1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam.

16 742 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 362,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUTrong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhật sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế quốc tế thì vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đang trở thành mối quan tâm lớn của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở những nơi, những khu vực có nền kinh tế thị trường phát triển.Sở dĩ như vậy bởi đây là một loại tài sản vô hình tài sản trí tuệ, là kết quả hoạt động sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất kinh doanh, là loại tài sản có giá trị lớn rất dễ bị xâm phạm mà rất khó để bảo vệ. Với mục đích tạo ra hình thức pháp lý bảo đảm các quyền nhân thân và quyền tài sản của các nhà sáng tạo đối với các sáng tạo của họ và khuyến khích việc sáng tạo, phổ biến và áp dụng các kết quả của sự sáng tạo đó, khích lệ thương lại trung thực từ đó thúc đẩy kinh tế và xã hội của mỗi một quốc gia cũng như toàn thế giới phát triển. Vì vậy, chúng ta cần phải tạo ra một hành lang pháp lý để bảo vệ loại tài sản này cho cá nhân và pháp nhân trong nước cũng như là của nước ngoài.Hiểu rõ được tầm quan trọng của việc bảo vệ laoij tài sản trí tuệ đặc biệt là quyền sở hữu công nghiệp nên chúng tôi đã quyết định chọn đề tài : “Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam” làm bài tập nhóm của mình. Qua đó có thể giúp các bạn có thể hiểu một các khái quát nhất về các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài. NỘI DUNGI.Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp trong tư pháp quốc tếQuyền sở hữu công nghiệp là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ trong cả pháp luật quốc tế cũng như là pháp luật quốc gia. Việc bảo hộ này xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản:Thứ nhất, là tạo ra hình thức pháp lý bảo đảm các quyền nhân than và quyền tài sản của các nhà sáng tạo đối với sáng tạo của họ.Thứ hai, khuyến khích việc sáng tạo, phổ biến và áp dụng các kết quả của sự sáng tạo đó, khích lệ thương mại trung thực từ việc đó thúc đẩy kinh tế và xã hội của mỗi một quốc gia cũng như là trên toàn thế giới phát triển.Theo quy định tại khoản 4, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.Do có những nét tưởng đồng về tính chất và đặc điểm nên việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có thể được tiến hành theo một cách thứ chung hoặc là độc lập hoặc là kết hợp với nhau. Điều này phụ thuộc vào các qui định trong pháp luật của mỗi quốc gia và các qui định trong Điều ước quốc tế. Quyền sở hữu công nghiệp trong Tư pháp quốc tế luôn có yếu tố nước ngoài. Ví dụ: Chủ thể là người nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài; quyền của các chủ thể(cá nhân hoặc pháp nhân) phát sinh ở nước ngoài…Xuất phát từ tính chất lãnh thổ nên quyền sở hữu công nghiệp phát sinh ở nước nào thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ nước đó. Quyền sở hữu công nghiệp muốn được bảo hộ ở nước ngoài thì phải được thực hiện thông qua các phương thức bảo hộ quốc tế. Bảo hộ quốc tế quyền sở hữu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn chặn các hành vi sử dụng bất hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học kỹ thuật phát triển.Việc bảo hộ quốc tế quyền sở hữu công nghiệp được thực hiện thông qua các cách thức sau:Bảo hộ thông qua các điều ước quốc tế đa phương.Bảo hộ thông qua các điều ước quốc tế song phương.Bảo hộ thông qua việc các quốc gia cùng chấp nhận nguyên tắc “có đi có lại”.Trong các cách thức này, điều ước quốc tế đặc biệt là điều ước quốc tế đa phương đóng vai trò rẩ quan trọng. trong trường hợp không có các điều ước quốc tế hoặc giữa các nước chưa chấp nhận nguyên tắc “có đi có lại” thì việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài hoàn toàn dựa trên các quy định pháp luật của mỗi quốc gia.II.Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có yêu tố nước ngoài tại Việt Nam.Ở nước ta, công tác đăng kí và bảo hộ các đối tượng là quyền sở hữu công nghiệp đang dần được hoàn thiện và phát triển. Việc đó được hiện qua rất nhiều những văn bản pháp luật được Nhà nước ban hành để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp cụ thể là các quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho các cá nhân và pháp nhân nước ngoài. Trong đó có thể nói đến:Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005 có hiệu lực từ ngày 01012006.Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 có hiệu lực từ ngày 01102009.Nghị định của Chính phủ số 1222010NĐCP ngày 31122010 (sửa đổi , bổ sung Nghị định số 1032006NĐCP ngày 2292006) quy định chi tiết thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.Và gần đây là việc Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ban hành Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01012017 có quy định một số điều liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.Bên cạnh đó chúng ta cũng gia nhập một số điều ước quốc tế và kí kết một số hiệp định song phương có liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp và trong đó có thể kể đến:Công ước Paris(1883)Thỏa ước Madrid và nghị định thư MadridHiệp ước hợp tác Patent ( Patent Cooperation treaty – 1970)Hiệp định TRIPS ( Trade Related Aspects of Intellectual Property Rights 1993)Hiệp định khung về sở hữu trí tuệ của tổ chức ASEANHiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.Nghiên cứu các văn bản pháp luật trên cho thấy việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam có một số nội dung cơ bản sau:1)Điều kiện và nguyên tắc bảo hộ.Để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam, Điều 775 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 về quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng có yếu tố nước ngoài quy định: “Quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, đối tượng của quyền đối với giống cây trồng đã được Nhà nước Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ hoặc công nhận được bảo hộ theo quy định của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.Với quy định trên, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài khi: Có đối tượng sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ. Có đối tượng sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận bảo hộ.Khi được cấp văng bằng bảo hộ hoặc được công nhận quyền sở hữu công nghiệp, người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam sẽ được bảo hộ trên cơ sở pháp luật của Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của luật Việt Nam thì áp dụng quy định của điều uước quốc tế đó.Điểm mới trong Bộ luật dân sự Việt Nam 2015, thay vì quy định cụ thể trong từng quyền trong quyền sở hữu trí tuệ như Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 mà đã khái quát hoá một cách ngắn gọn về toàn bộ lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Điều 679 như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ”. Điều này tuy ngắn gọn nhưng cũng đã thể hiện rất rõ ràng về quan điểm của chúng ta trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM

TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Đề 6: Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam

về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của người nước ngoài, pháp

nhân nước ngoài tại Việt Nam.

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 2- LỚP K1B 1) Phan Quốc Nghiệp

2) Nguyễn Tuấn Anh 3) Bùi Đức Hiếu 4) Nguyễn Đình Tú 5) Nguyễn Lương Đức 6) Lê Mạnh Khởi

Hà Nội, 2016

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhật sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế quốc

tế thì vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đang trở thành mối quan tâm lớn của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở những nơi, những khu vực có nền kinh

tế thị trường phát triển

Sở dĩ như vậy bởi đây là một loại tài sản vô hình- tài sản trí tuệ, là kết quả hoạt động sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất kinh doanh, là loại tài sản có giá trị lớn rất dễ bị xâm phạm mà rất khó để bảo vệ Với mục đích tạo ra hình thức pháp lý bảo đảm các quyền nhân thân và quyền tài sản của các nhà sáng tạo đối với các sáng tạo của họ và khuyến khích việc sáng tạo, phổ biến và áp dụng các kết quả của sự sáng tạo đó, khích lệ thương lại trung thực từ đó thúc đẩy kinh tế và xã hội của mỗi một quốc gia cũng như toàn thế giới phát triển Vì vậy, chúng ta cần phải tạo ra một hành lang pháp lý để bảo vệ loại tài sản này cho cá nhân và pháp nhân trong nước cũng như là của nước ngoài

Hiểu rõ được tầm quan trọng của việc bảo vệ laoij tài sản trí tuệ đặc biệt là

quyền sở hữu công nghiệp nên chúng tôi đã quyết định chọn đề tài : “Phân tích các

quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam” làm bài tập

nhóm của mình Qua đó có thể giúp các bạn có thể hiểu một các khái quát nhất về các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

có yếu tố nước ngoài

Trang 3

NỘI DUNG

I Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp trong tư pháp quốc tế

Quyền sở hữu công nghiệp là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ được bảo

hộ trong cả pháp luật quốc tế cũng như là pháp luật quốc gia Việc bảo hộ này xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản:

Thứ nhất, là tạo ra hình thức pháp lý bảo đảm các quyền nhân than và quyền tài sản của các nhà sáng tạo đối với sáng tạo của họ

Thứ hai, khuyến khích việc sáng tạo, phổ biến và áp dụng các kết quả của sự sáng tạo đó, khích lệ thương mại trung thực từ việc đó thúc đẩy kinh tế và xã hội của mỗi một quốc gia cũng như là trên toàn thế giới phát triển

Theo quy định tại khoản 4, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam: “Quyền sở

hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.

