Để chính sách GDPT đem lại hiệu quả trong thời gian đến, việc tìm hiểu vấn đề thực hiện chính sách GDPT, các nguyên nhân, các giải pháp chính sách GDPT hiện nay luôn được quan tâm và đây
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH HOÀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ Chính sách công “Thực hiện Chính
sách giáo dục phổ thông từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Lê Minh Hoà
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 8
1.1 Tổ chức thực hiện chính sách giáo dục phổ thông 8
1.2 Nội dung tổ chức thực thi chính sách giáo dục phổ thông 14
1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của tổ chức thực hiện giáo dục phổ thông 19
1.4 Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực hiện chính sách giáo dục phổ thông 20
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực thi chính sách giáo dục phổ thông 22
1.6 Phương pháp thực hiện chính sách giáo dục phổ thông 27
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 30
2.1 Khái quát về kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng 30
2.2 Tình hình thực hiện chính sách giáo dục phổ thông thành phố Đà Nẵng 31
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 62
3.1 Mục tiêu phát triển ngành giáo dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 62
3.2 Một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách giáo dục phổ thông 64
KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CSVC-KT : Cơ sở vật chất – kỹ thuật
CBQL : Cán bộ quản lý
GDPT : Giáo dục phổ thông
GDTX : Giáo dục thường xuyên
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách giáo dục và đào tạo luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách công ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới Trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, Giáo dục phổ thông (GDPT) được nhìn nhận như một bậc giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt, là nền tảng của toàn bộ hệ thống, nó đặt những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của các lứa tuổi nhi đồng, thiếu niên và thanh niên, giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách
Trên thế giới hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tiếp tục phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức Nhân loại đang hướng tới một cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư lấy tri thức làm động lực phát triển; khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội (KT- XH) Giáo dục và đào tạo là nền tảng của sự phát triển khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau
Qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh với vị thế và diện mạo mới Kinh tế liên tục phát triển đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế Mặc dù có những thành tựu, nền kinh tế nước ta vẫn là nền kinh tế có mức thu nhập thấp, các chỉ số về phát triển con người vẫn ở mức thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn nhiều hạn chế, vướng mắc, chưa đồng bộ Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát
Trang 7triển đất nước Giáo dục và đào tạo càng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Đảng ta đã xác định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, tư tưởng, quan điểm của Đảng được thể chế, hoạch định thông qua các chính sách của Nhà nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo Nghị Quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã đặt ra những định hướng, quan điểm cùng các mục tiêu và giải pháp phát triển giáo dục nói chung và GDPT trong những năm tới Việc đánh giá đúng thực trạng, hoạch định và triển khai thực hiện tốt các chính sách giáo dục đào tạo, mà nền tảng là GDPT có vai trò vị trí cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao
Sự phát triển KT- XH và quá trình đô thị hoá của thành phố Đà Nẵng trong những năm qua đã có những tác động tích cực, tạo ra nguồn lực để xây dựng và hoàn thiện các chính sách, cơ chế về giáo dục và đào tạo, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện chương trình và chất lượng giáo dục, thực hiện nghiêm túc Luật Giáo dục Để đạt được mục tiêu đó, Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố đã ban hành Quyết định 2159/QĐ-UBND, ngày 31/03/2010 về Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành giáo dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, tạo hành lang cho việc hoạch định cũng như tổ chức thực hiện tốt chính sách giáo dục đào tạo phổ thông trên địa bàn thành phố
Để chính sách GDPT đem lại hiệu quả trong thời gian đến, việc tìm hiểu vấn
đề thực hiện chính sách GDPT, các nguyên nhân, các giải pháp chính sách GDPT hiện nay luôn được quan tâm và đây cũng là nội dung nghiên cứu của đề tài này.Tuy nhiên, hiệu quả của một chính sách công, chính sách GDPT ở nước ta phải được đánh giá khách quan, toàn diện trên cơ sở khoa học về chính sách công và tiếp tục hoàn thiện, phát triển chính sách giáo dục nói chung và chính sách GDPT nói riêng phù hợp với thực tiễn Chính sách GDPT ở nước ta có được thể hiện đầy đủ các công đoạn trong quy trình chính sách hay không? Chính sách GDPT được tổ chức thực hiện ở các địa phương có đem lại hiệu quả như thiết kế ban đầu hay không?, là những vấn đề, câu hỏi cần được nghiên cứu, giải đáp ở Trung ương và các địa phương trong
đó có thành phố Đà nẵng Thành phố Đà Nẵng cũng là một trong những tỉnh, thành
Trang 8đang thực thi chính sách GDPT theo chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đem lại những kết quả khả quan, tuy nhiên việc triển khai thực hiện chính sách GDPT vẫn còn nhiều bất cập, các cơ quan chuyên môn vẫn chưa được tiếp cận với lý thuyết của một quy trình chính sách công, do đó hiệu quả trong thực thi chính sách công nói chung, chính sách GDPT nói riêng chưa cao
Để đánh giá đúng thực trạng GDPT và việc thực hiện chính sách GDPT, và
từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách GDPT
trong thời gian đến ở Đà Nẵng, tác giả luận văn đã chọn đề tài: “Thực hiện Chính
sách giáo dục phổ thông từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” là quan trọng và cần thiết
phục vụ hoàn thành các mục tiêu mà Nghị Quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015- 2020 đã đề ra
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Chính sách GDPT không phải là một vấn đề mới, đã được Đảng và Nhà nước chuẩn bị và triển khai từ rất sớm, ngay sau Đại hội Đảng lần thứ 11 (năm 2011), và nhất là từ khi có Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề này dưới nhiều góc độ khác nhau được thể hiện dưới các hình thức như: đề tài khoa học; giáo trình; bài báo; bài đăng trên tạp chí có thể khái quát một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài:
Bài viết của tác giả Văn Tất Thu: “Năng lực thực hiện chính sách công -
những vấn đề lý luận và thực tiễn” Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước tháng
29/01/2016 Bài viết đã góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn năng lực thực hiện chính sách có ý nghĩa khoa học, thiết thực và cấp bách hiện nay
Bài viết của tác giả Đỗ Phú Hải: “Quá trình xây dựng chính sách công”, Tạp chí lý luận chính trị số 2/2014; “Những vấn đề cấp bách của chính sách công”, Tạp chí cộng sản số 3, 2014; “Những vấn đề cơ bản của chính sách công”, Học viện
KHXH, 2012 Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách công ở nước ta hiện nay
Trang 9Tác giả Nguyễn Khắc Bình trong nghiên cứu Đổi mới đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý giáo dục cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đã nêu những yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách giáo dục trong đào tạo cán bộ quản lý giáo dục có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ta trong những năm gần đây Tác giả đã đi sâu phân tích về trình độ chuyên môn thấp và năng lực hạn chế của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giáo dục là một trong những nguyên nhân làm cho việc thực thi chính sách giáo dục đạt hiệu quả thấp; làm ảnh hưởng đến công cuộc phát triển giáo dục ở các địa phương cũng như tác động không tốt đến sự nghiệp phát triển giáo dục của nước ta trong giai đoạn hiện nay (Báo cáo Khoa học tại Hội thảo về Đào tạo sau đại học chuyên Quản lý giáo dục tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tháng 5 năm 2015)
Nghiên cứu về Thực hiện chính sách xã hội hóa trong giáo dục của tác giả Trần Khánh Đức, Tạp chí Giáo dục số 5 năm 2012 đã đề cập đến những thành tựu
và bất cập trong việc thực hiện chính sách xã hội hóa trong GDPT ở nước ta trong thời kỳ hội nhập
Một số bài viết nghiên cứu về GDPT: “Một số cơ hội để đánh giá thực trạng
giáo dục phổ thông” của Hồ Thiệu Tùng đăng trên báo tuổi trẻ ngày 10/02/2003;
“Phát huy việc tự học trong trường phổ thông trung học” của tác giả Nguyễn Cảnh
Toàn đăng trên báo Giáo dục và Thời đại ngày 10/02/2003; “Chất lượng giáo dục
