Vậy phải làm thế nào để có thể trị quốc một cách đúng đắn, vừa giúp nội lực đất nước phát triển vừa nâng cao vị thế quốc gia trên trường đối ngoại. Chính vì vậy ta sẽ tìm hiểu về “Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử và vấn đề kết hợp giữa pháp trị và đức trị trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay”. Dù rất tâm huyết với đề tài nhưng do đây là vấn đề khá rộng, nên sẽ còn khá nhiều khiếm khuyết trong quá trình nghiên cứu. Chỉ mong góp một phần nào đó để làm rõ vấn đề trên theo cách nhìn nhận chủ quan của người viết.
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I: PHÁP GIA VÀ TƯ TƯỞNG HÀN PHI TỬ 3
1 Triết học Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc: 3
1.1 Bối cảnh lịch sử Trung Hoa thời Xuân Thu – Chiến Quốc: 3
1.2 Tổng quan về triết học thời Xuân Thu – Chiến Quốc: 3
2 Lịch sử phát triển của phái “Pháp gia” : 4
3 Hàn Phi Tử và “học thuyết Đế Vương” : 7
3.1 Vài nét về Hàn Phi Tử: 7
3.2 Tư tưởng “Pháp trị” của Hàn Phi Tử : 8
3.3 Học thuyết “Đế Vương” của Hàn Phi: 10
CHƯƠNG II ÁP DỤNG TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC HIỆN NAY 12
1 Pháp trị trên cơ sở trọng dân: 12
2 Con người trong học thuyết Hàn Phi Tử: 12
2.1 Sự cần thiết phải tìm hiểu con người: 12
2.2 Bản tính ích kỷ - vụ lợi của con người: 13
2.3 Không biết đủ: 18
3 Áp dụng học thuyết Hàn Phi Tử trong công cuộc đổi mới đất nước: 20
KẾT LUẬN 22
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về nhữngnguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của conngười đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của
tự nhiên, xã hội và tư duy Ở triết học, thông qua việc giải đáp các câu hỏiđặt ra, nó giúp con người nâng cao sự hiểu biết về các sự vật Đây là một khotàng kiến thức khổng lồ và bao trùm lên hầu hết mọi lĩnh vực Mộttrong những vấn đề nổi bật là phép trị quốc, trị quốc thế nào để dângiàu nước mạnh, mọi người có cuộc sống ấm no, xã hội công bằng, vănminh Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, thế giới phát triển như vũbão về nhiều mặt qua đó làm vấn đề năng lượng ngày càng trở nên cấpthiết và trầm trọng, sự cạnh tranh khốc liệt về năng lượng được thểhiện hầu hết qua những cuộc đối đầu về kinh tế, chính trị, quận sự,…của mỗi quốc gia và giữa các quốc gia, kéo theo đó là sự thay đổi vềnhân cách sống, về giá trị đạo đức của mỗi con người,….Vậy phải làmthế nào để có thể trị quốc một cách đúng đắn, vừa giúp nội lực đấtnước phát triển vừa nâng cao vị thế quốc gia trên trường đối ngoại
Chính vì vậy ta sẽ tìm hiểu về “Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử và
vấn đề kết hợp giữa pháp trị và đức trị trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay”.
Dù rất tâm huyết với đề tài nhưng do đây là vấn đề khá rộng, nên
sẽ còn khá nhiều khiếm khuyết trong quá trình nghiên cứu Chỉ monggóp một phần nào đó để làm rõ vấn đề trên theo cách nhìn nhận chủquan của người viết
Xin chân thành cảm ơn
Trang 3CHƯƠNG I: PHÁP GIA VÀ TƯ TƯỞNG HÀN PHI TỬ
1 Triết học Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc:
1.1 Bối cảnh lịch sử Trung Hoa thời Xuân Thu – Chiến Quốc:
- Lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ được nói đến nhiều nhất: Xuân thu vàChiến quốc
Thời Xuân thu (770-403 TCN) là thời kỳ suy tàn của nhà Chu, đây chính là thời kỳ sinh sống của Lão Tử, Khổng Tử (551-479 TCN).
Thời Chiến quốc (403-221 TCN) từ gần cuối đời Uy Liệt Vương, tới khi
nhà Tần diệt nhà Tề thống nhất đất nước, đó là thời kỳ sinh sống của Hàn Phi
Tử (280-233 TCN).
