Quận Ngũ Hành Sơn đã thực hiện tốt các giải pháp về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đầu tư được phân bổ theo hướng tập trung, nợ đọng trong XDCB dần được kiểm soát; thủ tục hành chín
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN CÔNG HÒA
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN CÔNG HÒA
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan về các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Chính sách công với đề tài “Thực hiện chính sách xây dựng cơ bản
bằng nguồn vốn ngân sách từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” là hoàn toàn trung thực và không trùng với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
NGUYỄN CÔNG HÒA
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 8
1.1 Khái niệm về chính sách XDCB bằng nguồn vốn ngân sách 8 1.2 Nội dung quản lý chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước 12 1.3 Giải pháp và công cụ của chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách 17 1.4 Thực hiện chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32
2.1 Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng 32 2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn 38 2.3 Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố
Đà Nẵng 46
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 50
Trang 53.1 Mục tiêu thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 50 3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 52
KẾT LUẬN 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐT XDCB : Đầu tư xây dựng cơ bản GPMB : Giải phóng mặt bằng HĐND : Hội đồng nhân dân KH&ĐT : Kế hoạch và đầu tư NSĐP : Ngân sách địa phương NSNN : Ngân sách Nhà nước NSTW : Ngân sách Trung ương QLDA : Quản lý dự án
TVGS : Tư vấn giám sát UBND : Ủy ban nhân dân XDCB : Xây dựng cơ bản
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Chính Phủ và Thành phố Đà Nẵng đã có nhiều chính sách, cơ chế góp phần tạo môi trường đầu tư xây dựng cơ bản cho thành phố nói chung và quận Ngũ Hành Sơn nói riêng Tuy nhiên, trong thực tế công tác xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước còn bộc lộ nhiều bất cập mà bản thân Luật Xây dựng, Luật đấu thầu chưa quản lý hết dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, gây lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong XDCB của Nhà nước dẫn đến đầu tư còn dàn trải, kém hiệu quả… Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiệu quả đầu tư không cao làm tăng nợ công và nợ nước ngoài Vì vậy đây là một vấn đề bức xúc của nhân dân hiện nay
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng suy thoái của nền kinh tế thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta còn chậm, khối lượng vốn đầu tư được huy động rất hạn hẹp so với nhu cầu vốn đầu tư Để xây dựng Quận Ngũ Hành Sơn thành một quận phát triển mạnh về dịch vụ du lịch TP
Đà Nẵng luôn giành sự quan tâm về đầu tư XDCB Việc huy động nguồn vốn đầu tư từ các nguồn vốn vay, vốn từ trung ương hổ trợ, vốn từ do các tổ chức phi chính phủ tài trợ không hoàn lại thì công tác sử dụng vốn và quản lý đầu
tư xây dựng của Quận có nhiều tiến bộ so với trước, từng bước hạn chế tình trạng đầu tư dàn trãi, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hiện nay Bên cạnh đó vẫn còn bộc lộ những hạn chế, chưa có định hướng phù hợp giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch đô thị
Theo tinh thần Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ; Chỉ thị số 19/CT-TTg, ngày 18/6/2012 của Thủ tướng
Trang 82
Chính phủ về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương và Chỉ thị số 14/ CT-TTg ngày 28/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng từ nguồn NSNN Quận Ngũ Hành Sơn
đã thực hiện tốt các giải pháp về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đầu tư được phân bổ theo hướng tập trung, nợ đọng trong XDCB dần được kiểm soát; thủ tục hành chính trong XDCB được cải thiện; nhiều dự án được đầu tư hoàn thành đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả đầu tư
Tuy nhiên trong điều kiện cả nước hiện nay đang đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới quản lý chi tiêu công, thực hành tiết kiệm chống thất thoát lãng phí, phòng chống tham nhũng thì việc xây dựng các chính sách xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước là vấn đề cấp bách Việc tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện các chính sách xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Với mong muốn được vận dụng kiến thức đã học, bản thân em chọn đề tài “ Thực hiện chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng ” để nghiên cứu cả về lý luận và thực tiển, góp phần vào việc thực hiện quá trình xây dựng, phát triển quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đến năm 2020
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu có liên quan đến xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách, sau đây là những công trình tiêu biểu:
- Luận án tiến sĩ Kinh tế: “Giải pháp tài chính nhằn nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn Tỉnh Nghệ An ” của tác giả
Phan Thanh Mão, năm 2003 Trong đó tác giả đã đưa ra được những lý luận cơ bản và các yếu tố tác động đến công tác chi đầu tư XDCB Trên cơ
Trang 9của tác giả Cấn Quang Tuấn năm 2009
- Luận án Thạc sĩ: “Tăng cường kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN qua kho bạc tỉnh Quảng Ngãi“ của tác giả Dương
Thị Anhs Tiên, Đại học Đà Nẵng, năm 2012
- Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh: “Quản lý nhà nước các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn quận Long Biên “ của Nguyễn Đắc Tuấn, Đại học nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội, 2012
- Luận án tiến sĩ: “Quản lý chi NSNN trong ĐT XDCB trên địa bàn Tỉnh Bình Định“ của tác giả Trịnh Thị Thúy Hồng năm 2012 Trong đó tác
giả đã làm rõ được các mối liên hệ và những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bình Định Trên cơ sở đó tác giả
đã đề ra các giải pháp cho công tác chính sách chi đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bình Định
- Luận án Thạc sĩ: “Hoàn thiện kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN cấp tỉnh tại KBNN tỉnh Bắc Ninh“ của tác giả
Nguyễn Văn Mạnh, Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên, năm 2014
- Luận văn thạc sĩ Kinh tế: “Quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại kho bạc Nhà nước tỉnh Nghệ An” của tác giả Đặng
Thị Thảo, Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2015
- Luận văn thạc sĩ chính sách công: “thực hiện chính sách quản lý vốn đầu tư XDCB từ thực tiễn Tỉnh Bình Định“ của tác giả Huỳnh Tân, Học viện
khoa học xã hội, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, 2016 Trong đó
Trang 104
tác giả đã làm rõ được những lý luận cơ bản và các yếu tố tác động đến công tác chi đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bình Định Trên cơ sở đó tác giả đã đề ra một số giải pháp trong các khâu trong quá trình đầu tư thực hiện dự án đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bình Định
Luận văn thạc sĩ “Quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách Nhà Nước tại tỉnh Hà Nam“ của tác giả Nguyễn Thụy Hải, Đại học kinh tế thuộc
Đại học quốc gia Hà Nội, 2015 Trong đó tác giả đã làm rõ được những lý luận cơ bản và các yếu tố tác động đến quá trình đầu tư công trên địa bàn Trên cơ sở kinh nghiệm quản lý trong nước và nước ngoài, tác giả đã đưa
ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác Quản lý đầu tư công trên địa bàn tỉnh Hà Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ thứ nhất: Những vấn đề lý luận về chính sách XDCB bằng nguồn vốn ngân sách là gì?