phổ thông – một vấn đề cấp bách” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đăng trên báo
Văn nghệ ngày 11/10/2003; “Chạy trường” làm chất lượng giáo dục đi xuống của
tác giả Nguyễn Lân Dũng (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ngày 12/9/2009)… đưa ra những phân tích nhận định về GDPT những năm đổi mới đất nước
Nhận định về những thành tựu và hạn chế của giáo dục và đào tạo Việt Nam trong những năm thực hiện đổi mới, chỉ ra nguyên nhân và đưa ra những kiến nghị,
để giáo dục nói chung và GDPT nói riêng thực sự trở thành “quốc sách hàng đầu”
là những vấn đề được đề cập đến trong các bài viết: “Đổi mới có tính cách mạng
nền giáo dục và đào tạo của nước nhà” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; “Cải cách giáo dục từ khâu đột phát nào?” của tác giả Nguyễn Ngọc Lanh; “Để giáo dục và đào tạo thực sự trở thành quốc sách hàng đầu” của tác giả Phạm Ngọc Minh;
Trang 10“Ngành giáo dục - đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và triển khai Nghị quyết Đại hội IX”
Tác giả Lê Trung Chinh (2012), Đề tài luận án: “Quản lý phát triển đội ngũ
giáo viên trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng theo hướng chuẩn hoá”; Nguyễn
Văn Chiến (2013), Đề tài: “Kinh nghiệm quốc tế về chính sách đào tạo và sử dụng
đội ngũ giáo viên phổ thông và đề xuất cho Việt Nam”, Hoàng Gia Trang (2014),
Đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học cơ sở”; Nguyễn Thị Lan Phương (2013), Đề tài: “Xây dựng phương thức, tiêu chí đánh giá
chương trình giáo dục phổ thông (Đáp ứng yêu cầu phát triển chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015)”, đăng trên Wesite của Viện Khoa học Giáo dục Việt
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách giáo dục phổ thông và thực trạng thực hiện chính sách GDPT ở TP Đà Nẵng hiện nay đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện chính sách GDPT ở Đà Nẵng; góp phần nâng cao chất lượng GDPT của thành phố trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lý luận về thực hiện chính sách GDPT
- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách giáo dục phổ thông tại thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây
- Đề xuất một số giải pháp tổ chức thực hiện chính sách GDPT của thành phố
Đà Nẵng trong những năm sắp tới
Trang 114 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp tổ chức thực hiện chính sách GDPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn vận dụng cách
tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và luận văn triệt để vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công
có sự tham gia của các chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu
thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách GDPT ở nước ta nói chung và thực tế thành phố Đà Nẵng nói riêng Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua
Thu tập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách xã hội liên quan đến vấn đề chính sách GDPT
Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là phương pháp được dùng khá
phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối thoại với một đối tượng nhằm thu thập thông tin Theo dự kiến thiết kế nghiên cứu có phương pháp
Trang 12điều tra bằng bảng hỏi đối với đối tượng là những người là cán bộ lãnh đạo quản lý
và các chủ thể chính sách GDPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Tuy nhiên, do thời gian có hạn nên tác giả tập trung vào phương pháp phỏng vấn sâu nghiên cứu chính sách
6- Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng các lý thuyết về chính sách công để xem xét việc thực hiện chính sách GDPT ở thành phố Đà Nẵng, từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác hoạch định và thực hiện chính sách trong những năm tiếp theo
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành thành phố, các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách giáo dục và thực thi chính sách một cách hiệu quả trong công cuộc phát triển KT- XH nói chung và phát triển GDPT nói riêng ở địa phương
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giáo dục phổ thông
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách GDPT ở thành phố Đà Nẵng Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách GDPT tại thành phố
Đà Nẵng
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
1.1 Tổ chức thực hiện chính sách giáo dục phổ thông
1.1.1 Khái niệm tổ chức thực hiện chính sách giáo dục và đào tạo, tổ chức thực hiện chính sách giáo dục phổ thông
Thực hiện chính sách giáo dục là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách công Trong thực tiễn có nhiều loại chính sách khác nhau, xuất phát từ tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, chính sách GDPT là một trong những chính sách quan trọng Chính sách giáo dục và đào tạo nhằm phát triển giáo dục và đào tạo với tư cách
là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển xã hội và có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia
Theo Từ điển Bách khoa: Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người Đây là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất
mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội
Đào tạo là hệ thống các biện pháp, các tổ chức đào tạo và giáo dục của một nước Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người
Trang 14Qua nghiên cứu, phân tích khái niệm chính sách công; giáo dục và đào tạo ở trên, tác giả luận văn cho rằng: Chính sách giáo dục và đào tạo là hệ thống những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước; các Bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương về hoạt động giáo dục và đào tạo nhằm phát triển và hoàn thiện công tác giáo dục và đào tạo với mục đích “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Từ quan niệm về chính sách giáo dục và đào tạo như trên, theo tác giả, thực hiện chính sách GDPT là quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, nhà trường, xã hội nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của nhà nước đã đề ra trong lĩnh vực giáo dục phổ thông
Sau khi chính sách GDPT được hoạch định và ban hành thì công tác tổ chức thực thi chính sách GDPT là khâu then chốt trong việc đưa chính sách GDPT vào cuộc sống để đem lại những kết quả thực tế Công tác tổ chức thực thi chính sách GDPT là công việc xuyên suốt toàn bộ quá trình thực thi chính sách, định hình các hoạt động cần thiết và các tổ chức thực thi các hoạt động này, cũng như tạo ra mối quan hệ qua lại theo chiều dọc và chiều ngang giữa các tổ chức, nhằm đạt đến các mục tiêu chính sách GDPT đã đề ra Có thể nói, công tác tổ chức thực thi chính sách GDPT có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình thực thi Nếu công tác tổ chức được thực hiện tốt, tức là xác định rõ những công việc cần làm, lựa chọn được những tổ chức có đủ khả năng đảm đương, phân công trách nhiệm cho các tổ chức
rõ ràng và phù hợp, tạo lập được mối liên hệ phối hợp nhịp nhàng giữa các tổ chức, thì việc thực thi chính sách GDPT sẽ đạt kết quả tốt
1.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục
Cơ cấu tổ chức: (Xem Phụ lục 1)
1.1.3 Chức năng quản lý nhà nước (QLNN) về giáo dục cấp tỉnh, thành phố
Theo Nghị định 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định trách nhiệm QLNN về giáo dục:
1.1.3.1 Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của UBND cấp tỉnh:
UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ về phát triển giáo dục, thực hiện
Trang 15chức năng QLNN về giáo dục trên địa bàn tỉnh:
Xây dựng và trình hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, chính sách phát triển giáo dục sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
về giáo dục; ban hành các chính sách của địa phương để phát triển giáo dục trên địa bàn
Bảo đảm chất lượng giáo dục mầm non, GDPT, giáo dục thường xuyên và giáo dục trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) do địa phương quản lý; giám sát việc bảo đảm chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học và trung cấp chuyên nghiệp khác theo quy định của pháp luật; chỉ đạo và tổ chức thực hiện phổ cập giáo dục, chống mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn
Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo theo định kỳ và hàng năm về tổ chức và hoạt động giáo dục trên địa bàn tỉnh với Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT)
Quản lý các cơ sở giáo dục
- Quản lý hành chính theo lãnh thổ các trường đại học, cao đẳng trực thuộc các
Bộ đóng trên địa bàn; quản lý các trường đại học công lập trực thuộc tỉnh, các trường đại học, cao đẳng tư thục trên địa bàn theo điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường do cấp có thẩm quyền ban hành và các quy định của pháp luật;
- Quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, chia, tách, sáp nhập, giải thể, chuyển đổi loại hình trường các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của tỉnh (bao gồm cả các cơ sở giáo dục có sự tham gia đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài): trường TCCN, trường trung học phổ thông (THPT), trường phổ thông có nhiều cấp học (trong đó có cấp học THPT), trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX), trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, trường bồi dưỡng cán
bộ quản lý (CBQL) giáo dục tỉnh (nếu có), trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm ngoại ngữ, tin học và các cơ sở giáo dục khác thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp tỉnh;
Trang 16- Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức và thực hiện chính sách đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường đại học công lập trực thuộc tỉnh theo tiêu chuẩn quy định tại Điều lệ trường đại học do Thủ tướng Chính phủ ban hành; quyết định công nhận, không công nhận hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, hiệu trưởng trường đại học tư thục trên địa bàn theo tiêu chuẩn được quy định tại Quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học
tư thục do Thủ tướng Chính phủ ban hành; quyết định công nhận hội đồng trường, trường đại học trực thuộc tỉnh
Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo; hướng dẫn UBND cấp huyện quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) theo quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ Chỉ đạo, hướng dẫn Sở GD&ĐT thực hiện quy hoạch, kế hoạch, tuyển dụng,
sử dụng, đánh giá, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chính sách đối với nhà giáo và CBQL giáo dục; bảo đảm đủ biên chế sự nghiệp cho các cơ sở giáo dục, biên chế công chức cho cơ quan Sở GD&ĐT
Quản lý, kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước chi cho giáo dục theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách hiện hành; việc thu, chi học phí, lệ phí và các khoản thu hợp pháp khác đối với các cơ sở giáo dục thuộc trách nhiệm quản lý của UBND cấp tỉnh; huy động các nguồn lực cho giáo dục, xã hội hóa giáo dục để phát triển giáo dục trên địa bàn tỉnh
Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước và các chính sách của địa phương để bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các cơ sở giáo dục trong việc tổ chức thực hiện việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục
Chỉ đạo và thực hiện công tác hợp tác quốc tế về giáo dục
Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện phong trào thi đua; quyết định khen thưởng các tổ chức, cá nhân có nhiều công lao đối với sự phát triển giáo dục trên địa bàn
Trang 17Chỉ đạo việc kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về giáo dục trong việc bảo đảm các điều kiện về thành lập trường, hoạt động giáo dục, mở ngành đào tạo; công khai chất lượng giáo dục, công khai các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục; việc đào tạo gắn với nhu cầu xã hội theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT đối với các cơ sở giáo dục đại học được quy định tại điểm a khoản 5 Điều 6 Nghị định này
Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác cải cách hành chính, công tác thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và xử lý vi phạm về giáo dục theo quy định của pháp luật
QLNN các cơ sở dịch vụ tư vấn, đưa người đi du học tự túc theo quy định của pháp luật
1.1.3.2 Trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo: Sở GD&ĐT có trách nhiệm
tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan: Trình UBND cấp tỉnh: dự thảo quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn; dự thảo các quyết định, chỉ thị khác về lĩnh vực giáo dục thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh để phát triển giáo dục Trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh: dự thảo quyết định thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể các cơ sở giáo dục trực thuộc Sở GD&ĐT và các văn bản khác về lĩnh vực giáo dục thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh
Hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình và các nội dung khác về giáo dục sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ; công tác phổ cập giáo dục, chống mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn; công tác tuyển sinh, thi cử, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, kiểm định chất lượng giáo dục đối với các Phòng GD&ĐT, các cơ sở giáo dục trực thuộc; quyết định việc mở ngành đào tạo đối với các trường TCCN trực thuộc sở theo quy định của Bộ GD&ĐT; cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục đối với các cơ sở giáo dục đào tạo được quy định tại điểm b khoản 5 Điều 6 Nghị định này
Trang 18Giúp UBND cấp tỉnh QLNN đối với các tổ chức dịch vụ đưa người đi đu học
tự túc ở ngoài nước theo quy định của pháp luật
Thực hiện thống kê, thông tin, báo cáo theo định kỳ và hàng năm về tổ chức
và hoạt động giáo dục của địa phương với UBND cấp tỉnh và Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chủ trì hướng dẫn, tổng hợp kế hoạch biên chế sự nghiệp giáo dục của địa phương hàng năm để cơ quan quản lý biên chế cùng cấp ở địa phương trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; phân bổ biên chế sự nghiệp giáo dục cho các cơ sở giáo dục trực thuộc sở, sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng, luân chuyển, biệt phái, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, thực hiện chính sách đối với nhà giáo và CBQL giáo dục trên địa bàn tỉnh
Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, luân chuyển, cách chức, giáng chức người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu, công nhận hội đồng trường các cơ sở giáo dục trực thuộc; công nhận, không công nhận hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các cơ sở giáo dục ngoài công lập thuộc quyền quản lý, bao gồm cả các trường cao đẳng tư thục đóng trên địa bàn tỉnh
Chủ trì xây dựng để cụ thể hóa các tiêu chuẩn, định mức kinh phí giáo dục tại địa phương; lập dự toán ngân sách giáo dục đối với các cơ sở giáo dục trực thuộc sở; quyết định phân bổ, giao dự toán ngân sách được giao cho giáo dục đối với các cơ sở giáo dục trực thuộc sở sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; phối hợp với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư xác định, cân đối ngân sách nhà nước chi cho giáo dục hàng năm của địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác cho giáo dục trên địa bàn tỉnh
Hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục; ban hành các quy định để bảo đảm quyền tự chủ, nghĩa vụ
tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trực thuộc; quản lý tài chính, tài sản, cơ sở vật chất được giao theo quy định của pháp luật
Trang 19Giúp UBND cấp tỉnh thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật về giáo dục trong việc bảo đảm các điều kiện thành lập trường, hoạt động giáo dục, mở ngành đào tạo, công khai chất lượng giáo dục, công khai điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, việc đào tạo gắn với nhu cầu xã hội đối với các cơ sở giáo dục đại học được quy định tại điểm a khoản 5 Điều 6 Nghị định này
Thực hiện cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị có liên quan đến giáo dục, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
Giúp UBND cấp tỉnh quản lý các cơ sở giáo dục trực thuộc, gồm: trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp (không bao gồm các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp công lập của các Bộ đóng trên địa bàn), trường CBQL giáo dục tỉnh (nếu có), trường THPT, trường phổ thông có nhiều cấp học (trong đó có cấp trung học phổ thông), trung tâm GDTX, trung tâm ngoại ngữ, tin học, trung tâm giáo dục - hướng nghiệp; trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú và các cơ sở giáo dục trực thuộc khác (nếu có) thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp tỉnh
1.2 Nội dung tổ chức thực thi chính sách giáo dục phổ thông
Do tầm quan trọng của giai đoạn hiện thực hóa chính sách GDPT nên các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo sát sao công tác tổ chức triển khai thực hiện chính sách GDPT ở cấp thành phố theo các nội dung cơ bản sau đây:
1.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Mục tiêu của chính sách GDPT đã hoạch định có thể đạt được trong dài hạn hoặc ngắn hạn do đó việc tổ chức thực thi cần phải lập kế hoạch cụ thể Kế hoạch triển khai thực thi chính sách bao gồm những nội dung cơ bản sau đây: Kế hoạch về
tổ chức, điều hành Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực hỗ trợ Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách Dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách;
về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi chính
Trang 20sách giáo dục…