- So với thời Xuân Thu thì Chiến Quốc loạn lạc và bất ổn định hơn về chính trị,nhưng lại phát triển hơn về kinh tế Trong thời Xuân Thu, công cụ sản xuất và khígiới chủ yếu là bằng đồng Sắt bắt đầu được dùng cuối thời kỳ này và trở nên thôngdụng vào thời Chiến Quốc, do đó, thúc đẩy việc mở rộng đất đai nông nghiệp, tăngnăng suất lao động Đây là thời kỳ đạo đức suy đồi, người ta chỉ tìm mọi cách đểtranh lợi Quan lại tham nhũng, ăn chơi xa hoa truỵ lạc, chiến tranh kéo dài liênmiên khiến cho đời sống của nhân dân càng thêm đói khổ cùng cực Trước tìnhcảnh xã hội như vậy, tầng lớp quý tộc và tầng lớp trí thức có sự chia rẽ về tư tưởng.1.2 Tổng quan về triết học thời Xuân Thu – Chiến Quốc:
Thời Xuân Thu - Chiến Quốc chính là thời kỳ triết học Trung Quốc phát triển
rực rỡ về tư tưởng “bách gia chư tử”, “bách gia tranh minh” với hàng trăm trường
phái, được chia ra làm 3 dòng tư tưởng chính cùng tồn tại, đó là:
- Phái Nho gia và Mặc Tử Khổng Tử muốn khôi phục nhà Chu, còn Mặc
Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử lại mong có vị minh quân thay Chu thống nhất Trung
Hoa bằng chính sách “Đức trị” có sửa đổi ít nhiều.
- Phái Đạo gia muốn giảm thiểu, thậm chí giải tán chính quyền, sống tự
nhiên như thuở sơ khai, từ bỏ xã hội phong kiến để trở về xã hội nguyên thủychất phác, mơ ước cô lập cá nhân với xã hội để hòa tan con người vào đạo
Trang 4- Phái Pháp gia muốn dùng vũ lực lật đổ chế độ phong kiến phân tán và lập
ra chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế, thay “Vương đạo” của Mạnh bằng chính sách “Bá đạo” Mà trong đó Hàn Phi Tử là đại biểu xuất sắc nhất, là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia, ông có một vai trò đặc biệt trong sự nghiệp thống nhất đất nước và phát triển xã hội cuối thời Xuân Thu -Chiến Quốc Nội dung cơ bản của tư tưởng Pháp gia là đề cao vai trò của Phápluật và chủ trương dùng pháp luật hà khắc để trị nước Tư tưởng Pháp gia mặc
Khổng-dù chỉ nổi lên trong một thời gian ngắn nhưng vẫn có giá trị lịch sử lâu dài và
có ý nghĩa đến tận ngày nay
Khổng Tử (Nho gia) Trang Tử (Đạo gia) Hàn Phi Tử (Pháp gia)
2 Lịch sử phát triển của phái “Pháp gia” :
Học thuyết pháp trị của Phái pháp gia hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳbởi các tác giả xuất sắc như: Quản Trọng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Ưởng
và được hoàn thiện bởi Hàn Phi Tử Để hiểu một cách tương đối có hệ thống vềđường lối trị nước của phái Pháp gia ta cần phải tìm hiểu tư tưởng cơ bản của cácnhà pháp trị đã nêu trên cũng như những những luận chứng khá thuyết phục về sựcần thiết của đường lối Pháp trị:
- Quản Trọng (thế kỷ VI TCN) là người nước Tề, vốn xuất thân từ giới bình dân
nhưng rất có tài chính trị, được coi là người đầu tiên bàn về vai trò của pháp luậtnhư là phương cách trị nước Tư tưởng về pháp trị của Quản Trọng được ghi trong
bộ Quản Tử, bao gồm 4 điểm chủ yếu sau:
Trang 5 Một là, mục đích trị quốc là làm cho phú quốc binh cường "Kho lẫm đầy rồimới biết lễ tiết, y thực đủ mới biết vinh nhục"
Hai là, muốn có phú quốc binh cường một mặt phải phát triển nông, côngthương nghiệp, mặt khác phải đặt ra và thực hiện lệ chuộc tội: "Tội nặng thì
chuộc bằng một cái tê giáp (áo giáp bằng da con tê); tội nhẹ thì chuộc bằng một cái qui thuẫn (cái thuẫn bằng mai rùa); tội nhỏ thì nộp kinh phí; tội còn nghi thì
tha hẳn; còn hai bên thưa kiện nhau mà bên nào cũng có lỗi một phần thì bắtnộp mỗi bên một bó tên rồi xử hòa"
