Hiện nay, ngành kinh tế biển của Lý Sơn đã không ngững phát triển, trong đó lĩnh vực thủy sản của huyện có bước phát triển đáng kể, số lượng và công suất tàu thuyền tăng lên hàng năm, ng
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia ven biển có bờ biển dài 3.260 km với diện tích 1 triệu
Km2 rộng gấp ba lần lãnh thổ trên đất liền, vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền
và quyền tài phán quốc gia của nước ta chứa đựng nhiều tài nguyên và tiềm năng phong phú để phát triển kinh tế - xã hội Xuất phát từ lợi ích của biển mà các nước trong khu vực tiếp giáp Biển Đông với nước ta luôn có xu hướng cạnh tranh, tạo ra những mâu thuẫn bất đồng trong việc tranh giành quyền chủ quyền quốc gia trên biển Nhận thức được vị trí, vai trò, tiềm năng của biển trong phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh nên từ năm 1993 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 06/5/1993 Về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt, trong đó khẳng định rằng phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia; xây dựng quốc gia Việt Nam mạnh về biển và phát triển kinh tế biển thành một bộ phận mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân là một mục tiêu chiến lược, đồng thời là nhiệm vụ bức bách đang đặt
ra cho dân tộc ta trước thách thức lớn trên Biển Đông Ngày 09 tháng 02 năm 2007 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó xác định phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh Nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đảng
về chiến lược biển, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã ban hành Chương trình hành động số
15-CTr/TU ngày 29/6/2007, trong đó xác định mục tiêu tổng quát là “Phấn đấu đến năm
2020, đưa tỉnh ta trở thành một trong các tỉnh mạnh về biển, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển và đảo” Phát huy tiềm năng lợi thế sẵn
có, trên cơ sở chương trình hành động số 15 – CTr/ TU của tỉnh ủy Quảng Ngãi, huyện
Lý Sơn đã xây dựng và triển khai kế hoạch để thực hiện chương trình hành động Với mục tiêu kinh tế biển là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương trong thời gian đến
Huyện đảo Lý Sơn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, là
Trang 22
đảo tiền tiêu trong khu vực phòng thủ của tỉnh Quảng Ngãi Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà đặc biệt là từ khi có các Nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế biển và Chiến lược biển Việt Nam, kinh tế của huyện không ngừng phát triển theo hướng chuyển dịch từ nông nghiệp sang ngư nghiệp, sản lượng đánh bắt thủy sản ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP của huyện và chiếm gần 1/3 tổng sản lượng khai thác thủy sản của tỉnh Quảng Ngãi Với những kết quả đạt được từ lĩnh vực thủy sản đã và đang góp phần quan trọng trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân huyện đảo Lý Sơn
Trên cơ sở đó, huyện Lý Sơn đã thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển và coi đây là chủ trương lớn thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Hiện nay, ngành kinh
tế biển của Lý Sơn đã không ngững phát triển, trong đó lĩnh vực thủy sản của huyện có bước phát triển đáng kể, số lượng và công suất tàu thuyền tăng lên hàng năm, ngư trường đánh bắt được mở rộng, năng suất đánh bắt ngày càng tăng, đặc biệt là sự hiện diện của ngư dân trên các vùng biển (Hoàng Sa, Trường Sa) đã góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc Tuy nhiên, những kết quả đạt được chưa xứng tầm với lợi thế tiềm năng hiện có; công tác quy hoạch phát triển chưa đồng bộ, việc thực hiên các chính sách hổ trợ từ nguồn vốn nhà nước tuy có nhiều khả quan nhưng còn nhiều bất cập, đặc biệt là chủ trương hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa
bờ theo NĐ 67 của Chính Phủ tuy được thực hiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; lĩnh vực chế biến, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá tuy được quan tâm đầu
tư khai thác nhưng chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có
Trước thực trạng trên, cấp ủy Đảng, chính quyền huyện đảo Lý Sơn đã ban hành nhiều đề án, dự án, kế hoạch về phát triển kinh tế trong đó xác định kinh tế biển
là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, xong những chương trình, kế hoạch chỉ dừng lại
ở tính định hướng chưa đi sâu nghiên cứu đánh giá, phân tích thực trạng và có những giải pháp mang tính khoa học để vận dụng vào thực tiễn, đồng thời đến nay vẫn chưa
có đề tài khoa học nghiên cứu về kinh tế biển huyện đảo Lý Sơn Chính vì vậy, đề tài
“Thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển từ thực tiễn huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” nhằm đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp có tính khoa học và
khả thi để vận dụng vào quá trình quản lý, điều hành phát triển ngành kinh tế biển
Trang 33
huyện đảo Lý Sơn xứng tầm với tiềm năng hiện có
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, có một số tác giả đã đề cập đến các khía cạnh mà đề tài nghiên cứu quan tâm Trong số đó có:
Giải pháp phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng của TS Nguyễn Văn Cường, Phó Vụ trưởng Văn phòng Chính Phủ
Tiếp cận Chiến lược kinh tế biển của Việt Nam của PGS TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Tác giả đánh giá Viêt Nam có hai lợi thế đó là: Tiềm năng tự nhiên và vị trị địa kinh tế và địa chiến lược và đi sâu phân tích về hiện trạng kinh tế biển và những định hình chiến lược kinh tế biển
Về Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam trong hội nhâp quốc tế của tác giả Phạm Ngọc Anh, Đại học Sư phạm Hà Nội
Nhóm giải pháp phát triển kinh tế biển của TS Hồ Văn Hoành, Phó Chủ tịch Hội khoa học phát triển nguồn nhân lực, nhân tài Việt Nam
Tổng cục Biển và Hải đảo với nhiệm vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc của Nguyễn Đăng Đạo, Phó Tổng cục trưởng, Chỉ huy trưởng Ban CHQS Tổng cục
Bài viết của TS Tạ Quang Ngọc - Nguyên Bộ trưởng Bộ thủy sản Việt Nam “
Để Việt nam sớm trở thành mốt quốc gia mạnh về biển và giàu lên từ biển” trong Tạp chí Cộng sản số 777, tháng 7/2007
Và còn nhiêu công trình nghiên cứu khác liên quan đến kinh tế biển, song trong pham vi nghiên cứu tác giả đã tiếp cận và tham khảo các công trình nghiên cứu nhưng chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển từ thực tiễn Huyện đảo Lý Sơn Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình, đề tài luân văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển những kết quả thực hiện trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương trong những năm tới
Trang 43.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển;
Đánh giá, phân tích thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua;
Đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển trong thời gian đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
từ thực tiễn huyện Lý Sơn Quảng Ngãi dưới góc độ khoa học chính sách công
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Tập trung chủ yếu về thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển từ thực tiễn huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Phạm vi về thời gian: Từ năm 2005 đến 2015 và giải pháp đến năm 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện, đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách.Luận văn được thực hiện dựa trên
cơ sở lý luận và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phát triển kinh tế biển
Trang 55
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan, bao gồm các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Quyết định của Đảng, Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phát triển kinh tế biển ở nước ta nói chung và thực tế ở Lý Sơn nói riêng
Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, chuyên gia, phương pháp dự báo các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phương pháp phân tích chiến lược phát triển
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển Chương 2: Thực trạng thực hiện kinh tế biển tại huyện đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Tăng cường thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển ở nước ta hiện nay
Trang 66
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
1.1 Khái quát về chính sách phát triển kinh tế biển
Thấy rõ tầm quan trọng của kinh tế biển đối với phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề cập đến vai trò của kinh tế biển và
khẳng định mục tiêu khai thác tổng hợp kinh tế biển, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến
thuỷ sản, nhất là các loại có khả năng xuất khẩu, gắn liền với chiến lược khai thác và bảo vệ vùng biển của đất nước Thực hiện chủ trương này ngày 06/5/1993 Bộ Chính trị
ra Nghị quyết số 03-NQ/TW về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt, trong đó khẳng định rằng phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia;
Trên cơ sở nhận định mang tính khoa học trên, ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ những quan điểm cơ bản của chỉ thị này, cùng với việc tiếp tục nhấn mạnh chủ trương lớn xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển, phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, hải đảo, ven biển phải gắn kết với yêu cầu bảo vệ đất nước Để kinh tế biển phát triển một cách đồng bộ chúng ta cần đặt kinh tế biển trong tổng thể kinh tế cả nước, trong quan hệ tương tác với các vùng và trong xu thế hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới Vì vậy, lợi ích kinh tế biển không chỉ xuất phát từ một địa phương, một ngành mà cần được liên kết một cách khoa học sự phát triển của các ngành trên toàn vùng, trên từng địa bàn cụ thể thành một chương trình phát triển thống nhất Đặc biệt, phát triển kinh tế biển phải chú trọng ngay từ đầu
sự tiến bộ xã hội của vùng biển
Ngày 9/2/2007, BCH Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết 09 – NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Đây là chủ trương tổng thể mang tính toàn diện để phát triển kinh tế biển Việt Nam trong thời gian tới
Do đó, để thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trước hết cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác
Trang 77
quốc tế và bảo vệ môi trường.; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mở rộng không gian kinh tế biển và nhất thể hóa trên phạm vi vùng biển, ven biển và hải đảo gắn kết chặt chẽ với các vùng quy hoạch lâu nay trong đất liền Sự phát triển các ngành kinh tế biển được gắn kết hữu cơ với nhau trên cơ sở phát huy cao nhất lợi thế của mỗi ngành
