1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ thực tiễn huyện đại từ, tỉnh thái nguyên (tt)

26 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 525,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình thực hiện và nghiên cứu về chính sách bảo tồn, phát huy giá trịcác di tích lịch sử - văn hóa ở Việt Nam Nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa, giá trị của di sản văn h

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Võ Khánh Vinh

Phản biện 1:PGS.TS TRẦN THỊ AN

Phản biện 2: PGS.TS TỪ THỊ LOAN

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc

sĩ họp tại: Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam… giờ… ngày… tháng… năm: 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước sang thế kỷ XXI, xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới là bằng mọi cách khơi dậy sức sống mãnh liệt của dân tộc để hội nhập quốc tế và phát triển hợp lý, phù hợp với xã hội hiện đại Để làm được điều đó, nhiều nước đã tìm về di sản văn hoá (DSVH), bởi DSVH chính là một trong những cội nguồn sức sống tiềm tàng to lớn của dân tộc được tạo ra trong quá khứ, cần phải được bảo vệ, duy trì

và phát huy trong xã hội hiện đại Văn hoá là tiềm lực tinh thần to lớn của mỗi dân tộc, thể hiện ra ở những giá trị hàm chứa trong vốn DSVH dân tộc được tích lũytheo thời gian lịch sử

Xuất phát từ quan điểm đường lối của Đảng, từ thực tiễn

huyện Đại Từviệc thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa từ thực tiễn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” là một hoạt động có ý nghĩa

thực tiễn sâu sắc và ý nghĩa thời sự cấp bách đối với huyện Đại Từ nói riêng, đối với tỉnh Thái Nguyên và cả nước nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình thực hiện và nghiên cứu về chính sách bảo tồn, phát huy giá trịcác di tích lịch sử - văn hóa ở Việt Nam

Nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa, giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng ngày càng được nâng cao Bảo vệ di tích, phát huy giá trị của di tích phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đấu tranh chống vi phạm đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân Hàng ngàn di tích được xếp hạng và tu bổ trong mấy chục năm qua đã thể hiện những nỗ lực to lớn của toàn xã hội

Trang 4

chăm lo và bảo vệ di tích.Về cơ bản hệ thống di tích của đất nước đã được bảo vệ, chăm sóc và tu bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài Tuy nhiên, do trải qua hàng chục năm chiến tranh, chúng ta chưa có nhiều điều kiện chăm lo, bảo vệ di tích nên đến nay, mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn còn nhiều di tích bị vị phạm chưa được giải tỏa Phần lớn các

vi phạm này đã diễn ra từ nhiều chục năm nay, nên việc giải quyết cần

có quyết tâm và sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp

Trong những năm qua, nhiều di tích đã được phát huy giá trị một cách tích cực dưới các mức độ khác nhau Các chương trình festival ở di tích Cố đô Huế, Đêm rằm Phố cổ Hội An, Hành trình du lịch về nguồn (các di tích cách mạng ở miền Bắc, miền Trung) đã thu hút thêm nhiều khách tham quan và dần trở thành những ngày hội văn hóa lớn của cả nước

Các di tích lớn, nhất là đối với các di tích sau khi được ghi vào danh mục di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đều trở thành những địa điểm du lịch hấp dẫn, thu hút một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước Điều đó đưa đến kết quả nguồn thu từ bán vé tham quan tại di tích và những sản phẩm dịch vụ khác không ngừng tăng lên, tạo việc làm cho nhiều người lao động, góp phần biến đổi

cơ cấu kinh tế của địa phương

2.2 Tình hình thực hiện và nghiên cứu về chính sách bảo tồn, phát huy giá trịcác di tích lịch sử - văn hóa tại tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là tỉnh trung du – miền núi, nằm ở vùng đông Bắc Việt Nam Phía Bắc giáp Bắc Kạn; phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội; phía tây giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang.Tỉnh Thái Nguyên có dân số gần 1,3 triệu người; gồm 9 thành phần dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Sán Chay, Doa, sán Dìu, H mông, Hoa, Ngái chung sống từ lâu đời