Ba là, chủ trương phép trị nước phải đề cao "Luật, hình, lệnh, chính" Luật
là để định danh phận cho mỗi người, Lệnh là để cho dân biết việc mà làm, Hình
là để trừng trị những kẻ làm trái luật và lệnh, Chính là để sửa cho dân theođường ngay lẽ phải
Bốn là, trong khi đề cao luật pháp, cần chú trọng đến đạo đức, lễ, nghĩa,liêm trong phép trị nước Như vậy có thể thấy rằng Quản Trọng chính là thủy
tổ của Pháp gia, đồng thời ông cũng là cầu nối Nho gia với Pháp gia
- Sau Quản Trọng phải kể đến Thân Bất Hại (401-337 TCN), là người nước Trịnh
chuyên học về hình danh, làm quan đến bậc tướng quốc Thân Bất Hại đưa ra chủtrương ly khai "Đạo đức" chống "Lễ" và đề cao "Thuật" trong phép trị nước
- Một đại biểu nữa của phái Pháp gia thời kỳ này là Thận Đáo (370-290 TCN),
ông là người nước Triệu và chịu ảnh hưởng một số tư tưởng triết học về đạo củaLão Tử, nhưng về chính trị ông lại đề xướng đường lối trị nước bằng pháp luật.Thận Đáo cho rằng Pháp luật phải khách quan như vật "vô vi" và điều đó loại trừthiên kiến chủ quan, riêng tư của người cầm quyền Phải nói rằng đây là một tưtưởng khá tiến bộ mà sau này Hàn Phi đã tiếp thu và hoàn thiện Trong phép trịnước, đặc biệt Thận Đáo đề cao vai trò của "Thế" Ông cho rằng: "Người hiền màchịu khuất kẻ bất tiếu là vì quyền thế nhẹ, địa vị thấp: kẻ bất tiếu mà phục đượcngười hiền vì quyền trọng vị cao Nghiêu hồi còn làm dân thường thì không trị được
ba người mà Kiệt khi làm thiên tử có thể làm loạn cả thiên hạ, do đó biết rằng quyền
Trang 6thế và địa vị đủ để nhờ cậy được mà bậc hiền, trí không đủ cho ta hâm mộ Cây náyếu mà bắn được mũi tên lên cao là nhờ sức gió đưa đi, kẻ bất tiếu mà lệnh ban rađược thi hành là nhờ sức giúp đỡ của quần chúng, do đó mà xét thì hiền và trí không
đủ cho đám đông phục tùng, mà quyền thế và địa vị đủ khuất phục được ngườihiền"
- Cùng thời với Thận Đáo, có một người cũng nêu cao tư tưởng Pháp trị, đó là Thương Ưởng Ông đã hai lần giúp vua Tần cải cách pháp luật hành chính và kinh
tế làm cho nước Tần trở nên hùng mạnh Trong phép trị nước Thương Ưởng đề cao
"pháp" theo nguyên tắc "Dĩ hình khử hình" (dùng hình phạt để trừ bỏ hình phạm)
Theo ông pháp luật phải nghiêm và ban bố cho dân ai cũng biết, kẻ trên người dưới đều phải thi hành, ai có tội thì phạt và phạt cho thật nặng Trong chính sách thực tiễn, ông chủ trương: Tổ chức liên gia và cáo gian lẫn nhau, khuyến khích khai hoang, cày cấy, nuôi tằm, dệt lụa, thưởng người có công, phạt người phạm tội Quý tộc mà không có công thì sẽ hạ xuống làm người thường dân Ông cũng là người đã thực hiện cải cách luật pháp, thi hành một thứ thuế thống nhất, dụng cụ đo lường thống nhất nhờ đó chỉ sau một thời gian ngắn, nước Tần đã mạnh hẳn lên và lần lượt thôn tính được nhiều nước khác
- Cuối cùng phải kể đến Hàn Phi, người có công tổng kết và hoàn thiện tư tưởngtrị nước của pháp gia Trước hết Hàn Phi đề cao vai trò của pháp trị Theo ông, thờithế hoàn cảnh đã thay đổi thì phép trị nước không thể viện dẫn theo "Đức trị" củaNho gia, "Kiêm ái" của Mặc gia, "Vô vi nhi trị" của Đạo gia như trước nữa mà cầnphải dùng Pháp trị Hàn Phi đưa ra quan điểm tiến hóa về lịch sử, ông cho rằng lịch
sử xã hội luôn trong quá trình tiến hoá và trong mỗi thời kỳ lịch sử thì mỗi xã hội cónhững đặc điểm dấu ấn riêng Do vậy, không có một phương pháp cai trị vĩnh viễn,cũng như không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng trong hệ thống chính trị tồn tạihàng ngàn năm Từ đó, ông đã phát triển và hoàn thiện tư tưởng pháp gia thành mộtđường lối trị nước khá hoàn chỉnh và thích ứng với thời đại lúc bấy giờ
Trang 73 Hàn Phi Tử và “học thuyết Đế Vương” :
3.1 Vài nét về Hàn Phi Tử:
Hàn Phi Tử là nhà triết học, người tập hập các học thuyết luật học và là nhà
Tản văn nổi tiếng trong thời chiến quốc Trung Quốc (475-221 TCN) Ông đã sáng
lập ra học thuyết luật học, trở thành cơ sở lý luận cho sự ra đời của nhà nước chế độtập quyền trung ương chuyên chế thống nhất đầu tiên ở Trung Quốc
Hàn Phi (280-233 TCN) sống trong giai đoạn Tần Thủy Hoàng đang thốngnhất Trung Hoa Ông thuộc dòng dõi quý tộc nước Hàn, Hàn Phi là con vua nhưngkhông phải người thừa kế ngai vàng Điều đó giúp ông thấu hiểu các quan hệ giữavua tôi và cách trị nước
Hàn Phi và Lý Tư đều học với Tuân Khanh (Tuân Tử) Lý Tư tự cho mình
kém Hàn Phi, nhưng Hàn Phi và Lý Tư đều đóng vai trò trong việc giúp Tần ThủyHoàng thống nhất Trung Quốc Cả hai đều theo pháp gia, chịu ảnh hưởng của Mặc
Tử (Mặc Tử trước kia đã chủ trương "thượng đồng", nghĩa là bắt dân phải tán
đồng lẽ phải với người trên, phải cùng một quan niệm tốt xấu với người trên Không
ai được có chủ trương riêng khác với chính sách của triều đình).
Khi Tần Thủy Hoàng sắp cất quân đánh Hàn, Hàn Phi được cử làm sứ giảsang nước Tần với nhiệm vụ cứu nước Hàn khỏi họa diệt vong Nhưng ông sangTần không phải để sống, mà là để chết
Lý Tư bạn học của Hàn Phi, lúc này là quân sư của Tần Thủy Hoàng, đã dùngmưu hãm hại Hàn Phi Hàn Phi bị giam vào ngục, sau đó được vua Tần ra lệnh trả
tự do vì phục tài ông, nhưng Lý Tư quyết tâm hại bạn đến cùng, bắt ông uống thuốcđộc chết trong ngục để trừ khử “con người giỏi nhất về chính trị thời đại” lúc đó.Hàn Phi đón nhận cái chết thế nào cũng đến với kẻ sĩ biết đề cao pháp luật và thuật
trị nước Ông gửi tất cả tâm hồn và tinh lực vào tác phẩm “Hàn Phi Tử” mà ông tin
là sẽ sống mãi với đời Khi đọc tác phẩm này, Tần Thủy Hoàng thốt lên thán phục:
“Ta được làm bạn với con người này thì có chết cũng không uổng!”
Hàn Phi có tật nói ngọng, không biện luận khá nhưng giỏi về mặt viết sách
Các bài viết của Hàn Phi Tử phân tích rất sắc bén Chẳng hạn như khi phân tích về
Trang 8những điều mà nhà nước có thể diệt vong ông đã nêu ra tới 47 điều, quả là điềuhiếm có Còn hai chương có tiêu đề “Nan ngôn” “Thuyết nan”, ông đã phân tíchmột cách cặn kẽ tâm lý con người cũng như né trách những điều gây phật ý HànPhi Tử còn vận dụng rất nhiều câu chuyện ngụ ngôn và kiến thức lịch sử phong phú
để làm tư liệu luận chứng, nói lên đạo lý trừu tượng, thể hiện một cách hình tượng
tư tưởng luật học và những nhận biết sâu sắc của ông đối với xã hội Trong các bàiviết của ông có rất nhiều mẩu chuyện ngụ ngôn, có nội hàm phong phú, sinh động
đã trở thành những điển tích truyền miệng của mọi người, đến nay vẫn được sửdụng rộng rãi
3.2 Tư tưởng “Pháp trị” của Hàn Phi Tử :
Với tác phẩm “Hàn Phi Tử”, Hàn Phi đã chính thức khai sinh học thuyết pháp
trị của phương Đông, đồng thời đưa ra lời giải cho bài toán lịch sử hóc búa Hàn Phi
đã kết hợp các yếu tố “thuật”, “thế”, “pháp” của Thân Bất Hại, Thận Đáo, Thương
Ưởng, hoàn thiện tư tưởng pháp trị của các bậc tiền bối đã khai sinh ra nó là QuảnTrọng và Tử Sản để xây dựng thành học thuyết chính trị độc lập
Nội dung cốt lõi của học thuyết pháp trị là đề cao pháp luật với tư cách là công
cụ quan trọng nhất, hữu hiệu nhất trong việc bình ổn xã hội. “Cái làm cho trị an là
pháp luật, cái gây ra loạn là sự riêng tư Pháp luật đã thiết lập rồi thì không ai có thể làm điều riêng tư được nữa”.