Qua gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, chúng ta
có thể nhận thấy ngành kinh tế biển đã có những bước phát triển đáng kể góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước Hiện nay, các ngành kinh tế biển
và liên quan đến biển đóng góp khoảng 47 - 48% GDP cả nước Trong đó, các ngành kinh tế biển như khai thác dầu khí, hải sản, vận tải biển và dịch vụ cảng biển, du lịch biển… đóng góp khoảng 20-22% GDP cả nước Với tốc độ phát triển như hiện nay, dự báo đến năm 2020 kinh tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển
Để đảm bảo tính đồng bộ và bền vững trong phát triển kinh tế biển, Chính phủ
đã ban hành và phê duyệt nhiều nghị quyết và quyết định như: Một số giải pháp cấp bách trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường biển; Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền và quản lý bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo; Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020; … và gần đây, ngày 06/9/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1570/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Nghị định 67/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 7/7/2014 về một số chính sách phát triển thủy sản và NĐ 89/NĐ-CP một số nội dung sửa đổi bổ sung NĐ 67/NĐ-CP và cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển kinh tế biển
1.2 Khái niệm, vai trò của thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
1.2.1 Khái niệm về chính sách và chính sách công
Khái niệm chính sách:
Theo từ điển Tiếng Việt, Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi
Trang 88
trong đời sống xã hội; chính sách là sách lược, kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách
Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”
Khái niệm chính sách công:
Chính sách công là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội Hiện nay có nhiều các khái niệm về chính sách công trên thế giới vì các hình thái nhà nước, hệ thống chính trị khác nhau Ở nước ta, tồn tại cụm từ “chính sách của Đảng và Nhà nước” vì Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc vạch ra các cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách Đây là các căn cứ chỉ đạo để nhà nước ban hành chính sách công Như vậy, chính sách công là một trong những công cụ
cơ bản được Nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước
Do đó, có thể định nghĩa chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền”
1.2.2 Khái niệm kinh tế biển
Kinh tế biển hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn
ra trên biển và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến khai thác biển Cụ thể là:
- Các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu bao gồm: Kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); Khai thác dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làm muối; Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; và Kinh tế đảo
- Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: Đóng và sửa
Trang 99
chữa tàu biển ( hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải); Công nghiệp chế biến dầu, khí; Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; Cung cấp dịch vụ biển; Thông tin liên lạc biển; Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển; Đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển; Điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển
Từ khái niệm trên cho chúng ta thấy rằng, kinh tế biển có những đặc trưng sau đây:
- Kinh tế biển là một ngành kinh tế tổng hợp, là một bộ phận mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân
- Kinh tế biển luôn gắn liền với nguồn tài nguyên thiên nhiên trên biển như các hoạt động đánh bắt, khai thác thủy sản, khai thác dầu khí, du lịch, vận tải, …
- Kinh tế biển phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, Việt Nam là quốc gia nhiệt đới nằm ở cực Đông Nam bán đảo Đông Dương nên trung bình hàng năm có khoảng 5 - 6 cơn bão và 2 - 3 ấp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam Điều này đã tác động rất lớn đến hoạt động kinh tế biển
- Kinh tế biển là ngành kinh tế chủ yếu khai thác các nguồn tài nguyên từ biển nên có sự tác động đến môi trường sinh thái biển, như các hoạt động đánh bắt thủy sản, khai thác
dầu khí…
- Kinh tế biển luôn gắn kết với yếu tố bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc; các hoạt động đánh bắt thủy sản, thăm đò khai thác tài nguyên trên biển cũng đồng nghĩa với sự khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển
Từ những nội dung trên cho thấy tầm quan trọng của kinh tế biển đối với phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Để thể hiện điều này, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chính sách phù hợp để thúc đẩy phát triển kinh tế biển trước mắt và trong tương lai
1.2.3 Khái niệm về thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
Từ khái niệm chung về chính sách công có thể định nghĩa thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển như sau: Thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước với mục tiêu, giải pháp, công
cụ cụ thể nhằm thực hiện chinh sách phát triển kinh tế biển phù hợp với thực tiến đáp
Trang 1010
ứng yêu cầu xây dựng, phát triển kinh tế biển hiện nay
1.2.4 Vai trò của việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
Phát triển kinh tế biển đồng bộ và bền vững góp phần thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế:
Thời gian qua, việc triển khai thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển đã góp phần đẩy mạnh quan hệ và hội nhập quốc tế của nước ta, đến nay nước ta có mối quan hệ ngoại giao với 167 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó thiết lập quan hệ kinh
tế thương mại với trên 100 đối tác Việt Nam cũng là thành viên tích cực của các tổ chức như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), …Các sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã có mặt trên nhiều thị trường lớn như: Trung Quốc, Nga, Mỹ, Nhật, EU, …Năm 2000 Việt Nam ký Hiệp định hợp tác nghề cá với Trung Quốc nhằm đảm bảo sự ổn định và khai thác nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ và những cam kết với các Quốc gia có chung biển đông
Tuy nhiên, theo đánh giá ban đầu việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế biển chưa được quán triệt sâu rộng trong hệ thống chính trị, cộng đồng các doanh nghiệp và mọi tầng lớp nhân dân Việc phát triển kinh tế biển trong thời gian qua chưa quan tâm đầy đủ đến vốn đầu tư, đào tạo nhân lực, chưa lồng ghép các chương trình phòng ngừa, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền an ninh biển đảo Nhiều địa phương, các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, cư dân ven biển còn thờ ơ với tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển kinh tế biển bền vững, chưa nhận thức đầy đủ về ngành kinh tế biển là ngành đầu tiên chịu sự thiệt hại nặng nề do biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Để phát triển kinh tế biển bền vững chúng ta cần phải tập trung nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về chiến lược phát triển kinh tế biển gắn với phòng ngừa, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển đảo, xem đây là ba mặt của một vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau Xây dựng đề án tái cơ cấu ngành kinh tế biển, các cơ chế, chính sách nhằm phát huy quyền chủ động của các ngành, các cấp, các địa phương và vùng lãnh thổ, có sự quản lý tập trung của trung ương, tạo nên bước đột phá về tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, theo chiều rộng
Trang 1111
và chiều sâu Bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch phát triển ngành theo nội dung mới gắn phát triển kinh tế biển với phòng ngừa thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển đảo trên tất cả các lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng tuyến đảo,
hệ thống cảng biển, đô thị ven biển, các ngành dầu khí, đóng tàu, giao thông, du lịch, khai thác nuôi trồng thủy hải sản, …đồng thời thúc đẩy liên kết hợp tác giữa các ngành, các địa phương và vùng lãnh thổ, hiện đại hóa các doanh nghiệp, các hợp tác
xã, xây dựng các thương hiệu biển quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài và đầu tư tư nhân vào phát triển kinh tế biển, Xây dựng chiến lược thích ứng cho sinh
kế ven biển, bảo vệ môi trường sinh thái, xác định và tiếp cận cho từng lĩnh vực, như vận tải biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi, …có sự tham gia của đại diện các cơ quan ở địa phương, các chuyên gia kỹ thuật, các tổ chức quần chúng, các hộ gia đình, lập bản đồ về các mối hiểm nguy, kế hoạch lưu giữ nước ngọt,
áp dụng cách tiếp cận vùng để quản lý tài nguyên thiên nhiên ven biển dựa trên cộng đồng Huy động cộng đồng tham gia vào việc kiên cố hóa đê điều, khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển tạo hành lang bảo vệ đê biển, ngăn ngừa nước biển dâng
và nước mặn lấn sâu vào đồng ruộng Tổ chức các tổ đoàn kết, hợp tác xã vận tải trên biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy hải sản, … để có điều kiện hỗ trợ nhau trong sản xuất ứng phó với bão tố, sóng thần, Tăng cường đầu tư xây dựng mới và củng cố hệ thống đê biển vững chắc, kiện toàn hệ thống thông tin truyền thông, hệ thống cảnh báo sớm sóng thần và dự báo thời tiết, phát triển hệ thống rừng và rừng ngập mặn, trước mắt triển khai sớm hệ thống đê biển ở vùng thấp và vùng ngập nước Ưu tiên giải quyết di dời cơ sở hạ tầng, dân cư ở những vùng có nguy cơ ngập nước, bổ sung lực lượng lao động có chất lượng cho huyện đảo và quần đảo Đổi mới cơ cấu nghề nghiệp, phát triển các nghề mới thích ứng với các vùng mặn hóa, hạn hán, ngập nước;
áp dụng công nghệ mới hiện đại vào các lĩnh vực khai thác khoáng sản, dầu khí, đóng tàu và khai thác chế biến các sản phẩm của biển, …Tăng cường mở rộng hợp tác quốc
tế trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và chuyển giao công nghệ, thu hút các nguồn vốn ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp của các nước, Tổ chức đào tạo
và bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu quản lý các ngành kinh tế biển và cộng đồng cư dân ven biển không những có trình độ chuyên môn mà còn có kỹ năng ứng phó với biến
Trang 1212
đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển đảo
Với sự phát triển đồng bộ và bền vững, ngành kinh tế biển sẽ giữ vai trò chủ yếu không chỉ để đảm bảo cho nhu cầu đời sống của nhân dân, mà còn góp phần thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc
Phát triển kinh tế biển góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho vùng nông thôn ven biển:
Việt Nam có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là vùng ven biển và 12 huyện đảo Các huyện đảo đồng thời là địa bàn chính trong xây dựng khu vực phòng thủ và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế biển Việt Nam Hiện nay, nước ta có khoảng trên 20 triệu người dân ven biển và trên các hải đảo có sinh kế trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào nguồn lợi từ biển Trong những năm qua, mà đặc biệt là từ khi thực hiện Chiến lược biển Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng cho các địa bàn ven biển và hải đảo Một số đảo lớn như: Côn Đảo, Phú Quốc, Trường Sa, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Vân Đồn, …đã được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông, mạng lưới điện, thông tin liên lạc, cung cấp nước ngọt, trường học, bệnh xá, bố trí lại dân cư, tham gia vào phát triển kinh tế, nông nghiệp, du lịch, công nghiệp dầu khí có bước phát triển nhanh; bảo vệ môi trường biển đảo bước đầu được chú trọng, đã có 16 khu bảo tồn biển và các vườn quốc gia ven biển và hải đảo, …được công nhận và thiết lập; đồng thời đảm bảo tốt công tác quốc phòng, an ninh; hình thành hệ thống các khu công nghiệp, các cảng biển, cảng cá, khu du lịch từ Quảng Ninh cho đến Cà Mau, …
Tính đến nay cả nước đã có 9 cảng biển và 15 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước lên đến gần 700.000 ha, thu hút khoảng trên
700 dự án do nước ngoài và trong nước đầu tư, với tổng số vốn gần 40 tỷ USD và gần 350.000 tỷ đồng Nhiều thị trấn, thị tứ, khu nghỉ dưỡng đã hình thành dọc theo chiều dài ven biển của đất nước Bên cạnh đó, Nhà nước đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ từng bước chuyển đổi ngư trường đánh bắt hải sản ven
bờ sang ngư trường khơi xa với phương tiện kỹ thuật hiện đại để phát triển kinh tế thủy sản mà trước mắt là tăng thu nhập cho ngư dân
Trang 1313
Theo số liệu thống kê cho thấy, nếu năm 2005 mức thu nhập bình quân đầu người của khu vực ven biển là 310 USD thì đến năm 2015 mức thu nhập bình quân đầu người đã tăng lên 2.300 USD, phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53% – 55% tổng GDP của cả nước Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước, …
Bên cạnh việc hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ thì đầu tư phát triển các cơ sở chế biến thủy sản, các dịch vụ hậu cần tại chỗ là điều kiện làm tăng giá trị sản xuất và đồng thời giải quyết công ăn, việc làm cho nông, ngư dân ven biển, góp phần tăng thu nhập nhằm ổn định cuộc sống cho người dân
Phát triển kinh tế biển góp phần vào công tác bảo vệ chủ quyền vùng biển của
tổ quốc:
Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền vùng biển là một yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Một nền kinh tế phát triển toàn diện là điều kiện xây dựng một nền quốc phòng mạnh, còn một nền quốc phòng mạnh
sẽ tạo môi trường phát triển và bảo vệ tốt thành quả kinh tế
Kết hợp kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền là hoạt động chủ động của một quốc gia trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật của hai lĩnh vực kinh tế và quân sự, nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước trong quá trình phát triển kinh tế, đồng thời ngăn chặn, hạn chế các tác động tiêu cực của chiến tranh, của phát triển quốc phòng đối với sự phát triển kinh tế
Ở nước ta, kết hợp phát triển kinh tế gắn với bảo vệ chủ quyền còn là sự tiếp nối truyền thống lịch sử dân tộc “dựng nước đi đôi với giữ nước” Ðó cũng là một chiến lược xuyên suốt của Ðảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng Sự kết hợp đó phải thể hiện trong xây dựng cơ cấu kinh tế biển hợp lý; có chiến lược kinh tế đối ngoại đúng đắn; xây dựng và hoàn thiện không ngừng hệ thống quan hệ sản xuất Ngày nay, hoạt động kinh tế là trung tâm, hàng đầu nhằm huy động mọi nguồn lực từ con người đến của cải vật chất, tài nguyên thiên nhiên, để giải quyết những vấn đề bức xúc nhất về nâng cao đời sống nhân dân, tạo ra những điều kiện vật chất, kỹ thuật quan trọng để củng cố quốc phòng, đó là xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng
Trang 1414
lực lượng sẵn sàng đủ sức bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững và củng cố hòa bình, an ninh, ổn định trên cả nước, thúc đẩy công cuộc xây dựng kinh tế, hiện đại hóa đất nước
Hiện nay, có 6 nước đều tuyên bố có chủ quyền trên khu vực 2 quần đảo Trường
Sa và Hoàng Sa gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei Và đặc biệt, mới đây nhất Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan
HD 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, đe dọa trực tiếp đến an ninh, an toàn hàng hải, làm ảnh đến hòa bình trong khu vực Với quan điểm hoà bình hữu nghị, Việt Nam chủ trương giải quyết các tranh chấp thông qua thương lượng, đàm phán không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực
để giải quyết vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, đến nay Việt Nam đã ký Hiệp định về phân định vịnh Bắc Bộ và vùng đánh cá chung với Trung Quốc, tích cực cùng các nước ASIAN xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông COC
Trong quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về Chiến lược phát triển kinh tế biển phải gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia, vì thế kinh tế biển phát triển là điều kiện tạo ra cơ
sở vật chất, kỹ thuật cho khu vực ven biển, nâng cao đời sống nhân dân và góp phần củng cố cơ sở chính trị và xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; bên cạnh đó, sự hiện diện của ngư dân trên các vùng biển không chỉ là để khai thác đánh bắt hải sản mà gắn liền với đó là trách nhiệm bảo vệ chủ quyền quốc gia, là thể hiện tinh thần dân tộc nối bước đội quân hùng binh Hoàng Sa năm xưa để bảo vệ chủ quyền vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc và đó cũng chính là quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân
và thế trận chiến tranh nhân dân trong giai đoạn hiện nay
1.3 Nội dung thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 cho thấy: Kinh tế biển Việt Nam hiện đã có bước chuyển biến đáng kể Ngoài các ngành nghề truyền thống, đã xuất hiện nhiều ngành kinh tế biển gắn với công nghệ - kỹ thuật hiện đại như khai thác dầu khí, đánh bắt xa bờ, vận tải biển, du lịch biển - đảo và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, …Tuy nhiên, điểm mấu chốt trong chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam là hội nhập quốc tế
Trang 1515
Theo đó, mục tiêu và nội dung thực hiện chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 là phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển; làm giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển gắn với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn Phấn đấu đến năm
2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 - 55% GDP, 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển
Để xây dựng một nền khoa học kinh tế biển hiện đại, một quốc gia mạnh về biển với tầm nhìn dài hạn, Việt Nam cần phải triển khai hàng loạt các giải pháp nghiên cứu về biển, cả chiến lược, chính sách lẫn khoa học - công nghệ, bao gồm:
Thứ nhất, phát triển mạnh giao thông vận tải biển để đáp ứng nhu cầu xuất, nhập khẩu hàng hoá Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải biển Hệ thống cảng của nước ta gồm cảng biển và cảng sông với khoảng trên
90 cảng lớn nhỏ và được phân bố tương đối đều dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam Hệ thống cảng biển Việt Nam được chia thành 6 nhóm: 1) Nhóm cảng biển phía bắc; 2) Nhóm cảng biển Bắc Trung Bộ; 3) Nhóm cảng biển Trung Trung Bộ; 4) Nhóm cảng biển Nam Trung Bộ; 5) Nhóm cảng vùng Đông Nam Bộ; và 6) Nhóm cảng đồng bằng sông Cửu Long Cùng với hệ thống cảng, kho bãi, biển Việt Nam thông với hai đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Những điều kiện thuận lợi này là cơ
sở quan trọng để phát triển giao thông vận tải biển Vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đã tăng hơn 6 lần trong giai đoạn (1995 - 2010)
Thứ hai, tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, huấn luyện thuyền viên Việt
Nam ước tính thiếu hụt khoảng 5.000 thuyền viên vào năm 2020 Để giảm thiểu sự thiếu hụt này, nhà nước cần xây dựng Trung tâm đào tạo huấn luyện thuyền viên dựa trên nguồn kinh phí tài trợ của nhà nước và của tư nhân, đồng thời hợp tác với nước ngoài để đào tạo nguồn nhân lực theo tiêu chuẩn quốc tế Bên cạnh đó, cần phát triển dịch vụ hàng hải và hiện đại cơ sở vật chất kỹ thuật cho khâu quản lý điều hành nhằm bảo đảm an toàn hàng hải và dịch vụ hàng hải Phát triển thương mại biển, đảo và vùng ven biển có trọng điểm để sớm hình thành một số trung tâm thương mại mạnh tại một số khu vực biển Duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hải sản cao, ổn định và bền
Trang 1616
vững, cải thiện cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng mặt hàng chế tạo, sản phẩm chế biến
Thứ ba, tập trung phát triển du lịch đảo và du lịch ven biển Du lịch và giải trí
biển là một lĩnh vực hoạt động kinh tế biển Các hoạt động kinh tế biển đã đóng góp giải quyết đáng kể về thu nhập cũng như giảm thất nghiệp, xoá đói nghèo, bảo đảm an ninh quốc gia vùng biển Du lịch biển có tiềm năng kinh doanh lớn Vùng biển và ven biển tập trung tới ¾ khu du lịch tổng hợp và hơn ½ khu du lịch chuyên đề nhưng ngành du lịch biển vẫn chưa có những sản phẩm dịch vụ đặc sắc, có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế, chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt qui mô và trình độ quốc tế Những năm gần đây, du lịch, nghỉ dưỡng cũng như giải trí biển đã được mở rộng đáng kể Việt Nam có nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng, có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trển tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á Doanh thu du lịch biển tăng hơn 5 lần giai đoạn (2000 – 2010), Mục tiêu năm 2020 thu hút hoảng 8-10 triệu lượt khách quốc
tế, 50 - 60 triệu lượt khách trong nước đến du lịch biển
Thứ tư, tăng cường khai thác năng lượng, khoáng sản, thuỷ sản biển Đẩy mạnh sản xuất muối biển trên cơ sở thâm canh, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất các đồng muối hiện có Mặc dù ngành khai thác dầu thô và khí thiên nhiên trên biển Việt
Nam mới được bắt đầu từ năm 1986, nhưng hiện đang đứng ở vị trí thứ 4 ở Đông Nam
