nay, việc xây dựng gia đình văn hóa đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của khá nhiều các nhà khoa học, có thể kể đến một số công trình như: Trong bài “Một số giải pháp nâng cao ch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ANH TUẤN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Thực hiện chính sách về xây dựng gia đình văn hóa từ thực tiễn huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá” là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của bản
thân tôi Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đều trung thực
và có nguồn gốc rõ ràng, có điều gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH XÂY
DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA 10
1.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2 Thực tiễn chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại Việt Nam… 15 Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HOÁ Ở HUYỆN CẨM THỦY… 31
2.1 Khái quát về huyện Cẩm Thủy … 31 2.2 Tổ chức thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Cẩm Thuỷ33 2.3 Kết quả đạt được 49 2.4 Hạn chế trong việc xây dựng gia đình văn hoá tại huyện Cẩm Thuỷ 57 2.5 Nguyên nhân của những hạn chế … 59
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HOÁ … 62
3.1 Quan điểm, mục tiêu xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Cẩm Thủy 62 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá 64 Kết luận ………… 77 Tài liệu tham khảo … 80
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội và có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong trình phát triển của xã hội Từ gia đình con người được sinh ra và trưởng thành cả
về thể chất và nhân cách Sức mạnh của quốc gia, dân tộc Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại và phát triển của gia đình Ngày nay, vấn đề gia đình được thế giới rất quan tâm Liên hợp quốc đã lấy năm 1994 là "Năm quốc tế gia đình", các quốc gia trên thế giới cũng nhận thức rõ rằng: củng cố sự vững chắc của gia đình là nhân tố quan trọng để ổn định và phát triển xã hội Ở Việt Nam, chúng ta đã nhận thức đúng vị trí của gia đình trong sự phát triển và tiến bộ xã hội cũng như hạnh phúc của mỗi cá nhân, từ năm 2001 Chính phủ đã quyết định chọn ngày 28/6 hàng năm là “Ngày gia đình Việt Nam” Gia đình là nơi hội tụ, gắn kết mỗi thành viên với nhau Khi vui người ta luôn chia sẻ cùng gia đình và khi buồn cũng tìm sự an ủi, chở che từ gia đình Bởi thế, đối với mỗi con người Việt, gia đình là nơi thiêng liêng nhất, thực sự là mái ấm của sự yên ổn, kính trọng và tình thương yêu Nét đẹp văn hóa gia đình trở thành nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam, góp phần làm phong phú và rõ nét hơn bản sắc văn hóa của người dân Việt Từ văn hóa gia đình truyền thống đến hiện đại đã có sự biến đổi lớn, đặc biệt trong bối cảnh nước ta đang trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường, của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Trong đó, cùng với những biến đổi tích cực cũng đã nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực có nguy cơ ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa gia đình truyền thống Việt Nam Từ thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề xây dựng văn hoá gia đình Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh đến trách nhiệm của gia đình: Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam, nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ, coi trọng xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng mối quan
hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội Nghị quyết Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các
Trang 5thành viên của mình lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội
Cẩm Thủy là một huyện miền núi của tỉnh Thanh hóa, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, tuy nhiên là vùng đất có nhiều truyền thống về lịch sử, văn hóa Trong giai đoạn hiện nay cùng với quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế thị trường, văn hóa gia đình tại huyện Cẩm Thủy cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp như tệ nạn xã hội, trẻ em hư hỏng, làm ăn bất chính Những biểu hiện lệch chuẩn
về đạo đức, lối sống, sự đảo lộn về trật tự kỷ cương trong gia đình , đó là những vấn đề cần được quan tâm và đánh giá một cách nghiêm túc Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, chính sách xây dựng gia đình văn hóa ở Cẩm Thủy đã được thực hiện trong suốt một thời gian dài Bên cạnh những kết quả đã đạt được, cũng còn nhiều vấn đề bất cập Trong quá trình thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá để có những định hướng giải pháp kịp thời nhằm tổ chức, thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn huyện Cẩm Thủy Xuất phát từ tầm quan trọng và sự cần thiết của vấn đề đã nêu trên, việc thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa ở Cẩm Thủy hiện nay vừa có ý nghĩa lý luận, vừa là vấn đề thực tiễn cấp thiết Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: "Thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa từ thực tiễn huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa" làm luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sĩ, chuyên ngành chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Công tác xây dựng gia đình văn hóa đã được nhiều nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hóa quan tâm Từ sau đổi mới (1986), nền kinh tế nước ta phát triển theo hướng kinh tế thị trường, đất nước từng bước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh những thành tựu đạt được về văn hoá như: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh văn hoa văn hoá thế giới … thì cũng có những bất cậpnảy sinh như lối sống thực dụng, ích kỷ, các tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình tác động mạnh đến gia đình Việt Nam Hiện
Trang 6nay, việc xây dựng gia đình văn hóa đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của khá nhiều các nhà khoa học, có thể kể đến một số công trình như:
Trong bài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở“, tác giả Nguyễn Văn Đại đã bàn về các giải pháp nâng cao chất lượng
phong trào văn hóa cơ sở, trong đó, ông nhấn mạnh đến phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu chương trình nông thôn mới ở cơ sở [13]
Tác giả Trần Hữu Tòng - Trương Thìn (chủ biên), (1997) với công trình
“Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội đã giới thiệu những quan điểm chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vấn
đề gia đình và xây dựng gia đình văn hóa; những lý luận cơ bản về gia đình và gia đình văn hóa Nêu lên một số kinh nghiệm chỉ đạo phong trào ở các địa phương và những tư liệu để cán bộ chuyên trách công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tham gia chỉ đạo phong trào
Tác giả Lê Thi (2002) với “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội đã phản ánh về sự biến đổi của gia đình Việt
nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI Đồng thời nhấn mạnh cơ sở hình thành của gia đình văn hóa là sự kế thừa có chọn lọc giá trị đạo đức gia đình truyền thống
và sự tiếp biến giá trị tư tưởng hiện đại Tiếp đó, đưa ra một số biện pháp xây dựng gia đình văn hóa mà theo tác giả, biện pháp quan trọng nhất chính là vai trò và trách nhiệm của mỗi gia đình
Tác giả Khổng Diễn (chủ biên), (2001) với “Dân số - kế hoạch hóa gia đình các dân tộc ở Hòa Bình”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội đã tập trung làm rõ thực
trạng gia đình đồng bào các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình đồng thời nêu lên điển hình trong phong trào xây dựng gia đình văn hóa, giải pháp, phương hướng xây dựng gia đình mới – gia đình văn hóa phù hợp với tâm lý truyền thống tộc người và sự phát triển chung của đất nước trong thời kỳ Đổi mới công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Trang 7Tác giả Đỗ Kim Thịnh với chuyên đề “Gia đình văn hóa, làng văn hóa trong nông thôn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 57(8/1997) và Lê Thi với chuyên đề
“Gia đình văn hóa trong sự đổi mới đất nước hiện nay”, Tạp chí thông tin lý luận số