Hàn Phi khẳng định, việc trị nước, quản dân không thể dựa theo lễ nghi truyềnthống mà phải được thực hiện trên cơ sở những đạo luật cụ thể và chặt chẽ Bởi lẽ,
“…pháp luật không hùa theo người sang… Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôncũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh Trừng trị cái sai không tránh kẻđại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu…”
Pháp trị là học thuyết duy nhất có sự kế thừa, hàm chứa những yếu tố củanhững học thuyết khác nhiều nhất, nhờ đó tạo ra một phương thức giải quyết vữngchắc, toàn vẹn và thực tế nhất trong vấn đề trị quốc: Lễ nghĩa, danh phận của Nhogia được cụ thể hóa trong pháp luật; Vô vi của Lão gia được chuyển hóa thành quan
hệ biện chứng vô vi - hữu vi; Kiêm ái của Mặc gia tuy là nội dung yếm thế nhất của
Trang 9học thuyết pháp trị, nhưng Hàn Phi vẫn coi đây là mục đích cuối cùng của phápluật.
Nhờ học thuyết pháp trị, Tần Thủy Hoàng đã chấm dứt cục diện bách gia phântranh thời tiên Tần, thống nhất Trung Quốc và xây dựng chế độ quân chủ chuyênchế trung ương tập quyền đầu tiên tại Trung Quốc
Thực hành pháp trị tất phải xây dựng pháp luật Hàn Phi cho rằng, lập phápcần phải xét đến các nguyên tắc sau:
- Tính tư lợi : Hàn Phi quan niệm nền tảng của quan hệ giữa con người vớicon người là tư lợi, ai cũng muốn giành cái lợi cho mình “Ông thầy thuốckhéo hút mủ ở vết thương người ta, ngậm máu người ta không phải vì có tìnhthương cốt nhục, chẳng qua làm thế thì có lợi Cho nên, người bán cỗ xe làmxong cỗ xe thì muốn người ta giàu sang Người thợ mộc đóng xong quan tàithì muốn người ta chết non Đó không phải vì người thợ đóng cỗ xe có lòngnhân, còn người thợ đóng quan tài không phải ghét người ta, nhưng cái lợi củaanh ta là ở chỗ người ta chết” Luật pháp đặt ra thì cái lợi của nó phải lớn hơncái hại
- Hợp với thời thế : Đây chính là thuyết biến pháp của Hàn Phi Nguyên tắcthực tế của việc xây dựng pháp luật, hay tính thực tiễn của luật pháp, là nét nổibật trong tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Đối với ông, không có một pháp luậtsiêu hình hay một mô hình pháp luật trừu tượng tiên thiên để mà noi theo Chỉduy nhất có yêu cầu và tiêu chuẩn của thực tiễn “Pháp luật thay đổi theo thờithì trị; việc cai trị thích hợp theo thời thì có công lao Thời thế thay đổi màcách cai trị không thay đổi thì sinh loạn Cho nên, bậc thánh nhân trị dân thìpháp luật theo thời mà thay đổi và sự ngăn cấm theo khả năng mà thay đổi”
- Ổn định, thống nhất : Mặc dù pháp luật phải thay đổi cho hợp với thời thế,song trong một thời kỳ, pháp lệnh đã đặt ra thì không được tùy tiện thay đổi,khiến dân chúng không những không thể theo, mà còn tạo cơ hội cho bọn gianthần
- Phù hợp với tình người, dễ biết dễ làm
Trang 10- Đơn giản mà đầy đủ
- Thưởng hậu phạt nặng :
Đối với việc chấp pháp, nguyên tắc của Hàn Phi là:
- Tăng cường giáo dục pháp chế, tức là “dĩ pháp vi giáo”
- Mọi người, ai ai cũng bình đẳng trước pháp luật, tức “pháp bất a quý”,
