1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

96 266 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, Internet đang chi phối hầu như mọi lĩnh vực và có vai trò quan trọng đối với con người trên khắp thế giới. Internet là xa lộ thông tin siêu tốc cho phép kết nối và truyền tải một dung lượng thông tin khổng lồ, có thể nói là vô hạn định với tốc độ siêu nhanh. Đây là một kho kiến thức khổng lồ, phong phú và đa dạng được cập nhật hằng ngày, hằng giờ từ khắp nơi trên thế giới; giúp cung cấp thông tin theo yêu cầu của mỗi người, từ việc kinh doanh, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ cho đến tư vấn tình cảm... Nhờ vậy, con người trên khắp hành tinh có thể dể dàng kết nối với nhau, chia sẻ trao đổi thông tin, hình thành dư luận xã hội và tham gia giải quyết những vấn đề toàn cầu, vấn đề khu vực hay toàn quốc gia một cách nhanh chóng. Internet đã và đang trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống, tác động một cách trực tiếp, làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá thể, qua đó tác động đến sự phát triển của toàn xã hội. Nhận thức được sự phát triển mạnh mẽ của nội dung thông tin trên Internet với những đặc thù phức tạp, các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác quản lý đối với thông tin trên Internet và tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để tạo điều kiện cho Internet phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Quan điểm này được thể hiện cụ thể nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách quản lý Internet như Luật Công nghệ thông tin, Luật Viễn thông, Nghị định số 97/2008/NĐ-CP và sau này là Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, trong đó nêu rõ: “Thúc đẩy việc sử dụng Internet trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, công nghệ để tăng năng suất lao động, tạo việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống”. Nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã từng nhấn mạnh trong bài phát biểu “Vì một môi trường Internet tinh khiết và trong sạch”: “Chính phủ Việt Nam khẳng định bảo vệ công dân, bảo vệ các tổ chức, các công ty, các thương hiệu của Việt Nam và của các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam trên Internet. Chúng tôi sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy tắc về hoạt động trên mạng Internet...”[38] Tuy nhiên, trên thực tế, Internet đang thể hiện ngày càng rõ nét đặc trưng của một xã hội ảo, phản ánh ngày càng toàn diện các hoạt động của đời sống thật ở mức độ tự do hơn cho mỗi cá thể, phức tạp hơn cho công tác quản lý. Internet là lĩnh vực đặc thù có sự phát triển nhanh, mạnh, gắn liền với sự phát triển của thế giới. Vì vậy, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quản lý lĩnh vực này cũng đòi hỏi phải được bổ sung, điều chỉnh thường xuyên cho phù hợp với sự phát triển và yêu cầu quản lý. Đến nay, hệ thống văn bản điều chỉnh các hoạt động liên quan đến việc cung cấp, sử dụng thông tin trên Internet đã được bổ sung, hoàn thiện đáng kể song còn chưa đồng bộ và chưa theo kịp sự phát triển. Vấn đề khó khăn trong việc áp dụng chính sách, pháp luật là do tính chất không biên giới của Internet. Chẳng hạn như một hành vi trên Internet có thể vi phạm pháp luật của một nước, nhưng lại là được phép ở một quốc gia khác, vì vậy việc xử lý vi phạm cũng bị giới hạn, chỉ có tác dụng nhất định khi người vi phạm, hành vi vi phạm xảy ra ở quốc gia đó. Hòa chung vào sự phát triển của Internet trên phạm vi quốc gia, trong thời gian qua thành phố Đà Nẵng cũng đã tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet; đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố. Việc phát triển mạng Internet đã được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo và đã thu được những kết quả nhất định: hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm môi trường pháp lý rõ ràng, công khai, minh bạch và bình đẳng; có chính sách khuyến khích hoạt động của các các doanh nghiệp, tạo ra nhiều dịch vụ hấp dẫn, lành mạnh để thu hút người sử dụng trong nước, giảm thiểu tác động tiêu cực của thông tin xấu. Hiện tại, tỷ lệ người dân sử dụng Internet tại Đà Nẵng đứng thứ 2 so với các tỉnh thành trong cả nước; doanh nghiệp có tỷ lệ kết nối Internet đạt 78%. Theo Sở Thông tin và Truyền thông Đà Nẵng, doanh thu ngành Công nghệ thông tin, Viễn thông Internet trong năm 2015 của thành phố đạt 15.874 tỷ đồng. Như vậy, có thể thấy trên thực tế các chính sách quản lý, phát triển Internet có tác động không nhỏ đến hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn; đồng thời vấn đề phát triển Internet của thành phố vẫn chịu những ảnh hưởng nhất định mặt hạn chế đã được phân tích ở trên. Để đánh giá tác động chính sách phát triển, quản lý Internet và thông tin trên mạng và các kênh tác động của chính sách đến các hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; từ đó đưa ra các giải pháp hạn chế các tác động tiêu cực và phát huy các tác động tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Internet trên địa bàn thành phố, tác giả chọn đề tài “Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ Chính sách công.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG XUÂN HIẾU

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG MẠNG INTERNET ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH

VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG MẠNG INTERNET ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 7

1.1 Khái quát về đánh giá chính sách và đánh giá tác động chính sách 7 1.2 Những vấn đề lý luận về tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ 10 1.3 Phương pháp đánh giá tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG MẠNG INTERNET ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI TP ĐÀ NẴNG 28

2.1 Tổng quan về thực hiện các chính sách thông tin truyền thông mạng Internet tại Việt Nam 28 2.2 Kết quả thực hiện các chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Đà Nẵng 32 Kết luận Chương 2 43

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG MẠNG INTERNET ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TỪ THỰC TIỄN TP ĐÀ NẴNG 44

3.1 Kết quả khảo sát về tác động thông tin truyền thông mạng Internet đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP Đà Nẵng 44 3.2 Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn TP Đà Nẵng 52 3.3 Kiến nghị và đề xuất 61

KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VÀ CHỮ VIẾT TẮT

CNTT : Công nghệ thông tin

CNTT-TT : Công nghệ thông tin – truyền thông

BTTTT : Bộ Thông tin và Truyền thông

DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ

DN : Doanh Nghiệp

DNS : Domain Name System - Hệ thống tên miền

ISP : Internet Service Provider - nhà cung cấp dịch vụ Internet IPv4 : Internet Protocol version 4 - Giao thức Internet phiên bản bốn IPv6 : Internet Protocol version 6 - Giao thức Internet phiên bản sáu TPĐN : Thành phố Đà Nẵng

TMĐT : Thương mại điện tử

UBND : Ủy ban nhân dân

VNIX

: Hệ thống các điểm chuyển mạch để kết nối trung chuyển lưu lượng Internet trong nước giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch

vụ Internet

VNCERT : Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp Máy tính Việt Nam (Vietnam

Computer Emergency Response Team) VNNIC : Trung tâm Internet Việt Nam

WTO : Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization)

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

1.1 Quy trình chính sách 8 2.1 Vị trí tên miền vn trong khu vực châu á 28 2.2 Tỷ lệ tăng trưởng tên miền “.vn” 29 2.3 Tỉ lệ tăng trưởng địa chỉ IP 30 2.4 Thời lượng truy cập Internet hàng ngày của người dùng Internet

tại Việt Nam và Tỷ lệ sử dụng Website tại doanh nghiệp theo

các ngành nghề năm 2015

31

2.5 Số lượng tên miền vn tại Đà Nẵng từ năm 2012-2016 37 3.1 Phân bố loại hình doanh nghiệp ở Đà Nẵng 44 3.2 Số năm hoạt động của các DNVVN 45 3.3 Đánh giá của DNVVN về hiệu quả của chính sách tài nguyên

Internet

46

3.4 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các quy định đến hoạt động

của Doanh nghiệp

3.7 Đánh giá về mức độ cần thiết của các giải pháp nâng cao hiệu

quả thực hiện chính sách quản lý Internet

51

3.8 Tỷ lệ người mua hàng trong ngày mua sắm trực truyến 2015 57 3.9 Tác động của chính sách thông tin mạng đối với DN 58 3.10 Mức độ cần thiết của các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện

các quy định quản lý Internet

62

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, Internet đang chi phối hầu như mọi lĩnh vực và có vai trò quan trọng đối với con người trên khắp thế giới Internet là xa lộ thông tin siêu tốc cho phép kết nối và truyền tải một dung lượng thông tin khổng lồ, có thể nói là vô hạn định với tốc độ siêu nhanh Đây là một kho kiến thức khổng lồ, phong phú và đa dạng được cập nhật hằng ngày, hằng giờ từ khắp nơi trên thế giới; giúp cung cấp thông tin theo yêu cầu của mỗi người, từ việc kinh doanh, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ cho đến tư vấn tình cảm Nhờ vậy, con người trên khắp hành tinh có thể dể dàng kết nối với nhau, chia sẻ trao đổi thông tin, hình thành dư luận xã hội và tham gia giải quyết những vấn đề toàn cầu, vấn đề khu vực hay toàn quốc gia một cách nhanh chóng Internet đã và đang trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống, tác động một cách trực tiếp, làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá thể, qua đó tác động đến sự phát triển của toàn xã hội

Nhận thức được sự phát triển mạnh mẽ của nội dung thông tin trên Internet với những đặc thù phức tạp, các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác quản lý đối với thông tin trên Internet và tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để tạo điều kiện cho Internet phục vụ phát triển kinh tế xã hội Quan điểm này được thể hiện cụ thể nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách quản lý Internet như Luật Công nghệ thông tin, Luật Viễn thông, Nghị định số 97/2008/NĐ-CP và sau này là Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet

và thông tin trên mạng, trong đó nêu rõ: “Thúc đẩy việc sử dụng Internet trong mọi

hoạt động kinh tế, xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, công nghệ để tăng năng suất lao động, tạo việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống” Nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã từng nhấn

mạnh trong bài phát biểu “Vì một môi trường Internet tinh khiết và trong sạch”:

“Chính phủ Việt Nam khẳng định bảo vệ công dân, bảo vệ các tổ chức, các công ty, các thương hiệu của Việt Nam và của các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, kinh

Trang 7

doanh tại Việt Nam trên Internet Chúng tôi sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy tắc về hoạt động trên mạng Internet ”[38]