14(3/1995) đã đánh giá: từ khi có chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, không chỉ có làng, thôn được trả lại vị trí vai trò quan trọng của mình trong cơ cấu hành chính xã hội mà gia đình cũng được khẳng định như một đơn vị kinh tế độc lập, khẳng định mức sống gia đình được cải thiện Điều kiện đáp ứng nhu cầu văn hóa của mỗi gia đình cũng được mở rộng, dân trí phát triển Trong phong trào xây dựng làng, ấp văn hóa, khối phố văn minh đang phát triển sôi nổi khắp nơi trong nước, công tác xây dựng gia đình văn hóa nổi lên như một nhiệm vụ trung tâm là biểu hiện của sự vận động đi lên tất yếu của gia đình Việt Nam trong giai đoạn đổi mới
TS Nguyễn Văn Tuấn trong chuyên đề “Vấn đề xây dựng gia đình Việt Nam trong văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Gia đình và trẻ em (2006) với
phương châm nêu những nội dung mới về vấn đề gia đình trong văn kiện Đại hội X
so với cùng những nội dung đó nhưng được đề cập ở các văn kiện trước đó tính từ thời kỳ đổi mới Chuyên đề đã nêu những kết quả và hạn chế của việc thực hiện phong trào xây dựng gia đình văn hóa trong 5 năm (2001 - 2006) và đề xuất những kiến nghị để thực hiện nghiêm túc nội dung xây dựng gia đình Việt Nam đã được khẳng định tại Đại hội X của Đảng
Tác giả Trần Thị Tuyết Mai trong “Văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ hội nhập”, Tạp chí Điện tử Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay 3/1999 và Vũ Thị Huệ trong “Danh hiệu gia đình văn hóa- giá trị tích hợp của văn hóa gia đình Việt Nam ngày nay”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, 2008; “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng gia đình văn hóa”
của Phan Văn Phờ - Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh Quảng Nam, Tạp chí Tuyên giáo 5/2009 đã đi sâu phân tích khái niệm gia đình văn hóa, xây dựng và vun đắp các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, những vấn đề cơ bản của gia đình Việt Nam trong quá trình chuyển đổi hội nhập quốc tế Từ đó, các tác giả khẳng
Trang 8định vai trò của mỗi gia đình, cộng đồng trong việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em nhằm xây dựng hạnh phúc con người
Tác giả Đỗ Thị Thạch trong bài viết “Về xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 56 (8/2011) đã tập
trung phân tích làm rõ nghị quyết Đại hội XI về vai trò của gia đình, tầm quan trọng của việc xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ mới
Ngoài ra, nghiên cứu về gia đình cũng còn là mảng chủ đề nhận được sự quan tâm mạnh mẽ của nhiều luận án khoa học thạc sĩ, tiến sĩ Đã có một số luận văn, luận án như sau:
Tác giả Lê Cẩm Lệ (2001), “Phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay”, luận văn thạc sỹ chuyên ngành
chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả Nguyễn Thị Luân (2005), “Xây dựng gia đình văn hóa ở làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh hiện nay”, luận văn thạc sỹ chuyên ngành chủ nghĩa xã
hội khoa học
Tác giả Vũ Thị Thanh Phúc (2007), “Giải quyết xung đột gia đình nhằm xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta hiện nay”, luận văn thạc sỹ chuyên ngành chủ
nghĩa xã hội khoa học
Một số bài viết, bài chuyên khảo về gia đình cũng đã được đăng trên các tạp chí như: Tạp chí Thanh niên; Khoa học và phụ nữ; Xã hội học; Tâm lý học; Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật; các báo cáo tại các hội nghị khoa học về gia đình, giới, phụ nữ; dân số, trẻ em…
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về gia đình và gia đình văn hóa kể trên đã góp phần đáng kể trong việc tìm hiểu về vấn đề gia đình Việt Nam cả truyền thống và hiện đại, đã khắc họa được những thay đổi trong gia đình Việt Nam nhất là trong thời kỳ đổi mới từ 1986 tới nay Những kinh nghiệm nghiên cứu cũng như những gợi ý về lý thuyết và phương pháp luận từ những công trình đó là bài học
Trang 9quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa ở luận văn này
Như vậy, xây dựng gia đình văn hóa đã được nghiên cứu song vấn đề thực hiện chính sách về xây dựng gia đình văn hóa ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa chưa được bàn đến một cách toàn diện và hệ thống; những bất cập trong việc thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa ở huyện này cũng chưa được đánh giá, bàn luận thấu đáo Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa ở huyện Cẩm Thủy” với mong muốn đưa ra cách nhìn nhận cụ thể toàn diện và hệ thống hơn thực trạng thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hoá tại địa phương
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam, luận văn đi sâu khảo sát, đánh giá thực trạng xây dựng gia đình văn hóa ở huyện Cẩm Thủy để chỉ rõ những thành công và hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa ở địa phương trong thời gian tới
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ như sau:
- Hệ thống hóa các tài liệu lý thuyết về chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, trong đó bao gồm cả việc nghiên cứu thực hiện các chính sách chung của nhà nước, việc ban hành và thực hiện các chính sách cụ thể của địa phương, kết quả tác động của chính sách và những vấn đề đặt ra từ đó
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và phương pháp nghiên cứu chính sách công Lý thuyết chính sách công được áp dụng qua thực tiễn giúp cho hình thành lý luận về chính sách xây dựng gia đình văn hoá
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp thu thập nguồn tài liệu thứ cấp: Tập hợp và phân tích các nguồn tư liệu có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu,
Trang 11Nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách xây dựng gia đình văn hoá tại huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá
- Phương pháp quan sát thực tế: Thông qua quan sát thực tế đối với quá trình thực hiện của các chủ thể và đối tượng thực hiện chính sách để đánh giá được vai trò trách nhiệm hoặc thái độ của từng đối tượng trong việc thực hiện chính sách
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Nhằm thu thập đánh giá được các thông tin liên quan đến các thành phần, đối tượng về mối quan tâm đến chính sách, hoặc nhận thức về vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện chính sách
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp hay thao tác nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài vận dụng các lý thuyết về thực hiện chính sách công để nghiên cứu thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, có ý nghĩa bổ sung lý luận Kết quả đánh giá nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết liên quan đến chính sách công, từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện
chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ việc phân tích thực trạng thực hiện chính sách và đề xuất kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính xây dựng gia đình văn hóa của huyện Cẩm Thủy, luận văn góp phần cung cấp thêm nguồn tài liệu, những cơ
sở khoa học cho chính quyền, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của huyện Cẩm Thủy trong quá trình thực thi chính sách một cách hiệu quả góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Trang 127 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa ở
huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng gia
đình văn hóa tại huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
GIA ĐÌNH VĂN HÓA
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về chính sách và chính sách văn hoá
1.1.1.1 Khái niệm về chính sách
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: "Chính sách là những chuẩn tắc
cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong thời gian nhất định, trên nhiều lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa …” Theo GS James Anderson - cựu Chủ tịch Tổ chức nghiên cứu chính sách của Hiệp hội khoa học Mỹ thì cho rằng: "Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm"
Như vậy, có thể hiểu chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để giải quyết một số vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình
Chính sách công là một loại chính sách do các chủ thể quản lý nhà nước ban hành và được hiểu là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề phát triển theo mục tiêu tổng thể đã xác định [10, tr.12]
1.1.1.2 Khái niệm về chính sách văn hoá
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về chính sách văn hoá như sau:
“Chính sách văn hóa là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm
cơ sở cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật”
Chính sách văn hóa có các công cụ khác nhau, gồm: Luật pháp và các
Trang 14phương pháp hành chính; ngân sách và hệ thống thuế, trong đó các bộ luật, luật, văn bản pháp quy; cách thức đầu tư từ ngân sách, hệ thống thuế là công cụ quan trọng nhất để điều hành sự phát triển văn hóa
Các chính sách văn hóa đều là các thực hành nhà nước dựa trên các nguồn lực về tài chính, vật lực và nhân lực, trong những điều kiện có thể có của thời điểm Các tổ chức văn hóa dựa vào các nguồn lực này mà triển khai các hoạt động thực thi chính sách
Như vậy, một chính sách văn hóa được thể hiện ở quan điểm, mục tiêu, thể chế và các chương trình hành động Đối với nước ta, quan điểm, mục tiêu được thể hiện qua các văn kiện đại hội của Đảng, nghị quyết và các kết luận của các Hội nghị Trung ương Đảng Về thể chế, đã có các bộ luật, thông tư, nghị định và Chiến lược phát triển văn hóa Về chương trình hành động, Chính phủ đã chỉ đạo tập trung vào một số phong trào và triển khai các hoạt động cụ thể thực hiện các văn bản pháp quy về văn hóa
Trong bối cảnh của Việt Nam, khái niệm chính sách văn hóa đã được xác định dựa trên các quan niệm về văn hóa, về vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước, xây dựng con người mới của chế độ mới, văn hóa được coi là một lĩnh vực của công tác tư tưởng, văn hóa là một mặt trận, bên cạnh các chức năng đặc thù khác về mặt thẩm mỹ, giải trí, tái tạo, sáng tạo
1.1.2 Khái niệm gia đình và gia đình văn hoá
1.1.2.1 Khái niệm gia đình
Gia đình là một khái niệm mở có nội dung phức tạp, đa dạng và có tính lịch
sử, đồng thời với tư cách là một thiết chế xã hội có sức sống bền bỉ mãnh liệt nhất, gia đình đã khẳng định vị trí quan trọng của mình trong tiến trình phát triển của xã hội loài người Gia đình đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào từng góc nhìn của các ngành khoa học và nhà khoa học khác nhau, trong đó có một số định nghĩa đáng chú ý như:
Trang 15Mác coi gia đình là một trong những nhân tố đầu tiên tham gia quyết định sự hình thành và phát triển của lịch sử, quan hệ giữa gia đình và xã hội như quan hệ
giữa tế bào với cơ thể sống, “Quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử là hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người tạo
ra những người khác sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái Đó là gia đình” [10, tr.41]
Thực tế đã chứng minh, những luận điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin
là hoàn toàn có cơ sở khoa học, có giá trị thực tiễn cao, đặc biệt là tư tưởng về những biến đổi của gia đình phụ thuộc và gắn liền với sự biến đổi của các điều kiện kinh tế xã hội
UNESCO quan tâm đến giá trị của gia đình trong vốn tinh thần của nhân loại, nghĩa là gia đình của tất cả các thời đại, các châu lục đều mang đặc trưng chung của con người, đều mang tính nhân văn, nhân ái và nhân đạo và khẳng định: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng sống chung và có ngân sách chung
Như vậy, theo quan điểm này, khái niệm “gia đình” mang ba đặc trưng:
Một là, gia đình được tạo ra bởi hai mối quan hệ hôn nhân và huyết thống thường gồm vợ chồng, cha mẹ và con cái; Hai là, gia đình ra đời, tồn tại cùng với sự ra đời
và tồn tại của xã hội loài người; Ba là, gia đình là đơn vị nhỏ nhất trong xã hội có nền kinh tế chung, gắn bó với nhau bởi quyền lợi và nghĩa vụ bắt buộc về mặt pháp lý
Tác giả Lê Thi, chuyên gia nghiên cứu về gia đình cho rằng, gia đình như ở nước ta là một tập thể cố kết với nhau về trách nhiệm và tình thương, giữa họ có những điều ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ Đồng thời lại gồm những cá nhân có cá tính, năng lực, xu hướng phát triển khác nhau được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống [46, tr.20-21] Cùng quan điểm với tác giả Lê Thi, tác giả Nguyễn Quốc Tuấn, nhà nghiên cứu luật học
nhận định: “Gia đình là một tập hợp người dựa trên các quan hệ về hôn nhân và
Trang 16huyết thống và về nuôi dưỡng đã gắn bó những người có quan hệ với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân thân, bởi sự cộng đồng về đạo đức và vật chất, để tương trợ cùng nhau làm kinh tế chung và nuôi dạy con cái” [51, tr.16]
Đây có thể được xem như một định nghĩa khá hoàn chỉnh phản ánh được đặc trưng vốn có của gia đình
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cho rằng: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định”
[33, tr.7] Đây là quan điểm chính thống và là cơ sở pháp lý của Nhà nước ta để giải quyết vấn đề gia đình, đồng thời được sử dụng làm định nghĩa chính thức về gia đình trong luận văn
1.1.2.2 Khái niệm gia đình văn hóa
Gia đình văn hóa là một thuật ngữ dùng để chỉ một danh hiệu, một kiểu mẫu phong tặng cho những gia đình thực hiện tốt những tiêu chuẩn trong mô hình mẫu
ấy đặt ra
Gia đình văn hóa được coi như một kiểu gia đình mới, khác với gia đình truyền thống hoặc gia đình cũ trong thời kỳ phong kiến, thực dân bởi trong gia đình, ngoài các yếu tố truyền thống đã được chọn lọc và phát huy còn có những yếu tố mới của thời đại đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội Như vậy, khái niệm gia đình văn hóa là sự kế thừa văn hóa gia đình truyền thống được nâng cao lên thành giá trị văn hóa gia đình hiện đại - gia đình phát triển về vật chất và tinh thần thể hiện qua nề nếp, kỷ cương, thuận hòa, êm ấm, yêu thương và có trách nhiệm với nhau giữa các thành viên trong gia đình Về điều này, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Về tinh thần thì phải trên dưới thuận hòa không thiên tư thiên ái, bỏ thói mẹ chồng hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng Về vật chất từ ăn mặc đến việc làm phải ăn đều tiêu song có kế hoạch ngăn nắp Cưới hỏi, giỗ tết nên đơn giản, tiết kiệm Trong nhà, ngoài vườn sạch sẽ gọn gàng Đối với xóm giềng phải thân mật và sẵn sàng giúp đỡ Đối với việc làng, việc nước phải hăng hái làm gương Người
Trang 17trong nhà ai cũng biết chữ Luôn luôn cố gắng làm cho nhà mình thành một nhà kiểu mẫu trong làng Các gia đình cần tích cực tham gia vào các hoạt động văn hóa của cộng đồng và lôi cuốn các thành viên cùng tham gia qua đó giúp cho thành viên gia đình tiếp thu những giá trị văn hóa dân tộc và làm cho nó trở thành giá trị văn hóa gia đình Thực hiện tốt chức năng biến văn hóa xã hội thành văn hóa cá nhân bằng sự giáo dục và trao truyền văn hóa của mình” [37, tr.100]
Ngày nay, gia đình văn hóa là gia đình phát huy được những truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là
tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc với những đặc trưng khái quát sau:
Thứ nhất, gia đình văn hóa là gia đình ấm no, thuận hòa, tiến bộ, khỏe mạnh
và hạnh phúc, gia đình có kinh tế ổn định, hòa thuận, có kỷ cương nền nếp, không
có người mắc các tệ nạn xã hội; thực hiện nếp sống văn minh, giữ gìn thuần phong
mỹ tục, không sử dụng loại văn hóa phẩm thuộc loại cấm lưu hành; trẻ em đang độ tuổi đi học đều được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học trở lên; các thành viên trong gia đình chăm lo rèn luyện sức khỏe, giữ gìn vệ sinh và phòng bệnh, vợ chồng bình đẳng, giúp đỡ nhau, có trách nhiệm nuôi dạy con cái, con cháu hiếu thảo với bố mẹ, ông bà
Thứ hai, gia đình thực hiện tốt nghĩa vụ công dân bao gồm các thành viên
trong gia đình thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vệ sinh môi trường và nếp sống văn hóa nơi cộng đồng; tham gia bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh của địa phương; xây dựng lối sống lành mạnh, không mê tín dị đoan Không vì lợi ích của bản thân, gia đình mà làm ảnh hưởng, cản trở đến
Trang 18đời sống của mọi người và gia đình khác Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội
Thứ ba, mỗi cặp vợ chồng sinh con không vi phạm chính sách kế hoạch hóa
gia đình Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), kế hoạch hóa gia đình gồm những mục tiêu: Tránh được những trường hợp sinh con không theo ý muốn, đạt được những trường hợp sinh con theo ý muốn, điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh, chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với độ tuổi của bố mẹ Có kế hoạch phát triển kinh
tế, làm giàu chính đáng; có kế hoạch tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm; đời sống vật chất
và văn hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình ngày càng nâng cao
