1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Về chế định bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung 2009)

20 867 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 39,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. ĐẶT VẤN ĐỀ1 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ1 I. Cơ sở lý luận về quyền tác giả1 1. Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả1 2. Các nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả4 3. Khái quát về tác phẩm6 4. Chủ thể của quyền tác giả7 II. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)9 1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả9 2. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả10 3. Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả13 III. Những bất cập và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật16 1. Về thuật ngữ “tác giả” và “đồng tác giả”16 2. Về thuật ngữ “chủ sở hữu quyền tác giả”17 3. Về thuật ngữ “bản sao tác phẩm”17 C. KẾT LUẬN18

Trang 1

BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

CHỦ ĐỀ 5: ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2009) – NHỮNG BẤT CẬP VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thời đại hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đang được coi là những biện pháp hữu hiệu nhất giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các tác giả, chủ sở hữu tác phẩm khỏi các hành vi xâm phạm của

kẻ xấu; tác động mạnh mẽ để phát huy sự sáng tạo của mỗi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp cho ra đời nhiều tác phẩm trí tuệ mới; góp phần không nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế và phát huy các giá trị văn hóa, tinh thần của đất nước Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta, cùng với công cuộc hội nhập không ngừng với các nước trên thế giới, ngày càng xuất hiện nhiều các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả với thủ đoạn hết sức tinh vi và xảo quyệt Chính vì vậy, hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền tác giả luôn được đánh giá cao và quan tâm thực hiện Điều đó làm

động lực thúc đẩy em đi vào tìm hiểu đề tài: “Điều kiện bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) – những bất cập và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật”

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lý luận về quyền tác giả

1 Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả

1.1 Khái niệm quyền tác giả

Trang 2

Ở Việt Nam, quyền tác giả là phạm vi những quyền mà pháp luật thừa nhận và bảo hộ đối với tác giả có tác phẩm Theo điều 18, Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) quy định quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm Từ đây, có thể hiểu quyền tác giả theo hai hướng:

Thứ nhất, về phương diện khách quan: quyền tác giả là tổng hợp các quy

phạm pháp luật về quyền tác giả nhằm xác nhận và bảo vệ quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả, xác định nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm phạm

Thứ hai,về phương diện chủ quan: quyền tác giả là quyền dân sự cụ thể

của chủ thể với tư cách là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học và quyền khởi kiện hay không khi quyền của mình bị xâm phạm

Ngoài ra, ở một phương diện khác, quyền tác giả còn được hiểu là quan

hệ pháp luật dân sự Đó là quan hệ xã hội giữa tác giả cũng như chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thể khác thông qua tác phẩm, dưới sự tác động của quy phạm pháp luật, quan hệ đó được xác định Quan hệ pháp luật về quyền tác giả là quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối với các chủ thể của quyền được xác định và các chủ thể khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền đó

1.2 Đặc điểm quyền tác giả

Quyền tác giả là một quyền bộ phận trong quyền sở hữu trí tuệ nên nó mang những đặc điểm chung của quyền sở hữu trí tuệ như: tính vô hình của đối tượng; được bảo hộ trong thời hạn nhất định Ngoài những đặc điểm chung đó, quyền tác giả còn có những đặc điểm riêng biệt

Thứ nhất, đối tượng của quyền tác giả luôn mang tính sáng tạo, được bảo

hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật

Trang 3

Đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Tác phẩm là thành quả lao động sáng tạo của tác giả được thể hiện dưới hình thức nhất định Mọi cá nhân đều có quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học và khi cá nhân tạo ra tác phẩm trí tuệ, không phụ thuộc vào giá trị nội dung và nghệ thuật đều có quyền tác giả đối với tác phẩm Tác phẩm phải do tác giả trực tiếp thực hiện lao động trí tuệ của mình mà không phải sao chép từ tác phẩm của người khác Tác phẩm sẽ được nhiều người biết đến, sử dụng nếu có nội dung phong phú, hình thức thể hiện sáng tạo được kết hợp bởi giá trị nghệ thuật, khoa học và kinh nghiệm nghề nghiệp của tác giả

Thứ hai, quyền tác giả thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm

Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi

nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung sáng tạo tác phẩm Quyền tác giả chỉ được giới hạn trong phạm vi thể hiện cụ thể của tác phẩm Những ý tưởng chỉ có trong suy nghĩ của tác giả mà chưa được thể hiện ra bên ngoài thì sẽ không được công nhận và bảo hộ

Thứ ba, hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động.