Á và thứ 44 trong Cộng đồng các quốc gia khai thác dầu mỏ trên thế giới Ngành dầu khí là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong nhũng ngành khai thác biển, đồng thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu thu được nhiều ngoại tệ nhất Cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp ven biển, trước hết là dầu mỏ, khí đốt, than, quặng kim loại, chuẩn bị điều kiện khai thác khoáng sản ở biển sâu sau năm 2010 Bên cạnh khai thác khoáng sản biển, thì thủy sản cũng đóng vai trò quan trọng vì thuỷ sản là nguồn tài nguyên tài tạo, phát triển dựa trên nền tảng của các hệ sinh thái Kinh tế thuỷ sản bảo đảm và cải thiện kế sinh nhai cho dân
cư sống ở vùng nông thôn ven biển và hải đảo Tiếp tục phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản để đến năm 2015 đạt tổng sản lượng 4 -5 triệu tấn Mở rộng thêm diện tích những nơi thuận lợi nhất cho nghề muối, đưa diện tích các đồng muối lên 35- 40 nghìn
ha vào năm 2015
Trang 1717
Thứ năm, phát triển kết cấu hạ tầng biển trên cơ sở đầu tư nâng cấp các cụm cảng, đáp ứng yêu cầu xuất nhập khẩu Nâng công suất cụm cảng phía Bắc lên 60 - 70
triệu tấn, miền Trung 40 - 50 triệu tấn/năm, miền Nam 90 - 100 triệu tấn vào giai đoạn
2010 -2015 Nâng cấp và chuẩn bị điều kiện xây mới một số sân bay ven biển Khẩn trương xây dựng các cảng biển nước sâu, qui mô lớn có thể tiếp nhận các tàu biển trọng tải lớn từ 50.000 – 100.000 DWT Ngành hàng hải Việt Nam cần 4-5 tỉ USD từ nay đến năm 2020 để đầu tư phát triển cảng biển Năm 2008, cảng biển Nam Ninh (cảng đầu tiên đạt tiêu chuẩn quốc tế ở phía bắc) chính thức được đưa vào khai thác đã đánh dấu sự phát triển mới của ngành vận tải biển Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện chưa được coi là bền vững Vì vậy, để phá triển một nền kinh tế biển hiệu quả, bền vững và có khả năng hội nhập quốc tế cần
có một phương pháp quản lý biển tổng hợp, đảm bảo được an ninh sinh thái và an ninh
xã hội ở vùng biển đảo và ven biển Thêm nữa là phải thay đổi cách tư duy về quản lý
và khai thác tài nguyên biển, phải chinh phục biển và chế ngự biển khơi, có như vậy, mục tiêu “trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển vào năm 2020” của Chính phủ Việt Nam mới có khả năng thành hiện thực
1.4 Qui trình (các bước) thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
Thực hiện chính sách đóng vai trò vô cùng quan trọng trong qui trình chính sách công Nếu hoạch định chính sách công đã làm tốt thì việc tiếp theo là phải làm tốt thực thi chính sách mới góp phần làm cho chính sách đạt kết quả Vậy việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gôm các bước sau đây:
1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Tất cả các chủ thể, cơ quan chủ trì và phối hợp xây dưng kế hoạch thực hiện
về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức; các nguồn lực; về thời gian thực hiện; kiểm tra đôn đốc thực thi chính sách phát triển kinh tế biển
Trên cơ sở Nghị quyết số 09-NQ/TW về “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo,
Trang 1818
góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học – công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho đất nước giàu mạnh từ biển, bảo vệ môi trường biển Và tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển kinh tế biển được xác định trong các văn kiện trước đây của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội 10 năm (2011-2020), được Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) thông qua, nhấn mạnh: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng tàu, xi-măng, chế biến thủy sản chất lượng cao,
Tiềm năng, cơ hội cho phát triển kinh tế biển của Việt Nam:
Nước ta có bờ biển trải dài 3.260km dọc Bắc – Trung – Nam, chủ quyền bao quát hơn một triệu ki-lô-mét vuông trên vùng Biển Đông (gấp ba lần diện tích đất liền), trên biển có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, với trữ lượng hải sản lớn và phong phú, trữ lượng khoáng sản, nhất là dầu khí to lớn, tiềm năng du lịch gắn với biển và trên biển dồi dào,…Điểm nổi bật là, trong số mười tuyến đường biển lớn nhất hành tinh, có năm tuyến đi qua Biển Đông – một hướng chính chúng ta đang đi ra thế giới, đã và tiếp tục tạo động lực mạnh mẽ mở rộng thông thương, thắt chặt và tăng cường các mối bang giao quốc tế, nhằm phát triển theo phương châm “tăng trưởng xanh” một cách chiến lược và đáng ghi nhận Dọc bờ biển và trên biển Việt Nam có 28 tỉnh, thành phố, với 12 thành phố lớn, 125 huyện, thị xã ven biển, 100 cảng biển, khoảng 238.000 cụm công nghiệp và gần 1.000 bến cá… Năm 2007, kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp khoảng 49% GDP cả nước, trong đó riêng kinh tế trên biển chiếm khoảng 22%; các ngành kinh tế biển quan trọng như dầu khí, hàng hải, thủy sản, du lịch biển đều tăng trưởng với nhịp độ cao… Quốc phòng, an ninh trên biển, đảo được bảo đảm; các lực lượng bảo vệ biển đã thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, tạo điều kiện hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế trên biển, đảo; ý thức của nhân dân bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển được nâng lên
Tiềm năng và thực tế đó đã và đang tạo nền tảng và cơ hội cho Việt Nam từng
Trang 1919
bước trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sở phát triển và phát huy toàn diện các ngành nghề biển một cách phù hợp, với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển theo hướng nhanh, bền vững và hiệu quả Tuy nhiên, những nỗ lực của chúng ta vừa qua chưa thật sự ngang tầm với các tiềm năng, thế mạnh và lợi thế so sánh đó về biển, đảo và kinh tế biển, đảo; tình hình an ninh, quốc phòng ở một
số khu vực biển, đảo của chúng vẫn tiềm ẩn sự phức tạp, thậm chí có nơi, có lúc rất phức tạp, khó lường, ở chừng mực nào đó, khiến cho lộ trình phát triển kinh tế biển, đảo của nước ta chưa tương xứng với tiềm năng, chưa được như mong muốn
Tiếp tục giải quyết những vấn đề đặt ra, không ngừng phát triển kinh tế biển, đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh:
Để phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh theo tình thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng, cần tập trung giải quyết thỏa đáng một số vấn đề cấp bách sau:
Thứ nhất, về tư duy và nhận thức:
Có tình trạng khiếm khuyết, hạn chế, thậm chí có phần lệch lạc trong tư duy, trong nhận thức đối với kinh tế biển, đảo và việc phát triển kinh tế biển gắn liền với an ninh, quốc phòng ở mức độ này hay ở mức khác không? Nếu không thì tại sao không ít người vẫn đang suy nghĩ và cho rằng, phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ chỉ của các tỉnh, thành phố, huyện thị có biển hoặc của riêng các ngành như tài nguyên và môi trường, thủy hải sản, công thương, du lịch, dầu khí…? Và, có không sự tách rời kinh tế biển, đảo với kinh tế duyên hải, hoặc chỉ chú trọng mục tiêu phát triển kinh tế mà buông lơi công tác an ninh, quốc phòng? Việc tiếp tục đổi mới tư duy về biển, đảo và kinh tế biển, đảo, gắn kinh tế với quốc phòng bao gồm những vấn đề gì, chúng như thế nào, để từ đó xác lập và thống nhất một tầm nhìn xa trông rộng, vững vàng tư tưởng vươn ra biển lớn, gắn kết đất liền với đại dương, để xây dựng và phát triển văn hóa biển, đảo – văn hóa hướng ra đại dương trong cả cộng đồng và mỗi con người nhằm phát triển một cách bền vững và ổn định
Thứ hai, về quy hoạch:
Muốn phát triển toàn diện, đồng thời có chiều sâu và hiệu quả, bền vững, nhất thiết phải làm tốt công tác quy hoạch bảo đảm cho sự phát triển một cách chủ động
Trang 2020
Nhưng tại sao vẫn còn tình trạng phân tán, thậm chí khép kín, biệt lập giữa các ngành trong tỉnh, các địa phương, dù hầu như tỉnh ven biển nào cũng định hướng, quy hoạch, phác thảo chương trình, mô hình riêng của mình về xây dựng cảng nước sâu, về nhà máy lọc dầu, về khu công nghiệp, về cầu cảng hàng không…, trong khi rất cần một
“nhạc trưởng” hay một trung tâm điều phối chung một cách tổng thể về năng lượng, về đất đai, về dân số, về môi trường, về đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng…
Và, để điều này không cản trở sức sáng tạo, phát huy năng lực, lợi thế của mỗi ngành, mỗi địa phương… thì cần phải làm gì và làm như thế nào? Phát triển toàn diện, thống nhất nhưng có trọng tâm, trọng điểm là như thế nào? Những câu hỏi này rất cần có lời giải một cách khoa học, cụ thể
Thứ ba, về cơ chế phối hợp:
Theo lẽ tự nhiên, sự liên kết hợp tác giữa các tỉnh, thành phố có biển, đảo trong
cả nước bằng những chương trình hành động cụ thể dựa trên từng lợi thế so sánh, trong tất cả các hướng chiến lược và kế hoạch của từng bước đi là việc tất yếu, là sự sống còn Nhưng, vì sao lúc này, lúc khác các địa phương, các ngành vẫn hành động cục bộ, khép kín, mạnh ai nấy làm, thậm chí chưa thật sự bắt tay nhau để cùng tiến ra biển lớn? Vì sao như vậy và cần tiếp tục làm gì để dỡ bỏ những rào cản tâm lý địa phương và địa giới hành chính nhằm tăng cường sự phối hợp thống nhất giữa các ngành, lĩnh vực từ Trung ương tới địa phương và sự ủng hộ của mỗi cộng đồng, của từng người dân? Ở tầm vĩ mô, đã tới lúc cần ban hành Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên và Môi trường biển, hải đảo chưa
Thứ tư, về cơ cấu, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực:
Đây là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của việc phát triển các ngành kinh tế biển, đảo Thực tế triển khai Chiến lược Biển Việt Nam đến năm
2020 cho thấy, chúng ta đang thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn trong những ngành mũi nhọn: công nghiệp, tàu thủy, khai thác dầu khí trên biển, công nghệ lọc hóa dầu, kinh tế hải đảo, thông tin liên lạc biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, …trong khi quy mô đào tạo, các ngành nghề liên quan tới kinh tế biển còn rất hạn chế Việc làm thu hút mạnh lao động Nhưng, lộ trình, bước đi, phương thức cụ thể ra sao?
Trang 2121
Thứ năm, giải quyết hiệu quả vấn đề an sinh xã hội:
An sinh xã hội cần được đặt ở vị trí ngang tầm vừa là nền tảng, vừa là mục tiêu
và động lực đối với lộ trình hướng ra biển lớn hiệu quả và gìn giữ sự bình yên của đại dương theo hướng kết hợp hữu cơ kinh tế biển, đảo với kinh tế duyên hải; phát triển kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng, an ninh
Việc có thể làm ngay là, phát triển mạnh khai thác thủy hải sản với hướng ưu tiên tập trung khai thác vùng biển khơi vừa phát triển kinh tế biển, đảo vừa tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh trên vùng biển, trong đó chú trọng mở rộng năng lực đánh bắt xa bờ, hoàn thiện và mở rộng hệ thống kết cấu hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá, tạo điều kiện cho ngư dân bám biển dài ngày bằng các chính sách hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ năng lực sản xuất thiết thực
