Huyện Đại Từ là một huyện có nhiều điểm di tích lịch sử - văn hóa, việc thực hiện chính sách bảo tồn di sản của huyện đã được quan tâm triển khai thực hiện, tuy nhiên trong quá trình thự
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC HƯNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Hà Nội - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Võ Khánh Vinh
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn “Thực hiện chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa từ thực tiễn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc trích dẫn tài liệu Nghiên cứu hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở công trình, đề tài nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Hưng
Trang 4Chương 2.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 27 2.1 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. 27 2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 29 2.3 Đánh giá khái quát kết quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các
di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. 44
Chương 3.TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 48 3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa 48 3.2 Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các
di tích lịch sử - văn hóa 53
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐA-UBND : Đề án - Ủy ban nhân dân
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới là bằng mọi cách khơi dậy sức sống mãnh liệt của dân tộc để hội nhập quốc tế
và phát triển hợp lý, phù hợp với xã hội hiện đại Để làm được điều đó, nhiều nước đã tìm về di sản văn hoá (DSVH), bởi DSVH chính là một trong những cội nguồn sức sống tiềm tàng to lớn của dân tộc được tạo ra trong quá khứ, cần phải được bảo vệ, duy trì và phát huy trong xã hội hiện đại Văn hoá là tiềm lực tinh thần to lớn của mỗi dân tộc, thể hiện ra ở những giá trị hàm chứa trong vốn DSVH dân tộc được tích lũytheo thời gian lịch sử DSVH dân tộc giống như một nguồn lực kép: nguồn lực vật thể (hữu hình) và nguồn lực phi vật thể (vô hình) DSVH trở thành điểm tựa quan trọng, tạo thế đi vững chắc cho hiện tại và tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.Trải qua hàng ngàn năm, những giá trị DSVH phi vật thể và DSVH vật thể Việt Nam vẫn hiện diện như muôn trùng con sóng cuộn chảy trong dòng sông văn hoá truyền thống của dân tộc.Kế thừa di sản quá khứ là quy luật phát triển tất yếu của văn hoá Trong đó công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa đóng một vai trò quan trọng
Bên cạnh đó việc đưa ra các chính sách và đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử- văn hóa là một phần tất yếu không thể thiếu trong việc kế thừa, quản lývà phát huy DSVH
Trong xu thế giao lưu hội nhập và toàn cầu hoá hết sức sôi động hiện nay, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử- văn hóa lại càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm gìn giữ và phát huy truyền thống cách mạng, bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định rằng: Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ
Trang 72
phải nhằm xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm lối sống, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển xã hội Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc.Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hoá danh thắng của đất nước Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp cho nền văn hoá Việt Nam Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề bảo tồn phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nền tảng tinh thần của xã hội, cần tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hoá nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc Bảo tồn và phát huy văn hoá, văn nghệ dân gian.Kết hợp hài hoà việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế du lịch
Huyện Đại Từ là một huyện có nhiều điểm di tích lịch sử - văn hóa, việc thực hiện chính sách bảo tồn di sản của huyện đã được quan tâm triển khai thực hiện, tuy nhiên trong quá trình thực hiện chính sách cần có sự nghiên cứu và đánh giá đúng tình hình thực hiện chính sách để đề xuất những giải pháp hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện trong thời gian tiếp theo
Xuất phát từ quan điểm đường lối của Đảng, từ thực tiễn huyện Đại Từ việc
thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa từ thực tiễn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” là
Trang 83
một hoạt động có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và ý nghĩa thời sự cấp bách đối với huyện Đại Từ nói riêng, đối với tỉnh Thái Nguyên và cả nước nói chung
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình thực hiện và nghiên cứu về chính sách bảo tồn, phát huy giá trịcác di tích lịch sử - văn hóa ở Việt Nam
Nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa, giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng ngày càng được nâng cao Bảo vệ di tích, phát huy giá trị của di tích phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đấu tranh chống vi phạm đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân Hàng ngàn di tích được xếp hạng và tu bổ trong mấy chục năm qua đã thể hiện những nỗ lực to lớn của toàn xã hội chăm lo và bảo vệ di tích.Về cơ bản hệ thống di tích của đất nước đã được bảo vệ, chăm sóc và tu bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài Tuy nhiên, do trải qua hàng chục năm chiến tranh, chúng ta chưa có nhiều điều kiện chăm lo, bảo vệ di tích nên đến nay, mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn còn nhiều di tích bị vị phạm chưa được giải tỏa Phần lớn các vi phạm này đã diễn ra từ nhiều chục năm nay, nên việc giải quyết cần có quyết tâm và
sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp
Các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu của đất nước đã từng bước đã được đầu tư tu bổ.Tuy nhiên, cũng còn nhiều di tích đang ở trong tình trạng xuống cấp.Nhưng việc tu bổ di tích hiện nay mới chỉ tập trung vào di tích nổi tiếng, hầu như chưa có di tích nào được đầu tư tu bổ hoàn chỉnh từ kiến trúc tới hạ tầng, từ nội thất tới ngoại thất.Bên cạnh đó, chất lượng tu bổ di tích, nhất là những hạng mục được thi công bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp còn chưa đạt yêu cầu về chuyên môn Tăng cường quản lý nhà nước và xây dựng đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư, nghệ nhân, công nhân phục vụ tu bổ di tích là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay
Trang 94
Trong những năm qua, nhiều di tích đã được phát huy giá trị một cách tích cực dưới các mức độ khác nhau Các chương trình festival ở di tích Cố đô Huế, Đêm rằm Phố cổ Hội An, Hành trình du lịch về nguồn (các di tích cách mạng ở miền Bắc, miền Trung) đã thu hút thêm nhiều khách tham quan và dần trở thành những ngày hội văn hóa lớn của cả nước
Các di tích lớn, nhất là đối với các di tích sau khi được ghi vào danh mục di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đều trở thành những địa điểm du lịch hấp dẫn, thu hút một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước Điều
đó đưa đến kết quả nguồn thu từ bán vé tham quan tại di tích và những sản phẩm dịch vụ khác không ngừng tăng lên, tạo việc làm cho nhiều người lao động, góp phần biến đổi cơ cấu kinh tế của địa phương
Nhìn chung, hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn bộc lộ những thiếu sót cơ bản là:
- Mặc dù nhận thức của các ngành, các cấp và của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của di tích và trách nhiệm của toàn xã hội đối với di sản văn hóa
đã được nâng cao nhưng chưa sâu sắc và toàn diện và cũng chưa được cụ thể hóa bằng các biện pháp, kế hoạch và chương trình cụ thể
- Chúng ta còn lúng túng trong việc xử lý một cách hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, chưa nhận thức thật sâu sắc vị trí, vai trò của di tích trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, cá biệt có nơi, có lúc vẫn tồn tại xu thế thương mại hóa di tích, đặt các mục tiêu, dự án phát triển kinh tế cao hơn các mục tiêu về bảo vệ di tích, thậm chí có những dự án
về phát triển kinh tế được triển khai tại khu vực có di tích nhưng dự án không
hề đề xuất bất cứ biện pháp nào để bảo tồn di tích
- Công tác quản lý di tích vẫn cần tiếp tục được củng cố, còn nhiều di tích cần phải giải tỏa sự vi phạm
Trang 105
- Công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn thiếu định hướng, thiếu những chính sách, chế tài để khuyến khích, kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân Các nguồn lực do dân đóng góp chưa được qui tụ dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước, nên không được định hướng để sử dụng có hiệu quả
2.2 Tình hình thực hiện và nghiên cứu về chính sách bảo tồn, phát huy giá trịcác di tích lịch sử - văn hóa tại tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh trung du – miền núi, nằm ở vùng đông Bắc Việt Nam Phía Bắc giáp Bắc Kạn; phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội; phía tây giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang.Tỉnh Thái Nguyên có dân số gần 1,3 triệu người; gồm 9 thành phần dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Sán Chay, Doa, sán Dìu, H mông, Hoa, Ngái chung sống từ lâu đời
Cũng như các tỉnh vùng Việt Bắc, Thái Nguyên là miền đất núi sông hùng vĩ, nhiều danh lam thắng cảnh, giàu truyền thống lịch sử - cách mạng và một di sản văn hóa các dân tộc rất phong phú, đặc sắc Phía bắc tỉnh, trên địa bàn các huyện Định Hóa, Phú Lương là các dãy núi thuộc phần phía nam của các cánh cung đá vôi Sông Gâm và Ngân Sơn Ở phía Đông tỉnh, trên địa bàn các huyện Võ Nhai và Đồng Hỷ là bạt ngàn các dãy núi đá thuộc vòng cung
đá vôi Bắc Sơn Phía tây nam Thái Nguyên trên địa bàn các huyện Đại Từ, Phổ Yên là dãy núi Tam Đảo sừng sững như một bức trường thành Trong những dãy núi này có rất nhiều hang động đã trở thành các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng nơi con người nguyên thủy thời đại đồ đá sinh sống, như những Thượng Nung, Bình Long (huyện Võ Nhai); hoặc trở thành nơi dựng chùa thờ phật từ nhiều thế kỷ trước như động Tiên Lữ (chùa Hang), động Linh Sơn ở Đồng Hỷ, hang Chùa ở Định Hóa; hoặc những di tích lịch sử cách mạng kháng chiến, địa điểm hoạt động của các chiến sỹ cách mạng, nơi đặt trụ sở
Trang 116
cơ quan, xưởng quân giới, quân y viện, kho tàng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Là một miền đất cổ, gạch nối giữa đại ngàn Việt Bắc với vùng châu thổ sông hồng, “phên dậu” phía bắc của kinh thành Thăng Long – Đông Đô và căn cứ địac cách mạng Việt Bắc, trung tâm thủ đô kháng chiến chống Pháp năm xưa nên Thái Nguyên có tới 787 di tích lịch sử văn hóa trong đó khu ATK Định Hóa đã được xếp hạng quốc gia đặc biệt, 31 di tích xếp hạng quốc gia, 128 di tích xếp hạng cấp tỉnh Các di sản văn hóa phi vật thể, như các lễ hội dân gian: Lễ hội Lồng Tồng, lễ Kỳ yên của đồng bào Tày, lễ cấp sắc của các dân tộc Tày, Dao, Sán Chay, Sán Dìu; nghệ thuật diễn xướng Then Tày; các làn diệu Sli (Nùng); lượn Nàng ới, lượn Cọi (Tày, Nùng), Páo dung (Dao), Sình ca (Sán Chay), Soọng cô (Sán Dìu); Múa Tắc Xình (Sán Chay); múa rối cạn (Tày) và trong văn hóa dân gian, trong các phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc… đã trở thành di sản văn hóa
vô giá của tỉnh
Xác định di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) là một tài sản quý, vô giá, là bộ phận cấu thành “nền tảng tinh thần” của nhân dân các dân tộc trong tỉnh và là tiềm năng to lớn cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội nên nhiều năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa đã được Đảng bộ và chính quyền tỉnh dành cho sự quan tâm đặc biệt, cả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư:
Để công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn toàn tỉnh thực hiện thống nhất, nâng cao hiệu quả hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên thường xuyên chỉ đạo triển khai tuyên truyền quảng bá sâu, rộng các văn bản Luật, dưới Luật tới các cấp chính quyền địa phương để nắm bắt và chỉ đạo, triển khai thực hiện bằng nhiều hình thức như: Hội nghị, hội thảo, tập huấn chuyên môn, tham mưu ban hành và trực tiếp ban hành các văn
Trang 127
bản…, do vậy trong thời gian gần đây công tác quản lý di sản văn hóa trên địa bàn toàn tỉnh được thực hiện có hiệu quả góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi thể; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản
lý nhà nước tại địa phương, tạo sự đồng thuận trong nhân dân nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo chủ trương của Đảng, Nhà nước
Thái Nguyên là tỉnh đã hoàn thành quy hoạch xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa – danh lam thắng cảnh Trong quy hoạch, di tích nào được lập hồ sơ khoa học, xếp hạng nào, trong thời gian nào đã được ghi rõ, có sự đồng thuận giữa ngành văn hóa, Thể thao và Du lịch với các huyện, thành, thị trong tỉnh
