Tính cấp thiết của đề tài Giáo dục lý luận chính trị GDLLCT - mà cốt lõi là giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nướ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH THU
GIÁO DỤC LÝ LUÂN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ SĨ QUAN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành : Chính trị học Mã ngành : 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Hồng Thái
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ
NGUYỄN MINH THU
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ SĨ QUAN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2 Đặc điểm của lực lượng sĩ quan vũ trang 15
1.3 Đặc điểm của công tác giáo dục lý luận chính trị cho sĩ quan lực lượng vũ trang 19
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO LỰC LƯỢNG SĨ QUAN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY 29
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay 29
2.2 Thực trạng giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2015 36
2.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 52
2.4 Một số kinh nghiệm 56
Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO SĨ QUAN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY 61
3.1 Những yếu tố tác động đến việc nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho sĩ quan lực lượng vũ trang hiện nay 61
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang 64
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 84
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc 34 Bảng 2.2.Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc đến hết tháng 12/2015 35 Bảng 2.3 Đánh giá của sĩ quan đối với hoạt động của đội ngũ giáo viêngiảng dạy chính trị 40 Bảng 2.4 Đánh giá tình hình quản lý hoạt động giáo dục lí luận chính trị 44 Bảng 2.5 Kết quả học tập lý luận chính trị của sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc 44
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục lý luận chính trị (GDLLCT) - mà cốt lõi là giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước là một nội dung quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng; một lĩnh vực hoạt động của công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm nâng cao giác ngộ chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn, phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong toàn quân Bên cạnh việc tổ chức giáo dục cho các đối tượng theo chương trình bồi dưỡng tại chức chung của Tổng cục Chính trị (TCCT), hoạt động GDLLCT trong các nhà trường quân đội được thực hiện chủ yếu qua công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập các môn lý luận Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng và công tác Đảng, công tác chính trị trong chương trình đào tạo chính khóa; đồng thời qua các đợt sinh hoạt nghiên cứu, quán triệt đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước và Quân đội
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng kinh
tế trọng điểm Bắc bộ và Vùng Thủ đô, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú Thọ, phía Đông và phía Nam giáp thủ đô
Hà Nội Những lợi thế về vị trí địa lý kinh tế đã đưa tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Trong những năm qua, tỉnh Vĩnh Phúc đã có những đóng góp to lớn vào thành tích chung của Đảng bộ và nhân dân trong đấu tranh giải phóng dân tộc
và bảo vệ, xây dựng Tổ quốc, nhất là từ khi thực hiện kết luận Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020” (Kết luận số 37-KL/TW ngày 2-2-
Trang 72009), Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã chỉ đạo, củng cố, kiện toàn bộ máy sĩ quan lực lượng vũ trang các cấp, tích cực đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ sĩ quan lực lượng vũ trang Đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay có bản lĩnh chính trị vững vàng, đa số được đào tạo cơ bản, có trình độ, có kinh nghiệm và có vốn hiểu biết thực tiễn khá sâu sắc Chính họ là người giúp cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh có hiểu biết sâu sắc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; góp phần định hướng công tác tư tưởng trước mỗi biến động phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn còn bộc lộ những hạn chế như: Trình độ lý luận chính trị còn yếu, khả năng phát hiện, đề xuất giải pháp xử lý các vấn đề liên quan đến tình hình còn chưa thường xuyên, xây dựng chương trình công tác có lúc bị động…
Trong tình hình hiện nay, đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang đang đặt
ra những yêu cầu và đòi hỏi rất cao, yêu cầu mỗi sĩ quan cần không ngừng trao đổi kiến thức, trình độ lý luận chính trị, khả năng phân tích, dự báo tình hình trong nước, quốc tế…để có tham mưu chính xác cho cấp ủy các cấp trong việc đấu tranh với các lực lượng thủ địch cả trên mặt trận chính trị, quân
sự và tư tưởng; tiếp tục đi đầu trong thực hiện có hiệu quả việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương, nêu cao trách nhiệm gương mẫu cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Những năm tới, sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực và trong nước diễn biến phức tạp, thuận lợi và thách thức đan xen Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược
“diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực, hòng phủ nhận những thành tựu đổi mới, xóa bỏ hệ tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới đòi hỏi phải không ngừng
Trang 8nâng cao chất lượng tổng hợp của quân đội, trước hết là chất lượng chính trị, bảo đảm để quân đội luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống
Với những lý do trên, học viên mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Giáo dục lý
luận chính trị cho đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” với mong muốn nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ sĩ
quan lực lượng vĩ trang trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giáo dục lý luận chính trị nói chung và giáo dục lý luận chính trị cho lực lượng sĩ quan lực lượng vũ trang, lực lượng quân đội là một vấn đề đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, trong đó có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- “Nâng cao tính thuyết phục của công tác tư tưởng ở Học viện Kỹ thuật quân sự hiện nay” (2013), Nguyễn Bình Thoan, luận văn Thạc sĩ Tác giả đã chỉ
ra quan niệm, mục đích, nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành công tác tư tưởng ở Học viện Kỹ thuật quân sự Chỉ rõ đặc điểm, vị trí, vai trò, tính thuyết phục, những biểu hiện tính thuyết phục và các yếu tố quy định tính thuyết phục của công tác tư tưởng Tác giả đưa ra quan niệm, mục đích, chủ thể, nội dung, biện pháp cơ bản nâng cao tính thiết phục của công tác tư tưởng; chỉ rõ những vấn đề có tính nguyên tắc và xác định hệ thống tiêu chí đánh giá nâng cao tính thiết phục của công tác tư tưởng ở Học viện Kỹ thuật quân sự
- “Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho hạ sĩ quan, chiến sĩ ở sư đoàn bộ binh hiện nay” (2012), Nguyễn Trọng Linh, luận văn thạc sĩ Đề tài đã chỉ rõ giáo dục pháp luật là một nội dung trong chương trình GD LLCT của QĐND Việt Nam có vai trò quan trọng góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đồng thời góp phần thực hiện vai trò là trường học lớn bồi dưỡng nhân cách con người mới xã hội
Trang 9chủ nghĩa (XHCN), trong đó có nếp sống kỷ luật phù hợp với kỷ cương của đất nước
Đề tài đã đưa ra hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục pháp luật, chỉ ra sự cần thiết phải nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho hạ
sĩ quan, chiến sĩ ở sư đoàn bộ binh và đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho hạ sĩ quan, chiến sĩ ở sư đoàn bộ binh hiện nay
- “Nâng cao chất lượng GD LLCT trong huấn luyện quân sự, chuyên môn, kỹ thuật” (2011), Đỗ Trung Dương, luận văn thạc sĩ.Tác giả chỉ rõ vị trí, vai trò của GD LLCT trong huấn luyện quân sự, chuyên môn, kỹ thuật không chỉ là một yêu cầu khách quan mà còn có ý nghĩa định hướng cho toàn bộ quá trình huấn luyện quân sự, chuyên môn, kỹ thuật cho bộ đội, chuẩn bị cho quân nhân một hệ thống phẩm chất chính trị, tinh thần chiến đấu trong mối liên hệ biện chứng, chặt chẽ với nhau, trong đó phẩm chất chính trị, tinh thần là một nhân tố quan trọng hạng đầu
- “Nâng cao năng lực GD LLCT của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ
sở binh chủng hợp thành thuộc các binh đoàn chủ lực QĐND Việt Nam hiện nay”(2013), Nguyễn Văn Hữu Tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý luận
cơ bản nâng cao năng lực GD LLCT của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ
sở binh chủng hợp thành thuộc các binh đoàn chủ lực Xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị cơ sở binh chủng hợp thành thuộc các binh đoàn chủ lực Từ đó khẳng định GD LLCT là chức trách nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở binh chủng hợp thành
Tác giả đã tập trung đánh giá đúng thực trạng nâng cao năng lực GD LLCT của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở thuộc các binh đoàn chủ lực Từ thực trạng chỉ ra nguyên nhân khách quan, chủ quan của ưu điểm và hạn chế khuyết điểm về năng lực GD LLCT của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở, đồng thời luận án rút ra một số kinh nghiệm nâng cao năng lực
Trang 10GD LLCT của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở binh chủng hợp thành thuộc các binh đoàn chủ lực QĐND việt Nam
- “Giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên ở Học viện Công an nhân dân giai đoạn hiện nay”, Dương Quốc Thành (2015), “Chất lượng công tác GD LLCTcủa Đảng bộ Công an Tỉnh Lạng Sơn giai đoạn hiện nay”[56]; Nguyễn Thị Thủy Trang (2015), “Nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị quận, huyện ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay”
- “Nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội ở các trung đoàn Ra đa trong QĐND Việt Nam hiện nay” (2014), Đỗ Ngọc TuyênTác giả đã tập trung luận giải làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề trình độ lý luận chính trị và nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội ở các trung đoàn Ra đa.Tác giả đã đánh giá đúng thực trạng nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán
bộ chính trị cấp phân đội ở các trung đoàn Ra đa Từ đó chỉ rõ nguyên nhân, thành tựu, ưu điểm và hạn chế,khuyết điểm; trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm trong nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội
ở các trung đoàn Ra đa, làm cơ sở để xác định rõ phương hướng, yêu cầu nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội ở các trung đoàn Ra đa Đề xuất năm giải pháp cơ bản để nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội ở các trung đoàn Ra đa trong QĐND Việt Nam hiện nay
Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến để tài của luận văn song các nghiên cứu đó chỉ đề cập đến sơ lược từng mặt của vấn đề, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hê thống cả về mặt lý luận và thực tiễn về giáo dục lý luận chính trị cho sĩ quan lực lượng vũ trang ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay, vì vậy, việc nghiên cứu đề tài là quan trọng và có ý nghĩa
cả về mặt lý luận và thực tiễn
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1.Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ vai trò của việc giáo dục lý luận chính trị và thực trạng giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác giáo dục lý luận chính trị cho đỗi ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay, do phạm vi vấn đề rộng lên luận văn chỉ tập trung vào giải quyết vấn đề trong phạm vi quân đội.