Đổi mới chính sách đầu tư, trước hết là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chính sách tín dụng, hỗ trợ giá cả một cách cụ thể, hiệu quả, để đồng bào diêm dân khắc phục khó khăn, nỗ lực sản xuất Tiếp tục xây dựng chương trình phát triển du lịch – dịch vụ, nhất là du lịch ven biển, hải đảo, tăng cường hợp tác liên doanh ở mọi cấp độ,
mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, thu hút nhiều lao động, tạo thêm nhiều việc làm Chú trọng phát triển công tác giáo dục – đào tạo, y tế cơ sở ở các vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo
Tăng cường sự gắn bó giữa ngư dân, diêm dân, các tầng lớp cư dân vùng biển với các lực lượng vũ trang, trực tiếp là Bộ đội Biên phòng để giúp nhau sản xuất, nâng cao đời sống văn hóa, tạo dựng thế trận lòng dân vững chắc bảo vệ vùng biển, đảo của
Tổ quốc
1.4.2 Về thông tin, tuyên truyền chính sách
Các cơ quan truyền thông tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông về các chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước đối với việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển nâng cao nhận thức, xây dựng năng lực truyền thông cho đội ngũ phóng viên, báo chí, trong đó tập trung đi sâu vào năng lực truyền thông về các cơ chế chính sách việc thực hiện chính sách cho ngư dân và nhân dân Bên cạnh đó, cần chú ý đến những chương trình, chiến dịch truyền thông mang tính dài hạn, đồng thời chú trọng nêu gương tốt, xây dựng các gương điển hình trong công việc, là người lãnh đạo giỏi
Trang 2222
có đóng góp cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và quốc gia Qua đó giúp cán bộ, lãnh đạo quản lý nhận thức được vai trò, vị trí quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế biển hiểu rõ hơn về chính sách của Đảng và Nhà nước hiện nay
Phát triển kinh tế biển, đảo gắn chặt với bảo đảm quốc phòng, an ninh nhằm hướng tới khai thác, quản lý, giữ gìn và bảo vệ biển, đảo một cách bền vững nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương
1.4.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách công
Phân công phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện chính sách công theo
kế hoạch được phê duyệt Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của nhà nước Không chỉ có vậy, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách công diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen nhau, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách Trong thực tế người ta thường hay phân công cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp thực hiện một chính sách cụ thể nào đó Chính sách có thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả tác động lại liên quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau, nên cần phải phối hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản lý
Hoạt động phân công, phổi hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách công một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách
1.4.4 Đôn đốc thực hiện chính sách công
Đôn đốc thực hiện chính sách công là hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức
có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách Trên thực tế, khi triển khai thực hiện chính sách, không phải bộ phận nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau, vì thế cần có hoạt động đôn đốc để vừa thúc đẩy
Trang 2323
các chủ thể nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng, chống những hành
vi vi phạm quy định trong thực hiện chính sách công
1.4.5 Tổng kết thực thi chính sách công
Tổ chức thực thi chính sách công được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình đó người ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực thi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách
Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách công Cơ sở để đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách công trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng ở bước 1 của phần này Đồng thời còn kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách công của các tổ chức chính trị và xã hội với Nhà nước
Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách công bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách là công dân Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện
về không gian và thời gian
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển Việt Nam
1.5.1 Điều kiện địa lý
Việt Nam, là quốc gia có biển nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng
Trang 2424
không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu
Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Điều kiện
tự nhiên của bờ biển Việt Nam là tiềm năng to lớn cho ngành giao thông hàng hải Việt Nam Dọc bờ biển Việt Nam xác định nhiều khu vực xây dựng cảng, trong đó có một
số nơi có thể xây dựng cảng biển nước sâu như: Cái Lân và một số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, Lạch Huyện, Đình Vũ, Cát Hải, Đồ Sơn, Nghi Sơn, Cửa Lò, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Vân Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải, …Phía Nam, cảng quy mô vừa như Hòn Chông, Phú Quốc,
… Ngoài sự hình thành mạng lưới cảng biển, các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc một cách nhanh chóng và thuận lợi
Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ khí đốt Trữ lượng dự báo tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn Trữ lượng khí dự báo khoảng 1.000
Biển Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển du lịch - ngành công nghiệp không khói, hiện đang đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế của đất nước, nhiều vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non
Trang 2525
nước…, các di tích lịch sử và văn hóa như: Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, Nhà thờ đá Phát Diệm… phân bố tại vùng ven biển Tiềm năng du lịch kể trên rất phù hợp để Việt Nam phát triển và đa dạng các loại hình du lịch hiện đại như nghỉ ngơi, dưỡng bệnh, tắm biển, du lịch sinh thái nghiên cứu khoa học vùng ven bờ, hải đảo, ngầm dưới nước; du lịch thể thao: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhảy sóng, đua thuyền…Với điều kiện địa lý thuận lợi và tài nguyên thiên nhiên phong phú từ biển là môi trường thuận lợi để nước ta hoàn thành các mục tiêu của Chiến lược biển đến năm 2020
1.5.2 Vốn và công nghệ
Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo nên việc huy động nguồn vốn cho phát triển kinh tế biển cực kỳ quan trọng Cần phải huy động tổng hợp các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, ODA, FDI, vốn từ các thành phần kinh tế trong nước và đặc biệt
là nguồn vốn từ trong nhân dân Dù Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc huy động đầu tư phát triển ngành kinh tế biển, song nguồn vốn cho đầu tư phát triển vẫn còn nhiều hạn chế Theo số liệu cho thấy giai đoạn 2009-2012 vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cho ngành nông, lâm, thủy sản đạt 228.110 tỷ đồng, tuy nhiên mức đầu tư cho ngành thủy sản chiếm gần 3%, như vậy tỷ lệ đầu tư là rất thấp nên dẫn đến những bất cập và hạn chế cho phát triển thủy sản Cơ sở hạ tầng nghề cá gồm hạ tầng thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản, hệ thống cảng cá, chợ cá, chợ thủy sản đầu mối, khu neo đậu tránh bão cho tàu thuyền đều chưa được đầu tư đúng mức, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng của ngành và thu nhập của ngư dân Cộng thêm những khó khăn từ nhiều phía khiến ngành thủy sản đang phải đối mặt với quá nhiều thách thức như: xuất khẩu ngày càng bị áp lực cạnh tranh, rào cản kỹ thuật các nước gia tăng, trong khi chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm chưa đồng bộ Vấn đề nuôi trồng, đánh bắt xa bờ vẫn còn quy mô nhỏ, lạc hậu Ứng dụng khoa học - kỹ thuật hạn chế, phát triển mô hình công nghiệp còn ít Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đẩy nước mặn xâm
nhập sâu vào đất liền đe dọa nghề nuôi thủy sản
Bên cạnh các yếu tố trên, chúng ta không chỉ tập trung khai thác nguồn lợi sẵn
có, tận dụng những lợi thế của một đất nước có bờ biển dài và nguồn lợi thủy sản phong phú, đầu tư vào sự phát triển của ngành theo chiến lược dài hạn Ðiều đó không chỉ quan trọng đối với sự phát triển bền vững của ngành mà còn là bảo đảm cho mục
Trang 2626
tiêu nâng cao đời sống của cộng đồng ngư dân Để đạt được mục tiêu phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020 nước ta cần khoảng 57.400 tỷ đồng, vì vậy phải nâng tỷ
lệ đầu tư cho lĩnh vực thủy sản lên 10% tổng vốn đầu tư cho toàn ngành nông nghiệp
Lĩnh vực hàng hải: Được coi là thế mạnh của nền kinh tế nước ta và với tốc độ
phát triển ngày càng nhanh bình quân 35,7%/năm giai đoạn 2009-2012, đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP của cả nước Vì vậy, nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực này luôn được quan tâm, chỉ tính riêng trong giai đoạn 2006-2010 tổng mức đầu tư cho ngành đóng tàu lên đến 3 tỷ USD để xây dựng ngành công nghiệp đóng tàu mạnh trong khu vực và thế giới Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn vốn cho công nghiệp đóng tàu trong những năm vừa qua tại các công ty nhà nước không đạt hiệu quả, điển hình
như vụ Vinashin đã làm thất thoát 900 tỷ đồng từ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước
Được xác định là một ngành kinh tế quan trọng, công nghiệp đóng tàu vẫn đang được Chính phủ thực hiện tái cấu trúc toàn diện các công ty đóng tàu thuộc sở hữu Nhà nước bằng hình thức cổ phần hóa, nhằm khắc phục những tồn tại và phát triển ngành đóng tàu trong tương lai Bên cạnh đó việc đầu tư cho phát triển hệ thống cảng biển được chú trọng, hệ thống cảng biển Việt Nam đang được đầu tư và phát triển trên diện rộng, đến nay cả nước có trên 100 cảng biển, trong đó có nhiều cảng tiếp nhận tàu có trọng tải lớn như cảng Hải Phòng, Sài Gòn, Chân Mây, Dung Quất, Vũng Tàu, …
Theo quy hoạch phát triển cảng biển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 thì tổng nhu cầu vốn đầu tư để phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020 ước tính khoảng 360-440 nghìn tỷ đồng (18-22 tỷ USD)
Để tăng cường tiềm lực cho phát triển kinh tế biển, những năm qua Nhà nước
đã đầu tư phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển Kể từ khi Khu kinh tế (KKT) ven biển đầu tiên là Khu kinh tế thương mại Chu Lai được thành lập vào năm
