hải, Nghĩa trủng Phước Ninh, Bia chùa Long Thủ), nhưng đến năm 2015, trên địa bàn thành phố đã có 18 di tích cấp quốc gia, 47 di tích cấp thành phố và 40 di tích nằm trong danh mục kiểm kê4
Bảng 2.2 Danh mục di tích cấp quốc gia, cấp thành phố, di tích nằm trong
danh mục kiểm kê của thành phố Đà Nẵng năm 2015
Cấp quốc gia
Ngày Quyết định
Số Quyết định
1 Danh thắng Ngũ
Hành Sơn
Danh thắng
Phường Hoà Hải, quận Ngũ Hành Sơn
10/7/1980 92- VH/QĐ
2 Thành Điện Hải Lịch sử-
văn hoá
Phường Thạch Thang, quận Hải Châu
Phường Nam Dương, quận Hải Châu
Phường Bình Hiên,quận Hải Châu
3959-VH/QĐ
Kiến trúc nghệ thuật
Phường Hoà Cường Nam, quận Hải Châu
Trang 40STT Tên di tích Loại hình Địa điểm
Ngày Quyết định
Số Quyết định
6
Đình Bồ Bản
Kiến trúc nghệ thuật
Xã Hoà Phong, huyện Hoà Vang 04/01/1999
QĐ-BVHTT
01/1999/-7 Đình Tuý Loan
Kiến trúc
- nghệ thuật
Xã Hoà Phong, huyện Hoà Vang 04/01/1999
QĐ-BVHTT
01/1999/-8 Nghĩa trủng Hoà
Vang
Lịch sử- văn hoá
Phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ
Xã Hoà Phước, huyện Hoà Vang
Phường Hoà Thọ Tây, quận Cẩm Lệ
Phường Hải Châu
I, quận Hải Châu
27/8/2007 06/2007/QĐ-
BVHTTDL
13 Đình Thạc Gián
Kiến trúc nghệ thuật
Phường Chính Gián, quận Thanh Khê
18/12/2009
4699/QĐ-BVHTTDL