Mục đích nghiên cứu của luận án Nghiên cứu, đánh giá thực trạng sinh kế của ngư dân trong khai thác hải sản, từ đó đưa ra những giải pháp cải thiện sinh kế đối với ngư dân vùng ven biể
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
NGHIÊN CỨU CẢI THIỆN SINH KẾ TRONG KHAI THÁC HẢI SẢN ĐỐI VỚI NGƯ DÂN VÙNG VEN BIỂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Cường
Trang 4- GS.TS Phạm Vân Đình đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi nghiên cứu và thực hiện luận án
- Lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên thuộc các cơ quan: Bộ Nông nghiệp và PTNT;
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Sở NN&PTNT Hải Phòng, Chi cục Khai thác
và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòng; Ủy ban nhân dân, Phòng NN&PTNT, Phòng Kinh tế các quận huyện: Đồ Sơn, Kiến Thụy, Thủy Nguyên, Cát Hải; Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã phường: Ngọc Hải (Đồ Sơn), Đại Hợp (Kiến Thụy), Lập Lễ (Thủy Nguyên), Phù Long (Cát Hải) và người dân địa phương đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, điều tra thực tế, cung cấp thông tin, số liệu
- Các chuyên gia, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Cường
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục đồ thị xi
Danh mục hình xii
Danh mục hộp xiii
Trích yếu luận án xiv
Thesis abstact xvi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới của luận án 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Cơ sở lý luận về cải thiện sinh kế đối với ngư dân 5
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan 5
2.1.2 Khung sinh kế bền vững trong khai thác hải sản đối với ngư dân 9
2.1.3 Ý nghĩa nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với
ngư dân 15
2.1.4 Đặc điểm cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng
ven biển 16
2.1.5 Nội dung nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân 18
2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân 25
2.2 Cơ sở thực tiễn về cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân 27
2.2.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới 27
2.2.2 Thực tiễn cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân ở nước ta 30
Tóm tắt phần 2 38
Trang 6Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 39
3.1 Cách tiếp cận và khung phân tích cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân 39
3.1.1 Cách tiếp cận 39
3.1.2 Khung phân tích cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với
ngư dân 40
3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 42
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45
3.3.1 Nhóm chỉ tiêu về nguồn lực sinh kế 45
3.3.2 Nhóm chỉ tiêu về môi trường dễ bị tổn thương 46
3.3.3 Nhóm chỉ tiêu về tổ chức, định chế, chính sách 46
3.3.4 Nhóm chỉ tiêu về chiến lược sinh kế 47
3.3.5 Nhóm chỉ tiêu về kết quả sinh kế 48
3.3.6 Nhóm chỉ tiêu về phát triển sinh kế và sinh kế bền vững 49
3.4 Phương pháp thu thập thông tin 50
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 50
3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp 50
3.5 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu 51
3.6 Phương pháp phân tích 52
3.6.1 Phương pháp phân tổ thống kê 52
3.6.2 Phương pháp thống kê mô tả 52
3.6.3 Phương pháp phân tích định lượng 52
3.6.4 Phương pháp phân tích định tính 52
3.6.5 Phương pháp so sánh 53
Phần 4 Kết quả và thảo luận 55
4.1 Môi trường dễ bị tổn thương đối với ngư dân 55
4.1.1 Biến động giá xăng dầu 55
4.1.2 Cạnh tranh trong khai thác 55
4.1.3 Tranh chấp chủ quyền Biển Đông 56
4.1.4 Xu hướng biến đổi khí hậu, nước biển dâng 56
4.2 Các nguồn lực sinh kế của ngư dân 57
4.2.1 Nguồn lực con người 57
4.2.2 Nguồn lực vật chất 63
4.2.3 Nguồn lực xã hội 71
Trang 74.2.4 Nguồn lực tự nhiên 74
4.2.5 Nguồn lực tài chính 78
4.2.6 Đánh giá về các nguồn lực sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân 80
4.3 Tổ chức, định chế và chính sách cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển 83
4.3.1 Các tổ chức 83
4.3.2 Các định chế, chính sách 86
4.4 Chiến lược sinh kế của ngư dân 93
4.4.1 Lựa chọn phương thức kiếm sống 93
4.4.2 Lựa chọn vùng biển khai thác 94
4.4.3 Lựa chọn nghề khai thác 94
4.4.4 Lựa chọn kết hợp làm thêm nghề khác 95
4.5 Kết quả sinh kế trong khai thác hải sản của ngư dân vùng ven biển 97
4.5.1 Hiệu quả kinh tế khai thác gần bờ 97
4.5.2 Hiệu quả kinh tế khai thác xa bờ 99
4.5.3 Thu nhập của ngư dân từ hoạt động khai thác hải sản 101
4.5.4 Thu nhập của ngư dân từ nghề khác 103
4.6 Sự phát triển và tính bền vững của sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân 104
4.6.1 Sự phát triển của sinh kế 104
4.6.2 Tính bền vững của sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân 107
4.6.3 So sánh sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân giữa các điểm nghiên cứu 107
4.7 Nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển thành phố Hải Phòng 108
4.7.1 Nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện môi trường dễ bị tổn thương 108
4.7.2 Nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện nguồn lực sinh kế 112
4.7.3 Nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện tổ chức, định chế, chính sách 117
4.7.4 Nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện chiến lược sinh kế 119
Tóm tắt phần 4 128
Phần 5 Giải pháp cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển thành phố Hải Phòng 129
5.1 Quan điểm và định hướng cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển 129
Trang 85.1.1 Quan điểm 129
5.1.2 Định hướng 130
5.2 Một số giải pháp chủ yếu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển thành phố Hải Phòng 130
5.2.1 Giải pháp cải thiện môi trường dễ bị tổn thương 130
5.2.2 Giải pháp cải thiện các nguồn lực sinh kế 133
5.2.3 Giải pháp cải thiện chiến lược sinh kế 137
5.2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về khai thác hải sản, hỗ trợ ngư dân 140
5.2.5 Giải pháp về chính sách phát triển khai thác hải sản, hỗ trợ ngư dân 141
5.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp 146
Tóm tắt phần 5 148
Phần 6 Kết luận và kiến nghị 149
6.1 Kết luận 149
6.2 Kiến nghị 151
Danh mục công trình đã công bố có liên quan đến luận án 152
Tài liệu tham khảo 153
Phụ lục 164
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Commission)
American Remittances to Europe)
International Development)
Agriculture Organization of the United Nations)
Agricultural Development)
(Illegal, Unreported and Unregulated)
(National Oceanic and Atmospheric Administration)
Development Programme)
(United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)
Trang 10DANH MỤC BẢNG
2.1 Số lượng và cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản ở nước ta giai đoạn 2001 - 2011 32
3.1 Tàu thuyền khai thác hải sản phân theo địa phương giai đoạn 2005 - 2013 42
3.2 Điểm nghiên cứu và số mẫu điều tra ngư dân 50
4.1 Trình độ học vấn của ngư dân vùng ven biển năm 2013 58
4.2 Cơ cấu độ tuổi của ngư dân tham gia khai thác hải sản năm 2013 59
4.3 Cơ cấu giới tính của ngư dân tham gia khai thác hải sản năm 2013 60
4.4 Thâm niên trong nghề khai thác hải sản của ngư dân năm 2013 61
4.5 Số lượng ngư dân được đào tạo về khai thác hải sản tính đến năm 2013 62
4.6 Số lượng và cơ cấu ngư dân sở hữu tàu khai thác hải sản năm 2013 64
4.7 Loại tàu thuyền khai thác hải sản của ngư dân năm 2013 64
4.8 Các loại thiết bị và ngư cụ chủ yếu ngư dân thường sử dụng trong khai thác hải sản 65
4.9 Tỷ lệ ngư dân sử dụng thiết bị, ngư cụ khai thác hải sản năm 2013 66
4.10 Tình hình nhà ở của ngư dân năm 2013 67
4.11 Tình hình một số tài sản khác của ngư dân năm 2013 68
4.12 Hệ thống cảng cá của thành phố Hải Phòng năm 2013 69
4.13 Hệ thống bến cá của thành phố Hải Phòng năm 2013 69
4.14 Nguồn lợi hải sản ở Vịnh Bắc bộ 75
4.15 Vốn đầu tư mua sắm tàu thuyền của ngư dân năm 2013 78
4.16 Tình hình vốn tự có của ngư dân làm thuê năm 2013 80
4.17 So sánh nguồn lực sinh kế của ngư dân chủ tàu và ngư dân làm thuê 81
4.18 So sánh nguồn lực sinh kế của ngư dân khai thác xa bờ và ngư dân khai thác gần bờ 82
4.19 Số tổ, đội khai thác hải sản của thành phố Hải Phòng năm 2013 85
4.20 Vốn đầu tư của thành phố Hải Phòng theo ngành kinh tế giai đoạn 2010-2012 90
4.21 Tình hình tham gia khai thác hải sản của ngư dân trên các vùng biển giai đoạn 2005 - 2013 94
4.22 Nghề khai thác hải sản truyền thống của ngư dân tại một số quận, huyện của Hải Phòng năm 2013 95
Trang 114.23 Tình hình tham gia khai thác hải sản của ngư dân theo các nhóm nghề giai
đoạn 2011 - 2013 95
4.24 Tình hình làm thêm nghề khác của ngư dân năm 2013 96
4.25 Vốn đầu tư của ngư dân đối với tàu khai thác gần bờ năm 2013 97
4.26 Chi phí bình quân cho một chuyến đi biển đối với tàu khai thác gần bờ năm 2013 98
4.27 Hiệu quả kinh tế đối với tàu khai thác gần bờ năm 2013 99
4.28 Vốn đầu tư của ngư dân đối với tàu khai thác xa bờ năm 2013 100
4.29 Chi phí bình quân cho một chuyến đi biển đối với tàu khai thác xa bờ
năm 2013 100
4.30 Hiệu quả kinh tế đối với tàu khai thác xa bờ năm 2013 101
4.31 So sánh thu nhập của ngư dân là chủ tàu xa bờ và gần bờ năm 2013 102
4.32 Thu nhập của ngư dân làm thuê theo hình thức trả tiền công năm 2013 102
4.33 Thu nhập của ngư dân là chủ tàu và ngư dân làm thuê theo hình thức
giao tàu 103
4.34 Thu nhập từ một số nghề khác của ngư dân năm 2013 103
4.35 Số lượng và cơ cấu tàu khai thác của thành phố Hải Phòng giai đoạn
2011 - 2013 106
4.36 Thu nhập đối với ngư dân là chủ tàu giai đoạn 2011 - 2013 106
4.37 Thu nhập của ngư dân làm thuê giai đoạn 2011 - 2013 106
4.38 Tình hình tai nạn tàu cá của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 - 2014 107
4.39 Chi phí cho một chuyến đi biển theo các mô hình tổ chức khai thác của ngư dân 109
4.40 Ý kiến của ngư dân về chính sách hỗ trợ ngư dân theo Quyết định 289/QĐ-TTg 109
4.41 Tình hình biến động số lượng và công suất tàu thuyền khai thác của Hải Phòng giai đoạn 2005 - 2013 110
4.42 Ý kiến của ngư dân về nguyên nhân bị tàu nước ngoài bắt giữ, xua đuổi năm 2013 111
4.43 Ý kiến của ngư dân về hoạt động của các lực lượng chức năng năm 2013 111
4.44 Tỷ lệ ngư dân qua đào tạo theo trình độ học vấn năm 2013 113
4.45 Ý kiến của ngư dân về công tác tập huấn, đào tạo nghề cho ngư dân
năm 2013 113
Trang 124.46 Nhân tố ảnh hưởng đến việc đầu tư mua sắm tàu thuyền khai thác của ngư dân năm 2013 115 4.47 Ý kiến của ngư dân về việc chưa tham gia khai thác hải sản theo mô hình
tổ, đội năm 2013 116 4.48 Vốn tự có của ngư dân với tổng vốn đầu tư tàu thuyền năm 2013 119 4.49 Tỷ lệ ngư dân đầu tư đóng tàu theo số năm kinh nghiệm khai thác hải sản năm 2013 120 4.50 Kế hoạch đóng mới, cải hoán tàu và nhu cầu vốn vay theo Quyết định số 1356/QĐ-UBND 120 4.51 Tỷ lệ ngư dân lựa chọn vùng biển khai thác hải sản theo số năm kinh nghiệm năm 2013 121 4.52 Tình hình tàu thuyền và lao động khai thác hải sản của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2013 122 4.53 Thuận lợi, khó khăn trong lựa chọn nghề khác để làm thêm 125 4.54 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân 126 5.1 Một số căn cứ lựa chọn ngư dân được vay vốn ưu đãi để đóng mới, cải hoán tàu 143
Trang 13DANH MỤC ĐỒ THỊ
2.1a Mối tương quan giữa năng suất khai thác và công suất tàu thuyền 32
2.1b Mối tương quan giữa năng suất và sản lượng khai thác hải sản 33
4.1a Số lượng tàu khai thác của Hải Phòng giai đoạn 2005 - 2013 55
4.1b Công suất tàu khai thác của Hải Phòng giai đoạn 2005 - 2013 55
4.2 Cơ cấu vốn vay của ngư dân năm 2013 79
4.3a Sản lượng hải sản khai thác hàng năm của thành phố Hải Phòng 104
4.3b Năng suất khai thác hải sản hàng năm của thành phố Hải Phòng 104
4.4 Mối tương quan giữa công suất tàu thuyền và sản lượng khai thác đối với tàu khai thác gần bờ của thành phố Hải Phòng 105
Trang 14DANH MỤC HÌNH
2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID 9
2.2 Khung sinh kế bền vững của UNDP 10
2.3 Khung sinh kế bền vững của CARE 10
2.4 Khung phân tích sinh kế của IFAD 11
2.5 Năm loại nguồn lực sinh kế 12
2.6 Khung sinh kế bền vững trong khai thác hải sản đối với ngư dân 14
3.1 Khung phân tích cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân 41
3.2 Bản đồ hành chính của thành phố Hải Phòng Error! Bookmark not defined. 4.1 Ngư trường khai thác hải sản của ngư dân thành phố Hải Phòng 76
4.2 Tổ chức quản lý ngành thủy sản của thành phố Hải Phòng 84
5.1 Mô chiến lược sinh kế thời gian tới đối với ngư dân là chủ tàu 138
5.2 Mô chiến lược sinh kế thời gian tới đối với ngư dân làm thuêError! Bookmark not defined.
Trang 15
DANH MỤC HỘP
4.1 Chi phí khai thác hải sản mỗi chuyến tăng gần gấp đôi 122
4.2 Giá dầu lên, vật giá lên nhưng giá hải sản tăng lên quá ít 123
4.3 Chi phí tăng, tàu khai thác xa bờ chuyển sang khai thác gần bờ 123
4.4 Khó tìm lao động, ảnh hưởng đến hoạt động khai thác 123
Trang 16TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
1 Tóm tắt
với ngư dân vùng ven biển thành phố Hải Phòng
- Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Nội dung trích yếu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng sinh kế của ngư dân trong khai thác hải sản, từ
đó đưa ra những giải pháp cải thiện sinh kế đối với ngư dân vùng ven biển thành phố Hải Phòng
2.2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
- Cách tiếp cận và khung phân tích cải thiện sinh kế: Đề tài đã sử dụng các cách
tiếp cận như tiếp cận sinh kế; tiếp cận có sự tham gia; tiếp cận theo phạm vi khai thác hải sản trên các vùng biển và khung phân tích cải thiện sinh kế
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Phương pháp này được sử dụng để lựa
chọn ra các điểm nghiên cứu, khảo sát, cụ thể là 4 xã, phường: Lập Lễ (Thủy Nguyên), Ngọc Hải (Đồ Sơn), Đại Hợp (Kiến Thụy) và Phù Long (Cát Hải)
- Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: Bao gồm hệ thống 6 nhóm chỉ tiêu: nguồn lực
sinh kế; môi trường dễ bị tổn thương; tổ chức, định chế, chính sách; chiến lược, kết quả sinh kế; phát triển sinh kế và sinh kế bền vững
- Phương pháp thu thập thông tin:
Các thông tin, số liệu chung về tình hình sinh kế của ngư dân được điều tra, thu thập
từ các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan; niên giám thống kê; các văn bản nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước và của các ngành chức năng thành phố Hải Phòng Các thông tin, số liệu về thực trạng sinh kế của ngư dân thành phố Hải Phòng được thu thập trực tiếp qua điều tra, khảo sát thực tế tại các điểm nghiên cứu
- Phương pháp xử lý thông tin, số liệu:
Mã hóa số liệu: các số liệu định tính thu thập được sẽ được chuyển đổi, mã hóa
thành các con số để tính toán
Nhập liệu và hiệu chỉnh: các số liệu thu thập được, kể cả số liệu đã được mã hóa
Trang 17sẽ được nhập và lưu phục vụ cho việc xử lý, tính toán tiếp theo Trong quá trình nhập số liệu, với những số liệu có sự sai sót trong quá trình thu thập sẽ được kiểm tra và hiệu chỉnh lại
Công cụ xử lý: Các số liệu sơ cấp và thứ cấp sẽ được tổng hợp và xử lý chủ yếu bằng phần mềm excel trên máy tính
- Phương pháp phân tích: Phương pháp phân tổ thống kê, thống kê mô tả, phân tích
định tính, phân tích định lượng, so sánh được sử dụng để mô tả, phân tích hoạt động sinh kế của ngư dân qua các năm
2.3 Các kết quả nghiên cứu và phát hiện chính của luận án
Luận án đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ và phát triển các vấn đề lý luận về sinh kế, sinh kế bền vững trong khai thác hải sản của ngư dân; đưa ra khái niệm đầy đủ về sinh
kế, sinh kế đối với ngư dân trong khai thác hải sản phù hợp với tình hình thực tế; chỉ rõ các đặc điểm sinh kế đối với ngư dân vùng ven biển
Vận dụng và kế thừa khung sinh kế bền vững của các tổ chức DFID, UNDP, IFAD, CARE, luận án đã xây dựng khung sinh kế bền vững trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển; xác định được các nội dung nghiên cứu trên cơ sở khung sinh kế bền vững đó; chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển
Áp dụng khung phân tích sinh kế bền vững đối với ngư dân, luận án đã giải quyết được các vấn đề có liên quan đến sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển TP Hải Phòng; nêu bật được thực trạng về nguồn lực sinh kế của ngư dân; chỉ
rõ nguồn lực về con người và tài chính có vai trò quan trọng, quyết định việc tiếp cận và
sử dụng hiệu quả các loại nguồn lực khác
Luận án đã đánh giá thực trạng môi trường dễ bị tổn thương đối với ngư dân, trong đó biến động giá cả, cạnh tranh khai thác, tranh chấp chủ quyền Biển Đông, biến đổi khí hậu là những nhân tố có tác động tiêu cực đến sinh kế của ngư dân Từ việc phân tích các chính sách hỗ trợ sinh kế cho ngư dân, luận án đã chỉ rõ những hạn chế trong việc tổ chức triển khai, thực hiện các chính sách này
Luận án cũng đã phân tích, đánh giá kết quả sinh kế trong khai thác hải sản của ngư dân ven biển TP Hải Phòng theo các chiến lược sinh kế; làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân
Xuất phát từ kết quả nghiên cứu, luận án đã đưa ra định hướng và hệ thống các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển TP Hải Phòng
Trang 18THESIS ABSTACT
1 Summary
- Full name of the research student: Nguyen Van Cuong
fishermen in Haiphong City
- Training institution: Vietnam National University of Agriculture
2 Thesis’ compendia contents
2.1 Thesis’ research objectives
To research and assess on the status of fishermen's livelihoods in fishing, thereby offering solutions to improve the livelihoods for coastal fishermen in Haiphong City
2.2 Research methods used
- Approach and framework of livelihood improvement: livelihood approach;
Participatory approach; Approach under the fishing scope on the sea waters; Analytical
framework of livelihood improvement
- Method of research site selection: This method is used to select research sites,
surveys, namely as 4 wards and communes: Lap Le (Thuy Nguyen), Ngoc Hai (Do
Son), Dai Hop (Kien Thuy) and Phu Long (Cat Hai)
- System of research indicators: includes 6 groups of indicators: livelihood
resources; vulnerable environment; organizations, institutions, and policies; strategies, livelihood results; livelihood development and sustainable livelihoods
- Method of data collection:
The information and data on fishermen’s livelihood status are surveyed and collected from the related study works which have been published; Statistical Yearbook; Documents, Resolutions and Directives of the Party, the State and those of authorities in Haiphong The information and data on fishermen’s livelihood status in Haiphong are directly collected through surveys, field surveys at the research sites
- Method of information and data processing:
Data encryption: Collected qualitative data will be converted, encoded into numbers for calculation
Data input and editing: the collected data, including encrypted data will be entered and saved for the processing and next calculation During data entry, for the data which
Trang 19has errors in the data collection process will be checked and corrected
Processing tools: The primary data and secondary data are aggregated and processed primarily by Excel on the computer
- Method of analysis: Methodology disaggregates statistics, descriptive statistics,
qualitative analysis, quantitative analysis, comparison is used to describe, analyze the
fishermen’s livelihood activities over the years
2.3 Thesis’ research results and findings
The thesis has systematized, clarified and developed the theoretical issues on livelihoods, sustainable livelihoods in fishing by fishermen; offering complete concepts
of livelihoods and livelihoods for fishermen in fishing in conformity with the actual situations; specifying the livelihood characteristics for coastal fishermen
Applying and inheriting of sustainable livelihood frameworks of DFID, UNDP, IFAD, CARE, the thesis has developed a framework for sustainable livelihoods in fishing for coastal fishermen; identifying research contents on the basis of that sustainable livelihood framework; pointing out the factors affecting the livelihood improvement in fishing for coastal fishermen
Applying the analytical framework for sustainable livelihoods for fishermen, the thesis has solved problems related to the livelihoods in fishing for coastal fishermen in Haiphong City; highlighting fishermen’s reality of livelihood resources; specifying the human and finance resources which have an important and decisive role regarding access and effective use of other types of resources
The thesis has assessed the vulnerable environmental situation to fishermen, including price fluctuations, fishing competitions, territorial disputes in the East Sea, climate change as the factors that have a negative impact on fishermen’s livelihoods From the analysis on policies to support fishermen’s livelihoods, the thesis has specified limitations in organization and deployment, and implementation of these policies The thesis has analyzed, evaluated the livelihood results in fishing for coastal fishermen in Haiphong City according to the livelihood strategies; clarifying the factors affecting livelihood improvements for fishermen
Derived from the research results, the thesis has given orientations and major measures to improve livelihoods in fishing for coastal fishermen in Haiphong City
Trang 21PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là quốc gia biển với bờ biển dài trên 3.260km, diện tích vùng biển rộng trên 1 triệu km2, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền; Tiềm năng, lợi thế về biển, trong đó có thủy sản là rất lớn; Vai trò hoạt động của cộng đồng ngư dân trên biển có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ an ninh, chủ quyền của đất nước Phát triển kinh tế biển là nội dung quan trọng nằm trong chiến lược phát triển kinh tế chung của đất nước, đã được Đảng, Nhà nước ta cụ thể hóa thành chủ trương và nhiều Nghị quyết cụ thể Kinh
tế thủy sản Việt Nam trong nhiều năm qua liên tục phát triển, tạo thu nhập và giải quyết việc làm cho khoảng 4 triệu lao động Năm 2014, sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã có mặt tại thị trường của hơn 165 quốc gia và vùng lãnh thổ; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 7,9 tỷ USD; Việt Nam trở thành một trong bốn nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới (Tạ Hà, 2014)
Thành phố (Tp.) Hải Phòng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc của Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên là 1.526,3km2; là một trong 3 cực tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có nhiều tiềm năng
và lợi thế về phát triển kinh tế biển, thuỷ sản (Thế Đạt, 2009) Hải Phòng được xác định là một trong năm trung tâm nghề cá lớn của cả nước (Thủ tướng Chính phủ, 2013a, 2013b); là Trung tâm dịch vụ nghề cá lớn của Vịnh Bắc bộ (Thủ tướng Chính phủ, 2009a); là một trong những trung tâm thương mại lớn của cả nước và trung tâm dịch vụ thủy sản của vùng duyên hải Bắc bộ (Bộ Chính trị, 2003) Trong giai đoạn 2005 - 2012, kinh tế thủy sản Tp Hải Phòng hàng năm đã đóng góp bình quân trên 2,3% GDP của toàn Thành phố, góp phần không nhỏ vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, xóa đói giảm nghèo Sản phẩm thủy sản Tp Hải Phòng đã có mặt tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển kinh tế biển
và bảo vệ an ninh quốc phòng biển đảo thành phố Hải Phòng trong thời gian qua (Chi cục KT&BVNLTS Hải Phòng, 2012)
Tuy nhiên, nằm trong tình trạng chung của cả nước, so với tiềm năng, lợi thế về biển, quá trình đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và môi trường các tỉnh ven biển chưa tương xứng, khai thác nguồn lợi chưa đạt hiệu quả cao (Đỗ Hoài