2003 đến nay đã có 14 Khu kinh tế được thành lập, gồm: 2 KKT ở vùng Đồng bằng Sông Hồng là: Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh) và Đình Vũ – Cát Hải (thành phố Hải Phòng); 10 KKT ở vùng Duyên hải miền Trung là Nghi Sơn (tỉnh Thanh Hóa), Đông Nam Nghệ An (tỉnh Nghệ An), Vũng Áng (tỉnh Hà Tĩnh), Hòn La (tỉnh Quảng Bình), Chân Mây-Lăng Cô (tỉnh Thừa Thiên Huế), Chu Lai (tỉnh Quảng Nam), Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi), Nhơn Hội (tỉnh Bình Định), Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) và Nam
Trang 2727
Phú Yên (tỉnh Phú Yên); và 2 KKT ở miền Nam là KKT đảo Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới (tỉnh Kiên Giang) và Định An (tỉnh Trà Vinh) Tổng diện tích mặt đất và mặt nước biển của 14 KKT là 627.633 ha Tính đến năm nay các KKT đã thu hút được
550 dự án trong nước và nước ngoài với tổng vốn đầu tư 24.415,9 triệu USD và 294.157 tỷ đồng
Trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí: Trong những năm qua, ngành khai thác
dầu khí được coi là ngành kinh tế hoạt động có hiệu quả vừa mang lại lợi ích cho quốc gia đóng góp quan trọng vào GDP của cả nước vừa thể hiện và khẳng định chủ quyền quốc gia trên các vùng biển của Tổ quốc Tính đến thời điểm hiện tại, số lượng các dự án do Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) thực hiện và tham gia là 60 dự án dầu khí (trong đó có 43 dự án trong nước, 17 dự án ở nước ngoài) và 5 dự án điều tra
cơ bản Trong đó, riêng các dự án dầu khí do PVEP giữ vai trò nhà điều hành là 19 dự
án, tham gia điều hành chung 15 dự án, tham gia góp vốn 26 dự án Theo tính toán nhu cầu vốn đầu tư cho hoạt động thăm dò khai thác dầu khí giai đoạn 2011-2015 là 16,5 tỉ USD, trong số này chưa tính đến vốn liên doanh Mới đây nhất vào cuối năm 2013
ngân hàng Vietcombank, SeABank đã tài trợ nguồn vốn cho Tập đoàn dầu khí quốc
gia Việt Nam lên đến 150 triệu USD
Lĩnh vực du lịch biển: để khai thác lợi thế tiềm năng từ du lịch biển, những năm
vừa qua đầu tư cho phát triển du lịch biển luôn được các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm, nhiều nhà đầu tư du lịch lớn quốc tế đã và đang chọn Việt Nam làm địa điểm đầu tư Các khu du lịch biển ngày càng hoàn thiện và khang trang hơn, hệ thống cơ sở lưu trú vùng ven biển phục vụ cho du khách không ngừng tăng lên Theo thống kê, vùng ven biển có gần 1.400 cơ sở lưu trú với trên 45.000 buồng Đội ngũ lao động du lịch vùng ven biển hiện chiếm khoảng 65% tổng số lao động trực tiếp làm du lịch của cả nước Để thực hiện chiến lược phát triển ngành du lịch từ nay đến năm 2020 cả nước cần 1.931 nghìn tỷ đồng (tương đương 94,2 tỷ USD, theo giá hiện hành) Trong đó: Vốn từ ngân sách nhà nước chiếm 8 - 10% bao gồm cả vốn ODA; nguồn vốn từ khu vực tư nhân chiếm
90 - 92% bao gồm cả vốn FDI Hàng năm vùng biển thu hút 73% số lượt khách du lịch quốc tế, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng gần 13%/năm Theo số liệu năm
2015 ngành du lịch Việt Nam đã đón hơn 9,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,6% so
Trang 2828
với cùng kỳ năm 2015 Trong đó, thị trường khách tăng trưởng cao nhất trong năm
2015 gồm thị trường khách Nga, với gần 350.000 lượt khách, Trung Quốc hơn 2,1 triệu lượt khách; Thái Lan gần 280.000 lượt khách; Malaysia gần 350.000 lượt khách,…Khách du lịch quốc tế đến các khu vực trọng điểm du lịch tăng nhanh, như Khánh Hòa, Đà Nẵng, Bà Rịa Vũng Tàu, …
Đối với nghề làm muối: Nghề muối là một nghề có truyền thống lâu đời của ngư
dân duyên hải miền Trung, gắn chặt với biển và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết Trong những năm qua, mặc dù điều kiện thời tiết không thuận lợi Nhưng nhờ công tác huy hoạch, đầu tư sản xuất muối, đổi mới công nghê thực hiện sản xuất theo hướng công nghiệp, cho nên nghề muối Việt Nam đã phần nào giảm bớt những khó khăn Hiện nay, ngành muối Việt Nam đang tích cực triển khai các dự án xây dựng đồng muối công nghiệp, đổi mới công nghệ sản xuất muối, nhất là công nghệ sản xuất muối sạch Hoạt động đầu tư về vốn, công nghệ sản xuất trên đồng muối có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng xã hội hoá Ngoài nguồn vốn xây dựng cơ bản của ngành nông nghiệp dành để đầu tư các dự án về muối, ngành muối đang tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào các dự án sản xuất muối, chế biến, tiêu thụ muối công nghiệp
Có thể nói vai trò của vốn là yếu tố cực kỳ quan trọng, quyết định định hướng phát triển ngành kinh tế biển trong tương lai Vì vậy, việc huy động vốn cũng như quản lý sử dụng tốt nguồn vốn là nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế biển của nước ta
là nhờ tăng vốn mà là nhờ những hoàn thiện trong năng lực của con người, sự tinh thông, bí quyết nghề nghiệp và quản lý Khác với đầu tư cho các nguồn vốn phi con người, đầu tư cho phát triển con người là vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực và tác động
Trang 2929
đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng và đến toàn xã hội nói chung Nhận định trên càng đúng trong điều kiện hiện nay, khi thế giới ngày càng quan tâm nhiều đến nền kinh tế tri thức Nói cách khác, việc thành công trong tăng trưởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên, mà yếu tố ngày càng chiếm vị trí quan trọng là con người
Hiện nay nguồn lực lao động để phát triển kinh tế biển có thể được phân làm 2 loại là lực lượng lao động trong các ngành thăm dò khai thác dầu khí là những đối tượng lao động có trình độ qua đào tạo đáp ứng yêu cầu chuyên môn; còn đối với các lĩnh vực còn lại chủ yếu là lao động phổ thông; ví dụ trong lĩnh vực đánh bắt hải sản hiện nay có 4 triệu lao động nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, một số thuyền trưởng, máy trưởng được đào tạo ngắn hạn, nhưng chủ yếu ngư dân làm ăn trên biển dựa vào kinh nghiệm là chính Vì vậy, việc tập huấn đào tạo cho lực lượng lao động trong lĩnh vực kinh tế biển là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay
1.5.4 Về cơ chế chính sách
Những năm qua, nhiều cơ chế chính sách về phát triển kinh tế biển được Đảng
và Nhà nước ban hành dựa trên các nghị quyết, đề án, dự án, kế hoạch để triển khai thực hiện Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách một cách đồng bộ
và mang tính bền vững đang là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Trong lĩnh vực phát triển kinh tế biển, đòi hỏi cần phải có cơ chế, chính sách thật sự thông thoáng như cơ chế về nguồn vốn đầu tư, cơ chế về quy hoạch, hợp tác quốc tế, nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ, …Trong cuộc hội thảo mới đây tổ chức tại Phú
Yên về “Các giải pháp hỗ trợ ngư dân phát triển kinh tế biển” Các nhà khoa học đã
đánh giá rằng: Thời gian qua, những chính sách đã được Nhà nước ban hành, như hỗ trợ vay vốn tín dụng để đóng mới tàu cá xa bờ ( Nghị định 67/NĐ-CP); hỗ trợ chi phí nhiên liệu ( QĐ 48/ QĐ-CP), bảo hiểm; hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch và khắc phục rủi ro, thiên tai trên biển, hỗ trợ về trang thiết bị thông tin đã được các bộ, ngành liên quan, địa phương kịp thời triển khai mang lại hiệu quả, việc phát triển nhanh đội tàu đánh bắt xa bờ; cơ sở hạ tầng nghề cá và tránh trú bão đã được quan tâm xây dựng Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, việc triển khai thực hiện các chính sách trên cũng gặp phải một số khó khăn, vướng mắc do thiếu tính đồng bộ, nhất
Trang 3030
là trong việc hỗ trợ phát triển tàu cá, cho vay vốn đóng tàu chưa tính đến cho vay để mua sắm ngư lưới cụ và trang thiết bị trên tàu; việc hỗ trợ đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên có đủ trình độ và khả năng vận hành, sử dụng phương tiện lớn, hiện đại Các điều kiện để được hưởng một số chính sách còn chưa sát với thực tế sản xuất nghề cá; công tác triển khai hướng dẫn thực hiện của các cơ quan chức năng chưa kịp thời, chính sách chưa phân loại được đối tượng ngư dân để có chính sách hỗ trợ phù hợp Tiến độ đầu tư xây dựng, nâng cấp các cảng cá, vũng neo trú tàu thuyền, bến bãi, …trong thời gian qua vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nghề cá của ngư dân Đến nay, việc xây dựng cảng cá mới đạt 82/211 cảng theo quy hoạch (khoảng gần 40%) và
41 khu neo đậu tránh trú bão với công suất 30.776 tàu neo đậu theo yêu cầu (đạt 36,6% so với quy hoạch) Chính sách phát triển thủy sản theo NĐ 67/NĐ-CP của chính phủ tại một số tỉnh, thành đã cho thấy công tác triển khai còn gặp nhiều khó khăn, bởi thủ tục hành chính nhiêu khê, rườm rà Mặc dù lãi suất cho vay thấp nhưng
để vay được nguồn vón ngư dân phải trải qua nhiều bước, nhiều khâu, mất nhiều thời gian và phải được nhiều cơ quan chấp thuận Cơ chế cho vay và xử lý rủi ro vẫn theo
cơ chế tín dụng thương mại thông thường Do vậy, việc tiếp cận được nguồn vốn này còn gặp nhiều khó khăn
Từ những phân tích trên cho thấy, cơ chế chính sách có vai trò cực kỳ quan trọng và sẽ tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế biển của nước ta
1.5.5 Về hợp tác quốc tế
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định cho sự phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới Trong chính sách phát triển kinh tế biển, ngày 13/6/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/QĐ-TTG về hợp tác quốc tế về biển đến năm 2020, trong quyết định này nêu rõ: Mục tiêu hợp tác quốc tế về biển là:
- Thực hiện hợp tác quốc tế về biển là nhằm góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; mục tiêu và nhiệm vụ
cơ bản, lâu dài, xuyên suốt của công tác đối ngoại về vùng biển và ven biển là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền
Trang 31- Thu hút các nguồn lực từ bên ngoài (các tổ chức tài chính – kinh tế quốc tế; nhà nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài, …) để phát huy tốt hơn tiềm năng, thế mạnh của biển Việt Nam, nâng cao thu nhập, đời sống cho ngư dân ven biển, thúc đẩy hình thành một số tập đoàn kinh tế lớn, xây dựng một số công trình kết cấu hạ tầng biển và ven biển trọng điểm (cảng biển, đường ven biển, các khu kinh tế ven biển và đảo), hình thành một số cơ sở dự báo thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, phát triển tiềm lực khoa học – công nghệ biển, xây dựng các cơ sở đào tạo nhân lực để phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển
Sự tác động từ hợp tác quốc tế đối với phát triển kinh tế biển là cực kỳ quan trọng, là điều kiện thuận lợi để nước ta thực hiện hoàn thành Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
1.5.6 Thị trường tiêu thụ