Nhiệm vụ thứ hai: Làm rõ thực trạng thực hiện chính sách XDCB bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn như thế nào
Nhiệm vụ thứ ba: Làm rõ các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách XDCB bằng nguồn vốn ngân sách thời gian tới ở nước ta
Trang 115
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách XDCB từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do quận Ngũ Hành Sơn làm chủ đầu tư
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách XDCB từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính sách công từ lý luận đến thực tiễn Cácquy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng và thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành chính sách XDCB từ nguồn vốn ngân sách nhà nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và thực tế; phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp,
so sánh
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, thống kê và
so sách được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
và đề xuất đổi mới chính sách
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn cơ cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách xây dựng
cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách ở nước ta hiện nay
Trang 148
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Khái niệm về chính sách XDCB bằng nguồn vốn ngân sách
- Khái niệm xây dựng cơ bản:
Là xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng cơ sở kinh tế - Xã hội có tính chất xây dựng như : XD công trình giao thông , thủy lợi thủy điện, cầu cảng , xây dựng nhà cửa , công sở, trường học, bệnh viện, nhà máy phục
vụ sản xuất phát triển kinh tế; các công trình phúc lợi xã hội như nhà văn hóa, công viên phục vụ phát triển của xã hội Như vậy XDCB có đặc thù riêng đó
là lợi nhuận của nó phục vụ cho mọi người, mọi ngành trong xã hội, nguồn vốn đấu tư lớn cần có sự đầu tư của nhà nước
Đầu tư cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế xã hội nhằm thu được lợi ích dưới các hình thức khác nhau Xét một cách tổng thể, không một hoạt động đầu tư nào
mà không cần phải có các tài sản cố định Tài sản cố định bao gồm toàn bộ các cơ sở vật chất, kỹ thuật đủ các tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước Để
có được tài sản cố định chủ đầu tư có thể thực hiện bằng nhiều cách tiến hành xây dựng mới các tài sản cố định
Xây dựng cơ bản chỉ là một khâu trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản là các hoạt động cụ thể để tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt) Kết quả của hoạt động xây dựng cơ bản
là các tài sản cố định, có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định Vậy ta
có thể nói: xây dựng cơ bản là một quá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng
Trang 159
có kế hoạch các tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chất, cũng như không sản xuất vật chất Nó là quá trình xây dựng cơ
sở vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội
Xây dựng cơ bản hay đầu tư XDCB còn là những hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới , mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định.Trong nền kinh tế quốc dân đầu tư XDCB là một bộ phận của đầu tư phát triển Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế Do vậy ĐT XDCB là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng ĐT XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau ĐT XDCB trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế
Khái niệm vốn ngân sách :
Mỗi một năm ngân sách, Nhà nước lại trích một phần ngân sách rất lớn cho hoạt động ĐT XDCB trong khi không tính đến khả năng thu hồi lại vốn (do đây là hoạt động nhằm phục vụ công cộng) mà hướng đến sự phát triển của toàn xã hội trong tương lai Do đó, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
xã hội của đất nước Nhà nước ta huy động nhiều nguồn vốn khác nhau tham gia đầu tư xây dựng Mỗi nguồn vốn có nội dung, đối tượng sử dụng khác nhau phù hợp với quá trình phát triển trong từng giai đoạn lịch sử Trên góc
độ quản lý kinh tế, tài chính vốn đầu tư được phân loại theo đối tượng sử dụng vốn như sau:
Trang 1610
- Vốn Ngân sách nhà nước bao gồm cả ngân sách Trung Ương và ngân sách địa phương được hình thành từ tích luỹ của nền kinh tế quốc dân, vốn khấu hao cơ bản và một phần vốn ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản và các dự án không có khẳ năng thu hồi vốn, những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, trồng rừng đầu nguồn, rừng quốc gia, rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, các trạm, trại, động thực vật, nghiên cứu giống mới, cải tạo vốn, các công trình văn hoá – xã hội, y tế giáo dục, nghiên cứu khoa học, các công trình quản lý nhà nước, công trình an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái
- Vốn tín dụng đầu tư nhà nước được hình thành do chuyển tư ngân sách nhà nước sang tổng cục đầu tư và phát triển để vay theo hình thức tín dụng ưu đãi, vốn do nhà nước vay viện trợ của nước ngoài qua hệ thống ngân sách nhà nước được chuyển xang cho tổng cục đầu tư và phát triển, vốn thu
nợ các dự án vay ưu đãi đối với các dự án đã đến hạn trả nợ nguồn vốn này được dùng để vay ưu đãi đối với các dự án, các trương trình mục tiêu quốc gia
do nhà nước chỉ định
- Vốn tín dụng của ngân hàng đầu tư và phát triển do ngân sách nhà nước cấp, vốn do ngân hàng tự huy động Vốn do nhà nước vay viện trợ của nước ngoài được chuyển sang cho ngân hàng đầu tư xây dựng mới, cải tạo mở rộng đổi mới kỹ thuật công nghệ, các xản xuất kinh doanh, dịch vụ theo kế hoạch đầu tư của nhà nước và chủ đầu tư có trách nhiệm trả
- Nguồn vốn tự cân đối dành cho đầu tư của các đơn vị kinh tế cơ sở (các xí nghiệp, tổ chức kinh tế dịch vụ) được hính thành từ lợi nhuận khấu hao cơ bản, tiền thanh lý tài sản và các nguồn vốn theo quy định của nhà nước Nguồn vốn này được dùng để đầu tư xây dựng, cải tạo mở rộng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ và các công trình phúc lợi của đơn vị
Trang 1711
- Vốn huy động của nhân dân được đầu tư vào các công trình dự án trực tiếp đem lại lợi ích cho người cho người góp vốn như các công trình thuỷ lợi, công trình giao thông, đường xá …
Theo Luật Đầu tư công của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 49/2014/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2014, tại Điều 4 khái niệm vốn ngân sách nhà nước hay vốn đầu tư công được hiểu: Vốn đầu tư quy định tại Luật này gồm: Vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư
Căn cứ vào nguồn vốn hình thành, mục tiêu đầu tư và tính chất, có thể phân chia vốn ngân sách Nhà nước thành các nguồn như sau:
- Vốn XDCB tập trung : Là loại vốn lớn nhất về cả quy mô và tỷ trọng Việc thiết lập cơ chế chính sách quản lý vốn ĐT XDCB chủ yếu hình thành từ loại vốn này và sử dụng một cách rộng rãi cho nhiều loại vốn khác
- Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng : Hàng năm ngân sách có
bố trí vốn để phát triển một số sự nghiệp như giao thông, địa chất, đường sắt,…nhưng việc sử dụng vốn này lại bố trí cho một số công trình xây dựng hoặc sửa chữa công trình nên được áp dụng cơ chế quản lý như vốn ĐT XDCB
- Vốn cho các chương trình mục tiêu: Hiện nay có 02 chương trình mục tiêu quốc gia đó là mục tiêu giảm nghèo và chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Trang 18độ cao hơn Vì vậy vấn đề của chính sách luôn luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội Việc xác định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng cảm nhận vấn
đề so với cấu trúc vấn đề, đó là cảm nhận về các trở ngại, khó khăn, vướng mắc trong xã hội cần được giải quyết bằng chính sách hoặc các bất hợp lý gây mâu thuẫn, mất cân bằng, mất ổn định về kinh tế xã hội, cản trở tăng trưởng kinh tế hoặc những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng chính sách Theo quy luật vận động, vấn đề chính sách mang cả tính hiện thực và tương lai, các hiện tượng đang tồn tại thực tế sẽ làm nảy sinh những vấn đề trong tương lai Việc xác định rõ quy mô và mức độ nghiêm trọng của vấn đề của
xã hội để định rõ phạm vi và mức độ can thiệp của chính sách là hết sức quan trọng và cần được xem xét cụ thể thông qua các chỉ số đáng tin cậy và biện pháp đo lường khoa học
Vấn đề của chính sách đầu tư XDCB nảy sinh trong các bước thực hiện đầu tư như lập và quản lý quy hoạch, xây dựng kế hoạch đầu tư trung và dài hạn, lập dự án bao gồm: lập báo cáo chủ trương đầu tư, lập dự án, lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật, lập thiết kế dự toán thi công Công tác lựa chọn nhà thầu, triển khai thi công, công tác nghiệm thu, thanh quyết toán và Thanh tra, Giám sát cộng đồng Việc xác định đúng vấn đề chính sách đóng một vai trò quan
Trang 1913
trọng trọng trong quá trình xây dựng, ban hành, thực hiện chính sách và quyết định đến sự thành công hay thất bại của chính sách
1.2.1 Vấn đề quản lý công tác lập và quản lý quy hoạch
Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực lập và quản lý quy hoạch XDCB đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và định hướng phát triển cho một địa phương hay một địa bàn rộng lớn
Quy hoạch có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến hiệu quả của hoạt động ĐTXDCB Nếu quy hoạch sai sẽ dẫn đến lãng phí công trình đầu tư Bên cạnh đó quy hoạch xây dựng cũng góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia Chính sách về công tác quy hoạch phải chặt chẽ từ khâu lập quy hoạch đến quản lý quy hoạch đều phải đúng quy trình và đúng với quy hoạch phát triển ngành, vùng, quy hoạch
sử dụng đất, tuân thủ thực hiện đúng quy hoạch được duyệt
1.2.2 Vấn đề quản lý xây dựng kế hoạch đầu tư trung và dài hạn đối với các công trình đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN
Căn cứ luật đầu tư công số 49/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 18 tháng 6 năm 2014, Chỉ thị số 23/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 5 tháng 8 năm 2014 và văn bản hướng dẫn số 5318/BKHĐT-TH của Bộ kế hoạch và đầu tư ngày 15 tháng 8 năm 2014, việc lập kế hoạch đầu tư XDCB trung và dài hạn góp phần cho công tác XDCB đi vào nề nếp Những năm trước đây việc lập kế hoạch đầu tư XDCB được xây dựng theo từng năm đến thời điểm
2014 trở đi thì kế hoạch phát triển phải xây dựng từ 5 năm trở lên điều này góp phần ổn định cho việc đầu tư công của Nhà nước phù hợp với các chiến lược phát triển kinh tế xã hội đảm bảo tính công khai minh bạch, qua đó giảm bớt tình trạng xin cho trong kế hoạch đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN
Trang 2014
1.2.3 Vấn đề quản lý trong công tác lập dự án bao gồm: lập báo cáo chủ trương đầu tư, lập dự án, lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật, lập thiết kế dự toán thi công, công tác lựa chọn nhà thầu, triển khai thi công các công trình xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN
Chính sách về công tác lập dự án:
Công tác này yêu cầu người thục hiện phải am hiểu nhiều lĩnh vực trong xã hội Theo Luật Đầu tư công thì các công trình xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN phải được xây dựng hay có trong danh mục các công trình được lập hằng năm và 5 năm, phải đúng với chủ trương đầu tư đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt [19]
Chất lượng của công tác chuẩn bị đầu tư được thể hiện rõ từ khâu lập Báo cáo chủ trương đầu tư trong đó việc xác định được quy mô của dự án , sự phù hợp của dự án đối với quy hoạch của địa phương, quy hoạch của vùng Làm tốt công tác lập dự án sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư cho các dự án khi được triển khai trong tương lai
- Chính sách trong công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng :
Thẩm định dự án đầu tư là việc nghiên cứu, phân tích khách quan, khoa học, toàn diện tất cả nội dung kinh tế kỹ thuật của dự án, đặt trong mối tương quan với môi trường tự nhiên, Kinh tế xã hội để quyết định đầu tư, tài trợ vốn cho dự án.Đây là một quá trình kiểm tra đánh giá các nội dung cơ bản của dự
án một cách độc lập, tách biệt với quá trình soạn thảo dự án Thẩm định dự án tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiểu quả Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các đơn vị, cơ sở, cơ quan có thẩm quyền của
nhà nước ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc tài trợ cho dự án
Khi thẩm định dự án, cơ quan thẩm quyền thẩm định phải xác định sự cần thiết đầu tư của dự án, sự phù hợp về quy hoạch đô thị, quy hoạch vùng của dự án, nguồn vốn và thời gian thực hiện của dự án, công tác và chính sách
Trang 2115
giải tỏa đền bù, các giải pháp về môi trường, phòng cháy chữa cháy và tổng mức đầu tư để cho dự án đạt được hiệu quả cao nhất
Chính sách trong công tác đấu thầu và lựa chọn nhà thầu trong các dự
án đầu tư xây dựng
Các hình thức lựa chọn nhà thầu hiện nay trong đầu tư XDCB theo Luật đấu thầu và Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 cuả Chính phủ bao gồm các hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và hình thức chỉ định thầu Trong đó :
- Hình thức chỉ định thầu được áp dụng đối với các gói thầu có giá trị
từ 1 tỷ đồng trở xuống
- Hình thức đấu thầu rộng rãi được áp dụng đối với các gói thầu có giá trị trên 1 tỷ đồng
- Hình thức đấu thầu hạn chế được áp dụng trong trường hợp gói thầu
có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu
Sau khi triển khai các công việc như lập và trình duyệt hồ sơ đấu thầu
và kế hoạch đấu thầu, tổ chuyên gia sẽ cho bán hồ sơ mời thầu, tổ chức mở thầu, chấm thầu để lựa chọn ra 1 nhà thầu đáp ứng đầy đủ theo hồ sơ mời thầu, có giá dự thầu sau khi giảm giá và hiệu chỉnh sai lệch thấp nhất một cách khách quan, minh bạch và đảm bảo tính cạnh tranh trình các cơ quan có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu
Trong các hình thức lựa chọn nhà thầu trên thì hình thức đấu thầu rộng rãi được xem là tiết kiệm NSNN nhất vì nó có giá dự thầu thấp hơn so với giá trị dự toán của dự án được phê duyệt Bên cạnh đó các hình thức lựa chọn nhà thầu trên vẫn còn diễn ra nhiều tiêu cực gây thất thoát NSNN
Trang 2216
1.2.4 Vấn đề quản lý công tác nghiệm thu, thanh quyết toán công trình hoàn thành các dự án xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN
Chính sách công tác nghiệm thu trong ĐTXDCB
Nghị định 15/2013/NĐ-CP ngày 6 tháng 2 năm 2013 cuả Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng thì công tác nghiệm thu bao gồm nghiệm thu chất lượng vật liệu đầu vào của công trình và nghiệm thu cấu kiện công trình như móng cốt thép cột, dầm, sàn các tầng của công trình…
Đối với các bộ phận che khuất của công trình như phần móng, đường ống ngầm, bể ngầm… của công trình thì trước khi triển khai thi công các công tác tiếp theo đều phải được nghiệm thu và lập bản vẽ hoàn công Việc nghiệm thu từng hạng mục công trình hay toàn bộ công trình phải có đầy đủ các đoqn
vị liên quan gồm Chủ đầu tư, đơn vị điều hành dự án, đơn vị thi công, đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị giám sát, đơn vị quản lý nhà nước về xây dựng
Chính sách về công tác thanh quyết toán
Việc thanh toán cho từng công trình hay dự án bằng nguồn vốn ngân sách phải được đảm bảo đúng định mức, đơn giá theo hồ sơ đề xuất hoặc hồ
sơ dự thầu Bên cạnh đó các đơn vị liên quan đến việc thanh quyết toán như đơn vị cung cấp tài chính ( Sở tài chính thuộc UBND các Tỉnh và Thành phố, Phòng tài chính thuộc UBND các quận, huyện), Kho bạc Nhà nước, đơn vị điều hành dự án, đơn vị thi công, đơn vị tư vấn thiết kế phải chấp hành tốt theo Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 1 năm 2016 của Bộ tài
chính về quản lý thanh toán vốn đầu tư sử dụng vốn NSNN
Công tác quyết toán được thực hiện khi công trình đã được hoàn thành
và đã được bàn giao đưa vào sủ dụng Đơn vị điều hành dự án sẽ lập hồ sơ quyết toán cho toàn bộ dự án hay công trình theo Nghị định 15/2013/NĐ-CP ngày 6 tháng 2 năm 2013 cuả Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng và Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 1 năm 2016 của Bộ tài
Trang 2317
chính về quản lý quyết toán vốn đầu tư sử dụng vốn NSNN, bao gồm bản vẽ hoàn công, hồ sơ quyết toán, nhật ký công trình báo cáo quyết toán, biên bản nghiệm thu và các chứng từ liên quan