Trang 22Nam và cs., 2003) Hoạt động khai thác hải sản cũng như sinh kế của ngư dân vùng ven biển Tp Hải Phòng đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Nhiều chính sách hỗ trợ ngư dân được ban hành mặc dù đã có tác động tích cực, giúp ngư dân vượt qua những khó khăn ban đầu nhưng vẫn còn nhiều bất cập Về cơ bản, ngư dân vẫn là đối tượng nghèo, trình độ dân trí thấp Trong khi
đó, nguồn lợi thủy sản ngày một suy giảm, nhất là nguồn lợi ven bờ; cạnh tranh ngư trường khai thác giữa các quốc gia, giữa các địa phương diễn ra ngày một gay gắt; biến đổi khí hậu ngày một phức tạp; tranh chấp Biển Đông tiếp tục gia tăng; tình trạng tàu cá và ngư dân nước ta bị nước ngoài bắt giữ, xử phạt tại các vùng biển giáp ranh, chồng lấn có những diễn biến phức tạp Những thách thức này đã và đang là nguy cơ tiềm ấn gây mất ổn định chính trị, xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân
Nhằm tìm ra các giải pháp khắc phục tình trạng trên, có nhiều tổ chức, cá nhân đã tiến hành các công trình nghiên cứu, điển hình như: (1) Nguyễn Chu Hồi
và cs (2007) nghiên cứu về Chính sách ngành thuỷ sản Việt Nam, phân tích, đánh giá các mặt được, chưa được, nguyên nhân và các giải pháp khắc phục của
hệ thống chính sách phát triển và quản lý thủy sản trong thời gian qua; (2) Nguyễn Dương Bình (2005) đã nghiên cứu về tình hình, đặc điểm của cư dân làm nghề cá vùng ven biển miền Bắc Việt Nam, khái quát các nét cơ bản về đặc điểm trong sinh hoạt kinh tế như các loại hình nghề cá, nuôi trồng thuỷ sản và đặc điểm về văn hoá, tinh thần, các tập quán sinh sống của cư dân ven biển Bắc bộ; (3) Công trình nghiên cứu về Phát triển kinh tế - xã hội và môi trường các tỉnh ven biển Việt Nam của Đỗ Hoài Nam và cs (2003) đã phân tích động thái và các nhân tố tác động đến tiến trình phát triển tổng thể kinh tế - xã hội - môi trường ở các tỉnh ven biển nước ta trong 15 năm đổi mới theo quan điểm phát triển bền vững; (4) Công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Kháng và cs (2011) về Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản đã xác định được số lượng tàu cá cần cắt giảm trong cả nước và các giải pháp thực hiện trong thời gian tới; (5) Nguyễn Văn Thành (2008) với công trình Nghiên cứu định hướng chiến lược biển Hải Phòng đến năm 2015 và 2020 đã đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp để phát triển kinh tế biển Hải Phòng, trong đó có giải pháp phát triển kinh tế khai thác hải sản… Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh có liên quan về đời sống kinh tế, xã hội và môi trường của vùng ven biển, đã có đánh giá, phân
Trang 23tích những tác động qua lại làm ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngư dân Tuy nhiên, nghiên cứu của các tác giả phần lớn mới chỉ đề cập đến các vấn đề ở tầm vĩ mô trên phạm vi rộng, ít đi sâu vào vấn đề sinh kế của ngư dân, đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu về sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển Tp Hải Phòng Từ những thực tế trên cho thấy, để giúp ngư dân vùng ven biển Tp Hải Phòng cải thiện sinh kế trong thời gian tới, cần phải tiếp tục có nghiên cứu sâu hơn về sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân, từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp giúp ngư dân vùng ven biển Tp Hải Phòng cải thiện sinh kế
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
+ Phân tích, đánh giá thực trạng sinh kế của ngư dân và các nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển Tp Hải Phòng
+ Đề xuất những giải pháp cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển Tp Hải Phòng thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu
+ Vấn đề nghiên cứu: Sinh kế trong khai thác hải sản của ngư dân vùng
ven biển
+ Đối tượng khảo sát: Ngư dân làm nghề khai thác hải sản vùng ven biển
Tp Hải Phòng
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Tập trung nghiên cứu về sinh kế của ngư dân trong khai
thác hải sản và việc cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển Tp Hải Phòng
Trang 24+ Về không gian: Tại Tp Hải Phòng, trong đó tập trung tại các điểm nghiên
cứu đại diện là xã Đại Hợp (Kiến Thụy), xã Lập Lễ (Thủy Nguyên), xã Phù Long (Cát Hải) và phường Ngọc Hải (Đồ Sơn)
+ Về thời gian: Tập trung nghiên cứu từ năm 2011 - 2013, khảo sát năm
2012 - 2013
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Về lý luận: Luận án đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ và phát triển các vấn đề
lý luận về sinh kế, sinh kế bền vững trong khai thác hải sản của ngư dân; đưa ra khái niệm đầy đủ về sinh kế, sinh kế đối với ngư dân trong khai thác hải sản phù hợp với tình hình thực tế; chỉ rõ các đặc điểm sinh kế đối với ngư dân vùng ven biển
Vận dụng và kế thừa khung sinh kế bền vững của các tổ chức DFID, UNDP, IFAD, CARE, luận án đã xây dựng khung sinh kế bền vững trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển; xác định được các nội dung nghiên cứu trên cơ sở khung sinh kế bền vững đó; chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển
- Về thực tiễn: Áp dụng khung phân tích sinh kế bền vững đối với ngư dân,
luận án đã giải quyết được các vấn đề có liên quan đến sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển Tp Hải Phòng; nêu bật được thực trạng về nguồn lực sinh kế của ngư dân; chỉ rõ nguồn lực về con người và tài chính có vai trò quan trọng, quyết định việc tiếp cận và sử dụng hiệu quả các loại nguồn lực khác Luận án đánh giá thực trạng môi trường dễ bị tổn thương đối với ngư dân, trong đó biến động giá cả, cạnh tranh khai thác, tranh chấp chủ quyền Biển Đông, biến đổi khí hậu là những nhân tố có tác động tiêu cực đến sinh kế của ngư dân Từ việc phân tích các chính sách hỗ trợ sinh kế cho ngư dân, luận án đã chỉ
rõ những hạn chế trong việc xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai, thực hiện các chính sách này
Luận án đã phân tích, đánh giá kết quả sinh kế trong khai thác hải sản của ngư dân ven biển Tp Hải Phòng theo các chiến lược sinh kế; làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải thiện sinh kế đối với ngư dân Xuất phát từ kết quả nghiên cứu, luận án đã đưa ra định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển
Tp Hải Phòng
Trang 25PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI THIỆN SINH KẾ ĐỐI VỚI NGƯ DÂN 2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Sinh kế, sinh kế bền vững
Khái niệm sinh kế thường sử dụng xuất phát từ ý tưởng về sinh kế của Chambers and Conway (1992) theo cách hiểu đơn giản nhất, sinh kế là phương tiện để kiếm sống Sau đó Chambers and Conway đã đưa ra một định nghĩa đầy
đủ hơn về sinh kế: “sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” Một sinh kế là bền vững “khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cả cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn”
Dựa trên khái niệm về sinh kế bền vững của Chambers and Conway (1992), một số tác giả như Scoones (1998), Ellis (2000), Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) cũng đã đưa ra các khái niệm sinh kế (DFID, 2001) Các khái niệm này về cơ bản giống với khái niệm sinh kế của Chambers and Conway, đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 2 phương diện là bền vững về môi trường và bền vững về xã hội Scoones (1998), Ashley and Carney (1999), DFID (2001) và Solesbury (2003) đã phát triển tính bền vững của sinh kế trên cả phương diện kinh tế và thể chế, thống nhất đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế Cùng trên quan điểm đó, Trần Thọ Đạt và Vũ Hoài Thu (2012) cho rằng, một sinh kế là bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài; (iii) duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và (iv) không làm phương hại đến các sinh kế khác
Thực tế, mọi hoạt động sinh kế của con người trong xã hội đều được đặt trong sự quản lý của các tổ chức, chính quyền với các định chế, chính sách
cụ thể Xuất phát từ các quan điểm của các tác giả về sinh kế, sinh kế bền
vững và để phù hợp với thực tế, khái niệm về sinh kế được hiểu là hoạt động kiếm sống của con người thông qua chiến lược sử dụng các nguồn lực (con
Trang 26người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội) trong môi trường dễ bị tổn thương có sự quản lý của các tổ chức, định chế, chính sách Một sinh kế được xem là bền vững khi nó thích ứng, hoặc tránh được các tác động tiêu cực từ môi trường dễ bị tổn thương, đồng thời bảo đảm duy trì, phát triển được các nguồn lực trong cả hiện tại và tương lai
2.1.1.2 Vùng ven biển
Nghiên cứu này không đề cập đến ngư dân nói chung mà giới hạn là ngư dân sống tại vùng ven biển Hầu hết các tài liệu hướng dẫn quản lý tổng hợp vùng ven biển đều cho rằng vùng ven biển (hay còn gọi là vùng bờ) là vùng giao hội của biển và đất liền Đó là nơi các quá trình sinh thái phụ thuộc vào sự tương tác lẫn nhau khá phức tạp giữa đất liền và biển Vùng này bao gồm hai phần: vùng đất ven biển (vùng ven biển) và vùng biển ven bờ (vùng ven bờ) Phạm vi lớn nhỏ của vùng bờ tuỳ thuộc vào nhu cầu và khả năng quản lý (Nguyễn Chu Hồi, 2005) Theo Nghị định số 25/2009/NĐ/CP, ngày 06/3/2009 của Chính phủ về Quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, vùng ven biển
là vùng chuyển tiếp giữa lục địa và biển, bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển được xác định theo ranh giới hành chính để quản lý (Chính phủ, 2009a)
Từ khái niệm trên, vùng ven biển trong đề tài này được hiểu là vùng địa giới hành chính của tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường, thị trấn) có tiếp giáp trực tiếp với biển hoặc cửa sông, cửa biển
2.1.1.3 Khai thác hải sản
Theo quy định tại Khoản 4, Điều 2 Luật Thủy sản năm 2003, khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác (Quốc hội, 2003) Để phân biệt giữa thủy sản trên biển với thủy sản ở các vùng nước khác, trong rất nhiều tài liệu, các tác giả thường sử dụng cụm từ “hải sản” để thay thế cho tên gọi thủy sản trên biển Do vậy, khái niệm khai thác hải sản trong đề tài được hiểu là hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển; sản phẩm thủy sản khai thác được trên biển được gọi là hải sản thay cho tên gọi chung là thủy sản
Theo Quyết định số 393-TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế quản lý và sử dụng vốn tín dụng cho các dự án đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ đánh bắt hải sản xa bờ quy định: tàu đánh cá xa bờ là tàu có lắp máy chính công suất từ 90CV trở lên; đánh cá xa bờ là đánh cá ở vùng biển
Trang 27được giới hạn bởi đường đẳng sâu 30 mét từ bờ biển trở ra đối với vùng biển Vịnh Bắc Bộ, Nam Bộ, Vịnh Thái Lan và đường đẳng sâu 50 mét từ bờ biển trở
ra đối với vùng biển miền Trung (Thủ tướng Chính phủ, 1997) Theo đó, trong đề tài này, các khái niệm khai thác xa bờ, tàu khai thác xa bờ vẫn được sử dụng như quy định tại Quyết định số 393-TTg, trong đó tàu khai thác xa bờ là những tàu lắp máy chính có công suất trên 90CV, còn lại là tàu khai thác gần bờ (dưới 90CV)
Theo Nghị định 33/2010/NĐ-CP, ngày 31/3/2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản trên các vùng biển, tàu lắp máy có tổng công suất máy chính từ 90 CV trở lên khai thác tại vùng khơi và vùng biển cả, không được khai thác tại vùng biển ven bờ và vùng lộng; tàu từ 20 đến dưới 90 CV khai thác tại vùng lộng và vùng khơi; còn tàu dưới 20CV hoặc tàu không lắp máy khai thác tại vùng biển ven bờ, không được khai thác tại vùng lộng, vùng khơi và vùng biển cả Tàu dưới 20 CV hoặc tàu không lắp máy đăng ký tại tỉnh, thành phố nào thì chỉ được khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ của tỉnh đó Ngoài ra, ngư dân còn phải tuân theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố về danh mục các loài thủy sản bị cấm khai thác; các phương pháp khai thác, loại nghề khai thác, ngư cụ bị cấm sử dụng hoặc bị hạn chế sử dụng tại các vùng biển hoặc từng tuyến khai thác; khu vực bị cấm khai thác và khu vực bị cấm khai thác có thời hạn; chủng loại, kích
cỡ tối thiểu các loài thủy sản được phép khai thác; quy định điều kiện về tàu cá
và ngư dân khai thác ở vùng biển ngoài vùng biển Việt Nam
2.1.1.4 Sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 2004), ngư dân là người làm nghề đánh cá Trong quan niệm ở Việt Nam, các nhóm cư dân sinh sống bằng việc khai thác nguồn lợi thủy sản đều được gọi là ngư dân (Nguyễn Duy Thiệu, 2007) Trong một nghiên cứu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản (Viện KT&QHTS, 2010) cho rằng, ngư dân được hiểu như những người làm nghề khai thác thủy sản có dùng các công cụ chuyên dùng Thủy sản khai thác được coi là sản phẩm chính của họ, là nguồn thu nhập chính nuôi sống họ và gia đình họ
Từ những vấn đề lý thuyết về sinh kế trên cho thấy, sinh kế trong khai thác
hải sản đối với ngư dân là một phạm trù hẹp của khái niệm sinh kế, là hoạt động kiếm sống của những người làm nghề khai thác hải sản thông qua chiến lược sử
Trang 28dụng các nguồn lực trong môi trường dễ bị tổn thương có sự quản lý của các tổ chức, định chế, chính sách Sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân được coi là bền vững khi ngư dân sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực sinh kế, thích ứng hoặc tránh được các tác động tiêu cực từ môi trường dễ bị tổn thương, đồng thời bảo đảm duy trì, phát triển được các nguồn lực trong cả hiện tại và tương lai
2.1.1.5 Cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân
Xuất phát từ thuật ngữ đơn giản, cải thiện là sự thay đổi tốt hơn so với trước (Hoàng Phê, 2004), có thể hiểu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân là việc áp dụng các biện pháp để làm thay đổi sinh kế của ngư dân làm nghề khai thác hải sản, giúp ngư dân có được kết quả sinh kế tốt hơn so với trước
đó, góp phần tăng thêm thu nhập, giảm thiểu rủi ro cho ngư dân Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là theo lý thuyết sinh kế, kết quả sinh kế chịu sự chi phối bởi môi trường dễ bị tổn thương; các nguồn lực sinh kế; tổ chức, định chế, chính sách có liên quan và sự lựa chọn chiến lược sinh kế của ngư dân Theo đó, việc cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân được thực hiện thông qua cải thiện bốn vấn đề chủ yếu: (i) Cải thiện 5 nguồn lực sinh kế của ngư dân như nâng cao trình độ, năng lực, kỹ thuật khai thác hải sản trên biển cho ngư dân; nâng cấp, cải hoán tàu thuyền, trang bị đầy đủ các trang thiết bị, phương tiện, ngư cụ khai thác, bảo đảm an toàn hàng hải cho ngư dân khi tham gia khai thác; bảo vệ
và phát triển bền vững nguồn lợi hải sản; tăng cường năng lực, tiềm lực kinh tế, khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, đầu tư; xây dựng được các mối quan
hệ tổ chức sản xuất, khai thác phù hợp, bảo đảm tiết kiệm được chi phí, tăng thu nhập cho ngư dân; (ii) Cải thiện môi trường dễ bị tổn thương nhằm giảm thiểu các rủi ro, thiệt hại về người và tài sản cho ngư dân trước các tác động của yếu tố thời tiết, thiên tai, biến đổi khí hậu, sự cạnh tranh, xung đột nguồn lợi trên biển; (iii) Cải thiện tổ chức, định chế, chính sách về khai thác hải sản, hỗ trợ ngư dân
và (iv) Cải thiện các chiến lược sinh kế của ngư dân
Như vậy, khái quát lại có thể thấy, cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân là việc áp dụng các biện pháp cải thiện các tổ chức, định chế, chính sách, các nguồn lực sinh kế, môi trường dễ bị tổn thương và các chiến lược sinh kế của ngư dân nhằm mang lại kết quả sinh kế tốt hơn, giảm thiểu rủi ro, ổn định và nâng cao thu nhập cho ngư dân
Trang 29Việc cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân ở các nước đang phát triển rất cần có sự can thiệp, hỗ trợ của Chính phủ Các cơ quan chức năng căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng, miền, từng đối tượng để có quy hoạch xây dựng các chương trình, chính sách hỗ trợ cụ thể, giúp ngư dân tìm được các mô hình sản xuất, khai thác hải sản phù hợp, hiệu quả, nâng cao thu nhập và bảo đảm tính bền vững trong phát triển
2.1.2 Khung sinh kế bền vững trong khai thác hải sản đối với ngư dân
Bằng các phương pháp tiếp cận khác nhau, các tổ chức như Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID), Hợp tác xã gửi hàng của Mỹ sang châu
Âu (CARE), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD) đã đưa ra các khung sinh kế bền vững của riêng
mình (Carney et al., 1999; Hamilton and Townsley, 2004)
- Khung sinh kế bền vững của DFID
Theo DFID, trong một môi trường dễ bị tổn thương và các định chế, chính sách của các tổ chức, hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống dựa vào 5 nguồn lực sinh kế là con người, tự nhiên, vật chất, xã hội và tài chính Những yếu
tố này cũng chịu ảnh hưởng của môi trường dễ bị tổn thương Sự lựa chọn chiến lược sinh kế của hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế là kết quả tương tác giữa các nhóm yếu tố này (Hình 2.1)
Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: Carney et al (1999)
- Khung sinh kế bền vững của UNDP
H: Vốn con người; N: Vốn tự nhiên;
- Thu nhập tăng
- Tăng sự ổn định
- Giảm rủi ro
- Nâng cao an toàn lương thực
- Sử dụng bền vững hơn nguồn lợi tự nhiên
Quá trình, tiến trình: Luật lệ Chính sách Văn hóa Thể chế, tổ chức
CHIẾN LƯỢC SINH KẾ
F
Ảnh
hưởng và khả năng tiếp cận
Trang 30Sử dụng cách tiếp cận dựa trên nguồn lực, UNDP nhấn mạnh việc khuyến khích, thúc đẩy người dân tham gia sử dụng và quản lý nguồn lực một cách bền vững, qua đó có thể xóa đói giảm nghèo Giống như DFID, UNDP tập trung vào điểm mạnh của người dân chứ không phải là nhu cầu của họ Các chính sách và thể chế chính trị, các vấn đề ảnh hưởng tới đời sống của họ được xem xét và giải
quyết thông qua các hành động cụ thể (Hình 2.2)
Hình 2.2 Khung sinh kế bền vững của UNDP
Nguồn: Carney et al (1999)
- Khung sinh kế bền vững của CARE
Cách tiếp cận của CARE tương tự như DFID ở chỗ nhấn mạnh đến mối quan hệ năng động giữa các khía cạnh khác nhau của khung sinh kế bền vững CARE quan tâm nhiều hơn đến an ninh sinh kế hộ gia đình, khung sinh kế được CARE xây dựng với nhiều yếu tố xoay quanh hộ gia đình, nhấn mạnh các yếu tố xuất phát từ chính người dân và lấy người dân làm trung tâm (Hình 2.3)
Hình 2.3 Khung sinh kế bền vững của CARE
Nguồn: Carney et al (1999)
NGUỒN LỰC
Con người Xã hội Kinh tế
(khả năng (nhu cầu và (nguồn lực Sinh kế) quyền lợi) và dự trữ)
Các phương thức hoạt động
- An ninh về:
Thực phẩm Dinh dưỡng Sức khỏe Nguồn nước
Sự che chở Giáo dục Tham gia cộng đồng Đảm bảo
Các lựa chọn
Các công cụ
Trang 31- Khung phân tích sinh kế IFAD
Khung sinh kế bền vững của IFAD được phát triển kết hợp một số thay đổi
so với khung sinh kế bền vững DFID, đặt người nghèo làm trung tâm, nhấn mạnh yếu tố đời sống tinh thần trong sinh kế (Hình 2.4)
Người có Thẩm quyền
Người cung cấp DV
Hình 2.4 Khung phân tích sinh kế của IFAD
Nguồn: Hamilton-Peach and Townsley (2004)
Yếu tố “cá nhân” được bổ sung vào trong các nguồn lực sinh kế của khung sinh kế bền vững Nó được thiết kế nhằm nhấn mạnh nội lực của người dân thúc đẩy đến những hành động và sự thay đổi sinh kế Các yếu tố như chính sách, thể chế, văn hóa, thị trường được đặt như những yếu tố có tác động qua lại với yếu tố trung tâm là người nghèo và các nguồn lực sinh kế, trong đó, yếu tố văn hóa được nhấn mạnh trong mô hình Văn hóa bao gồm một loạt các "quy tắc của trò chơi", chuẩn mực xã hội và văn hóa có tác động mạnh mẽ đến cách người nghèo tiếp xúc với các tổ chức có liên quan, ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Quyền lợi được đưa ra vì họ đại diện cho một thiết lập ngày càng quan trọng, có thể thực hiện trên môi trường thể chế của họ, mức độ được công nhận khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc chính trị và xã hội của một quốc gia cụ thể Tất cả các ảnh hưởng này có thể gây khó khăn cho bản thân người nghèo để thực hiện các hoạt động, nhưng chúng không phải là bất biến và cần phải được phân biệt với những yếu tố đại diện cho bối cảnh “dễ bị tổn thương” (Hamilton-Peach and Townsley, 2004)
Trang 32Trong các tiếp cận trên, mặc dù cĩ những điểm khác biệt, nhưng giữa các khung sinh kế vẫn cĩ những điểm chung, đặc biệt là về các nguồn lực sinh kế Việc lựa chọn áp dụng như thế nào cịn phụ thuộc vào từng quan điểm, nhưng được sử dụng phổ biến cả cho đến nay vẫn là khung sinh kế bền vững do DFID xây dựng Hình ngũ giác (Hình 2.5) gồm 5 gĩc thể hiện 5 nguồn lực khác nhau
mà ngư dân cĩ thể cĩ được để sinh sống Điểm trung tâm O nằm giữa hình ngũ giác đại diện cho sự hồn tồn khơng cĩ được bất kỳ nguồn lực nào trong khi các điểm gĩc đại diện cho sự đạt được tối đa các nguồn lực sinh kế Một điểm đáng lưu ý, năm loại nguồn lực sinh kế cĩ tác động qua lại và chuyển hĩa lẫn nhau (Ellis, 2000) Nếu một quốc gia, một tổ chức kinh tế hay một cá nhân giàu cĩ về một loại nguồn lực trong năm loại trên, quốc gia đĩ, tổ chức đĩ, cá nhân đĩ đều
cĩ thể sử dụng nguồn lực đĩ để chuyển hĩa sang các loại nguồn lực khác Ví dụ, một người dân cĩ nhiều đất đai sẽ cĩ thể tạo ra nguồn lực tài chính thơng qua việc cho thuê hay bán bớt đất nhưng cũng cĩ thể thơng qua việc sản xuất nơng nghiệp trên diện tích đất đai cĩ được để tạo ra nguồn lực vật chất
Hình 2.5 Năm loại nguồn lực sinh kế
Nguồn: Ellis (2000)
Việc sử dụng hình ngũ giác này rất hữu ích cho việc thảo luận để tìm ra
“điểm khởi đầu” cho sự phát triển nhằm sử dụng một cách cân bằng và hợp lý các nguồn lực sinh kế khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của nhiều nhĩm người trong cộng đồng xã hội Tuy nhiên, hiệu quả của việc chuyển hĩa các nguồn lực và kết hợp chúng với nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh địi
NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN
NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH NGUỒN LỰC VẬT CHẤT
NGUỒN LỰC
XÃ HỘI
O
Trang 33hỏi rất lớn vào kỹ năng quản trị, sự nhạy bén kinh tế của người lãnh đạo (Nguyễn Minh Đức, 2014)
Khi nghiên cứu phân tích nguồn lực sinh kế, một số tác giả đã đề cấp đến cả yếu tố văn hóa Bourdieu (1986) cho rằng, khái niệm “vốn” được phân loại thành
ba loại là vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội Vốn văn hoá, vốn xã hội và vốn kinh tế có thể chuyển đổi được cho nhau, tuy nhiên không phải theo một chiều là càng có nhiều vốn văn hoá thì càng có nhiều vốn kinh tế, hay ngược lại Bebbington (1999) lại quan niệm có năm loại vốn, đó là vốn sản xuất, vốn con người, vốn tự nhiên, vốn xã hội và vốn văn hóa Nguyen P.L (2007) trong một nghiên cứu của mình cũng nhấn mạnh đến yếu tố vốn văn hóa và bổ sung nguồn vốn văn hóa vào khung sinh kế của DFID tạo thành 6 loại vốn sinh kế, đó là vốn con người, tự nhiên, vật chất, xã hội, tài chính và văn hóa
Việc bổ sung yếu tố vốn văn hóa được xem là phù hợp hơn khi nghiên cứu phân tích sinh kế đối với cộng đồng xã hội liên quan nhiều đến hoạt động kinh tế thị trường gắn liền với các hoạt động văn hóa, khi đó vốn văn hóa được hình thành và kết tinh thành giá trị trong mỗi sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ do chính cộng đồng đó tạo ra Mặt khác, vốn văn hóa phần nào đó cũng đã được thể hiện, phản ánh trong vốn con người hay vốn xã hội, do đó dễ dẫn đến sự trùng lặp khi phân tích Điều này đi đến kết luận rằng, việc sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững của DFID với 5 nguồn lực sinh kế vẫn được xem là phù hợp hơn Nguyễn Văn Sửu (2014) nhấn mạnh, cách tiếp cận theo khung sinh kế của DFID giúp chúng ta hiểu được việc con người sử dụng các loại vốn sinh kế để kiếm sống, thoát nghèo, hay tránh bị rơi vào đói nghèo như thế nào vì nó không chỉ minh họa các chiến lược tìm kiếm thu nhập, mà nó còn phân tích và lý giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn lực mà các cá thể và hộ gia đình sử dụng để biến các nguồn lực đó thành sinh kế