Những kết quả đạt được trong xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam những năm qua không thể tách rời với công tác phát triển thị trường Hiện nay, hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở khoảng 160 thị trường trên thế giới Các doanh nghiệp đã chuyển hẳn từ tiếp thị thụ động sang tiếp thị chủ động Nhờ đó đã hình thành thế chủ động cân đối về thị trường tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm duy trì tăng trưởng bền vững Các doanh nghiệp thuỷ sản đã có thể điều chỉnh được cơ cấu thị trường, khi thị trường truyền
Trang 3232
thống có biến đổi bất lợi Việc mở rộng và điều chỉnh thị trường xuất khẩu các sản phẩm cá tra, basa là một minh chứng về sự thành công của Việt Nam cho khẳng định này Bên cạnh đó, các nhà xuất khẩu Việt Nam còn luôn chú trọng khai thác chiều sâu của các thị trường Hàn Quốc, Brazin, Mexico Tỷ trọng giá trị xuất khẩu vào Mỹ, Nhật Bản và EU trong năm 2013 chiếm khoảng 56% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Số liệu này khẳng định thêm tầm quan trọng của ba thị trường này đối với ngành thuỷ sản của Việt Nam
Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản đã có sự thay đổi rõ nét kể từ năm 2000 đến nay Trước tiên là việc Mỹ trở thành thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàng đầu của Việt Nam, theo số liệu thống kê năm 2015 xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ chiếm từ
20 -30 % tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Trong khi đó thị trường Nhật Bản
có xu hướng giảm dần chỉ còn dưới 20% trong năm 2015
Chế biến xuất khẩu là lĩnh vực phát triển nhanh và có thể coi là động lực cho tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu trong khai thác và nuôi trồng thuỷ sản Chất lượng
và tính cạnh tranh của các mặt hàng thuỷ, hải sản Việt Nam được cải thiện không ngừng, tạo được uy tín lớn trên thị trường thế giới Đến nay, trong tổng số hơn 470 cơ
sở, doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đã có 248 cơ sở, doanh nghiệp (chiếm gần 53%) đã được Liên minh Châu Âu công nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn vệ sinh, đưa vào xuất khẩu vào EU, được coi là thị trường khó tính nhất hiện nay Ngoài ra, có trên 300
cơ sở, doanh nghiệp được Hàn Quốc công nhận tiêu chuẩn chất lượng, …
Đối với thị trường hàng hải: Vận tải biển của Việt Nam trong những năm vừa qua không ngừng lớn mạnh về cơ sở vật chất, bên cạnh đó không ngừng vươn ra mở rộng hợp tác quốc tế Theo số liệu thống kê năm 2015 đội tàu biển Việt Nam đã có 1.775 tàu, tổng dung tích trên 4,375 triệu GT, tổng trọng tải 7,134 triệu DWT Sản lượng hàng hóa vận tải biển và qua cảng biển Việt Nam năm 2010 là 88,920 triệu tấn, năm 2015 tăng lên 103,568 triệu tấn Tuy nhiên, thị trường hàng hải của nước ta vẫn chưa đủ sức cạnh tranh với các nước, phần lớn tàu đã có tuổi thọ cao, năng lực khai thác tuyến vận tải quốc tế còn hạn chế
Đối với ngành dầu khí: Ngành dầu khí là một trong những ngành chủ lực của kinh tế biển, có đóng góp quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Việc tìm kiếm và khai thác dầu khí là việc rất khó khăn, cần nhiều vốn, kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật
Trang 3333
cao Cũng giống như nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam cũng có các chính sách khuyến khích đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực này Hiện nay có 25 công ty dầu khí nước ngoài từ 13 quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam, trong khuôn khổ 27
dự án khác nhau Các công ty dầu khí nước ngoài đã đầu tư hơn 7 tỷ USD vào Việt Nam Không chỉ hoạt động tại thị trường nội địa, Petro Vietnam đang tăng cường các hoạt động tìm kiếm và khai thác dầu khí trên thị trường quốc tế
Có thể nói thị trường là một trong những yếu tố tác động đến phát triển kinh tế biển, là nơi tiêu thụ các sản phẩm, là điều kiện quan trọng cho hoạch định phát triển kinh tế biển một cách hợp lý và mang lại hiệu quả cao nhất
Kết luận Chương 1
Thế kỷ XXI là thế kỷ của Đại Dương vì vậy Đảng và Nhà nước xây dựng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là một tất yếu khách quan phù hợp với xu thế vận động và phát triển của một nước có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế biển Sự nhìn nhận và đánh giá toàn diện về vai trò cũng như các nhân tố tác động đến kinh tế biển cho ta một bức tranh toàn cảnh về nhu cầu và định hướng phát triển kinh tế xã hội trong thời gian đến Những chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế biển được trình bày ở phần trên cho ta thấy rằng như là một sự quyết tâm cao để đạt được các yêu cầu về mục tiêu phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân gắn với yêu cầu đòi hỏi trong công tác bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Với lợi thế của quốc gia ven biển, Việt Nam đã và đang từng bước khai thác các tiềm năng của biển để xây dựng và phát triển ngành kinh tế biển bền vững, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Từ những chủ trương và quyết sách về kinh tế biển của Đảng và Nhà nước là cơ
sở lý luận, là định hướng chiến lược quan trọng để các cấp, các ngành, đặc biệt là các địa phương ven biển nghiên cứu để đề ra các kế hoạch phát triển kinh tế biển phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương mình
Trang 3434
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN TẠI HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển tại huyện đảo Lý Sơn, tính Quảng Ngãi
2.1.1 Yếu tố vị trí địa lý huyện Đảo Lý Sơn
Lý Sơn là huyện đảo duy nhất của Quảng Ngãi, nằm về phía Đông Bắc, cách đất liền 15 hải lý (tính từ cảng Sa Kỳ ra) Toàn huyện có 02 đảo: Đảo Lớn (còn gọi là Cù Lao Ré) và Đảo Bé (Cù Lao Bờ Bãi), gồm 03 xã: An Vĩnh, An Hải và An Bình (Đảo Bé) Diện tích tự nhiên 10,32 km2 Dân số gần 22.000 nguời, có khoảng 60% hộ dân sống bằng nghề biển và liên quan đến nghề biển, 30% hộ dân sống bằng nghề nông (chủ yếu là trồng hành, tỏi, ngô) và 10% hộ dân sống bằng các ngành nghề khác
Lý Sơn nằm trên con đường biển từ Bắc vào Nam và nằm ngay cửa ngõ của Khu kinh tế Dung Quất cũng như của cả khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung Vị thế này của Lý Sơn đã đưa huyện đảo trở thành đơn vị hành chính tiền tiêu của đất nước, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, đặc biệt là đối với Biển Đông Lý Sơn lại còn có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết khi Trung Quốc hạ đặc giàn khoan HD 981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, là vùng biển thuộc ngư trường đánh bắt truyền thống của ngư dân Lý Sơn từ bao đời nay
Dù Trung Quốc sử dụng mọi biện pháp nhằm ngăn cản hoạt động của ngư dân tại ngư trường Hoàng Sa – Trường Sa nhưng ngư dân Lý Sơn vẫn kiên trì vươn khơi bám biển nhằm khẳng định chủ quyền biển đảo của Tổ quốc
2.1.2 Yếu tố về khí hậu
Lý Sơn chịu tác động chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa trên vùng biển nhiệt đới nóng, ẩm và có chế độ mưa trái mùa (từ tháng 8 – tháng 2 năm sau) Do Lý Sơn là huyện đảo trên Biển Đông, lại có vĩ độ thấp, nên chế độ nắng thuộc loại dồi dào nhất trong hệ thống các đảo ven bờ nước ta với tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 2430,3giờ/năm Nguồn nhiệt cao và độ nắng lớn trên phạm vi huyện đảo Lý Sơn có thể tiến hành khai thác cho các hoạt động du lịch nghĩ dưỡng quanh năm, đồng thời có
Trang 35do chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam Độ ẩm không khí trung bình trên khu vực huyện đảo khoảng 85%
Tốc độ gió trung bình trên vùng huyện đảo tương đối thấp so với các hải đảo khác, trung bình khoảng 1,5m/s, cao nhất là thời kỳ gió mùa Đông Bắc (tháng 10 – 11) 5-10m/s, tuy nhiên cũng có lúc lên đến 30-40m/s, chủ yếu trong tháng 10 Do vậy việc sử dụng năng lượng gió so với các huyện đảo khác cần được nghiên cứu kỹ để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên khí hậu cho phát triển kinh tế - xã hội
Điều kiện khí hậu ở Lý sơn rất phù hợp với các cây đặc sản như hành, tỏi, cho phép phát triển một số loại cây ăn quả như đu đủ, chuối, na, dưa hấu,… và một số loại rau quả xanh Ngoài ra khí hậu nơi đây cũng thuận lợi cho sức khỏe con nguời nhất là cho các hoạt động du lịch, nghĩ dưỡng, tắm biển, …
Do được bao bọc xung quanh là biển nên Lý Sơn là huyện có điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều so với các huyện khác của tỉnh trong lĩnh vực khai thác sử dụng nguồn tài nguyên biển Đây là lĩnh vực có thế mạnh nhất của huyện Theo tài liệu của Viện nghiên cứu biển và Trường đại học Thủy sản Nha Trang, khả năng khai thác hải sản của huyện hàng năm có thể đạt khoảng 28.000 tấn, chiếm gần 30% khả năng khai thác thủy sản của toàn tỉnh Khả năng nuôi trồng thủy sản tại vùng biển Lý Sơn khá lớn với tổng diện tích có thể phát triển lên tới 250ha
Các điều kiện thủy lý, thủy hóa lý tưởng cho nuôi trồng các loại đặc sản như cá
mú, tôm hùm, cua biển… bằng lồng bè Vùng triều xã An Hải giáp hòn Mù Cu diện tích khoảng 50ha, kín gió, nồng độ muối >30‰, nhiệt độ nước từ 26-30ºC, mức triều cao nhất 2,5m, thấp nhất 1,2m, nền đáy là cát lẫn sỏi đá, san hô,… có khả năng cải tạo thành hồ nuôi trồng thủy sản thuận lợi Ngoài ra đặc điểm sinh thái, khí hậu, nguồn nước ở Lý Sơn còn phù hợp cho việc phát triển mô hình nuôi trồng thủy sản trên cát với diện tích khoảng 20ha ở Hang Câu, vùng Đồng Hộ, …
Trang 3636
2.1.3 Yếu tố về quốc phòng – an ninh
Xác định vị trí, vai trò quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh của đảo Lý Sơn, ngày 01/01/1993 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ký quyết định
số 337/HĐBT về việc thành lập huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Đây là bước ngoặc có ý nghĩa quan trọng đối với Đảng bộ, quân và dân huyện đảo Lý Sơn Từ đây một địa giới hành chính cấp xã đã chính thức được tách khỏi huyện Bình Sơn để trở thành một huyện đảo quan trọng này Sau 20 năm thành lập tình hình kinh tế, xã hội phát triển mạnh, an ninh quốc phòng được giữ vững, chủ quyền quốc gia trên biển được khẳng định
2.1.4 Yếu tố về tài nguyên thiên nhiên
Là huyện đảo có vị trí, địa lý rất thuận lợi, có tọa độ 15°22′51″ vĩ độ Bắc