Do có những nét tưởng đồng về tính chất và đặc điểm nên việc bảo hộ quyền

sở hữu công nghiệp có thể được tiến hành theo một cách thứ chung hoặc là độc lập hoặc là kết hợp với nhau Điều này phụ thuộc vào các qui định trong pháp luật của mỗi quốc gia và các qui định trong Điều ước quốc tế

Quyền sở hữu công nghiệp trong Tư pháp quốc tế luôn có yếu tố nước ngoài

Ví dụ: Chủ thể là người nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài; quyền của các chủ thể(cá nhân hoặc pháp nhân) phát sinh ở nước ngoài…

Xuất phát từ tính chất lãnh thổ nên quyền sở hữu công nghiệp phát sinh ở nước nào thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ nước đó Quyền sở hữu công

Trang 4

nghiệp muốn được bảo hộ ở nước ngoài thì phải được thực hiện thông qua các phương thức bảo hộ quốc tế Bảo hộ quốc tế quyền sở hữu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn chặn các hành vi sử dụng bất hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học kỹ thuật phát triển

Việc bảo hộ quốc tế quyền sở hữu công nghiệp được thực hiện thông qua các cách thức sau:

 Bảo hộ thông qua các điều ước quốc tế đa phương

 Bảo hộ thông qua các điều ước quốc tế song phương

 Bảo hộ thông qua việc các quốc gia cùng chấp nhận nguyên tắc “có đi

có lại”

Trong các cách thức này, điều ước quốc tế đặc biệt là điều ước quốc tế đa phương đóng vai trò rẩ quan trọng trong trường hợp không có các điều ước quốc tế hoặc giữa các nước chưa chấp nhận nguyên tắc “có đi có lại” thì việc bảo hộ quyền

sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài hoàn toàn dựa trên các quy định pháp luật của mỗi quốc gia

II Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có yêu tố nước ngoài tại Việt Nam.

Ở nước ta, công tác đăng kí và bảo hộ các đối tượng là quyền sở hữu công nghiệp đang dần được hoàn thiện và phát triển Việc đó được hiện qua rất nhiều những văn bản pháp luật được Nhà nước ban hành để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp cụ thể là các quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho các cá nhân

và pháp nhân nước ngoài Trong đó có thể nói đến:

 Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005 có hiệu lực

từ ngày 01/01/2006

Trang 5

 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 có hiệu lực từ ngày 01/10/2009

 Nghị định của Chính phủ số 122/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010 (sửa đổi , bổ sung Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006) quy định chi tiết thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp

Và gần đây là việc Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ban hành Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 có quy định một số điều liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Bên cạnh đó chúng ta cũng gia nhập một số điều ước quốc tế và kí kết một số hiệp định song phương có liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp và trong đó có thể kể đến:

 Công ước Paris(1883)

 Thỏa ước Madrid và nghị định thư Madrid

 Hiệp ước hợp tác Patent ( Patent Cooperation treaty – 1970)

 Hiệp định TRIPS ( Trade Related Aspects of Intellectual Property Rights 1993)

 Hiệp định khung về sở hữu trí tuệ của tổ chức ASEAN

 Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ

Nghiên cứu các văn bản pháp luật trên cho thấy việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam có một

số nội dung cơ bản sau:

1) Điều kiện và nguyên tắc bảo hộ.

Để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam, Điều 775 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 về quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng có yếu tố nước ngoài quy định:

Trang 6

“Quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, đối tượng của quyền đối với giống cây trồng đã được Nhà nước Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ hoặc công nhận được bảo hộ theo quy định của pháp luật Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Với quy định trên, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài khi:

Có đối tượng sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ

Có đối tượng sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận bảo hộ

Khi được cấp văng bằng bảo hộ hoặc được công nhận quyền sở hữu công nghiệp, người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam sẽ được bảo hộ trên cơ sở pháp luật của Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của luật Việt Nam thì áp dụng quy định của điều uước quốc tế đó

Điểm mới trong Bộ luật dân sự Việt Nam 2015, thay vì quy định cụ thể trong từng quyền trong quyền sở hữu trí tuệ như Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 mà đã khái quát hoá một cách ngắn gọn về toàn bộ lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Điều 679

như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối

tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ” Điều này tuy ngắn gọn nhưng

cũng đã thể hiện rất rõ ràng về quan điểm của chúng ta trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

2) Đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ tại Việt Nam.