Và nhằm tăng cường công tác quản lý di sản văn hóa, Với Quyết định số 48/2014/QĐ-UBND, ngày 11/11/2014 ban hành Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh thì trách nhiệm, quyền hạn trong việc quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị đối với các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã được làm rõ Hằng năm, trên cơ sở quy hoạch xếp hạng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các huyện, thành phố, thị xã lập hồ sơ khoa học đề nghị cấp có thẩm quyền xếp hạng từ 3 đến 5 di tích quốc gia và ít nhất là 15 di tích cấp tỉnh Đặc biệt khu di tích lịch sử ATK Định Hóa được Chính phủ ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2012 đã đánh dấu một bước tiến lớn trong công tác nghiên cứu khoa học, bảo tồn và phát huy giá trị di tích của tỉnh Thái Nguyên
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng kể ấy, lĩnh vực bảo tồn di tích
ở tỉnh Thái Nguyên vẫn còn những khó khăn, hạn chế cần tháo gỡ Khó khăn thách thức đầu tiên là hầu hết các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến nguyên gốc được làm từ chất liệu tre, nứa, lá, gỗ đều đã bị mưa gió, mối mọt tàn phá, chỉ còn lại dấu vết; việc phục hồi, tôn tạo đòi hỏi nhiều công sức và
Trang 13Vận dụng lý luận chính sách Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch
sử - văn hóa để xem xét thực tiễn thực hiện chính sách, thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tíchvà những bất cập trong thực trạng chính sách,ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, qua đó phát hiện những vấn đề chính sách và trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
- Nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử- văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu và tìm ra những giải pháp nhằm tăng cường thực hiện tốt chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động triển khai thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên thông qua các hoạt động quản lý Nhà nước đối với các di tích của UBND huyện, đồng thời nghiên cứu hoạt động quản lý, bảo vệ và khai thác phát huy giá trị các di tích (di tích cấp tỉnh và di tích quốc gia) của các Ban quản lý di tích và nhân dân địa phương trên địa bàn huyện
Trang 149
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ từ năm 2011 đến 2016
Sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử- văn hóa trên địa bàn huyện Đại Từ
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và vận dụng triệt để phương pháp nghiên cứu chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện, đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn giúp hình thành lý luận chính sách chuyên ngành
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa suy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: so sánh, thống kê và điều tra xã hội học, phương pháp phân tích đánh giá chính sách để thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã đưa ra khái niệm, quan điểm chỉ đạo của Đảng về việc xây dựng và thực thi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; mối quan hệ giữa chính quyền các cấp với nhân dân trong việc bảo vệ, quản lývà phát huy giá trị các di tích nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ trong khi ngày nay các
Trang 157 Cơ cấu của luận văn
Luận văn văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Chương 3 Tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử- văn hóa
Trang 1611
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
1.1 Khái quát về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
- văn hóa
Di tích lịch sử - văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại
Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [23] Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa là tài sản
vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể
Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại.” [3]
Trang 17Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn (trị giá nhiều nghìn tỷ đồng) nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn
có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển
Hệ thống di tích Việt Nam được phân thành 4 loại hình cơ bản là di tích lịch sử, di tích kiến trúc - nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh
Di tích lịch sử liên quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đóng góp, ảnh hưởng tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc Đến với di tích lịch
sử, khách tham quan như được đọc cuốn sử ghi chép về những con người, những sự kiện tiêu biểu, được cảm nhận một cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận không dễ có được khi chỉ đọc những tư liệu ghi chép của đời sau
Giá trị của di tích kiến trúc nghệ thuật thể hiện ở quy hoạch tổng thể và
bố cục kiến trúc, ở sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc với cảnh quan, ở những bức chạm khắc trên kết cấu gỗ, ở vẻ đẹp thánh thiện của những pho tượng cổ,
ở nét chạm tinh xảo của những đồ thờ tự
Trang 1813
Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều di tích khảo cổ Các di tích, di vật khảo cổ học là nguồn sử liệu quan trọng giúp việc biên soạn lịch
sử trái đất và lịch sử dân tộc từ thời tiền/sơ sử tới các thời kỳ lịch sử sau này
Danh lam thắng cảnh thường được kết hợp giữa công trình tôn giáo tín ngưỡng với cảnh quan thiên nhiên đẹp Đất nước ta ở miền nhiệt đới, trải dài trên nhiều vĩ tuyến, có rừng vàng biển bạc với một hệ động, thực vật đặc biệt phong phú và nhiều hang động kỳ thú đủ sức hấp dẫn mọi du khách
Việt Nam, mảnh đất của di tích, từ miền núi tới hải đảo đâu đâu cũng
có di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Hàng vạn di tích là nguồn tài nguyên vô giá cho việc khai thác du lịch bền vững Khái quát hệ thống di tích lịch sử văn hóa của Việt Nam có thể đi đến nhận định rằng: Số lượng di tích của cả nước rất lớn, đa dạng về loại hình và có giá trị to lớn về nhiều mặt
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản và chính sách nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa: Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10, ngày 29/6/2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Di sản văn hóa số 32/2009/QH12, ngày 18 tháng 6 năm 2009; Nghị định số: 98/2010/NĐ-CP, ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa; Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ về việc Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;Thông tư số18/2012/TT-BVHTTDL, ngày 28/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Thông tư số 09/2011/TT- BVHTTDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Bộ văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung
hồ sơ khoa học xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh…
Trang 1914
Trong đó, tỉnh Thái Nguyên là miền đất núi sông hùng vĩ, nhiều danh lam thắng cảnh, giàu truyền thống lịch sử - cách mạng và một di sản văn hóa các dân tộc rất phong phú, đặc sắc
Để thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh Thái Nguyên có ban hành các văn bản và chính sách của địa phương: Quyết định số 56/2008/QĐ-UBND, ngày 29/10/2008 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị
di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Quyết định số 973/QĐ-UBND ngày 14 tháng 04 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành Quy định về quy trình lập Hồ sơ khoa học xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Quyết định số 48/2014/QĐ-UBND ngày 11/11/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thay thế Quyết định số 56/2008/QĐ-UBND, ngày 29/10/2008
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
1.2.1 Khái niệm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
Chính sách văn hóa là một bộ phận của chính sách công, chính sách văn hóa cũng chỉ có thể ra đời khi có Nhà nước Tuy nhiên, cũng như chính sách công, thuật ngữ “chính sách văn hóa” ra đời rất muộn, phải đến những năm nửa sau thế kỷ XX Năm 1967, trong Hội nghị bàn tròn, các chuyên gia văn hóa tại Monaco đã đưa ra một quan niệm về chính sách văn hóa như sau:Chính sách văn hóa là một tổng thể những thực hành xã hội hữu thức và
có suy tính kỹ về những can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động văn hóa nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, bằng cách sử dụng tối
Trang 2015
ưu tất cả những nguồn vật chất và nhân lực mà một xã hội nào đó sắp đặt vào một thời điểm thích hợp Năm 2002, UNESCO đưa ra một định nghĩa về chính sách văn hóa như sau: Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa
Chính sách bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận của chính sách văn hóa, chính sách bảo tồn và phát huy di tích lịch sử - văn hóa đã được cụ thể hóa ở nhiều loại văn bản như: Văn kiện của các kỳ đại hội Đảng, Nghị quyết các hội nghị Trung ương Đảng, Hiến pháp, Chiến lược phát triển văn hóa, Luật di sản văn hóa và các Thông tư, Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật di sản văn hóa
Ngày 29 tháng 6 năm 2001, Quốc hội đã thông qua Luật di sản văn hóa Luật này đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 (ngày 18 tháng 6 năm 2009) Luật đã quy định một số điều về bảo tồn và phát huy di tích lịch sử - văn hóa:
Luật di sản văn hóa xác định di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; Di tích lịch sử- văn hóa
là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Tu bổ di tích lịch sử -văn hoá, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; Phục hồi di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh đó
Tại Điều 5 của Luật di săn văn hóa khẳng định “Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn hoá thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ các hình
Trang 21nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của
nó Phát huy di sản (heritage promotion) có nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội
Việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
- văn hóa là triển khai thực hiện Luật di sản văn hóa, Hiến pháp, các Nghị định của chính phủ, các Thông tư hướng thực hiện Luật và các Nghị định bằng những hoạt động thiết thực nhằm bảo tồn và gìn giữ, phát huy giá trị to lớn của các di tích lịch sử - văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân; nhu cầu nghiên cứu, tham quan du lịch của khách trong, ngoài nước, tạo nền móng vững bền góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước
1.2.2 Đặc điểmthực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
Di sản văn hóa (trong đó có di tích lịch sử - văn hóa) cần được bảo vệ
và phát huy giá trị với tư cách là một bộ phận cấu thành môi trường sống của nhân loại (môi trường văn hóa xã hội, cái thiên nhiên thứ hai), trong đó lãnh thổ quốc gia, không gian sinh tồn và hệ thống đô thị và các địa điểm cư dân là
Trang 2217
những đại diện điển hình nhất Di sản văn hóa còn được coi trọng và tôn vinh
vì đó là loại tài sản quý giá không thể thay thế, không thể tái sinh, nhưng lại rất dễ bị biến dạng và tổn thương trước tác động của các nhân tố tự nhiên và cách hành xử thiếu văn hóa do chính con người gây ra Theo định nghĩa tại Điều 1 Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam: Môi trường bao gồm các yếu tố
tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên Môi trường sống của con người có 3 bộ phận cấu thành: môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường văn hóa xã hội, trong đó di sản văn hóa hàm chứa trong bản thân nó cả 3 hợp phần (nơi chúng ta sống - văn hóa vật thể, cách chúng ta sống - văn hóa phi vật thể và môi trường thiên nhiên quanh ta) Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh lại bao hàm: các hạng mục kiến trúc, các địa điểm lịch sử; môi trường - cảnh quan thiên nhiên bao quanh di tích và giá trị văn hóa phi vật thể gắn với di tích Từ đặc trưng đó đặt ra yêu cầu bảo tồn di sản văn hóa phải gắn với bảo vệ môi trường thiên nhiên và ngược lại, bảo vệ môi trường thiên nhiên là tạo ra môi trường tự nhiên trong lành cho sự tồn tại lâu dài của
di sản, cao hơn nữa, còn tạo nên sức hấp dẫn thẩm mỹ cho di sản văn hóa
Về quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cũng có nhiều quan điểm khác nhau Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung 2 quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa
Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, theo Gregory J.Ashworth, thì được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX Quan điểm bảo tồn nguyện vẹn này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo
tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa Những người theo quan điểm Bảo tồn
nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một
cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn
Trang 2318
hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho các thế
hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn
Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoài hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến
di sản Có thể kể đến như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham xem di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương
tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản Hoặc các nhà nghiên cứu Anh, Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… thì cho rằng không thể không
đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản Cách tiếp cận của các nhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản văn hóa để phát triển du lịch, để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của con người Còn các tác giả như Corner và Harvey cũng cho rằng việc quản lý di sản cần đặt dưới một cách tiếp cận toàn cầu hóa Ngoài ra, các tác giả như Moore và Caulton cũng cho rằng cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới Nhìn chung,
Trang 24Với quan điểm thứ nhất là đóng gói các sản phẩm văn hóa cần được bảo vệ trong môi trường khép kín để tránh mọi tác động bên ngoài làm phương hại đến chúng Khuynh hướng này mang lại một số kết quả rất đáng quan tâm Nhờ các hoạt động bảo tồn đó, trong nhiều năm qua, chúng ta đã lưu giữ được nhiều sắc thái văn hóa dân tộc Tuy nhiên, văn hóa nói chung trong đó có văn hóa phi vật thể luôn gắn bó với đời sống, con người, với môi trường xã hội Do đó, nó luôn biến đổi để phù hợp với mọi thay đổi của cuộc sống Bởi vậy, bảo tồn theo khuynh hướng này bộc lộ hạn chế là làm khô cứng các sản phẩm văn hóa
Với quan điểm thứ hai là quan điểm thả nổi Sản phẩm văn hóa nào có sức sống mãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do được chắt lọc, chưng cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử sẽ có nhiều cơ hội
và lợi thế tự khẳng định mình nhiều hơn Điều đó phụ thuộc vào các tiêu chí
và hệ giá trị Bởi vậy, khi chúng ta sử dụng hệ giá trị hôm nay làm thước đo
sự thay đổi các sản phẩm văn hóa truyền thống, khuynh hướng thả nổi sẽ đẩy nhanh quá trình làm biến dạng các tiêu chí và chuẩn mực vốn đã được định hình từ lâu Những sản phẩm văn hóa truyền thống tuy mang đậm nét đặc thù nhưng khi đặt trong hệ quy chiếu mới nếu không được điều chỉnh sẽ khó có
cơ hội tồn tại lâu dài
Rõ ràng là cả hai quan điểm trên đều xuất phát từ cách hiểu máy móc, siêu hình, thiếu cái nhìn biện chứng về khái niệm bảo tồn Chỉ có thể hiểu một cách đầy đủ và đúng nghĩa khi đặt hoạt động bảo tồn trong mối quan hệ với
Trang 25có nêu những nguyên tắc cơ bản để giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển như Hiến chương về bảo vệ thành phố và đô thị lịch sử: “ bảo vệ các thành phố và các đô thị lịch sử khác phải là một bộ phận hữu cơ của hệ thống cố kết các chính sách phát triển kinh tế và xã hội ”; “Những chức năng mới và các mạng kết cấu hạ tầng do đời sống đương đại đòi hỏi phải thích hợp với đặc trưng của thành phố lịch sử.” [16]; bảo vệ di tích không có nghĩa bảo vệ một cách bất di bất dịch, Hiến chương cũng nêu rõ việc đưa các yếu tố đương đại vào mà hài hòa được với tổng thể khung cảnh là có thể chấp nhận, bởi vì các yếu tố mới đó có thể góp phần làm cho khu vực thêm phong phú.Nói tóm lại là bảo tồn di sản văn hóa cần phải đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của nó trong đời sống Mặt khác, việc bảo tồn cần phải quan tâm đến những đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể, tức là phải lựa chọn
để bảo tồn những gì phù hợp với thời đại Chỉ có như vậy, hoạt động bảo tồn mới có ý nghĩa và có tính khả thi mà không trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội
Trang 26xã hội Sự phát triển xã hội về nhiều mặt, nhất là về kinh tế vừa thể hiện được những ưu điểm nhưng cũng có những tác động tiêu cực không nhỏ đến văn hóa truyền thống.Nhiều di sản bị trào lưu công nghiệp hóa - hiện đại hóa làm ảnh hưởng, thậm chí phá hủy Vì vậy vấn đề bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống trong điều kiện hiện nay đã, đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Các di tích lịch sử - văn hóa có vị thế quan trọng trong hệ thống di sản văn hóa của mỗi dân tộc.Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn (trị giá nhiều ngàn tỷ đồng) nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh
tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển
Việc bảo vệ, giữ gìn các di tích phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chính sách, công tác quản lý, khoa học kỹ thuật….Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử - văn hóa nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tế đất nước, phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mấy chục năm qua hàng ngàn di tích được xếp hạng và tu bổ đã thể hiện những nỗ lực to lớn của toàn xã hội chăm lo và bảo vệ di tích.Về cơ bản hệ thống di tích của đất nước đã được bảo vệ, chăm sóc và tu bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài
Trang 2722
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng đã khẳng định nhiệm
vụ bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh mới ở nước ta “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [3]
1.3 Nội dung thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa, cho nên bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa cũng cần được thực hiện theo qui trình và nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [23] Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ
rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể.Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại.” [3]
Di sản văn hoá tồn tại dưới dạng vật thể và phi vật thể Di sản văn hóa vật thể gồm di tích, di vật và môi trường cảnh quan xung quanh di tích đó
Trang 28- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử - văn hóa
- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý di tích lịch sử - văn hóa
- Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di tích lịch sử - văn hóa
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích lịch sử - văn hóa
- Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản - văn hóa
- Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích
Có thể nói, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các nội dung cơ bản nêu trên Đồng thời, những nội dung đó được cụ thể hóa trong từng công đoạn của qui trình quản lý Nhà nước về di sản văn hóa như tổ chức nghiên cứu, thống kê, phân loại, xếp hạng, lập các dự án bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị, thanh tra, kiểm tra xử lý
vi phạm và khen thưởng, kỷ luật v.v
Trang 29về phát triển kinh tế được triển khai tại khu vực có di tích nhưng dự án không
hề đề xuất bất cứ biện pháp nào để bảo tồn di tích
- Công tác quản lý di tích vẫn cần tiếp tục được củng cố, còn nhiều di tích cần phải giải tỏa sự vi phạm
- Công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn thiếu định hướng, thiếu những chính sách, chế tài để khuyến khích, kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân Các nguồn lực do dân đóng góp chưa được qui tụ dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước, nên không được định hướng để sử dụng có hiệu quả
- Nhiều dự án tu bổ di tích được thực hiện nhưng vẫn thiếu sự đầu tư đồng bộ cho di tích, từ tu bổ kiến trúc, nội thất tới tôn tạo cảnh quan sân vườn, lắp đặt hệ thống chiếu sáng, phòng chống cháy, trộm, cải tạo hệ thống đường đi lối lại trong và xung quanh di tích, xây dựng các khu quản lý và dịch vụ Cơ sở hạ tầng tại các di tích còn yếu, hệ thống giao thông đến di tích
Trang 30- Chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong tổ chức khai thác du lịch và dịch vụ tại di tích Tại một số di tích còn có hiện tượng sử dụng các “hướng dẫn viên không chuyên”, tranh giành giới thiệu di tích để áp đặt thù lao bất hợp lý, dẫn đến làm mất đi một phần tình cảm tốt đẹp của du khách và ảnh hưởng tới việc thu hút khách tham quan tới di tích
Việc sản xuất đồ lưu niệm phục vụ khách tham quan chưa được chú ý, chủ yếu mang tính tự phát, do dân nghĩ, dân làm nên thiếu định hướng, thiếu bàn tay chuyên môn (họa sỹ, kiến trúc sư chẳng hạn) Do đó, sản phẩm lưu niệm thường rất xấu, ít đổi mới, thiếu sự đa dạng, vật liệu mau hỏng và không thể hiện được đặc trưng gắn bó với di tích Giá trị dịch vụ trong khai thác di tích còn chiếm một tỷ trọng rất thấp
- Công tác tuyên truyền về di tích chưa được chú trọng, thông tin về di tích hạn chế Thiếu những cuốn sách cẩm nang về di tích để phục vụ du khách
- Công tác giáo dục, đào tạo cán bộ cơ sở, người khai thác hoạt động du lịch chưa được coi trọng
Kết luận Chương 1
Trên cơ sở các kiến thức lý luận về chính sách công, chính sách văn hóa giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của cộng đồng Chính sách văn hóa có vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển văn hóa, đảm bảo
Trang 3126
sự phát triển hài hòa các lĩnh vực văn hóa, thể hiện sự ưu tiên trong một số lĩnh vực phát triển.Vì thế chính sách văn hóa là một phần không thể thiếu trong sự phát triển văn hóa của đất nước
Trong chính sách văn hóa, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử - văn hóa nói riêng luôn được đặt ở vị trí ưu tiên Chương 1 đã xác định các khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung cũng như các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
Các quan điểm, mục tiêu và công cụ chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa được xác định trong chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóacùng các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóaở nước ta được giới thiệu như là cơ sở nền tảng cho việc phân tích, đánh giá thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóaở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cũng như đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách này ở các chương tiếp theo
Trang 3227
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25 km, được bao bọc bởi các dãy núi Tam Đảo, Núi Pháo, núi Hồng, núi Chúa Có đất đai màu mỡ, có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, đa dạng về hệ sinh thái động, thực vật và hệ thống sông suối, có nhiều hồ nước lớn, có sản phẩm chè xanh chất lượng và giá trị cao Đại Từ là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, là an toàn khu cách mạng trong thời kỳ chống thực dân Pháp Trên địa bàn huyện có 169 điểm di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh,tính đến tháng 12 năm 2016,Đại Từ có 07 di tích được xếp hạng di tích Quốc gia: Di tích Núi Văn – Núi Võ; di tích Nơi thành lập cơ sở Đảng Cộng Sản đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên; Di tích Địa điểm công bố “Ngày Thương binh, Liệt sỹ toàn quốc” (27/7/1947); di tích Địa điểm thành lập cơ quan chỉ huy chiến khu Nguyễn Huệ; Di tích Nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1954) tại đồi Thành Trúc – xã Bản Ngoại; di tích Địa điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm nhân dân xã Hùng Sơn (năm
1954 và 1958); Di tích Địa điểm tổ chức Đại hội lần thứ nhất của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cứu quốc và Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1950) Bên cạnh 07 di tích được xếp hạng di tích Quốc gia, Đại Từ còn
có 36 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Những nơi này là minh chứng cho vùng đất Đại Từ giàu truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước và cách mạng
Với những giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, hệ thống di tích của huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên) là bộ phận quan trọng trong di sản văn hóa Việt
Trang 33Bên cạnh đó sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng và cán bộ các cấp đối với công tác giáo dục, tuyên truyền phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử - văn hoá của các khu di tích còn hạn chế Sự quan tâm đầu tư con người, cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý, tuyên truyền chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ Việc đầu tư quy hoạch tổng thể các khu di tích quan trọng, phân vùng phạm vi khu vực di tích và phạm vi yêu cầu nhiệm vụ chính trị của các địa phương chưa được quan tâm đúng mức
Không có đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên trách công việc quản lý di tích, các cán bộ, nhân viên làm công tác quản lý di tích đều kiêm nhiệm, không có kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ bảo tồn, bảo tàng, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý và tuyên truyền quảng bá, nhất là đội ngũ hướng dẫn viên (phần lớn là cán bộ văn hóa các xã, thị trấn) Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên ở các khu di tích còn hạn chế, chưa tương xứng với vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của một số di tích quan trọng của huyện
