Đánh giá đa dạng sinh học nông nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (LV tốt nghiệp)Đánh giá đa dạng sinh học nông nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (LV tốt nghiệp)Đánh giá đa dạng sinh học nông nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (LV tốt nghiệp)Đánh giá đa dạng sinh học nông nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (LV tốt nghiệp)Đánh giá đa dạng sinh học nông nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (LV tốt nghiệp)Đánh giá đa dạng sinh học nông nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (LV tốt nghiệp)Đánh giá đa dạng sinh học nông nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (LV tốt nghiệp)Đánh giá đa dạng sinh học nông nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (LV tốt nghiệp)Đánh giá đa dạng sinh học nông nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (LV tốt nghiệp)Đánh giá đa dạng sinh học nông nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (LV tốt nghiệp)
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
Nguyễn Thị Nhung
ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC NÔNG NGHIỆP
XÃ PHONG THỊNH, HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP
BỀN VỮNG
Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Khoa học môi trường (Chương trình đào tạo chuẩn)
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
Nguyễn Thị Nhung
ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC NÔNG NGHIỆP
XÃ PHONG THỊNH, HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP
BỀN VỮNG
Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Khoa học môi trường (Chương trình đào tạo chuẩn)
Cán bộ hướng dẫn: TS Đoàn Hoàng Giang
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các Thầy, Cô giáo trường Đại học Khoa học Tự nhiên nói chung cũng như các Thầy, Cô khoa Môi trường nói riêng – những người
đã truyền đạt cho tôi những tri thức quý báu trong suốt quá trình học tập để tôi
có thể hoàn thành khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Đoàn Hoàng Giang – người
thầy đã trực tiếp hướng dẫn, luôn tận tình chỉ bảo và dìu dắt tôi trong suốt quá trình làm khóa luận này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Hội đồng nhân dân xã Phong Thịnh đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả người dân xã Phong Thịnh – những người đã nhiệt tình giúp đỡ và ủng hộ tôi trong quá trình điều tra thực địa
Cảm ơn gia đình, bạn bè luôn là hậu phương vững chắc khuyến khích
và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên Nguyễn Thị Nhung
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Cơ cấu loại hộ 12
Bảng 2: Nguồn thu nhập lớn nhất của hộ 12
Bảng 3: Diện tích gieo trồng xã Phong Thịnh 2012-2016 15
Bảng 4: Tổng hợp giống lúa gieo trồng từ năm 2012-2016 17
Bảng 5: Số lượng chăn nuôi xã Phong Thịnh 19
Bảng 6: Một số loại phân bón thường dùng 23
Bảng 7: Một số loại thuốc bảo vệ thực vật thường dùng 26
DANH MỤC HÌNH Hình 1: Cơ cấu loại hộ xã Phong Thịnh năm 2016 13
Hình 2: Cơ cấu nguồn thu nhập chính của hộ năm 2016 13
Hình 3: Tỷ trọng đất gieo trồng xã từ năm 2012-2016 14
Hình 4: Cơ cấu gieo trồng xã từ năm 2012-2016 16
Hình 5: Gà cỏ mía 20
Hình 6: Cơ cấu gia cầm năm 2016 20
Hình 7: Lợn Móng Cái 21
Hình 8: Lợn siêu nạc 21
Hình 9: Cơ cấu gia súc năm 2016 21
Hình 10: Bò lai Sind 22
Hình 11: Trâu Việt Nam 22
Hình 12: Bao bì thuốc bảo vệ thực vật vứt bỏ tại nguồn nước 25
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN 2
1.1 Tổng quan về nông nghiệp bền vững 2
1.2 Tổng quan về đa dạng sinh học nông nghiệp 5
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học nông nghiệp 6