Quyền tác giả được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tác giả, không phụ thuộc vào thể thức, thủ tục nào.Từ thời điểm tạo ra tác phẩm, tác giả được bảo hộ về mặt pháp lý và có các quyền của người sáng tạo mà không phụ thuộc thủ tục đăng ký Quyền tác giả được phát sinh mặc nhiên và nó thể hiện dưới hình thức khách quan mà người khác có thể nhận biết được Như vậy, việc đăng ký quyền tác giả không phải căn cứ phát sinh quyền tác giả mà chỉ là chứng cứ chứng minh khi có tranh chấp

Thứ tư, quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối

Đối với tác phẩm đã được công bố, phổ biến và tác phẩm không bị cấm sao chụp thì cá nhân, tổ chức được phép sử dụng tác phẩm của người khác nếu việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh, ảnh hưởng đến việc sử dụng,

Trang 4

khai thác bình thường của tác phẩm, không xâm hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp khác của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

1.3 Ý nghĩa quyền tác giả

Thứ nhất, bảo hộ quyền lợi của người sáng tạo tri thức, ngăn cấm người

khác thương mại hóa tri thức của mình, chống lại sự lạm dụng, khai thác và sưu tầm làm tổn hại đến giá trị đích thực của tác phẩm

Thứ hai, ngoài việc công nhận về nguồn gốc sáng tạo ra tác phẩm, đây

còn là sự bù đắp xứng đáng cho tác giả vì những công sức sáng tạo họ đã bỏ ra Việc bảo hộ này làm tăng sự chắc chắn và ổn định về mặt pháp lí và mang lại lợi ích không chỉ cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mà cho cả những người sử dụng tác phẩm đó

Thứ ba,cho phép văn hóa các dân tộc tham gia một cách hiệu quả hơn vào

thị trường toàn cầu và từng bước thoát khỏi cảnh nghèo và lệ thuộc, do đó được coi là một công cụ tiềm năng trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới

2 Các nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả

Nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả là tư tưởng chỉ đạo cho các chủ thể khi vận dụng các quy phạm pháp luật về quyền tác giả, đặc biệt là đối với việc áp dụng các quy định về quyền tác giả của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp

2.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do sáng tạo của cá nhân

Đây là nguyên tắc dựa trên tinh thần của khoản 2, điều 62, Hiến Pháp

2013: “Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên

cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”. Nhà nước đã tạo thế chủ động và tự do sáng tạo của cá nhân, điều này được ghi nhận trong Hiến pháp, đồng thời cũng phải tuân thủ những nguyên tắc chung của luật dân sự đặc biệt là nguyên tắc “tự do, tự nguyện cam kết thỏa

Trang 5

thuận” Với quy định trên đây thì quyền tự do sáng tạo của cá nhân luôn được tôn trọng và bảo dảm thực hiện, khuyến khích tự do sáng tạo, cấm cản trở, hạn chế quyền tự do sáng tạo của cá nhân Pháp luật bảo đảm cho người sáng tạo tự

do chọn đề tài, hình thức, đặt tên tác phẩm, đứng tên tác giả

2.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng, tự định đọat của các chủ thể

Nguyên tắc này được công nhận tại khoản 1, điều 16, Hiến Pháp 2013:

“Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Và nội dung của nó tiếp tục được

thể hiện trong Bộ luật dân sự 2015: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng,

không được lấy bất kì lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản” (khoản 1, điều 3) Nguyên tắc này là

kim chỉ nam định hướng cho tất cả các ngành luật quy định về quyền tác giả nói chung và quyền của người sáng tác văn học, nghệ thuật nói riêng không phân biệt độ tuổi, trình độ văn hóa, giới tính Tác giả hoàn toàn có quyền định đoạt các quyền của mình có được từ tác phẩm Pháp luật về quyền tác giả luôn bảo đảm cho các chủ thể sử dụng, khai thác tác phẩm một cách hiệu quả nhất Bất kể hành vi nào xâm phạm đến quyền tác giả đều sẽ bị đưa ra trước pháp luật xử lý một cách nghiêm minh, nhằm bảo vệ lợi ích cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng như đảm bảo chất lượng sản phẩm đến tay người tiêu dùng