Tuy nhiên, trên thực tế, Internet đang thể hiện ngày càng rõ nét đặc trưng của một xã hội ảo, phản ánh ngày càng toàn diện các hoạt động của đời sống thật ở mức

độ tự do hơn cho mỗi cá thể, phức tạp hơn cho công tác quản lý Internet là lĩnh vực đặc thù có sự phát triển nhanh, mạnh, gắn liền với sự phát triển của thế giới Vì vậy,

hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quản lý lĩnh vực này cũng đòi hỏi phải được bổ sung, điều chỉnh thường xuyên cho phù hợp với sự phát triển và yêu cầu quản lý Đến nay, hệ thống văn bản điều chỉnh các hoạt động liên quan đến việc cung cấp, sử dụng thông tin trên Internet đã được bổ sung, hoàn thiện đáng kể song còn chưa đồng bộ và chưa theo kịp sự phát triển Vấn đề khó khăn trong việc áp dụng chính sách, pháp luật là do tính chất không biên giới của Internet Chẳng hạn như một hành vi trên Internet có thể vi phạm pháp luật của một nước, nhưng lại là được phép ở một quốc gia khác, vì vậy việc xử lý vi phạm cũng bị giới hạn, chỉ có tác dụng nhất định khi người vi phạm, hành vi vi phạm xảy ra ở quốc gia đó

Hòa chung vào sự phát triển của Internet trên phạm vi quốc gia, trong thời gian qua thành phố Đà Nẵng cũng đã tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet; đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa

và nhỏ trên địa bàn thành phố Việc phát triển mạng Internet đã được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo và đã thu được những kết quả nhất định: hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm môi trường pháp lý rõ ràng, công khai, minh bạch và bình đẳng; có chính sách khuyến khích hoạt động của các các doanh nghiệp, tạo ra nhiều dịch vụ hấp dẫn, lành mạnh để thu hút người sử dụng trong nước, giảm thiểu tác động tiêu cực của thông tin xấu Hiện tại, tỷ lệ người dân sử dụng Internet tại Đà Nẵng đứng thứ 2 so với các tỉnh thành trong cả nước; doanh nghiệp có tỷ lệ kết nối Internet đạt 78% Theo Sở Thông tin và Truyền thông Đà Nẵng, doanh thu ngành Công nghệ thông tin, Viễn thông Internet trong năm 2015 của thành phố đạt 15.874 tỷ đồng Như vậy, có thể thấy trên thực tế các chính sách quản lý, phát triển Internet có tác động không nhỏ đến hoạt động của các doanh

Trang 8

nghiệp trên địa bàn; đồng thời vấn đề phát triển Internet của thành phố vẫn chịu những ảnh hưởng nhất định mặt hạn chế đã được phân tích ở trên

Để đánh giá tác động chính sách phát triển, quản lý Internet và thông tin trên mạng và các kênh tác động của chính sách đến các hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; từ đó đưa ra các giải pháp hạn chế các tác động tiêu cực và phát huy các tác động tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Internet trên địa bàn

thành phố, tác giả chọn đề tài “Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng

Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận

văn thạc sĩ Chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về đánh giá tác động của chính sách đã có một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước, điển hình như

Nghiên cứu về chính sách công:

- PGS TS Võ Kim Sơn (2012), "Xây dựng và thực thi chính sách công";

- PGS TS Lê Chi Mai (2007), "Chính sách và quá trình chính sách", NXB Chính trị quốc gia Hà Nội;

- GS TS Nguyễn Trọng Điều (2008), "Khoa học chính sách công – Chu kỳ chính sách và các công cụ dưới chính sách";

- TS Tạ Ngọc Hải (2013), "Chính sách công – Tiếp cận từ khoa học tổ chức nhà nước";

Nghiên cứu về tác động của chính sách:

- Florent Bédécarrats (2013), “Đánh giá tác động: các phương pháp và ứng dụng trong lĩnh vực tài chính vi mô”;

- Nhóm tác giả (2013), “Báo cáo đánh giá tác động xã hội Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên”;

- Trần Văn Tiến (2014), “Tác động của chính sách đổi mới công nghệ đến

sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghiên cứu các doanh nghiệp tại tính Bình Phước)”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn;

Trang 9

- Đặng Ngọc Dinh (2015), “Nghiên cứu đánh giá chính sách”

- TS Lê Minh Toàn (2009) , “Quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin”, NXB CTQG

- TS Lê Minh Toàn (2012) , “Quản lý nhà nước thông tin và truyền thông”, NXB CTQG

Nội dung chủ yếu của các công trình này là nghiên cứu các chính sách vĩ mô, kinh tế, đổi mới công nghệ chưa có đề tài nào đánh giá một cách toàn diện về chính sách thông tin truyền thông mạng Internet tại Việt Nam nhất là trên cơ sở thực tiễn từ một địa phương cụ thể như thành phố Đà Nẵng Do vậy, có thể khẳng định vấn

đề học viên lựa chọn nghiên cứu không có sự trùng lắp về nội dung và đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là khái quát hóa các vấn đề lý luận về chính sách thông tin truyền thông mạng Internet và các kênh tác động của chính sách đến các hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; phân tích, đánh giá thực tế các tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đến các hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ để qua đó đề xuất các giải pháp hạn chế các tác động tiêu cực và phát huy các tác động tích cực của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đến các hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tác động chính sách thông tin

truyền thông mạng Internet đối với các doanh nghiêp vừa và nhỏ

Thứ hai, Phân tích, đánh giá thực tế các tác động của chính sách thông tin

truyền thông mạng Internet đến các hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ để tìm

ra vấn đề tồn tại, hạn chế, nguyên nhân khách quan, chủ quan

Thứ ba, Đề xuất các giải pháp hạn chế các tác động tiêu cực và phát huy các

tác động tích cực của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đến các hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian tới

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đánh giá tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

thương mại điện tử và Chính sách về ứng dụng CNTT

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, nguyên tắc xuất phát dùng để điều chỉnh hoạt động của con người bao gồm việc định hướng hoạt động hướng tới đối tượng, cũng như định hướng, gợi mở cho việc lựa chọn các phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách hợp lý, có hiệu quả nhất

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để có được kết quả nghiên cứu khoa học, chính xác việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu đóng vai trò hết sức quan trọng Đề tài lựa chọn ba phương pháp chủ yếu để sử dụng trong nghiên cứu đó là: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích định tính, phương pháp phân tích định lượng

Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong các nội dung của luận văn và đây cũng là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn

Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong luận văn để xác định các câu hỏi nghiên cứu, xác định các tiêu chí đánh giá tác động, thu thập các ý kiến của chuyên gia về các vấn đề ảnh hưởng chính sách đến các hoạt động của doanh nghiệp

Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận văn để đo lường

Trang 11

các kết quả theo từng tiêu chí đồng thời kiểm tra tính phù hợp của các thang đo từng tiêu chí

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đưa ra cái nhìn tổng quan về tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet trong đó có những chính sách phát triển Internet & tài nguyên Internet, chính sách phát triển thương mại điện tử và tăng cường ứng dụng CNTT

tại Việt Nam nói chung và tại TP Đà Nẵng nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Tìm hiểu, nghiên cứu và tổng hợp các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách thông tin truyền thông mạng Internet ở TP Đà Nẵng nói riêng và trên cả nước nói chung

- Thực hiện khảo sát về tác động chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP Đà Nẵng trên diện rộng và qua

đó đánh giá đúng tác động tiêu cực, tích cực của chính sách đối với hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được được kết cấu thành 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về tác động chính sách và đánh giá tác động chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với các doanh nghiệp vừa

và nhỏ

- Chương 2: Thực trạng tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng

Internet đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Đà Nẵng

- Chương 3: Đánh giá tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng

Internet đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG MẠNG INTERNET ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1 Khái quát về đánh giá chính sách và đánh giá tác động chính sách 1.1.1 Khái niệm về đánh giá chính sách công

Đánh giá chính sách công được nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu và đưa

ra các khái niệm như :

“Đánh giá chính sách công là khách quan, hệ thống và kiểm tra thực nghiệm

các kết quả và mục tiêu dự kiến đạt được đối với đối tượng của chính sách đang

được thực thi” – David Nachmias

“Đánh giá chính sách là học hỏi về các kết quả của chính sách công” –

Thomas Dye [21]

“Đánh giá chính sách là hoạt động kiểm tra chính sách bằng các tiêu chí cụ thể như sự phù hợp, đầy đủ, tính hiệu quả, hiệu suất và các tác động của chính sách nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách giải quyết thành công các vấn đề chính sách công trong tương lai” hoặc :

“Đánh giá chính sách công là các quy định, luật, nguyên tắc, thông lệ mà một nhóm hoặc tổ chức sử dụng để thực hiện các quyết định và hành động liên quan đến đánh giá chính sách”

Khi Việt Nam chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi ban hành các chính sách để tạo ra những nhân tố, môi trường cho sự chuyển đổi trở thành cấp bách Vì vậy, trong một thời gian khá dài, Nhà nước tập trung cao vào việc xây dựng và ban hành các thể chế, nhằm tạo các hành lang pháp lý cho mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội tuy nhiên việc đánh giá chính sách thì dường như bị bỏ qua hoặc rất ít được quan tâm mặc dù khâu đánh giá chính

sách là một khâu quan trọng không thể thiếu của quy trình chính sách

Vai trò cốt lõi của của đánh giá chính sách công chính là:

- Qua đánh giá rút ra những bài học về thiết lập chương trình xây dựng chính sách hoặc các công cụ chính sách

Trang 13

- Biết được chất lượng và hiệu quả của chính sách

- Nhận biết được đầy đủ tầm quan trọng của chính sách công trong quản lý

- Biết được sự hài lòng và ý thức chấp hành, thực hiện chính sách của các đối tượng chính sách và người dân

- Biết được năng lực và trình độ hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách công của các cơ quan quản lý nhà nước và Cán bộ công chức

1.1.2 Khái niệm về đánh giá tác động chính sách

Đánh giá tác động của chính sách là một hoạt động quan trọng trong quá trình

nghiên cứu chính sách, nhằm làm rõ ảnh hưởng của chính sách đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và đối với sự phát triển của xã hội nói chung Việc đánh giá này gồm cả nội dung phân tích trước khi thực hiện chính sách (dự báo) và phân tích hiệu quả đạt được sau khi thực hiện chính sách Các đối tượng chịu tác động của chính sách được phân ra: chịu tác động trực tiếp và chịu tác động gián tiếp Các tác động có thể là tích cực hoặc tiêu cực, có tác động có thể dự đoán được,

có tác động không được dự đoán trước

1.1.3 Nội dung đánh giá chính sách công

Đánh giá chính sách là một khâu quan trong của hậu kiểm quá trình thực hiện chính sách công trong quá khứ để từ đó hình thanh căn cứ xây dựng các chính sách

Xác định vấn

đề chính sách

Hoạch định chính sách

Thực thi chính sách

Phát hiện mâu

thuẩn

Phân tích chính sách

Duy trì chính sách

Đánh giá chính sách

Hình 1.1 Quy trình chính sách

Trang 14

mới Căn cứ vào kết quả đánh giá chính sách để biết được chính sách được thực hiện đến đâu? Mục tiêu có hoàn thành không? Các giải pháp chính sách có hiệu quả không? Có cần phải điều chỉnh gì không? Và đã đến lúc kết thúc chính sách chưa Nội dung đánh giá thường tập trung vào các vấn đề sau:

- Đánh giá đầu vào

- Nhằm đo lường số lượng của đầu vào của chương trình thực thi chính sách công gồm:

- Số lượng các yếu tố được huy động sử dụng và nỗ lực của CBCC để thực hiện các mục tiêu chính sách (nhân sự, công sở, trang thiết bị kỹ thuật, văn phòng phẩm, công cụ lao động, chi phí tài chính…)

- Áp dụng các phương pháp tính toán mọi chi phí đầu vào trên cơ sở định mức tài chính hiện hành của nhà nước hoặc theo giá trị trường của các yếu tố đầu vào

- Đánh giá đầu ra

- Xem xét kết quả đầu ra của chương trình dự án thực thi chính sách công trong mối tương quan với việc sử dụng các nguồn lực đầu vào để thực hiện mục tiêu một chính sách cụ thể

- Mục đích của đánh giá thực thi là để xác định xem chính sách đang tạo ra giá trị gì cho xã hội, có thể không liên quan trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách

đã tuyên bố, cung cấp dữ liệu cho đánh giá hiệu lực hiệu quả chính sách công

- Đánh giá hiệu lực

- Xác định xem các chương trình, dự án đang thực hiện có tạo ra những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách hay không?

- Đánh giá hiệu lực chính sách khó và phức tạp, cần khối lượng thông tin lớn

- Đánh giá hiệu quả

- Xem xét các chi phí của một chương trình, dự án cụ thể để đạt được mục tiêu của chính sách

- Phân tích đánh giá đầu vào và phân tích đánh giá đầu ra dưới hình thức giá trị, sau đó so sánh kết quả giữa chúng

- Đánh giá quá trình

Trang 15

- Xem xét các phương pháp tổ chức, bao gồm các quy trình và thủ tục hoạt động được sử dụng để hiện chương trình, dự án thuộc chính sách công

- Mục tiêu của đánh giá này nhằm xác định xem quá trình duy trì chính sách

có được tổ chức hợp lý và có hiệu quả không?

1.1.4 Các phương pháp đánh giá

- Đánh giá “trước” các chính sách (tiên nghiệm) là việc đánh giá tác động

tiềm tàng của một chính sách trước khi triển khai nhằm mục đích so sánh các giải pháp chính sách, gói chính sách công: Cách tiếp cận mang tính chuẩn tắc, tiềm năng của chính sách sẽ triển khai; áp dụng cho các chính sách kinh tế vĩ mô Dựa vào mô hình kinh tế vĩ mô

- Đánh giá “sau” chính sách (hậu nghiệm) là đánh giá tác động của chính

sách: Cách tiếp cận mang tính thực chứng – dựa trên số liệu vi mô và kỹ thuật kinh

1.2.1 Khái niệm và các yếu tố tác động đến doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính

phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Doanh nghiệp nhỏ và vừa được

định nghĩa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

Trang 16

Bảng 1.1 Bảng quy mô doanh nghiệp

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động nguồn vốn Tổng Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động

I Nông, lâm

nghiệp và

thủy sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người II.Công

nghiệp và

xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người III.Thương

mại và dịch

vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10 tỷ đồng đến 50

tỷ đồng

từ trên 50 người đến

100 người Tuy nhiên, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa để Gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế GTGT năm 2013 theo TT 16/2013/TT-BTC thì căn cứ vào tiêu chí DOANH THU và SỐ LAO ĐỘNG:

Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ là doanh nghiệp sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng

Như vậy, trong luận văn này sử dụng khái niệm Doanh nghiệp có quy mô vừa

và nhỏ là doanh nghiệp sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm

và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng để làm đối tượng phân tích

1.2.1.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được trong qúa trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Nó phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Các đại lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra cũng như trình độ lợi dụng các nguồn lực nó chịu tác động trực tiếp của rất nhiều các nhân tố khác nhau với các mức độ khác nhau, do đó nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt các DNNVV ta có thể chia nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như sau:

Trang 17

a Các yếu tố bên ngoài

Môi trường vĩ mô

- Tự nhiên: tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Về

cơ bản thường tác động bất lợi đối với các hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có liên quan đến tự nhiên như: sản xuất nông phẩm, thực phẩm theo mùa, kinh doanh khách sạn, du lịch

- Kinh tế: Bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nền

kinh tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hố đoái tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Kỹ thuật - Công nghệ: đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến doanh

nghiệp Các yếu tố công nghệ thường biểu hiện như phương pháp sản xuất mới, kĩ thuật mới, vật liệu mới, thiết bị sản xuất, các bí quyết, các phát minh, phần mềm ứng dụng

- Văn hóa - Xã hội: ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh doanh

của một doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra Mỗi một sự thay đổi của các lực lượng văn hóa có thể tạo ra một ngành kinh doanh mới nhưng cũng có thể xóa

đi một ngành kinh doanh

- Chính trị - Pháp luật: gồm các yếu tố chính phủ, hệ thống pháp luật, xu

hướng chính trị các nhân tố này ngày càng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp Sự ổn định về chính trị, nhất quán về quan điểm, chính sách lớn luôn

là sự hấp dẫn của các nhà đầu tư Trong xu thế toàn cầu hiện nay, mối liên hệ giữa chính trị và kinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện trong các quan hệ quốc tế Để đưa ra được những quyết định hợp lí trong quản trị doanh nghiệp, cần phải phân tích, dự báo sự thay đổi của môi trường trong từng giai đoạn phát triển

Môi trường vi mô

- Nhà cung cấp

- Khách hàng

Trang 18

b Các yếu tố bên trong

Nguồn nhân lực

Con người là yếu tố cốt lõi trong mọi hoạt động của các loại hình doanh nghiệp, quyết định sự thành công hay không của các doanh nghiệp, các tổ chức ở mỗi quốc gia Trong các doanh nghiệp yếu tố này cực kỳ quan trọng vì mọi quyết định liên quan đến quá trình quản trị chiến lược đều do con người quyết định, khả năng cạnh tranh trên thị trường mạnh hay yếu, văn hóa tổ chức tốt hay chưa tốt v.v đều xuất phát từ con người

Nguồn lực vật chất

Nguồn lực vật chất bao gồm những yếu tố như: vốn sản xuất, nhà xưởng máy móc thiết bị, nguyên vật liệu dự trữ, thông tin môi trường kinh doanh v.v Mỗi doanh nghiệp có các đặc trưng về các nguồn lực vật chất riêng, trong đó có cả điểm mạnh lẫn điểm yếu so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành

Các nguồn lực vô hình

Ngoài các nguồn lực trên, mỗi doanh nghiệp hoặc tổ chức còn có các nguồn lực khác mà con người chỉ nhận diện được qua tri giác, đó là các nguồn lực vô hình Nguồn lực này có thể là thành quả chung của các thành viên trong tổ chức hoặc một

cá nhân cụ thể và ảnh hưởng đến các quá trình hoạt động Nguồn lực vô hình thể hiện qua nhiều yếu tố và nhà quản trị các cấp cần có đầy đủ những kiến thức cơ bản mới có thể nhận thức rõ sự hiện diện và biết được tầm quan trọng của nguồn lực này Chúng bao gồm nhiều yếu tố tiêu biểu như: Tư tưởng chủ đạo trong triết lý kinh doanh; Chiến lược và chính sách kinh doanh thích nghi với môi trường, Cơ cấu

tổ chức hữu hiệu, Uy tín trong lãnh đạo của nhà quản trị các cấp…

Trang 19

Qua nghiên tài liệu và kế thừa một số kết quả của các công trình nghiên cứu tác giả đưa ra một số yếu tố chính tác động đến sự phát triển của các DNVVN như sau:

- Chính sách của địa phương như: Chính sách hỗ trợ của địa phương, Thủ tục hành chính, Hỗ trợ từ Hội doanh nghiệp, Hạ tầng cơ sở, Thủ tục thuê đất.[36]

- Năng lực nội tại của doanh nghiệp: Trang thiết bị, Thông tin thị trường, Tiếp thị và Trình độ lao động.[37]

- Yếu tố vốn: Tiếp cận thị trường vốn, Tiếp cận các tổ chức tín dụng, Thủ tục

vay vốn, Chính sách lãi suất

- Chính sách vĩ mô: Chính sách hỗ trợ DNVVN, Hệ thống luật pháp và Chính

sách thuế

Như vậy, yếu tố chính sách có tác động rất đáng kể đối với sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam nói chung và tại Đà Nẵng nói riêng Nhận thức được tầm quan trọng đó, tại các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc các thời kỳ, chủ trương của Đảng là thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân vững chắc, phù hợp với trình độ sản xuất Thực hiện chủ trương này, Nhà nước đã thể chế hóa, ban hành các luật liên quan để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp (DN) hoạt động sản xuất, kinh doanh như Luật Đầu tư (sửa đổi) và Luật DN (sửa đổi) có hiệu lực từ 01/7/2015 quy định lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư thu hút các dự án đầu tư có chất lượng và hiệu quả; các quy định về điều kiện và thủ tục đầu tư, kinh doanh có tính minh bạch, khả thi và đồng bộ; tạo mặt bằng pháp lý bình cho nhà đầu tư trong và nước ngoài… Bên cạnh đó, Luật Thuế GTGT năm 2013 (có hiệu lực từ 1/1/2014) có một số nội dung quan trọng được sửa đổi; bổ sung chính sách ưu đãi thuế đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ, công nghệ cao… để khuyến khích, hỗ trợ DN đầu tư phát triển khoa học công nghệ

Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 quy định các cơ chế, chính sách ưu đãi dành cho DN khoa học và công nghệ, trong đó có các chính sách ưu đãi liên quan đến quyền sở hữu nhà nước, chính sách ưu đãi về thuế thu nhập DN, miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật, ưu tiên sử dụng thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và

Trang 20

phát triển công nghệ tại phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo DN, cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ của Nhà nước…

Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 77/2014-QH13 ngày 10/11/2014 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015, trong đó đề cập đến việc xây dựng các chính sách hỗ trợ và tạo ra những điều kiện cần thiết để phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh các DN, nhất là đối với khu vực kinh tế tư nhân trong năm 2015 Theo đó, Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hạ mặt bằng lãi suất tín dụng phù hợp với mức giảm lạm phát; có biện pháp hỗ trợ, đơn giản hóa thủ tục cho vay và tăng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ

và vừa (DNNVV), DN sản xuất hàng xuất khẩu, DN công nghiệp hỗ trợ Trong năm

2014, xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể Năm 2015, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2015-2016, các bộ ngành, địa phương và hiệp hội ngành nghề tích cực thực hiện

Đặc biệt, thế kỷ XXI đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế tri thức, của sự bùng nổ thông tin Chính nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung, Internet nói riêng đã làm cho đời sống và trình độ hiểu biết của con người được nâng cao rõ rệt quan hệ hợp tác, trao đổi thông tin liên lạc giữa người với người càng xích lại gần nhau Bên cạnh đó, chính sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin cũng đã đặt ra cho xã hội loài người nhiều vấn đề bất cập Để phát huy những thế mạnh của Internet đồng thời hạn chế những tác động xấu của nó đối với đời sống xã hội, ngay từ khi Internet mới phát triển và lan rộng, những chính sách thông tin truyền thông mạng Internet mà Chính phủ đề ra đã góp phần tích cực trong sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nói riêng Luận văn này sẽ có những phân tích sâu hơn đối với những Chính sách Thông tin truyền thông mạng Internet của Việt Nam ở phần tiếp theo

1.2.2 Chính sách Thông tin truyền thông mạng Internet và tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2.2.1 Chính sách Thông tin truyền thông mạng Internet

Thông tin truyền thông mạng Internet là một khái niệm có phạm vi rất rộng,

Trang 21

liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều bộ ngành khác nhau Trong phạm vi luận văn nay tác giả chỉ tập trung nghiên cứu và đánh giá tác động của các chính sách liên quan đến các hoạt động của các DNVVN cụ thể vào các lĩnh vực sau:

a Chính sách quản lý và phát triển tài nguyên Internet

Việt Nam chính thức hòa mạng Internet ngày 19/11/1997 Trong gần 20 năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc đối với việc ứng dụng các dịch

vụ Internet ở Việt Nam Theo số liệu thống kê của Trung tâm số liệu Internet quốc

tế, Việt Nam xếp hạng 18/20 quốc gia có tỷ lệ người sử dụng Internet lớn nhất thế giới và đứng thứ 8 ở châu Á, với 48,6 triệu người sử dụng Internet, chiếm hơn 52% dân số Theo các chuyên gia, với giá cước ngày càng rẻ, số lượng người dùng Internet ở Việt Nam sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới

Có thể thấy Internet phát triển đem lại nhiều tác động tích cực trong đời sống

xã hội Nó không chỉ góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế ở đất nước ta mà còn giúp người dân trên khắp mọi miền Tổ quốc có thể thu hẹp khoảng cách phát triển, dễ dàng cập nhật tin tức nhanh chóng, thuận lợi

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, Internet cũng đem lại nhiều tác động tiêu cực Vì Internet là một “thế giới phẳng”, trên đó tồn tại nhiều vấn đề phức tạp ảnh hưởng lớn đến nhận thức và hành động của những người tiếp nhận nó Đặc biệt hiện nay, thông tin trên Internet là đa chiều, nhiều nguồn không được kiểm duyệt, thiếu tính định hướng Thêm vào đó không ít đối tượng lợi dụng Internet như một phương tiện để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vu khống, kích động biểu tình, gây hoang mang dư luận Thủ đoạn thường dùng là chúng thông qua các trang blog các nhân, viết các bài viết xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng hoặc qua các trang mạng xã hội như Facebook, Twish,… để đưa các thông tin sai trái nhằm kích động quần chúng nhân dân Thực trạng trên đòi hỏi việc quản lý Internet là vấn đề tất yếu nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó tác động đến đời sống xã hội, đến văn hóa, nhận thức, tư tưởng, lối sống, đặc biệt lối sống của thanh thiếu niên Thực tế khi Internet mới ra lúc này Chính phủ ban hành Qui chế tạm thời về

Trang 22

quản lý, thiết lập, sử dụng mạng Internet ở Việt Nam Lúc đó, tư duy là quản lý được đến đâu thì phát triển đến đó Nhưng sau mấy năm, khi Internet bắt đầu phát triển, chúng ta xây dựng Nghị định 55/2001/NĐ-CP với tư duy phát triển đi đôi với quản lý, nhưng quản lý không làm ảnh hưởng đến phát triển Đến bây giờ, khi xây dựng Nghị định 72, tư duy của chúng ta là quản lý phải theo kịp sự phát triển của Internet Đây là bước đột phá về mặt tư duy Quản lý Internet không những không làm hạn chế sự phát triển của nó mà còn giúp sự phát triển có tính định hướng, phục

vụ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội đất nước

b Chính sách về hoạt động thương mại điện tử

Xã hội bước vào một kỷ nguyên số hóa, phát triển nền kinh tế tri thức với TMĐT là một thành tố quan trọng TMĐT đã đóng góp vai trò quan trọng trong xã hội, nhằm đưa đất nước tiến lên một tầm cao mới, một kỷ nguyên về công nghệ TMĐT là phương tiện để tăng cường hội nhập quốc tế là hoạt động thúc đẩy phát triển ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh và quản lý Chính vì vậy mà Chính phủ đã quan tâm nhìn nhận và ban hành nhiều chính sách giúp cho hoạt động TMĐT như:

Tháng 11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Giao dịch điện tử Để Luật vào cuộc sống, tháng 6/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về TMĐT Đầu năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-

CP ngày 23/02/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử

về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số và Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng

Nội dung chủ yếu của Nghị định 57/2006/NĐ-CP thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại, ngoài ra có một số quy định cụ thể khác Cho tới cuối năm 2012, TMĐT ở Việt Nam phát triển nhanh và đa dạng, đồng thời cũng xuất hiện những mô hình mang danh nghĩa TMĐT thu hút rất đông người tham gia nhưng gây tác động xấu tới xã hội

Ngày 16/5/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về

Trang 23

TMĐT thay thế cho Nghị định 57/2006/NĐ-CP Nghị định mới đã quy định những hành vi bị cấm trong TMĐT, quy định chặt chẽ trách nhiệm của các thương nhân cung cấp các dịch vụ bán hàng trực tuyến, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về TMĐT Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị định mới là tạo môi trường thuận lợi hơn cho TMĐT, nâng cao lòng tin của người tiêu dùng khi tham gia mua sắm trực tuyến

Theo đánh giá của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, từ năm 2016 thương mại điện tử Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với nét nổi bật là tốc độ phát triển nhanh và ổn định

Giai đoạn từ năm 1998 tới năm 2005 là giai đoạn hình thành thương mại điện

tử với hoạt động nổi bật là xây dựng hạ tầng cho thương mại điện tử Trong giai đoạn này hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, đặc biệt là Internet, đã đáp ứng bớc đầu cho kinh doanh trực tuyến Đồng thời, giá trị pháp lý của thương mại điện

tử đợc xác lập tại Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin, Bộ Luật Dân

sự, Luật Thương mại và một số luật khác Một số doanh nghiệp đã sử dụng email và xây dựng website phục vụ hoạt động kinh doanh Có doanh nghiệp đã đầu tư vào

mô hình sàn thương mại điện tử hoặc cung cấp công nghệ, giải pháp triển khai thương mại điện tử

Giai đoạn tiếp theo từ năm 2006 tới năm 2015 là giai đoạn phổ cập thương mại điện tử Về chính sách, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành hai Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010 và 2011 – 2015 với các mục tiêu rõ ràng và giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ ngành và địa phương Về pháp luật, nhiều nghị định và văn bản pháp luật khác về thương mại điện tử, công nghệ thông tin và truyền thông đã đợc ban shành Song song với thương mại điện tử, Chính phủ cũng quyết liệt triển khai chính phủ điện tử Trong giai đoạn này hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là Internet và công nghệ di động, đã phát triển nhanh, cơ bản đáp ứng tốt yêu cầu phát triển thương mại điện tử

Về phương diện kinh doanh, thương mại điện tử đã được triển khai ở các mức

độ khác nhau tại hầu hết doanh nghiệp Tỷ lệ người tiêu dùng trực tuyến tăng

Trang 24

nhanh, đặc biệt là tại các thành phố lớn Tuy nhiên, quy mô giao dịch trực tuyến còn thấp Theo thông tin từ Cục Thương mại Điện tử và Công nghệ thông tin (Bộ Công Thương) công bố doanh số thương mại điện tử giữa các công ty và người tiêu dùng (B2C) của Việt Nam năm 2015 đạt khoảng 4,07 tỷ USD, tăng 37% so với năm trước đó, chiếm khoảng 2,8% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước

Giai đoạn từ năm 2016 tới năm 2020, thậm chí tới năm 2025, có thể là giai đoạn phát triển nhanh của thương mại điện tử Việt Nam Cuối năm 2015, hãng Ken Research dự đoán quy mô thị trường thương mại điện tử bán lẻ Việt Nam năm 2019 đạt 7,5 tỷ USD Tuy nhiên, cần xem xét thương mại điện tử một cách toàn diện hơn, bao gồm giao dịch B2C, B2B, G2B và các loại hình khác, nhất là sự phát triển của công nghệ đã hậu thuẫn mạnh mẽ cho loại hình giao dịch giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng (C2C)