1.3.1 Trên thế giới 6
1.3.2 Ở Việt Nam 8
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
2.2 Phương pháp nghiên cứu 11
2.2.1 Thu thập số liệu và tài liệu thứ cấp 11
2.2.2 Điều tra thực địa 11
2.2.3 Phân tích và xử lí số liệu bằng công cụ Excel 11
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 12
3.1 Một số đặc điểm cơ bản 12
3.2 Đa dạng cây trồng, vật nuôi 15
3.2.1 Đa dạng cây trồng 15
3.2.2 Đa dạng vật nuôi 19
3.3 Thuận lợi và khó khăn 23
3.3.1 Thuận lợi 23
3.3.2 Khó khăn 24
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 6MỞ ĐẦU
Xã Phong Thịnh là một xã vùng đồi núi thuộc huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An Đây là xã làm nông nghiệp lâu đời với đa số người dân bản xứ sinh sống và duy trì nghề nông từ thời tổ tiên để lại
Trong thời kì cả thế giới đang hướng tới nền nông nghiệp bền vững, cùng với kế hoạch phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của Đảng ta, việc nghiên cứu thực trạng đa dạng sinh học nông nghiệp để có cơ sở khoa học định hướng đến nền nông nghiệp bền vững là rất quan trọng và cấp thiết
Do đó, sinh viên lựa chọn đề tài “ Đánh giá đa dạng sinh học nông
nghiệp xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An làm cơ sở khoa học cho phát triển hệ sinh thái nông nghiệp bền vững” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp mang tính mở đường cho những nghiên cứu chuyên sâu hơn về đa dạng sinh học nông nghiệp của địa phương, làm cơ sở khoa học cho những định hướng chính sách phát triển nông nghiệp của xã, hướng tới nền nông nghiệp bền vững trong tương lai
Nội dung của đề tài chủ yếu điều tra nghiên cứu về mức độ đa dạng sinh học nông nghiệp tại xã Phong Thịnh, điều tra thực tế về thực trạng tình hình sản xuất, diễn biến thay đổi cơ cấu và phương thức sản xuất kết hợp nghiên cứu một số yếu tố tác động đến đa dạng sinh học, từ đó đưa ra những kết luận tổng quan về nền nông nghiệp xã và có những đề xuất khuyến nghị phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của vùng
Mong rằng sự xuất hiện của đề tài sẽ giúp cho các bạn đọc quan tâm có thêm cái nhìn về vùng nông nghiệp thuần túy chưa bị khai phá bởi nền công nghiệp hiện đại, có được sự so sánh với các vùng nông nghiệp khác, từ đó làm
cơ sở để phát huy và nghiên cứu để hoàn thiện thêm đề tài về những vùng nông nghiệp nông thôn có đặc điểm tương đồng
Trang 7Chương 1
TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về nông nghiệp bền vững
Trong lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới, nông nghiệp luôn được xem là một hoạt động sản xuất cơ bản của con người Hoạt động sản xuất nông nghiệp là những tác động của con người vào thiên nhiên (đất đai, nguồn nước, cây trồng…) để tạo ra những sản phẩm (nông sản) phục vụ cho nhu cầu của mình Cùng với sự phát triển của xã hội, nông nghiệp cũng
có những bước phát triển qua các giai đoạn khác nhau:
Con người biết làm nông nghiệp từ thời kì xa xưa Từ những hoạt động hái lượm những gì đáp ứng cho nhu cầu của mình từ thiên nhiên ở thời kì nguyên thủy, con người đã thực hiện việc trồng trọt, chăn nuôi để chủ động tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm cho mình Thời gian này các hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động chân tay và một số công
cụ thô sơ Nền nông nghiệp dựa vào lao động chân tay và công cụ thô sơ, kéo dài hàng nghìn năm trong lịch sử phát triển của nhân loại Ở thời kì này tác động của con người lên thiên nhiên chưa thật sâu sắc, đất đai để làm nông nghiệp chưa nhiều Do đó con người có thể sống hòa hợp với thiên nhiên
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, số dân trên trái đất ngày càng tăng, nhu cầu lương thực ngày càng lớn Nhiều thành tựu khoa học và công nghệ được áp dụng để tăng năng suất và sản lượng cây trồng Diện tích đất đai dành cho nông nghiệp ngày càng tăng, song hành cùng việc chặt phá
và thu hẹp diện tích rừng Nhiều hệ sinh thái tự nhiên bị thoái hóa, nhiều loài sinh vật bị tiêu diệt, môi trường sống của các loài sinh vật hoang dã bị mất đi Quá trình này kéo theo đất đai bị rửa trôi, xói mòn, bị bạc màu, bị đá ong hóa ngày càng tăng Độ phì nhiêu, dinh dưỡng sau một quá trình canh tác lâu dài
sẽ bị giảm dần Nhiều vùng đất trở thành hoang mạc, bị sa mạc hóa
Từ cuối thế kỉ 18 của thiên niên kỉ thứ nhất công nghiệp của nhiều nước trên thế giới phát triển mạnh mẽ với tốc độ nhanh, chế tạo ra được nhiều loại máy móc, công cụ lao động phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Công
Trang 8nghiệp hóa chất tạo ra nhiều loại phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật để sử dụng trong nông nghiệp Năng lượng hóa thạch, năng lượng điện được sử dụng trong nông nghiệp ngày càng nhiều
Những thành tựu khoa học này đã góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện đẩy mạnh quá trình thâm canh, tăng năng suất nông sản Nhưng cùng với sự phát triển này là quá trình tác động mạnh
mẽ và sâu sắc lên thiên nhiên, những tác động ngày càng to lớn vượt quá sức chịu đựng, khả năng phục hồi của thiên nhiên, gây nên những đảo lộn, những hủy hoại cho thiên nhiên ở những vùng rộng lớn
Rừng bị chặt phá lấy đất làm nông nghiệp là nguyên nhân của những trận lũ bất thường, những đợt hạn hán kéo dài, tình trạng rửa trôi, xói mòn ở những vùng đất dốc Việc sử dụng nhiều lần với lượng lớn các loại phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là nguyên nhân của ô nhiễm môi trường, tình trạng tích lũy các chất độc hại trong nông sản gây ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng, gây ngộ độc cho người tiêu dùng Chế độ canh tác thiếu hợp lí, một chiều chỉ chú ý đến lợi ích kinh tế là nguyên nhân của những trận dịch sâu bệnh bùng phát gây hại nghiêm trọng, dẫn đến phải sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật, và hậu quả là gây ô nhiễm môi trường Dư lượng các chất độc hại trong nông sản không những gây hại trực tiếp tức thời đối với người sử dụng mà còn có thể gây ra những tác động có hại lâu dài về sau đối với cơ thể người bị ngộ độc, kể cả những tác động di truyền gây hại cho con cái ở thế hệ tiếp theo
Để ngăn chặn và phòng tránh những cơn thịnh nộ của thiên nhiên, con người cần phải thay đổi cách thức sản xuất nông nghiệp, cần hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp bền vững không những hướng tới việc sản xuất những sản phẩm lành sạch không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng
mà còn phải tăng năng suất cây trồng, năng suất đất đai và lao động, đồng thời góp phần vào quá trình phát triển bền vững của thiên nhiên và xã hội
Nông nghiệp bền vững được hiểu theo hai nghĩa:
Trang 9Thứ nhất, nông nghiệp bền vững (permaculture) theo định nghĩa của Bill Mollison [1] là một hệ thống, nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú thiên nhiên mà không liên tục hủy diệt sự sống trên trái đất
Thứ hai, nông nghiệp bền vững (sustainable agriculture) theo định nghĩa của từ điển đa dạng sinh học và phát triển bền vững (nhà xuất bản khoa học và kĩ thuật – Hà Nội – 2001) [2] là phương pháp trồng trọt và chăn nuôi dựa vào việc phân bón hữu cơ, bảo vệ đất màu, bảo vệ nước, hạn chế sâu bệnh bằng biện pháp sinh học và sử dụng ở mức ít nhất năng suất hóa thạch không tái tạo
Mục đích của nông nghiệp bền vững là tạo ra một hệ sinh thái bền vững, có tiềm lực kinh tế, thỏa mãn nhu cầu của con người mà không làm hủy hoại môi trường sống Hay chính là việc thỏa mãn nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ mai sau
Nông nghiệp bền vững tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp sản xuất lương thực, thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi nhiều hơn so với
hệ sinh thái tự nhiên Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái [6]
Triết lí của nông nghiệp bền vững là hợp tác với thiên nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, không đi ngược lại, chống lại các quy luật tự nhiên Trong nông nghiệp bền vững, xây dựng những hệ sinh thái nông nghiệp với việc áp dụng các khoa học kĩ thuật khác nhau tùy vào điều kiện khí hậu từng vùng miền và điều kiện kinh tế của từng địa phương Việc áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại hay việc sử dụng các hóa chất làm phân bón cần phải tính toán cẩn thận, việc áp dụng cần thực hiện đúng theo nguyên tắc và liều lượng cùng kết hợp với việc sử dụng phân hữu cơ một cách hiệu quả [13]
Nông nghiệp bền vững cần gắn với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững hiện nay Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững theo tinh thần của Đại hội XII của Đảng ta chính là quá trình nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh
Trang 10tế hợp lí, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái, nhằm thỏa mãn các nhu cầu về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho sản xuất của xã hội, cả trong hiện tại và tương lai [4]
1.2 Tổng quan về đa dạng sinh học nông nghiệp
Đa dạng sinh học, theo định nghĩa của Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới,
1989, là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô vùng phức tạp tồn tại trong môi trường [19]
Đa dạng sinh học gồm có ba cấp độ: đa đạng gen, da dạng loài và đa dạng hệ sinh thái Trong đó, đa dạng gen (đa dạng di truyền) được hiểu là tần
số và sự đa dạng các gen và bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau Đa dạng loài là tần số và sự phong phú về trạng thái của các loài khác nhau Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về trạng thái và tần số của các hệ sinh thái khác nhau
Đa dạng sinh học là nền tảng của nông nghiệp, là nguồn gốc và sự phong phú của mọi giống cây trồng và vật nuôi
Đa dạng sinh học nông nghiệp là bộ phận của đa dạng sinh học, bao gồm tất cả các thành phần của đa dạng sinh học - ở cấp gen, cấp loài và cấp
hệ sinh thái – liên quan đến thực phẩm và nông nghiệp và các hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm các loài cây trồng và vật nuôi, và nhiều giống thuộc các loài đó và còn bao gồm các thành phần khác hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp Đa dạng sinh học nông nghiệp còn là kết quả của quá trình chọn lọc
tự nhiên và nhân tạọ
Trong đa dạng sinh học nông nghiệp, đa dạng hệ sinh thái đề cập đến tất cả các cảnh quan nông nghiệp như: các hệ sinh thái nước (sông, mương, hồ
ao, đất ngập nước…), bờ ruộng (bao gồm cả bờ ven đường), các vùng có cây
và khoảnh rừng (bao gồm cả những mảnh rừng rất nhỏ nằm giữa các khu ruộng trồng trọt), các khu vườn gia đình, những khu đất được gieo trồng hoặc
để hoang và tất cả cá hệ sinh thái liên quan khác [12] Đa dạng loài lại đề cập đến tất cả các loài cây trồng, vật nuôi trong các hệ sinh thái nông nghiệp: trâu,
Trang 11bò, lợn, gà, cây lúa, lạc, ngô… Trong khi đó đa dạng gen (di truyền) sẽ đề cập
cụ thể đến tất cả các loại giống của từng loại cây trồng, vật nuôi
Việc nghiên cứu đa dạng sinh học nông nghiệp không chỉ đơn thuần là nghiên cứu các thành phần của hệ sinh thái nông nghiệp mà còn cần nghiên cứu tất cả các mối liên hệ giữa chúng và với các thành phần bên ngoài, các dòng vật chất, năng lượng, thông tin để có được cái nhìn tổng quát, đúng đắn nhất về mức độ đa dạng sinh học của hệ sinh thái nông nghiệp, từ đó có định hướng phát triển và bảo tồn hợp lí
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học nông nghiệp
1.3.1 Trên thế giới
Đa dạng sinh học nông nghiệp từ lâu đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu
Từ thập kỉ 70, Tổ chức Nông lương thế giới FAO đã triển khai những
dự án nghiên cứu liên quan đến đánh giá đất đai và phân vùng sinh thái nông nghiệp ( FAO, 1974, 1976, 1977, 1978) Thông qua những nghiên cứu có tính
hệ thống và kiểm chứng trên thực tế ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, FAO
đã đưa ra khung phương pháp phân vùng sinh thái nông nghiệp Phương pháp tổng hợp các yếu tố sinh thái đất đai đơn lẻ như bức xạ nhiệt, độ ẩm, đất… để đánh giá tiềm năng sử dụng cho các đơn vị đất đai hoặc sinh thái cảnh quan
Từ đó thêm cơ sở cho việc phát triển đa dạng sinh học, với việc sản xuất nông nghiệp thích ứng với từng điều kiện tự nhiên cụ thể [3]
Ở Trung Quốc, các nhà khoa học đã thử nghiệm nhiều kiểu thiết kế hệ sinh thái trong các hoàn cảnh cụ thể để tạo ra hệ thống nông nghiệp đa chức năng, ổn định, bền vững, tận dụng triệt để mối quan hệ sinh học trong các hệ sinh thái [14,17,18]
Năm 2004, hai tác giả Mitsch and Jorgensen đã xuất bản cuốn sách
“Công nghệ sinh thái và phục hồi hệ sinh thái” Trong thực hành thiết kế hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học, hai tác giả này chỉ rõ là phải bố trí các loài sinh vật trong hệ thống sao cho chúng có thể thích ứng với nhau và với môi trường sống cao nhất Điều này nghĩa là các loài vật nuôi mà con người
Trang 12sử dụng phải có khả năng thích nghi với các điều kiện trong hệ sinh thái nông nghiệp địa phương [16]
Ngày nay với mức độ phát triển dân số chóng mặt kéo theo nhu cầu lương thực và thực phẩm cũng tăng lên, con người phải tìm mọi cách tăng năng suất cây trồng, bắt hệ sinh thái nông nghiệp phải sản sinh ra mức năng suất đôi khi vượt quá khả năng cung cấp tự nhiên của nó Hoạt động này dẫn đến tình trạng suy thoái nghiêm trọng đất nông nghiệp và suy giảm mức độ đa dạng sinh học nông nghiệp nói riêng và đa dạng sinh học nói chung, đặc biệt
ở những vùng nông nghiệp thâm canh (UN News Center, 2011) Để cải thiện vấn đề này thì cần tái tổ hợp và bố trí cây trồng vật nuôi một cách hợp lí và có hiệu quả đối với từng kiểu hệ sinh thái mà điều kiện tiên quyết là thúc đẩy nâng cao môi trường sống cho sự tăng trưởng cây trồng, giảm dịch hại cây trồng, sử dụng tài nguyên địa phương một cách hiệu quả [15]
Tại Malaysia, công tác phân vùng sinh thái nông nghiệp kết hợp với bố trí hệ thống cây trồng cũng đã mang lại thành công rất lớn [20] Theo đó, Viện Nghiên cứu phát triển nông nghiệp của nước này đã giữ lại tám vùng sản xuất nông nghiệp để bảo tồn các giống lúa và triển khai công nghệ mới Những vùng nhỏ được hỗ trợ gieo trồng một vụ lúa, còn các vụ khác người dân được lựa chọn cây trồng một cách tự do
Dự án Nông nghiệp bền vững vì Môi trường (SAFE) do Tổ chức Hợp tác Phát triển Quốc Tế Đan Mạch (Danida) tài trợ tại Thái Lan đã tổng kết vai trò quan trọng của đa dạng sinh học nông nghiệp đối với tài sản tự nhiên của các nông trại và xây dựng các phương pháp để cộng đồng nông thôn có thể
sử dụng nhằm mục đích phân tích đa dạng sinh học nông nghiệp và lập kế hoạch bảo tồn và sử dụng nguồn tài nguyên đa dạng sinh học này bền vững lâu dài Một số hội thảo phổ biến kết quả dự án với các nước láng giềng (Việt Nam, Lào và Campuchia) cho thấy các vấn đề đa dạng sinh học nông nghiệp
có thể được thiết lập chắc chắn trong khung chính sách không chỉ tại Thái Lan
mà cả ở các nước khác trong khu vực
Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), đánh giá cao vai trò của
đa dạng sinh học nông nghiệp trong phát triển bền vững của các quốc gia và
Trang 13khuyến khích các hoạt động nâng cao nhận thức đa dạng sinh học nông nghiệp, hỗ trợ mở rộng nghiên cứu và quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp tại Thái Lan Từ kết quả nghiên cứu tại Thái Lan, tài liệu
“Hướng dẫn bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp” và “Hướng dẫn cán bộ trợ giúp xây dựng Kế hoạch Bảo tồn sinh cảnh” đã được soạn thảo để phù hợp với điều kiện từng nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam
1.3.2 Ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có
sự đa dạng sinh học rất cao
Khu vực nông nghiệp của Việt Nam được hình thành từ rất nhiều hệ sinh thái khác nhau Sự đa dạng sinh học cung cấp cho người dân nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú để phát triển sản xuất lương thực thực phẩm cũng như các sản phẩm khác phục vụ đời sống như thuốc chữa bệnh…
Vấn đề đa dạng sinh học nông nghiệp ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhằm tạo ra nhiều thành tựu tiến bộ và góp phần bảo tồn hệ sinh thái nông nghiệp
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN đã có những nghiên cứu về các hệ sinh thái nông nghiệp đặc trưng ở Việt Nam, chỉ ra những nét cơ bản trong các hệ sinh thái và từ đó đề xuất hướng bảo tồn hợp lí đối với từng loại
hệ sinh thái [7]
Theo phân loại của IUCN thì nước ta được chia thành 7 vùng sinh thái nông nghiệp chính: vùng trung du miền núi Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long Mỗi vùng
có điều kiện tự nhiên, đặc điểm thổ nhưỡng, thủy vực khác nhau do đó mỗi vùng sẽ có những hướng đi khác nhau cho nền nông nghiệp, mỗi vùng sẽ có những loại giống cây trồng , vật nuôi thích ứng đặc trưng khác nhau
Đa dạng sinh học nông nghiệp Việt Nam thay đổi mạnh từ mùa này sang mùa khác và theo chu kì gieo trồng Thời gian nguy hiểm cho đa dạng sinh học là vào mùa khô hạn chỉ có ít cây cối để tạo nền tảng thức ăn, điều này được thể hiện rõ ở các tỉnh duyên hải miền Trung nước ta Thời tiết nóng
Trang 14bức, khô hạn làm ức chế sự phát triển của các loại cây trồng, đặc biệt là lúa nước – cây lương thực chính của nước ta
Theo kết quả của các nhà nghiên cứu, đa dạng sinh học nông nghiệp ở Việt Nam ngày càng giảm Mở rộng và thâm canh nông nghiệp đã làm biến đổi đất nông nghiệp thành những cánh đồng thâm canh xen kẽ bởi các khoảnh rừng, vườn cây, dòng sông, suối, kênh và những vùng đất phi nông nghiệp khác Trong khi những vùng đất này là rất quan trọng vì chúng cung cấp môi trường sống cho nhiều loài sinh vật, thì bản chất của sự chia cắt này cũng đã gây thiệt hại cho nhiều loài động và thực vật
Qua những kết quả nghiên cứu có được, tổ chức này đã đưa ra những định hướng bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp đối với từng vùng sinh thái nông nghiệp nước ta Điều này sẽ giúp cho các cơ quan chuyên trách có thêm
cơ sở để phát triển nền nông nghiệp nước nhà ngày càng rực rỡ đồng thời giữ được tính bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp, góp phần bảo tồn những giá trị đa dạng sinh học nói chung và đa dạng sinh học nông nghiệp nói riêng