Dự kiến kế hoạch thực thi do lãnh đạo Sở GD&ĐT xem xét thông qua Sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực thi chính sách mang giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện Việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định
1.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Sau khi kế hoạch tổ chức thực thi chính sách giáo dục được thông qua, Sở GD&ĐT tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền vận động CBQL nhà trường, giáo viên, học sinh và nhân dân tham gia thực hiện chính sách Đây là một hoạt động quan trọng,
có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ mục đích, yêu cầu của chính sách GDPT; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khải thi của chính sách… để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của Nhà nước về giáo dục Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách giáo dục và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách giáo dục được giao
Việc làm này cần được tăng cường đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, về trang thiết bị kỹ thuật… nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền vận động Trong thực tế có không ít cơ quan, địa phương do thiếu năng lực tuyên truyền, vận động đã làm cho chính sách giáo dục bị biến dạng, làm cho lòng tin của dân chúng vào Nhà nước bị giảm sút
Việc phổ biến, tuyên truyền cần phải được thực hiện thường xuyên, bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng… Ví dụ: Tuyên truyền về vận động trẻ
em 6 tuổi đến tuổi vào lớp 1
Trang 211.2.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách
Bước tiếp theo là phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện chính sách GDPT theo kế hoạch được phê duyệt Chính sách được thực thi trên phạm vi rộng lớn, tối thiểu cũng là một địa phương, vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của Nhà nước Không chỉ có vậy, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách diễn ra cũng rất phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian Chúng đan xen nhau, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật Vì vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách GDPT có hiệu quả thì phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách Chính sách có thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả tác động lại liên quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau, nên cần phải phối hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản lý giáo dục
1.2.4 Duy trì chính sách
Duy trì chính sách GDPT là làm cho chính sách GDPT tồn tại được và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Để đạt được điều đó đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại Sở GD&ĐT phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách bao gồm CBQL nhà trường, giáo viên, học sinh và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách GDPT Nếu việc thực thi chính sách GDPT gặp phải những khó khăn do môi trường thực tế biến động, thì các cơ quan Nhà nước sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách, đồng thời chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, các cơ quan Nhà nước có thể kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính để duy trì chính sách, bên cạnh đó, tăng cường thực hiện dân chủ để người dân mạnh dạn tham gia quản lý xã hội, trong đó tự giác chấp hành chính sách và tham gia tìm kiếm, đề xuất các biện pháp thực hiện mục tiêu giáo dục
Trang 221.2.5 Điều chỉnh chính sách
Chính sách GDPT trong quá trình thực thi do tác động của nhiều yếu tố sẽ bộc
lộ sự bất cập Điều chỉnh chính sách GDPT là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực thi chính sách GDPT Nó được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế, việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách diễn ra rất linh hoạt, vì thế Sở GD&ĐT chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn
là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách giáo dục
Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là: để chính sách tiếp tục tồn tại Chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách không tồn tại Hoạt động điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải chính xác, hợp lý, nếu không sẽ làm sai lệch, biến dạng chính sách, làm cho chính sách trở nên kém hiệu quả, thậm chí không tồn tại được Muốn vậy, Sở GD&ĐT phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực thi mới kịp thời phát hiện những sai sót để kịp thời điều chỉnh, bổ sung
1.2.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Thực thi chính sách GDPT diễn ra trên địa bàn rộng và do nhiều cơ quan, tổ chức, các nhân tham gia Các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường ở các vùng, miền, địa phương không giống nhau, cũng như trình độ, năng lực tổ chức điều hành của cán bộ, công chức trong và ngoài ngành giáo dục, không đồng đều, do vậy Sở GD&ĐT phải tiến hành theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách giáo dục Qua đó, các mục tiêu và biện pháp của chính sách lại được khẳng định để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức, giáo viên, học sinh, mỗi đối tượng thực thi chính sách GDPT tập trung chú ý những nội dung ưu tiên trong quá trình thực thi chính sách Căn cứ kế hoạch kiểm tra, đôn đốc đã được phê duyệt, các tổ chức cá nhân có trách nhiệm thực hiện hoạt động kiểm tra có hiệu quả Kiểm tra
Trang 23thường xuyên giúp cho lãnh đạo Sở GD&ĐT nắm được tình hình thực thi chính sách giáo dục, nhờ đó: Phát hiện, đánh giá khách quan về những điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức thực thi chính sách GDPT; Giúp phát hiện những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực thi để điều chỉnh; Tạo điều kiện phối hợp nhịp nhàng các hoạt động độc lập của các cơ quan, nhà trường, các đối tượng thực thi chính sách giáo dục khác; Tạo ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu chính sách GDPT; Kịp thời khuyến khích những nhân tố tích cực trong thực thi chính sách GDPT để tạo ra những phong trào thiết thực cho việc thực hiện mục tiêu
Ngoài ra, công tác kiểm tra đôn đốc này còn giúp cho các đối tượng thực thi chính sách GDPT: Biết được những hạn chế của mình để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện; Nhận thức đúng vị trí của mình để yên tâm thực hiện có trách nhiệm công việc được giao; Giúp các đối tượng nắm chắc quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thực thi chính sách GDPT để yêu cầu các cơ quan Nhà nước chấp hành đầy đủ nghĩa vụ
Kiểm tra, theo dõi sát sao tình hình tổ chức thực thi chính sách GDPT vừa kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách, vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực thi chính sách, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách GDPT
1.2.7 Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm
Trong quá trình thực thi chính sách GDPT, người ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc toàn bộ chính sách Đánh giá tổng kết được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách giáo dục
Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách giáo dục ở cấp thành phố là Sở GD&ĐT (cơ quan tham mưu QLNN về giáo dục được UBND thành phố giao) Ngoài ra còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách Cơ
sở để đánh giá tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách giáo dục là kế
Trang 24hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng Đồng thời còn kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách của các tổ chức chính trị và xã hội với Nhà nước Bên cạnh đó còn xem xét đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm: CBQL Sở GD&ĐT, các bộ công chức, viên chức, CBQL nhà trường, giáo viên, học sinh và các đối tượng khác thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách GDPT Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách GDPT và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách GDPT trong từng điều kiện về không gian và thời gian
1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của tổ chức thực hiện giáo dục phổ thông
Thực thi chính sách công là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với việc thành công hay thất bại của một chính sách Hoạt động này mang lại những ý nghĩa to lớn:
tổ chức thực thi chính sách là giai đoạn biến ý đồ chính sách thành hiện thực; tổ chức thực thi chính sách để từng bước thực hiện mục tiêu chính sách và mục tiêu chung; thực thi chính sách là để khẳng định tính đúng đắn của chính sách; qua thực thi giúp cho chính sách ngày càng hoàn chỉnh
Giáo dục phổ thông giành cho lứa tuổi từ 6 đến 18 tuổi, cấp học này cung cấp những kiến thức phổ thông, cơ bản ban đầu giúp tuổi trẻ có thể tiếp tục học nghề hoặc học lên và cũng có thể đi vào cuộc sống tự nuôi sống mình và cống hiến cho