4.2.Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động giáo dục lý luận chính trị cho lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Về thời gian: Các số liệu, tư liệu điều tra, khảo sát thực tiễn chủ yếu
từ năm 2010 đến 2015; định hướng giải pháp đến 2020
Trang 125 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền quốc phòng toàn dân; các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của Đảng, Nhà nước, Quân
ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, các
bộ, ban, ngành về giáo dục lý luận chính trị cho lực lượng vũ trang, trong đó
có lực lượng sĩ quan
* Cơ sở thực tiễn
Hiện thực hoạt động GDLLCT cho SQ LLVT của tỉnh Vĩnh Phúc từ năm
2011 đến năm 2016; các báo cáo tổng kết công tác GD LLCT của cácđơn vị
Các số liệu điều tra, khảo sát của tác giả trong quá trình nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành Trong đó, chú trọng các phương pháp: lôgic - lịch sử; phân tích - tổng hợp; tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
Với kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận văn sẽ góp phần cung cấp thêm
cơ sở khoa học cho việc xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo GDLLCT cho lực lượng vũ trang và làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn lý luân chính trị ở các nhà trường quân đội
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập ở các trung tâm giáo dục QP, AN và các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương 8 tiết
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO
ĐỘI NGŨ SĨ QUAN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.Khái niệm giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ sĩ quan lực lượng
vũ trang
* Quan niệm về giáo dục
Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “giáo dục”:
Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của
con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Ví dụ: Ảnh hưởng của các
hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác;…
Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổ chức ngoài giờ lên lớp,
sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục
Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người giáo dục dưới quan hệ của những tác động sư phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dục như: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao động
Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức Sự ra đời và phát
Trang 14triển của giáo dục gắn liền với cự ra đời và phát triển của xã hội Một mặt, giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại Chính vì vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội
Trong quá trình lao động và đấu trạnh cải tạo thiên nhiên, cải tạo xã hội, con người đã nâng cao nhận thức về tự nhiên, xã hội và tích lũy nhiều kiến thức, kinh nghiệm Cũng chính vì vậy mà con người nảy sinh nhu cầu lĩnh hội và truyền đạt hiểu biết, những kinh nghiệm cho nhau, từ đây hoạt động giáo dục ra đời
Giáo dục là một "quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người"
Là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người
* Quan niệm về lý luận
Nói về lý luận, Hồ Chí Minh đã định nghĩa rất đơn giản và dễ hiểu là: "Đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế.Đó là lý luận chân chính" [16, tr.233]
Như vậy, về thực chất, lý luận chính là "hệ thống những tri thức đã được khái quát tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên hệ cơ bản của hiện thực" [12, tr.341] Hay một khái niệm rộng hơn: "lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người; là toàn bộ những tri thức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện trong lôgíc của các khái niệm cái lôgíc khách quan của các sự vật" [12, tr.342]
Trang 15Vì vậy, lý luận không thể chỉ là sự mô tả hiện thực khách quan, là sự sao chép giản đơn các kinh nghiệm trong thực tiễn, mà trên cơ sở phản ánh hiện thực của thực tiễn, nó phát hiện ra những quy luật vận động và dự báo những xu hướng, những vấn đề được đặt ra cần giải quyết trong thực tiễn Lý luận và thực tiễn nằm trong một thể thống nhất gắn bó, cái này là tiền đề tồn tại và phát triển của cái kia, luôn tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển Thực tiễn đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành lý luận Trong mỗi bước phát triển, hoạt động thực tiễn lại làm nảy sinh những yêu cầu mới, đòi hỏi được nghiên cứu, lí giải và khái quát đó bổ sung vào lý luận những nhận thức mới Nhờ đó lý luận hoàn thiện và phát triển hơn.Ngược lại, trong mỗi hoạt động thực tiễn, lý luận luôn hướng dẫn, mở đường cho thực tiễn phát triển bằng những tổng thể tri thức nhất định.Thực tiễn không có lí luận là thực tiễn mù quáng Lí luận mà không có thực tiên là lí luận suông C.Mác đã nói: "Trong một dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được thực hiện theo một mức độ
mà cách mạng là sự thực hiện những nhu cầu của dân tộc ấy" [12, tr.582]
* Quan niệm về lý luận chính trị
(Lý luận chính trị là hệ thống quan niệm hoàn chỉnh được hình thảnh trên cơ
sở là nền tảng tư tưởng của học thuyết Mácxít và ngày một hoàn thiện trong các thời kỳ sau
Ra đời trên sự kế thừa những thành tựu của triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp cùng với kinh nghiệm phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới, chủ nghĩa Mác là một cuộc cách mạng lớn cho thế giới và cho cả những khoa học khác
Đánh giá về khoa học Mác thì chỉ có thể nói đây là khoa học đúng đắn và tiên tiến nhất từ trước đến nay và nó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng ta Đây không khỉ là thế giới quan khoa học, nhân sinh quan mà còn là phương pháp luận cho đời sau học tập.Học thuyết không chỉ phản ánh thế giới một cách chính xác
và khoa học mà còn chỉ ra con người có khả năng cải tạo thế giới, nhưng giá trị của học thuyết đó là phép biện chứng duy vật Lênin đã nói về chủ nghĩa Mác:
“…lý luận đó là lý luận đầu tiên đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở
Trang 16thành khoa học, lý luận đó đã dựng lên những cơ sở vững chắc cho khoa học ấy và vạch rõ con đường mà chúng ta cần phải theo Lý luận đó đã chỉ rõ nhiệm vụ thật sự của một Đảng xã hội chủ nghĩa cách mạng…là tổ chức cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và lãnh đạo cuộc đấu tranh đó mà mục đích cuối cùng là giai cấp vô sản giành lấy chính quyền và tổ chức xã hội XHCN”.[12, tr 230-231]
Lý luận chính trị mác xít ra đời và được hình thành trên cơ sở nền tảng tư
tưởng của học thuyết mác-xít, một hệ thống hoàn chỉnh và khoa học với những quan điểm triết học, kinh tế học và chính trị xã hội
Chủ nghĩa Mác luôn có giá trị trong các thời kỳ và ngay cả bây giờ nó luôn được nghiên cứu và hoàn thiện bổ sung trong suốt các thời kỳ sau đó và áp dụng một cách có sáng tạo trong hoàn cảnh cụ thể của đất nước khác nhau Lênin là một người đã kế thừa và bổ sung thêm chủ nghĩa Mác một cách hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay, đó là sự phát triển sáng tạo trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa Lênin
đã chứng minh rằng cuộc cách mạng của giai cấp công nhân có thể nổ ra ở các nước nhỏ ở các nước đế quốc, ông cũng xây dựng thành công học thuyết về nhà nước và đảng của giai cấp công nhân Những quan niệm mà Lênin đã kế thừa và phát triển của chủ nghĩa Mác đã tổng hợp, hình thành nên chủ nghĩa Mác-Lênin
mà hiện nay đã trở thành lý luận cơ bản và chủ yếu trong sự phát triển của chủ nghĩa xã hội mà đặc biệt là về Chủ nghĩa xã hội
Với nền tảng là học thuyết Mác - Lênin, các bộ môn LLCT ở nước ta được hình thành, bao gồm ba bộ phận cơ bản: Triết học, Kinh tế chính trị học, CNXH khoa học, được mở rộng thêm với việc nghiên cứu về Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước - pháp luật và một số môn lý luận cơ bản khác
Cùng với các lý luận khoa học khác, LLCT đã thực sự trở thành một khoa học hướng dẫn cho Đảng cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động hoàn thành sứ mệnh lịch sử vĩ đại của mình
LLCT là bộ phận quan trọng trong kho tàng lý luận của nhân loại giới hạn
Trang 17trong lĩnh vực chính trị, phản ánh mối quan hệ của các giai cấp trong việc giành và giữ chính quyền Từ góc độ tiếp cận khái niệm lý luận chính trị như đã trình bày ở
trên có thể hiểu: LLCT là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính
sách của một chính đảng, một giai cấp nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước
Như vậy, LLCT được hiểu là những vấn đề lý luận gắn liền với cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trong việc giành và giữ quyền lực nhà nước Nó phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế, chính tri, xã hội thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp đối với nhà nước
* Quan niệm về giáo dục lý luận chính trị
Giáo dục lý luận chính trị là một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng Giáo dục lý luận chính trị có nghĩa là truyền bá những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối và quan điểm của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân [11, tr.37]
Theo PGS, TS Đào Duy Quát thì giáo dục lý luận chính trị:
Là việc truyền bá những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
Đó là quá trình tác động vào đối tượng giáo dục bằng cách trình bày, giải thích một cách khoa học những khái niệm, những quan điểm nhằm làm cho cán bộ, đảng viên
và nhân dân nhận thức đúng đắn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhất trí cao với đường lối, quan điểm của Đảng, nâng cao phẩm chất cách mạng và năng lực hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn họ vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống [6, tr.38] GS.TS Dương Xuân Ngọc cho rằng:
Giáo dục lý luận chính trị là hoạt động nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, phương pháp tư duy và phương pháp làm việc biện chứng, khoa học
và góp phần nâng cao và phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của các chủ thể
Trang 18chính trị trong xã hội trong hoạt động thực tiễn [6, tr.38]
Cả hai khái niệm này đều đã chỉ ra một cách rõ ràng, cụ thể các yếu tố chủ thể, khách thể, nội dung mục tiêu của giáo dục lý luận chính trị Nhưng, trong khái niệm của GS.TS Dương Xuân Ngọc, yếu tố đối tượng được nhấn mạnh hơn Ở đây, đối tượng của giáo dục không chỉ đơn thuần là khách thể chịu sự tác động của chủ thể giáo dục một cách thụ động mà còn là chủ thể của tự giáo dục trong quá trình tiếp nhận, lĩnh hội tri thức một cách chủ động Từ đó, những hoạt động giáo dục lý luận chính trị không chỉ được xem là nhận thức mà còn là hoạt động thực tiễn nhằm hiện thực hóa nhận thức lý luận chính trị Vì thế, hoạt động giáo dục lý luận chính trị được nâng lên một tầm cao hơn không chỉ nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng vận dụng sáng tạo, tính tích cực cho đối tượng mà cho cả chính chủ thể của hoạt động giáo dục lý luận chính trị
Từ khái niệm giáo dục lý luận chính trị, có thể đưa ra khái niệm công tác giáo
dục lý luận chính trị là hoạt động có mục đích của Đảng nhằm truyền bá hệ tư tưởng, đường lối của Đảng hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, phương pháp tư duy và phương pháp làm việc biện chứng, khoa học và góp phần nâng cao và phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của các chủ thể chính trị trong xã hội trong hoạt động thực tiễn
Theo đó, có thể quan niệm: GD LLCT cho SQ LLVT là hoạt động có mục đích,
có tổ chức của cấp ủy, tổ chức đảng, thủ trưởng chính trị, quân sự, cơ quan chính trị
và đội ngũ cán bộ chính trị ở các đơn vị trong lực lượng vũ trang với những chương trình, nội dung sát thực và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp nhằm trang bị những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của quân đội và đơn vi; truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, của quân đội và các lực lượng vũ trang; nhiệm vụ, chức trách của quân nhân góp phần hình thành nhân cách người quân nhân cách mạng có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết thắng, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao
1.1.2.Các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục lý luận chính trị
Thứ nhất, nội dung giáo dục
Trang 19Tính toàn diện của nội dung giáo dục lý luận chính trị thể hiện ở hệ thống những tri thức cần giáo dục để xây dựng, củng cố, hoàn thành nhân cách của người SQ LLVT Nội dung GD LLCT không những phải phù hợp với trình độ của từng đối tượng mà còn phải phù hợp với thực tiễn của đất nước, phù hợp với từng địa phương và từng đảng bộ, đặc biệt là trong giai đoạn mới hiện nay Tính thiết thực của nội dung giáo dục phải thể hiện ở chỗ phải phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng SQ LLVT và giúp cho họ có khả năng nhanh chóng tiếp thu, vận dụng vào thực tế một cách sáng tạo và có hiệu quả
Thứ hai, phương pháp giáo dục
Phương pháp là cách thức và bước đi đạt đến mục đích đặt ra, trong giáo dục thì phương pháp chính là cách thức truyền tải những nội dung, thông tin đối với ngwowic học theo một hệ thống, trật tự đã xác định nhằm hình thành nên những tri thức mới cho người học Vì vậy, người giáo dục phải có một con đường, một cách thức truyền tải trước tiên phải đúng với nội dung, phải hấp dẫn để thu hút đối tượng bằng nhiều hình thức, phải phù hợp với trình độ và đặc điểm của từng đối tượng học, hơn nữa làm sao để người học tìm được sự thích thú và đam mê trong từng nội dung Phương pháp đó chính
là cần thiết buộc những người giáo dục phải tìm tòi và hiểu được đối tượng cũng như kinh nghiệm trong giảng dạy và làm công tác tuyên truyền của Đảng Nếu chọn được phương pháp phù hợp sẽ cho đối tượng có kết quả tốt trong học tập và kết quả giáo dục cao
Thứ ba, đội ngũ cán bộ thực hiện giáo dục lý luận chính trị
Trong hoạt động giáo dục lý luận chính trị thì sự lãnh đạo, tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục là của các tổ chức đảng, người chỉ huy và các cơ quan, đơn vị Chỉ có sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng thì mới bảo đảm cho quá trình giáo dục lý luận chính trị đúng đắn và phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đã đặt ra từ trước Lãnh đạo giáo dục lý luận chính trị là trách nhiệm của các tổ chức đảng nhằm thực hiện nguyên tắc “lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” Đội ngũ cán bộ thực hiện giáo dục lý luận chính trị phải nhận thức đúng đắn, quán triệt đầy đủ ý nghĩa tầm quan trọng của hiệu quả giáo dục lý luận chính trị, có năng lực điều hành, quản lý, giáo dục, phối hợp các hoạt động, biết huy động các lực lượng, phương tiện,
Trang 20phương pháp thì mới tạo ra được sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện và nâng cao được kết quả của giáo dục lý luận chính trị Các cán bộ thực hiện giáo dục lý luận chính trị phải có những yêu cầu sau:
Thứ tư, tự giáo dục và rèn luyện của đối tượng được giáo dục
Mục đích của hoạt động của giáo dục luôn hướng con người ta có hành động đúng và nhận thức đúng, vì vậy, hoạt động thực tiễn của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những nội dung đánh giá hiệu quả giáo dục lý luận chính trị Hoạt động của người cán bộ, công chức, viên chức có đúng với chủ trương chính sách của cấp trên, có phù hợp với mục tiêu và đáp ứng được yêu cầu của đất nước thì hoạt động giáo dục đã
có hiệu quả Ngược lại, nếu hoạt động của SQ LLVT mà không tốt thì hiệu quả giáo dục
lý luận chính chưa đạt yêu cầu
Thứ năm, cơ sở vật chất và điều kiện giáo dục
Một trong những tiêu chí hiệu quả giáo dục lý luận chính trị là chất lượng cơ sở vật chất và phương tiện giáo dục Ta biết rằng nội dung đúng phải có phương pháp đúng thì mới truyền tải được nội dung đến với người học được nhưng phương pháp thì phải có phương tiện hỗ trợ thì mới có kết quả được vì vậy, có hệ thống cơ sở vật chất tốt thì sẽ giúp cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao nhất Điều này cũng có thể thấy răng việc đầu tư cho hoạt động giáo dục cũng là một vấn đề đáng quan tâm của các cấp ủy đảng
1.2 Khái niệm sĩ quan trong lực lượng vũ trang và sự cần thiết của việc tăng cường giáo dục lí luận chính trị cho đội ngũ sĩ quan trong lực lượng vũ trang
1.2.1 Khái niệm sĩ quan trong lực lượng vũ trang
* Khái niệm lực lượng vũ trang
Theo Chương II của Luật Quốc phòng năm 2005 thì Lực lượng vũ trang nhân dân được xác định gồm Quân đội, Công an và Dân quân tự vệ
Khái niệm trên đã chỉ ra:
+ LLVTNDVN là tổ chức vũ trang và bán vũ trang của nhân dân Việt Nam
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý.(Bao gồm những lực lượng cụ thể nào: Quân đội, Công an, Dân quân tự vệ)
Trang 21+ Nhiệm vụ của LLVTNDVN là: Chiến đấu giành và giữ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
- Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả cách mạng…
- Cùng toàn dân xây dựng đất nước
- Là lực lượng nòng cốt trong khởi nghĩa giành chính quyền, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân
*Khái niệm sĩ quan
Sĩ quan: Là quân nhân phục vụ trong lực lượng vũ trang có quân hàm cấp
uý trở lên.Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam: là cán bộ của Đảng Cộng Sản Việt
Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, được Nhà nước phong quân hầm cấp uý, cấp tá, cấp tướng; có số hiệu sĩ quan
- Ngạch sĩ quan:
Sĩ quan chia thành 2 ngạch : sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị
+ Ngạch sĩ quan tại ngũ: gồm những sĩ quan thuộc lực lượng thường trực
đang phục vụ trong quân đội hoạc đang biệt phái ở các cơ quan tổ chức ngoài quân đội
+ Ngạch sĩ quan dự bị: gồm những sĩ quan thuộc lực lượng dự bị động viên,
được đăng kí, quản lí tại cơ quan quân sự địa phương nơi công tác hoặc cư chú, được huấn luyện kiểm tra theo định kì (trong thời bình), gọi nhập ngũ theo lệnh động viên
- Chế độ phục vụ, nghĩa vụ và quyền lợi của sĩ quan quân đội được quy định trong luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và các văn bản pháp quy của Nhà nước
Như vậy, sĩ quan là lực lượng lòng cốt của quân đội và là thành phần chủ yếu trong đội ngũ cán bộ quân đội Đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy quản lí hoạc trực tiếp thực hiện một số nhiệm vụ khác, bảo đảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao
Trang 221.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ
sĩ quan lực lượng vũ trang
Một là, GD LLCT trực tiếp góp phần nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cho SQ LLVT
Sức mạnh chiến đấu của quân đội là sức mạnh tổng hợp được tạo dựng từ nhiều yếu tố, là sự kết hợp biện chứng giữa con người và vũ khí, giữa chính trị và kỹ thuật, giữa tư tưởng và tổ chức, giữa khoa học kỹ, chiến thuật và nghệ thuật quân sự, giữa chiến lược và sách lược, trong đó nhân tố con người, sức mạnh chính trị, tinh thầngiữ vai trò quyết định chất lượng tổng hợp, tạo nên sức mạnh chiến đấu của đơn vị
Thực tiễn quá trình tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện bộ đội, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến GD LLCT cho cán bộ, chiến sĩ Trước mỗi bước ngoặt của cách mạng, khi tình hình nhiệm vụ thay đổi, công tác GD LLCT đã quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội và đơn vị cho cán bộ, chiến sĩ, tạo cơ sở thống nhất cả ý chí quyết tâm chiến đấu và hành động thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ
Hai là, GD LLCT góp phần quan trọng vào việc củng cố, xây dựng niềm tin, xác định động cơ, thái độ trách nhiệm cho SQ LLVT trong học tập, rèn luyện, công tác và xây dựng đơn vị
GD LLCT cho SQ LLVT góp phần trang bị những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội và đơn vị, nhằm củng cố niềm tin, xác định động cơ, thái độ trách nhiệm, tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động, các nhiệm vụ của đơn vị; gắn lý luận với thực tiễn, lý thuyết với thực hành Qua thực tiễn học tập, rèn luyện, SQ LLVT có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ phải - trái, thể hiện trách nhiệm cao,quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao
Do yêu cầu nhiệm vụ của các trung đoàn bộ binh quy định, khi cơ động chiến đấu thường gặp nhiều khó khăn, gian lao, vất vả, nhưng chính trị, tư tưởng của SQ LLVT luôn vững vàng, không bị quan, giao động trước mọi tình huống Có được những phẩm chất tốt đẹp đó, một phần rất lớn là nhờ GD LLCT góp phần tạo nên
Trang 23Ba là, GD LLCT trực tiếp góp phần bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và hoàn thiện nhân cách cho SQ LLVT
Đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và nhân cách cho SQ LLVT được hình thành và hoàn thiện thông quan giáo dục và hoạt động thực tiễn Thông qua nội dung GD LLCT sẽ trực tiếp bồi dưỡng cho SQ LLVT những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc đạo đức, những chuẩn mực xã hội, những tình cảm, rèn luyện thói quen và hành vi đạo đức, ý thức kỷ luật của người quân nhân cách mạng Những nội dung này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều chỉnh thói quen, hành vi đạo đức, ý thức chấp hành kỷ luật giúp họ nhận thức đúng những giá trị chuẩn mực đạo đức để rèn luyện mình theo những tiêu chuẩn giá trị đạo đức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội và đơn vị Đó là lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; có tinh thần yêu nước; đoàn kết, dân chủ, nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần cảnh giác với âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhận thức kịp thời những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, tệ nạn xã hội nảy sinh; gương mẫu trong học tập, rèn luyện, lao động và công tác; ý thức trách nhiệm cần, kiệm, liêm, chính; tích cực học tập, ham hiểu biết, cầu tiến bộ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ
Bốn là, GD LLCT góp phần xây dựng các tổ chức trong sạch, xây dựng đơn vi vững mạnh toàn diện, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu giành thắng lợi trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao
GD LLCT góp phần xây dựng các tổ chức, các lực lượng ở các trung đoàn bộ binh vững mạnh về mọi mặt, trong đó vững vàng về chính trị, tư tưởng và tổ chức,
đủ sức SSCĐ và chiến đấu giành thắng lợi, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao Các tổ chức ở trung đoàn bộ binh được củng cố và xây dựng TSVM là kết quả GD LLCT, là mục tiêu, là động lực đảm bảo sự vững mạnh toàn diện của các trung đoàn bộ binh Mọi tổ chức, mọi hoạt động của đơn vị nói chung, hoạt động
GD LLCT cho SQ LLVT nói riêng thể hiện rất rõ ý thức trách nhiệm, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của cấp ủy, chỉ huy các cấp ở đơn vị Đồng thời, kết quả GD
LLCT là cơ sở quyết định mục tiêu phấn đấu xây dựng và củng cố Đảng ở đơn vị
Trang 24Năm là, GD LLCT góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn của SQ LLVT trong đấu tranh chống những tư tưởng sai trái, thù địch, bảo
vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng
Thông qua GD LLCT góp phần xây dựng bản lĩnh chính trị, nâng cao giác ngộ cách mạng cho SQ LLVT Lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ giác ngộ cách mạng của SQ LLVT chỉ được hình thành và phát triển trên cơ sở nhận thức đúng đắn về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội và đơn vị Từ đó, sẽ tạo dựng lòng tin của SQ LLVT vào sự lãnh đạo của Đảng,
sự thành công của công cuộc đổi mới, sự trưởng thành của quân đội, đơn vị và có lòng tự hào sâu sắc, tự tin với bản thân Đồng thời, tích cực chủ động đấu tranh chống những tư tưởng sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng, quyết tâm phấn đấu học tập, rèn luyện năng cao phẩm chất và năng lựccho
SQ LLVT góp phần đảm bảo hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ cấp trên giao
1.3 Chủ thể, nội dung, hình thức và phương pháp của công tác giáo dục
lý luận chính trị cho đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang nhân dân
- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trường chính trị Tỉnh, Trường quân sự Tỉnh có nhiệm
vụ tham mưu cấp ủy, mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng theo Quy định số 222-QĐ/TW ngày 8/5/2009 của Ban Bí thư khóa X về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách, tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy; Quyết định số 184-QĐ/TW ngày 3/9/2008 của Ban Bí thư khóa X về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Ban Tuyên giáo và Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện có nhiệm vụ tham
Trang 25mưu cấp ủy, mở các lớp bồi dưỡng theo Quyết định số 100-QĐ/TW ngày 3/6/1995 của Ban Bí thư khóa VII về tổ chức Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 3/9/2008 của Ban Bí thưc khóa X về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Quy định số 220-QĐ/TW ngày 27/12/2013 của Ban Bí thư khóa XI về chức năng, nhiệm
vụ, tổ chức và bộ máy cơ quan chuyên trách, tham mưu, giúp việc huyện ủy, quận ủy, thị
ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy
- Ban Tuyên giáo cấp xã là cơ quan tham mưu, trực tiếp giúp cấp ủy tổ chức học tập nghị quyết và các chỉ thị của Đảng
- Giảng viên trường Chính trị Tỉnh, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện, báo cáo viên, tuyên truyền viên tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức theo chức năng, nhiệm vụ
1.3.2.Nội dung, chương trình giáo dục
Thứ nhất,giáo dục những kiến thức cần thiết, cốt lõi nhất về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở để SQ LLVT quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin, lý tưởng chiến đấu
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận cách mạng hình thành trên cơ
sở vật chất là GCCN và phong trào công nhân, là kết tinh trí tuệ của nhân loại, là kết qủa có tính quy luật của sự phát triển những tư tưởng tiên tiến của nhân loại V.I.Lênin viết: “Chủ nghĩa Mác là lý luận của phong trào giải phóng của giai cấp
vô sản”[12, tr.281] Người chỉ rõ: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”, “Chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”[15, tr.30,32]
Thứ hai, giáo dục cho SQ LLVT quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối chính trị, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,tình hình nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nhiệm vụ quân đội và đơn vị
Quan điểm, đường lối chính trị, chủ trươngcủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nhiệm vụ quân đội và đơn vị là một nội dung cơ bản, quan trọng thể hiện ý chí, nguyện vọng của giai cấp, của dân tộc, của nhân dânnhằm nâng cao giác ngộ chính trị, củng cố niềm tin và ý thức trách nhiệm cho SQ
Trang 26LLVT Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không có lập trường giai cấp vững vàng, Phải chịu khó học tập lý luận Mác - Lênin, học tập đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời phải học tập văn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ”[19, tr.13]
Giáo dục cho SQ LLVT những vấn đề trên đây là nhằm xây dựng,thống nhất cho họ cả nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, xây dựng động cơ, thái độ và khả năng hành động thực tiễn công tác, quan hệ xã hội, ý thức, trách nhiệm với tổ chức, với tập thể, với cả bản thân trong chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật, các chế độ quy định của quân đội và đơn vị; không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, sẵn sàng phòng, chống làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch, đồng thời chủ động giải quyết những biểu hiện tư tưởng lệch lạc, sai trái, đủ sức hoàn thànhnhiệm vụ cấp trên giao
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Quân đội ta là quân đội cách mạng, là quân đội của nhân dân Nhân dân có Đảng lãnh đạo Đảng có chính cương, chính sách của
Đảng”[27, tr.318] Đường lối chính trị của Đảng là nội dung quan trọng hàng đầu của
GD LLCT Bởi vì, quán triệt đường lổi chính trị của Đảng là cơ sở để tiếp thu đường lối quân sự, để xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao, củng cố sự nhất chí về chính trị tinh thần, đoàn kết thống nhất cho SQ LLVT
Cùng với giáo dục đường lối chính trị, cần quán triệt cho SQ LLVTnắm vững đường lối quân sự của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện Nếu thuộc lòng mà không biết đánh giặc thì vô dụng Cho nên các chú phải học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc,học phương pháp chỉ huy chiến đấu, Tóm lại, là học để nâng cao trình độ của người chỉ huy”[18, tr.196] Đường lối quân sự có mối quan hệ hữu cơ với đường lối chính trị, xuất phát từ đường lối chính trị
và phục vụ cho thục hiện đường lối chính trị Đường lối quân sự của Đảng chỉ đạo mọi hoạt động xây dựng và chiến đấu của quân đội, là cơ sở để rèn luyện nâng cao bản lĩnh chiến đấu của SQ LLVT, là hệ thống các quan điểm của Đảng về quốc phòng - an ninh;về chiến tranh và quân đội; về xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh toàn dân,
Trang 27Thứ ba, giáo dục cho SQ LLVT truyền thống lịch sử của dân tộc, của Đảng, quân đội, đơn vị; tình yêu Tổ quốc, tình đoàn kết, hợp tác quốc tế và một số kiến thức khoa học xã hội nhân văn cần thiết khác
Truyền thống lịch sử của dân tộc, của Đảng; bản chất, truyền thống của quânđội, đơn vị và tình yêu Tổ quốc, là một phạm trù lịch sử, luôn tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan, mang đậm dấu ấn theo điều kiện hoàn cảnh của từng giai đoạn lịch sử nhất định Vấn đề này, SQ LLVT cơ bản đã được giáo dục tương đối có hệ thống qua các bậc học ở trường phổ thông Nhưng khi bước vào thực hiện nghĩa vụ quân sự, vấn đề học tập truyền thống lịch sử của SQ LLVT vẫn là yếu tố quan trọng, cần thiết nhằm góp phần xây dựng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống tốt đẹp cho họ Đặc biệt cần coi trọng giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho SQ LLVT, đó
là tìnhyêu Tổ quốc, yêu chuộng hòa bình, sự trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân sẽ là một động lực tinh thần mạnh mẽ đảm bảo cho SQ LLVT thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Thứ tư, giáo dục cho SQ LLVT về đạo đức, lối sống cách mạng
Giáo dục đạo đức, lối sống cách mạng cho SQ LLVT có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì, đạo đức điều chỉnh hành vi và các mối quan hệ của cá nhân với tập thể, với xã hội, xác định quyền lợi nghĩa vụ, trách nhiệm của SQ LLVT đối với cuộc sống V.I.Lênin khẳng định: “Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra một xã hội mới của những người cộng sản”[12, tr 369]; Vì vậy, khi nói đến GD LLCT không chỉ là giáo dục các quan điểm chính trị chung chung mà còn giáo dục những qui tắc chuẩn mực đạo đức, lối sống, thái độ, hành vi hoạt động thực tiễn cho SQ LLVT Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt nhất”[16, tr.603] Người chỉ rõ, chất lượng của một con người là sự thống nhất biện chứng giữa đức và tài; phẩm chất và năng lực, trong đó đạo đức cách mạng là cái gốc: “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức”[16, tr.316,322]
Trang 28Nội dung giáo dục đạo đức, lối sống cách mạng trên đây giữ vai trò hạt nhân định hướng, điều chỉnh, chi phối tình cảm, thói quen, hành vi đời sống của SQ LLVT Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là: “Trung với Nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[16, tr.229]
Thứ năm,giáo dục cho SQ LLVT về pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội
và các quy định của đơn vị
Nhận thức đúng đắn và tổ chức thực hiện theo đúng Pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội vàcác quy định của đơn vị là một vấn đề tất yếu khách quan, bảo đảm tự do và sự công bằng trong đơn vị Bởi vì, tư tưởng tự do và sự công bàng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển, có nghĩa là phải dựa vào pháp luật để làm thước đo tự do và sự công bằng trong xã hội
và đơn vị Một trong những phẩm chất chính trị tinh thần của SQ LLVT là có tính
tổ chức, tính kỷ luật cao Đồng thời, việc chấp hành những tiêu chuẩn pháp lý trong
xã hội, quân đội và đơn vị bảo đảm cho SQ LLVT có thể hoàn thành nhiệm vụ SSCĐ và chiến đấu trong mọi tình huống Vì vậy, giáo dục pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội và các quy định của đơn vị là một nội dung của GD LLCTnhằm xây dựng cho SQ LLVT ý thức trách nhiệm và rèn luyện hành vi, thói quen tổ chức thực hiện phát luật của Nhà nước và kỷ luật của quân đội, các chế độ quy định của đơn
vị, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao
Thứ sáu, giáo dục cho SQ LLVT về âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và trên thế giới
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, theo con đường đi lên XHCN củanước ta hiện nay, đang trong bối cảnh quốc tế tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, trong đó có những nhân tố gây mất ổn định, khó lường Chủ nghĩa đế quốc
và các thế lực thù địch tăng cường gây sức ép, răn đe bằng sức mạnh quân sự, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kết hợp bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng Lào trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực chính trị, tư tưởng Chúng tiếp tục gia tăng tuyên truyền, kích động đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, “phi chính trị hóa” quân đội, xuyên tạc, bội nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin,