109°07′3″ kinh độ Đông, cách đất liền khoảng 15 hải lý về hướng Đông Bắc và cách tuyến đường hàng hải quốc tế khoảng 35 hải lý Vùng biển Lý Sơn được thiên nhiên ban tặng với nhiều loại hải sản rất đa dạng và phong phú, đặc biệt có nhiều sản vật quý hiếm như cá mú, mực, hải sâm, ốc tai tượng, ốc cừ, san hô đen, san hô đỏ….với sự trù phú của thiên nhiên đã mang lại những giá trị kinh tế cao góp phần cải thiện đời sống tinh thần cho nhân dân Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về hổ trợ nguồn vốn, nhiều ngư dân đã mạnh dạng đầu tư nâng cấp tàu thuyền có công suất lớn để vươn khơi xa và từ đây ngư trường đánh bắt không chỉ giới hạn trong phạm vi xung quanh đảo mà đã mở rộng ra các vùng biển khơi, đặc biệt là vùng biển quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Sự hiện diện của ngư dân Lý Sơn trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa hôm nay không chỉ là một hiện tượng mới mà là sự kế thừa ngư trường truyền thống của ông cha ta cách đây hàng ngàn năm khi người dân Lý Sơn được triều đình nhà Nguyễn cử ra vùng biển này để khai thác hải sản và khẳng định chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Với điều kiện ngư trường đánh bắt rộng lớn, với lượng hải sản đa dạng, phong phú có thể khai thác quanh năm được coi là điệu kiện thiên nhiên thuận lợi để ngư dân Lý Sơn phát triển ngành đánh bắt hải sản
Do cấu trúc về mặt địa lý nên vùng ven bờ xung quanh Đảo luôn tồn tại và phát triển các loại san hô, rong biển, tảo biển tạo ra môi trường thuận lợi cho sự sinh trưởng
Trang 3737
và phát triển các loài hải sản nên rất phù hợp với ngành nuôi trồng hải sản tại đây Với điều kiện hiện nay, Lý Sơn có thể quy hoạch khoảng từ 50 - 70ha mặt nước biển để phục vụ nuôi trồng thủy sản Qua thực tiễn cho thấy, một số hộ dân đã cho nuôi thử nghiệm tôm hùm, cá mú, cá bớp thương phẩm và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, điều đáng nói ở đây là quá trình tăng trưởng của tôm, cá rất nhanh, ít dịch bệnh, tỷ lệ chết thấp
2.1.5 Yếu tố về cơ cấu kinh tế
Dù đội tàu đánh bắt hải sản của huyện đến năm 2015 chỉ 416 chiếc bằng gần 8,6% số tàu thuyền của toàn tỉnh, nhưng sản lượng đánh bắt đạt trên 38 500 tấn, chiếm gần 1/3 sản lượng đánh bắt của tỉnh Quảng Ngãi Đây được coi là nguồn nguyên liệu lớn cho hoạt động chế biến tại chỗ Vì vậy, việc quy hoạch đầu tư cho hoạt động chế biến tại chỗ là một tiềm năng rất lớn vừa giải quyết đầu ra cho ngư dân, giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân, vừa tăng giá trị sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao
2.1.6 Yếu tố về du lịch
Bên cạnh tiềm năng về thủy sản thì du lịch cũng được coi là thế mạnh của huyện Do kiến tạo của địa hình đã tạo ra cho mảnh đất nơi đây nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, sơn thủy hữu tình như: Hang Câu, Cổng đá Tò Vò, Bàn cờ tiên, Chùa Hang, Chùa Đục, Đình làng An Hải, Đình Làng An Vĩnh, Âm Linh Tự, Suối Chình, Hòn Đụn… gắn liền với những địa danh thắng cảnh là các lễ hội truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa đó là: Lễ hội đua thuyền, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, …Trong những năm gần đây, du khách đến Lý Sơn không chỉ để thăm quan giải trí mà đến Lý Sơn để chứng kiến và tìm hiểu giá trị lịch sử chứng minh tính chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
2.1.7 Yếu tố về lao động
Dân số Lý Sơn hiện nay là khoảng gần 22.000 người, trong đó nam giới trong
độ tuổi lao động có khoảng trên 7.300 người; theo thống kê hiện nay có 3.200 người lao động nghề cá, số còn lại là lao động nông nghiệp, các ngành nghề dịch vụ và đi làm ăn xa trong các tỉnh phía nam Hầu hết người dân Lý Sơn có tinh thần cần cù, chịu khó nhưng cũng rất kiên cường chống đỡ với bão gió Với lực lượng lao động dồi dào,
có sức khỏe và thích ứng với điều kiện vùng biển được coi là một yếu tố quan trọng để
Lý Sơn phát triển ngành kinh tế biển
Trang 3838
2.1.8 Yếu tố về chính sách vĩ mô của Nhà nước
Bên cạnh những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên, lao động…trong những năm gần đây được Nhà nước quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng như: Vũng neo đậu tàu thuyền, Cầu cảng cá An Vĩnh, hệ thống đê kè đông nam đảo và đường vành đai ven biển với kinh phí lên đến trên 800 tỷ đồng, đặc biệt là Lý Sơn được đưa vào quy hoạch mở rộng Khu kinh tế Dung Quất theo Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 20/01/2011 Về điều chỉnh quy hoạch chung Khu kinh tế Dung Quất đến năm 2025, theo đó Lý Sơn sẽ được đầu tư các công trình quan trọng như cảng giao thông để phục vụ chức năng tiếp nhận
và vận chuyển hàng hóa, an ninh, quốc phòng và cảng cá - neo đậu tàu thuyền, sân bay trực thăng với quy mô khoảng 30 ha và ưu tiên phát triển tuyến giao thông đường thủy kết nối đất liền với khu vực huyện đảo Lý Sơn Mới đây nhất hệ thống điện cáp ngầm với tổng kinh phí trên 650 tỷ đồng đã đựơc kéo từ đất liền ra đảo phục vụ đời sống, sinh hoạt, sản xuất của cư dân trên đảo
Bên cạnh, các chủ trương chính sách lớn của Đảng và nhà nước về đầu tư phát triển huyện đảo Lý Sơn Trên cơ sở nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V ( 2010 -2015) đề ra, ngày 31/8/2012, UBND tỉnh Quảng Ngãi cũng ban hành Quyết định số 169/QĐ-UBND Về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH huyện Lý Sơn mạnh về kinh tế, vững chắc về QPAN đến năm 2020, ngày 24/9/2015, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định 316/ QĐ-UBND Về việc phê duyệt đề án Xây dựng huyện đảo Lý Sơn mạnh về kinh tế, vững chắc về QPAN đến năm 2020, mục tiêu của đề án là Xây dựng Lý Sơn phát triển theo hướng đô thị - biển xanh- sạch đẹp – văn minh, môi trường bền vững, kết hợp phát triển kinh tế biển,
du lịch sinh thái biển với đầu tư xây dựng khu vực phòng thủy, đảm bảo vững chăc về QPAN… trên cơ sở đó huyện Lý Sơn đã đề ra các chương trình, kế hoạch hành động
cụ thể để phát triển KTXH của địa phương Đây là điều kiện quan trọng để tạo nền tảng cho Lý Sơn phát triển kinh tế biển một cách bền vững trong những năm đến
Với những tiềm năng hiện có, Lý Sơn không tránh khỏi những thách thức quan trọng mà trước hết phải nói đến phương tức tổ chức sản xuất của ngư dân chưa có sự đổi mới, chưa áp dụng công nghệ hiện đại vào khai thác, đáng bắt vẫn theo lối đánh bắt truyền thống nhỏ lẻ nên sản lượng không cao, kỹ thuật bảo quản sản phẩm không đạt yêu cầu nên dẫn đến chất lượng sản phầm đầu ra thấp, ít giá trị
Trang 3939
Ngư trường đánh bắt chủ yếu của ngư dân Lý Sơn cách đất liền khoảng
200-300 km, chủ yếu là ở 2 ngư trường truyền thống Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi đó đội tàu đánh bắt xa bờ chủ yếu là tàu gỗ, công suất nhỏ, thiết bị đảm bảo an toàn còn hạn chế nên khả năng bám biển dài ngày là rất thấp Vì vậy, mỗi một chuyến biển tàu chỉ hoạt động từ 20 đến 25 ngày là phải quay vào bờ để bán cá và mua nhiên liệu nên
đã làm tăng chi phí cho chủ tàu và thuyền viên Bên cạnh đó, điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp nên thường xuyên xảy ra các tai nạn trên biển làm thiệt hại về người và tài sản của ngư dân
Vùng biển ngư trường Trường Sa và Hoàng Sa là nơi xảy ra các tranh chấp chủ quyền của các nước trong khu vực, nhiều tàu thuyền nước ngoài xâm phạm, bắt phạt, cướp phá, tấn công tàu ngư dân
Tình trạng ngư dân còn sử dụng thuốc nổ, lưới quyét, pha xúc, …để đánh bắt hải sản, khai thác rong biển một cách bừa bãi còn xảy ra, điều này đã làm hủy diệt môi trường sinh thái biển của Lý Sơn và các ngư trường ven đảo
Tuy đã được đầu tư xây dựng khu xử lý rác thải nhưng hiện tượng ô nhiễm môi trường do rác thải đổ xả ra biển chưa giải quyết triệt để, điều này ảnh hưởng đến môi trường sinh thái biển và môi trường sống của người dân, ngoài ra việc chôn cất, mai táng còn mang tình tùy tiện nên ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, mỹ quan thiên nhiên
Việc quy hoạch phát triển tuyến đường thủy Lý Sơn-Sa Kỳ tuy được quan tâm, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu, bên cạnh đó hệ thống cầu cảng, phương tiện vận tải biển chưa được đầu tư đúng mức nên chỉ phần nào đáp ứng nhu cầu đi lại cho người dân, đặc biệt là vào các dịp lễ tết còn xảy ra tình trạng chen lấn trên tuyến giao thông thủy nội địa, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn cho du khách
Các cơ sở dịch vụ nghỉ dưỡng, ăn uống phục vụ khách du lịch phát triển nhưng mang tính tự phát, còn thiếu sự quản lý của các ngành chức năng, …
2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
2.2.1 Quan điểm của cấp ủy, chính quyền huyện đảo Lý Sơn về phát triển kinh tế biển
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lý Sơn lần thứ V nhiệm kỳ 2010-2015 khẳng định: Phấn đấu đến năm 2020 Lý Sơn trở thành một huyện phát triển, trở thành một
Trang 4040
trung tâm kinh tế biển, với hai ngành mũi nhọn là thủy sản và dịch vụ du lịch Hình thành được một hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội đồng bộ, hoàn thiện và hiện đại, đáp ứng yêu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Xây dựng Lý Sơn trở thành huyện đảo mạnh về kinh tế, vững chắc về quốc phòng an ninh, giải quyết cơ bản các vấn
đề xã hội, chất lượng cuộc sống của dân cư trên địa bàn huyện không ngừng được nâng cao Theo đó, mục tiêu, đến năm 2020, xây dựng Lý Sơn là đô thị biển xanh, sạch, đẹp, văn minh là một điểm du lịch, nghỉ dưỡng hấp dẫn của Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung, là điểm thu hút đông du khách trong và ngoài nước
Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững về kinh tế - xã hội đã đưa huyện đảo
Lý Sơn có bước đột phá về phát triển kinh tế biển, đồng thời xây dựng đảo trở thành tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia vùng biển đảo của Tổ quốc, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Tiếp tục xây dựng, củng cố, hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng quan trọng thiết yếu gồm: (Cầu cảng, cấp điện, cấp nước sạch, sân bay, hệ thống giao thông, thông tin và hạ tầng xã hội, ) trên đảo, tạo điều kiện cần thiết để phát triển kinh
tế, kết nối đảo với đất liền và bảo vệ vững chắc vùng biển của Tổ quốc
Phát huy cao độ các tiềm năng, thế mạnh của huyện đặc biệt là thế mạnh từ nguồn lợi biển, tạo sự bức phá cho kinh tế của huyện, góp phần phát triển cho kinh tế của tỉnh, đồng thời là đầu mối quan trọng để gắn kết kinh tế huyện đảo với kinh tế biển, ven biển khu vực và các vùng nội địa của các khu kinh tế lân cận của Quảng Ngãi và các tỉnh duyên hải miền Trung
Tạo sự chuyển biến căn bản và vững chắc trong cơ cấu kinh tế của huyện đảo Hình thành và phát triển một số ngành mũi nhọn phù hợp với lợi thế của huyện Lý Sơn như khai thác, chế biến và nuôi trồng hải sản, du lịch, dịch vụ biển, theo hướng phát triển nông nghiệp (nông, lâm, thủy sản) - thương mại dịch vụ - công nghiệp, để kinh
tế huyện đảo đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 16,5% giai đoạn 2010 - 2015 và 17,3% giai đoạn 2015 – 2020
Phát triển kinh tế gắn với nhiệm vụ quốc phòng và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị và đồng thời gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo cho nhân dân