xã hội Có một vị trí hết sức quan trọng, nó là chiếc cầu nối cơ bản, nó là cấp học mang tính nền tảng của cả hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia Chất lượng của giáo dục phổ thông do vậy trước tiên ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng giáo dục dậy nghề và đại học, sâu xa hơn, mở rộng hơn, chính nó là nguồn gốc góp phần quan trọng quyết định chất lượng của nguồn lực lao động từng quốc gia, địa phương
Nhận thức rõ vị trí quan trọng này của giáo dục phổ thông, ngày từ khi mới giành được chính quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã hình thành một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh và toàn diện Quán triệt các quan điểm cơ bản
Trang 25của Đảng ta về phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục phổ thông nói riêng, thành phố Đà Nẵng và ngành giáo dục đã chăm lo không ngừng cho giáo dục phổ thông Giáo dục phổ thông đã tạo nên những thành tựu hết sức quan trọng
và to lớn, cung cấp cho xã hội nhiều lớp thế hệ trẻ, thông minh, sáng tạo, trung thành, dũng cảm, giầu lòng nhân ái, sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc, vì dân tộc, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, góp phần chiến đấu và xây dựng tổ quốc phát triển như hôm nay…
Tuy nhiên cùng với sự đổi mới và phát triển đất nước nói chung, trước nhất
là sự vận hành nền kinh tế thị trường, cùng với sự mở rộng hội nhập, gắn liền với
sự phát triển của khoa học công nghệ, sự phát triển của xã hội, hệ thống giáo dục của thành phố Đà Nẵng nói chung và cấp học phổ thông nói riêng đang hết sức lúng túng trong sự chuyển đổi để thích nghi với hoàn cảnh lịch sử mới của dân tộc
và thời đại
Bởi vậy giờ đây, chúng ta cần xem xét, chủ động, tích cực đổi mới một cách toàn diện trong tổ chức và quản lý phát triển giáo dục phổ thông Hơn bao giờ hết, chỉ có nâng cao chất lượng giáo phổ thông, chúng ta mới tạo ra được tiền đề cho nâng cao chất lượng giáo dục dậy nghề và đại học và quan trọng hơn là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, cũng như thành phố Đà Nẵng…
1.4 Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực hiện chính sách giáo dục phổ thông
1.4.1 Yêu cầu thực hiện mục tiêu
Mục tiêu chính sách GDPT phải được thực hiện cụ thể, rõ ràng, chính xác Đây là yêu cầu quan trọng đầu tiên để thu hút mọi hoạt động thực thi chính sách GDPT theo một định hướng Thực thi chính sách GDPT là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng chính sách nhằm đạt những mục tiêu trực tiếp Ứng với mỗi mục tiêu trực tiếp này là những chương trình, dự
án cụ thể Kết quả thực thi chính sách GDPT theo quá trình hoạt động trong từng thời kỳ được lượng hóa bằng những thước đo cụ thể Tổng hợp kết quả thực hiện mục tiêu của các chương trình, dự án và các hoạt động thực thi khác thành mục
Trang 26tiêu chung của chính sách GDPT Theo nguyên lý vận động nó, muốn thực hiện thành công các chính sách, Nhà nước phải xác định mục tiêu của từng chính sách thật cụ thể, rõ ràng và chuẩn xác
1.4.2 Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống
Tổ chức thực thi chính sách GDPT là một bộ phận cấu thành trong quy trình chính sách Nó kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong quy trình tạo nên một
hệ thống thống nhất Ngay quá trình tổ chức thực thi cũng bao gồm nhiều bước hợp thành một hệ thống, vì thế khi tiến hành tổ chức thực thi chính sách GDPT cần thiết phải bảo đảm tính hệ thống trong mỗi quá trình Nội dung của tính hệ thống bao gồm: Hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách; Hệ thống trong tổ chức bộ máy thực thi chính sách; Hệ thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; Hệ thống trong sử dụng công cụ chính sách với các công cụ quản lý khác
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta thực hiện một cách máy móc lộ trình và phương thức thực thi chính sách của Nhà nước Tùy theo điều kiện cụ thể mà tiến hành thực hiện các bước cho hợp lý Chẳng hạn, việc vận động thực thi chính sách GDPT không nhất thiết chỉ có các cơ quan quản lý nhà nước, mà còn có nhiều tổ chức chính trị, chính trị - xã hội khác cùng tham gia mới đạt kết quả tốt
1.4.3 Yêu cầu các cơ quan nhà nước phải đảm bảo tính khoa học, hợp lý và pháp lý trong tổ chức thực thi chính sách GDPT
Yêu cầu này đòi hỏi hệ thống bộ máy quản lý nhà nước phải gọn nhẹ, đủ năng
lực tổ chức thực hiện chính sách theo quy trình khoa học Tính khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực thi chính sách GDPT là việc phối hợp nhịp nhàng giữa
cơ quan quản lý chính sách, nhất là Sở GD-ĐT thành phố, phòng GD-ĐT quận và các trường Tiểu học, THCS, THPT… việc thu hút các nguồn lực hướng mạnh vào thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả một chính sách… Quy trình thực thi chính sách lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khi nó được triển khai vào đời sống xã hội Bởi vậy tính khoa học của quá trình tổ chức thực thi chính sách phải thể hiện được sức sống để tồn tại trong thực tế như: mục tiêu cụ thể của chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển của thành phố Đà Nẵng trong từng thời kỳ; các biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách
Trang 27phải tương ứng với trình độ nhận thức và tài nguyên của vùng, miền, địa phương… Như vậy, không thể thực hiện các bước theo quy trình khoa học một cách máy móc Tùy vào tình hình thực tế mà lựa chọn cách thức tổ chức thực thi chính sách cho phù hợp Tuy vậy, quá trình vận dụng vẫn phải tuân theo các nguyên tắc pháp lý để đảm bảo tính tập trung, thống nhất trong chấp hành chính sách GDPT Tính pháp lý được thể hiện trong tổ chức thực thi chính sách GDPT là việc chấp hành các chế định về thực thi chính sách như: trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân được giao thực thi chính sách, thủ tục giải quyết các mối quan hệ trong thực thi chính sách, cưỡng chế thực hiện chính sách trong những trường hợp cần thiết
1.4.4 Yêu cầu đảm bảo lợi ích thật sự cho các đối tượng thụ hưởng
Trong xã hội có nhiều nhóm lợi ích, các nhóm lợi ích lại biến động theo không gian và thời gian Tùy theo tính chất của mỗi chế độ xã hội, mà các nhóm lợi ích sẽ thụ hưởng khác nhau Nhà nước thường ra tay bảo vệ và chuyển lợi ích đến các đối tượng thụ hưởng trong xã hội bằng chính sách Để công cụ này phát huy tác dụng, cần phải có sự hưởng ứng thực hiện một cách tự giác trên cơ sở lòng tin của dân chúng vào chính sách của Nhà nước Kết quả trên có được chỉ khi chính sách thật sự mang lại lợi ích cho mỗi đối tượng thực hiện và toàn xã hội
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực thi chính sách giáo dục phổ thông
Quá trình tổ chức thi thi chính sách GDPT diễn ra trong thời gian dài và có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế kết quả tổ chức thực thi chính sách cũng
sẽ chịu ảnh hưởng của một loạt yếu tố chủ quan và khách quan Mục đích của việc phân loại các yếu tố ảnh hưởng là thúc đẩy những yếu tố tác dụng tích cực, ngăn chặn hay hạn chế các yếu tố tác động tiêu cực đến việc tổ chức thực thi chính sách GDPT Đồng thời có thể tạo lập môi trường thuận lợi cho các yếu tố vận động phù hợp với yêu cầu định hướng
1.5.1 Yếu tố khách quan
Yếu tố khách quan là những yếu tố xuất hiện và tác động đến tổ chức thực thi chính sách GDPT từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của QLNN của Sở GD&ĐT Các yếu tố này tồn tại và vận động theo quy luật khách quan, ít tạo ra những biến
Trang 28đổi bất thường, do đó ít gây được sự chú ý của các nhà quản lý giáo dục Nhưng tác động của chúng đến tổ chức thực thi chính sách GDPT lại rất lớn, vì cơ chế tác động giữa chúng với các vấn đề chính sách GDPT được hình thành trên cơ sở của quy luật Những yếu tố khách quan chủ yếu là:
Tính chất của vấn đề chính sách: là yếu tố gắn liền với mỗi vấn đề chính sách
GDPT, có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề
Nếu vấn đề chính sách GDPT là đơn giản, liên quan đến ít đối tượng chính sách
thì công tác tổ chức thực thi chính sách giáo dục sẽ thuận lợi hơn Ví dụ: Chính sách
xóa mù chữ và phổ cập tiểu học đối với thành phố, đồng bằng đơn giản hơn đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Nếu vấn đề chính sách GDPT là phức tạp, có quan hệ lợi ích với nhiều đối tượng xã hội thì việc triển khai thực thi khó khăn hơn Ví dụ: Chính sách xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia (chuẩn về đất đai, trình độ đội ngũ giảng viên, tuổi học sinh đến trường…)
Tính chất cấp bách của vấn đề chính sách GDPT cũng tác động lớn đến kết quả tổ chức thực thi chính sách GDPT Nếu là vấn đề bức xúc cần phải giải quyết ngay mới giúp cho đối tượng phát triển theo mục tiêu định hướng thì sẽ được Nhà nước và xã hội ưu tiên các nguồn lực cho thực hiện Ví dụ: Chính sách dạy thêm học thêm
Môi trường thực thi chính sách GDPT: là yếu tố liên quan đến các hoạt động