Thứ tư, gia đình đoàn kết tương trợ với cộng đồng dân cư, tương trợ giúp đỡ
nhau trong lao động sản xuất, khi khó khăn, hoạn nạn; tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, hưởng ứng
cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”; tham gia hòa giải các mối quan hệ bất đồng
trong địa bàn dân cư; tham gia các hoạt động xã hội từ thiện nhằm xây dựng địa bàn dân cư ổn định, vững mạnh; vận động các gia đình khác cùng tham gia
Trên cơ sở quan niệm về gia đình văn hóa nêu trên, có thể xem gia đình văn hóa là sự kế thừa giá trị văn hóa gia đình truyền thống Việt Nam, tiếp biến thêm các giá trị văn hóa của thời đại để phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, hướng tới mục tiêu làm cho gia đình thực sự
là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người Đề cao giá trị văn hóa gia đình và vai trò của gia đình văn hóa là mục tiêu có tính chiến lược cấp bách trong sự nghiệp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phù hợp với truyền thống đạo lý của dân tộc và quy luật phát triển tất yếu của xã hội
1.2 Thực tiễn chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại Việt Nam
1.2.1 Nội dung của chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Hiện nay, xây dựng gia đình văn hóa nổi lên như một nhiệm vụ trung tâm trong giai đoạn đổi mới Xét một cách tổng thể, chúng ta đã có một khuôn khổ tương đối đồng bộ và thuận lợi cho sự phát triển của gia đình và làm cơ sở lý luận
Trang 19cho chiến lược phát triển gia đình Việt Nam Khẳng định phong trào xây dựng gia đình văn hoá theo hướng phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình truyền thống, bồi dưỡng cho trẻ em đức hiếu thảo, trung nghĩa, lòng nhân ái, vị tha là sự hỗ trợ cho việc tiếp thu các tư tưởng tiên tiến hiện đại, quán triệt tinh thần dân chủ, bình đẳng trong quan hệ người và người Do đó, trách nhiệm của gia đình trong việc nuôi dạy thế hệ trẻ thành những con người chân chính, trở thành nguồn nhân lực có chất lượng, thành những nhân tài xuất sắc cho đất nước là một yếu tố quyết định tới
sự thành công của Việt Nam trong thiên niên kỷ mới Đây là điểm mấu chốt để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá, giữ gìn đạo lý truyền thống của dân tộc
Từ khi xuất hiện (1960) đến nay, phong trào xây dựng gia đình văn hoá luôn được Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đôn đốc, đưa ra những quan điểm đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ để góp phần vào phong trào chung của quá trình phát triển kinh tế của đất nước Những quan điểm, chủ trương đó được thể hiện cụ thể trong các Nghị quyết qua các kỳ Đại hội của Đảng
Tại Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình” [14, tr 95]
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng khẳng định: “Xây dựng gia đình văn hóa mới có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, thực hiện kế hoạch hóa dân
số, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình với mọi người Kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, đoàn thể, nhà trường, tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc chăm
lo bồi dưỡng tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống văn hóa” [16, Tr.83]
Trang 20Tiếp đó, tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng, Đại hội gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, Đảng ta chỉ rõ: “Phổ biến kịp thời các tác phẩm tốt, đưa các nhân tố văn hóa tinh thần nhân văn thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ cách ứng xử trong gia đình, trường học, xã hội đến các hoạt động sản xuất kinh doanh… Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến
bộ và hạnh phúc làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác” [17, Tr.112]
Đến Đại hội lần thứ IX của Đảng vấn đề gia đình tiếp tục được đề cập: “Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hóa làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” [19, tr.116 -117]
Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định: “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn
và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [20, tr.103-104]
Đại hội lần thứ XI, Đảng đã xác định những giải pháp và phương hướng quan trọng: “Tiếp tục đưa phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, đơn vị, doanh nghiệp… Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ…” [21, tr.85]
Trang 21Cụ thể hoá những quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ và các Bộ ngành liên quan đã ban hành ra nhiều các văn bản chỉ đạo thực hiện, cụ thể như sau:
Năm 1967, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 3-CP về việc đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hoá, gia đình 5 tốt đi đôi với việc xây dựng nông thôn mới và thành thị mới để phát triển nếp sống văn minh Tiếp đó, sau khi đất nước được thống nhất, Bộ Văn hoá kết hợp với Trung ương Hội phụ nữ Việt
Nam ra thông tư liên bộ số 35/TT ngày 12/5/1975 với ba nội dung: “Xây dựng gia đình hoà thuận, dân chủ, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ; hăng hái lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm; nghiêm chỉnh chấp hành chính sách của Nhà nước”
Năm 1998 Chính phủ ban hành Chương trình hành động số 1109/CP-VX về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 8
về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Năm 2000 Bộ văn hoá - Thông tin ban hành Quyết định số
05/2000/QĐ-BVHTT về việc ban hành Kế hoạch triển khai phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
Năm 2003 Quốc hội ban hành Luật thi đua khen thưởng trong đó quy định: Danh hiệu thi đua đối với hộ gia đình (điều 20) là gia đình văn hóa, được xét tặng
danh hiệu “Gia đình văn hóa” đạt các tiêu chuẩn: Gương mẫu chấp hành chủ trương
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương nơi cư trú Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ; tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả
Ngày 10/10/2011 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL về việc quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ
sơ công nhận danh hiệu gia đình văn hóa, thôn văn hóa, làng văn hóa, ấp văn hóa, tổ dân phố văn hóa và tương đương
Trang 22Ngày 29/5/2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 629/QĐ-TTg
về việc phê duyệt chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
2030
Có thể khẳng định rằng từ khi có chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, gia đình được khẳng định như một đơn vị kinh tế độc lập, mức sống của gia đình nói chung được cải thiện và nâng cao, điều kiện tự đáp ứng nhu cầu văn hoá của mỗi gia đình cũng mở rộng, dân trí phát triển Chưa bao giờ gia đình lại có sự phát triển về sức mạnh sáng tạo, tự chủ mạnh mẽ về kinh tế, về đời sống trí tuệ, tinh thần như vậy Công tác xây dựng gia đình văn hoá nổi lên như một nhiệm vụ trung tâm,
là biểu hiện sự vận động đi lên tất yếu của gia đình Việt Nam trong giai đoạn đổi mới
1.2.2 Vấn đề chính sách
Trước thực trạng phát triển của gia đình hiện nay, có thể thấy vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế, yếu kém làm ảnh hưởng tới phát triển chung của toàn xã hội Gia đình Việt Nam hiện nay cũng đang đứng trước những thách thức không nhỏ, có nguy cơ mất đi tính bền vững vốn có Những chuẩn mực được coi là nền tảng của gia đình trước kia thường bị gộp vào với các yếu tố lạc hậu để phê phán mà không phân biệt đâu là yếu tố tích cực cần sự ổn định, đâu là yếu tố tiêu cực cần phải biến đổi Chẳng hạn, quan hệ trong nhiều gia đình ngày nay trở nên lỏng lẻo, tình cảm phai nhạt, con cái không tôn trọng bố mẹ, thậm chí hỗn xược, đánh đập, giết hại cha mẹ; người lớn không quan tâm, buông trôi trách nhiệm trong việc chăm nom dạy dỗ con trẻ; vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân và trước tuổi vị thành niên, hiện tượng sống chung, sống thử trở thành một thách thức không nhỏ đối với các bậc cha
mẹ và các nhà quản lý chính quyền, đoàn thể; việc ly hôn gắn liền với nguyên nhân xung đột gia đình, hiện tượng ngoại tình, lừa dối về tình cảm… để lại những hậu quả xấu đối với tâm lý, tình cảm của hai bên và chăm sóc giáo dục con cái Lối sống thực dụng đang gặm nhấm những giá trị vốn được coi là thiêng liêng, bất khả xâm phạm của người Việt Bên cạnh đó, mặt trái của kinh tế thị trường trong những năm
Trang 23gần đây đã và đang gây nên những chấn động, những thử thách đối với gia đình: xu hướng chạy theo các tiện nghi vật chất, đề cao đồng tiền dẫn đến sự suy đồi đạo đức, sự phân hoá giàu - nghèo giữa các gia đình có xu hướng tăng, hiện tượng phục hồi các hủ tục và tiếp thu lối sống thực dụng, tiêu cực, văn hóa ngoại lai có chiều hướng phát triển làm rạn nứt nền tảng gia đình và truyền thống đạo lý mà ông cha ta
1.2.3 Mục tiêu của chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Tại Đại hội XI, Đảng ta nhấn mạnh: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” Những mục tiêu mà Đảng đã xác định cho thấy được sự quan tâm của Đảng ta đối với việc xây dựng gia đình văn hóa nhằm đạt tới mục tiêu cuối cùng là làm cho cuộc sống của người dân trở nên tốt đẹp hơn, tạo điều kiện cho con người phát triển một cách toàn diện Đức – Trí – Thể - Mỹ, hướng con người tới các giá trị chân – thiện – mỹ của xã hội
1.2.4 Tổ chức thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa
1.2.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Từ những mục tiêu, quan điểm của Đảng về xây dựng gia đình văn hóa, Chính phủ cần phải xây dựng các kế hoạch triển khai chính sách Đây là nhiệm
Trang 24vụ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa Hiệu quả của việc thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa trên thực tế phụ thuộc vào tính chính xác, tính khả thi của các kế hoạch thực hiện chính sách của Nhà nước
Kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa đã quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị cũng như chế độ báo cáo, kinh phí tổ chức thực hiện Các đơn vị, cơ quan được giao nhiệm vụ cụ thể sẽ xây dựng các kế hoạch cho việc xây dựng và phát triển gia đình văn hóa ở địa phương nhằm thực hiện chính sách có hiệu quả
1.2.4.2 Phổ biến, tuyên truyền thức hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Sau khi hoàn thiện việc xây dựng các kế hoạch để thực hiện chính sách là việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách xây dựng gia đình văn hóa giúp cán bộ, công chức làm nhiệm vụ xây dựng gia đình văn hóa ở các địa phương và nhân dân sẽ nắm bắt được việc triển khai thực hiện chính sách trong thực tế
Ở các địa phương, cơ sở thì tuyên truyền bằng hình thức như: băng rôn, khẩu hiệu, pa nô, áp phích, phướn bên đường, qua hệ thống phát thanh cấp huyện, xã tuyên truyền đến cán bộ, nhân dân biết và nắm được chính sách về xây dựng gia đình văn hóa Các ban ngành đoàn thể như Thanh niên, Nông dân, Phụ nữ, Cựu chiến binh tuyên truyền đến từng hội viên của mình Từ đó, mọi người dân sẽ tích cực tham gia vào việc xây dựng gia đình văn hóa, nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách trên thực tế
1.2.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Trong tổ chức và thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa thì phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải có sự phân công,
Trang 25phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp Đó là việc phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực hiện chính sách; xác định tổ chức, cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các tổ chức cá nhân tham gia phối hợp trong quá trình thực hiện chính sách
Về trách nhiệm đối với việc soạn thảo, ban hành và thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì phối hợp với các
Bộ như: Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Các cơ quan thuộc Chính Phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
1.2.4.4 Duy trì chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Khi chính sách được đưa vào thực hiện thì việc duy trì thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa là việc làm rất quan trọng Duy trì thực hiện chính sách
là làm cho chính sách tồn tại và phát huy được tác dụng, hiệu quả trên thực tế như mong muốn của các nhà làm chính sách Tuy nhiên, trên thực tế, trong quá trình thực thi chính sách áp dụng có những tồn tại, hạn chế khó tránh khỏi như: chưa tạo lập được một hệ thống thể chế đồng bộ, chất lượng các văn bản luật còn nhiều hạn chế, từ quy trình xây dựng, ban hành đến áp dụng Do nhiều yếu tố về tài chính, cơ
sở vật chất, nguồn nhân lực mà chính sách xây dựng gia đình văn hóa ở nhiều các địa phương còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vùng núi, dân tộc thiểu số, biên giới hải đảo
Duy trì chính sách xây dựng gia đình văn hóa yêu cầu phải có sự thống nhất trong quản lý của nhà nước về gia đình văn hóa cũng như công tác phối hợp thực hiện giữa các cấp các ngành trong thực hiện chính sách để chính sách có thể thực hiện một cách có hiệu quả nhất trong đời sống nhân dân
1.2.4.5 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách theo dõi, đôn đốc, kiểm tra là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng trong thực hiện chính sách bởi nó giúp bổ sung
Trang 26đồng thời hoàn thiện chính sách đồng thời tạo ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu chính sách
Thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa trên thực tế thì việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện là rất quan trọng Chính phủ thường xuyên quan tâm kiểm tra tiến độ thực hiện của các Bộ, ngành, các bộ có trách nhiệm kiểm tra các tỉnh, UBND cấp tỉnh sẽ kiểm tra đôn đốc thực hiện công tác xây dựng văn hóa gia đình văn hóa ở các địa phương trên địa bàn quản lý Công tác kiểm tra đôn đốc thường xuyên việc thực hiện chính sách đảm bảo các mục tiêu mà kế hoạch đã đặt
đủ, tính hiệu quả, hiệu suất và tác động của chính sách nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách giải quyết thành công các vấn đề chính sách công trong tương lai” [23, tr.47] Đánh giá việc thực hiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là xem xét, kiểm định các mục tiêu của chính sách xây dựng gia đình văn hóa đã được triển khai trên thực tế có đạt được hay không như: mức sống của người dân có tăng không, trình độ dân trí có được cải thiện không, mức hưởng thụ các giá trị văn hóa …Do đó, hàng năm, háng tháng, quý thì các cơ quan, tổ chức, đơn vị tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện để từ đó rút ra những kinh nghiệm, những cái đước, hạn chế để khắc phục cho giai đoạn tiếp của chính sách
1.2.5 Chủ thể trong thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Trong thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa thì các chủ thể thực thi chính sách và trách nhiệm của các chủ thể như sau:
Trang 27Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan thường trực tổ chức triển khai thực hiện Chương trình, Kế hoạch; chủ trì triển khai các nội dung về xây dựng văn hóa và gia đình văn hóa; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định các giải pháp tăng cường công tác chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa; hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa và dự toán ngân sách hàng năm
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo nhân lực đối với các trường văn hóa, nghệ thuật; tổ chức các hình thức thích hợp để học sinh, sinh viên nâng cao kiến thức về lịch sử, văn hóa, truyền thống gia đình, di tích lịch sử - văn hóa
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ đạo các ngành và các địa phương đưa kế hoạch phát triển văn hóa, gia đình văn hóa vào kế hoạch định kỳ của ngành, địa phương; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch huy động các nguồn tài trợ trong và ngoài nước cho phát triển văn hóa nói chung, gia đình văn hóa nói riêng
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xác định tỷ lệ ngân sách hàng năm chi cho văn hóa, xây dựng gia đình văn hóa; hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính và cơ chế quản lý tài chính trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật để sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính đầu
tư cho văn hóa; xây dựng các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế - xã hội đầu tư cho văn hóa
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện cải cách hành chính trong công tác quản lý văn hóa; xác định biên chế, xây dựng các chế độ, chính sách đối với cán bộ ngành văn hóa, đối với các tập thể, cá nhân tham gia xã hội hóa các hoạt động văn hóa, gia đình văn hóa
Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch và các Bộ, ngành liên quan xây dựng cơ chế, chính sách để phát triển và
Trang 28quản lý tốt xuất bản phẩm về văn hóa, văn học, nghệ thuật; văn hóa mạng; quản lý phim ảnh về xây dựng gia đình văn hóa
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo chức năng và nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các
Bộ, cơ quan khác triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển gia đình văn hóa trên phạm vi toàn quốc
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn theo thẩm quyền; xây dựng và chỉ đạo thực hiện các kế hoạch phát triển văn hóa và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Trong tổ chức triển khai thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hoá có nhiều yếu tố ảnh hưởng Có thể chỉ ra những yếu tố cơ bản sau:
1.2.6.1 Hệ thống cơ chế, chính sách của nhà nước; năng lực của đội ngũ cán
bộ công chức thực thi chính sách
Cơ chế, chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hoá Các chính sách chung tạo ra khuôn khổ pháp lý, môi trường KT-XH, tâm lý khuyến khích tất cả các thành phần xã hội tham gia xây dựng gia đình văn hoá, đồng thời việc bổ sung hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống chính sách liên quan nhằm phù hợp với tình hình thực tế, sự biến đổi vận động của xã hội là hết sức cần thiết
Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp trong công tác xây dựng gia đình văn hóa có tác động quan trọng đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hoá Cán bộ công chức được đào tạo đúng chuyên môn, bố trí vị trí công tác phù hợp, có đạo đức công vụ, có tinh thần thần trách nhiệm cao, có năng lực về thiết kế tổ chức thực hiện thì tât yếu kết quả thực hiện sẽ cao, mục tiêu chính sách sẽ sớm đạt được Nếu thiếu năng lực chuyên môn, không bám sát thực
Trang 29tế, lực lượng cán bộ công chức được giao nhiệm vụ tại các cơ quan có thẩm quyền
tổ chức thực hiện chính sách sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách, gây lãng phí nguồn lực được huy động…
1.2.6.2.Yếu tố truyền thống gia đình
Truyền thống gia đình được thể hiện trong kết cấu, tổ chức, lễ nghi gia đình đến các quan hệ trong gia đình, là sợi dây cột chặt các thành viên trong gia đình lại với nhau bởi tình cảm, đạo đức, trách nhiệm, nghĩa vụ Hiện nay, trước những thay đổi của các giá trị truyền thống dân tộc, trong đó có giá trị truyền thống gia đình thì mỗi gia đình còn có vai trò to lớn trong việc gìn giữ, lưu truyền và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp Truyền thống gia đình Việt Nam thể hiện ở sự thủy chung và tình nghĩa giữa vợ và chồng, là sự chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống; là trách nhiệm của cha mẹ với con cái; là sự coi trọng gia đình và huyết thống, dòng tộc; là
sự đề cao vai trò của người phụ nữ, người vợ, người mẹ trong gia đình; là sự trân
trọng, lưu truyền và phát huy “Đạo hiếu”; là lòng biết ơn, tôn kính ông bà tổ tiên; là
tình anh em gắn bó keo sơn; là sự đề cao tính cộng đồng; là tinh thần đoàn kết xóm giềng; là tình yêu quê hương đất nước… Tất cả những giá trị đó được thẩm định, làm nền tảng cho sự ổn định xã hội, là cơ sở duy trì hạnh phúc và sự bền vững của đời sống gia đình.Những truyền thống ấy là lực đẩy, điểm tựa lớn cho quá trình xây dựng gia đình văn hóa, là giá trị cốt lõi đảm bảo xây dựng gia đình Việt Nam ngày
càng “bình đẳng, no ấm, tiến bộ, hạnh phúc” Phát huy nét đẹp truyền thống của gia
đình Việt Nam là một trong những nội dung quan trọng trong xây dựng gia đình mới ở nước ta Đó là xây dựng gia đình văn hóa trên cơ sở kế thừa, gìn giữ và phát huy các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống, đóng góp tích cực vào phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Mặt khác, không phải mọi yếu tố của gia đình truyền thống đều mang tính tích cực và đều tồn tại mãi mãi với thời gian Truyền thống gia đình bao gồm những mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời và những cái không còn phù hợp khi điều kiện lịch sử đã thay đổi Chẳng hạn, sự bất bình đẳng giữa con trai, con gái trong gia đình; thói gia
Trang 30trưởng, mâu thuẫn xung đột giữa các thế hệ về phép ứng xử, lối sống, tâm lý bình quân chủ nghĩa, thích sự cào bằng còn hiện hữu đã và đang làm cho gia đình truyền thống trở thành vật cản kìm hãm và níu kéo sự phát triển của gia đình nói riêng và xã hội nói chung Như vậy, vấn đề đặt ra là truyền thống của gia đình phải chuyển biến vượt qua mặt lạc hậu, những khủng hoảng, tiếp nhận những phẩm chất mới để xây dựng gia đình văn hoá hiện đại, dung hòa giữa cái cũ và cái mới, để những giá trị truyền thống có cơ hội phát huy một cách tốt nhất nâng lên thành giá trị văn hoá gia đình hiện đại - gia đình dân chủ xã hội chủ nghĩa - gia đình văn hoá
1.2.6.3.Yếu tố nhận thức
Trong sự biến đổi của xã hội, thiết chế gia đình cũng luôn luôn vận động để thích nghi với những điều kiện mới Do đó, sự tiếp thu những nhân tố của thời đại mới về gia đình góp phần hoàn thiện chính sách về xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam nói chung và huyện Cẩm Thuỷ nói riêng là điều tất yếu
Hiện nay, xây dựng gia đình văn hóa gắn kết chặt chẽ với quá trình xây dựng
hệ giá trị nhân văn tiến bộ về bình đẳng giới, quyền trẻ em, quyền và vai trò của người phụ nữ, tôn trọng tự do cá nhân, dân chủ trong mọi quan hệ, bình đẳng trong nghĩa vụ và trách nhiệm… nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này là nội dung cốt lõi, có tác động mạnh mẽ đảm bảo sự thành công và sức lan tỏa của phong trào xây dựng gia đình văn hóa
Nhận thức rõ vị trí, vai trò của gia đình trong giai đoạn hiện nay chính là khẳng định tầm quan trọng, vị trí, vai trò của gia đình văn hóa trong việc hình thành con người của xã hội tương lai, là điều kiện thuận lợi cho các cá nhân học tập, rèn luyện và phát triển những phẩm chất đạo đức, vun đắp tình yêu thương, yêu lao động, khám phá ra những tri thức mới, ý tưởng mới, sáng tạo mới, có ý thức độc lập
tự chủ Đặc biệt, gia đình còn trang bị cho mỗi người những kỹ năng sống - yếu tố giúp cá nhân thích ứng và hòa mình vào sự vận động và phát triển của xã hội
Nhìn một cách tổng quan, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước khẳng định chủ thể xây dựng gia đình văn hóa là từng gia đình, từng
Trang 31thành viên trong gia đình, là công việc lâu dài bền bỉ, là trách nhiệm của toàn xã hội, nằm trong mục tiêu chiến lược phát triển con người toàn diện, vươn tới một xã hội công bằng văn minh Nhưng không phải lúc nào, và ở bất cứ đâu những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng được hiểu và nhìn nhận đúng Vì vậy, thấm nhuần và thực hiện tốt chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước chính là chúng ta đang đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển bền vững của gia đình văn hóa Việt Nam Xây dựng gia đình văn hóa có vai trò làm
ổn định tình hình kinh tế xã hội, tạo điều kiện để phát triển kinh tế, đem lại hạnh phúc cho mỗi thành viên trong gia đình cũng như xã hội; đảm bảo nhu cầu vật chất, nhu cầu hưởng thụ văn hóa cho các thành viên là một bước tiến mới của sự nghiệp xây dựng con người mới
Mặt khác, gia đình Việt Nam hiện nay cũng đang đứng trước những thách thức không nhỏ, có nguy cơ mất đi tính bền vững vốn có Chính vì vậy, làm thế nào
để gia đình Việt Nam vừa lưu giữ được nét đặc thù của bản sắc văn hóa gia đình, vừa tiếp thu được những giá trị tiên tiến của nền văn minh công nghiệp mà không gây nên sự xáo trộn và bất ổn của gia đình, là một trong những vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng Đã đến lúc cần có sự thay đổi từ nhận thức đến hành động trong việc xây dựng gia đình văn hoá
Trang 32và hạnh phúc gia đình Gia đình khá giả, vững mạnh về kinh tế trước hết sẽ bớt cho đất nước một gánh nặng, là tiền đề đầu tiên cơ bản và đột phá trên con đường xây dựng gia đình văn hóa mới với chuẩn mực: ấm no, dân chủ, bình đẳng và tiến bộ Đây cũng chính là tiền đề an toàn và bền vững nhất làm nên thành công cũng như khẳng định giá trị bất diệt của phong trào xây dựng gia đình văn hóa, phản ánh quy luật khách quan, nền tảng trong tiến trình phát triển của xã hội Tình trạng đói nghèo, thất nghiệp, phân công lao động và giải quyết việc làm thiếu công bằng cũng
là những vấn đề cần được đề cập trong nghiên cứu về các chính sách liên quan tới lĩnh vực gia đình để thực hiện tính công bằng trong phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung và xây dựng chuẩn gia đình văn hóa nói riêng
Bên cạnh đó, mặt trái của kinh tế thị trường trong những năm gần đây đã và đang gây nên những chấn động, những thử thách đối với gia đình: xu hướng chạy theo các tiện nghi vật chất, đề cao đồng tiền dẫn đến sự suy đồi đạo đức, sự phân hoá giàu - nghèo giữa các gia đình có xu hướng tăng, hiện tượng phục hồi các hủ tục và tiếp thu lối sống thực dụng, tiêu cực, văn hóa ngoại lai có chiều hướng phát triển làm rạn nứt nền tảng gia đình và truyền thống đạo lý mà ông cha ta đã xây dựng
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã phân tích những lý luận chung về chính sách, thực hiện chính sách xây dựng văn hóa văn hoá Từ việc phân tích làm rõ một số khái niệm liên quan đến nội dung của luận văn, đến việc đi sâu tìm hiểu việc ban hành chính sách xây dựng gia đình văn hoá của Việt Nam và những vấn đề triển khai trong thực tế Có thể nói từ khi xuất hiện (1960) đến nay, công tác xây dựng gia đình văn hoá luôn được Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm, đưa ra những quan điểm đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ Công tác xây dựng gia đình văn hoá được xác định như một nhiệm vụ trung tâm, là biểu hiện sự vận động đi lên tất yếu của gia đình Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, là cơ sở của quá trình phát triển kinh tế của đất nước
Trang 33Chúng tôi cũng đã tìm hiểu về những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hoá như: yếu tố về cơ chế chính sách, năng lực, chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức các cấp tham gia thực thi chính sách; yếu tố về truyền thống; yếu tố về nhận thức và yếu tố về kinh tế
Những vấn đề nghiên cứu, phân tích và làm rõ của chương 1 sẽ làm tiền đề cho việc phân tích thực trạng thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Cẩm Thủy ở chương 2
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN
HÓA Ở HUYỆN CẨM THỦY 2.1 Khái quát về huyện Cẩm Thủy
Cẩm Thủy là một huyện trung du miền núi nằm ở phía Tây - Bắc của tỉnh Thanh Hóa, cách Thành phố Thanh Hóa 70 Km Diện tích 425,03 km2, phía đông giáp huyện Vĩnh Lộc; phía Bắc giáp huyện Thạch Thành; phía tây giáp huyện Bá Thước; phía nam giáp huyện Ngọc Lặc và Yên Định Dân số 111.638 người, số hộ 22.154 hộ; có 3 dân tộc anh em sinh sống, trong đó: dân tộc Mường 52,4 %, dân tộc Kinh 44,5 %, dân tộc Dao 2,9 % còn lại là các dân tộc khác Người Cẩm Thuỷ có truyền thống đoàn kết cần cù, chịu khó, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và có nhiều đóng góp cho đất nước: Có 02 xã là Cẩm Vân và Cẩm Sơn đạt danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân, 01 anh hùng liệt sỹ, 42 Bà mẹ Việt nam anh hùng, 03 gia đình có công giúp đỡ cách mạng; 03 cán bộ tiền khởi nghĩa; 02 lão thành cách mạng, 29 thương binh hạng 1/4; có 967 thương binh các loại, có 1.658 liệt sỹ
Toàn huyện có 19 xã và 01 thị trấn, có đường Quốc lộ 217 dài 40 km chạy qua các xã Cẩm Vân, Cẩm Tân, Cẩm Ngọc, Cẩm Phong, Thị trấn Cẩm Thủy, Cẩm Bình, Cẩm Thạch, Cẩm Thành; đường Hồ Chí Minh dài 18km đi qua các xã Cẩm
Tú, Cẩm Phong, Cẩm Sơn, Cẩm Châu Đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 217, sông Mã giao nhau tại thị trấn Cẩm Thuỷ tạo điều kiện gắn Cẩm Thuỷ với các lãnh thổ kinh
tế trong và ngoài tỉnh, nhất là với thủ đô Hà Nội
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của huyện được cải thiện, các công trình thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân được quan tâm đầu tư xây dựng: 100 % số xã có điện lưới quốc gia; được phủ sóng truyền hình; có đường ô tô đến trung tâm xã; có điểm bưu điện văn hoá; có trạm truyền thanh Có 96 % số hộ dùng điện Huyện có 72 trường học ở các cấp học phổ thông, trong đó có 03 trường THPT, 01 Trung tâm Dạy nghề, 01 Trung tâm GDTX; Có 08 trường đạt chuẩn
Trang 35Quốc gia (07 trường Tiểu học, 01 trường THCS); 01 Bệnh viện đa khoa, 01 Trung tâm Y tế dự phòng, 20 Trạm Y tế xã, thị trấn,có 10 xã đạt chuẩn Quốc gia về Y tế1
Với đặc điểm tự nhiên là miền đất chuyển tiếp từ miền núi xuống đồng bằng, nên từ cấu trúc tự nhiên của địa hình đất đai, sông ngòi đến tổ chức xã hội, phong tục tập quán, thói quen canh tác, đời sống văn hóa tinh thần, Cẩm Thủy vừa có bản sắc của miền vùng núi dân tộc, vừa có bản sắc của vùng đồng bằng và đô thị Là huyện trung du miền núi nhưng đất nông nghiệp chiếm tới 60% diện tích đất tự nhiên, tạo cho Cẩm Thủy tiềm năng to lớn về sản xuất lương thực và các loại nông sản khác
Đoạn sông Mã chảy qua huyện Cẩm Thủy, núi non trùng điệp, sự kết hợp sơn thủy tạo ra nhiều cảnh đẹp, đáng chú ý nhất là động Cửa Hà Tên Cửa Hà có từ đầu thế kỷ XIX khi huyện lị chuyển từ Cẩm Vân về Phong Ý Cửa Hà có một vẻ đẹp ngoạn mục của một cửa sông sơn thủy hữu tình, trên bến dưới thuyền, làm cho Cửa Hà đã trở thành một danh thắng nổi tiếng trong vùng Cẩm Thủy còn có Mó Ngọc (Suối cá thần) ở Cẩm Lương, cảnh đẹp thơ mộng hùng vĩ, với đàn cá thần đông đúc có từ thời xa xưa và đang trở thành một điểm du lịch hấp dẫn du khách gần xa Cũng từ đặc điểm tự nhiên đó, Cẩm Thủy là cửa ngõ miền Tây Thanh Hóa
có vị trí quan trọng về mặt quân sự; Cẩm Thủy luôn được Đảng, Nhà nước chọn làm căn cứ hậu phương cho các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm; trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ
Ngày nay dựa vào thành tựu của ngành ngôn ngữ học, dân tộc học, khảo cổ học, văn học dân gian và các thư tịch còn lại đã minh chứng: Từ buổi bình minh của
xã hội loài người, vùng đất Cẩm Thủy đã có người Việt cổ sinh sống Nơi đây còn lưu trữ những dấu tích của con người thời đồ đồng, đồ sắt Cẩm Thủy là nơi gặp gỡ của hai nền văn hóa bản địa lớn ở nước ta, là văn hóa Đông Sơn và văn hóa Hòa Bình Trong tập quán canh tác, trong sinh hoạt văn hóa, trong nghi lễ tôn giáo, trong
1: http://wwwcamthuy.thanhhoa.gov.vn , truy cập tháng 12 năm 2016
Trang 36ngôn ngữ giao tiếp, vẫn còn mang đậm dấu ấn của hai nền văn hóa lớn ấy đan xen, hòa quyện vào nhau cùng tồn tại và phát triển
2.2 Tổ chức thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Cẩm Thủy
2.2.1 Văn bản Kế hoạch thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Cẩm Thủy
Trong thực tiễn thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Cẩm Thủy, để tạo thuận lợi trong công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện, Uỷ ban nhân dân huyện Cẩm Thuỷ đã ban hành các văn bản để triển khai, thực hiện phong trào:
- Kế hoạch số 18/KH-UBND ngày 19/8/2011 của UBND huyện Cẩm Thuỷ
về thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn
2011 – 2015 Với mục đích: “Tiếp tục giữ vững, phát huy những thành tích đạt được trong quá trình tổ chức thực hiện phong trào giai đoạn 2011 – 2015” [52, tr.1],
“huy động nguồn lực toàn xã hội tham gia các hoạt động sáng tạo và xây dựng đời sống văn hóa, tạo điều kiện các hoạt động văn hóa phát triển, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Nâng cao chất lượng các mô hình “Gia đình văn hóa”; “Làng văn hóa”; “Tổ dân phố văn hóa”” [52, tr.2]
Kế hoạch đã đặt ra mục tiêu cụ thể đó là: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 70% số hộ gia đình được công nhận và giữ vững danh hiệu “Gia đình văn hóa” [52, tr.2] Kế hoạch
đã xác định quan điểm rõ ràng đó là xây dựng và phát triển đời sống văn hoá trong
đó xây dựng gia đình văn hoá là trọng tâm, làm động lực cho phát triển xã hội
- Chỉ thị số 04/CT-UBND ngày 10/4/2012 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Cẩm Thuỷ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27/CT-TW về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội Trong Chỉ thị này đã có phần đánh giá về những kết quả đạt được từ khi triển khai thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) trên địa bàn huyện, đã tác động tích
Trang 37cực đến ý thức của đại bộ phận người dân trong việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, hình thành lối sống văn minh, tiến bộ Đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế tồn tại trong quá trình thực hiện như: “Một số cấp
uỷ, chính quyền thiếu tập trung chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện và công tác tuyên truyền giáo dục thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội chưa tốt nên đã phát sinh nhiều hiện tượng không lành mạnh Một số gia đình (trong đó có gia đình cán bộ đảng viên chưa thực sự gương mẫu) còn phô trương hình thức gây ảnh hưởng xấu đến xã hội, ảnh hưởng chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nói chung, phong trào xây dựng gia đình văn hóa nói riêng” [53, tr 3] Để chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 27/CT-TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Cẩm Thuỷ quy định khá cụ thể các nội dung trong tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội trên địa bàn huyện Cẩm Thuỷ đảm bảo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của từng gia đình, trang trọng, tiết kiệm và văn minh, tránh phô, trương hình thức Trong Chỉ thị này cũng đã đưa ra các biện pháp, giải pháp thực hiện như: Nêu cao tính gương mẫu của cán bộ đảng viên, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan đơn vị đồng thời phải vận động gia đình, cộng đồng dân cư nghiêm túc thực hiện; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và nêu gương điển hình; đưa kết quả thực hiện việc cưới, việc tang và lễ hội vào trong tiêu chí đánh giá công tác xây dựng gia văn hoá ở cơ sở và là một trong các tiêu chí xét duyệt công nhận danh hiệu
“Gia đình văn hoá” hàng năm Chỉ thị cũng đã đưa ra những hình thức xử lý kỷ luật nếu cá nhân tổ chức để xảy ra vi phạm Có thể nói Chỉ thị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Cẩm thuỷ đã đánh giá được những kết quả đạt được trong thời gian vừa qua, đồng thời đã chỉ ra những tồn tại hạn chế cần khắc phục từ đó có chỉ đạo khá
cụ thể từng việc, giao trách nhiệm đến từng cá nhân tổ chức nhằm nâng cao chất lượng của việc thực hiện Chỉ thị 27/CT-TW của Bộ Chính trị về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội trong thời gian tới trên địa bàn huyện Cẩm Thuỷ
Trang 38- Hướng dẫn số 03/HD-BCĐ ngày 09/2/2012 của Ban Chỉ đạo toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá huyện Cẩm Thuỷ về việc hướng dẫn đăng ký thi đua xây dựng làng, khu phố, cơ quan, gia đình văn hóa, xã văn hóa Hướng dẫn được thực hiện trên cơ sở quy định của Thông tư số: 12/2011/BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết, trình tự, thủ tục,
hồ sơ công nhạn danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”; “Làng văn hóa”;
“Ấp văn hóa”; “Tổ dân phố văn hóa”; “Bản văn hóa” và Quyết định số UBND ngày 09/05/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc ban hành quy chế công nhận danh hiệu xã, phường, thị trấn văn hóa, làng văn hoá, gia đình văn hoá Tại mục 2 của Hướng dẫn này đã quy định chi tiết trình tự, thủ tục công nhận danh hiệu “Gia đình văn hoá” Theo đó, các gia đình muốn được công nhận gia đình văn hoá hàng năm thì phải có đăng ký thi đua với Ban công tác Mặt trận tại các khu dân cư; trong năm gia đình phấn đấu đạt 3 tiêu chuẩn, quy định tại Điều 4 của Thông tư 12/2011/BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đến tháng 11 hàng năm Ban công tác Mặt trận khu dân cư tổ chức hội nghị bình xét gia đình văn hoá; các gia đình được bình bầu gia đình văn hoá sẽ được gửi lên Uỷ ban nhân dân xã và đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã ra quyết định và cấp Giấy công nhận “Gia đình văn hoá”; các gia đình văn hoá sẽ được công bố và trao Giấy chứng nhận “Gia đình văn hoá” tại “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” (Ngày 18 tháng 11 hàng năm) ở khu dân cư Có thể nói Hướng dẫn này đã quy định khá chi tiết các bước để thực hiện công nhận gia đình văn hoá, giúp cho các hộ gia đình và các tổ chức liên quan dễ dàng hiểu và thực hiện
1336/QĐ Quyết định số 493/QĐ1336/QĐ UBND ngày 03/5/2013 của Uỷ ban nhân dân huyện Cẩm Thuỷ về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Quyết định ban hành Quy chế gồm 6 chương và 25 điều, trong đó đã quy đinh cụ thể các nhiệm vụ của Ban chỉ đạo “nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về văn hóa, nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa dân tộc trong giai đoạn đổi mới; chỉ đạo triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
Trang 39ngày càng sâu rộng trên địa bàn huyện và gắn kết chặt chẽ với các cuộc vận động khác” [54, tr 3]; quy định cụ thể về chế độ làm việc, nhiệm vụ cho 20 thành viên là lãnh đạo Uỷ ban nhân dân huyện và trưởng các ban ngành, đoàn thể huyện.Có thể nói đây là văn bản có tính thống nhất và bao trùm trách nhiệm của chính quyền và các ngành cấp huyện đối với công tác xây dựng văn hoá cơ sở nói chung và công tác xây dựng gia đình văn hoá nói riêng
Kế hoạch số 01/KH-UBND ngày 12/01/2011 của Uỷ ban nhân dân huyện Cẩm Thủy xây dựng kế hoạch triển khai, thực hiện chương trình nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2011 –
2015, định hướng đến 2020 Kế hoạch đã xây dựng mục tiêu: “Nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa; thôn, làng, tổ dân phố văn hóa; cơ quan, đơn
vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; xã văn hóa đạt chuẩn nông thôn mới tạo chuyển biến tích cực trong việc xây dựng con người có tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa; thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới; việc tang và lễ hội; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội” Trong Kế hoạch cũng đã đưa ra nhiều nội dung nhiệm vụ cụ thể để nâng cao chất lượng xây dựng gia đình văn hoá như: “Xây dựng, biểu dương, khen thưởng và phổ biến nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào xây dựng gia đình văn hóa …”, “Vận động nhân dân phát huy nội lực để xây dựng nông thôn mới, xây dựng gia đình văn hóa, thôn, làng, ấp, bản,
tổ dân phố văn hóa và tương đương”, “Nâng cao nhận thức và ý thức tự nguyện, tự giác của các gia đình trong xây dựng gia đình văn hóa”, “Sửa đổi, bổ sung các tiêu chí công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương cho phù hợp với thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ của giai đoạn mới”, “Thực hiện nghiêm việc công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương theo Luật Thi đua - Khen thưởng và các quy định pháp luật có liên quan” Có thể khẳng định Kế hoạch này đã thể hiện sự quyết tâm của cấp uỷ, chính quyền huyện Cẩm Thuỷ trong việc
Trang 40nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hoá, trong đó có nội dung xây dựng gia đình văn hoá với nhiều giải pháp quyết liệt và có tính khả thi cao như: Đưa các chỉ tiêu xây dựng đời sống văn hoá vào các Nghị quyết của các cấp uỷ Đảng, kế hoạch của chính quyền để chỉ đạo thực hiện; nâng cao trách nhiệm của thành viên Ban chỉ đạo các cấp, huy động nguồn lực đầu tư cho hoạt động văn hoá, tăng nguồn kinh phí cho công tác thi đua khen thưởng đối với các gia đình văn hoá, đẩy mạnh hoạt động biểu dương, xây dựng điển hình tiên tiến trong phong trào xây dựng văn hoá; tổ chức đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ công chức làm công tác văn hoá
- Kế hoạch số 18/KH-BCĐ ngày 13/9/2015 của Ban chỉ đạo toàn dân đoàn kết xây dựng văn hoá huyện Cẩm Thuỷ về việc tổ chức Hội nghị biểu dương gia đình văn hoá tiêu biểu cấp xã, thị trấn và Hội nghị biểu dương gia đình văn hóa tiêu biểu toàn huyện lần thứ X (2015 – 2016) Với mục đích: “Tôn vinh gia đình văn hoá Việt Nam Biểu dương các gia đình văn hoá tiêu biểu nhằm động viên kịp thời những gia đình văn hoá trong việc xây dựng gia đình hoà thuận, ấm no hạnh phúc, tiến bộ, đẩy lùi đói nghèo, lạc hậu, đẩy lùi các tai, tệ nạn xã hội và giúp đỡ gia đình khác trong cộng đồng Đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hoá, tiếp tục thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" nhằm thực hiện Nghị quyết TW5 khoá 8 của Đảng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn với phong trào thi đua “Chung sức xây dựng nông thôn mới” xây dựng con người kiểu mẫu, làng xã, cơ quan, đơn vị, huyện kiểu mẫu” [12,tr 1] Kế hoạch này đã triển khai việc bình xét lựa chọn các gia đình văn hoá tiêu biểu từ các thôn, làng tham gia hội nghị biểu dương gia đình văn hoá tiêu biểu tại cấp xã, thị trấn, từ hội nghị của cấp xã, thị trấn sẽ bình bầu những gia đình văn hoá tiêu biểu, điển hình tham gia hội nghị biểu dương gia đình văn hoá tiêu biểu của toàn huyện Tại các hội nghị cấp xã, thị trấn, cấp toàn huyện có kết hợp tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao gia đình để chào mừng nhằm tạo không khí ngày hội thực sự của các gia đình văn hoá tiêu biểu từ đó tạo ra sức lan toả rộng lớn đối với phong trào xây dựng gia đình văn hoá và là nguồn động lực để các gia đình tiếp tục thi đua phấn đấu Ngoài ra, hàng năm, Uỷ ban nhân dân huyện Cẩm Thuỷ đều xây dựng Kế