“hình bất tị đại thần, thưởng thiện bất di tứ phu” Đến bản thân bậc quân chủ –nhà vua – cũng phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật: “Kẻ làm vua chúa là kẻphải giữ pháp luật, căn cứ vào kết quả mà xét để lập công lao”; Nếu nhà vuabiết bỏ điều riêng tư, làm theo phép công thì chẳng những dân sẽ được yên,
mà nước cũng được trị Nếu xét theo ý nghĩa của những luận điểm này thì cóthể thấy rằng, mặc dù Hàn Phi chủ trương quân quyền thần thánh không thểxâm phạm, song hình thái quân quyền này vẫn bị chế ước bởi pháp quyền
- Nghiêm khắc cẩn thận, “tín thưởng tất phạt”, không được tùy ý thưởngcho người không có công, vô cớ sát hại người vô tội
- Dùng sức mạnh đạo đức hỗ trợ cho việc thi hành pháp luật
3.3 Học thuyết “Đế Vương” của Hàn Phi:
Xuyên suốt 40 quyển của bộ Hàn Phi Tử, bên cạnh việc chứng minh hiệu lực
tối ưu của pháp luật trong việc trị nước bằng những câu chuyện sinh động, Hàn Phicòn đưa ra rất nhiều lời khuyên có giá trị cho bậc quân vương
- Để giữ yên ngai vàng, Hàn Phi khuyên nhà vua phải biết giữ mình “Nhà
vua chớ để lộ cho người ta biết mình muốn gì, vì nếu nhà vua để lộ cho người
ta biết mình muốn gì thì bọn bầy tôi thế nào cũng tô vẽ Nhà vua chớ để lộ ý của mình, vì nếu nhà vua để lộ ý của mình thì bọn bầy tôi thế nào cũng biểu lộ cái khác với bản tính của họ” Làm được như vậy thì: “Nhà vua không giỏi mà làm thầy những người giỏi, không khôn ngoan mà làm chuẩn mực cho sự khôn ngoan Bầy tôi phải vất vả mà nhà vua hưởng sự thành công”.
- Để dựng nước và giữ nước, bậc làm vua phải biết sử dụng thứ công cụ
“vạn năng” là pháp luật.“Phải dựa vào cái khiến cho những người nhát có
Trang 11thể chinh phục được con hổ và cái làm cho vị vua tầm thường có thể gìn giữ nước Đó chính là pháp luật Lo cái kế trung cho vị vua chúa, kế đức với thiên
hạ thì cái lợi không gì lâu dài hơn pháp luật”.
- Nhà vua cũng phải biết cách dùng người, dụng nhân như dụng mộc, tập
hợp quanh mình bầy tôi giỏi để có thể trị quốc an dân “Kẻ làm vua chúa nếu
có thể bỏ được cái điều mà người giỏi cũng không làm được để giữ lấy cái mà người vụng làm vạn điều không sai một thì sức người dùng được hết mà công danh được xác lập”.
- Một trong những bài học quan trọng nhất đối với bậc quân vương là phải
hiểu được lòng dân Hàn Phi chỉ rõ: “phàm việc nước thì điều phải lo trước
tiên là thống nhất lòng dân, nếu không nước tắc loạn” Hiểu rõ bản tính của
dân, từ đó có cách cai trị thích hợp để nước thịnh dân an, đó là cái gốc củanghiệp vương vậy
Làm vua không đã khó, trở thành vị vua giỏi còn khó hơn nhiều Hàn Phi đúckết rằng, phần nhiều những kẻ lập quốc dùng dân, có thể ngăn chặn ảnh hưởng củabên ngoài, khống chế cái riêng tư của bề tôi, “làm vương” được, xét đến cùng,
đều tự nhờ cậy vào sức mình là chính.
Học giả Nguyễn Hiến Lê đã đánh giá tác phẩm “Hàn Phi Tử” của Hàn Phi còn cao hơn cả “Quân vương” của Nicolò Machiavelli cả về tư tưởng lẫn bút pháp.
Hai cuốn sách của hai bậc thầy tư tưởng vĩ đại, một của phương Đông và một củaphương Tây, tuy nội dung khác nhau, nhưng đều để lại cho hậu thế những bài học
về “phép làm vua” và “thuật trị nước” mang giá trị đương đại sâu sắc