Kết quả sinh kế là thành quả hay là những sản phẩm đầu ra của những chiến lược sinh kế và có mối quan hệ chặt chẽ với các nguồn lực sinh kế, có thể làm tăng hay giảm nguồn lực sinh kế của người dân Các tổ chức, định chế, chính sách có thể giúp người dân tận dụng tốt các yếu tố tích cực hay giảm thiểu yếu tố tiêu cực từ môi trường dễ bị tổn thương Điều này cũng cho thấy vai trò của Chính phủ cũng như các tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sinh kế của người dân
Trang 34- Khung sinh kế bền vững trong khai thác hải sản của ngư dân
Từ lý thuyết sinh kế của ngư dân, kế thừa sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, khung sinh kế bền vững trong khai thác hải sản của ngư dân vùng ven biển được xây dựng như Hình 2.6
Hình 2.6 Khung sinh kế bền vững trong khai thác hải sản đối với ngư dân
Về cơ bản khung sinh kế bền vững trong khai thác hải sản của ngư dân giống với khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, tuy nhiên các hợp phần trong khung sinh kế bền vững đối với ngư dân đã được cụ thể hóa sát với điều kiện thực tế của ngư dân ở Việt Nam Khung sinh kế gồm 5 hợp phần cơ bản, trong đó ngư dân được đặt ở vị trí trung tâm với 5 nguồn lực sinh kế, bao xung quanh nó là môi trường dễ bị tổn thương và các tổ chức, định chế, chính sách Ngư dân tạo ra kết quả sinh kế từ việc dựa vào những nguồn lực sinh kế trong môi trường dễ bị tổn thương và các tổ chức, định chế, chính sách để xây dựng và thực hiện chiến lược sinh kế của mình Hay nói cách khác, hoạt động sinh kế của ngư dân chịu ảnh hưởng bởi các nguồn lực sinh kế, môi trường dễ bị tổn thương
Môi trường
dễ bị tổn thương
- Nguồn lợi hải sản giảm
- Biến động thị trường
Con người
Tài chính
Tổ chức, định chế, chính sách
Ngư dân
Trang 352.1.3 Ý nghĩa nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân
Nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân có ý
nghĩa quan trọng với tất cả các quốc gia có biển, nhất là đối với các nước đang
phát triển Mục tiêu của các Chính phủ đặt ra đều hướng đến là tìm ra các biện
pháp cải thiện cuộc sống, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho ngư dân, thu hẹp
khoảng cách giàu nghèo, từ đó giúp cho ngư dân giảm bớt được chi phí vật chất,
công sức, nâng cao chất lượng cuộc sống
Dưới góc độ kinh tế - xã hội, nghiên cứu cải thiện sinh kế góp phần làm rõ
các hạn chế, bất cập trong việc sử dụng các nguồn lực sinh kế, thấy được các
nhân tố tác động tiêu cực của môi trường dễ bị tổn thương với ngư dân, từ đó
giúp các nhà làm chính sách, cơ quan quản lý thấy rõ hơn được vấn đề thực trạng
về sinh kế của ngư dân, đổi mới tư duy, cách tiếp cận trong việc xây dựng, ban
hành các chính sách, cơ chế cũng như biện pháp tổ chức, thực hiện các chính
sách, cơ chế đó bảo đảm tính khả thi, đi vào cuộc sống Nghiên cứu cải thiện sinh
kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân còn có ý nghĩa giúp ngư dân nâng cao
nhận thức, năng lực, trình độ, kỹ năng, hiệu quả khai thác, từ đó thay đổi cách
nghĩ và cách thức tổ chức khai thác hải sản, từng bước nâng cao thu nhập, chất
lượng cuộc sống
Dưới góc độ tài nguyên, môi trường, nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai
thác hải sản đối với ngư dân góp phần tìm ra nguyên nhân cũng như cách thức
hạn chế tình trạng suy kiệt nguồn lợi hải sản hiện nay do sự mất cân đối giữa
cường lực khai thác và nguồn lợi hải sản; tăng cường các biện pháp bảo vệ, tái
tạo, phát triển nguồn lợi hải sản, các sinh vật biển, hạn chế tác động tiêu cực của
con người đến tài nguyên và môi trường biển
Dưới góc độ an ninh - quốc phòng, nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai
thác hải sản đối với ngư dân có ý nghĩa giúp chúng ta nhìn thấy rõ hơn sự cạnh
tranh trong khai thác hải sản cũng như vấn đề tranh chấp Biển Đông hiện nay, từ
đó giúp các bộ, ngành Trung ương và địa phương có những biện pháp, chính sách
phù hợp, khuyến khích ngư dân tăng cường bám biển, kết hợp hiệu quả giữa phát
triển kinh tế với bảo vệ an ninh, quốc phòng Sự hiện diện của ngư dân trên biển
như những cột mốc sống, góp phần tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân,
khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia
Trang 362.1.4 Đặc điểm cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển
- Ngư dân khai thác hải sản thường cư trú ở vùng tách biệt và khó khăn
Theo FAO (2007a), có 90% trong tổng số 38 triệu người trên toàn cầu tham gia vào nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản được phân loại là đối tượng khai thác quy mô nhỏ Ước tính khoảng 30% tham gia vào các hoạt động khai thác hoặc nuôi trồng ở thượng lưu và hạ lưu các lưu vực Như vậy, có thể thấy trên
100 triệu người phụ thuộc vào nghề khai thác và các hoạt động liên quan trực tiếp (chế biến, thương mại, dịch vụ ), trong đó 90% lao động sống tại các nước đang phát triển Townsley (1998), đã chỉ ra rằng “các cộng đồng khai thác thường được mô tả là những cộng đồng sống trong điều kiện đông đúc với các dịch vụ không được cung cấp đầy đủ, trình độ giáo dục thấp, thiếu các kỹ năng
và quyền sở hữu (đặc biệt là quyền sở hữu đất đai)… FAO (2007a) nhấn mạnh rằng, ngư dân sống trong các cộng đồng tách biệt tại các vùng xa xôi thường không có tiếng nói chính trị, thường phải gánh chịu nhiều tai nạn và thảm họa từ
tự nhiên Điều này được thể hiện rõ qua điều kiện sinh sống của họ trong những túp lều tạm, mức sống thấp, khó khăn, đặc biệt là rất hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và nước sạch
- Ngư dân khai thác hải sản sống chủ yếu dựa vào nguồn lợi tự nhiên
Khác với sinh kế của cộng đồng dân cư khác, tại hầu hết các cộng đồng ngư dân khai thác hải sản vùng ven biển, họ ít có sự lựa chọn nghề nghiệp, chủ yếu sống bằng nghề ngư nghiệp cha truyền con nối Các hoạt động sinh kế của ngư dân thường xoay quanh các nguồn lợi từ biển, trong đó nguồn lợi hải sản là nền tảng sinh kế chính Quan niệm “điền tư, ngư chung” hầu như đã ngự trị trong suy nghĩ của ngư dân, kết hợp với việc ít có sự lựa chọn nghề nghiệp kiếm sống ngoài nghề khai thác hải sản đã khiến cho nguồn tài nguyên, nguồn lợi hải sản ngày càng cạn kiệt, tạo ra vòng luẩn quẩn nghèo đói đối với ngư dân
- Phần lớn ngư dân khai thác hải sản là đối tượng nghèo, khó khăn trong việc mua sắm tàu thuyền, trang thiết bị, ngư cụ khai thác do vốn đầu tư lớn
Để thoát nghèo, vươn lên làm giàu đối với nghề này, ngoài yếu tố kỹ thuật, kinh nghiệm đi biển, kỹ năng khai thác hải sản, ngư dân cần phải có vốn đầu tư lớn để mua sắm tàu thuyền, ngư lưới cụ Tuy nhiên thực tế cho thấy, ngoài một
số ngư dân thực sự có tiềm lực về tài chính mới có thể mua sắm tàu thuyền, ngư
Trang 37lưới cụ phát triển khai thác xa bờ, còn lại phần lớn ngư dân khai thác hải sản thường là những người nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu vốn đầu tư, họ chỉ đủ điều kiện để mua sắm tàu khai thác gần bờ, hoặc phải đi làm thuê cho các chủ tàu (Lại Xuân Môn, 2013)
- Ngư dân khai thác hải sản thường xuyên phải đối mặt với môi trường dễ
bị tổn thương và gặp nhiều rủi ro, nguy hiểm
Trong khai thác hải sản, ngư dân thường xuyên phải đối mặt với thiên tai, làm việc vất vả trong môi trường mang tính rủi ro cao, nguy hiểm đến tính mạng Sản lượng đánh bắt và thu nhập thực tế ngày một giảm, tình trạng thiếu vốn diễn
ra khá phổ biến Nhiều ngư dân vẫn không thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn đói nghèo, không có khả năng chuyển đổi sinh kế hay trang bị ngư cụ mới để đánh bắt (Ngân hàng Thế giới và Bộ NN&PTNT, 2011) Nghề khai thác hải sản phụ thuộc vào tự nhiên và là nghề không dự đoán trước được những rủi ro Sản lượng đánh bắt không chỉ phụ thuộc vào số lượng lưới và thời gian đánh bắt trên biển
mà còn phụ thuộc vào cả các yếu tố ngoại cảnh, đặc biệt là phụ thuộc vào sự sẵn
có của các nguồn lợi, trong khi các yếu tố này lại biến động theo thời gian Các yếu tố khác trong nghề cá làm tăng thêm tính dễ bị tổn thương cho ngư dân và những lao động nghề cá bao gồm tính rủi ro nghề nghiệp cao, thiếu các tổ chức hoạt động hiệu quả và đặc tính về giới của hoạt động khai thác Nhìn một cách bao quát, có nhiều yếu tố khác nhau góp phần tạo ra tính dễ bị tổn thương đối với ngư dân, bao gồm: rủi ro cao trong các thảm họa tự nhiên (như lụt lội, bão); bị tác động mạnh khi có sự thay đổi các yếu tố kinh tế vĩ mô (giá nhiên liệu và giá các nguyên liệu đầu vào); tình trạng không có quyền hành và sự cách ly về chính trị, kinh tế và xã hội; tính cạnh tranh ngày càng tăng cao với các đối tượng sử dụng khác (bao gồm cả các công ty khai thác công nghiệp, cũng như các đối tượng khác sử dụng các vùng đất ven biển) do gia tăng sự cạnh tranh về sử dụng nguồn lợi (FAO, 2007a)
- Sinh kế trong khai thác hải sản của ngư dân mang tính mùa vụ cao
Tính mùa vụ trong khai thác hải sản được phản ánh khá rõ, phụ thuộc theo tuần trăng, con nước Với các ngư trường vùng biển miền Bắc nước ta có hai vụ khai thác hải sản chính là vụ cá Bắc và vụ cá Nam, trong đó vụ cá Nam bắt đầu
từ tháng 4 đến tháng 11 và vụ cá Bắc bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Trang 38Vụ cá Nam thường được xem là vụ cá chính với sản lượng khai thác thường cao hơn (Nguyễn Dương Bình, 2005) Yếu tố mùa vụ cũng thường có liên quan đến lao động nghề cá và giá bán sản phẩm Vào chính vụ, nhu cầu lao động tăng cao dẫn đến việc thuê lao động của các chủ tàu thường khó khăn Ngược lại, giá bán hải sản khai thác của ngư dân vào chính vụ lại thường ở mức thấp hơn
Bên cạnh yếu tố mùa vụ khai thác, nhằm bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản, các quốc gia thường ban hành các lệnh cấm khai thác thủy sản có thời hạn trong năm (mùa cá sinh sản) Ở Việt Nam, Bộ NN&PTNT (2011)
đã ban hành Thông tư số 89/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/12/2011 về Ban hành Danh mục khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn trong năm Đây sẽ là khoảng thời gian khó khăn và có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của ngư dân Ngư dân thường khó tìm kiếm được các sinh kế thay thế khác ngoài nghề chính là khai thác hải sản
2.1.5 Nội dung nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân
Do bản thân khung phân tích sinh kế bền vững trong khai thác hải sản đối với ngư dân đã bao gồm các hợp phần về nguồn lực sinh kế, hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế đối với ngư dân và hệ thống các giải pháp cải thiện sinh
kế đối với ngư dân nên nội dung nghiên cứu cải thiện sinh kế trong khai thác hải sản đối với ngư dân vùng ven biển sẽ đề cập đến các vấn đề sau:
2.1.5.1 Nghiên cứu thực trạng sinh kế
- Môi trường dễ bị tổn thương đối với ngư dân
Khi lựa chọn sinh kế khai thác hải sản, đồng nghĩa với việc ngư dân phải đối mặt với môi trường dễ bị tổn thương xảy ra bất thường, phức tạp Những nhân tố dễ bị tổn thương này có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sinh kế của ngư dân, vượt quá tầm kiểm soát của ngư dân Trong một số nghiên cứu (Geheb and Binns, 1997; Andersson and Ngazi, 1998; Sarch and Allison, 2001) đã chỉ ra một số nguyên nhân làm gia tăng tính tổn thương các cộng đồng làm nghề khai thác hải sản như giảm quần thể đàn cá do khai thác quá mức, thay đổi khí hậu, gia tăng áp lực đến việc sử dụng nguồn nước, đất đai, nguồn lợi ven biển, toàn
cầu hóa
Trang 39- Nguồn lực sinh kế của ngư dân
+ Nguồn lực con người
Khi nghiên cứu vấn đề nguồn lực con người trong hoạt động sinh kế của ngư dân, những vấn đề chủ yếu cần chú ý đến là:
Sức khoẻ: Đặc điểm nghề khai thác hải sản là lao động nặng nhọc, thường
xuyên phải đối mặt với rủi ro, nguy hiểm, đòi hỏi trước hết ngư dân phải có sức khỏe mới có thể theo nghề
Giới tính, độ tuổi lao động: Một đặc trưng rất rõ đối với hoạt động của ngư
dân là phân chia công việc theo giới tính, độ tuổi Phần lớn thanh niên nam giới
có sức khoẻ là người trực tiếp đi biển đánh bắt hải sản, còn lại phụ nữ, trẻ em, người già tham gia các hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá, hoặc chế biến hay công việc khác trên bờ Từ đó cần lưu ý đến việc cân đối cơ cấu nguồn nhân lực trong hoạt động sinh kế và cải thiện sinh kế của ngư dân
Trình độ học vấn: Với trình độ học vấn cao sẽ giúp ngư dân nhận thức và
có ứng xử phù hợp trong giải quyết các vấn đề liên quan đến giao tiếp cộng đồng,
tổ chức khai thác hải sản cũng như thực hiện các quy định pháp luật và công ước quốc tế Đây cũng là tiền đề quan trọng quyết định đến khả năng tiếp cận, ứng dụng, sử dụng hiệu quả các sản phẩm khoa học, công nghệ tiên tiến trong khai
thác, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm hải sản
Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm khai thác: Trong thực tế, phần lớn ngư
dân biết nghề và theo nghề đều được tiếp cận theo phương thức kiểu “cha truyền con nối” Đây là những kiến thức, kinh nghiệm rất bổ ích cho ngư dân Tuy nhiên theo xu hướng phát triển, nghề khai thác hải sản, nhất là khai thác xa bờ, bên cạnh những kinh nghiệm truyền thống, ngư dân cần phải được đào tạo, tập huấn những kiến thức mới
+ Nguồn lực tự nhiên
Ngư trường khai thác là nơi tập trung nhiều các nguồn lợi hải sản sẵn có, là môi trường ngư dân tiến hành tổ chức khai thác hải sản Trong thực tế, sự khai thác quá mức và tập trung nguồn lợi hải sản, đặc biệt là ven bờ đã làm cho nguồn lợi này bị cạn kiệt Do điều kiện khó khăn, một số đối tượng ngư dân nghèo đã tiến hành các hoạt động khai thác quá mức hoặc sử dụng các hình thức khai thác huỷ diệt như dùng thuốc nổ, điện… làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi hải sản cũng như môi trường sinh thái
Trang 40Để bảo đảm tính bền vững sinh kế của ngư dân vùng ven biển, đối với nguồn lực tự nhiên, chúng ta không chỉ quan tâm đến vấn đề tiềm năng, nguồn lợi hải sản biển mà cần chú ý đến những vấn đề khác như điều kiện, lợi thế về nuôi trồng hải sản, hay dịch vụ hậu cần nghề cá, chế biến thủy sản… từ đó có định hướng giúp ngư dân tiếp cận được các nguồn lợi này, giảm áp lực khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản trong tương lai
+ Nguồn lực xã hội
Tuy sống ở vùng ven biển, điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém, hạn chế trong tiếp cận với các thông tin cũng như môi trường kinh tế xã hội vùng đô thị, thậm chí có những ngư dân thường cư trú và sinh hoạt ngay trên biển, nhưng họ vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với cư dân vùng nội địa Mối liên hệ ấy xuất phát trước hết
từ nguồn gốc quan hệ anh em, ruột thịt, hoặc thông qua quan hệ kinh tế Hệ thống chợ làng, chợ khu vực và các mạng lưới kinh doanh buôn bán chính là cơ sở cho mối liên kết này Tại đây thường xuyên diễn ra sự trao đổi những sản phẩm khai thác được của ngư dân ven biển với cư dân nội địa để lấy lương thực, thực phẩm
và các vật dụng tiêu dùng khác (Nguyễn Dương Bình, 2005) Do vậy, khi nghiên cứu nguồn lực xã hội của ngư dân, cần chú ý phát hiện và đánh giá được kết quả, lợi ích từ các các mối quan hệ liên kết kinh tế giữa ngư dân với các tổ chức, cá nhân có liên quan, thái độ và hành vi của ngư dân trong việc gìn giữ và phát triển các mối quan hệ đó
+ Nguồn lực tài chính
Thông thường, ở các vùng ven biển, đời sống của ngư dân khó khăn, thu nhập thấp dẫn đến khả năng tích luỹ tài chính bị hạn chế; việc tiếp cận các nguồn vốn từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng… cũng có nhiều bất cập do không có tài sản thế chấp Ngư dân đôi khi được tiếp cận các chương trình hỗ trợ, chính sách
an sinh xã hội của Chính phủ, tuy nhiên những khoản tiền hỗ trợ này thường là rất nhỏ, không đủ để họ có thể thay đổi được cuộc sống Hơn nữa quan niệm kiếm sống qua ngày đã hằn sâu trong tư duy của ngư dân, khiến cho họ luôn cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại, ít nghĩ đến các kế sách, chiến lược làm ăn lâu dài, quy mô lớn Trong xu hướng phát triển, để đóng mới, cải hoán nâng cấp tàu thuyền khai thác, nhu cầu về nguồn lực tài chính của ngư dân là rất cao, do vậy trong quá trình nghiên cứu cần có phân tích, đánh giá được thực trạng cũng như khả năng tiếp cận nguồn lực này đối với ngư dân