2.3 Nguyên tắc bảo đảm không trùng lặp tác phẩm

Do đặc tính vô hình của các đối tượng sở hữu trí tuệ nên quyền chiếm hữu đối tượng này là không có ý nghĩa và nó luôn bị đe dọa đặt trong tình trạng có thể bị đánh cắp, sao chép bất cứ lúc nào Khi tác phẩm hay công trình khoa học

đã hoàn thành và được công chúng biết đến thì việc sao chép sử dụng thành quả lao động một cách bất hợp pháp lại rất dễ dàng Do vậy, nguy cơ bị xâm phạm rất lớn kéo theo việc xác định thiệt hại rất khó khăn, phức tạp Điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sáng tạo, thậm chí kìm hãm sự phát triển Nội dung của nguyên tắc thể hiện qua các ý sau:

Trang 6

Thứ nhất, tác phẩm được bảo hộ phải có tính sáng tạo, không phải là cách

sắp xếp diễn đạt đơn thuần, bắt trước cách diễn đạt thể hiện ngôn từ, màu sắc khuôn mẫu của tác phẩm khác

Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải là bản gốc (bản đầu tiên của tác phẩm

do tác giả sáng tạo ra)

Thứ ba, bảo đảm tính toàn vẹn của tác phẩm Trong các quyền nhân thân

của tác giả có quyền bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm Xâm phạm đến sự toàn vẹn của tác phẩm là xâm phạm đến quyền nhân thân của tác giả Không ai có quyền thay đổi tác phẩm với bất cứ lý do hay mục đích nào mà không có sự đồng ý của tác giả

3 Khái quát về tác phẩm

3.1 Khái niệm tác phẩm

Theo quy định tại khoản 7, điều 4 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung

2009) thì:“Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và

khoa học thể hiện bằng bất kì phương tiện hay hình thức nào” Như vậy, sản

phẩm lao động trí tuệ để được công nhận là tác phẩm và được bảo hộ thì phải đáp ứng đủ ba điều kiện: là kết quả của hoạt động sáng tạo; phải được ấn định trên hình thức vật chất hoặc thể hiện thông qua hình thức nhất định và thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học

Ngoài ra, để tránh những cách hiểu sai về khái niệm tác phẩm, pháp luật

đã quy định cụ thể các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tại điều 14, Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) kết hợp với Công ước Berne về tác phẩm và Nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan Theo đó loại hình được bảo hộ gồm: Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác; Các bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; Tác phẩm sân khấu; Tác phẩm điện ảnh và tương tự; Tác phẩm nhiếp ảnh; Tác phẩm báo chí; Tác phẩm âm nhạc; Tác phẩm kiến trúc; Tác phẩm tạo

Trang 7

hình, mỹ thuật, ứng dụng; Các bức họa đồ, bản vẽ, sơ đồ, bản đồ; Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu; Tác phẩm phái sinh

3.2 Phân loại tác phẩm

Dựa vào lĩnh vực sáng tạo có: tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm khoa học

Dựa vào nguồn gốc hình thành có: tác phẩm gốc, tác phẩm phái sinh (trong đó có: tác phẩm dịch thuật, tác phẩm phóng tác, tác phẩm cải biên, tác phẩm chuyển thể), tác phẩm tuyển tập, tác phẩm hợp tuyển

4 Chủ thể của quyền tác giả

Chủ thể của quyền tác giả được hiểu là các cá nhân, tổ chức có các quyền nhất định đối với một tác phẩm, bao gồm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

4.1 Tác giả của tác phẩm

Chỉ có thể là con người, bằng lao động trí tuệ sáng tạo của mình trực tiếp tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học mới có thể được coi là tác giả Trước đây, trong Bộ luật dân sự 2005, tại điều 736 có đề cập đến khái niệm tác giả bao gồm:

“1 Người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi

chung là tác phẩm) là tác giả của tác phẩm đó Trong trường hợp có hai người hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là các đồng tác giả.

2 Người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó.”

Cho đến thời điểm hiện tại, khi Bộ luật dân sự 2005 đã hết hiệu lực, Bộ luật dân sự 2015 hiện hành đã rút gọn, không còn đi sâu vào các luật chuyên

Trang 8

ngành cho nên khái niệm này không còn được sử dụng ở Bộ luật dân sự 2015 nữa Tuy vậy, một văn bản khác đang có hiệu lực là Nghị định 100/2006/

NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật

Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan ở khoản 1 điều 8 vẫn có quy định về khái niệm tác giả Theo đó: Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học bao gồm:

a) Cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả;

b) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;

c) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam; d) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên

Nhìn chung, một chủ thể muốn được công nhân là tác giả cần phải đáp ứng được ba điều kiện:

Thứ nhất, phải là người trực tiếp thực hiện hoạt động sáng tạo để tạo ra

tác phẩm Hoạt động sáng tạo là sự lao động trí tuệ để tạo ra các tác phẩm hay nói cách khác, các tác phẩm phải là kết quả của hoạt động sáng tạo được thể hiện trên hình thái vật chất, hoặc thể hiện thông qua hình thức nhất định, có tính độc lập tương đối, mang tính mới về nội dung, ý tưởng hoặc sự thể hiện tác phẩm Chủ thể làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả

Thứ hai, người tạo ra tác phẩm phải ghi tên thật hoặc bút danh của mình

lên tác phẩm được công bố, sử dụng Đây là một trong các quyền nhân thân của tác giả được quy định tại khoản 2, Điều 19, Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) Cá biệt hóa tác phẩm là một phương thức đơn giản và thường gặp để ấn định quyền tác giả đối với tác phẩm

Trang 9

Thứ ba, tác giả chỉ được thừa nhận nếu tác phẩm được tạo ra là kết quả

của lao động sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học

Thuật ngữ tác giả có thể hiểu theo hai phương diện tổng quan và phương diện hẹp Tuy nhiên, tổng quát lại, có thể định nghĩa tác giả như sau: Tác giả là người trực tiếp lao động sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học

để tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm thuộc một trong các lĩnh vực đó

4.2 Chủ sở hữu quyền tác giả

Chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, tổ chức nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản liên quan đến tác phẩm được thừa nhận dù họ là người trực tiếp hoặc không trực tiếp tạo ra tác phẩm đó Điều này đã được quy định tại điều 36, Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) Theo các điều từ điều 37 đến điều 42, thì các tổ chức, cá nhân sau đây được thừa nhận là chủ sở hữu quyền tác giả: tác giả; các đồng tác giả; tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả; người thừa kế; người được chuyển giao quyền và Nhà nước

II Điều kiện bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)

1 Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

Theo quy định tại điều 13, Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) thì điều kiện về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ là:

“1 Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều

từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này.

2 Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại khoản 1 Điều này gồm

tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công

Trang 10

bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

Như vậy, theo Luật SHTT, để tác phẩm của mình được bảo hộ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả phải có những điều kiện:

Thứ nhất, là người trực tiếp lao động sáng tạo ra tác phẩm và các chủ sở

hữu quyền tác giả đã nêu trên

Thứ hai, phải là tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân nước

ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam hoặc được công bố đồng thời ở Việt Nam trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu ở nước khác hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Có thể thấy rằng, nhưng quy định này của các nhà làm luật đặt ra đã được nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng và cặn kẽ; chi tiết và chặt chẽ, để giới hạn những chủ thể được bảo hộ về phạm vi lãnh thổ, giới hạn tác phẩm được công bố ở nước ta, cũng như để phù hợp với thông lệ, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

2 Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

Khoản 7, điều 4, Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) quy định về

khái niệm tác phẩm như sau: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực

văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kì phương tiện hay hình thức nào” Tuy vậy để được bảo hộ quyền tác giả thì tác phẩm phải thuộc một trong

các trường hợp được quy định tại điều 14, Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) và được quy định chi tiết bởi Nghị định của Chính phủ số 100/2006/

NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 85/2011/NĐ-NĐ-CP):

Ngày đăng: 09/06/2017, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w