Công tác quyết toán nhằm xác định giá trị tài sản mới tăng thêm do đầu
tư mang lại cho các đơn vị, nó cũng đánh gía tổng quát việc thực hiện các quy định của Nhà nước về đầu tư XDCB đối với các công trình sử dụng NSNN Qua đó các cơ quan quản lý nhà nước cũng rút kinh nghiệm và hoàn thiện chính sách ngày một tốt hơn
1.2.5 Vấn đề về Thanh tra, Giám sát cộng đồng các dự án xây dựng
cơ bản bằng nguồn vốn NSNN
Thực tế trong những năm qua việc đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN được dư luận đặc biệt quan tâm Đất nước muốn phát triển thì phải tăng cường đầu tư về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ trong các lĩnh vực giáo dục y tế…muốn việc đầu tư trên đạt hiệu quả cao thì công tác thanh tra kiểm tra đối với các dự án phải được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn NSNN của các ngành các địa phương phải được quan tâm đúng mức thanh tra kiểm tra quá trình đầu tư là một công việc rất nhạy cảm khó khăn phức tạp phải kiểm tra toàn bộ các khâu các bước của quá trình đầu tư từ khâu chuẩn bị đầu tư như lập quy hoạch, lập hồ sơ thiết kế công trình, thẩm tra, thẩm định thiết kế dự toán, công tác đấu thầu, công tác triển khai thi công và thanh quyết toán công trình Qua kiểm tra kịp thời phát hiện những sai trái gây thất thoát lãng phí trong quá trình đầu tư, qua đó kiến nghị với các cấp xử lý kịp thời các vụ việc
1.3 Giải pháp và công cụ của chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách
1.3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác lập và quản lý quy hoạch
Một trong yêu cầu công tác lập và quản lý quy hoạch là người thực hiện phải có chuyên môn nghiệp vụ trong công việc được giao Có thâm niên trong
Trang 24Công cụ chính sách cho giải pháp nâng cao chất lượng công tác lập và quản lý quy hoạch là:
Về phía Nhà nước, có những quy định chặt chẽ hơn nữa về công tác tuyển dụng đúng chuyên ngành quy hoạch xây dựng Đồng thời sử dụng công
cụ hỗ trợ tài chính cho công chức, viên chức mới được tuyển dụng, tạo điều kiện cho họ yên tâm công tác trong ít nhất 03 năm đầu được tuyển dụng Ngoài ra, Nhà nước cần sớm cải cách chế độ tiền lương, phụ cấp đối với công chức, viên chức tham gia trong các đơn vị quản lý và lập quy hoạch ; nghiên cứu xây dựng khung pháp lý để viên chức có thêm thu nhập chính đáng từ hoạt động chuyên môn; nhân rộng mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp có thu
Đối với việc lựa chọn các đơn vị tư vấn phải lựa chọn các tổ chức tư vấn có đủ kinh nghiệm và năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao Trong quá trình lập và thực hiện thẩm định thì phải lấy ý kiến phản biện của các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong từng lĩnh vực và ý kiến của cộng đồng dân cư thông qua UBND và HĐND các Quận, Huyện Tổ chức công bố công khai các quy hoạch đã được phê duyệt để nhân dân được tiếp cận và giám sát (thông qua các thông báo tại UBND các xã, phường, thị trấn)
1.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý xây dựng kế hoạch đầu
tư trung và dài hạn đối với các công trình đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN
Việc xây dựng kế hoạch đầu tư trung và dài hạn đối với các công trình
Trang 25Việc xây dựng tốt dựng kế hoạch đầu tư trung và dài hạn đối với các công trình đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN nó sẽ giúp các địa phương quản
lý tốt việc đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN hằng năm, tránh l xây dựng không đúng kế hoạch vốn và giảm tình trang nợ đọng XDCB kéo dài nhiều năm qua
Công cụ chính sách cho giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản
lý xây dựng kế hoạch đầu tư trung và dài hạn đối với các công trình đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN là:
Đào tạo, tập huấn chuyên viên các cấp phụ trách hay liên quan đến công tác quản lý xây dựng kế hoạch đầu tư trung và dài hạn đối với các công trình đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN để họ ngày một hoàn thiện và chuyên nghiệp hơn Qua đó giúp nhà nước quản lý và xây dựng tốt kế hoạch đầu tư trung và dài hạn đối với các công trình đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN
Thông qua Hội đồng nhân dân các cấp phê duyệt kế hoạch đầu tư trung
và dài hạn đối với các công trình đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN để làm
cơ sở cho UBND các cấp điều hành thuận lợi và hiệu qủa các dự án ĐT XDCB hằng năm
1.3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý trong công tác lập dự án: lập báo cáo chủ trương đầu tư, lập dự án, lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật, lập thiết kế dự toán thi công …, công tác lựa chọn nhà thầu, triển khai thi công các công trình xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN
- Giải pháp nâng cao chất lượng trong công tác lập, quản lý dự án
Trang 26Vì vậy bộ máy thực hiện các công tác chuẩn bị đầu tư của Chủ đầu tư hay của các Ban quản lý dự án phải thật sự có chuyên môn, có tâm huyết để phối hợp với các đơn vị tư vấn thiết kế và chủ sử dụng các công trình thống sớm thống nhất địa điểm, quy mô đầu tư, phương án thiết kế cho từng dự án
để sớm trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt
Đối với các đơn vị tư vấn phải có bộ máy chuyên nghiệp, am hiểu dây chuyền công năng của các dự án, công trình mà mình đảm nhận làm tư vấn thiết kế Đối với công trình lớn theo quy định thì phải tổ chức thi tuyển công khai, minh bạch và công bằng để lựa chọn cho được đơn vị tư vấn trong nước hay quốc tế ) tốt nhất thiết kế công trình
Công cụ chính sách cho giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản
lý trong công tác lập các dự án bao gồm: lập báo cáo chủ trương đầu tư, lập
dự án, lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật, lập thiết kế dự toán thi công…bằng nguồn vốn NSNN
Tham mưu cho UBND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương ban hành các quyết định về quản lý đầu tư XDCB cho địa phương mình để giúp cho UBND các cấp thực hiện tốt việc quản lý trong công tác lập dự án, công trình xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN
Các ban quản lý dự án nên có bộ phần hay phòng chuyên môn phụ trách công tác chuẩn bị đầu tư bao gồm: Lập Tổng mặt bằng, lập báo cáo chủ
Trang 27và Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 cuả Chính phủ để lựa chọn cho được đơn vị tư vấn tốt nhất thiết kế công trình
Giải pháp nâng cao chất lượng trong công tác thẩm định bao gồm: thẩm định dự án, thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật, thẩm định thiết kế dự toán thi công
Việc thẩm định dự án đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN thực tế chủ yếu do con người và máy tính đảm nhiệm Thẩm định dự án đầu tư là việc nghiên cứu, phân tích khách quan, khoa học, toàn diện tất cả nội dung kinh tế
kỹ thuật của dự án, đặt trong mối tương quan với môi trường tự nhiên, kinh tế
xã hội để quyết định đầu tư, tài trợ vốn cho dự án Bên cạnh đó thẩm định phải xác định sự cần thiết đầu tư của dự án, sự phù hợp về quy hoạch đô thị, quy hoạch vùng của dự án, nguồn vốn, tổng mức đầu tư và thời gian thực hiện của dự án để cho dự án đạt được hiệu quả cao nhất.Vì vậy Nhà nước phải quan tâm đầu tư nhiều về con người và trang thiết bị để họ thực hiện tốt công tác trên
- Công cụ chính sách cho giải pháp nâng cao chất lượng trong công tác thẩm định bao gồm: thẩm định dự án, thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật, thẩm định thiết kế dự toán thi công
Nhà nước tuyển dụng đúng chuyên nghành kỹ sư quản lý dự án, xây dựng …hay thông qua các lớp tập huấn, hội nghị chuyên đề để nâng cao trình
độ nghiệp vụ chuyên viên các cấp phụ trách hay liên quan đến công tác thẩm định để họ ngày một hoàn thiện và chuyên nghiệp hơn Qua đó giúp bộ phận
Trang 2822
chuyên môn về thẩm định dự án ngày một hoàn thiện hơn
Nên đầu tư trang thiết bị máy tính có cấu hình đủ mạnh để kết nối và chạy các phần mền mới liên quan đến công tác thẩm định dự án để khi triển khai các công việc được nhanh chóng và hiệu quả
Phải có quy chế phối hợp để kết nối và xử lý các công việc có lien quan giữa Sở xây dựng và các Sở xây dựng chuyên ngành, qua đó giúp công tác thẩm định dự án ngày càng nhanh chóng và hiệu quả hơn
Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu thầu và lựa chọn nhà thầu trong các dự án đầu tư xây dựng
Thực hiện đấu thầu rộng rãi để lựa chọn nhà thầu có giá dự thầu thấp nhất, qua đó tiết kiệm ngân sách nhiều nhất và cũng tạo điều kiện để các doanh nghiệp được cạnh tranh lành mạnh, đủ sức đấu thầu đối với các gói thầu mang tính quốc tế và qua đó từng bước xây dựng các Tổng công ty đủ sức cạnh tranh tại các thị trường trong khu vực và quốc tế
Tổ chức sớm thực hiện việc đấu thầu qua mạng để tiết kiệm thời gian, kinh phí và qua đó hoàn thiện hơn về công tác đấu thầu đối với các dự án đầu
Giải pháp nâng cao chất lượng công tác nghiệm thu trong ĐTXDCB
Trang 2923
Các đơn vị tư vấn giám sát phải cử cán bộ giám sát thường xuyên bám sát công trình, xử lý kịp thời những vướng mắt, phát sinh trong quá trình thi công dự án và quan trọng nhất là giám sát chất lượng thi công của công trình
Sử dụng các thiết bị hiện đại để kiểm tra nghiệm thu chất lượng vật liệu đầu vào của công trìnhcũng như chất lượng các cấu kiện của công trình nhất
là cấc cấu kiện bị che khuất hoặc là phần ngầm của công trình
Công cụ chính sách cho giải pháp nâng cao chất lượng công tác nghiệm thu trong ĐTXDCB
Cán bộ giám sát phải thực hiện đầy đủ và nghiêm đúng theo các nội dung đã được quy định tại Nghị định 15/2013/NĐ-CP ngày 6 tháng 2 năm
2013 cuả Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Cán bộ giám sát của đơn vị tư vấn hay của Ban quản lý dự án phải được đào tạo đúng chuyên nghành mà mình được phân công giám sát dự án
Giải pháp nâng cao chất lượng về công tác thanh quyết toán trong ĐTXDCB
Để việc thanh toán quyết toán cho các dự án đảm bảo đúng mục đích, đúng đối tượng và hiệu quả và chấp hành đúng về các quy định của pháp luật
về thanh quyết toán cho các dự án thì các đơn vị liên quan gồm Đơn vị quản
lý và cung cấp tài chính, Kho bạc Nhà nước, Ban quản lý dự án, đơn vị thi công đơn vị tư vấn giám sát hay giám sát của Ban quản lý dự án phải thực hiện thanh quyết toán đúng khối lượng, đơn giá theo hồ sơ dự thầu và đồng thời đúng theo thực tế thi công tại công trình
Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm kiểm soát và thanh quyết toán cho các đơn vị như đơn vị thi công các đơn vị tư vấn thiết kế , tư vấn khảo sát, đơn vị thực hiện công trác đền bù giải tỏa… theo yêu cầu của Ban quản lý dự
án
Trang 30sử dụng vốn NSNN
1.3.5 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sát các dự án xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
- Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sát
Để các dự án xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN đạt hiệu quả các nhất thì công tác thanh tra giám sát càng phải được chú trọng Việc thanh tra giám sát phải thực hiện từ khâu đầu đến khâu cuối vì vậy cần phải có các cán
bộ am hiểu tất cả các trình tự từ khâu chuẩn bị đầu tư, đấu thầu, triển khai thi công và thanh quyết toán dự án
Việc thực hiện công tác thanh tra giám sát các dự án xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN là rất khó khăn và nhạy cảm nên cán bộ thực hiện công tác này phải đề cao đạo đức công việc trong thực thi công vụ, có như vậy mới ngăn chặn kịp thời các hành vi sai trái giây thất thoatsn NSNN trong đầu tư XDCB
- Công cụ chính sách cho giải pháp nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sát các dự án xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN
Thực hiện nghiêm theo các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản như : Luật xây dựng, Luật đấu thầu, Luật đầu tư công, Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 cuả Chính phủ về quy định chi
Trang 3125
tiết một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, Nghị định 15/2013/NĐ-CP ngày 6 tháng 2 năm 2013 cuả Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Nghị định số 08/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 1 năm 2016 của Bộ tài chính về quản lý thanh toán vốn đầu tư sử dụng vốn NSNN và Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 1 năm 2016 của Bộ tài chính về quản lý quyết toán vốn đầu tư sử dụng vốn NSNN
1.4 Thực hiện chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
1.4.1 Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN
Có rất nhiều phương pháp tiếp cận chính sách XDCB bằng nguồn vốn NSNN, trong đó phương pháp tiếp cận được dùng nhiều nhất là phương pháp
từ trên xuống Cách tiếp cận này đảm bảo được tính thống nhất khi ban hành chính sách, đảm bảo chính sách được triển khai nhanh gọn và tránh được sự chồng chéo, mất tập trung khi thực thi chính sách Tuy nhiên, nó không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cơ sở và chưa thật sự phù hợp với hoàn cảnh, tình hình kinh tế xã hội của từng địa phương thực hiện
Ngược lại phương pháp tiếp cận “từ dưới lên” tuy khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” nhưng vẫn gặp phải một số vấn đề khi thực hiện bởi vì nó chịu ảnh hưởng mang tính chủ quan của những cán bộ chuyên trách Ngoài ra phương pháp này chưa thật sự huy động được sự tham gia của người dân Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình hình mới cũng như mục tiêu hướng đến cộng đồng, phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách là tiếp cận theo chiều dọc, theo chiều ngang và có sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng Cách tiếp cận này đảm bảo được tính thống nhất khi ban hành chính sách, đảm bảo chính sách được triển khai nhanh gọn và tránh được sự chồng chéo, mất tập trung
Trang 3226
khi thực thi chính sách Tuy nhiên, nó không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cơ sở và chưa thật sự phù hợp với hoàn cảnh, tình hình kinh tế xã hội của từng địa phương thực hiện Ngược lại phương pháp tiếp cận “từ dưới lên” tuy khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” nhưng vẫn gặp phải một số vấn đề khi thực hiện bởi vì nó chịu ảnh hưởng mang tính chủ quan của những cán bộ, công chức chuyên trách Ngoài ra phương pháp này chưa thật sự huy động được sự tham gia của người dân Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình hình mới cũng như mục tiêu hướng đến cộng đồng, phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách
là tiếp cận theo chiều dọc ( Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng cấp tỉnh, thành phố, Phòng Quản lý đô thị cấp quận ), theo chiều ngang (có sự phối hợp giữa các
Bộ, các cơ quan ban ngành: Bộ Tài chính, Bộ Giao thông, Bộ Kế hoạch và đầu tư) và sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng, người dân, các tổ chức trong nước và quốc tế Như vậy, cách tiếp cận đối với XDCB bằng nguồn vốn NSNN đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức đoàn thể xã hội, chính trị thông qua các chương trình, chiến lược, chính sách, nghị quyết Quốc Hội thực hiện vai trò giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các vấn đề về XDCB bằng nguồn vốn NSNN cùng với các bộ ngành có liên quan khác đóng vai trò chủ chốt trong các lĩnh vực tương ứng như Bộ Giao thông, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư Chính quyền địa phương thực thi chức năng quản lý nhà nước về các vấn đề XDCB, các kế hoạch hành động phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội trung và dài tại địa phương
1.4.2 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN
Để đưa chính sách vào thực hiện cần xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cần thiết
Trang 3327
trước khi đưa chính sách vào triển khai thực hiện trong đời sống, để chính sách có thể đạt được những hiệu quả và mục tiêu đề ra thì việc xây dựng kế hoạch thực hiện phải đảm bảo đầy đủ các bước thực hiện, trong đó vai trò trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị địa phương từ Trung ương đến cơ sở cũng cần được xây dựng một cách cụ thể Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách XDCB bằng nguồn vốn NSNN bao gồm các kế hoạch sau:
- Tổ chức điều hành
- Dự kiến các nguồn lực