Trang 3429
Việc duy trì và thực hiện các quy chế, quy định chưa chặt chẽ, nghiêm túc, chưa chủ động tích cực phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, với các địa phương trong công tác tuyên truyền, quảng bá về ý nghĩa lịch sử của các khu di tích
Công tác tổ chức các hoạt động văn hoá tín ngưỡng ở các khu di tích tuy có
tổ chức nhưng nội dung còn nghèo nàn, chưa thu hút được nhiều du khách
Hoạt động bảo tồn, tôn tạo ở khu di tích chưa bao quát đầy đủ và chưa đáp ứng yêu cầu bảo tồn và phát huy Phạm vi của hoạt động bảo tồn tôn tạo chưa đầy đủ và đồng bộ, mới chỉ tập trung ở khu trung tâm, chưa bao quát, chưa phân định rõ yêu cầu bảo tồn các di tích với phát triển các công trình dịch vụ đáp ứng yêu cầu tham quan du lịch Công tác tu bổ tôn tạo di tích chưa đáp ứng được nhu cầu phát huy trong tình hình hiện nay nên chưa gắn với việc phát triển kinh tế nhất là ngành kinh tế du lịch Hệ thống dịch vụ nghèo nàn, chất lượng thấp
Mức ngân sách đầu tư của nhà nước cho công tác bảo tồn phát huy giá trị các di tích còn hạn chế vì vậy nhiều di tích quan trọng có nhiều nội dung tôn tạo chưa thực hiện được Hoạt động đầu tư sưu tầm nghiên cứu chưa được đầu tư tương xứng vì vậy mảng phát huy các giá trị văn hoá chưa thật sự hiệu quả
2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.2.1 Thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tíchlịch sử - văn hóa tại huyện Đại Từ
Theo danh sách kiểm kê năm 1997 của sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, huyện Đại Từ có 169 điểm di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Nhận thấy tầm quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị các di tích nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc, năm 2011 UBND huyện Đại Từ đã xây dựng Đề án
Trang 3530
04/ĐA-UBND ngày 15/7/2011 về việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện Đại Từ giai đoạn 2011 – 2015, năm 2015 xây dựng Đề án số 04/ĐA-UBND ngày 09/12/2015 về việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện Đại Từ gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2016 – 2020, với mục tiêu: Thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về Di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh theo quy định của Luật di sản, Luật du lịch, Luật Tài Nguyên môi trường, đồng thời bảo tồn, tôn tạo phát huy các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh của huyện Nâng cao nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền và nhân dân tham gia vào công tác bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, đẩy mạnh công tác xã hội hoá trong quá trình xếp hạng, bảo tồn và khai thác có hiệu quả các di tích trên địa bàn huyện; Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh của Huyện chính là một trong các giải pháp để khai thác lợi thế tiềm năng của huyện góp phần phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội, giáo dục truyền thống lịch sử, cách mạng cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ; Tích cực ngăn chặn nguy cơ xuống cấp của các di tích, sự mai một của văn hóa vật thể hiện có trên địa bàn, đồng thời xây dựng các điểm đến cho du khách thăm quan và giới thiệu đất và người của Đại Từ cho du khách, góp phần thu hút đầu tư để phát triển du lịch của Huyện nói riêng và của tỉnh Thái Nguyên nói chung
Với những giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, hệ thống di tích của huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên) là bộ phận quan trọng trong di sản văn hóa Việt Nam, là địa chỉ đỏ để giáo dục lịch sử, văn hóa, truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau
Sau 05 năm thực hiện Đề án 04/ĐA-UBND ngày 15/7/2011 và 01 năm thực hiện Đề án số 04/ĐA-UBND ngày 09/12/2015 về việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn
Trang 3631
huyện Đại Từ gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2016 – 2020, đến nay công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Đại
Từ đã triển khai thực hiện các nội dung:
2.2.1.1 Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa
Đây là hoạt động hết sức quan trọng, nội dung chính của hoạt động này
là tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục cho các tổ chức, cá nhân về Luật di sản văn hóa và các văn bản pháp luật nhà nước để ngăn chặn các hành
vi vi phạm Luật di sản văn hóa Trong nhiều năm qua, được sự chỉ đạo của UBND huyện, phòng Văn hóa và Thông tin huyện Đại Từ luôn quan tâm đến hoạt động tuyên truyền pháp luật của nhà nước về quyền lợi và nghĩa vụ của
tổ chức và cá nhân đối với di sản văn hóa Phòng thường xuyên quan tâm đến các cộng đồng cư dân sống gần các khu di tích để cho người dân ở đây có ý thức trong việc bảo vệ các di tích; tổ chức vận động dưới nhiều hình thức khác nhau như: phát thanh nhiều lần trên các phương tiện truyền thanh của thôn, xã nhằm giới thiệu về giá trị lịch sử - văn hóa của các di tích, giới thiệu Luật di sản văn hóa để cộng đồng hiểu rõ, từ đó cộng đồng có ý thức và trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa
Hàng năm, phòng Văn hóa và Thông tin đã tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ thôn, xã, Ban quản lý di tích của các xã, thị trấn về Luật di sản văn hóa và giá trị của các di tích tại địa phương Thành phần tham dự lớp học có các đại biểu như: Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn, cán bộ xã, Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, thành viên các Ban quản lý di tích… Từ việc lĩnh hội tinh thần của lớp học, các đại biểu sẽ có trách nhiệm tuyên truyền cho nhân dân để nâng cao ý thức bảo vệ di sản văn hóa Ngăn chặn các hành vi xâm hại di tích
Bên cạnh đó phòng Văn hóa và Thông tin phối hợp với các cơ quan
Trang 3732
chuyên môn tuyên truyền về ý nghĩa lịch sử của các di tích, Luật di sản và các văn bản chỉ đạo về quản lý di tíchvới nhiều hình thức như: viết sách, in tờ rơi, viết bản tin, xây dựng phóng sự tuyên truyền trong bản tin nội bộ, trên bảng tuyên truyền điện tử, trang thông tin điện tử, Đài truyền thanh – Truyền hình của huyện, trạm truyền thanh của các xã, thị trấn, những hoạt động này cũng đem lại hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền đến toàn thể nhân dân về ý nghĩa và giá trị lịch sử, văn hóa của các di tích trên địa bàn huyện