Chương trình cấp Nhà nước do cố GS Cao Liêm làm chủ trì về Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng [5] được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới điều kiện sinh thái của vùng như: khí hậu, nhiệt độ, thủy văn, lượng mưa, độ ẩm, địa chất, địa hình, thổ nhưỡng và các điều kiện xã hội khác Kết quả bản đò phân ra tám vùng và 13 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp, mô tả đặc điểm, định hướng sử dụng cho từng vùng sinh thái chính [3]
Năm 1957, cố GS Vũ Tuyên Hoàng đã nghiên cứu thiết lập hệ thống cây trồng gắn với từng vùng sinh thái, tiếp theo là công trình chuyển đổi hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng từ lúa vụ chiêm sang lúa vụ xuân
và đã mở ra một bước tiến mới từ sản xuất nông nghiệp 2 vụ/năm sang canh tác 3 vụ/năm với một hệ thống cây trồng đa dạng
Những năm giai đoạn 2006-2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã tập trung vào các lĩnh vực khoa học quan trọng như: trồng trọt – bảo
vệ thực vật, chăn nuôi – thú y, lâm nghiệp, thủy sản, công nghệ sinh học… Kết quả là trong 5 năm đã tạo ra: 273 giống cây trồng, 1 giống lợn, 6
Trang 15giống/dòng gà, 2 dòng vịt, 6 dòng ngan, 1 giống bò [21] Các giống cây trồng vật nuôi này được bố trí để cho năng suất cao và chất lượng phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái trong cả nước
Các nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Nông nghiệp Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu sản xuất các loại giống cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của các vùng miền trên cả nước Sự đa dạng ngày càng cao trong cây giống giúp cho người nông dân có thêm nhiều hướng lựa chọn và dựa vào điều kiện tự nhiên của vùng miền để xác định những giống cây trồng tốt nhất
Những nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên ở các vùng nông thôn chung quy cũng để tìm ra giải pháp nâng cao đa dạng sinh học nông nghiệp, làm tăng sản lượng và năng suất một cách bền vững trong cả hiên tại và tương lai
Trang 16Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là hệ sinh thái nông nghiệp ở xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Trong đó chủ yếu quan tâm đến mức độ đa dạng loài, tìm hiểu tất cả các giống cây trồng, vật nuôi tại địa phương Nghiên cứu sự thay đổi trong cơ cấu cây trồng và những tác nhân ảnh hưởng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thu thập số liệu và tài liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu qua các báo cáo kết quả sản xuất từng năm và các báo cáo điều tra liên quan về sản xuất nông nghiệp được lưu giữ tại ban nông nghiệp xã Phong Thịnh; các số liệu điều tra về hộ nông thôn được lưu giữ tại văn phòng xã
- Tìm hiểu các tài liệu cũng như các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài để có cơ sở khoa học đúng đắn cho những trình bày trong bài
2.2.2 Điều tra thực địa
- Khảo sát các vùng sản xuất trồng trọt trên địa bàn xã, tìm hiểu thực
tế về tình hình gieo trồng tại địa phương, các loại giống thường được ưu tiên sử dụng cũng như những thuận lợi và khó khăn mà nền nông nghiệp địa phương đang đối đầu
- Phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình làm nông nghiệp để điều tra về các loại giống cũng như nguồn gốc, đặc điểm và tính phù hợp đối với địa phương
2.2.3 Phân tích và xử lí số liệu bằng công cụ Excel
- Từ các số liệu thu thập được, tiến hành lập các bảng, biểu đồ cụ thể tương ứng với các loại số liệu liên quan
- Phân tích, đánh giá tổng quan và có sự nhận xét từ các bảng, biểu đã hoàn thành
Trang 17Bảng 1: Cơ cấu loại hộ
Nguồn: Tổng hợp nhanh hộ nông thôn xã Phong Thịnh[11]
Bảng 2: Nguồn thu nhập lớn nhất của hộ
Nguồn: Tổng hợp nhanh hộ nông thôn xã Phong Thịnh[11]
Nguồn thu nhập lớn nhất Số hộ %
Nông, lâm nghiệp, thủy sản 1049 64,10%
Công nghiệp, xây dựng 40 2,40%
Thương nghiệp, vận tải, dịch vụ 221 13,50%