Trang 7

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 4 của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm

2005 sửa đổi, bổ sung 2009 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ tại Việt

Nam hiện nay bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích

hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh Trong

đó từng loại được định nghĩa như sau:

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải

quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên (Khoản

12, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2009) Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện

bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này

(Khoản 13, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2009).

Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành

phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC,

chip và mạch vi điện tử (Khoản 14, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2009).

Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu

trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong

mạch tích hợp bán dẫn (Khoản 15, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm

2005 sửa đổi, bổ sung 2009).

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức,

cá nhân khác nhau (Khoản 16, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm

2005 sửa đổi, bổ sung 2009) Có thể phân loại nhãn hiệu thành: nhãn hiệu

tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nổi tiếng và được hiểu cụ thể như sau:

Trang 8

 Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ

của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức

đó (Khoản 17, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 sửa đổi,

bổ sung 2009).

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho

phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá,

dịch vụ mang nhãn hiệu (Khoản 18, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt

Nam năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2009).

Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký,

trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc

tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau (Khoản 19, Điều 4 Luật sở

hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2009).

Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng

rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam (Khoản 20, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ

Việt Nam năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2009).

Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh

doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng,

khách hàng hoặc có danh tiếng (Khoản 21, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt

Nam năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2009).

Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực,

địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể (Khoản 22, Điều 4 Luật sở

hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2009).

Trang 9

Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ,

chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh (Khoản 22, Điều

4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2009).

Các đối tượng trên muốn được bảo hộ tại Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn được quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia

Các đối tượng sở hữu công nghiệp không được trái pháp luật Việt Nam bảo

hộ bao gồm: Các đối tượng trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo và những đối tượng khác mà mà pháp luật Việt Nam quy định là không bảo hộ

3) Xác lập và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam việc xác lập và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho người nước ngoài được tiến hành như đối với công dân và pháp nhân của Việt Nam (trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác) Quá trình

đó liên quan cụ thể tới các vấn đề như: Nộp đơn đăng ký; Cách thức xác lập quyền; cấp văng bằng bảo hộ; Quyền và nghĩa vụ

a) Cách thức nộp đơn đăng ký xác lập quyền.

Tổ chức, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam

Tổ chức, cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng

ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam

Trang 10

Đối với các Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp nộp theo các điều ước quốc tế

mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên được gọi chung là đơn quốc

tế Đơn quốc tế và việc xử lý đơn quốc tế phải tuân thủ quy định của điều ước quốc

tế có liên quan

Người nộp đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở là đơn đơn đầu tiên theo quy định của pháp luật Việt Nam

và các điều ước quốc tế mà Việt nam là thành viên

b) Xác lập quyền

Xuất phát từ những đặc điểm và tính chất đặc thù của từng đối tượng nên việc xác lập quyền cho các đối tượng sở hữu công nghiệp cũng có những điểm khác biệt nhất định Cụ thể là:

Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế

bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng kí quy định tại luật sở hữu trí tuệ hoặc công nhận đăng kí quốc tế theo quy định điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đối với đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký

Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó

Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở

có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật kinh doanh đó

Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh

c) Văn bằng bảo hộ

Trang 11

Quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở Văn bằng bảo hộ Văn bằng bảo hộ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam

Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, Văn bằng bảo hộ ghi nhận chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp thiết kế bố trí, nhãn hiệu (sau đây gọi là chủ văn bằng bảo hộ); tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, đối tượng, phạm vi và thời hạn bảo hộ

Đối với chỉ dẫn địa lí, văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý ghi nhận tổ chức quản

lý chỉ dẫn địa lý, các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, chỉ đẫn địa

lý được bảo hộ, tính chất đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tín chất đặc thù về điều kiện địa lý và khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý

Văn bằng bảo hộ gồm nhiều loại khác nhau, như: Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giấy chứng nhận đăng

ký nhãn hiệu và giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý

Thời hạn hiệu lực của các loại văn bằng trên cũng là thời hạn bảo hộ quyền

sở hữu công nghiệp cho các chủ sở hữu quyền và được quy định cụ thể tại Điều 93 của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

“Điều 93 Hiệu lực của văn bằng bảo hộ

1 Văn bằng bảo hộ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

2 Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn.

3 Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến

Ngày đăng: 08/06/2017, 19:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w