Chính nhờ có các hoạt động như trên, trong những năm qua ý thức cộng đồng ở các điểm di tích đã được nâng cao rõ rệt Ý kiến của ông Luận ở xóm Cao, xã Mỹ Yên cho biết: “Gia đình tôi sống ở trên đất của ông cha để lại, đã có sổ đỏ đàng hoàng, nhưng lại nằm trong diện tích đất của di tích Địa điểm Quân y xá Trần Quốc Toản (nay là Bệnh viện Quân y 354) ở và làm việc năm 1947 – 1949, nếu nhà nước có chủ trương xây dựng nhà bia tưởng niệm hoặc tôn tạo các công trình của di tích, gia đình tôi sẵn sàng hiến một phần đất”
2.2.1.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nguồn nhân lực quản lý
Tại Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện Đại Từ kèm theo Quyết định số 4259/2015/QĐ-UBND ngày 03/6/2015 của UBND huyện Đại Từ đã phân cấp quản lý di tích cho các cấp:
Ủy ban nhân dân huyện chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn huyện một cách toàn diện Trong đó, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện là cơ quan chuyên môn có nhiệm vụ tham mưu giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn toàn huyện; Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn thực hiện việc quản lý trực tiếp các di tích trên địa bàn theo Quy chế này
Trang 3833
Tại Điều 6 của Quy chế, Ủy ban nhân dân huyện giao cho phòng Văn hóa và Thông tin huyện tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện thực hiện công tác quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn toàn huyện; phối hợp với các
cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng huyện xây dựng quy chế phối hợp về bảo vệ, tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị đối với các di tích gắn với hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn
Tại Điều 7 của Quy chế, UBND huyện phân công quản lý, khai thác, phát huy giá trị di tích: “Ủy ban nhân dân huyện phân cấp cho các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm bảo vệ, khai thác, phát huy giá trị di tích trên địa bàn huyện theo đúng quy định của pháp luật và
cụ thể như sau:
- Ủy ban nhân dân huyện: Thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với các di tích Quốc gia, cấp tỉnh đã được xếp hạng có trên địa bàn
- UBND các xã, thị trấn: Trực tiếp quản lý các di tích đã được xếp hạng
và trong danh mục đã kiểm kê được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt có trên địa bàn các xã, thị trấn kèm theo Quy chế này, đồng thời phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp huyện quản lý, khai thác và phát huy giá trị của các di tích đã được xếp hạng trên địa bàn” [35, Tr8]
Theo Quy chếban hành kèm theo Quyết định số 4259/2015/QĐ-UBND ngày 03/6/2015 của UBND huyện Đại Từ mỗi xã, thị trấn có di tích nằm trên địa bàn đã thành lập 01 Ban quản lý di tích với số lượng từ 12 đến đến 20 người:
Tại Điều 8 của Quy chế nêu rõ các thành phần Ban quản lý di tích các cấp: “Ủy ban nhân dân huyện có trách nhiệm thành lập các Ban quản lý di tích để quản lý, bảo vệ, chăm sóc trực tiếp, khai thác, phát huy giá trị đối với
di tích Quốc gia, di tích cấp tỉnh có trên địa bàn ngay sau khi được xếp hạng
Trang 3934
Thành phần Ban quản lý di tích Quốc gia, cấp tỉnh: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã làm Trưởng ban, cán bộ phụ trách Văn hóa xã hội làm Phó ban, các thành viên gồm: người trông coi bảo vệ di tích, công chức liên quan công tác tài chính xã, cán bộ phụ trách hội, đoàn thể của xã (thị trấn), trưởng xóm (tổ dân phố) nơi địa bàn có di tích, những cá nhân có liên quan đến quyền sở hữu đối với di tích hoặc trực tiếp và thường xuyên tham gia hoạt động quản lý tại di tích Đối với các di tích là cơ sở thờ tự của tôn giáo, ngoài các thành phần trên
có đại diện trụ trì (đối với những chùa có trụ trì) hoặc đại diện Ban Hộ tự (đối với chùa không có trụ trì) [35, Tr9]
Đối với các di tích được xếp hạng Quốc gia có quy mô hoạt động lễ hội lớn, mức độ ảnh hưởng và lan tỏa rộng, UBND huyện giao cho Phòng Văn hóa và Thông tin huyện tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện căn cứ tình hình thực tế thành lập Ban quản lý di tích cấp huyện để quản lý, khai thác, phát huy giá trị của từng di tích
Đối với Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn là cấp quản lý trực tiếp di tích,
có trách nhiệm chỉ đạo, xây dựng nội quy, quy chế hoạt động của di tích và của Ban quản lý di tích trên địa bàn xã, thị trấn theo quy định của pháp luật
Hàng năm, phòng Văn hóa và Thông tin huyện đều quan tâm chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tham mưu giúp UBND huyện cử và khuyến khích cán bộ văn hóa, các thành viên Ban quản lý các di tích tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ quản lý di tích:
Từ năm 2011 đến nay đã cử hàng trăm lượt lãnh đạo UBND, cán bộ văn hóa, các thành viên Ban quản lý các di tích tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng:
+ Lớp Quản lý văn hóa, tôn tạo di tích do sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức: 30 cán bộ;
+ Tập huấn quản lý Tôn giáo do sở Nội vụ tổ chức:30 cán bộ;
+ Bồi dưỡng Quản lý nhà nước do trường Chính trị tỉnh tổ chức: 30 cán bộ;
Trang 402.2.1.3 Công tác lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích
Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm xác định giá trị trị lịch sử - văn hóa của từng di tích, tạo cơ sở để các cấp chính quyền và nhân dân bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của các di tích
Căn cứ vào Luật di sản, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa; Căn cứ danh sách 169 di tích được kiểm kê năm 1997, căn cứ mục tiêuhằng năm thực hiện
Đề án Bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện Đại Từ giai đoạn 2011 – 2015 và giai đoạn 2016 -
2020, UBND huyện Đại Từ đã rà soát và xác định giá trị lịch sử - văn hóa của các di tích, xếp theo thứ tự ưu tiên, phối hợp với sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyênđể lập hồ sơ khoa học đề nghị UBND tỉnh xếp hạng di tích cấp tỉnh và đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng quốc gia Tính đến hết năm 2016 đã có 43 di tích trên địa bàn huyện được xếp hạng Trong đó có 7 di tích quốc gia và 36 di tích cấp tỉnh: Di tích “Núi Văn – Núi
Võ, xã Văn Yên” gồm 02 điểm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di tích Quốc gia tại Quyết định số 10/QĐ-BVHTTDL ngày 09/02/1991;
Di tích “Địa điểm nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1954) tại đồi Thành Trúc, xã Bản Ngoại” gồm 01 điểm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di tích Quốc gia tại Quyết định số 72/QĐ-BVHTTDL ngày