Vai trò của Nhà nước trong giai đoạn thứ ba này có thể còn lớn hơn trong hai giai đoạn trước Nhà nước không chỉ có chức năng tạo môi trường thuận lợi và thúc đẩy sự phát triển thương mại điện tử mà cần trở thành người mua lớn nhất (mua sắm chính phủ qua đấu thầu trực tuyến) và bán (cung cấp dịch vụ công trực tuyến thu phí) hàng đầu

Số lượng và quy mô giao dịch trực tuyến tăng lên cũng như nhiều hình thức kinh doanh trực tuyến mới xuất hiện sẽ dẫn tới số lượng và sự phức tạp của các tranh chấp trong thương mại điện tử tăng theo Các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử, quản lý thị trường, quản lý cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, các tổ chức trọng tài và tòa án ở Trung ương cũng như các địa phương cần nâng cao năng lực xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật và xét xử

c Chính sách về ứng dụng CNTT

Ngành CNTT Việt Nam trong những năm gần đây tiếp tục phát triển mạnh

mẽ, thu được nhiều kết quả khả quan, trong đó đáng chú ý là Thủ tướng Chính phủ

đã phê duyệt Ðề án 'Ðưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT' Ðây chính

là động lực để ứng dụng CNTT tiếp tục thu được một số kết quả quan trọng, tạo nền

Trang 25

tảng ứng dụng CNTT, phát triển Chính phủ điện tử, ứng dụng hệ thống thư điện tử

và hệ thống quản lý văn bản và điều hành; triển khai xây dựng các trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử phục vụ người dân và doanh nghiệp Sau khi đề án được phê duyệt, Bộ TT&TT đã và đang triển khai xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện các nhiệm vụ mà Ðề án đề ra Ngày 26/10, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1819/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020, nhằm mục tiêu cung cấp các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau; ứng dụng CNTT để giảm thời gian, chi phí cho người dân, doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính; ứng dụng hiệu quả CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm tăng tốc độ xử lý công việc, giảm chi phí hoạt động Đồng thời phát triển hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin…

Mục tiêu cụ thể như sau: 30% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến tại mức độ 4; 95% hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp được nộp qua mạng; 90% số doanh nghiệp thực hiện nộp thuế qua mạng… 80% văn bản trao đổi giữa các cơ quan nhà nước dưới dạng điện tử (bao gồm cả các văn bản gửi song song cùng văn bản giấy)…

Bên cạnh đó, Nhà nước ưu tiên các doanh nghiệp đó tham gia làm tổng thầu thực hiện một số dự án lớn về CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và áp dụng quy trình sản xuất, quản lý chất lượng theo chuẩn quốc tế, đồng thời rà soát, sửa đổi thuế giá trị gia tăng theo hướng đưa sản phẩm và dịch vụ phần mềm vào đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng; sửa đổi thuế xuất nhập khẩu theo hướng thuế nhập khẩu linh kiện phần cứng máy tính, điện

tử không cao hơn thuế nhập khẩu sản phẩm hoàn chỉnh; sửa đổi thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phần mềm và sản xuất sản phẩm nội dung số được hưởng mức ưu đãi tương tự như doanh nghiệp sản xuất sản

Trang 26

phẩm phần mềm Áp dụng các chính sách ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật dành cho công nghệ cao để phát triển ba trung tâm công nghiệp phần mềm, nội dung số và dịch vụ CNTT tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Ðà Nẵng và ba cụm công nghiệp phần cứng, điện tử tại ba miền Bắc, Trung, Nam

Nhìn chung, những chủ trương, chính sách về ứng dụng và phát triển CNTT của Đảng và Nhà nước đã tạo ra định hướng rõ ràng, hỗ trợ và có những tác động tích cực đối với việc thúc đẩy ứng dụng và phát triển CNTT cho cộng đồng doanh nghiệp Cho tới nay, những chính sách của Nhà nước từ các văn bản như Luật, Nghị định của Chính phủ và Quyết định của Thủ tứớng Chính phủ đều thể hiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp ứng dụng và phát triển CNTT Điều này thể hiện sự quyết tâm và cam kết của Đảng và Nhà nước trong việc hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp Nhà nước đề cao sự bình đẳng, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp

tư nhân trong việc khuyến khích, thúc đẩy và hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia vào thế giới số để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh, có đủ khả năng tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.2.2 Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

a Tác động của chính sách phát triển tài nguyên Internet

Tài nguyên Internet gồm có tên miền, địa chỉ IP, số hiệu mạng là các thông số

cơ bản để phục vụ cho hoạt động Internet; Không có tên miền, địa chỉ IP thì chúng

ta không thể kết nối được Internet Trong đó, có thể nói tên miền đóng vai trò rất quan trọng trong nhận diện thương hiệu, mở rộng thị trường, khách hàng, đối tác, quảng bá thông tin rộng rãi, nhanh chóng và cũng là cơ hội tiếp cận thị trường lớn cho nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất - kinh doanh Gọi Internet là nguồn tài nguyên vì nó có thể đem lại hiệu quả lớn trong bối cảnh hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng Đây cũng là kênh giúp doanh nghiệp, cá nhân quảng bá, giới thiệu hình ảnh về hoạt động, sản phẩm của mình một cách nhanh và rẻ nhất đến khách hàng Quả thật, sự phát triển của Internet tại Việt Nam là một thế mạnh để các doanh nghiệp, cá nhân xây dựng website giới thiệu về hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ

để tăng khách hàng và tăng khả năng giao thương, bán hàng

Trang 27

Tên miền và website gắn liền với nhau thiết kế một website đẹp, uy tín có đầy

đủ thông tin về hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và truy cập nhanh sẽ đem lại cho doanh nghiệp thêm nhiều cơ hội cạnh tranh khi Việt Nam đang mở cửa thị trường Số lượng người sử dụng Internet tại Việt Nam đang gia tăng nhanh, đây sẽ là kênh để doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, bán hàng Thực tế, hầu hết những người dùng Internet trước khi quyết định mua một sản phẩm nào đó, thường vào mạng xem hình dáng, màu sắc, chất lượng, giá cả để so sánh và chọn nơi uy tín nhất đặt mua hàng

Phát triển về tài nguyên Internet là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển về hội nhập của doanh nghiệp

b Tác động của chính sách thương mại điện tử

TMĐT là một phương thức kinh doanh mới dựa trên nền tảng là CNTT và mạng Internet Sự ra đời của nền kinh tế số đã làm xuất hiện rất nhiều mô hình kinh doanh mới như mua theo nhóm, đấu giá trực tuyến, sàn giao dịch TMĐT, chợ điện tử…Trên thế giới đã được ứng dụng từ đầu những năm 1990, theo số liệu tính toán của eMarketer (www.emarketer.com) về sự tăng trưởng của tổng doanh số TMĐT năm 2000 là 280 tỷ USD, năm 2001 đạt gần 480 tỷ USD, năm 2005 đạt 4.000 tỷ USD và dự báo cho đến năm 2015 doanh số đạt hơn 45.000 tỷ USD Chính vì hiệu quả to lớn như vậy nên xu hướng ứng dụng TMĐT trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng trở nên mạnh mẽ nhằm bắt kịp với sự phát triển của nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu, sự thay đổi của khách hàng và những tiến bộ nhanh chóng của khoa học và công nghệ

Đối với DNNVV, TMĐT có vai trò là một phương thức kinh doanh mới, hiện đại, hiệu quả Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, môi trường kinh doanh đối với DNNVV ngày càng trở nên khốc liệt thì tính hiện đại hóa và tính hiệu quả của TMĐT càng thể hiện rõ ràng và giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhanh chóng bắt kịp nhịp điệu của xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện ở các mặt sau:

- Mở rộng thị trường, quảng bá thông tin cho thị trường trong và ngoài nước

với chi phí thấp

Trang 28

Với lợi thế và những tính năng vô cùng ưu việt của phương tiện điện tử, viễn thông, Internet TMĐT giúp cho doanh nghiệp có khả năng nắm bắt thông tin phong phú về kinh tế - xã hội Doanh nghiệp có thể rút ngắn được thời gian thu thập thông tin và thu thập được nhiều nguồn thông tin phong phú, rộng khắp, ít tốn kém về khách hàng, đối tác kinh doanh, ngay cả với các đối thủ cạnh tranh, hay là những thông tin về thị trường mà doanh nghiệp đang hướng tới

TMĐT đã mở ra cho doanh nghiệp một phương pháp mới và nâng cao hơn khả năng tiếp cận thị trường Đây là vấn đề mà các doanh nghiệp đang rất chú ý và thường được xem như là một phương pháp maketing mới đó là maketing trực tuyến (online maketing), đó cũng là một khả năng rất quan trọng có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh Nhờ đó, các doanh nghiệp xây dựng được những chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với thị trường trong nước và phù hợp với khu vực cũng như quốc tế Ví dụ: với một website TMĐT doanh nghiệp có thể đưa thông tin quảng cáo tới hàng triệu người xem ở mọi nơi trên thế giới, hơn nữa doanh nghiệp

có thể quảng cáo đến 24 giờ mỗi ngày và 7 ngày mỗi tuần liên tục đến với khách hàng tiềm năng ở mọi nơi trên thế giới

- Giảm chi phí hoạt động và tăng hiệu suất kinh doanh

DNNVV ứng dụng TMĐT có thể kinh doanh 24 giờ/1 ngày và liên tục 7 ngày trong tuần Doanh nghiệp không cần phải tốn kém nhiều chi phí cho việc thuê cửa hàng, mặt bằng và trả lương cho nhân viên phục vụ, cũng không cần phải đầu tư nhiều vào hệ thống kho chứa hàng … Thông qua website TMĐT, DNNVV có thể tiến hành giao dịch điện tử, ký kết hợp đồng điện tử, catalog điện tử trên website không những phong phú hơn về nội dung, số lượng, sản phẩm dịch vụ mà còn được thường xuyên cập nhật Theo ước tính của UNCTAD (2007), việc mua sắm nguyên liệu được thực hiện qua Internet sẽ tiết kiệm trung bình từ 10-20% chi phí và tiết kiệm 80 – 90% thời gian giao dịch Đặc biệt với hàng xuất khẩu, doanh nghiệp có thể ngồi ở nhà tìm khiếm khách hàng qua mạng, tại cùng thời điểm đó website của doanh nghiệp có thể phục vụ hàng triệu người khắp thế giới với nhiều yêu cầu khác nhau về thông tin sản phẩm, chủng loại, hình ảnh, chất lượng, mẫu mà … Thông tin giá cả được cập nhật và thay đổi tức thời tùy theo biến động của thị trường

Trang 29

Đối với các doanh nghiệp hoạt động TMĐT, ngoài việc giảm chi phí trực tiếp, TMĐT còn giúp các doanh nghiệp giảm chi phí do đem lại khả năng hợp lý hóa khâu cung cấp nguyên vật liệu, sản phẩm, bảo hành; tự động hóa quá trình hợp tác kinh doanh; giảm chi phí quan hệ trong doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với khách hàng, với đối tác Qua đó, TMĐT giúp các doanh nghiệp tăng năng lực phục

vụ khách hàng, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, mở rộng phạm vi cũng như dung lượng kinh doanh

- Không bị tác động bởi vị trí địa lý, tăng doanh thu

Đối với DNNVV ứng dụng TMĐT giờ đây đã không bị bó buộc bởi vị trí địa

lý hay là hạn chế về thời gian làm việc giúp tăng doanh thu đáng kể DNNVV không chỉ có thể bán hàng tại nơi mình đang kinh doanh mà có thể bán được hàng rộng khắp trên cả nước và nước ngoài Thông qua các phương tiện điện tử, với các hình thức kinh doanh mới như bán lẻ trực tuyến (B2C), các doanh nghiệp có thể tiếp cận với nhiều khách hàng thông qua các Website cung cấp dịch vụ TMĐT (B2B)

Vì thế khách hàng sẽ tăng lên đáng kể chi phí giảm đi rất nhiều việc này đồng nghĩa với lợi nhuận tăng cao, đó là điều mà doanh nghiệp hàng mơ ước Đây cũng là vai trò rất to lớn của TMĐT với DNNVV

- Nâng cao năng lực cạnh tranh

TMĐT mang lại cho DNNVV các công cụ để làm hài lòng khách hàng trong thời đại mà yếu tố thời gian là vàng bạc Ngày nay, chất lượng phục vụ và thái độ phục vụ rất quan trọng trong việc tìm và giữ khách hàng, họ sẽ không kiên nhẫn chờ doanh nghiệp trong khi đó có bao nhiêu đối thủ cạnh tranh đang mời chào họ Kinh doanh trên mạng là một sân chơi đầy sáng tạo, DNNVV tha hồ áp dụng những ý tưởng hay nhất, mới nhất về dịch vụ hỗ trợ, chiến lược tiếp thị v.v…Năng lực cạnh tranh của DNNVV còn phụ thuộc vào sản phẩm, chất lượng và giá thành hàng hóa Tùy vào từng loại hình kinh doanh, DNNVV ứng dụng TMĐT sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho các bên tham gia:

- Đối với DNNVV kinh doanh dịch vụ phục vụ: như ăn uống, giải trí, vui chơi,

du lịch … thì cần nhất một website với đầy đủ thông tin và ấn tượng nhất về tất cả các dịch vụ mà mình kinh doanh nhằm tạo ấn tượng cho khách hàng

Trang 30

- Đối với DNNVV kinh doanh hoặc sản xuất hàng hóa tiêu dùng cho thị

trường trong nước: chủ yếu là maketing, tương tác với người tiêu dùng, tốt nhất nên

có kênh bán hàng và thanh toán trực tuyến theo mô hình doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C) Tuy nhiên doanh nghiệp cũng nên tận dụng TMĐT như là một công cụ maketing rất tốt cho doanh nghiệp mình thông qua mạng internet giới thiệu sản phẩm mới, khuyến mãi, khảo sát ý kiến người tiêu dùng …

- Đối với DNNVV sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu: TMĐT là công

cụ hỗ trợ rất tốt trong việc đưa thương hiệu của mình ra với thị trường nước ngoài Với website TMĐT doanh nghiệp có thể giới thiệu hàng, chuyển tải thông tin, hình ảnh sản phẩm của mình trên toàn thế giới

c Tác động các chính sách ứng dụng CNTT

Hiện nay, công nghệ thông tin (CNTT) đang hiện diện và đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong quá trình quản trị, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Sự phát triển và ứng dụng của Internet đã làm thay đổi mô hình và cách thức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc chuyển dần các giao dịch truyền thống sang giao dịch điện tử đã ảnh hưởng đến vị trí, vai trò và cả nhu cầu của các bên hữu quan (khách hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư…) của doanh nghiệp Công việc quản lý kinh doanh một khi được “số hóa” sẽ giúp ích đáng kể cho các doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, thời gian, nhân sự Chính

vì thế, ngày càng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ứng dụng các giải pháp công nghệ thông tin (CNTT) trong việc điều hành công ty, xem đây là một biện pháp nhằm tăng tính cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận Các ưu điểm dễ nhận thấy của CNTT đó là giúp phát triển sản phẩm nhờ các công nghệ mang tính tự động hóa giúp cải tiến các dịch vụ và sản phẩm; nhờ CNTT có thể phát triển được các thị trường mới, các hình thức bán hàng mới hiệu quả với chi phí thấp… Nhiều DNVVN sau một thời gian “số hóa” đã thừa nhận: nhờ áp dụng CNTT trong quản

lý, các nguồn lực công ty được sử dụng rất hiệu quả Có những doanh nghiệp điều hành được một cửa hàng trực tuyến rất trơn tru, việc xuất hóa đơn, báo cáo thuế, thanh toán đơn hàng được thực hiện online, nên nhân lực của công ty “siêu nhỏ” - chỉ dừng ở con số dưới 10 lao động nhưng phát huy sức mạnh gấp đôi so với cách điều hành thông thường

Trang 31

1.3 Phương pháp đánh giá tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đánh giá tác động của chính sách là một hoạt động quan trọng trong quá trình nghiên cứu chính sách, nhằm làm rõ ảnh hưởng của chính sách đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và đối với sự phát triển của xã hội nói chung Việc đánh giá này có nội dung phân tích trước khi thực hiện chính sách và phân tích hiệu quả đạt được sau khi thực hiện chính sách Các đối tượng chịu tác động của chính sách được phân ra: chịu tác động trực tiếp và chịu tác động gián tiếp

Phương pháp đánh giá thì có thể đánh giá trước hoặc đánh giá sau Dựa trên thực tế các chính sách truyền thông mạng Internet đã được nghiên cứu và ban hành lâu đời, người thực hiện luận văn chọn phương pháp đánh giá “sau” cho việc đánh giá tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó sử dụng kết hợp toàn diện bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Phương pháp này là phương pháp xây dựng những giả thuyết động lực, sự hài lòng và nhu cầu của nhóm đối tượng qua nghiên cứu định tính, sau đó kiểm định và lượng hóa những giả thuyết này tại nghiên cứu định lượng để có thể áp dụng vào thực tiễn

Kết luận Chương 1

Như Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Nam Thắng đánh giá tại hội thảo Internet Day 2013 lần 2 với chủ đề “Tương lai nền kinh tế Internet Việt

Nam”: Internet đã tạo môi trường thuận lợi cho việc tiếp cận thông tin, phổ cập

rộng rãi thông tin trong xã hội, phục vụ cho công việc, nghiên cứu, học tập, sản xuất kinh doanh và truyền thông các chính sách của Đảng và Nhà nước tới người dân Internet đã góp phần tạo lập cộng đồng, thúc đẩy hoạt động của các tổ chức

xã hội, nâng cao năng lực sản xuất và thương mại, tạo ra nhiều hơn của cải vật chất trong xã hội và nâng cao đời sống người dân Internet còn là sân chơi bổ ích, một kênh giải trí hấp dẫn với nhiều ứng dụng phục vụ người dùng Nền kinh tế thế giới truyền thống hiện đang có bước chuyển mạnh mẽ sang nền kinh tế Internet.[45] Thực tế cho thấy, khi nền kinh tế thế giới suy thoái, nhiều doanh

nghiệp đã chuyển hướng sang kinh doanh trên mạng Internet nhằm cắt giảm chi phí

và tiếp cận với khách hàng được nhanh chóng, đồng thời có thể phản ứng nhanh với

Trang 32

những chính sách thông tin truyền thông mạng Internet có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với các DNNVV, đặc biệt là đối với giai đoạn start-up trong bối cảnh này Chính sách thông tin truyền thông mạng Internet ngày này đã trở thành một yếu tố tác động mang tầm vĩ mô và có sức ảnh hưởng lâu dài đối với sự phát triển của các doanh nghiệp

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG MẠNG INTERNET ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

TẠI TP ĐÀ NẴNG

2.1 Tổng quan về thực hiện các chính sách thông tin truyền thông mạng Internet tại Việt Nam

2.1.1 Kết quả phát triển tài nguyên Internet tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, sự tăng trưởng ngoạn mục của Internet Việt Nam

là kết quả tổng hòa của sự phát triển nhiều lĩnh vực trong đó có tài nguyên Internet (tên miền, địa chỉ IP, số hiệu mạng), vốn là các thông số cơ bản cho hoạt động của Internet Có thể nói rằng nhờ có những chính sách phát triển Internet hợp lý mà đến nay Việt Nam luôn luôn là nước đứng đầu trong việc đăng ký và sử dụng tài nguyên Internet quốc gia

Kể từ năm 2011 đến nay, tên miền “.vn” liên tục là tên miền quốc gia (ccTLD) có

số lượng đăng ký sử dụng cao nhất khu vực ASEAN Bên cạnh việc khẳng định vị trí đứng đầu trong khu vực ASEAN, tên miền “.vn” đang vươn tầm ảnh hưởng ra khu vực châu Á Tên miền “.vn” đứng trong Top 10 Trong bảng khảo sát các ccTLD có số lượng tên miền đăng ký sử dụng lớn nhất khu vực châu Á do tổ chức quản lý tên miền cấp cao mã quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APTLD) công bố

Trang 34

Hình 2.2 Tỷ lệ tăng trưởng tên miền “.vn”

Quan sát số liệu thống kê cho thấy tên miền “.vn” luôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao so với các nước Con số này không chỉ thể hiện sức tăng trưởng ổn định của tên miền “.vn” qua các năm, mà còn phản ánh sự tăng trưởng tốt của tên miền

“.vn” so với các ccTLD khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Báo cáo phân tích của APTLD về việc đăng ký tên miền năm 2015 cho thấy nhiều ccTLD suy giảm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có tốc độ tăng trưởng âm, dự báo hầu hết các ccTLD tăng ở mức 0-5%, trong khi đó “.vn” vẫn thuộc nhóm tăng trưởng tốt, tăng 10-15% Theo báo cáo hiện trạng tên miền toàn cầu - Domain Name Stat Report do

tổ chức quản lý tên miền cấp cao mã quốc gia khu vực châu Âu (CENTR) công bố tháng 9/2014, từ tháng 5-8/2014, thì mức tăng trưởng các tên miền mã quốc gia (ccTLD) chỉ đạt 1,7% Điều này có ý nghĩa lớn và là động lực cho sự phát triển về

hạ tầng Internet ở Việt Nam

Bên cạnh tăng trưởng của tên miền VN thì nhu cầu sử dụng địa chỉ trong các doanh nghiệp ngày càng tăng Từ năm 2000, khi VNNIC tiếp quản vai trò đầu mối xin cấp IP/ASN từ VNPT, số lượng địa chỉ IPv4 của Việt Nam liên tục tăng qua các năm Đặc biệt là giai đoạn tăng trưởng mạnh nhất của IPv4 Việt Nam là từ năm

2006 đến năm 2011 Từ con số khiêm tốn 16.896 địa chỉ IPv4, lượng địa chỉ của Việt Nam tăng lên mốc 1 triệu địa chỉ vào năm 2007, 10 triệu địa chỉ vào năm 2010 Đến nay, địa chỉ IPv4 của Việt Nam đã đạt được 15.758.080 địa chỉ, đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 8 khu vực châu Á và đứng thứ 28 trong các quốc gia có nhiều địa chỉ IPv4 nhất trên thế giới

- Tỉ lệ tăng trưởng địa chỉ IP

Trang 35

Hình 2.3 Tỉ lệ tăng trưởng địa chỉ IP (Nguồn: Báo cáo tài nguyên Internet 2015 Trung tâm Internet Việt Nam)

2.1.2 Kết quả hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam

Theo Cục TMĐT và Công nghệ thông tin, (Bộ Công Thương), TMĐT đang có bước phát triển rất nhanh nhờ hệ thống viễn thông phát triển vượt bậc với khoảng 1/3 dân số Việt Nam truy cập Internet Tỷ lệ website có tính năng đặt hàng trực tuyến là 58%, trong đó tỷ lệ website có tính năng thanh toán trực tuyến là 15%

Cũng theo kết quả điều tra khảo sát năm 2014 của Cục TMĐT và Công nghệ thông tin, giá trị mua hàng trực tuyến của một người trong năm ước tính đạt khoảng

145 USD và doanh số thu từ TMĐT B2C đạt khoảng 2,97 tỷ USD, chiếm 2,12% tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước Sản phẩm được lựa chọn tập trung vào các mặt hàng như đồ công nghệ và điện tử (60%), thời trang, mỹ phẩm (60%), đồ gia dụng (34%), sách, văn phòng phẩm (31%) và một số các mặt hàng khác Tại Việt Nam, phần lớn người mua sắm sau khi đặt hàng trực tuyến vẫn lựa chọn hình thức thanh toán tiền mặt (64%), hình thức thanh toán qua ví điện tử chiếm 37%, và hình thức thanh toán qua ngân hàng chiếm 14%

Báo cáo mới nhất của eMarketer, một hãng nghiên cứu đến từ Mỹ cũng cho thấy, Việt Nam là thị trường bùng nổ của smartphone (điện thoại thông minh) với 30% dân chúng sử dụng Thời gian online trên thiết bị di động cũng chiếm tới 1/3 ngày của người tiêu dùng Việt Nam

Trang 36

Sự phổ cập của Internet, 3G và các thiết bị di động đã chắp thêm sức mạnh cho TMĐT cất cánh Căn cứ vào những số liệu trên và ước tính giá trị mua hàng trực tuyến của mỗi người vào năm 2015 tăng thêm 30 USD so với năm 2013, thì dự báo doanh số mua bán trực tuyến của Việt Nam năm 2015 sẽ đạt 4 tỷ USD Các DN trong và ngoài nước đang chạy đua cạnh tranh thị phần với nhiều chiến lược kinh doanh mới, trong đó, kinh doanh trên ứng dụng điện thoại thông minh được dự báo

sẽ diễn ra rất sôi động

Google đã trở thành thành viên của Hiệp hội TMĐT Việt Nam và không giấu diếm kỳ vọng thu được 30 triệu USD mỗi năm từ thị trường này Alibaba và eBay cũng đã nhanh chân tìm được đại diện chính thức, trong khi Amazon và Rakuten đang tiến tới việc thiết lập quan hệ đối tác hoặc mua cổ phần tại các hãng TMĐT Việt Nam Một số DN Thái Lan, Hàn Quốc cũng đang tìm đường đầu tư, có thể thông qua một DN khác hoặc tự thực hiện

Trong nước, mặc dù chưa có tên tuổi nào nổi bật hẳn lên nhưng số lượng các công ty tham gia lĩnh vực này đã “trăm hoa đua nở” với một số tên tuổi có thể kể đến như Vật Giá, VCCorp, Chợ Điện Tử (Peacesoft), Mekongcom

Số liệu khảo sát được tính hết tháng 10/2015 của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) như dưới đây có thể chứng minh được môi trường Internet tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ và bùng nổ như thế nào

Hình 2.4 Thời lượng truy cập Internet hàng ngày của người dùng Internet tại Việt Nam và Tỷ lệ sử dụng Website tại doanh nghiệp theo các ngành nghề

năm 2015

Trang 37

2.1.3 Kết quả ứng dụng CNTT tại Việt Nam

Những chính sách và giải pháp của Chính phủ trong việc cải thiện Ứng dụng CNTT đã góp phần đem lại những hiệu quả tích cực như:

- Đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp, nhằm giảm thiểu thời gian phải đến trực tiếp cơ quan nhà nước thực hiện các thủ tục hành chính Mục tiêu trong giai đoạn này có phạm vi đối với tất cả các địa phương trên cả nước: 95% hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp sẽ được nộp trực tuyến; 90% số doanh nghiệp sẽ nộp thuế qua mạng; 90% cơ quan, tổ chức thực hiện giao dịch điện tử trong việc thực hiện thủ tục tham gia Bảo hiểm xã hội; 30% hồ sơ thủ tục hành chính sẽ được xử lý trực tuyến tại mức độ 4 Thêm vào đó, thông tin của các cơ quan nhà nước cũng sẽ được cung cấp đầy đủ trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử

- Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước 80% văn bản giữa các cơ quan nhà nước cũng sẽ được trao đổi dưới dạng điện tử

- Xây dựng và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử đồng bộ, kết nối, bảo đảm

an toàn, an ninh thông tin, tích hợp, kết nối các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trên quy mô quốc gia, tạo lập môi trường chia sẻ thông tin qua mạng giữa các cơ quan trên cơ sở Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam

Những lợi ích trên đây thực sự mang lại những hiệu quả tích cực trong việc phát triển môi trường kinh doanh, giảm chi phí hành chính và thời gian thực hiện các thủ tục hành chính công

2.2 Kết quả thực hiện các chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Đà Nẵng

2.2.1 Tổng quan về thành phố Đà Nẵng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.2.1.1 Tổng quan về thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của đất nước, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế -

xã hội và quốc phòng - an ninh; là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cửa ngõ chính ra Biển Đông của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các nước tiểu vùng Mê Kông Theo Nghị quyết

Trang 38

33/NQ-TW của Bộ Chính Trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2020 Xây dựng thành phố

Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế- xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính - viễn thông và tài chính - ngân hàng; một trong những trung tâm văn hoá - thể thao, giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miền Trung và cả nước

Lực lượng lao động của Đà Nẵng dồi dào, chất lượng cao và ổn định Hàng năm hệ thống các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tại Đà Nẵng

đã đào tạo hàng ngàn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực không chỉ cho thành phố mà còn cho cả khu vực miền Trung Hiện nay tại Đà Nẵng có 24 trường đại học, cao đẳng và 19 trường trung học chuyên nghiệp Hệ thống các trường này thực hiện chuyên ngành đào tạo trên các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin, kiến trúc, kinh tế, quản trị kinh doanh, ngoại ngữ

Chi phí lao động ở Đà Nẵng thấp hơn so với một số thành phố lớn khác trong nước

2.2.1.2 Hiệp hội các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Đà Nẵng

Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ TP Đà Nẵng được thành lập vào ngày 31/03/2006, nhằm mục đích tạo điều kiện để các DNVVN hợp tác, trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ nhau cùng phát triển, nâng cao uy tín và khẳng định vị thế của các DNVVN trong cộng đồng doanh nghiệp Đà Nẵng

Năm 2006, Hiệp hội có 75 hội viên, đến năm 2016, con số này đã là 500 doanh nghiệp Với sự tin tưởng, tín nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp, Hiệp hội đã thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi của hội viên thông qua nhiều buổi hội ý, tọa đàm, thu thập ý kiến của các doanh nghiệp nhằm kiến nghị, đề xuất với Quốc Hội, Chính phủ và lãnh đạo thành phố về những giải pháp cũng như chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển

Trang 39

Với mục tiêu tư vấn và hỗ trợ cộng đồng Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hoạt động trên địa bàn thành phố, năm 2014, Hiệp hội đã thành lập Công ty TNHH Một thành viên Trung tâm hỗ trợ và phát triển DNNVV Đà Nẵng Hoạt động chính của Trung tâm là thực hiện kết nối doanh nghiệp, tổ chức các chương trình đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm về quản trị doanh nghiệp, đào tạo kỹ năng, bồi dưỡng nghiệp

vụ pháp lý, marketing, các kỹ năng mềm, tổ chức các hội thảo chuyên đề; tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn Quỹ Đầu tư phát triển và Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV thành phố Đà Nẵng Đồng thời, Trung tâm đã tích cực thực hiện hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp của thành phố, tổ chức thực hiện Chương trình “100 hạt giống doanh nhân Đà Nẵng” và đã hoàn thành giai đoạn I của chương trình

Một trong những hoạt động vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp được Hiệp hội chú trọng thực hiện là hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Hiệp hội đã tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo, đối thoại có mời lãnh đạo thành phố, Ngân hàng Nhà nước đến tham dự để cùng với doanh nghiệp tìm ra tiếng nói chung nhằm hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp như: Vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - Thực trạng và giải pháp; Ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp; Giải pháp tài chính cho DNNVV thời kinh tế bất ổn

2.2.1.3 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố

Đà Nẵng

- Tình hình phát triển của các DNVVN tại Đà Nẵng năm 2014

Năm 2004, Đà Nẵng thực hiện Năm doanh nghiệp và 10 năm sau, chính quyền thành phố tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp qua chương trình hành động “Năm doanh nghiệp Đà Nẵng 2014”

Sau 10 năm (2004-2014), thành phố có 14.942 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký 73.851 tỷ đồng, tăng gấp 3,8 lần về số lượng doanh nghiệp và tăng 9,8 lần về tổng vốn so với năm 2004, nộp thuế trên 9.000 tỷ đồng, tăng gấp 4 lần so với năm 2004 với mức tăng trưởng bình quân khoảng 16%/năm, trong đó đa phần các doanh nghiệp tại Đà Nẵng là các DNVVN

- Tình hình phát triển của các DNVVN tại Đà Nẵng năm 2015

Trang 40

Tính đến ngày 30/11/2015 thành phố đã cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 2.988 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký đạt 10.028,4 tỷ đồng, tăng 45,9%

về số lượng và tăng 36,07% về tổng vốn đăng ký so với năm trước; đã làm thủ tục thay đổi, bổ sung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 4.291 doanh nghiệp

Đề án "Phát triển doanh nghệp Đà Nẵng đến năm 2020" và Chương trình "Năm doanh nghiệp Đà Nẵng 2014" được tiếp tục triển khai thực hiện Hiện nay 3 khu công nghiệp KCN Hòa Khánh, KCN Đà Nẵng và dịch vụ Thủy sản Thọ /Quang đã lấp đầy 100% Cuối năm 2015, trên địa bàn thành phố có khoảng 15.277 doanh nghiệp đăng ký đang hoạt động, tổng vốn đăng ký là 83.439 tỷ đồng

- Tình hình phát triển của các DNVVN tại Đà Nẵng năm 2016

Về cơ cấu trong quy mô nền kinh tế 9 tháng năm 2016, khu vực nông, lâm

nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 1,96%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 32,54% và khu vực dịch vụ chiếm 53,19%, thuế sản phẩm 12,31% (Cùng kỳ năm trước tỷ trọng tương ứng là: 2,14%; 32,56%; 52,79% và 12,51%)

Tính đến ngày 30/11/2016 trên địa bàn thành phố có 15.588 doanh nghiệp, sử dụng 316.671 lao động Trong đó có 482 doanh nghiệp, đơn vị có sử dụng lao động người nước ngoài với 1.184 lao động là người nước ngoài; đã có giấy phép lao động cho 847 người và xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 337 người Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010 tính theo phương pháp giá cơ bản (Năm trước = 100), Đơn vị tính: %

Bảng 2.1 Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trên địa bàn

9 tháng 2015 9 tháng 2016 TỔNG SỐ 108,18 108,85

Phân theo khu vực kinh tế

- Nông, lâm nghiệp và thủy sản 104,38 99,96

- Công nghiệp và xây dựng 107,59 109,61

Trong đó: Công nghiệp 109,62 111,89

- Dịch vụ 109,23 108,92

- Thuế sản phẩm - trợ cấp sản phẩm 105,81 107,85

(Nguồn: báo cáo KT - XH tháng 9 và 9 tháng 2016 của Cục Thống Kê Đà Nẵng)

Ngày đăng: 09/06/2017, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Chính phủ (2010), Quyết định số 1605/QĐ-TTg, phê duyệt chương trình quốc gia về Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 7. Chính phủ (2015), Nghị quyết số 26/NQ-CP về Chương trình hành động thựchiện Nghị quyết 36-NQ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1605/QĐ-TTg, phê duyệt chương trình quốc gia về Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 "7. Chính phủ (2015), "Nghị quyết số 26/NQ-CP về Chương trình hành động thực
Tác giả: Chính phủ (2010), Quyết định số 1605/QĐ-TTg, phê duyệt chương trình quốc gia về Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 7. Chính phủ
Năm: 2015
20. Đặng Thị Hương (2016), “Đào tạo quản lý trong doanh nghiệp vừa và nhỏ”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo quản lý trong doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: Đặng Thị Hương
Năm: 2016
24. Lê Linh Lương (2004), Nghiên cứu các ứng dụng TMĐT trong các doanh nghiệp Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các ứng dụng TMĐT trong các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Lê Linh Lương
Năm: 2004
25. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2002), “Thương mại điện tử và ứng dụng trong Marketing.” Tạp chí Kinh tế và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử và ứng dụng trong Marketing
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Năm: 2002
26. Oxford Economics (2016), Những lợi ích kinh tế-xã hội của công nghệ Internet di động tại Việt Nam, Oliver Salmon Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lợi ích kinh tế-xã hội của công nghệ Internet di động tại Việt Nam
Tác giả: Oxford Economics
Năm: 2016
31. Th.S. Đỗ Đức Thọ (2012), Ứng dụng CNTT cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Cục Phát triển doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng CNTT cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: Th.S. Đỗ Đức Thọ
Năm: 2012
32. Lê Minh Toàn (2002), “Thương mại điện tử: Chính sách đối với các nước đang phát triển và vai trò tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử: Chính sách đối với các nước đang phát triển và vai trò tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: Lê Minh Toàn
Năm: 2002
33. Nguyễn Ngọc Tú (2015), Giải pháp phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp nhỏ và vừa năm. Luận án Tiến Sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp nhỏ và vừa năm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tú
Năm: 2015
36. Đoàn thị Hồng Vân (2005), Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trên đường hội nhập. Hội thảo quốc tế “nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”. Chương trình do DIREG và trường Đại học kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trên đường hội nhập. Hội thảo quốc tế “nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Đoàn thị Hồng Vân
Năm: 2005
37. Phan Thị Minh Lý (2011), Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thừa thiên Huế, Tạp chí khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng, số 2(43).2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thừa thiên Huế, Tạp chí khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng
Tác giả: Phan Thị Minh Lý
Năm: 2011
38. Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011), Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Cần Thơ - Tạp chí Khoa học 2011:19b 122-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Cần Thơ - Tạp chí Khoa học
Tác giả: Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam
Năm: 2011
1. Bộ Chính trị (2014), Nghị quyết số 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế Khác
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012), Nghị quyết số 13/NQ-TW, về xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Khác
3. Bộ Thông tin - Truyền thông (2013), Quyết định số 147/QĐ-BTTTTngày 20/2/2013 về ban hành Bộ tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện thành công Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 Khác
4. Chính phủ (2007), Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 22/10/2009, về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Khác
5. Chính phủ (2010), Quyết định số 1755/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án "Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông&#34 Khác
8. Chính phủ (2007), Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 22/10/2009, về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Khác
9. Chính phủ (2013), Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013, về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng Khác
10. Chính phủ (2016), Quyết định phê duyệt phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020 Khác
11. Chính phủ (2015), Quyết định phê duyệt Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2020 ngày 24/7/2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên bảng  Trang - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
ng Tên bảng Trang (Trang 4)
Hình 1.1. Quy trình chính sách - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 1.1. Quy trình chính sách (Trang 13)
Hình 2.1. Vị trí tên miền .vn trong khu vực châu á - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 2.1. Vị trí tên miền .vn trong khu vực châu á (Trang 33)
Hình 2.2. Tỷ lệ tăng trưởng tên miền “.vn” - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 2.2. Tỷ lệ tăng trưởng tên miền “.vn” (Trang 34)
Hình 2.3. Tỉ lệ tăng trưởng địa chỉ IP  (Nguồn: Báo cáo tài nguyên Internet 2015 Trung tâm Internet Việt Nam) - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 2.3. Tỉ lệ tăng trưởng địa chỉ IP (Nguồn: Báo cáo tài nguyên Internet 2015 Trung tâm Internet Việt Nam) (Trang 35)
Hình 3.2. Số năm hoạt động của các DNVVN - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 3.2. Số năm hoạt động của các DNVVN (Trang 50)
Hình 3.3. Đánh giá của DNVVN về hiệu quả của chính sách tài nguyên Internet - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 3.3. Đánh giá của DNVVN về hiệu quả của chính sách tài nguyên Internet (Trang 51)
Hình 3.5. Đánh giá tác động tiêu cực/tích cực của các chính sách Internet đến các - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 3.5. Đánh giá tác động tiêu cực/tích cực của các chính sách Internet đến các (Trang 54)
Hình 3.6. Đánh giá tác động của các chính sách Internet đến các hoạt động - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 3.6. Đánh giá tác động của các chính sách Internet đến các hoạt động (Trang 55)
Hình 3.7. Đánh giá về mức độ cần thiết của các giải pháp nâng cao hiệu quả thực - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 3.7. Đánh giá về mức độ cần thiết của các giải pháp nâng cao hiệu quả thực (Trang 56)
Hình 3.9. Tác động của chính sách thông tin mạng đối với DN - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 3.9. Tác động của chính sách thông tin mạng đối với DN (Trang 63)
Bảng 3.1. Tác động của chính sách thông tin mạng đối với hoạt động của DN - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Bảng 3.1. Tác động của chính sách thông tin mạng đối với hoạt động của DN (Trang 64)
Hình 3.10. Mức độ cần thiết của các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình 3.10. Mức độ cần thiết của các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy (Trang 67)
Phụ lục 1: Bảng cỡ mẫu của VIDAC - Trung Tâm Thông Tin Và Phân Tích - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
h ụ lục 1: Bảng cỡ mẫu của VIDAC - Trung Tâm Thông Tin Và Phân Tích (Trang 86)
Phụ lục 4: Bảng hỏi phục vụ khảo sát định lƣợng - Tác động của chính sách thông tin truyền thông mạng Internet đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
h ụ lục 4: Bảng hỏi phục vụ khảo sát định lƣợng (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w