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và quốc tế… Các hoạt động này diễn ra theo quy luật trong những điều kiện cụ thể, nên nó độc lập với quá trình thực thi chính sách Theo nghĩa rộng, môi trường thực thi chính sách GDPT chứa đựng toàn bộ các thành phần vật chất phi vật chất tham gia thực thi chính sách GDPT như các nhóm lợi ích có được từ chính sách trong xã hội; các điều kiện vật chất kỹ thuật của nền kinh tế; bầu không khí chính trị; xã hội trật tự; quan hệ quốc tế rộng mở… Một xã hội ổn định, ít biến động về chính trị sẽ đem đến sự ổn định về hệ thống chính sách, cũng góp phần thuận lợi cho thực thi chính sách GDPT
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách: thể hiện sự thống nhất
Trang 29hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách GDPT Ở xã hội tư bản, lợi ích của giai cấp công nhân và các nhà tư sản là đối kháng, nên những chính sách giáo dục dành cho người lao động thường ít được quan tâm và khó thực hiện hơn các chính sách giáo dục bảo vệ lợi ích của giai cấp
tư bản Không chỉ do mâu thuẫn lợi ích giữa các đối tượng chính sách giáo dục làm ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện, mà còn do sự không đồng nhất về những tiện ích giữa các cơ quan chỉ đạo điều hành thực thi chính sách giáo dục Ví dụ: như
cơ quan quản lý ngành nông nghiệp ủng hộ thực thi chính sách xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học nhằm nâng cao trình độ dân trí cho nông dân tạo điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp, nhưng cơ quan tài chính tỏ ra không đồng tình vì phải chi phí cho chính sách này nhiều, bởi như vậy sẽ ảnh hưởng đến kết quả chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học của UBND thành phố
Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách giáo dục: được hiểu là thực lực
và tiềm năng mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của nhóm lợi ích được thể hiện trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội… về cả quy mô và trình độ Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì nhóm đối tượng thuộc kinh tế Nhà nước có tiềm lực lớn nhất, nên những chính sách bảo vệ lợi ích cho nhóm đối tượng này thường được tiến hành có hiệu quả hơn Trong thực thi chính sách giáo dục, các trường tiểu học, trung học cơ sở (THCS) tư thục có những điều kiện tài chính, cơ sở vật chất, đội ngũ khác nhau và khác với cả các trường công lập trên địa bàn do đó việc thực thi chính sách giáo dục cũng có những điểm khác biệt
Đặc tính của đối tượng chính sách: là những tính chất đặc trưng mà các đối
tượng có được từ bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên qua quá trình vận động mang tính lịch sự Những đặc tính này thường có liên quan đến tính tự giác, tính kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống… Đặc tính gắn liền với mỗi đối tượng thực thi chính sách nên các chủ thể tổ chức điều hành cần biết cách khơi gợi hay kiềm chế nó để có được kết quả tốt nhất cho quá trình tổ chức thực thi chính sách Thực tế ở nước ta cho thấy việc thực hiện chính sách GDPT luôn được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ do phần lớn được tác
Trang 30động bởi truyền thống hiếu học của dân tộc Tuy nhiên, ở cấp thành phố có thể có những xã, khu vực do nhận thức của người dân chưa cao, một số phong tục tập quán lạc hậu làm ảnh hưởng đến việc thực hiện một số chính sách giáo dục
1.5.2 Yếu tố chủ quan
Yếu tố chủ quan là những yếu tố thuộc về cơ quan công quyền, do cán bộ, công chức, giáo viên chủ động chi phối đến quá trình thực thi chính sách GDPT Một số yếu tố chủ quan có ảnh hưởng lớn đến quá trình tổ chức thực thi chính sách
Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chính sách
Quy trình thực thi chính sách giáo dục được coi là những nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống Việc tuân thủ quy trình cũng là một nguyên tắc hành động của các nhà quản lý Mỗi bước trong quy trình đều có vị trí, ý nghĩa to lớn đối với các quá trình thực thi chính sách Chẳng hạn như tuyên truyền vận động về chính sách và thực thi chính sách Trước khi thực thi, chính sách được phổ biến rộng rãi đến mọi đối tượng CBQL nhà trường, giáo viên, học sinh và toàn dân để họ nhận thức được đầy đủ ý nghĩa và mục tiêu của chính sách giáo dục Kết hợp các hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách với vận động thực thi sẽ giúp cho các đối tượng chính sách nêu cao tinh thần tự nguyện, tự giác trong thực hiện chính sách Như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tổ chức thực thi chính sách GDPT
Năng lực thực thi chính sách của cán bộ- công chức trong bộ máy QLNN Đây
là yếu tố chủ quan có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách Năng lực thực thi của cán bộ, công chức, giáo viên là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức công vụ, về năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong tương lai Các cán bộ công chức trong cơ quan Sở GD&ĐT, lãnh đạo nhà trường, đội ngũ giáo viên khi được giao nhiệm vụ tổ chức thực thi chính sách, cần nêu cao tinh thần trách nhiệm và chấp hành tốt kỷ luật công vụ trong lĩnh vực này mới đạt hiệu quả thực thi Nếu thiếu năng lực thực tế, Sở GD&ĐT sẽ đưa ra những kế hoạch dự kiến không sát thực tế, làm lãng phí nguồn lực huy động, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách giáo dục, thậm chí còn làm biến dạng chính sách GDPT trong quá
Trang 31trình thực thi… Năng lực thực tế và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, giáo viên còn thể hiện ở thủ tục giải quyết những vấn đề trong quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước với cá nhân và tổ chức và trong xã hội Nhìn chung cán bộ, công chức, giáo viên có năng lực thực thi chính sách GDPT tốt không những chủ động điều phối được các yếu tố chủ quan tác động theo định hướng, mà còn khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố khách quan để công tác tổ chức thực thi chính sách GDPT mang lại kết quả thực sự
Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực thi chính sách Đây là yếu tố ngày
càng có vị trí quan trọng để cùng nhân sự và các yếu tố khác thực hiện thắng lợi chính sách GDPT của nhà nước Để quản lý mọi mặt hoạt động trong điều phát triển hiện nay, Sở GD&ĐT luôn phải tăng cường các nguồn lực vật chất và nhân sự, trong
đó nguồn lực vật chất tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Việc đầu tư trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện hiện đại để hỗ trợ các quá trình quản lý của Sở GD&ĐT hiện đã trở thành một nguyên lý phát triển Nếu điều kiện vật chất đáp ứng được yêu cầu sẽ giúp cho tính khả thi của công tác tổ chức thực thi chính sách GDPT luôn được tăng cường Chẳng hạn, chỉ cần thiếu các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách GDPT thì các cơ quan Nhà nước khó có thể chuyển tải nội dung chính sách GDPT đến với đối tượng một cách thường xuyên
Sự đồng tình ủng hộ của dân chúng Là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng,
quyết định sự thành bại của một chính sách GDPT Việc thực hiện mục tiêu chính sách GDPT không thể chỉ do các cơ quan Sở GD&ĐT, các nhà trường mà phải có
sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Trên thực tế, Sở GD&ĐT chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành công tác tổ chức thực thi chính sách GDPT, còn các tầng lớp nhân dân là những đối tượng thực hiện chính sách Như vậy, nhân dân vừa
là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách GDPT, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích mang lại từ chính sách GDPT Nếu một chính sách GDPT đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và biện pháp thừa hành thì nó
sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ thực hiện Còn một chính sách GDPT không thiết thực với đời sống nhân dân, không phù hợp với điều kiện và trình độ hiện có của dân thì sẽ bị tẩy chay hoặc bỏ rơi không thực hiện
Trang 321.6 Phương pháp thực hiện chính sách giáo dục phổ thông
1.6.1 Phương pháp kinh tế
Các chính sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo: Về ngân sách cho giáo dục được quy định cụ thể trong chương VII Luật giáo dục 2005 Công tác phát triển sự nghiệp giáo dục của Đà Nẵng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Đảng bộ và chính quyền thành phố qua các thời kỳ, thành phố Đà Nẵng đã thực hiện tăng chi cho cho các chương trình mục tiêu của ngành giáo dục như: đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và thay sách giáo khoa theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT, hỗ trợ giáo dục miền núi và dân tộc, thực hiện các chính sách miển, giảm học phí và cấp học bổng cho các nhóm yếu thế; hỗ trợ học tập cho tất cả học sinh là con hộ nghèo thuộc xã 135, quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học, bảo đảm cơ sở
vật chất dạy và học, đủ trường học cho huyện vùng ven, bồi dưỡng giáo viên, đào