- Thời gian triển khai thực hiện
- Kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc đưa XDCB bằng nguồn vốn NSNN vào cuộc sống
Ngoài ra, trong kế hoạch thực hiện chính sách cần phải xây dựng về nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách; về nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan nhà nước và cán bộ công chức tham gia tổ chức điều hành chính sách; về biện pháp, giải pháp khen thưởng, kỷ luật đối với cá nhân tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách Việc lập kế hoạch thực hiện chính sách tốt sẽ giúp cho việc thực thi chính sách được khả thi, tránh tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị dẫn đến việc thực thi chính sách không đảm bảo mục tiêu đề ra Bên cạnh đó, việc xây dựng kế hoạch hoàn chỉnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, các cấp phân định
rõ từng công việc cần triển khai thực để đảm bảo sự đồng thuận và thống nhất trong việc thực hiện chính sách và không phải qua điều ch nh, bổ sung trong quá trình thực hiện
1.4.3 Phổ biến, tuyên truyền chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN
Việc phổ biến, tuyên truyền giúp cho các đối tượng thụ hưởng chính sách như Doanh nghiệp xây dựng, các Công ty tư vấn thiết kế, giám sát, …
Trang 341.4.4 Trách nhiệm giải trình và phân công phối hợp thực hiện chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN cho các cơ quan nhà nước
Trong tổ chức và thực hiện chính sách XDCB bằng nguồn vốn NSNN thì phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách Muốn tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải tiến hành phân công phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương Cần phải phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp Thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học
sẽ phát huy được những nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
Trong phân công nhiệm vụ cần đặc biệt chú ý đến khả năng, trình độ năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng Đảng Cộng sản
Việt Nam “ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [10], Đảng lãnh đạo
Nhà nước, các tổ chức chính tr và xã hội, các đoàn thể quần chúng thông qua các chương trình, chiến lược, chính sách, nghị quyết và thông qua theo dõi giám sát việc thực hiện của các tổ chức này Theo quy định của Hiến pháp,
Trang 3529
Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao mọi hoạt động của Nhà nước Các cơ quan của Quốc hội gồm có Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Hội đồng
dân tộc và 9 Ủy ban [11]
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp
hành của Quốc hội [12] Chính phủ do Thủ tướng lãnh đạo có thẩm quyền
ban hành một số loại văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định, Quyết định Các Bộ chủ quản ban hành các Quyết định và Thông tư nhằm hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp cao hơn Các cơ quan Nhà nước liên quan đến chính sách XDCB bằng nguồn vốn NSNN, cụ thể là:
- Bộ Xây dựng
- Bộ Giao thông
- Bộ Tài chính
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Ủy ban nhân dân cấp Thành phố, cấp quận, huyện chịu trách nhiệm thực hiện chính sách XDCB bằng nguồn vốn NSNN đảm bảo phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế tại địa phương mình theo quyền hạn được giao phó
1.4.5 Giám sát việc thực hiện chính sách xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Để thực hiện tốt chính sách XDCB bằng nguồn vốn NSNN thì trong quá trình thực hiện chính sách cũng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách, kiểm tra quá trình phối hợp thực hiện giữa các cơ quan quản lý, kết quả thực hiện các mục tiêu của chính sách thu hút, kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan quản lý đối với việc thực hiện chính sách, qua đó phát hiện kịp thời, xử lý các hành vi vi phạm việc thực hiện
Trang 3630
chính sách XDCB bằng nguồn vốn NSNN nhằm đảm bảo chính sách thực hiện theo đúng theo mục tiêu đề ra, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách
1.4.6 Đánh giá tổng kết thực hiện chính sách
Sau khi chính sách đã được thực hiện, cần tổng kết lại việc thực hiện chính sách đó Cần xác định cụ thể kết quả thực hiện:
- Những việc đã làm được và những việc chưa làm được
- Phân tích nguyên nhân của những thành công và hạn chế
- Rút ra bài học kinh nghiệm cho những lần xây dựng và thực thi chính sách tiếp sau
Cũng cần phải đánh giá việc thực hiện chính sách một cách trung thực, khách quan, tránh thổi phồng thành tích Một chính sách được đánh giá là có hiệu quả khi nó được tổ chức thực hiện thành công trên thực tế và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội
Việc đánh giá hiệu quả của chính sách là một công việc rất phức tạp
Nó đòi hỏi người đánh giá phải đo lường các kết quả do việc thực hiện chính sách mang lại và chi phí cho việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách Những tác động mà chính sách công đem lại đối với khách thể quản lý không chỉ được xem xét về khía cạnh kinh tế mà còn cả về khía cạnh chính trị, xã hội, do đó rất khó để xác định cụ thể Ngoài ra, nhiều tiêu chí đánh giá khó có thể định lượng được như niềm tin, sự tín nhiệm, sự hài lòng, sự quan tâm của người dân…
Yêu cầu của việc tổng kết đánh giá chính sách:
- Tổng kết đánh giá chính sách phải trung thực, không hạ thấp cũng như không thổi phồng thành tích; thành thật, dũng cảm nhận khuyết điểm để sửa chữa