Trang 29tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, lợi dụng những tiêu cực và
tệ nạn xã hội, những tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường để làm phức tạp thêm tình hình đất nước Vì vậy, phải giáo dục cho SQ LLVT ở các trung đoàn bộ binh nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và trên thế giới là một nội dung quan trọng, không thể thiếu để nâng cao cảnh giác cách mạng, làm chủ được bản thân, không bị động trước diễn biến phức tạp, thử thách của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước, khu vực và thế giới
Các nội dung GD LLCT cho SQ LLVT nêu trên là một thể thống nhất, được thực hiện đồng thời trong học tập và rèn luyện suốt quá trình làm nghĩa vụ quân sự của họ Vì vậy, quá trình giáo dục phải căn cứ vào tình hình, điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng, từng đơn vị để xác định chương trình, nội dung, lựa chọn các hình thức, phương pháp giáo dục cho phù hợp, sát đúng, vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm để đáp ứng những mặt còn thiếu, còn yếu, vừa đáp ứng mục tiêu giáo dục đặt ra
hệ thống, thống nhất do TCCT quy định hàng năm, bao gồm các hoạt động giảng bài, thảo luận, kiểm tra nhằm trang bị những kiến thức cơ bản có hệ thống về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội và đơn vị cho SQ LLVT
Sinh hoạt chính trị là hình thức học tập, nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết
của Đảng, tình hình nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội và đơn vị; là hình thức hoạt động quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính trị và cán bộ chính trị
ở các trung đoàn bộ binh nhằm quán triệt kịp thời các chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội và đơn vị đề nâng cao
Trang 30nhận thức tư tưởng, tình cảm, củng cố lòng tin biến thành hành động cách mạng của
SQ LLVT, đồng thời nâng cao hơn nữa ý thức cảnh giác cách mạng góp phần đấu tranh, khắc phục những quan điểm, tư tưởng và hành động lệch lạc, sai trái
Sinh hoạt chính trị được thực hiện bằng các phương pháp: Nghe thông báo thời
sự chính sách, lên lớp nghe giới thiệu nghị quyết mới, tự nghiên cứu, thảo luận, thu hoạch, kết luận giải đáp để quán triệt và làm sáng tỏ những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Những hình thức này, nhanh chóng giúp SQ LLVT cập nhật được những thông tin mới, những kiến thức cần thiết mới nhằm nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng tư tưởng, tình cảm và động cơ hành động thực tiễn đáp ứng mục tiêu giáo dục đặt ra
Tổ chức có hiệu quả các hoạt động đọc báo, nghe đài, xem truyền hình theo chế độ nền nếp: Các hoạt động vui chơi tích cực cho SQ LLVT trong những ngày
nghỉ, giờ nghỉ cũng là một hình thức GD LLCT ở các trung đoàn bộ binh Những hình thức này có sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin đại chúng, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của SQ LLVT Thông qua các phương tiện truyền hình, thu thanh, sách báo, với nội dung rất đa dạng, phong phú tác động vào ý thức của SQ LLVT, tạo cơ sở tiếp nhận đường lối chính trị, đạo đức, lối sống cho họ Do đó, trong hoạt động của mình, cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị, cán bộ chỉ huy, phải biết tổ chức, sử dụng rộng rãi hình thức đọc báo, nghe đài, xem truyền hình một cách chặt chẽ linh hoạt phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, khả năng bảo đảm cụ thể của đơn vị và sát thực với từng đối tượng SQ LLVT
Thông báo thời sự, chính trị là một chế độ, một hình thức giáo dục trong
Nước ta nhằm thông tin kịp thời những vấn đề thời sự, chính trị nổi bật hàng tuần, hàng tháng giúp SQ LLVT nhận rõ tình hình, nâng cao thái độ trách nhiệm đúng đắn trước sự kiện chính trị - xã hội, động viên tính tích cực, tinh thần trách nhiệm,
tự giác phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ trên giao
Ngày chính trị văn hóa, tinh thần là một hình thức tổ chức GD LLCT cho SQ
LLVT nhằm thực hiện quyền dân chủ ở các đơn vị Tăng cường tiếp xúc trực tiếp đối thoại giữa cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, giải quyết các vấn đề nảy sinh, những vướng mắc của bộ đội trong đời sống chính trị - xã hội, quân sự, hậu cần kỹ thuật, xây dựng đoàn kết giữa cấp trên với đơn vị, giữa cán bộ với chiến sĩ và tập thể
Trang 31quân nhân trong đơn vị Qua đó xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, môi trường văn hóa tốt đẹp, thúc đẩy phong trào thi đua, hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao ở các trung đoàn bộ binh thêm không khí vui tươi, sôi nổi
Hình thức tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân và tập thể SQ
LLVT nhằm củng cố, mở rộng nâng cao kiến thức chính trị đã lĩnh hội Hình thức tự học tập chính trị có vai trò ngày càng tăng nhất là hiện nay khi trình độ học vấn của SQ LLVT được nâng cao xuất hiện nhu cầu thu thập thông tin, sự phát triển của khoa học
kỹ thuật trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình làm cho vai trò của thông tin tác động vào ý thức của người quân nhân ngày càng sâu rộng và phong phú hơn Từ đó, yêu cầu việc tổ chức tự học chính trị phải có mục đích, cókế hoạch và có nội dung rõ ràng, cụ thể Cần phải nghiên cứu thiết lập những mối liên hệgiữa nhu cầu nhận thức lành mạnh,
sự phong phú trong đời sống tinh thần với việc GD LLCT, bồi dưỡng những tư tưởng, tình cảm đạo đức, lối sống trong sáng ĐCS VN cho rằng:“Học tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành chế độ Lười học tập, lời suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới, ngững hiểu biết mới cũng là biểu hiện của sự thoái hóa”[8, tr.141]
Các hình thức trên có mối quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng với nhau Đòi hỏi khi thực hiện, cả chủ thể và đối tượng phải kết hợp đồng bộ, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, đồng thời tránh áp đặt chủ quan máy móc, tuyệt đối hóa hoặc coi nhẹ hình thức nào nhằm bảo đảm cho SQ LLVT đều được GD LLCT, phù hợp với tình hình nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của cácđơn vị
1.3.3.2.Phương pháp GD LLCT cho SQ LLVT
GD LLCT cho SQ LLVT được thực hiện thông qua rất nhiều phương pháp sinh động khoa học Cơ sở khoa học của phương pháp GD LLCT là lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự thống nhất giữa giáo dục với hoạt động, lý luận liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành.Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Trong lúc học tập lý luận phải nghiên cứu công tác thực tế, kinh nghiệm thực tế, lúc học rồi, có thể tự mình tìm
ra phương hướng chính trị, có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo, thế là lý luận thiết thực,có ích”[22, tr.196,197] Phương châm giáo dục
ấy đã quy định phương pháp GD LLCT từ hoạt động truyền thụ đến hoạt động lĩnh hội, cả
hoạt động của chủ thể và đối tượngGD LLCT, cụ thể đó là:
Trang 32- Phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình trong GD LLCT nhằm phát huy trí tuệ, trách nhiệm của SQ LLVT Xây dựng mối quan hệ thật tốt, đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ, chiến sĩ để hoàn thành thắng lợi mục tiêu giáo dục đề ra
- Phương pháp giáo dục thuyết phục, nêu gương là phương pháp có hiệu quả cao nhất của GD LLCT Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người huấn luyện phải làm kiểu mẫu về mọi mặt, tư tưởng, đạo đức, lối làm việc Người nhấn mạnh: “Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình”[23, tr.356]
- Kết hợp giáo dục chung với giáo dục riêng cũng là một biện pháp GD LLCT có hiệu quả cao Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Tài liệu phải lựa chọn, xếp đặt lại, vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp với từng hạng” [22, tr.359] Người chỉ rõ: Cần phải xuất phát từ đối tượng để giải quyết mối quan hệ giữa “điểm” và “diện” trong giáo dục nhằm đáp ứng mục tiêu, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của bộ đội Không được công thức, rập khuôn, máy móc trong
GD LLCT Phải lấy tự học làm cốt Theo Người: “Muốn vậy, phải rèn luyện tác phong độc lập suy nghĩ, tự do tư tưởng trong học tập Phát huy tinh thần tự giác tích cực chủ động sáng tạo của bộ đội Phải học tập ở mọi lúc, mọi nơi Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân”[22, tr.361]
- Thực hành phương pháp giảng bài, trước hết phải trung thành với nội dung bài giảng đã được cấp trên phê chuẩn Trình bày tóm tắt mục đích, yêu cầu; nội dung,
bố cục của bài, trọng tâm, trong điểm; thời gian; phương pháp giảng bài; tài liệu học tập, bắt buộc Quá trình phân tích, lý giải các nội dung cần bám sát mục đích, yêu cầu của bài Lý luận phải chặt chẽ, ví dụ minh họa phải chính xác, sát thực tế Sử dụng phương pháp giảng phù hợp với nội dung GD LLCT và SQ LLVT Kết hợp giữa lời nói với cử chỉ, sắc thái Sử dụng bảng tranh ảnh, sơ đồ mẫu biểu đúng lúc, đúng chỗ Kết luận bài, định hướng cho người học tự nghiên cứu, trực tiếp thảo luận, giải đáp, kết luận, hướng dẫn ôn tập Tổ chức kiểm tra đánh giá kế quả, rút kinh nghiệm, lấy ý kiến đóng góp để bổ sung cho bài giảng kịp thời Sau khi giảng bài, cần chủ động theo dõi, giúp đỡ bộ đội tự nghiên cứu, chuẩn bị bài thảo luận đạt kết quả thiết thực
- Thực hiện kiểm tra,đánh giá kết quả GD LLCT nghiêm túc, động viên khuyến khích, khen thưởng kịp thời, nắm chắc và giải quyết kịp thời những hiện
Trang 33tượng tư tưởng, hành động lệch lạc, sai trái Phải lấy việc sửa chữa tư tưởng và kết quả công việc thực tế của cá nhân và tập thể để đánh giá chất lượng, hiệu quả GD LLCT
- GD LLCT phải được tiến hành trong suốt quá trình tại ngũ của SQ LLVT, gắn chặt với nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, lao động quân sự Thông qua đó để bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị của SQ LLVT
Các phương pháp GD LLCT cho SQ LLVT có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại biện chứng lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục đặt ra
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Giáo dục lý luận chính trị là một nội dung quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng; một lĩnh vực hoạt động của công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm nâng cao giác ngộ chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn, phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong toàn quân Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã làm rõ khái niệm giáo dục lý luận chính trị cho lực lượng vũ trang; những đặc điểm riêng biệt của đối tượng lực lượng vũ trang
và những đặc điểm của việc giáo dục lý luận chính trị cho lực lượng vũ trang như về chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp Những vấn đề lý luận căn bản đó là cở sở để tác giả tiến hành đánh giá thực trạng giáo dục lý luận chính trị cho sĩ quan lực lượng vũ trang của tỉnh Vĩnh Phúc ở Chương 2
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO SĨ QUAN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
2.1 Những yếu tố ảnh hướng đến giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ
sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
2.1.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
* Đặc điểm tự nhiên
Tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên 1.237,5 km2.Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi, trung du với vùng đồng bằng Châu thổ Sông Hồng
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc Vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ có vị trí địa lý thuận lợi; phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang, Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông và phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội Tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phúc
là Thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 25 km, cảng Hải Phòng khoảng 150 kmvà cảng nước sâu Cái Lân khoảng
170 km
Tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Vĩnh Yên, thị
xã Phúc Yên, các huyện: Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc
* Đặc điểm kinh tế - xã hội
Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông thuận lợi: Đường bộ có các tuyến quốc lộ chạy qua như: Quốc lộ 2A (Hà Nội - Hà Giang), Quốc lộ 2B, Quốc lộ 2C; Quốc lộ 23…, tuyến đường cao tốc xuyên Á từ Cảng Cái Lân - Nội Bài - Vĩnh Phúc - Lào Cai - Vân Nam (Trung Quốc) đi qua tỉnh Vĩnh Phúc trên 40km; tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai- Vân Nam (Trung Quốc) Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt là cầu nối giữa tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô
Hà Nội.Đường thuỷ phát triển mạnh trên các tuyến Sông Hồng, Sông Lô
Trang 35Quá trình PTKTXH của đất nước trong các năm qua đã tạo cho Vĩnh Phúc những lợi thế mới về vị trí địa lý, kinh tế; tỉnh đã trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc; Đồng thời, sự phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế và quốc gia liên quan đã đưa Vĩnh Phúc xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố lớn của Quốc gia và Quốc tế thuộc hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Quốc lộ 2 Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc; hành lang đường 18 và trong tương lai
là đường vành đai IV thành phố Hà Nội Hệ thống hạ tầng giao thông đối ngoại đã
và đang được đầu tư hiện đại là những tuyến chính gắn kết quan hệ toàn diện của Vĩnh Phúc với các tỉnh khác trong cả nước và Quốc tế
Dân số tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015 là 1.029,4 ngàn người, mật độ dân số 832 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây khá cao, năm 2012 là 11,7‰, năm 2013 là 11,6‰, năm 2014 là 10,6‰, năm 2015 là 11,4‰
Nguồn nhân lực của Vĩnh Phúc khá dồi dào, dân số trong độ tuổi lao động (từ 16 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và từ 16 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ) năm 2015
là 694.930 người chiếm tỷ lệ trên 70% dân số, trong đó chủ yếu là lao động trẻ, có kiến thức văn hóa và tinh thần sáng tạo để tiếp thu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến
Tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh năm 2014 là 51,2%, năm 2015 đạt 54,9%
Xuất phát từ điều kiện đặc thù của tỉnh (gần thủ đô Hà Nội, đầu mối giao lưu với các tỉnh tây bắc Bắc Bộ,…), trong những năm tới cùng với việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, ngoài số lượng dân số tăng
tự nhiên, dự báo có một lượng đáng kể lao động ngoài tỉnh đến Vĩnh Phúc làm việc (trong các khu công nghiệp và các hoạt động KT - XH khác ngoài các khu công nghiệp ) Dự báo dân số toàn tỉnh đến năm 2015 là 1.139 ngàn người, trong đó dân
đô thị là 452 ngàn người, dân nông thôn 687 ngàn người, tỷ lệ đô thị hoá 40%
Tỷ lệ đô thị hoá diễn ra tương đối nhanh, trong 5 năm 2006 - 2010, tỷ trọng dân số đô thị đã tăng thêm 6,2%, từ 16,7% năm 2005 lên 22,9% năm 2010, đến
Trang 36năm 2013 tỷ lệ này đạt 23,69% Tỷ lệ trên cho thấy tỷ lệ đô thị hóa ở Vĩnh Phúc vẫn còn thấp so với mức bình quân cả nước khoảng 28,1% (năm 2008)
Dự kiến cả năm 2016, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh đạt 54.690 tỷ đồng, tăng 6,11% so với năm 2015 Trong đó:
– Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh
2010 đạt 3.951,6 tỷ đồng, tăng 3,39% so với năm 2015, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,25 điểm %, riêng ngành nông nghiệp đạt 3.643,5 tỷ đồng, tăng 3,42%, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,23 điểm % Trong sản xuất nông nghiệp, ngành trồng trọt đạt kết quả khá.Trong chăn nuôi, những tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn do giá cả vật tư đầu vào tăng cao, giá sản phẩm giảm (có thời điểm giá bán sản phẩm thấp hơn giá thành sản xuất) Những tháng cuối năm, chăn nuôi trên địa bàn tương đối thuận lợi do giá sản phẩm ở mức có lãi cho người chăn nuôi; đồng thời công tác phòng, chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh được triển khai tích cực, vì vậy đến nay ngành chăn nuôi đang được phục hồi
– Tổng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng theo giá so sánh 2010 đạt 27.488,7 tỷ đồng, tăng 5,29% so với năm 2015, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 2,68 điểm % Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp đạt 25.837,8 tỷ đồng, tăng 5,07%, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 2,42 điểm % Nhìn chung ngành công nghiệp của tỉnh đang phục hồi và lấy lại đà tăng trưởng, nhất là các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh; riêng sản phẩm xe máy (chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp) phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ và do điều chỉnh chiến lược kinh doanh của các nhà đầu tư nên năm 2016 sản lượng xe máy dự kiến giảm so với năm 2013, đây là nguyên nhân chính làm cho khu vực FDI và ngành công nghiệp toàn tỉnh có mức tăng thấp so với năm 2013
– Tổng giá trị tăng thêm theo giá so sánh 2010 của các ngành dịch vụ đạt 11.106,3 tỷ đồng, tăng 8,93% so với năm 2015, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 1,77 điểm % Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 14.569 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 9,07%; theo giá so sánh 2010 đạt 12.143,8 tỷ đồng, tăng 6,38% so với cùng kỳ, đóng góp vào mức tăng trưởng chung của tỉnh là 1,41 điểm %
Trang 37Cơ cấu kinh tế năm 2016 của tỉnh Vĩnh Phúc là: Khu vực I: 9,76%; khu vực II: 62,54%; khu vực III: 27,7% (năm 2015 tương ứng là: 10,09%; 63,55% và 26,36%)
Trên địa bàn tỉnh có 78 cơ sở đào tạo, trong đó có 3 trường đại học, 7 trường cao đẳng, 13 trường trung cấp chuyên nghiệp và 55 cơ sở có tổ chức dạy nghề (cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung tân dạy nghề); quy mô đào tạo hơn 37.000 học sinh, hàng năm có gần 15.000 học sinh tốt nghiệp đáp ứng nhu cầu lao động của mọi thành phần kinh tế Bên cạnh đó, tỉnh đã có nhiều cơ chế chính sách
hỗ trợ cho các doanh nghiệp đào tạo nghề cung ứng lao động cho các doanh nghiệp Cùng với tốc độ gia tăng dân số, trong những năm tới lực lượng lao động
sẽ tăng đáng kể do dân số bước vào tuổi lao động ngày càng nhiều Mỗi năm tỉnh
có trên 1 vạn người bước vào độ tuổi lao động; đây là nguồn nhân lực dồi dào cho PTKTXH nói chung; đặc biệt là cung cấp và đáp ứng nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Vĩnh Phúc có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn Trong đó có Tam Đảo là dãy núi hình cánh cung dài 50 km, rộng 10 km với phong cảnh thiên nhiên đẹp, khí hậu trong lành, mát mẻ Đặc biệt có Vườn Quốc gia Tam Đảo và các vùng phụ cận thuộc loại rừng nguyên sinh có nhiều loài động thực vật được bảo tồn tương đối nguyên vẹn Bên cạnh đó Vĩnh Phúc còn có hệ thống sông ngòi, đầm hồ tương đối phong phú, địa thế đẹp có thể vừa phục vụ sản xuất vừa có giá trị cho phát triển du lịch như: Đại Lải, Vân Trục, Đầm Vạc, ; Nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như danh thắng Tây Thiên, Thiền viện chúc lâm, Tháp Bình Sơn, Đền thờ Trần Nguyên Hãn, Di chỉ Đồng Đậu
* Tình hình an ninh quốc phòng:
Những năm qua, quán triệt sâu sắc đường lối đổi mới của Đảng và với chủ trương đúng, tư duy, cách làm sáng tạo, cùng sự nỗ lực của toàn dân, tỉnh Vĩnh Phúc đã phát huy tốt nội lực, tiềm năng, thế mạnh, có sự phát triển khá toàn diện, vững chắc trong bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Điều đó đã
Trang 38và đang tạo điều kiện thuận lợi cho Tỉnh tăng cường tiềm lực quốc phòng, hoàn
thành tốt công tác quân sự địa phương, trọng tâm là đẩy mạnh xây dựng khu vực
phòng thủ Tỉnh ngày càng vững chắc Nắm vững quan điểm bảo vệ Tổ quốc của
Đảng, Đảng bộ, nhân dân, lực lượng vũ trang Tỉnh luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ trong tình hình mới Trên cơ sở
đó, cụ thể hóa Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) và Nghị định 152/2007/NĐ-CP của Chính phủ “Về khu vực phòng thủ” phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Tỉnh, lực lượng vũ trang đã phát huy tốt vai trò nòng cốt trong việc tham mưu, đề xuất và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức triển khai thực hiện xây dựng khu vực phòng thủ Vì vậy, tiềm lực mọi mặt của khu vực phòng thủ được tăng cường; thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân” từng bước được củng cố; việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh trên địa bàn được thực hiện đạt hiệu quả thiết thực; chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương được nâng lên Với những thành tích đạt được, năm 2015, Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh được Nhà nước tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất; nhiều tập thể, cá nhân thuộc lực lượng vũ trang Tỉnh được Bộ tư lệnh Quân khu 2, Ủy ban nhân dân Tỉnh tặng cờ thi đua và bằng khen, giấy khen
2.1.2.Tình hình đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Đội ngũ cán bộ trong lực lượng vũ trang tỉnh giữ vai trò quan trọng trong việc tham mưu đề xuất, triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự- quốc phòng địa phương Đây là lực lượng nòng cốt trong tổ chức cụ thể hóa chủ trương, đường lối quân sự - quốc phòng của Đảng; có vai trò quyết định trong tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng quân đội, huấn luyện, sản xuất, công tác Thường vụ Đảng ủy Quân sự tỉnh đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh, chỉ đạo xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, bảo đảm đội ngũ cán
Trang 39bộ ngày càng lớn mạnh, trưởng thành, tiến bộ về nhiều mặt, thực sự phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp
Bảng 2.1 Tình hình đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc
Nguồn: Ban chỉ huy Quân sự tỉnh Vĩnh Phúc
Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, cấp ủy các cấp đã thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ Việc phân cấp trách nhiệm của cấp ủy cấp trên với cấp dưới, giữa cấp ủy với người chủ trì và cơ quan tham mưu ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống được chú trọng, tiến hành thường xuyên
Trải qua thực tiễn công tác, đội ngũ cán bộ các cấp trong lực lượng vũ trang tỉnh luôn được cấp ủy, chỉ huy các đơn vị và chính quyền địa phương đánh giá cao Công tác quản lý, nhận xét đánh giá, quy hoạch, bố trí cán bộ được thực hiện chặt chẽ, đúng nguyên tắc; gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.Việc rà soát, nhận xét, đánh giá, luân chuyển, bổ nhiệm bảo đảm đúng nguyên tắc, quy trình Bộ CHQS tỉnh quan tâm thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ, quan tâm bảo đảm hỗ trợ về đất ở, nhà ở, góp phần ổn định tư tưởng để đội ngũ cán bộ yên tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Hiện nay, đội ngũ cán bộ lực lượng thường trực
Trang 40biên chế đạt 94,5% so với nhu cầu Trong đó, 0,5% có trình độ sau đại học, 45,6%
có trình độ đại học, 53,9% có trình độ cao đẳng
Bảng 2.2 Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ sĩ quan lực lượng
vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc đến hết tháng 12/2015
Trình độ lý luận chính trị Cao cấp, cử
nhân Trung cấp Sơ cấp Chưa qua
đào tạo
Sĩ quan lực lượng vũ
Nguồn: Ban chỉ huy Quân sự tỉnh Vĩnh Phúc
Qua bảng số liệu trên ta thấy, trong tổng số SQ LLVT ở Tỉnh Vĩnh Phúc đã qua đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị chiếm 65,5% năm 2015 Trong đó, trình độ
sơ cấp chiếm tỷ trọng cao nhất với 38,8%, tiếp theo là trình độ trung cấp với 20,8% Tuy nhiên, tỷ lệ chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ khá lớn với 25,5% Chính vì vậy, việc đẩy mạnh giáo dục lý luận chính trị trong thời gian tới cho đội ngũ SQ LLVT thời gian tới là rất quan trọng và cần thiết
Trong những năm qua, đội ngũ sĩ quan lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc tích cực tham gia thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội trên địa bàn; thường xuyên vận động nhân dân thực hiện đúng chú trương, đường lối, chính sách của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và của tỉnh, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng; quốc phòng với kinh tế và an ninh trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là hoạt động của lực lượng thường trực, đảm bảo an toàn tuyệt đối để tỉnh triển khai các dự án phát triển kinh tế, xã hội Lực lượng quân sự địa phương Vĩnh Phúc đã tích cực tham gia các hoạt động phogf chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, sửa chữa, xây dưng lại nhà cửa, trường học tại các huyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Dương, Tam Đảo, thành phố Vĩnh Yên, thị xã PHúc Yên, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, hạn chế thiệt hại về người và tài sản