tào nguồn nhân lực công nghệ thong tin và đưa công nghệ thông tin vào nhà trường… Ngoài ra, còn thực hiện các biện pháp kiểm soát và tăng dần hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư cho giáo dục Bên cạnh việc tăng ngân sách đầu tư cho giáo dục, Nhà nước đã thực hiện việc huy động nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục thông qua chủ trương xã hội hóa
1.6.2 Phương pháp giáo dục thuyết phục
Trong thời đại thông tin, truyền thông phát triển rộng rãi và bao quát khắp nơi như hiện nay thì vấn đề giáo dục - thuyết phục ý thức, tư tưởng là một vấn đề rất quan trọng, được xem là phương pháp chủ đạo trong giai đoạn hiện nay, được triển khai ở tất cả các hoạt động thực hiện chính sách giáo dục phổ thông, từ khâu hình thành cơ chế, chính sách, ban hành luật pháp đến tổ chức triển khai thi hành
và kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm Song song với việc giáo dục ý thức chính trị, chính sách, pháp luật thì công việc giáo dục đạo đức cũng cần phải được coi là giáo dục có tính nền tảng vô cùng quan trọng và phải tiến hành thường xuyên, liên tục
Nhận thức được vai trò của công tác giáo dục thuyết phục thành phố đã triển khai nhiều hoạt động tác động đến nhận thức của đối tượng quản lý, được tiến
hành một cách thường xuyên, liên tục, kiên trì, được tiến hành bằng nhiều hình
Trang 33thức với các phương tiện đa dạng, phong phú, sinh động làm thay đổi nhận thức về
vai trò của việc thực hiện chính sách giáo dục đào tạo nói chung, trong đó có chính sách GDPT trong hệ thống các cơ quan làm công tác quản lý giáo dục cũng như người dân, nhận thức được việc đầu tư cho giáo dục là nguồn đầu tư cho phát triển theo quan điểm của Đảng và Nhà nước đã khẳng định: “Giáo dục – đào tạo cùng với khoa học và công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu”, phát triển giáo dục là quốc sách hang đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, cũng như thực hiện tốt các chủ trương khác trong việc thực hiện chính sách GDPT như chủ trương xã hội hóa giáo dục, đổi mới công tác quản lý giáo dục…
1.6.3 Phương pháp hành chính
Là phương thức tác động tới cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý bằng cách quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh dựa trên quyền lực nhà nước và phục tùng; rất cần thiết trong hoạt động quản lý bởi vì cơ quan quản
lý hành chính nhà nước nào cũng phải dùng quyền lực nhà nước để quản lý và được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật và đặc biệt là phương pháp hành chính cần phải kết hợp với phương pháp kinh tế Như việc thành phố đã liên tục có các chính sách và cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu
tư, tài trợ cho giáo dục Bởi vậy, tin tưởng vào chủ trương quy hoạch của thành phố, nhiều tổ chức, cá nhân cũng đã dành hàng trăm tỉ đồng để đầu tư xây dựng trường như: Trường Mầm non Tư thục Đức Trí, Trường Mầm non Tư thục Hồng Nhung, Hệ thống giáo dục Sky-line, Trường Tiểu học, THCS và THPT Singapore, Trường THCS và THPT Hiển Nhân… đã góp phần không nhỏ để nâng cao chất lượng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương Ông Nguyễn Hoàng Long, Nguyên Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cho rằng cơ sở vật chất trường lớp là yếu tố quan trọng quyết định trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Việc thực hiện đề án quy hoạch mạng lưới trường, lớp ngành học mầm non
và phổ thông đã giúp ngành giáo dục Đà Nẵng rút ngắn được thời gian, thủ tục xây dựng cơ sở vật chất trường học Về mặt kinh tế, đầu tư tập trung xây dựng cơ
sở vật chất trường học trong một thời gian ngắn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, tác
Trang 34động đồng bộ hơn nhiều so với đầu tư kéo dài nhiều năm
1.6.4 Phương pháp kết hợp
Được áp dụng dựa trên những hoàn cảnh xã hội cụ thể, đan xen với nhau, trong các phương pháp này, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay thì phương pháp giáo dục thuyết phục được đặt lên hàng đầu, phải làm thường xuyên, liên tục và nghiêm túc; phương pháp kinh tế là biện pháp cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý nhà nước; phương pháp hành chính là rất cần thiết và khẩn trương, nhưng phải được sử dụng một cách đúng đắn
Kết luận Chương 1
Chương 1, luận văn đã trình bày những khái niệm về chính sách GD-ĐT, tổ chức thực thi chính sách GDPT Đặc biệt, luận văn đi vào nội dung trọng tâm là việc tổ chức thực hiện chính sách GDPT ở địa bàn thành phố Đà Nẵng Cụ thể, luận văn đã trình bày quy trình chính sách công Từ đó đi sâu phân tích nội dung tổ chức thực hiện chính sách GDPT ở cấp thành phố với chủ thể tổ chức thực thi chính sách giáo dục là Sở GD&ĐT Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề nội dung tổ chức thực thi chính sách GDPT, luận văn cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực thi chính sách GDPT ở cấp tỉnh, thành phố ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Nội dung Chương 1 là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực trạng tổ chức thực thi chính sách GDPT ở thành phố Đà Nẵng trong chương 2
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC
PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Khái quát về kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng được xác định là một trong những trung tâm kinh tế với tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức cao và khá ổn định Với những ưu đãi thiên nhiên ban tặng và nỗ lực không ngừng của chính quyền thành phố trong việc nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch, Đà Nẵng đã và đang trở thành 1 trong những điểm hẹn du lịch hấp dẫn nhất trong khu vực
Cơ cấu kinh tế (2011): Dịch vụ 52,98% – Công nghiệp và Xây dựng 43,84% – Nông nghiệp 3,18, mục tiêu đến năm 2020 là: Dịch vụ 55,6% - Công nghiệp và Xây dựng 42,8% – Nông nghiệp 1,6% (Nguồn: Niên giám Thống kê Đà Nẵng 2011) Cảng Tiên Sa là cảng thương mại lớn thứ ba của Việt Nam sau cảng Sài Gòn
và cảng Hải Phòng Năng lực bốc dỡ hàng hoá 4 triệu tấn/năm, có thể tiếp nhận các loại tàu hàng có trọng tải 45.000DWT và các tàu chuyên dùng khác như tàu container, tàu khách, tàu hàng siêu trường siêu trọng Từ cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) hiện có các tuyến tàu biển quốc tế đi Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản, Đài Loan
và Hàn Quốc
Sân bay Đà Nẵng được tổ chức hàng không quốc tế xác định là điểm trung chuyển của đường bay Đông- Tây Công suất phục vụ 6 triệu lượt khách/năm Tổng Công ty hàng không Cảng hàng không miền Trung đã có kế hoạch nghiên cứu mở rộng nhà ga để đạt mức 10 triệu hành khách mỗi năm vào năm 2020
Hệ thống đường giao thông không ngừng được mở rộng, với nhiều công trình lớn trên địa bàn thành phố như đường Nguyễn Tất Thành, đường Ngô Quyền, đường Hoàng Sa, đường Trường Sa, cầu Sông Hàn, cầu Tuyên Sơn, cầu Thuận Phước… Hệ thống giao thông kết nối với các tỉnh, thành bên ngoài có hầm đường bộ Hải Vân, Quốc lộ 14B, Quốc lộ 1A và sắp tới là đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi tạo điều kiện thuận lợi về giao thông và phát triển du lịch và làm thay đổi cơ bản diện mạo của một đô thị thuộc loại sầm uất nhất ở miền Trung, Việt Nam
Trang 36Hệ thống bưu chính - viễn thông: Đà Nẵng là một trong ba trung tâm bưu chính, viễn thông lớn của Việt Nam; là một trong ba điểm kết nối cuối cùng quan trọng nhất của mạng trung kế đường trục quốc gia và điểm kết nối trực tiếp với Trạm cáp quang biển quốc tế SEA-ME-WE 3 với tổng dụng lượng 10Gbps kết nối Việt Nam với gần 40 nước ở Châu Á và Châu Âu Mạng lưới viễn thông trên địa bàn hiện này gồm 2 tổng đài chính và 12 tổng đài vệ tinh với dụng lượng hơn 40.000 số Hệ thống kết nối mạng không dây (wifi) đang được triển khai xây dựng
dự kiến cuối tháng 6/2013 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động với 250 điểm kết nối
và người dân có thể sử dụng nhiều dịch vụ tiện ích thông qua hệ thống này
Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2015 của Viện Hàn lâm Khoa học
Xã hội Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) công bố 2015 xem xét tiến bộ phát triển con người trên toàn quốc Báo cáo cho thấy, các tỉnh đều
có tiến bộ tích cực nhưng không đồng đều, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng có mức phát triển con người cao tương tự như Ba Lan hoặc Croatia Chi ngân sách nhà nước cho hoạt động giáo dục và đào tạo tăng dần qua các năm: 2011 (6.11%), 2012 (6.81%), 2013 (7.82%), 2014 (10.76%) Điều đó tác động tích cực đến việc thực hiện chính sách GDPT ở thành phố Đà Nẵng để “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, phục vụ phát triển KT- XH của địa phương theo Nghị quyết số 33-
NQ/TW về “Xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước” Nghị quyết chỉ rõ định hướng phát triển thành phố Đà
Nẵng: “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước; là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miềm Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính - viễn thông, tài chính - ngân hàng; một trong những trung tâm văn hóa thể thao, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiếm lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miềm Trung và cả nước”
2.2 Tình hình thực hiện chính sách giáo dục phổ thông thành phố Đà Nẵng
GDPT là ngành học nền tảng cơ bản của giáo dục, có vị trí đặc biệt quan trọng
Trang 37trong việc giáo dục và hình thành nhân cách công dân cho thế hệ trẻ và nâng cao mặt bằng dân trí “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục
thường xuyên, GDPT có giáo dục tiểu học, giáo dục THCS và giáo dục THPT” [21,
tr.1-2] “Cơ sở GDPT bao gồm: 1 Trường tiểu học; 2 Trường trung học cơ sở; 3
Trường trung học phổ thông; 4 Trường phổ thông có nhiều cấp học; 5 Trung tâm
kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp” [21, tr.9] Mục tiêu của “chương trình GDPT
nhằm giúp học sinh phát triển khả năng vốn có của bản thân, hình thành tính cách
và thói quen; phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và các năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người
lao động cần cù, có tri thức và sáng tạo” [10, tr.8]
2.2.1 Một số nét về thực hiện chính sách giáo dục phổ thông thành phố Đà Nẵng
2.2.1.1 Tình hình thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Sở GD&ĐT đã phối hợp với Sở Nội vụ tham mưu UBND thành phố thành lập Ban Chỉ đạo đổi mới giáo dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng và ban hành Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo
Tham mưu UBND thành phố tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch số 9312/KH-UBND ngày 16/10/2014 của UBND thành phố về thực hiện Chương trình hành động số 35-CTr/TU ngày 25/01/2014 của Thành uỷ Đà Nẵng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Trên cơ sở Kế hoạch của UBND thành phố, Sở GD&ĐT đã ban hành Kế hoạch số 2294/KH-SGDĐT ngày 15/7/2015 về triển khai thực hiện Kế hoạch 9312/KH-UBND ngày 06/10/2014 của UBND thành phố thực hiện Chương trình hành động số 35-CTr/TU ngày 25/01/2014 của Thành uỷ Đà Nẵng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Trong đó, Sở đã cụ thể hoá các giải pháp về thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ UBND giao cũng như chỉ đạo các đơn vị, trường học căn cứ tình hình của đơn vị để xây dựng kế hoạch thực hiện
Tổ chức tuyên truyền, quán triệt văn bản của các cấp về đổi mới căn bản, toàn
Trang 38diện giáo dục và đào tạo; trong đó, Sở đã ban hành Kế hoạch số 2567/KH-SGĐT ngày 26/7/2016 về việc tiếp tục tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết số 29-NQ/TW của Trung ương, Nghị quyết số 44/NQ-CP của Chính phủ, Kế hoạch hành động của ngành Giáo dục và Chương trình hành động số 35-CTr/TU của Thành ủy Đà Nẵng
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Lồng ghép việc kiểm tra, đánh giá về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tại các đơn vị, trường học trong công tác kiểm tra thi đua, khen thưởng năm học
2.2.1.2 Quy mô mạng lưới trường lớp
Trong những năm học 2010- 2015, mạng lưới trường, lớp từ bậc học tiểu học đến THPT trên địa bàn thành phố không ngừng được mở rộng và từng bước quy hoạch phù hợp, sắp xếp hợp lý theo hướng đa dạng hóa và xã hội hóa, phù hợp với khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân trên địa bàn theo Đề án quy hoạch ngành giáo dục và đào tạo đến năm 2020, đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị và nhu cầu học tập của mọi người dân, mọi lứa tuổi trên địa bàn Các trường được phân bố ở tất cả các địa bàn phường, xã của thành phố, phù hợp với đơn vị hành chính, tạo điều kiện cho việc học tập của con em nhân dân, chủ yếu là trường công lập Công tác xây dựng phòng học bộ môn, thư viện và trường học đạt chuẩn quốc gia, xây dựng các công trình phục vụ học 2 buổi/ngày ở học sinh tiểu học được chú trọng Đến năm học 2015 - 2016, toàn thành phố bậc GDPT có 185 trường học; trong đó, có 100 trường tiểu học, với 2.307 lớp, 83.945 học sinh; 59 trường THCS, với 1.443 lớp, 53.826 học sinh; 26 trường THPT, với 818 lớp, 30.070 học sinh; 08 Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Giáo dục thường xuyên, kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và dạy nghề
2.2.1.3 Giáo dục Tiểu học
Các trường thực hiện nghiêm túc chương trình GDPT và đánh giá chất lượng học sinh theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về Quy định đánh giá học sinh tiểu học, Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT, ngày 22/09/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT; chỉ đạo dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học; đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 39(CNTT) hiệu quả trong dạy học nâng cao chất lượng giáo dục Tiếp tục triển khai nhân rộng mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) cho 130 lớp/4601 học sinh tại 19 trường tiểu học; triển khai, thực hiện vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong các môn Tự nhiên - Xã hội, Khoa học; triển khai dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới của Đan Mạch tại 100% các trường tiểu học
Năm học 2015- 2016 có 100 trường tiểu học, với 2.307 lớp học, tổng số học sinh là 83.945 em; tỷ lệ huy động trẻ em đi học lớp 1 đúng độ tuổi đạt 100%; có 100% các trường tiểu học thực hiện dạy học 2 buổi/ngày; trong đó, tỷ lệ trường có 100% học sinh học 2 buổi/ngày là 81,3%, tỷ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày là 87,97% Hầu hết trẻ khuyết tật và trẻ có hoàn cảnh khó khăn đã được đến trường theo hình thức hoà nhập Không có hiện tượng học sinh bỏ học Chất lượng giáo dục 2 mặt có 99,56% học sinh hoàn thành chương trình, 0,44% học sinh chưa hoàn thành Giữ vững chất lượng phổ cập giáo tiểu học đúng độ tuổi tại 56/56 xã, phường trên toàn thành phố
Chất lượng học tập đều ở các môn học, ổn định chất lượng từng khối lớp Sự đánh giá theo tiêu chí mới của Bộ GD&ĐT kết quả có sự tiến bộ, học sinh tiểu học ngoan, lễ phép, tiếp thu tốt chương trình tiểu học mới Bên cạnh chất lượng đại trà, chất lượng học sinh giỏi thông qua các cuộc thi cấp thành phố, khu vực cũng có những chuyển biến tích cực như: Ngày 2/12/2015, tại ngày hội Robothon quốc tế 2015, thành phố Đà Nẵng có 17 đội tham dự và xuất sắc giành 7 giải thưởng Trong đó, đội Trường tiểu học Hoa Lư đoạt giải vô địch; đội Trường tiểu học Núi Thành đoạt giải nhì; 5 giải thưởng nỗ lực, tiềm năng được trao cho các trường Trần Cao Vân, Trần Văn Ơn, Huỳnh Ngọc Huệ và Lê Lai
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế như: vẫn còn một
số ít trường có tỷ lệ xếp loại giáo dục học sinh giỏi thấp so với mặt bằng chung của thành phố; một số tổ chức, cá nhân còn vi phạm các quy định về dạy thêm…
2.2.1.4 Giáo dục trung học cơ sở:
Triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Trong đó, tập trung chỉ đạo các đơn vị, trường học thực hiện biên soạn lại phân phối chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, tiếp tục triển khai thực hiện dạy học
Trang 40theo chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học, khuyến khích học sinh tham gia vào các cuộc thi do Bộ GD-ĐT tổ chức Nhờ vậy, chất lượng giáo dục được giữ vững, kết quả rèn luyện và học tập của học sinh đã được nâng cao; công tác bồi dưỡng học sinh giỏi năm học này đã có thay đổi về cách chỉ đạo, từ đó chất lượng các kỳ thi học sinh giỏi
đã được nâng lên rõ rệt
Triển khai nhân rộng mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) cho học sinh
lớp 6 tại Trường THCS Ông Ích Đường, Hòa Vang Việc dạy tích hợp 2 cuốn tài liệu về Lịch sử Đà Nẵng được giáo viên, học sinh và các nhà khoa học đánh giá cao Tiếp tục triển khai có hiệu quả việc dạy học ngoại ngữ theo Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong các cấp học của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2012- 2020”, năm học 2015- 2016, triển khai dạy đại trà cho 100% học sinh lớp 6 học chương trình tiếng Anh 10 năm Triển khai có hiệu quả hoạt động hướng nghiệp nghề phổ thông; thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; triển khai kịp thời nguồn học liệu mở, ứng dụng CNTT trong giảng dạy Phối hợp với UBND các quận, huyện kịp thời đầu tư cơ sở vật chất và tổ chức phong trào dạy bơi trong dịp
hè 2016 được đông đảo học sinh tham gia, phụ huynh hưởng ứng
Cấp THCS, năm học 2015- 2016, có 59 trường (trong đó, 25 trường THCS được công nhận đạt chuẩn quốc gia), với 1.443 lớp, tổng số học sinh là 53.826 em Các trường THCS huy động học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 đạt 100% Duy trì kết quả phổ cập giáo dục THCS tại 56/56 xã, phường, trong đó có 55/56 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập bậc trung học
Bảng 2.1 Kết quả cụ thể của bậc THCS trong 2 năm học 2010 và 2015
Nguồn: Sở Giáo dục – Đào tạo thành phố Đà Nẵng
Hạn chế: Tỷ lệ học sinh yếu kém một số ít trường vẫn còn cao so với mặt bằng chung, học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia chưa cao, số học sinh đạt giải quốc