Trang 5

Cũng như các tỉnh vùng Việt Bắc, Thái Nguyên là miền đất núi sông hùng vĩ, nhiều danh lam thắng cảnh, giàu truyền thống lịch

sử - cách mạng và một di sản văn hóa các dân tộc rất phong phú, đặc sắc Phía bắc tỉnh, trên địa bàn các huyện Định Hóa, Phú Lương là các dãy núi thuộc phần phía nam của các cánh cung đá vôi Sông Gâm

và Ngân Sơn Ở phí Đông tỉnh, trên địa bàn các huyện Võ Nhai và Đồng Hỷ là bạt ngàn các dãy núi đá thuộc vòng cung đá vôi Bắc Sơn Phía tây nam Thái Nguyên trên địa bàn các huyện Đại Từ, Phổ Yên

là dãy núi Tam Đảo sừng sững như một bức trường thành

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng lý luận chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa để xem xét thực tiễn thực hiện chính sách, thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tíchvà những bất cập trong thực trạng chính sách, ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, qua đó phát hiện những vấn đề chính sách và trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

- Nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sửvăn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

- Nghiên cứu và tìm ra những giải pháp nhằm tăng cường thực hiện tốt chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hoạt động triển khai thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên thông qua các hoạt động quản lý Nhà nước đối với các di tích của UBND huyện, đồng thời nghiên cứu hoạt động quản lý, bảo

vệ và khai thác phát huy giá trị các di tích (di tích cấp tỉnh và di tích quốc gia) của các Ban quản lý di tích và nhân dân địa phương trên địa bàn huyện

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ từ năm 2011 đến 2016

Sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử- văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và vận dụng triệt để phương pháp nghiên cứu chính sách công

Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện, đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn giúp hình thành lý luận chính sách chuyên ngành

Trang 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa suy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: so sánh, thống kê và điều tra xã hội học, phương pháp phân tích đánh giá chính sách để thực hiện mục đích

và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã đưa ra khái niệm, quan điểm chỉ đạo của Đảng

về việc xây dựng và thực thi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; mối quan hệ giữa chính quyền các cấp với nhân dân trong việc bảo vệ, quản lývà phát huy giá trị các di tích nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ trong khi ngày nay các giá trị lịch sử, giá trị đạo đức, giá trị văn hóa của nhân dân chưa thực sự được coi trọng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn phân tích làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân đạt được trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ

7 Cơ cấu của luận án

Luận văn văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 8

Chương 3 Tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch - sử văn hóa

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ -

VĂN HÓA 1.1.Khái quát về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

Di tích lịch sử - văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại

Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định

“Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”[24] Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa

Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc

Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó

Trang 9

có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại

Hệ thống di tích Việt Nam được phân thành 4 loại hình cơ bản là di tích lịch sử, di tích kiến trúc - nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh

Di tích lịch sử liên quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đóng góp, ảnh hưởng tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc Đến với di tích lịch sử, khách tham quan như được đọc cuốn sử ghi chép

về những con người, những sự kiện tiêu biểu, được cảm nhận một cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận không dễ có được khi chỉ đọc những tư liệu ghi chép của đời sau

Giá trị của di tích kiến trúc nghệ thuật thể hiện ở quy hoạch tổng thể và bố cục kiến trúc, ở sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc với cảnh quan, ở những bức chạm khắc trên kết cấu gỗ, ở vẻ đẹp thánh thiện của những pho tượng cổ, ở nét chạm tinh xảo của những đồ thờ tự

Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều di tích khảo

cổ Các di tích, di vật khảo cổ học là nguồn sử liệu quan trọng giúp việc biên soạn lịch sử trái đất và lịch sử dân tộc từ thời tiền/sơ sử tới các thời kỳ lịch sử sau này

Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản và chính sách nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

1.2.1 Khái niệm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

Chính sách văn hóa là một bộ phận của chính sách công, chính sách văn hóa cũng chỉ có thể ra đời khi có Nhà nước Tuy nhiên, cũng như chính sách công, thuật ngữ “chính sách văn hóa” ra

Trang 10

đời rất muộn, phải đến những năm nửa sau thế kỷ XX Năm 1967, trong Hội nghị bàn tròn, các chuyên gia văn hóa tại Monaco đã đưa

ra một quan niệm về chính sách văn hóa như sau:Chính sách văn hóa

là một tổng thể những thực hành xã hội hữu thức và có suy tính kỹ về những can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động văn hóa nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, bằng cách sử dụng tối

ưu tất cả những nguồn vật chất và nhân lực mà một xã hội nào đó sắp đặt vào một thời điểm thích hợp

Ngày 29 tháng 6 năm 2001, Quốc hội đã thông qua Luật di sản văn hóa Luật này đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 (ngày 18 tháng 6 năm 2009)

Luật di sản văn hóa xác định di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các

di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Tu bổ di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; Phục hồi di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử

- văn hoá, danh lam thắng cảnh đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh đó

Nói đến bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa,

có nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy” nhưng để làm rõ hơn khái niệm về bảo tồn và phát huy di tích lịch sử

- văn hóa (di sản), ta có thể hiểu như sau: Bảo tồn di sản (heritage preservation) được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó Phát huy di sản

Trang 11

(heritage promotion) có nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội

1.2.2 Đặc điểm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa

Về quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cũng có nhiều quan điểm khác nhau Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung 2 quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa

Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, theo Gregory J.Ashworth, thì được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX Quan điểm bảo tồn nguyện vẹn này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa

Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoài hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến di sản Có thể kể đến như Alfrey, Putnam, Ashworth

và P.J Larkham xem di sản như một ngành công nghiệp và cần phải

có cách thức quản lý di sản tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản

1.2.3 Vai trò của thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa

Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử - văn hóa nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tế đất nước, phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 12

1.3 Nội dung thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các

di tích lịch sử - văn hóa

Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận quan trọng cấu thành

di sản văn hóa, cho nên bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử

- văn hóa cũng cần được thực hiện theo qui trình và nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa

Di sản văn hoá tồn tại dưới dạng vật thể và phi vật thể Di sản văn hóa vật thể gồm di tích, di vật và môi trường cảnh quan xung quanh di tích đó

Căn cứ vào Luật di sản văn hóa, việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa theo những nội dung sau:

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị

di tích lịch sử - văn hóa

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử - văn hóa

- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị

di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản

Trang 13

khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích

1.4 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính bảo tồn và phát huy

giá trị các di tích lịch sử - văn hóa

Từ hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa từ thực tiễn cho thấy còn có một số các yếu tố tác động và gây khó khăn:

- Mặc dù nhận thức của các ngành, các cấp và của toàn xã hội

về vai trò, ý nghĩa của di tích và trách nhiệm của toàn xã hội đối với

di sản văn hóa đã được nâng cao nhưng chưa sâu sắc và toàn diện và cũng chưa được cụ thể hóa bằng các biện pháp, kế hoạch và chương trình cụ thể

- Chúng ta còn lúng túng trong việc xử lý một cách hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, chưa nhận thức thật sâu sắc vị trí, vai trò của di tích trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, cá biệt có nơi, có lúc vẫn tồn tại xu thế thương mại hóa di tích, đặt các mục tiêu, dự án phát triển kinh tế cao hơn các mục tiêu

về bảo vệ di tích, thậm chí có những dự án về phát triển kinh tế được triển khai tại khu vực có di tích nhưng dự án không hề đề xuất bất cứ biện pháp nào để bảo tồn di tích

Ngày đăng: 09/06/2017, 09:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm