Giảng dạy là hoạt động trọng tâm trong các nhà trường nói chung, các trường THCS nói riêng. Hoạt động giảng dạy là nhiệm vụ chính của giáo viên, mọi hoạt động giáo dục đều xoay quanh hoạt động giảng dạy của họ. Vì vậy, quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên là một nội dung quan trọng trong quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS. Để nâng cao chất lượng giảng dạy, bên cạnh việc xây dựng mục tiêu, nội dung, đổi mới phương pháp và hình thức dạy học thì việc quản lý hoạt động giảng dạy là cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Trang 1MỤC LỤC Trang
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY
MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 14
1.2 Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các
1.3 Những nhân tố tác động đến hoạt động giảng dạy môn Ngữ
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG
DẠY MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
34
2.1 Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trườngtrung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên 342.2 Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ởcác trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên 48
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY
MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ
SỞ HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
63
3.1 Các biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữvăn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnhHưng Yên
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giảng dạy là hoạt động trọng tâm trong các nhà trường nói chung, cáctrường THCS nói riêng Hoạt động giảng dạy là nhiệm vụ chính của giáoviên, mọi hoạt động giáo dục đều xoay quanh hoạt động giảng dạy của họ Vìvậy, quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên là một nội dung quan trọngtrong quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS Để nâng cao chất lượnggiảng dạy, bên cạnh việc xây dựng mục tiêu, nội dung, đổi mới phương pháp
và hình thức dạy học thì việc quản lý hoạt động giảng dạy là cần thiết và có ýnghĩa hết sức quan trọng
Môn Ngữ văn là môn học có vai trò, vị trí đặc biệt trong nhà trường vì
nó tác động trực tiếp vào tư tưởng, nhận thức, tình cảm của con người Kháctất cả các môn học khác, kiến thức môn Ngữ văn là sự phản ánh trực tiếp vàsáng tạo cuộc sống: Giá trị giáo dục cơ bản của môn học là mô tả đời sốngbằng nhận thức, không chỉ lĩnh vực đời sống gần gũi và quen thuộc đối vớingười đọc, mà còn mô tả những điều người đó có thể chưa bao giờ thấy trựctiếp như đời sống của các nước khác, của các tầng lớp khác, thậm chí còn mô
tả cuộc sống không còn tồn tại nữa Vì vậy mà mỗi người có khả năng mởrộng, đào sâu và xác minh quan niệm của mình về cuộc sống một cách chânthực nhất
Do đó, dạy và học văn trong nhà trường được coi như một công cụ đắclực của việc hình thành và phát triển nhân cách người học - một trong nhữngmục tiêu lớn của giáo dục Tuy nhiên, gần đây có sự suy giảm chất lượng đếnmức đáng báo động về dạy và học môn Ngữ văn trong trường phổ thông.Trong các kỳ thi ở phổ thông, có nhiều bài phân tích, bình giảng văn, thơ đã
Trang 3khiến giáo viên chấm thi phải lên tiếng trước công luận rằng: Học sinh ngàynay cảm thụ các tác phẩm văn học bằng những kiểu suy nghĩ bất thường; họcsinh không biết rung cảm, đồng điệu trước những áng văn hay giàu giá trịnhân văn, thậm chí nhiều em không biết cách biểu thị suy nghĩ, quan điểmcủa bản thân bằng ngôn ngữ mà viết một cách mạch lạc Điều đó cho thấychất lượng giảng dạy môn Ngữ văn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội vàthời đại.
Nhiệm vụ quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn thường chìm giữanhiệm vụ quản lý các môn học nói chung, các hoạt động giáo dục khác trongnhà trường Những hoạt động chỉ đạo, nghiên cứu, bồi dưỡng còn nặng về lýthuyết mà ít tính cụ thể; xa rời thực tiễn và ít tính khả thi Nhà quản lý cònthiếu thông tin về đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy họcnói riêng và đặc biệt là đổi mới gắn với đặc trưng từng môn học cụ thể nhưmôn Ngữ văn Tất cả khiến cho việc quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữvăn trong nhà trường còn nhiều bất cập về chỉ đạo thực hiện nội dung chươngtrình môn Ngữ văn; về quản lý đổi mới phương pháp giảng dạy văn; về hoạtđộng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giảng dạy văn; về quản
lý hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên Ngữ văn và hoạt động tự học của họcsinh; về quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá trong hoạt động giảng dạy văn
Không nằm ngoài quy luật đó, thực trạng chất lượng giảng dạy môn Ngữvăn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên hiện nay cònnhiều điều phải bàn Một trong những nguyên nhân là các trường trung học cơ
sở trên địa bàn chưa có các biện pháp hữu hiệu để quản lý nên chất lượng hoạtđộng giảng dạy môn Ngữ văn còn nhiều hạn chế, giáo viên chưa đổi mớiphương pháp dạy…, học sinh chưa tích cực trong việc soạn bài chưa gây đượchứng thú cho học sinh vì thế chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dụchiện nay
Trang 4Do vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động giảng
dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên”làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục là vấn đề
có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề giảng dạy, quản lý hoạt động giảng dạy là một trong những vấn
đề luôn thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý,nhà giáo trong nước và nước ngoài ở nhiều góc độ khác nhau
Ở một số nước trên thế giới, các nhà nghiên cứu giáo dục Xô Viết trướcđây thì khẳng định: Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụthuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy củađội ngũ giảng viên
Các tác giả P.V Zimin, M.I.Konđakôp, N.I.Saxerđôtôp đi sâu nghiêncứu lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây làkhâu then chốt trong hoạt động quản lý của hiệu trưởng
Trong công tác quản lý giáo dục, quản lý hoạt động giảng dạy luôn cónhiều khó khăn thách thức Nâng cao chất lượng giảng dạy luôn là mụctiêu hướng tới của quản lý giảng dạy Ở Việt Nam, đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu về vấn đề quản lý giáo dục nói chung và vấn đề quản lýhoạt động giảng dạy nói riêng Trong đó, có thể kể đến như: “Một số hìnhthức tổ chức dạy học ở đại học” của tác giả Đặng Bá Lãm (1987); “Côngtác quản lý giáo dục trong các trường đại học trên quan điểm tiếp cận hiệnđại” của tác giả Phạm Văn Kha (1998); “Một số khái niệm về quản lý giáodục” của tác giả Đặng Quốc Bảo (1997); “Tiếp cận hiện đại hoạt động dạyhọc” của tác giả Đỗ Ngọc Đạt (1997); “Quản lý giáo dục, một số kháiniệm và luận đề” của tác giả Đặng Quốc Bảo (1995); “Quản lý quá trìnhgiáo dục đào tạo” của tác giả Nguyễn Đức Trí (1999); “Tổ chức quản lý
Trang 5quá trình giáo dục đào tạo” của tác giả Nguyễn Minh Đường (1996)…Những công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường nói chung và quản lýhoạt động giảng dạy nói riêng đã xây dựng những cơ sở lý luận cơ bản vềquản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng, tạo nền móng cho nhữngnghiên cứu tiếp theo về quản lý giáo dục nhằm đóng góp cho sự nghiệpphát triển giáo dục.
Công trình khoa học: “Sư phạm thực hành quân sự” (2010) của tậpthể các nhà khoa học do Trần Đình Tuấn chủ biên đã đề cập đến quy trình,
kỹ năng tiến hành một số hình thức dạy học cơ bản mà giảng viên và sinhviên sư phạm cần nắm vững
Đề tài: “Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạođại học ở Học viện Chính trị quân sự hiện nay”(2005), do tác giả Trương Thành Trung làm chủ nhiệm
đề tài, tiếp cận dưới góc độ lý luận giáo dục, đãkhái quát những vấn đề cơ bản về lý luận chất lượng
và đánh giá chất lượng Giáo dục - đào tạo, trongquá trình phân tích làm sáng tỏ cấu trúc của chấtlượng Giáo dục - đào tạo Đề tài đã chỉ ra mối quan
hệ biện chứng của chất lượng giảng dạy, chất lượnggiáo dục và chất lượng hoạt động học của người học
và cho rằng: “chất lượng quá trình dạy học phụ
thuộc vào chất lượng hoạt động dạy và hoạt động học”, đồng thời đề xuất những giải pháp nâng cao
chất lượng giáo dục - đào tạo trong đó có giảng dạy
của giảng viên
Luận án Tiến sĩ “Nâng cao chất lượng, hiệu quả bài giảng các môn khoa
học xã hội và nhân văn ở các trường đại học quân sự” của tác giả Trần Đình
Trang 6Tuấn (2001), đã luận giải chất lượng hiệu quả bài giảng khoa học xã hội và nhânvăn ở đại học quân sự.
Luận văn thạc sỹ “Biện pháp nâng cao chất lượng bài giảng chính trị ởcác cơ quan tàu hải quân hiện nay” (2011) của tác giả Nguyễn Duy Tư, tiếp cậndưới góc độ khoa học giáo dục, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận của vấn đềnghiên cứu, đồng thời phân tích thực trạng, nguyên nhân và những đặc điểmchi phối chất lượng bài giảng, đồng thời đề xuất các giải pháp liên quan đếnhoạt động giảng dạy ở cơ quan của cán bộ giảng dạy, nhấn mạnh “Chất lượngbài giảng phụ thuộc lớn vào chất lượng hoạt động của người giảng viên”
Bên cạnh đó, những năm gần đây, vấn đề quản lý hoạt động giảngdạy ở các trường đại học, cao đẳng, đã có nhiều tác giả chọn nghiên cứu,nhiều Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục như:
“Các biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên ngành cơkhí chế tạo ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng, Thành phố Hồ ChíMinh” của tác giả Nguyễn Văn Tấn (2008);
“Biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tại KhoaCông tác xã hội, Trường Đại học Lao động - Xã hội” của tác giả Đặng ThịPhương Lan (2007);
“Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy tại Trường đại học mởThành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyện Thị Nhận (2008);
“Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại trườngtrung cấp Cảnh sát nhân dân 1” của tác giả Nguyễn Đức Thạch (2012);
“Biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên thỉnh giảng tạiTrường Cao đẳng Du lịch Hà Nội” của tác giả Nguyễn Hữu Luyến (2012)…
Những công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường nói chung và quản lýhoạt động giảng dạy nói riêng đã xây dựng những cơ sở lý luận cơ bản về quản
Trang 7lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng, tạo nền móng cho những nghiên cứutiếp theo về quản lý giáo dục nhằm đóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục.
Môn Ngữ văn trong trường phổ thông có vai trò quan trọng, được sựquan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như:
“Đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở (môn Ngữvăn)” của tác giả Trần Kiều;
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Hùng với giáo trình “phương pháp dạyhọc môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở”;
“Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn trunghọc cơ sở” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thuý Hồng, Nguyên Quang Ninh,
Những nghiên cứu này đã dần định hướng cho việc dạy học văn và vấn
đề đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường Các nhà nghiên cứucũng chỉ ra rằng còn nhiều vấn đề đặt ra cho dạy học văn trong nhà trườngnhư vai trò của văn chương trong thời đại ngày nay; khả năng giáo dục nhâncách tuổi trẻ của môn văn, phương pháp đặc thù của dạy học văn, con đườngđổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường hiện nay, những năng lực
và kỹ năng cần hình thành cho học sinh qua học văn
Quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn cũng được nhiều học viên
cao học nghiên cứu như luận văn của tác giả Trần Thị Sáu tập trung nghiên cứu vấn đề: Các biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn Tiếng Việt bậc tiểu học ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chỉ Minh Luận văn
đã chỉ ra các biện pháp để chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy bộ mônTiếng Việt bậc Tiểu học ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh gồm: Xâydựng kế hoạch thực hiện chương trình tiểu học mới; Nâng cao năng lực độingũ cán bộ quản lý tiểu học; Chỉ đạo thực hiện một số phương pháp mới tronggiảng dạy tiếng Việt (Dạy tiếng Việt theo định hướng giao tiếp, Phương pháp
tổ chức trò chơi học tập tiếng Việt, Phương pháp học tập hợp tác (theo nhóm),
Trang 8Ứng dụng công nghệ tin để giảng dạy môn tiếng Việt, Tăng cường kiểm trađánh giá),
Các giải pháp đưa ra đã bám sát chu trình quản lý và tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên các giải pháp đưa ra chưa mới, chưa chỉ ra được sự phối hợp giữa các biện pháp để tăng cường hiệu quả quản lý.
Luận văn của tác giả Đỗ Văn Tuấn về Những biện pháp quản lý dạy học môn văn ở trường trung học phổ thông Trần Nguyên Hãn, thành phố Hải Phòng đã đưa ra những biện pháp quản lý dạy học môn văn ở trường phổ thông trung học Trần Nguyên Hãn gồm: Biện pháp xây dựng
kế hoạch giảng dạy và học tập; Biện pháp bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn; Biện pháp xây dựng nề nếp, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập; Biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp; Biện pháp tăng cường hoạt động tham quan ngoại khoá; Biện pháp kiểm tra đánh giá,
Các biện pháp đưa ra khá toàn diện, phong phú Tuy nhiên chưa có giải pháp triệt để hoặc biện pháp mới mà chủ yếu là tăng cường các biện pháp đang sử dụng.
Các tác giả nói trên đã chỉ ra được một số biện pháp quản lý hoạt độnggiảng dạy môn Ngữ văn đối với một trường học cụ thể, đã bám sát vào quátrình dạy học, tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học mà chưa đưa rađược những giải pháp đồng bộ và chuyên sâu để nâng cao chất lượng dạy họcmôn Ngữ văn trong bối cảnh hiện nay
Các công trình đề tài nghiên cứu trên đây ít nhiều đã bàn đến quản lýhoạt động giảng dạy nói chung và quản lý hoạt động giảng dạy một môn họcnhất định Nhưng đến nay chưa có công trình khoa học, đề tài của tác giả nàobàn đến vấn đề quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung
Trang 9học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
Do đó, điểm mới của đề tài này là nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận,thực tiễn và tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ vănnhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn học này ở các trường trung học cơ
sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản lý hoạtđộng giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào,tỉnh Hưng Yên hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữvăn ở các trường trung học cơ sở
- Đánh giá thực trạng hoạt động giảng dạy và thực trạng quản lý hoạt
động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào,tỉnh Hưng Yên
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở cáctrường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
4 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện MỹHào, tỉnh Hưng Yên
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ
sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
* Phạm vi nghiên cứu
Trang 10Nghiên cứu các hoạt động quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ởcác trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yê, đề tài giới hạn ởphạm vi:
+Nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy môn Ngữ Văn.+ Chỉ nghiên cứu trong môn Ngữ văn
+ Chỉ nghiên cứu ở bậc trung học cơ sở
+ Chỉ nghiên cứu ở địa bàn huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
Các số liệu điều tra, khảo sát từ năm học 2010 - 2011 đến năm học
2014 - 2015
5 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở
huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và với sự tham gia của nhiều lực lượng Nếu các chủ thể quản lý thực hiện đồng bộ các
biện pháp như: Tổ chức giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cácchủ thể quản lý; quản lý tốt việc thực hiện chương trình, nội dung, kế hoạchgiảng dạy môn Ngữ văn; xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quản
lý hoạt động giảng dạy; tổ chức chặt chẽ hoạt động giảng dạy và chỉ đạo đổimới phương pháp giảng dạy môn ngữ văn; tăng cường kiểm tra, đánh giá kết
quả hoạt động giảng dạy môn ngữ văn của đội ngũ giáo viên, thì sẽ quản lý
được hoạt động giảng dạy môn học này, góp phần nâng cao chất lượng dạy họcmôn Ngữ văn nói riêng và chất lượng giáo dục của các trường trung học cơ sởhuyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên nói chung
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 11cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên Đồng thời, đề tài đã vận dụng các quanđiểm hệ thống - cấu trúc, lôgíc - lịch sử và quan điểm thực tiễn để phân tích,đánh giá, xem xét các vấn đề nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa họcchuyên ngành và liên ngành, bao gồm các phương pháp chính sau:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu
lý luận về dạy học - giáo dục, quản lý giáo dục, các công trình nghiên cứu vềvấn đề quản lý hoạt động dạy học - giáo dục của các tác giả trong và ngoàinước có liên quan để xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu đề tài
Khảo cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trungương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ), các văn bản, chỉ thị hướng dẫn của BộGiáo dục & Đào tạo, của Tỉnh (Huyện) uỷ, Uỷ ban nhân dân, của ngành giáodục tỉnh Hưng Yên và huyện Mỹ Hào về giáo dục - dạy học, quản lý giáo dục,
công tác hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở; các
sách chuyên khảo, các công trình, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học, các luận
án, luận văn khoa học quản lý giáo dục, các bài viết, bài báo có liên quan đến
hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở Qua đó rút
ra nhận định trong việc đánh giá các sự kiện và luận giải các quan điểm, tưtưởng có liên quan đến luận văn
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp trưng cầu ý kiến
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Điều tra, khảo sát nhằm đánh
giá đúng thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường
trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
+ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp với
Trang 12một số giáo viên, cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở huyện MỹHào, tỉnh Hưng Yên về vấn đề quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văncho học sinh.
- Phương pháp quan sát sư phạm
Bằng phương pháp này, học viên tiến hành dự giờ một số buổi lênlớp của giáo viên, một số buổi sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, hoạt độngngoại khoá để thu thập thông tin phục vụ cho việc đánh giá thực trạng quản
lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện
Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục
Tiến hành nghiên cứu các bản đề án đổi mới giáo dục, tổng kết công tácgiáo dục - đào tạo và quản lý giáo dục của ngành giáo dục và của các trườngtrung học cơ sở và Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mỹ Hào, tỉnh HưngYên từ năm học 2010 - 2011 đến nay
Toạ đàm với giáo viên, cán bộ quản lý, về kinh nghiệm quản lý hoạt
động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào,
tỉnh Hưng Yên
- Phương pháp chuyên gia
Học viên trực tiếp trao đổi và xin ý kiến của các chuyên gia (là cácnhà quản lý giáo dục, các nhà sư phạm có uy tín và kinh nghiệm trong tổchức các hoạt động dạy học - giáo dục, ) để lấy ý kiến tư vấn, góp ý trongviệc xây dựng đề cương nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt
động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào,
tỉnh Hưng Yên
- Phương pháp khảo nghiệm
Tổ chức khảo nghiệm nhằm mục đích kiểm chứng tính đúng đắn, tínhkhoa học, tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp quản lý hoạt động giảng
dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng
Yên Qua đó khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã nêu
Trang 137 Ý nghĩa của đề tài
Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học giúp cho các cấp quản lý,nhất là các cấp lãnh đạo, ban giám hiệu các trường trung học cơ sở đề ra cácbiện pháp quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học
cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
8 Kết cấu của đề tài
Luận văn kết cấu gồm: Phần mở đầu; 3 chương, 7 tiết; kết luận và kiếnnghị; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY
MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Hoạt động giảng dạy của giáo viên ở các trường trung học cơ sở
* Giáo viên
Giáo viên là chức danh nghề nghiệp của nhà giáo làm công tác giảngdạy ở các nhà trường Theo quy định tại khoản 3 Điều 70 Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009 nêu rõ: “Nhà giáo giảng dạy ở
cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên.
Giáo viên là lực lượng chủ yếu tham gia vào hoạt động giảng dạy, giáodục học sinh, là người có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, chất lượng,hiệu quả đào tạo của các trường trung học cơ sở Thông qua hoạt động giảngdạy, đội ngũ giáo viên sẽ là người thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ tương lai,đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trung học cơ sở là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước
ta hiện nay Trung học cơ sở kéo dài 4 năm từ lớp 6 đến lớp 9 với độ tuổi họcsinh phổ biến từ 11 tuổi đến 15 tuổi Trường trung học cơ sở được bố trí tại từng
xã, thị trấn Trường trung học cơ sở chịu sự quản lý trực tiếp của Phòng Giáodục và Đào tạo và quản lý hành chính của chính quyền cấp huyện
Giáo viên ở các trường trung học cơ sở là bộ phận quan trọng của độingũ cán bộ, viên chức Đó là lực lượng lao động trực tiếp tham gia vào quátrình dạy học - giáo dục Chất lượng giảng dạy của giáo viên là một trongnhững nhân tố quyết định đến chất lượng của học sinh - việc tiếp thu kiến thức,hình thành hệ thống phẩm chất năng lực của chủ nhân tương lai của đất nước
Trang 15Trong quá trình hội nhập với nền văn hoá các nước trong khu vực vàthế giới, vai trò của giáo viên là xây dựng, bảo tồn và phát triển văn hoáViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa vănhoá của nhân loại Là một bộ phận của trí thức dân tộc - những trí thức cótrình độ học vấn và vốn hiểu biết xã hội sâu rộng, có óc phân tích, phê bìnhsâu sắc, giáo viên có cơ sở để đảm nhận tốt vai trò này Trong bối cảnh hộinhập toàn cầu hiện nay, khi mà các luồng văn hoá tốt, xấu đan xen nhau thìvai trò này càng tỏ rõ tầm quan trọng.
* Hoạt động giảng dạy môn ngữ văn của giáo viên trung học cơ sở
Ngữ văn là một môn học có đặc thù riêng, là bộ môn quan trọng trongnhà trường phổ thông Nó là sự kết hợp hài hòa giữa tính khoa học và nghệthuật Bằng những hình tượng và ngôn từ phong phú sinh động của mình, nócung cấp cho người đọc những kiến thức về cuộc sống cũng như những điều
bí ẩn trong tâm hồn con người, trong mỗi sự vật, hiện tượng Từ đó, nó tácđộng tới tâm tư, tình cảm và góp phần quan trọng để hình thành và phát triểnnhân cách, tâm hồn cho thế hệ trẻ Hơn nữa, tuổi trẻ là lứa tuổi giàu cảm xúc,
dễ rung động trước cái đẹp, môn Ngữ văn sẽ góp phần hướng tư duy học sinhđến Chân - Thiện - Mỹ hình thành phẩm chất trong sáng của mỗi học sinh
Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, là cội nguồn đời sống
và sự phản ánh chân thực chính nghệ thuật đời sống ấy, đồng thời là một hìnhthái quan niệm nhân sinh về xã hội Tính đặc thù của văn học chính là ở chỗ
nó là một hình thái phản ánh thẩm mỹ và bao giờ cũng cần tưởng tượng Tínhchất tưởng tượng hư cấu đem lại cho văn học những khả năng to lớn Văn họcđược coi là “trò diễn bằng ngôn từ” bởi nó mang tính hình tượng, tính biểucảm sinh động, tính hàm súc đa nghĩa, tính cá thể hóa cao trong giảng dạy vàtiếp nhận mà không một môn học nào có được Tác phẩm văn học trở thànhtín hiệu thẩm mỹ không chỉ mang đến thông tin mà còn bao hàm trong nó
Trang 16nhiều tầng nghĩa: tầng nghĩa trực tiếp, tầng nghĩa do hình dung tưởng tượng
và tầng ý được tạo ra từ hai tầng nghĩa trên kết hợp với vốn sống riêng củamỗi cá nhân Do đó, người học được coi là người đồng sáng tạo lên tác phẩm,thiếu người đọc thì hoạt động văn học chẳng khác gì một tiếng kêu vô vọngvang lên giữa cánh đồng hoang và mọc đầy cỏ dại
Môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng đặc biệt trong chương trìnhcủa cấp trung học cơ sở Ngoài việc cung cấp kiến thức như các môn họckhác, môn Ngữ văn còn góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng tư tưởng tìnhcảm cho các em học sinh, nhằm trau dồi kiến thức văn học cũng như rènluyện kỹ năng nói và viết cho học sinh, góp phần hình thành nhân cách,đạo đức và nuôi dưỡng tâm hồn, ý thức dân tộc cho các em Từ đó, hìnhthành và phát triển con người toàn diện ở học sinh, đồng thời giáo dục lýtưởng và đạo đức, từng bước giúp học sinh cập nhật những vấn đề toàn cầu
mà không quay lưng lại với truyền thống dân tộc, vừa giữ gìn bản sắc vừahoà nhập xu thế phát triển chung của thế giới
Học xong chương trình Ngữ văn ở trung học cơ sở sẽ giúp cho học sinhnâng cao ý thức giữ gìn sự giàu đẹp của Tiếng Việt và tình yêu văn học đốivới các tác phẩm ưu tú của dân tộc và nhân loại Từ đó, học sinh sẽ có hứngthú và cách thức ứng xử, giao tiếp có văn hóa đối với môi trường sinh sống Ýthức tôn trọng, yêu quý cái đẹp và cố gắng sáng tạo nên cái đẹp sẽ được bồiđắp và dần hình thành lên thẩm mỹ ở học sinh Tuy nhiên học văn là cả mộtquá trình tích luỹ lâu dài, không thể học xổi, học dồn mà phải cập nhật từngngày, từng vấn đề, từng tác phẩm
Ở các trường trung học cơ sở hiện nay, chương trình môn Ngữ văn (baogồm 03 phân môn: tiếng việt, văn học, tập làm văn) được tích hợp biên soạntrên cùng một cuốn sách gọi chung là môn Ngữ văn (trước kia phân thành 03quyển sách giáo khoa: tiếng việt, văn học, tập làm văn) Phân môn tiếng Việt
Trang 17và tập làm văn, có tác dụng giúp học sinh rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếngviệt thành thạo, mỗi bài học được thiết kế khác nhau bao gồm: từ đơn, từghép, các loại kiểu câu, hội thoại Cấu trúc phân môn Tập làm văn gồm 06kiểu bài: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành chính công
vụ Những văn bản được đưa vào chương trình môn văn là những tác phẩm cangợi truyền thống của dân tộc, các văn bản nghị luận (xã hội và văn học), vănbản nhật dụng (đây là điểm mới so với cấu trúc chương trình cũ) Tất cả nộidung này đan xen trong toàn bộ chương trình môn Ngữ văn và tuỳ theo từngkhối học mà yêu cầu học sinh đạt được mức độ hiểu, thực hành khác nhau.Theo đó, hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn là những việc làm do giáoviên bộ môn Ngữ văn thực hiện nhằm tạo ra những tác động gây ảnh hưởngđến học sinh và hoạt động của học sinh để thực hiện các mục tiêu giảng dạymôn học này ở các trường trung học cơ sở
Hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn là tổ chức một cách hợp lý hoạt độngcủa giáo viên và học sinh trong dạy học văn, là tác động của giáo viên đến họcsinh sao cho hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu đề ra của môn Ngữ văn
Từ cách tiếp cận trên, ta có thể hiểu giảng dạy môn Ngữ văn ở trường
trung học cơ sở là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức, có định hướng của giáo viên giúp học sinh từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các
kỹ năng, các giá trị văn hóa theo chương trình, góp phần hình thành, phát triển nhân cách toàn diện của học sinh theo mục tiêu giáo dục bậc trung học cơ sở.
Nội dung chương trình môn Ngữ văn ở trung học cơ sở cũng cần đạtđến việc cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng cho học sinh như các mônhọc khác, đồng thời cũng mang đặc trưng riêng của môn văn: trọng tâm củaviệc rèn luyện kỹ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kỹ năng
Trang 18nghe, nói, đọc, viết khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có kỹ năng sơgiản phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giávăn học
Phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn ở trung học cơ sở được định hướng theo hướng dạy học tích hợp và tích cực Phương pháp dạy học tích cực hay còn gọi là phương pháp tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh nhằm giáo dục, dạy học khởi động và phát huy tính năng động, sáng tạo, kiên trì của học sinh Tích hợp bao gồm việc học đồng thời với giảng dạy nội dung môn học Trong sự phát triển của giáo dục hiện đại, tích hợp
là một nguyên tắc và có thể xem là phương pháp luận chỉ đạo việc hòa nhập tối ưu các quá trình sư phạm, quá trình nhận thức và quá trình tiếp nhận để đạt hiệu quả dạy học Chương trình Ngữ văn THCS lấy Tập làm văn làm trục tích hợp, có nghĩa là lấy năng lực tạo lập văn bản làm trọng tâm lâu dài.
Hoạt động giảng dạy của giáo viên nói chung, giảng dạy môn ngữ
văn của giáo viên ở các trường trung học cơ sở nói riêng là hoạt động trọng
tâm; trong đó giáo viên giữ vai trò chủ thể, điều khiển mọi hoạt động giáodục và hoạt động nhận thức của người học, được tạo nên bởi các thành tốcấu trúc như mục đích, nội dung, đối tượng, phương pháp, phương tiệngiảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả giảng dạy môn Ngữ văn, rút kinhnghiệm, cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với từng đốitượng Đó là con đường thuận lợi nhất giúp học sinh trong khoảng thời gianngắn nhất có thể nắm vững một khối lượng kiến thức Ngữ văn với chấtlượng cần thiết Bên cạnh đó, giảng dạy còn là con đường quan trọng bậcnhất giúp cho mỗi giáo viên không ngừng tự hoàn thiện phẩm chất nghềgiáo của mình; đồng thời giúp học sinh phát triển một cách có hệ thốngnăng lực hoạt động trí tuệ nói chung và đặc biệt là năng lực tư duy sáng
Trang 19tạo, rèn luyện, hình thành kỹ xảo, kỹ năng và các phẩm chất cần thiết, đápứng với mục tiêu giáo dục và giảng dạy của từng nhà trường.
Trong hoạt động giảng dạy nói chung và giảng dạy môn Ngữ văn nóiriêng được thực hiện đồng thời cùng nội dung và hướng tới cùng một mụcđích Người dạy luôn giữ vai trò chủ đạo, là người xây dựng và thực thi kếhoạch giảng dạy, tổ chức cho người học thực hiện hoạt động học tập vớinhững hình thức khác nhau trong những không gian và thời gian khácnhau Họ chính là người điều khiển những hoạt động trí tuệ của người học,người chỉ dẫn, giúp đỡ người học học tập, rèn luyện, đồng thời kiểm tra,giáo dục người học trong mọi phương diện
Để đạt được mục đích, giáo viên môn Ngữ văn và học sinh đều phảiphát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân: phẩm chất, năng lực, nhu cầu…
để xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, hình thức, tìm kiếm phươngtiện dạy và học cho phù hợp Việc tách hoạt động giảng dạy môn Ngữ vănthành một hoạt động có tính độc lập tương đối là nhằm nghiên cứu cụ thểhơn hoạt động này về phương diện lý thuyết
1.1.2 Quản lý hoạt động giảng dạy môn ngữ văn ở các trường trung học cơ sở
Trong đời sống xã hội mọi hoạt động đều cần phải quản lý Quản lý gắnliền với cuộc sống, với hoạt động của con người, nó gắn liền với quá trình kinh
tế - xã hội Trên thực tế, đã nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.Những quan niệm này có từng giai đoạn lịch sử ra đời khác nhau và gắn vớimỗi tổ chức hoạt động trong một lĩnh vực, thậm chí với mỗi quá trình trongtừng tổ chức
Theo “Đại bách khoa toàn thư” (Liên Xô cũ): “Quản lý là chức năng
của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau, nó bảo toàncấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện nhữngchương trình, mục đích hoạt động”…
Trang 20Trong các giáo trình tài liệu về quản lý, khi trình bày khái niệm quản
lý, ngoài việc trích dẫn những tư tưởng của các tác giả kinh điển của lý luậnchủ nghĩa Mác - Lênin, các tác giả thường dẫn ra quan điểm của một số tácgiả nước ngoài như:
Tác giả Henri Fayol đại diện cho thuyết quản lý hiện đại người đặt nềnmóng cho lý luận tổ chức cổ điển: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉhuy, phối hợp và kiểm tra”
Theo tác giả Taylor F.W, nhà quản lý người Mỹ đại diện cho thuyết
“Quản lý theo khoa học” coi: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốnngười khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc mộtcách tốt và rẻ nhất
Khi xem xét quản lý với tư cách là một hoạt động, một lao động tất yếutrong các tổ chức của con người thì “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổchức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý về các mặtchính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chínhsách, các nguyên tắc, các phương pháp, biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môitrường và điều kiện cho sự phát triển đối tượng”
Trong các diễn đạt trên đều cho thấy những điểm chung như sau:
Quản lý là cách thức tổ chức - điều khiển (cách thức tác động) của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu mà tổ chức đã đề ra
Từ đó, có thể thấy được bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động
có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (kháchthể quản lý) nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Theo khái niệm về quản lý, quátrình quản lý chỉ diễn ra khi có hai yếu tố: chủ thể quản lý và đối tượng quản
lý Chủ thể quản lý là người quản lý, còn đối tượng quản lý bao gồm cácnguồn lực, nội dung quản lý, mục tiêu, kế hoạch, điều kiện và phương tiện
Trang 21quản lý Các nguồn lực quản lý trong trường học, bao gồm: nguồn nhân lực(giáo viên, nhân viên, các nhà quản lý); nguồn tài lực (các nguồn đầu tư củaNhà nước, thu nhập để lại); nguồn vật lực (tài sản cố định, thiết bị phục vụdạy học….); nguồn thông tin (các báo cáo nghiên cứu khoa học, hệ thống giáotrình) Trong các nguồn lực trên, nguồn nhân lực con người là yếu tố quantrọng quyết định sự thành bại của một nhà trường.
Quá trình quản lý bao gồm các khâu: dự báo, lập kế hoạch, thực hiện, điềuphối, chỉ đạo điều hành và kiểm tra đánh giá Trong quá trình quản lý thì chủ thểquản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý nhằm dẫn dắt đối tượng quản lý
đi đến mục tiêu Chủ thể có thể là một người, một bộ máy quản lý gồm nhiềungười Đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý đặc biệt, thông qua
đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm đạt được một mụctiêu đáp ứng được yêu cầu đề ra của môn học
Hoạt động giảng dạy nói chung, hoạt động giảng dạy môn Ngữ vănnói riêng là hoạt động mang tính đặc trưng của tất cả các loại hình nhàtrường Theo đó, mọi hoạt động khác của trường trung học cơ sở đều phải
hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giảng dạy nói chung và hoạt động dạy họcmôn ngữ văn nói riêng Có thể hiểu quản lý hoạt động dạy học môn Ngữvăn là tổ chức một cách hợp lý hoạt động của giáo viên và học sinh trongdạy học văn, là tác động đến giáo viên và học sinh sao cho hoạt động của
cả thầy và trò đáp ứng được yêu cầu đề ra của môn học
Hoạt động giảng dạy chiếm hầu hết thời gian trong các hoạt động giáodục, đồng thời chi phối các hoạt động khác trong nhà trường Bởi thế, quản lýhoạt động giảng dạy chính là quản lý quá trình dạy học, là sự tác động có quyluật của nhà quản lý đến giáo viên bằng các giải pháp quản lý nhằm đạt đượcmục đích giảng dạy
Trang 22Quản lý hoạt động giảng dạy nói chung, hoạt động giảng dạy mônNgữ văn nói riêng là nội dung vô cùng quan trọng trong quản lý ở trườngtrung học cơ sở hiện nay, vì giáo dục thực hiện cả chức năng giáo dục và chứcnăng phát triển Giáo viên Ngữ văn cùng với giáo viên các bộ môn kháckhông chỉ là chủ thể của mọi hoạt động giảng dạy mà còn là người điều khiểnquá trình học tập của học sinh Nhiệm vụ chính của giáo viên là hoạt độnggiảng dạy, đó là việc truyền đạt kiến thức về ngôn ngữ, văn học và những giátrị về tư tưởng, văn hoá, đạo đức, phẩm chất cần trang bị cho học sinh Đồngthời, giáo viên có nhiệm vụ phải thường xuyên học tập, rèn luyện, bồi dưỡng,
tu dưỡng để nâng cao trình độ về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng, hiệuquả hoạt động giảng dạy của mình
Như vậy, quản lý hoạt động giảng dạy môn ngữ văn ở các trường trung học cơ sở là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý đến quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động giảng dạy môn học của giáo viên, nhằm bảo đảm cho hoạt động giảng dạy đạt được mục đích đã xác định
Quản lý hoạt động giảng dạy môn ngữ văn của giáo viên là một bộphận hữu cơ trong hệ thống quản lý giáo dục - đào tạo của các trường trunghọc cơ sở, có sự tham gia của các nhân tố:
Một là: Chủ thể quản lý trực tiếp hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn của
giáo viên ở các trường trung học cơ sở là: ban giám hiệu nhà trường, tổ ngữvăn, và chính bản thân đội ngũ giáo viên Trong các lực lượng quản lý hoạtđộng giảng dạy môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở thì Hiệu trưởng là chủthể quản lý chính Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất trước cấp
ủy, chính quyền địa phương, ngành giáo dục, trước nhân dân, về chất lượnggiáo dục nói chung, giảng dạy môn học này nói riêng
Trang 23Hai là: Đối tượng quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các
trường trung học cơ sở là giáo viên Ngữ văn và các tổ Ngữ văn chịu sự tác động,điều khiển của chủ thể quản lý Như vậy, giáo viên Ngữ văn vừa là chủ thể vừa
là khách thể trong hệ thống quản lý
Ba là: Mục đích quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường
trung học cơ sở là nhằm bảo đảm cho hoạt động giảng dạy môn học của giáoviên đạt kết quả ngày càng cao, góp phần thực hiện tốt mục tiêu quản lý vànhiệm vụ giáo dục - đào tạo của nhà trường
Bốn là: Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các
trường trung học cơ sở thực chất là quản lý việc thực hiện tốt các thành tốcủa quá trình giảng dạy, các nhiệm vụ quyết định đến chất lượng giảng dạycủa giáo viên Ngữ văn của nhà trường; đó là việc cụ thể hoá mục tiêu đàotạo, thông qua: quản lý thực hiện tốt chương trình, nội dung, kế hoạchgiảng dạy môn học của giáo viên; quản lý các hoạt động giảng dạy mônNgữ văn của giáo viên theo đúng quy chế, các quy định giáo dục - đào tạocủa nhà trường Đồng thời quản lý tốt hoạt động kiểm tra, đánh kết quảhoạt động giảng dạy môn Ngữ văn của giáo viên, hoạt động học tập củahọc sinh Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động giảngdạy góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn, đạt được mụcđích quản lý của nhà trường
Năm là: Phương pháp quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở
các trường trung học cơ sở rất phong phú, đa dạng, bao gồm toàn bộ nhữngcách thức, biện pháp tác động, điều khiển của chủ thể quản lý đến đốitượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện nhằm đạt được mục tiêuquản lý đã xác định Việc xác định phương pháp quản lý hoạt động giảngdạy môn Ngữ văn phải bảo đảm tính khoa học, thống nhất, khả thi, phù hợpvới chức năng, nhiệm vụ của giáo viên môn Ngữ văn, tăng cường hiệu quảquản lý nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, trong đó phương pháp quản lý
Trang 24hành chính, phương pháp giáo dục - tâm lý, phương pháp kích thích lànhững phương pháp chủ đạo, được sử dụng phổ biến Hoạt động giảng dạy
là hoạt động trí tuệ, hết sức căng thẳng, do đó cần lựa chọn và sử dụng cácphương pháp quản lý phù hợp với đối tượng quản lý là con người mớimang lại tác dụng, hiệu quả cao
1.2 Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các
trường trung học cơ sở
Quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ
sở thực chất là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên
và của từng giáo viên bộ môn Ngữ văn Trong quản lý hoạt động giảng dạymôn Ngữ văn, giáo viên Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở vừa làkhách thể quản lý nhưng cũng vừa là chủ thể quản lý của quá trình đó, gồmcác nội dung:
1.2.1 Quản lý việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch giảng dạy môn Ngữ văn
Kế hoạch giảng dạy là việc làm rất quan trọng của nhà quản lý giáo dục
ở các trường trung học cơ sở nhằm đạt tới các mục tiêu của hoạt động quản lýgiáo dục nói chung và quản lý hoạt động giảng dạy môn học nói riêng Đồngthời, còn là cơ sở cho các cấp, tổ bộ môn kịp thời điều chỉnh thời lượng saugiảng dạy môn học, bài giảng Ngữ văn cho học sinh, chống tình trạng quá tải,dồn ép chương trình dẫn đến hiệu quả giảng dạy không cao
Việc quản lý giáo viên Ngữ văn dựa theo kế hoạch giảng dạy là thểhiện sự đề cao, tôn trọng tính chủ động của giáo viên, thể hiện sự quản lýnghiêm túc của cán bộ quản lý Tuy nhiên, trong bản kế hoạch cũng cần có
sự điều chỉnh linh hoạt khi hoàn cảnh thực tế thay đổi ảnh hưởng đến việchoàn thành kế hoạch
1.2.2 Quản lý nội dung, chương trình giảng dạy môn Ngữ văn
Nội dung, chương trình giảng dạy là văn bản do Bộ Giáo dục và Đàotạo ban hành, được triển khai thực hiện cụ thể đối với các nhà trường; đồng
Trang 25thời quy định cụ thể mục đích, mục tiêu của môn học, phạm vi và hệ thốngnội dung môn học, số tiết dành cho môn học nói chung và dành cho từngphần, chương của môn học; là căn cứ để cấp trên chỉ đạo, thanh tra, kiểmtra các hoạt động giảng dạy, nhà trường và mỗi giáo viên triển khai hoạtđộng giảng dạy và học sinh học tập; chi phối trực tiếp, là khâu trọng yếuquyết định chất lượng giảng dạy của giáo viên, chất lượng giáo dục - đàotạo về mặt chuyên môn của nhà trường Quản lý, thực hiện chương trình,nội dung giảng dạy môn Ngữ văn là nhiệm vụ của tất cả các cán bộ quản lýnhà trường, của giáo viên và học sinh.
1.2.3 Quản lý hoạt động giảng dạy trên lớp của giáo viên Ngữ văn
Quản lý hoạt động giảng dạy giữ vai trò rấtquan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảngdạy, giáo dục - đào tạo của giáo viên ở các trườngtrung học cơ sở Đội ngũ cán bộ quản lý tham giaquản lý giáo viên với hoạt động giảng dạy môn Ngữvăn bao gồm: ban giám hiệu, tổ bộ môn và chính bảnthân giảng viên Nội dung quản lý đội ngũ giáo viênvới hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn được đề cập ởđây là quản lý về mặt chuyên môn, nghiệp vụ giảngdạy, quản lý việc thực hiện chương trình, nội dunggiảng dạy; quản lý các khâu, các bước quá trìnhgiảng dạy môn ngữ văn (quản lý công tác chuẩn bịgiảng dạy; quản lý phân công giảng dạy; quản lýviệc thực hiện các hoạt động giảng dạy; quản lýviệc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của giáoviên đối với học sinh ); cùng với việc quản lý,bồi dưỡng phát triển tốt đội ngũ giáo viên, quản lýhoạt động giảng dạy của giáo viên là điều kiện tiên
Trang 26quyết có ảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy mônNgữ văn ở các trường trung học cơ sở.
1.2.4 Giáo viên Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở tự quản lý hoạt động giảng dạy của bản thân
Theo phân công của ban giám hiệu nhà trường, mỗi giáo viên mônNgữ văn có trách nhiệm quản lý hoạt động giảng dạy tại lớp học mà mìnhđảm nhận Nội dung tự quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên Ngữ văn
ở các trường trung học cơ sở bao gồm:
- Thực hiện chương trình dạy học được phân công
- Quản lý hoạt động học tập của học sinh
1.2.5 Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm tốt cho hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn
Cơ sở vật chất kỹ thuật là điều kiện trực tiếp để nâng cao hiệu quảgiảng dạy Do đó, quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giảng dạy là sự tác độngphù hợp với quy luật của chủ thể quản lý trường học đến đối tượng quản lý
có liên quan tới lĩnh vực cơ sở vật chất kỹ thuật giảng dạy, bao gồm:phương tiện vật chất, kỹ thuật và sản phẩm khoa học - công nghệ đượchuy động vào hoạt động giảng dạy trong nhà trường, nhằm hỗ trợ các hoạtđộng giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở vận hành đạt tớimục tiêu đào tạo
1.2.6 Quản lý hoạt động của giáo viên Ngữ văn trong thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giảng dạy vừa mang ý nghĩaxác nhận kết quả mà giáo viên Ngữ văn đạt được trong giảng dạy, vừalàm cơ sở điều chỉnh hoạt động giảng dạy và định hướng cho hoạt độngdạy, học tiếp sau Kết quả kiểm tra, đánh giá cũng là cơ sở điều chỉnh,
Trang 27cải tiến công tác quản lý của các chủ thể đối với hoạt động giảng dạyNgữ văn ở trường trung học cơ sở ngày càng đạt hiệu quả hơn.
1.3 Những nhân tố tác động đến hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở
1.3.1 Tác động từ phương hướng, mục tiêu phát triển mới của nhiệm
vụ giáo dục - đào tạo của các trường trung học cơ sở hiện nay
Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hoá và hội nhậpquốc tế hiện nay đã tạo ra sự biến đổi sâu sắc trêntất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đối với tất
cả các quốc gia trong đó có nước ta, đòi hỏi vềgiáo dục, đặt ra những yêu cầu mới về giảng dạy,quản lý hoạt động giảng dạy, để đáp ứng yêu cầu vềGiáo dục - đào tạo cho sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước
Hiện nay và những năm tiếp theo, giáo dục Việt Nam đang tập trunglãnh đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về chất lượng giáo dục -đào tạo Nâng cao chất lượng dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt và quản lý tốt.Tiếp tục nâng cao chất lượng cán bộ, giáo viên thông qua các khoá đàotạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong quản lý và giảng dạy.Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, lấy người học làmtrung tâm, tăng cường bổ sung kiến thức, giá trị thẩm mỹ và tinh thần chohọc sinh Vì vậy, trong tương lai, mục tiêu xây dựng và phát triển củagiáo dục phổ thông nói chung và trung học cơ sở nói riêng sẽ có nhữngbước phát triển mới
Đây là những mục tiêu lớn, chi phối và tác động mạnh mẽ, toàn diệnđến quá trình giáo dục - đào tạo mà trực tiếp là giảng dạy và quản lý hoạtđộng giảng dạy nói chung và giảng dạy môn Ngữ văn ở trường trung học cơ
Trang 28sở nói riêng; đồng thời đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với quá trình giảngdạy của giáo viên để đáp ứng với sự phát triển mới của nhiệm vụ giáo dục -đào tạo ở bậc trung học cơ sở hiện nay
1.3.2 Tác động từ chương trình, nội dung, kế hoạch, các văn bản pháp quy về quản lý hoạt động giảng dạy môn ngữ văn ở các trường trung học cơ sở
Chương trình, nội dung, kế hoạch giảng dạy nói chung, giảng dạy mônNgữ văn nói riêng là khâu trọng yếu, tác động toàn diện, sâu sắc tới toàn bộ quytrình quản lý, tới nhận thức và hành động của giáo viên trong hoạt động giảngdạy, thúc đẩy việc đổi mới chương trình, nội dung kế hoạch giảng dạy một cáchphù hợp, bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động giảng dạy của nhà trường
Do đó, mỗi nhà trường phải thiết kế được hệ thống chương trình, nộidung, kế hoạch giảng dạy môn Ngữ văn cụ thể, rõ ràng, chính xác, thiết thực vàkhả thi Chương trình, nội dung, kế hoạch giảng dạy môn Ngữ văn phải được sắpxếp theo hệ thống thống nhất, bảo đảm tính ổn định, lâu dài và phù hợp với xuthế phát triển của giáo dục, đối tượng dạy học và nhiệm vụ giảng dạy của giáoviên, đồng thời phải được đạt được mục tiêu quản lý
Chương trình, nội dung, kế hoạch giảng dạy môn Ngữ văn phải sátvới mục tiêu dạy học, thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ
và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giảng dạy của giáo viên Cấu trúccủa chương trình, nội dung, kế hoạch giảng dạy môn Ngữ văn phải mangtính mềm dẻo, linh hoạt và khoa học, trong đó được chỉ rõ khối lượng kiếnthức giảng dạy, các kỹ năng và các giá trị tinh thần khác mà giáo viên, họcsinh cần đạt được trong từng bài giảng
Các văn bản quản lý, quy chế, quy định… trong quản lý hoạt động giảngdạy môn Ngữ văn vừa là công cụ mang tính pháp lý trong quản lý mọi hoạtđộng, vừa là căn cứ quy định rõ ràng đối với tổ chức và mọi giáo viên trong
Trang 29thực hiện nhiệm vụ, trong kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của giáoviên, bảo đảm cho hoạt động giáo dục, giảng dạy của nhà trường ngày càng đivào nề nếp và có hiệu quả hơn.
Như vậy, chương trình, nội dung, kế hoạch giảngdạy môn Ngữ văn là những định hướng, điều khiển,chỉ đạo việc xác lập và thực hiện các biện phápquản lý nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy mônhọc này cho học sinh trung học cơ sở ở mỗi nhàtrường hiện nay
1.3.3 Tác động từ đối tượng học sinh
Học sinh trung học cơ sở là những thanh thiếu niên bắt đầu phát triểnmạnh mẽ về thể chất nhưng lại chưa có đủ điều kiện để phát triển toàn diện vềtrí tuệ, đạo đức Trong khi đó bậc học trung học cơ sở bắt đầu đòi hỏi học sinhhọc tập với một cường độ cao Điều đó dẫn đến những mâu thuẫn trong thái
độ, hứng thú học tập của học sinh Để khắc phục được mâu thuẫn đó, đòi hỏiviệc giảng dạy các môn học trong nhà trường, nhất là môn Ngữ văn cần phảigắn với cuộc sống và tạo được hứng thú cho học sinh Đây là một trongnhững yếu tố chi phối mạnh mẽ việc giảng dạy và quản lý hoạt động giảngdạy môn Ngữ văn trong nhà trường trung học cơ sở
1.3.4 Tác động từ trình độ giảng dạy của đội ngũ giáo viên Ngữ văn
và công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở các trường trung học cơ sở
* Công tác giảng dạy của đội ngũ giáo viên Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở
Trong nhà trường, giáo viên là lực lượng chủ lực để thực hiện cácnhiệm vụ đề ra Hiệu trưởng quản lý tốt, kế hoạch năm học của nhà trườngđược xây dựng sát với đặc điểm nhà trường, mà người thực hiện là giáo viênlại không đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu phẩm chất đạo đức thì
Trang 30hiệu quả giáo dục sẽ không cao Vai trò của giáo viên được Nghị quyết Hộinghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Hai (khóa VIII) khẳng định: "giáoviên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh, giáoviên phải có đủ đức, tài”
Để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ giảng dạy, đòi hỏi đội ngũ giáoviên phải được biên chế đủ về số lượng và loại hình, đạt chuẩn về trình độ họcvấn, có kinh nghiệm, tuổi đời phù hợp với vị trí, nhiệm vụ giảng dạy của giáoviên, nhất là trình độ chuyên môn vững, nghiệp vụ sư phạm tốt Đây là vấn đềđáng quan tâm hiện nay trong quá trình hoạt động giảng dạy của giáo viên ởmỗi nhà trường Nhìn chung, trình độ giảng dạy của đội ngũ giáo viên cáctrường trung học cơ sở hiện nay cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ
Đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở nói chung, giáo viên dạymôn Ngữ văn nói riêng là những người được đào tạo sâu về chuyên môn vànghiệp vụ sư phạm Nhưng thực tế, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mỗigiáo viên lại không đồng đều Điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động giảngdạy, nhất là môn Ngữ văn vốn là một môn học đòi hỏi say mê của cả giáoviên và học sinh
Yêu cầu đặt ra đối với giáo viên dạy Ngữ văn không chỉ dạy kiến thức
mà còn có nhiệm vụ định hướng cảm xúc, tình cảm, sự rung động; cần đếnnăng khiếu của cả giáo viên và học sinh Giáo viên Ngữ văn chính là sợi dâyliên kết giữa tác phẩm và học sinh, là người tạo điều kiện cho học sinh chủđộng tiếp thu tác phẩm chứ không phải là người áp đặt kiến thức cho họcsinh Vì vậy, quản lý dạy học Ngữ văn trong các trường trung học cơ sở cầnphải quan tâm đến nhân tố đặc biệt chính là người thầy
* Đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở
Trang 31Cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở là những người trực tiếp điều hành, quản lý hoạt động
giáo dục - đào tạo, nhất là hoạt động giảng dạy ởcác tổ chuyên môn Do vậy, cán bộ quản lý phải lànhững người có trình độ chuyên môn sư phạm vững vàng
và nghiệp vụ quản lý nhất định để thực hiện tốt quản
lý các hoạt động dạy và học, bởi vì cán bộ quản lý
có khả năng tập hợp và phát huy đầy đủ sức mạnh cáchoạt động của từng giáo viên và tập thể chuyên môn,nhằm làm chuyển biến vị trí của người học sinh từđối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếmtri thức từ đó nâng cao hiệu quả học tập, tác độnglớn đến chất lượng hoạt động giảng dạy của giáo viêntrong nhà trường
Trong trường trung học cơ sở, người chịu tráchnhiệm chính về chất lượng giáo dục - đào tạo nóichung, chất lượng giảng dạy nói riêng của đội ngũgiáo viên là ban giám hiệu Để có hiệu quả trongcông tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục tronghoạt động dạy học, người Hiệu trưởng phải hiểu rõmục tiêu, nội dung, nắm chắc các phương pháp, cácnguyên tắc giáo dục Người Hiệu trưởng phải là nhàgiáo có kinh nghiệm, có năng lực, có uy tín chuyênmôn; là con chim đầu đàn của tập thể giáo viên vàbiết cách tổ chức hoạt động dạy học trong nhà trườngmột cách hiệu quả Do đó, quản lý hoạt động giảngdạy của đội ngũ giáo viên nói chung, quản lý hoạtđộng giảng dạy môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở
Trang 32nói riêng phụ thuộc rất lớn vào phẩm chất, năng lực,phương pháp, tác phong lãnh đạo của hiệu trưởng nhàtrường.
1.3.5 Tác động từ môi trường đảm bảo cho hoạt động giảng dạy môn ngữ văn ở các trường trung học cơ sở hiện nay
Môi trường bảo đảm cho hoạt động giảng dạy là sự hợp thành củanhiều yếu tố chất lượng con người, tổ chức, vật chất, tinh thần, có ảnh hưởng,tác động đến tất cả các khâu, các bước, các nhân tố của quá trình giảng dạy,trong đó có công tác quản lý hoạt động giảng dạy chiếm tỷ lệ cao nhất, chịu
sự tác động lớn nhất kể cả mặt tích cực và chưa tích cực từ môi bảo đảm chohoạt động giảng dạy của giáo viên Nội dung môi trường bảo đảm cho hoạtđộng giảng dạy của giáo viên ngữ văn bao gồm:
Chất lượng con người, tổ chức và yếu tố chính trị tinh thần, đó là:
năng lực lãnh đạo, quản lý ở các cấp; năng lực bảo đảm các điều kiện chohoạt động giảng dạy của giáo viên Ngữ văn; sự liên kết, phối hợp giữa các tổ
bộ môn, các bộ phận trong nhà trường; truyền thống đoàn kết, bầu không khídân chủ, mối quan hệ ứng xử, hợp tác trong hoạt động giảng dạy của các tổchức và từng giáo viên, bảo đảm cho các hoạt động giảng dạy, quản lý hoạtđộng giảng dạy đạt kết quả tốt nhất
Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ giảng dạy (gồm
hệ thống hạ tầng cơ sở, phương tiện trang bị kỹthuật, hệ thống phòng học và phòng bổ trợ, hệ thốngthư viện ) đóng vai “người minh chứng khách quan”những vấn đề lý luận, liên kết lý luận và thực tiễn,góp phần rất lớn vào khả năng sư phạm của giáo viêntrong việc cải tiến và đổi mới phương pháp giảngdạy, các hình thức lao động sư phạm, khả năng tổ
Trang 33chức một cách khoa học và điều khiển hoạt động giảngdạy đạt hiệu quả cao.
Thiết chế môi trường hoạt động giảng dạy: là hệ thống văn bản pháp quy
bảo đảm cho sự vận hành và phát triển hoạt động giảng dạy của giáo viên Ngữvăn như: quy chế, quy định, chỉ thị, công văn, hướng dẫn để chỉ đạo, điều hànhcác hoạt động giảng dạy của giáo viên đạt được mục tiêu quản lý của nhàtrường
Ngoài những yếu tố trên, quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viênNgữ văn ở mỗi nhà trường còn chịu tác động cả tích cực và tiêu cực của môitrường giáo dục - đào tạo của địa phương, đất nước Các yếu tố khác ảnhhưởng đến quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên Ngữ văn về không gian,thời gian, địa điểm giảng dạy, đặc biệt là quản lý chương trình, nội dung, kếhoạch, đánh giá kết quả hoạt động giảng dạy của giáo viên
* *
*
Quản lý hoạt động giảng dạy là một trong những chức năng, nhiệm
vụ của nhà lãnh đạo; quản lý giáo viên các trường trung học cơ sở là nội
dung rất quan trọng nhằm bảo đảm cho việc tổ chức và thực hiện các hoạtđộng giảng dạy của giáo viên môn Ngữ văn vận hành theo đúng mục tiêu,yêu cầu đào tạo đề ra, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý giảng dạy, yêucầu giáo dục - đào tạo trong tình hình mới Đây là quá trình hoạt động cómục đích, có kế hoạch của cả chủ thể và đối tượng quản lý… xác định rõquan niệm, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp, cácnhân tố tác động đến quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn ở cáctrường trung học cơ sở nói chung, các trường trung học cơ sở huyện MỹHào, tỉnh Hưng Yên nói riêng và nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát
Trang 34triển cả về lý luận và thực tiễn giáo dục - đào tạo hiện nay
Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên môn Ngữ văn ở trườngtrung học cơ sở bao gồm các nội dung: quản lý việc xây dựng kế hoạch bộmôn và tổ chức thực hiện kế hoạch giảng dạy; quản lý nội dung chương trìnhgiảng dạy; quản lý hoạt động giảng dạy trực tiếp trên lớp của giáo viên; quản
lý cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm tốt cho hoạt động giảng dạy; quản lý hoạtđộng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giảng dạy của giáo viên,
Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên môn Ngữ văn ở trườngtrung học cơ sở chịu sự tác động của các yếu tố: Phương hướng, mục tiêu pháttriển mới của nhiệm vụ giáo dục - đào tạo; chương trình, mục tiêu, kế hoạch,
hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý giáo dục; đối tượng học sinh; trình
độ giảng dạy của đội ngũ giáo viên và công tác quản lý hoạt động giảng dạy;môi trường bảo đảm cho hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên môn Ngữvăn ở trường trung học cơ sở
Trang 35Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY
MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN 2.1 Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
2.1.1 Khái quát điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục của huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
* Điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội, văn hoá của huyện Mỹ Hào, tỉnh
Hưng Yên
Huyện Mỹ Hào nằm ở phía bắc của tỉnh Hưng Yên, được tái lập
tháng 01 năm 1997 Diện tích tự nhiên của huyện là 79,1km2, huyện có 13đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 12 xã; dân số gần 90 ngàn người MỹHào có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng đi qua như: Quốc lộ 5,Quốc lộ lộ 39; các tỉnh lộ: 196, 198, 210, đó là điều kiện tốt cho giao thông
và phát triển kinh tế- xã hội của huyện
Nhân dân Mỹ Hào có truyền thống anh hùng cách mạng, cần cù tronglao động sản xuất và truyền thống khoa bảng, hiếu học Trong 9 thế kỷ thờiPhong kiến có thi tuyển hiền tài cho đất nước từ năm 1075 đến năm 1919,
Mỹ Hào có 23 người đỗ tiến sĩ Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Mỹ Hào đã có nhiều cống hiến lớnlao cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, Đảng bộ, nhân dân, lựclượng vũ trang huyện Mỹ Hào và 7 xã, thị trấn vinh dự được Đảng và Nhànước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” (huyện
Mỹ Hào được phong tặng năm 1996), 5 cá nhân được tặng, truy tặng danhhiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” và 55 bà mẹ được phong tặngdanh hiệu “Mẹ Việt Nam anh hùng”
Trang 36Về kinh tế, Mỹ Hào vốn là một huyện thuần nông, sau hơn 20 nămthực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhân dân Mỹ Hào đã bắt tay vàocông cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnhphát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ Đến nay
đã hình thành 4 khu công nghiệp với trên 180 doanh nghiệp đã đầu tư sảnxuất, kinh doanh, thu hút trên 10.000 lao động Kinh tế xã hội tăng trưởngkhá, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên Từ năm 2010 đến nay, tốc
độ tăng trưởng luôn đạt trên 25%, giá trị sản xuất bình quân đầu người đạt1.800 USD/năm Quốc phòng và an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xãhội được bảo đảm Điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội vàtruyền thống của địa phương là những điều kiện rất thuận lợi để xây dựng vàphát triển sự nghiệp giáo dục
* Một số nét về phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện Mỹ Hào
Về quy mô giáo dục, năm học 2014-2015, trên địa bàn huyện Mỹ Hào
có 3 trường THPT, 1 Trung tâm GDTX, 14 trường THCS, 13 trường Tiểu học
và 17 trường Mầm non
Đội ngũ giáo viên đã trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và trình
độ chuyên môn tay nghề 100% giáo viên Tiểu học, THCS, trên 96% giáoviên Mầm non đã đạt chuẩn đào tạo Trong đó giáo viên đạt trên chuẩn củangành học Mầm non là 53,1%, Tiểu học là 52,5 %, THCS là 48,6%
Về cơ sở vật chất trường lớp, đến nay toàn huyện có 18 trường đạtchuẩn quốc gia, trong đó Mầm non có 9 trường, Tiểu học 13 trường, THCS có
10 trường Tỷ lệ phòng học kiên cố cao tầng đạt trên 95%
Trang thiết bị dạy học được tăng cường đáp ứng ngày càng tốt hơn yêucầu đổi mới phương pháp dạy học
Chất lượng học sinh giỏi và chất lượng đại trà ổn định và phát triển, tỷ
lệ học sinh tốt nghiệp THCS hàng năm đạt trên 98%
Trang 37Bậc THCS huyện Mỹ Hào có 14 trường với sĩ số học sinh xấp xỉ 5.000học sinh và có xu hướng tăng dần tự nhiên Tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm dưới1%, tỷ lệ duy trì sĩ số đạt trên 99% Diễn biến sĩ số 5 năm qua được nêu trongbảng 2.1:
Bảng 2.1: Quy mô sĩ số học sinh bậc THCS
Năm học Số
trường
Số lớp
Số HS
Bình quân hs/lớp
Học sinh lưu ban
Bảng 2.2: Tình hình cơ sở vật chất bậc THCS năm học 2014-2015
Tên trường
Diện tích (m 2 )
BQ-m 2 /hs
Số p.
học
Phòng KCCT
Thư viện
P.
thiết bị
P bộ môn
P.
tổ CM
P.
CN khác
Đạt chuẩn QG
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Trang 38để tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp còn thiếu, vì thế ảnh hưởng phầnnào đến việc giáo dục toàn diện cho học sinh
Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên bậc THCS năm học 2014
- 2015 (xem bảng 2.3 và 2.4)
Bảng 2.3: Tình hình đội ngũ Hiệu trưởng bậc THCS năm học 2014 - 2015
TT Tên trường Giới tính Tuổi Số năm làm
quản lý
Lý luận chính trị
Trang 39cấp lý luận chính trị Đó là những điều kiện tốt để thực hiện có hiệu quả côngtác quản lý CLDH ở nhà trường Tuy nhiên về tuổi đời có nhiều đồng chí caotuổi sắp nghỉ hưu, tính năng động trong quản lý hạn chế
Bảng 2.4: Tình hình đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy năm học 2014-2015
T
T Tên trường
Tổng số cán bộ giáo viên nhân viên
Giáo viên giảng dạy văn hóa
Độ tuổi trung bình
Đảng viên
Trình độ chuyên môn Tỷlệ
giáo viên trên lớp
So với định biên Trên
chuẩn Chuẩn Đủ Thiếu
Đội ngũ giáo viên bậc THCS huyện Mỹ Hào có 426 đồng chí đảm bảo
đủ về số lượng, chuẩn hoá về trình độ đào tạo, đủ cơ cấu các bộ môn Tuynhiên xét theo đơn vị trường thì một số bộ môn không có giáo viên, giáo viêncòn dạy chéo môn Kết quả giáo dục của bậc THCS trong 5 năm qua có nhiềutiến bộ Được đánh giá cụ thể trong bảng 2.5 và bảng 2.6:
Bảng 2.5: Kết quả 2 mặt giáo dục 5 năm (2011 - 2015)
Năm học Số học
sinh
Hạnh kiểm ( %) Học lực (%) Tốt Khá TB Yếu Giỏi Khá TB Yếu Kém 2010-2011 4.935 70.1 22,1 7,0 0,8 10,7 41,2 41,7 6,1 0.3 2011-2012 4.477 70,2 21,8 7,4 0,6 11,2 39,5 43,5 5,6 0,2 2012-2013 4.786 74,7 19,8 4,8 0,7 12,4 42,8 41,2 3,5 0,1 2013-2014 4.779 76,8 18,5 4,3 0,4 14,4 43,5 38,8 3,2 0,1 2014-2015 4.916 78,4 17,7 3,3 0,6 16,1 43,0 38,0 2,8 0,1
Trang 40Bảng 2.6: Kết quả thi học sinh giỏi
Năm
học
HS đạt giải cấp huyện
HS đạt giải cấp tỉnh
HS đạt giải Quốc gia
Xếp thứ trong tỉnh Ghi chú2010-2011
568 50 0 5 Thi học sinh giỏi khối 9(8
môn) mỗi môn 12 học sinh 2011-2012
480 67 0 2 Thi học sinh giỏi khối 9(8
môn) mỗi môn 12 học sinh 2012-2013
549 68 1 3 Thi học sinh giỏi khối 9(8
môn) mỗi môn 12 học sinh 2013-2014
587 30 1 6 Thi học sinh giỏi khối 9(8
môn) mỗi môn 10 học sinh 2014-2015
613 25 4 5 Thi học sinh giỏi khối 9(8
môn) mỗi môn 10 học sinh
* Một số nét về Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mỹ Hào
Phòng GD&ĐT huyện Mỹ Hào là cơ quan chuyên môn chịu sự quản lýtrực tiếp của UBND huyện, giúp UBND huyện quản lý hoạt động giáo dục trênđịa bàn huyện Hiện nay Phòng GD&ĐT Mỹ Hào có 12 biên chế Lãnh đạoPhòng có 03: gồm 01 trưởng phòng và 02 phó trưởng phòng Bộ máy củaPhòng được chia thành 3 bậc học chính và một số công tác khác (công tác tổvăn thư – kế toán; công tác cơ sở vật chất thiết bị; công tác thanh tra, công táckiểm định chất lượng giáo dục, công tác quản lý học sinh sinh viên)
- Bậc Mầm non, bậc Tiểu học: Gồm 02 chuyên viên phụ trách
- Bậc THCS: Gồm 01 chuyên viên
- 01 phụ trách kế toán 01 phụ trách cơ sở vật chất- sách thiết bị; 01phụ trách công tác thanh tra – công nghệ thông tin; 01 phụ trách khảo thí;01phụ trách công tác quản lý học sinh sinh viên Những mảng công tác nàyđược chia ra cho các phó phòng phụ trách Về trình độ đào tạo, 100% Lãnhđạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT có trình độ Đại Học, 01 đồng chí có bằngThạc sĩ; 02 đồng chí đang theo học lớp Thạc sĩ quản lý giáo dục Có 10 đồngchí có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên
* Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu