1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ tự kỷ tại trung tâm giáo dục chuyên biệt quận tây hồ, hà nội

118 217 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ---o0o--- BÙI THỊ DUYÊN HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC CHUYÊN BIỆT QUẬN TÂY HỒ- H

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-o0o -

BÙI THỊ DUYÊN

HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG

GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC

CHUYÊN BIỆT QUẬN TÂY HỒ- HÀ NỘI

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền

HÀ NỘI 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 05 năm 2017 Tác giả luận văn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đề tài khoa học “Huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ

Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt Quận Tây Hồ, TP.Hà Nội” là

một đề tài mà tôi rất tâm huyết Trên cơ sở lý luận, vốn kiến thức đã được lĩnh hội trong quá trình học tập và nghiên cứu, được sự giảng dạy, hướng dẫn của các thầy cô giáo, sự cộng tác giúp đỡ của các đồng nghiệp Luận văn tốt nghiệp của tôi đã được hoàn thành

Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy

và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập Xin cảm ơn Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận Tây Hồ, cán bộ quản lý các trung tâm giáo dục chuyên biệt trên địa bàn Quận Tây Hồ, các cơ quan ban ngành liên quan, bạn bè đồng nghiệp đã giúp

đỡ, động viên tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền- người đã quan tâm và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện một cách tốt hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Tác giả

Bùi Thị Duyên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Đóng góp mới của luận văn 4

9 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC CHUYÊN BIỆT 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về giáo dục trẻ Tự kỷ 5

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ 8

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 10

1.2.1 Cộng đồng, nguồn lực cộng đồng, huy động nguồn lực cộng đồng 10

1.2.3 Trung tâm giáo dục chuyên biệt 14

1.2.4 Huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt 15

1.3 Một số vấn đề về giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt 16

1.3.1 Đặc điểm của trẻ Tự kỷ 16

1.3.3 Nội dung giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt 21

1.3.4 Phương pháp giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt 21

Trang 5

1.3.5 Hình thức giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt 22

1.3.6 Các lực lượng tham gia giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt 25

1.4 Một số vấn đề về huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt 26

1.4.1 Mục đích của huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ 26

1.4.2 Nguyên tắc huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ 28

1.4.3 Nội dung huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ 29

1.4.4 Hình thức huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ 30

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUồN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC CHUYÊN BIỆT QUẬN TÂY HỒ- HÀ NỘI 34

2.1 Một vài nét về địa bàn nghiên cứu 34

2.1.1 Một vài nét về quận Tây Hồ 34

2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 35

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 35

2.2.2 Nội dung khảo sát 35

2.2.3 Đối tượng khảo sát 36

2.2.4 Phương pháp khảo sát 36

2.3 Thực trạng giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ 36

2.3.1 Thực trạng về các nội dung giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ 36

Trang 6

2.3.2 Thực trạng về các phương pháp giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung

tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ 38

2.3.3 Thực trạng về các hình thức tổ chức giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ 40

2.3.4 Thực trạng về lực lượng giáo dục tham gia giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ 43

2.4 Thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ 45

2.4.1 Thực trạng nhận thức của các lực lượng giáo dục về việc huy dộng các nguồn lực trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ 45

2.4.2 Thực trạng nội dung huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ 47

2.4.3 Thực trạng các hình thức huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ 60

2.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ 62

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64

Chương 3: BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TRONG GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC CHUYÊN BIỆT QUẬN TÂY HỒ 65

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 65

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo phát huy sự phối hợp của cộng đồng 65

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 65

Trang 7

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 65

3.1.4 Nguyên tắt đảm bảo tính hiệu quả 66

3.2 Biện pháp huy động nguồn lực trong giáo dục trẻ tự kỷ tại TT giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ - Hà Nội 66

3.2.1 Biện pháp 1: 66

3.2.2 Biện pháp 2 71

3.2.3 Biện pháp 3 75

3.2.4 Biện pháp 4: 76

3.2.5 Biện pháp 5: 78

3.2.6 Mối quan hệ giữa các biện pháp 80

3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 84

3.4.1- Mục đích khảo nghiệm: 84

3.4.2- Đối tượng xin ý kiến: 84

3.4.3 - Quy trình lấy ý kiến 84

3.4.4- Kết quả khảo nghiệm 84

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 96

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội 37Bảng 2.2: Thực trạng việc sử dụng phương pháp giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, thành phố hà Nội 39Bảng 2.3: Thực trạng về các hình thức tổ chức giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội 41Bảng 2.4 Thực trạng về việc phối hợp các lực lượng tham gia công tác giáo dục trẻ

Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, TP Hà Nội 44Bảng 2.5 Thực trạng nhận thức của các lực lượng giáo dục về mục đích huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt Quận Tây Hồ, TP Hà Nội 45Bảng 2.6 Thực trạng về nội dung huy động nguồn lực cộng đồng tham gia giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, Hà Nội 47Bảng 2 7: Thực trạng nội dung huy động nguồn nhân lực trong công tác giáo trẻ Tự kỷ tại các trung tâm chuyên biệt thuộc quận Tây Hồ, TP.Hà Nội 49Bảng 2.8: Thực trạng huy động về cơ sở vật chất trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ - TP Hà Nội 52Bảng 2.9: Thực trạng các biện pháp chỉ đạo huy động nguồn tài chính phục vụ cho công tác giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt trên địa bàn quận Tây Hồ - TP Hà Nội 55Bảng 2.10: Thực trạng huy động nguồn tài chính ớ các trung tâm giáo dục chuyên biệt trên địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội 57Bảng 2 11: Thực trạng huy động về các nguồn thông tin trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt thuộc địa bàn quận Tây Hồ - TP Hà Nội 58

Trang 9

Bảng 2.12: Thực trạng các hình thức huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội 61Bảng 2.13: Thực trạng đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến huy động cộng đồng tham gia công tác giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm chuyên biệt quận Tây Hồ - TP Hà Nội 63Bảng 3.1: Đánh giá của lãnh đạo các cấp, cán bộ quản lý các nhà trường giáo viên về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 85Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã

đề xuất 86

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Bản chất của huy động các lực lượng trong cộng đồng cho GD 15 Biểu đồ 2 Mối quan hệ giữa các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trẻ

Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt trên địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội 83

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ đặc biệt nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng

đã và đang được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm Điều này được thể hiện ở các văn bản mang tính pháp qui của Đảng, Nhà nước và những chương trình dự án về trẻ khuyết tật Vì vậy, giáo dục đặc biệt ngày càng huy động được sự tham gia của các lực lượng trong xã hội Mỗi nguồn lực giữ một vai trò, nhiệm vụ riêng nhằm mục đích cuối cùng là giúp các trẻ tự kỷ có thể hòa nhập với cuộc sống cộng đồng Để thực hiện được mục đích đó, công cuộc can thiệp, giáo dục cho trẻ tự kỷ không thể thiếu vai trò của các cơ quan đoàn thể trong xã hội, sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên với gia đình, giữa các giáo viên với nhau và giữa các chuyên viên về tâm lý, chuyên viên về giáo dục, chuyên viên về âm ngữ trị liệu, chuyên viên tâm vận động với nhau

Cho đến nay, Hội chứng tự kỷ ngày càng được phát hiện nhiều hơn ở Việt Nam và đây là một vấn đề không còn quá mới mẻ như trước nữa nhưng sự hiểu biết về dạng tật này của cộng đồng còn rất nhiều hạn chế, đôi khi là cái nhìn miệt thị, coi thường, chế nhạo đối với trẻ tự kỷ và gia đình có con tự kỷ Trách nhiệm này thuộc về các cơ quan, đoàn thể trong xã hội để trẻ tự kỷ được quyền tôn trọng, được hưởng mọi quyền lợi như bao trẻ em bình thường khác

Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục cho trẻ tự kỷ Gia đình- môi trường giáo dục gần gũi nhất của các em, nơi mà tình yêu thương, trách nhiệm, sự đầu tư về nhiều mặt của cha mẹ luôn là nguồn lực cho công tác giáo dục Là lực lượng không thể thiếu trong giáo dục song cha mẹ là những người thiếu kiến thức và kỹ năng đặc thù Vì vậy, cha mẹ cần được sự trợ giúp, chia sẻ từ phía giáo viên Bên cạnh đó, giáo viên cần được cung cấp thông tin về những đặc điểm, nhu cầu của trẻ từ cha mẹ hơn nữa, để đem lại hiệu quả trong giáo dục trẻ, giáo viên

và cha mẹ phải thống nhất với nhau trong việc đặt ra mục tiêu, xây dựng nội

Trang 12

dung và lựa chọn phương pháp giáo dục thích hợp với trẻ Do đó, sự phối hợp giữa cha mẹ và giáo viên là vô cùng cần thiết, cần có những cách thức phối hợp cụ thể, hữu ích nhằm tăng cường hiệu quả của sự phối hợp này

Một lực lượng không thể không nhắc đến trong việc can thiệp, giáo dục cho trẻ Tự kỷ là đội ngũ chuyên viên về tâm lý, giáo dục, vận động, âm ngữ trị liệu Mỗi chuyên gia phụ trách một vấn đề riêng của trẻ Chính vì vậy, để trẻ phát triển tốt, phải có sự hỗ trợ, phối hợp của các chuyên gia với nhau

Hiện nay, ở Việt Nam và trên thế giới chưa tìm ra được phương pháp nào hoàn toàn phù hợp và hiệu quả để áp dụng chung cho mọi trẻ tự kỷ Công tác can thiệp, giáo dục cho trẻ gặp rất nhiều khó khăn Sự phối hợp giữa các nguồn lực cộng đồng còn lỏng lẻo, hời hợt, chưa thực sự hiệu quả và chưa có tính hệ thống Chính vì vậy, sự phối hợp giữa các nguồn lực này trong việc giáo dục trẻ là một việc làm cấp bách Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể huy động các nguồn lực đó trong quá trình giáo dục trẻ?

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ tự kỷ tại Trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ - Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ tự kỷ tại Trung tâm chuyên biệt quận Tây Hồ, đề tài

đề xuất các biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ tự

kỷ tại các trung tâm giáo dục huyên biệt quận Tây Hồ, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ tự kỷ

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: quá trình huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục cho trẻ Tự kỷ tại Trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội

- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội

Trang 13

4 Giả thuyết khoa học

Trong những năm qua tại Quận Tây Hồ đã có sự chung tay, phối hợp của nhiều lực lượng khác nhau trong cộng đồng vào giáo dục trẻ tự kỷ nhưng hoạt động chưa đạt hiệu quả cao Nếu có những biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng một cách khoa học và phù hợp với đặc thù hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ thì sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ tự kỷ tại các Trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt

- Thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ tự kỷ tại Trung tâm chuyên biệt quận Tây Hồ

- Đề xuất một số biện pháp huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ tự kỷ tại Trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ

6 Phạm vi nghiên cứu

- Về địa bàn: Nghiên cứu tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt trên

địa bàn quận Tây Hồ - TP Hà Hội

- Về khách thể nghiên cứu: Các tổ chức xã hội, chính trị trên địa bàn quận Tây Hồ, cha mẹ có con Tự kỷ và giáo viên tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sưu tầm nghiên cứu các tài liệu, sách báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu; Phân tích so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát:

Quan sát các hình thức phối hợp của phụ huynh với giáo viên, giữa giáo viên với giáo viên, giữa các chuyên gia với nhau, giữa các lực lượng xã hội với trung tâm can thiệp nhằm thu thập các thông tin cần thiết để đánh giá thực trạng phối hợp giữa các nguồn lực cộng đồng

Trang 14

7.3 Phương pháp thống kê toán học: được sử dụng để tính toán, xử

lý số liệu thu được qua điều tra bảng hỏi

8 Đóng góp mới của luận văn

- Góp phần làm phong phú thêm lý luận về giáo dục trẻ Tự kỷ và huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, thành phố hà Nội

- Làm sáng tỏ thực trạng giáo dục trẻ Tự kỷ và thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, TP Hà Nội

- Đề xuất được 5 biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn của các trung tâm giáo dục chuyên biệt trên địa bàn quận Tây Hồ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ Tự kỷ nói chung cho các mô hình giáo dục chuyên biệt khác

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, các Phụ lục, nội dung nghiên cứu đề tài được kết cấu chủ yếu ở 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt

Chương 2: Thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, Hà Nội

Chương 3: Biện pháp huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt quận Tây Hồ, Hà Nội

Trang 15

Năm 1943 Leo kanner, một nhà tâm thần học thuộc trường Đại hoc John Hopkins ở Baltimore (Mỹ) lần đầu tiên đưa ra khái niệm và đặt tên cho hội chứng này là “ Hội chứng Kanner” hay “ tự kỷ thời kì ấu nhi- early infatile autism”[13]

Năm 1971, Reichler và Schopler đã xây dựng bộ công cụ “ Thang đánh giá tâm lý thời niên thiếu”[14]

Năm 1988, Reichler và Schopler đã xây dựng bộ công cụ “ thang đánh giá tự kỷ thời thơ ấu” (CARS)[15]

Năm 1995, dự án “ Hãy đẩy lùi Tự kỷ” – (Defeat autism Now!- DAN) của Viện nghiên cứu Tự kỷ Mỹ ra đời [16] Hội nghị về dự án này được tổ chúc thường niên lần lượt ở hơn 20 nước trên thế giới, lần gần đây nhất là vào tháng 10 năm 2002 tại San Diego- Mỹ

Năm 1996, cuốn sách “ Phương pháp lựa chọn đánh giá lâm sàng” được viện nghiên cứu Tự kỷ Mỹ xuất bản lần đầu tiên [17]

Năm 2001, tài liệu “ Để hiểu chứng Tự kỷ” ra đời do nhóm tương trợ cha mẹ có con khuyết tật và CPTTT tại Sydney thực hiện [18]

Trang 16

- Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là Mỹ đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự kỷ, điển hình là họ đã thành lập một viện nghiên cứu

về Hội chứng Tự kỷ Đồng thời, viện nghiên cứu đã thành lập một website về Hội chứng trên internet và tất cả mọi người đều có thể lấy các thông tin về tự

kỷ bằng cách truy cập trang web này

Ở Việt Nam:

Có thể nói rằng, Tự kỷ đã trở thành một vấn đề mang tính xã hội, phổ biến

ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Trong những năm gần đây, nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trẻ Tự kỷ, góp phần phong phú

thêm kho tàng kiến thức, nâng cao hiểu biết cho mọi người và xã hội

- Năm 2009, tác giả Ngô Xuân Điệp đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ chuyên ngành Tâm lý học với công trình “ Nghiên cứu nhận thức của trẻ Tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh” [1] Công trình này đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề nhận thức của trẻ Tự kỷ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Từ đó, cho chúng ta cách hiểu và nhìn nhận sâu sắc về nhận thức của trẻ cũng như có những biện pháp can thiệp phù hợp để cải thiện và phát

triển nhận thức cho trẻ Tự kỷ

- Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Thanh đã thành công với Luận án Tiến sỹ chuyên ngành Giáo dục học với công trình nghiên cứu “Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Tự kỷ 3-4 tuổi” [2] Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết thấu đáo về kỹ năng giao tiếp - một trong những kỹ năng còn nhiều hạn chế nhất của trẻ Tự

kỷ Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đề xuất một số biện pháp để phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Tự kỷ 3-4 tuổi Đây là một trong những đóng góp vô

cùng ý nghĩa với công cuộc giáo dục trẻ Tự kỷ nói chung

- Năm 2011, tác giả TRẦN THỊ MINH THƯ ĐÃ BẢO VỆ THÀNH

CÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ VỀ ĐỀ TÀI TỰ KỶ TẠI THỤY ĐIỂN với

Trang 17

Tên đề tài nghiên cứu là "Những cơ hội việc làm cho các bạn thanh niên tự kỷ

- một trường hợp của Việt Nam"[3] Có thể nói, việc làm với các thanh niên

Tự kỷ đang là một trong những vấn đề vô cùng nhức nhối đối với các cha mẹ trẻ và xã hội Chính vì vậy, công trình nghiên cứu của tác giả đã phần nào giải quyết những khúc mắc, trăn trở của rất nhiều gia đình có con Tự kỷ về vấn đề việc làm cho các em Tác giả cũng đã đưa ra các biện pháp để khắc phục và cải thiện tình trạng này Từ đó, cha mẹ cũng có cái nhìn lạc quan hơn về tương lai của con em mình

- Năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Thanh đã thành công với luận văn thạc sỹ Tâm lý học “ Phương pháp Tâm, vận động trong việc chăm chữa, giáo dục cho trẻ Tự kỷ”[4] Việc tìm ra phương pháp giáo dục phù hợp cho trẻ Tự

kỷ là vô cùng cần thiết và quan trọng Nó có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến hiệu quả của quá trình can thiệp Công trình nghiên cứu của tác giả

đã cho chúng ta những hiểu biết nhất định về đặc điểm, nội dung, cách thức thực hiện, ý nghĩa, vai trò của phương pháp tâm, vận động trong can thiệp cho trẻ Tự kỷ Tác giả cũng đã khảo nghiệm được tính khả thi của phương pháp này trong những điều kiện thực tiễn cụ thể

- Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm đã nghiên cứu thành công luận văn “HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ TRẺ TỰ KỶ THÍCH NGHI VỚI QUÁ TRÌNH HÒA NHẬP TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC CỦA TRUNG TÂM HAND IN HAND”[5] Mục đích cuối cùng của quá trình can thiệp là trẻ có thể hòa nhập với cộng đồng xã hội một cách hiệu quả nhất Nhưng công cuộc này đòi hỏi sự chung tay của tất cả các ban ngành, đòan thể, cá nhân trong xã hội thì việc hòa nhập của trẻ mới thực sự có

ý nghĩa Công trình nghiên cứu này đã đề xuất các biện pháp hỗ trợ để trẻ Tự

kỷ có thể hòa nhập tại trường tiểu học, tạo điều kiện cho những bước tiến sau

này của trẻ trong tương lai

Trang 18

- Năm 2015 tác giả Nguyễn Phương Thảo ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Trường ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN đã thành công với luận văn Thạc sỹ, Tâm lý học: “ Kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ”[6] Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã đề cập đến những đặc điểm, khó khăn về kỹ năng giao tiếp của trẻ Tự kỷ Từ đó tác giả cũng đưa ra một số biện pháp để cải thiện, khắc phục và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ

- Bên cạnh đó, còn rất nhiều đề tài nghiên cứu về trẻ Tự kỷ của sinh viên các chuyên ngành tâm lý học, Giáo dục đặc biệt, Công tác xã hội tại các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước

Như vậy, vấn đề trẻ Tự kỷ đang ngày được toàn xã hội quan tâm một cách sâu rộng và đúng mực hơn trên mọi phương diện của cuộc sống

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ

- Các luật giáo dục của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Đức , các chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020 của nhiều nước trên thế giới đều coi trọng phương thức huy động nguồn lực cộng đồng cộng đồng Các nước thuộc khu vực Đông Nam Á và khối ASEAN cũng đang tích cực đẩy nhanh quá trình phát triển giáo dục bằng cách phát huy sức mạnh của cộng đồng trong việc tham gia phát triển giáo dục Tuy nhiên vấn đề huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ thực sự chưa được chú trọng nhiều Vì vậy, trên thế giới chưa có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này

- Cần nói ngay rằng, khái niệm huy động nguồn lực cộng đồng thường được hiểu là một bộ phận, một hoạt động của xã hội hoá sự nghiệp giáo dục

Chỉ từ những năm 1980 đến nay trong lĩnh vực khoa học quản lý mới nói đến cộng đồng Quan điểm của Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta

về sự tham gia của gia đình và xã hội vào sự nghiệp giáo dục là nền tảng cho

Trang 19

việc thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục huy động cộng đồng tham gia giáo dục là cốt lõi của quan điểm giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội Huy động cộng đồng đã có sức sống tiềm tàng trong truyền thống giáo dục của nhân dân ta suốt chiều dài lịch sử Tư tưởng dân là gốc, "lấy dân làm gốc" đã được kết tinh truyền thống và lưu thành bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong" (Bác Hồ)

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII; Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định xã hội hoá là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội

Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục được thể chế hoá bằng pháp luật thể hiện ở Luật Giáo dục là cơ sở pháp lý

để thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Tại Điều 1 về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, Luật này ghi rõ: "Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều

có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập

và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục , khuyến khích vận động và tạo điều kiện để tổ chức cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục" [7]

Ngày 18/4/2005 Chính Phủ đề ra Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về "Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, "để đẩy mạnh hơn nữa quá trình

xã hội hoá [8]

Vấn đề huy động nguồn lực cộng đồng để đầu tư cho giáo dục thực chất

là vấn đề tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, vấn đề này đã được nhiều sách báo đề cập, ở nước ta đã có một số nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục nghiên cứu lĩnh vực này Tuy nhiên, vẫn còn rất ít nghiên cứu tập trung vào vấn đề huy động nguồn lực cộng đồng, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục trẻ Tự

Trang 20

kỷ Do đó, cần thiết phải xem xét huy động cộng đồng từ góc độ khoa học quản lý giáo dục để làm rõ mối quan hệ giữa huy động cộng đồng và xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, các biện pháp huy động cộng đồng và cách cải tiến quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các biện pháp huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục

Tuy nhiên ở mỗi tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị xã có điều kiện địa

lý, đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau, nên hoạt động huy động nguồn lực cộng đồng tham gia xây dựng giáo dục và việc vận dụng những phương pháp huy động cũng mang những sắc thái riêng, đặc trưng cho địa phương đó

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1 Cộng đồng, nguồn lực cộng đồng, huy động nguồn lực cộng đồng

1.2.1.1 Cộng đồng

Theo tác giả Phạm Hồng Trung :“Cộng đồng” là một khái niệm đã và đang được sử dụng khá rộng rãi trên văn đàn khoa học, trong nhiều lĩnh vực như sử học, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học, triết học, nhân học, sinh học, nghiên cứu phát triển v.v… [9] Vì vậy, một yêu cầu khách quan đặt ra là phải

có những cách định nghĩa về khái niêm “cộng đồng” để xây dựng được một định nghĩa vừa đảm bảo tính chặt chẽ, khoa học, vừa có tính công cụ hay tính

“thao tác luận” (functionalist) cao, làm cơ sở và là công cụ cho những nghiên cứu về cộng đồng và các vấn đề có liên quan đến cộng đồng Đây là một vấn

đề đã được bàn thảo khá nhiều ở nước ngoài, song cón chưa được quan tâm thỏa đáng ở Việt Nam Thuật ngữ “cộng đồng” vốn bắt nguồn từ gốc tiếng Latin là “cummunitas”, với nghĩa là toàn bộ tín đồ của một tôn giáo hay toàn

bộ những người đi theo một thủ lĩnh nào đó Một số quan điểm cho rằng:

- Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người;

- Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc bản thể riêng;

Trang 21

- Các thành viên của cộng đồng phải tự cảm thấy có sự gắn kết với cộng đồng và với thành viên khác của cộng đồng;

- Có thể có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết cộng đồng, nhưng quan trọng nhất chính là sự thống nhất về ý chí và chia sẻ về tình cảm, tạo nên ý thức cộng đồng;

- Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng và có những quy tắc chế định hoạt động và ứng xử chung của cộng đồng;

Trên cơ sở những nội hàm như trên, có thể hiểu: Cộng đồng là tập hợp người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin

và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự cố

gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng

1.2.1.2 Nguồn lực cộng đồng

Nguồn lực cộng đồng: Nguồn là nguồn gốc; lực là sức mạnh; cộng đồng

là nhiều người họp lại, vậy nguồn lực cộng đồng là tập thể nhiều người là nguồn gốc và sức mạnh để thực hiện công việc nào đó việc nào đó

Căn cứ vào nguồn gốc, có thể phân chia Nguồn lực cộng đồng thành 3 loại:

- Nguồn lực tự nhiên: gồm có đất đai, rừng núi, nguồn nước, nguồn không khí và nhiều sản vật trên mặt đất và trong long đất: cây cối, song suối,

ao hồ…,thực vật và động vật nuôi dưỡng và động vật sinh vật tự nhiên

- Nguồn lực tài chính: ngân sách địa phương; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của cộng đồng, các quỹ vay vốn quay vòng, quỹ của các tổ chức trong cộng đồng; các khoản vay cần thiết từ ngân hang; kinh phí xin từ các chương trình dự án của nhà nước và của các tổ chức khác; các khoản đầu

tư sinh lời; hệ thống chính sách tài chính quốc gia mà cộng đồng có thể tiếp cận được

Trang 22

- Nguồn cơ sở hạ tầng hiện có của cộng đồng: Hệ thống đường xá, trường học, cơ sở y tế, hệ thống thông tin liên lạc; bưu điện, đường dây điện thoại, hệ thống cung cấp, truyền tải điện; trạm phát điện, trạm biến thế, hệ thống dây dẫn…Hệ thống thương mại buôn bán; chợ, cửa hang, cửa hiệu

1.2.1.3 Huy động nguồn lực cộng đồng

Huy động: nhằm chỉ cách làm, cách thực hiện một hoạt động xã hội

bằng con đường giác ngộ

Huy động nguồn lực cộng đồng: tổ chức huy động tổng lực sức mạnh của toàn dân cả về vật chất và tinh thần, làm cho tất cả các ngành, các giới, cũng như mỗi người dân đều nhận thấy đó là nhiệm vụ của chính mình, nên đều tự nguyện và tích cực phối hợp hành động thực hiện Đồng thời chính họ

là người hưởng thụ mọi thành quả do hoạt động đó đem lại

Có 4 tiêu chí sau trong công tác huy động nguồn lực cộng đồng:

+ Phát huy được sự tham gia tích cực và tự nguyện (về nhân lực, trí lực, vật lực, tài lực) của tất cả các tổ chức, cá nhân vào cùng thực hiện một hoạt động, nhằm góp phần không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của chính họ

+ Có sự phối hợp liên ngành để đạt mục đích chung và mục đích riêng của mỗi ngành với hiệu quả cao Sự phối hợp này không có tính chất nhất thời

mà mang tính chiến lược lâu dài

+ Nguồn lực vật chất huy động phục vụ cho hoạt động đó được đa dạng hoá: từ ngân sách nhà nước và các nguồn ngoài ngân sách

+ Có sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, quản lý của các cấp chính quyền một cách thường xuyên và chặt chẽ, đảm bảo cho hoạt động này phát triển

Như vậy, huy động nguồn lực cộng đồng là thuật ngữ được quy ước để chỉ cách làm cách thực hiện hoạt động giáo dục bằng con đường giác ngộ, tổ chức và huy động tổng lực sức mạnh của toàn dân làm cho hoạt động giáo dục không chỉ được thực hiện bởi ngành giáo dục Công việc giáo dục trẻ Tự

Trang 23

kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt không chỉ được thực hiện bởi đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy, công tác tại trung tâm, mà được tất cả các ngành, các giới, các lực lượng xã hội, cũng như mỗi người dân đều nhận thấy

đó là nhiệm vụ của chính mình nên đều tự nguyện, tự giác và tích cực phối

hợp hành động thực hiện

Huy động nguồn lực cộng đồng là quá trình tương tác giữa con người với con người, con người với xã hội Qua đó con người với tư cách là cá thể học hỏi, lĩnh hội, tiếp nhận quy tắc văn hoá của xã hội như: hành vi, giá trị, chuẩn mực văn hoá xã hội, kiến thức, kỹ năng, phương pháp để đóng góp phù hợp với vai trò, vị thế xã hội nhất định của mình Nhờ thế, con người dần dần hoà nhập vào xã hội

1.2.2 Trẻ Tự kỷ, giáo dục trẻ Tự kỷ

Trẻ Tự kỷ

Theo bách khoa toàn thƣ: Tự kỷ là một chứng rối loạn phát triển đặc

trưng bởi khiếm khuyết về mặt quan hệ nhân sinh, giao tiếp ngôn ngữ, giao

tiếp phi ngôn ngữ và hành vi sở thích hạn chế và lặp đi lặp lại

Theo chuyên trang của Liên hiệp quốc về tự kỷ :

h hạn hẹp và lặp đi lặp lại

Từ cách hiểu trên, theo chúng tôi: Tự kỷ là một phổ bao gồm những rối loạn về tâm lý - thần kinh Đây là rối loạn phát triển lan tỏa với mức độ từ nhẹ đến nặng, khởi phát sớm ở trẻ em trước 3 tuổi và diễn biến kéo dài cả cuộc đời - Biểu hiện tự kỷ bao gồm khiếm khuyết ở 3 lĩnh vực: 1 Tương tác xã hội 2 Giao tiếp 3 Hành vi định hình, ý thích thu hẹp - Thường kèm theo tăng động, chậm trí tuệ

Trang 24

Giáo dục trẻ Tự kỷ

Theo Bách khoa toàn thư, Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học

tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học.[1]

Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học

Theo tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: “ Giáo dục là một hiện tượng chỉ có trong xã hội loài người, bản chất của giáo dục là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lich sử, xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được

kế thừa, bổ sung, và trên cơ sở đó xã hội không ngừng tiến lên Hoạt động giáo dục ngày càng được tổ chức chặt chẽ, bài bản, hiệu quả, dựa trên những

cơ sở khoa học.” [10]

Theo tác giả Nguyễn Văn Hộ, Hà Thị Đức: “ Giáo dục là quá trình hình thành và phát triển nhân cách, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và giao lưu giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục nhằm truyền đạt những kinh nghiệm xã hội, lịch sử.” [11]

Từ cách hiểu về Giáo dục và trẻ Tự kỷ, theo chúng tôi, có thể hiểu: Giáo dục trẻ Tự kỷ là một hệ thống các tác động có mục đích xác định được

tổ chức một cách khoa học của nhà giáo dục, nhà trị liệu nhằm hạn chế, cải thiện những khiếm khuyết của trẻ, giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện, vươn tới mục đích cuối cùng là trẻ có thể hòa nhập cộng đồng xã hội cách tối ưu nhất

1.2.3 Trung tâm giáo dục chuyên biệt

Theo Thông tư liên tịch số 58/2012/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH ngày

28 tháng 12 năm 2012, chúng tôi thấy rằng: Giáo dục chuyên biệt là hình thức tách trẻ em có các dạng khuyết tật khác nhau vào học trong các cơ sở giáo

Trang 25

dục/trường riêng Trong đó, có thể trẻ cùng loại tật vào học chung một trường nhưng cũng có thể nhiều trẻ khuyết tật khác nhau vào học chung một trường Mỗi lớp học có nhiều trẻ khuyết tật ở những mức độ khuyết tật khác nhau, không giống nhau về năng lực Vì vậy, trẻ cần được học trong những trường

lớp riêng biệt, chương trình học riêng, phương tiện dạy - học riêng [12]

Như vậy, Trung tâm giáo dục chuyên biệt là môi trường học tập dành

riêng cho các trẻ bị một dạng rối loạn phát triển nào đó như Tự kỷ, CPTTT, tăng động giảm chú ý Tại đây, trẻ được các nhà chuyên môn đưa ra một phác đồ trị liệu phù hợp với nhu cầu, khả năng của từng trẻ và được đánh giá định kì để theo dõi sự tiến triển của trẻ Qua đó, nhà chuyên môn sẽ có những

điều chỉnh cho những bước đi đúng đắn tiếp theo của trẻ

1.2.4 Huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt

Huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt là tổ chức huy động tổng lực sức mạnh của toàn dân

cả về vật chất và tinh thần, làm cho tất cả các ngành, các giới, cũng như mỗi người dân đều nhận thấy đó là nhiệm vụ của chính mình, nên đều tự nguyện

và tích cực phối hợp hành động nâng cao chất lượng công tác giáo dục trẻ Tự

kỷ tại các trung tâm

Sơ đồ 1.1 Bản chất của huy động các lực lượng trong cộng đồng cho GD

Giáo dục cho mọi người

Mọi người cho giáo dục

Huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục KNS cho học sinh

THCS

Trang 26

1.3 Một số vấn đề về giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt

1.3.1 Đặc điểm của trẻ Tự kỷ

Khi mới chào đời, hầu hết các trẻ Tự kỷ không biểu lộ ngay các đặc điểm của Hội chứng này Có hai điểm giúp cha mẹ hoặc người chăm sóc có thể nhận biết là trẻ thường hay uốn cong lưng tránh khỏi người chăm sóc để tránh tiếp xúc cơ thể và chúng trở nên mềm nhũn khi được bế lên Khi còn nhỏ, chúng là những đứa trẻ luôn thụ động hoặc dễ bị kích động quá mức Những

em bé thụ động thường ngồi im lặng suốt cả buổi và hầu như không có hoặc rất

ít khi có những đòi hỏi với cha mẹ Còn những trẻ bị kích động áu mức thì thường có những cơn hờn dỗi kéo dài, đôi khi không ngừng nghỉ, chỉ trừ những lúc ngủ Trong suốt thời kì ấu nhi, nhiều trẻ bắt đầu có những hành vi như lắc

lư thân mình hay đập đầu vaò các vật cứng Tuy nhiên cũng cần phải hiểu rằng những hành vi này không phải lúc nào cũng là biểu hiện của Tự kỷ

Trẻ Tự kỷ gặp rất nhiều khó khăn trong việc hiểu những kích thích đối với chúng từ môi trường xung quanh ( ví dụ như những gì trẻ nghe thấy, nhìn thấy hoặc nếm ngửi thấy) Đồng thời, chúng rất khó khăn trong việc hiểu ý nghĩa của cac thông tin, khó loại bỏ được các kích thích không liên quan, khó liên kết các thông tin và khó khái quát hóa thông tin.Thế giới đối với trẻ Tự

kỷ là một thế giới hỗn loạn và rời rạc Vì vậy, có rất nhiều trẻ Tự kỷ tìm kiếm cảm giác an toàn cho chính mình bằng cách lặp đi lặp lại những hành động giống nhau hoặc tìm kiếm những cách khác để chạy trốn khỏi thế giới thực tại ( ví dụ như dùng hai tay để bịt tai lại)

Người Tự kỷ thường hay biểu hiện những hành vi rập khuôn, hành vi tự lạm dụng, tự kích thích Ngoài ra, chúng sẽ rẩ dễ nổi cơn giận dữ khó dập tắt nếu như người lớn can thiệp hoặc thay đổi các thói quen của chúng Trẻ Tự kỷ cũng gặp vấn đề về giấc ngủ: có nhiều trẻ thường ngủ vào những lúc người

Trang 27

khác thức và thức vào những lúc người khác ngủ, điều này gây nhiều phiền toái cho các gia đình Tâm trạng của chúng cũng không ổn định và đôi khi không bình thường ( ví dụ khi ở vào tình trạng nguy hiểm thực sự, như ở ngoài đường phố có nhiều xe cộ, chúng không hề tỏ ra sợ hãi, nhưng trước một sự vật hoặc một tình huống hoàn toàn vô hại như tiếng mèo kêu chúng lại tỏ ra sợ hãi một cách thái quá)

Trẻ Tự kỷ thường có vấn đề trong giao tiếp như: chậm hoặc hoàn toàn không có ngôn ngữ nói những cá nhân nói được thì lại gặp khó khăn trong việc bắt đầu và duy trì cuộc hội thoại, mắc chứng nhại lời, chúng có thể nhại lại một bài hát nào đó hoặc một đoạn quảng cáo Giọng của chúng thường cao một cách bất thường, chúng không có khả năng hiểu những câu hỏi, các chỉ dẫn hay những câu chuyện cười đơn giản Đồng thời, chúng thiếu các kĩ năng bắt chước xã hội và các kĩ năng giao tiếp khác

Trẻ Tự kỷ gặp khó khăn trong các quan hệ cá nhân, quan hệ mang tính

xã hội Ví dụ trẻ Tự kỷ thường thích được chơi một mình tách rời khỏi những người xung quanh, tỏ ra lãnh đạm, không quan tâm đến những người khác, thậm cjis cả những người thân trong gia đình Đôi khi có những trẻ tự kỷ có chủ động tương tác với người khác nhưng lại theo một cách rất kỳ quặc, khó được chấp nhận như: trẻ liếm hay hít ngửi chân, tay, má của bât skif người nào mà trẻ bắt đầu tiếp xúc, hầu như không có hay lẩn tránh tương tác mắt- mắt với người khác Ngay cả đối với những trẻ em hay người lớn bị Tự kỷ có

sự phát triển chức năng tốt cũng không có hay rất khó duy trì quan hệ với bạn

bè, gia đình và thường bị coi là kỳ cục trong quan hệ xã hội

Một bộ phận nhỏ trẻ Tự kỷ có khả năng siêu việt Những khả năng này thông thường là bẩm sinh, ví dụ như: khả năng về âm nhạc hay nghệ thuật, một khả năng nổi trội cũng thường thấy ở trẻ Tự kỷ là khả năng toán học

Tuy vậy, một trẻ Tự kỷ có thể tính nhẩm được các phép tính khó một cách chính xác nhưng lại không có khả năng sử dụng tiền

Trang 28

Nhiều trẻ Tự kỷ không nhận thức được rằng mỗi người có những suy nghĩ, dự định khác nhau và có thể khác với ản thân chúng Ví dụ, khi cô giáo yêu cầu một trẻ Tự kỷ giơ bức tranh cho các bạn khác trong lớp cùng xem, thay vì giơ bức tranh theo huowbgs các bạn khác có thể nhìn thấy thì trẻ của chúng ta lại giơ mặt sau của bức tranh vì nó nghĩ rằng các bạn đang nhìn bức tranh như nó

Trẻ Tự kỷ gặp nhiều khó khăn trong sự phát triển các hoạt động chơi và tưởng tượng Trẻ thường chơi với các đồ vật theo một cách rập khuôn, kỳ quặc, chỉ quan tâm đến một và chi tiết nhất định chứ không hiểu chức năng của vật Trẻ tỏ ra yếu kém về việc chơi giả vờ Việc không biết chơi giả vờ là một trong những khác biệt rõ ràng nhất giữa trẻ Tự kỷ và trẻ bình thường khi chơi Trẻ và người lớn Tự kỷ không biết nói dối và cũng không có khả năng nhận ra được ai đó vừa lừa gạt mình, điều này khiến trẻ có thể bị bạn xấu trêu chọc và lợi dụng Đa số trẻ thiếu hiểu biết trong việc chơi theo cách thông thường, theo công dụng của đồ vật, ví dụ: chúng ta đưa trẻ con búp bê và cái lược thài thay vì dùng lược chải tóc búp bê, trẻ sẽ đập hai vật vào nhau

Có thể xuất hiện các tai biến động kinh ở các trẻ mắc Hội chứng này ( nhiều nhất là ở lứa tuổi thiếu niên), với tỷ lệ trung bình là khoảng 25% các trường hợp Trong số các trẻ Tự kỷ, có tới 75% số trẻ bị CPTTT Nhiều trẻ có thể đi kèm các Hội chứng khác như tăng động giảm chú ý

1.3.2 Đặc điểm của trung tâm giáo dục chuyên biệt

Theo thông tư liên tịch số 58/2012/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH ngày

28 tháng 12 năm 2012 quy định điều kiện và thủ tục thành lập, hoạt động, đình chỉ hoạt động, tổ chức lại, giải thể trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập với tên gọi là trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (sau đây gọi là “trung tâm”) Theo đó, trung tâm có hai loại hình là công lập và ngoài công lập có những chức năng, nhiệm vụ: Phát hiện khuyết tật để tư vấn lựa

Trang 29

chọn phương thức giáo dục phù hợp; Thực hiện biện pháp can thiệp sớm người khuyết tật tại cộng đồng để lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp; Tư vấn tâm lý, sức khỏe, giáo dục, hướng nghiệp để lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp; Hỗ trợ người khuyết tật tại gia đình, tại cơ sở giáo dục và cộng đồng; Cung cấp nội dung, thiết bị, tài liệu dạy và học đặc thù phù hợp với từng dạng tật, mức độ khuyết tật [12]

* Điều kiện để trung tâm được phép hoạt động bao gồm:

1 Quyết định thành lập hoặc Quyết định cho phép thành lập của Chủ tịch UBND cấp tỉnh;

2 Cơ sở vật chất, phương tiện thiết bị và dịch vụ hỗ trợ phù hợp với đặc điểm người khuyết tật:

a) Trụ sở, phòng làm việc của lãnh đạo, giáo viên, nhân viên;

b) Phòng học, phòng chức năng tương ứng để thực hiện các hoạt động của Trung tâm;

c) Khu nhà ở cho học sinh đối với Trung tâm có người khuyết tật nội trú; d) Phương tiện, thiết bị, công cụ sử dụng cho đánh giá, can thiệp, dạy học, hướng nghiệp, dạy nghề;

e) Tài liệu chuyên môn, tài liệu hỗ trợ bảo đảm thực hiện các hoạt động của Trung tâm

3 Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên hỗ trợ giáo dục có trình độ chuyên môn phù hợp với các phương thức giáo dục người khuyết tật

a) Giám đốc Trung tâm phải tốt nghiệp đại học chuyên ngành giáo dục đặc biệt hoặc tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác có chứng chỉ nghiệp vụ

sư phạm, có hiểu biết về đặc điểm phát triển của người khuyết tật, về nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục cho người khuyết tật;

b) Giáo viên có trình độ trung cấp trở lên, có chứng chỉ nghiệp vụ giáo dục người khuyết tật;

Trang 30

c) Nhân viên hỗ trợ giáo dục được tập huấn về giáo dục người khuyết tật

4 Nội dung chương trình giáo dục và tài liệu bồi dưỡng, tư vấn phù hợp với các phương thức giáo dục người khuyết tật, gồm:

a) Nội dung chương trình, tài liệu về giáo dục cá nhân đối với người khuyết tật thuộc các dạng tật;

b) Nội dung chương trình, tài liệu bồi dưỡng về giáo dục người khuyết tật thuộc các dạng tật;

c) Tài liệu tư vấn về việc lựa chọn các phương thức giáo dục phù hợp với dạng và mức độ tật của người khuyết tật

Hiện nay, qua tìm hiểu chương trình sử dụng trong các trường chuyên biệt hiện nay thiếu tính thống nhất (chưa có khung chương trình chung) Để đáp ứng nhu cầu dạy-học trẻ khuyết tật, các nhà trường thiết kế chương trình theo quan điểm riêng biệt của một nhóm người hoặc một người Vì vậy, hiện nay có rất nhiều loại chương trình khác nhau đang được sử dụng trong các trường chuyên biệt Điều này làm cho nhà trường gặp rất nhiều khó khăn trong việc quản lí chuyên môn và đánh giá chất lượng giáo dục

Trung tâm giáo dục chuyên biệt thường có quy mô giống các trường Mầm non nhưng có thêm một số các phòng chức năng riêng như phòng Tâm vận động, phòng điều hòa cảm giác phục vụ cho việc can thiệp đặc thù của trẻ

Tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt, số lượng trẻ và giáo viên phải phù hợp, thường là 1 giáo viên trên 5 trẻ ở lớp nhóm, 1 giáo viên 1 trẻ khi can thiệp cá nhân

Mỗi trẻ sẽ có một chương trình can thiệp riêng tùy theo mức độ dạng tật, theo khả năng, nhu cầu của từng trẻ Sau một thời gian định kỳ, trẻ sẽ được các nhà chuyên môn đánh giá và điều chỉnh nội dung học phù hợp với mức độ tiến bộ của trẻ

Trang 31

1.3.3 Nội dung giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt

Như chúng ta đã biết, trẻ Tự kỷ gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề nhận thức, ngôn ngữ, giao tiếp, tương tác xã hội và thường có những hành vi rập khuôn định hình Mỗi trẻ có những khó khăn riêng và ở các mức độ, giai đoạn khác nhau Vì vậy không một trẻ nào có chung một nội dung, chương trình can thiệp giống nhau Mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt

Qua nghiên cứu tài liệu và thực tế, chúng tôi nhận thấy rằng: Các trung tâm giáo dục chuyên biệt thường tập trung vào việc phát triển một số các kỹ năng giáo dục cơ bản sau:

- Kỹ năng bắt chước

- Kỹ năng vận động thô

- Kỹ năng vận động tinh

- Kỹ năng nhận biết

- Kỹ năng ngôn ngữ, giao tiếp

- Kỹ năng tương tác xã hội

- Kỹ năng đọc, viết, tính toán

- Kỹ năng tự phục vụ

- Kỹ năng xã hội

Nội dung giáo dục trẻ Tự kỷ cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng lứa tuổi, theo mức độ phát triển riêng của từng trẻ, theo hoạt động giáo dục và điều kiện cụ thể Ngoài các nội dung cơ bản trên, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương, giáo viên có thể lựa chọn thêm 1 số nội dung khác để giáo

dục cho học sinh của trường, lớp mình cho phù hợp

1.3.4 Phương pháp giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt

Hiện nay, phương pháp giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt rất phong phú, đa dạng Nó phụ thuộc vào sự hướng dẫn, chỉ đạo của người đứng đầu, quản lý trung tâm

Dưới đây là một số phương pháp phổ biến, thông dụng được sử dụng tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt cho trẻ Tự kỷ:

Trang 32

- Phương pháp can thiệp hành vi ABA (Applied Behavior Analysis)

- Phương pháp dạy trẻ Tự kỷ thể hiện hành vi bằng lời (Verbal Behavior)

- Phương pháp ngồi sàn- Floortime

- Phương pháp trị liệu, giáo dục trẻ Tự kỷ và trẻ khuyết tật ngôn ngữ TEACCH

- Phương pháp truyền đạt ngôn ngữ bằng hình ảnh thay lời nói PECS

- Phương pháp trị liệu Tự kỷ bằng âm nhạc

- Phương pháp trị liệu Tự kỷ RDI

- Phương pháp tâm vận động, điều hòa cảm giác

Ngoài những phương pháp kể trên, các trung tâm còn phối hợp với một số gia đình áp dụng các phương pháp trị liệu khác cho trẻ Tự kỷ như:

- Phương pháp trị liệu tự kỷ bằng oxi cao áp

- Phương pháp cấy ghép tế bào gốc cho trẻ Tự kỷ

- Phương pháp trị liệu Tự kỷ bằng chế độ ăn kiêng Gluten, sasein Như vậy, hiện nay có rất nhiều phương pháp giáo dục cho trẻ Tự kỷ nhưng việc lựa chọn phương pháp sao cho phù hợp và hiệu quả là hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm đặc thù của từng trẻ ở từng giai đoạn khác nhau Việc lựa chọn phương pháp giáo dục cũng phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, hoàn cảnh cụ thể của môi truờng giáo dục mà trẻ chịu ảnh hưởng Tùy vào khả năng, nhu cầu của tùng trẻ và từng tình huống riêng biệt ta có thể lựa chọn hoặc kết hợp các phương pháp giáo dục cho trẻ đạt hiệu quả cao nhất

1.3.5 Hình thức giáo dục trẻ Tự kỷ ở các trung tâm giáo dục chuyên biệt

Taị các trung tâm giáo dục chuyên biệt, có rất nhiều các hình thức giáo dục trẻ Tự kỷ khác nhau Một số hình thức giáo dục đang được áp dụng phổ biến tại các trung tâm như sau:

Trang 33

- Giáo dục trẻ Tự kỷ thông qua hoạt động nhóm, lớp:

Hoạt động này thường xuyên diễn ra hàng ngày ở trung tâm Thời gian cho một tiết học nhóm thường kéo dài 30 phút Số lượng 2 GV/ 5 trẻ

Nội dung cho giờ học nhóm được soạn theo chủ đề, chủ điểm phù hợp với đặc điểm của nhóm trẻ và được điều chỉnh khi các trẻ đã đạt mục tiêu đề ra

Trong giờ học nhóm, các trẻ được tương tác, giao tiếp với nhau, được học hỏi nhau thông qua các hoạt động bắt chước, các trò chơi luân phiên, có luật, học cách chia sẻ, yêu thương, đối xử vói nhau như một xã hội trẻ em thực sự

Đây là một hoạt động không thể thiếu trong ngày của các trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt

- Giáo dục trẻ tự kỷ thông qua hoạt động tham quan, dã ngoại

Ngoài những giờ can thiệp trên lớp, trẻ còn được học tập thông qua hoạt động tham quan, dã ngoại Đây là một hoạt động phần lớn các trẻ đều yêu thích Tuy nhiên vẫn có một số trẻ sợ khi đi ra ngoài, sợ những tiếng ồn của đám đông hoặc ái ngại khi phải tiếp xúc với người lạ Nhưng không phải

vì thế mà không tạo cơ hội để trẻ làm quen với thế giới bên ngoài

Tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt, hoạt động tham quan, dã ngoại thường được tổ chức trung bình một tháng một lần, tùy thuộc vào tình hình thời tiết, vào điều kiện cụ thể của từng trung tâm

Địa điểm để trẻ tham quan, dã ngoại thường là các công viên, sở thú, các khu nông trại, di tích lịch sử, khu vui chơi giải trí

Đối với hoạt động này, các trung tâm đặc biệt quan tâm đến vấn đề an toàn của trẻ khi ra ngoài, các trẻ luôn cần được giám sát và bảo vệ bởi các giáo viên và người chăm sóc

- Giáo dục trẻ Tự kỷ thông qua các giờ trải nghiệm thực tế

Các giờ trải nghiệm thực tế thực sự cần thiết trong quá trình can thiệp cho trẻ Tự kỷ

Trang 34

Hoạt động này được tổ chức nhiều hơn so với hoạt động tham quan,

dã ngoại, thường đan xen trong tuần với các hoạt động khác của trẻ

Các hoạt động trải nghiệm như cho trẻ được làm các công việc của chú đầu bếp, làm bác nông dân, làm bác sỹ, làm thợ nặn

Các hoạt động này đòi hỏi sự đầu tư về cơ sở vật chất, kinh phí tổ chức, đầu tư thời gian, công sức nhiều nhưng trẻ thực sự rất hứng thú với các trải nghiệm này

- Giáo dục trẻ Tự kỷ thông qua các giờ can thiệp đặc thù

Các giờ can thiệp đặc thù như giờ Tâm vận động, điều hòa cảm giác, Vật lý trị liệu, Phát triển ngôn ngữ, giao tiếp, Trị liệu hành vi Tất cả các giờ can thiệp này được sự chỉ đạo, hướng dẫn của các nhà chuyên môn đối với từng trẻ Mỗi trẻ được can thiệp với những bài tập và liều lượng khác nhau tùy vào đặc điểm đặc thù của trẻ

Thời gian cho các bài can thiệp đặc thù được phân bố một cách rõ ràng, cụ thể trong quá trình can thiệp cho trẻ

Các giờ can thiệp này đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của trẻ

- Giáo dục trẻ Tự kỷ thông qua giờ can thiệp cá nhân một cô- một trò Đây là hình thức giáo dục phổ biến nhất trong quá trình can thiệp cho trẻ Tự kỷ

Nếu như ở các bậc học khác, một giáo viên có thể dạy nhiều học sinh thì quá trình can thiệp này, một giáo viên chỉ dạy một trẻ Trong giờ học, giáo viên phải đóng rất nhiều vai khác nhau, từ đạo diễn đến mua vui, người chăm sóc, lắng nghe ,cổ vũ, động viên, khuyến khích, chuyên gia theo sự dẫn dắt của trẻ

Việc đánh giá để tìm ra đúng điểm mạnh, hạn chế của trẻ là điều vô cùng quan trọng trong can thiệp cá nhân Ngoài ra, lựa chọn được phương pháp phù hợp với trẻ cũng có tính chất quyết định đến sự phát triển của trẻ

Trang 35

Hình thức giáo dục trẻ Tự kỷ thông qua giờ can thiệp cá nhân một cô- một trò chiếm ưu thế trong quá trình giáo dục trẻ Nó có tác động tích cực và hiệu quả đến khả năng nhận thức cũng như phát triển các kỹ năng cho trẻ cách toàn diện nhất Các hình thức giáo dục còn lại đóng vai trò bổ trợ cho hình thức giáo dục này

1.3.6 Các lực lƣợng tham gia giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt

Các lực lượng tham gia giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt bao gồm: Các lực lượng của trung tâm - Gia đình - Xã hội

-Về phía trung tâm: Lực lượng chủ chốt là đội ngũ giáo viên với các chuyên ngành chính như giáo dục đặc biệt, tâm lý giáo dục, công tác xã hội, giáo dục mầm non Ngoài ra còn có đội ngũ chuyên gia như âm ngữ trị liệu, vận động trị liệu Đây là môi trường giáo dục quan trọng nhất, hiệu quả nhất Bởi vì, trung tâm là nơi học sinh hàng ngày đến học tập, rèn luyện dưới sự dạy dỗ, chăm sóc của các thầy cô giáo cùng sự gắn bó, giúp đỡ, chia sẻ của bạn bè; là nơi các em bộc lộ nhân cách, tài năng rõ nét nhất

- Gia đình là lực lượng hỗ trợ tích cực trong quá trình giáo dục, rèn luyện học sinh Phần lớn thời gian các em sống, rèn luyện, phát triển tại gia đình Ở nhà, các em được tiếp nhận sự tác động giáo dục của bố, mẹ, ông, bà, anh, chị, em Gia đình là nơi để các em được ôn tập, củng cố những nội dung học tại trung tâm

-Xã hội có vai trò to lớn tác động vào hiệu quả giáo dục: Trung tâm là một bộ phận của cộng đồng xã hội, nên việc gắn và hoà nhập hoạt động của trung tâm với cuộc sống cộng đồng là lẽ tất yếu Cho nên “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, trung tâm gắn liền với xã hội”

đã trở thành nguyên tắc hành động của tất cả giáo viên Để phát huy thế mạnh môi trường xã hội địa phương, các trung tâm trên địa quận tích cực tham mưu

Trang 36

với các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể ở địa phương cùng tham gia xây dựng một môi trường xã hội lành mạnh Cụ thể: Đối với Đảng uỷ, HĐND, UBND xã, trong các nghị quyết đại hội, nghị quyết hàng kỳ, đều có nội dung bàn về sự nghiệp giáo dục, đồng thời cùng hệ thống chính quyền chỉ đạo các

tổ chức đoàn thể cùng vào cuộc, cùng kiểm tra đôn đốc việc thực hiện xây dựng cuộc sống lành mạnh ở địa phương Như phong trào xây dựng đời sống văn hoá, phong trào khuyến học Các tổ chức như Đoàn TNCSHCM, hội phụ nữ, hội chữ thập đỏ, các doanh nghiệp trên địa bàn quận cũng góp phần tham gia công tác giáo dục trẻ Tự kỷ

1.4 Một số vấn đề về huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt

1.4.1 Mục đích của huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ

Huy độngcác lực lượng xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi phục vụ công tác giáo dục trẻ Tự kỷ

Huy động các lực lượng xã hội để xây dựng môi trường nhà trường, từ cảnh quan, cơ sở hạ tầng của trường lớp, đồ dùng đồ chơi, thiết bị học liệu đến nề nếp kỷ cương, môi trường giáo dục, môi trường sư phạm… nghĩa là tạo ra môi trường thuận lợi để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người Tuy nhiên, nhà trường phải giữ vai trò chủ động trong việc cùng với gia đình và xã hội tạo ra môi trường trên

Các lực lượng xã hội có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt Trước hết, họ

có thế tham gia vào việc xây dựng kế hoạch giáo dục trẻ Tự kỷ của nhà trường; góp ý kiến vào nội dung và phương pháp giáo dục trẻ Tự kỷ , quản lý, đánh giá kết quả giáo dục trẻ Tự kỷ ; giúp đỡ nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ Tự kỷ chính khoá và ngoại khoá, sưu tầm học liệu,

Trang 37

tài liệu hỗ trợ việc lập kế hoạch, tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ Tự kỷ; cùng đưa học sinh đi tham quan, dã ngoại, cùng tổ chức và tham gia các hoạt động giáo dục cho trẻ Đây là yêu cầu cao của cuộc vận động xã hội hóa công tác giáo dục và là nội dung khó thực hiện nhất của công tác vận động này Nó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, các cơ quan quản lý giáo dục và các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, các đoàn thể, các hội và cha mẹ trẻ

Huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình đa dạng hóa các hình thức giáo dục cho trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt

Các lực lượng xã hội và cá nhân có thể tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục trẻ Tự kỷ bằng cách thành lập các cơ sở giáo dục trẻ Tự kỷ thuộc các thành phần kinh tế, tổ chức và cá nhân bên cạnh các cơ sở giáo dục của nhà nước Các cơ sở giáo dục dân lập và tư thục này sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển giáo dục kỹ năng cho trẻ Tự kỷ, làm tăng khả năng đầu tư cho giáo dục, tạo điều kiện cho giáo dục trẻ Tự kỷ có thể phát triển mạnh mẽ hơn Các lực lượng còn có vai trò quan trọng trong việc mở các lớp độc lập tư thục; tổ chức các chương trình thực tế, thực nghiệm, tổ chức các cuộc thi, các chương trình giao lưu Đó là các hình thức giáo dục trẻ Tự kỷ mà nhà nước trong điều kiện khó khăn về kinh tế hiện nay chưa có khả năng đảm nhiệm hết

Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt

Huy động các nguồn lực cộng đồng trong công tác giáo dục trẻ Tự kỷ không chỉ là huy động tiền của mà còn tính đến phạm vi rất rộng rãi các loại nguồn lực; nhân lực, vật lực, tài lực Hơn nữa, khi các nội dung toàn diện của

xã hội hoá sự nghiệp giáo dục được thực hiện tốt thì chính đó là điều kiện tiên quyết để dễ dàng tạo động lực cho sự đóng góp của nhân dân, của xã hội về tài lực Làm ngược lại điều đó thì nhân dân sẽ kêu ca về sự tốn kém mà không thấy lợi ích của sự đóng góp, Hiện nay, đời sống của nhân dân ta còn thấp, huy động sự đóng góp ở một số bộ phận dân cư là khó khăn, nhưng nhân dân

Trang 38

ta lại giàu tinh thần và những tiềm năng rất đa dạng Mỗi người có thể thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục theo khả năng của mình

1.4.2 Nguyên tắc huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ

Đặc thù của công tác huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự

kỷ là tác động hai chiều “Giáo dục cho mọi người” và “Mọi người cho giáo dục” nên huy động các nguồn lực trong cộng đồng tham gia phát triển giáo dục nói chung và giáo dục trẻ Tự kỷ nói riêng là tăng cường vai trò, trách nhiệm của xã hội Điều này chỉ thực hiện thành công khi đảm bảo bốn nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 1: Có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý chặt chẽ

của Nhà nước và vai trò chủ động nòng cốt của ngành giáo dục

Nguyên tắc 2: Tính thống nhất, thường xuyên, liên tục, hiệu quả

Việc huy động sức mạnh tổng hợp của các LLXH nhằm phát triển sự nghiệp GD&ĐT nói chung và giáo dục trẻ Tự kỷ nói riêng phải là một quá trình liên tục với một cơ chế vận hành thống nhất, có tính xác định, được xây dựng từ Trung ương đến địa phương

Nguyên tắc 3: Tính pháp quy

Huy động nguồn lực cộng đồng tham gia phát triển giáo dục nói chung

và giáo dục trẻ Tự kỷ nói riêng phải được thể chế hoá bằng các văn bản pháp quy, bằng các quy định cụ thể thấm nhuần các lý tưởng dân chủ nhân văn xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc 4: Tính dân chủ, đại chúng, đảm bảo hài hoà về lợi ích

Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân nên phải đảm bảo tính dân chủ và đại chúng Mặt khác, động lực thúc đẩy hoạt động của các bên chính là tính lợi ích Các lực lượng xã hội ủng hộ cho nhà trường mong tạo được chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ Ngược lại, nhà trường cũng từ lợi ích nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mà tiến hành huy động các nguồn lực trong cộng đồng tham gia công tác giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt

Trang 39

1.4.3 Nội dung huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ

Nội dung chính của huy động nguồn lực cộng đồng là để tạo ra các nguồn lực phục vụ việc xây dựng một môi trường giáo dục tốt nhất, chăm lo

sự nghiệp giáo dục, trong đó có việc giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt

Huy động bao gồm cả nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất Thứ nhất: Huy động toàn xã hội tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục trẻ Tự kỷ, tạo ra sự đồng thuận về nhận thức, tư tưởng và hành động của từng gia đình, từng cộng đồng dân cư, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước đối với công tác giáo dục trẻ Tự kỷ

Thứ hai: Xây dựng môi trường tốt nhất phục vụ cho công tác giáo dục trẻ

Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt, môi trường đó bao gồm: Gia đình, nhà trường, xã hội và sự kết hợp đồng bộ, thống nhất của ba môi trường đó Môi trường gia đình, nhà trường, xã hội kết hợp hài hoà sẽ là tác động tốt nhất khiến học sinh được quan tâm giáo dục các kỹ năng ở mọi nơi, mọi lúc, chất lượng cuộc sống của các em sẽ được nâng cao hơn cả về thể lực, sức khoẻ, trí tuệ và nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào hòa nhập với cộng đồng xã hội

Thứ ba: Huy động toàn xã hội đầu tư các nguồn lực cho công tác giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt Phải quản lý chặt chẽ và

sử dụng có hiệu quả các khoản kinh phí đầu tư hàng năm từ ngân sách Nhà nước, nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế, các khoản thu học phí của học sinh Đồng thời phải thực hiện cuộc vận động lớn “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để phát triển các loại hình giáo dục trẻ Tự kỷ đạt hiệu quả cao

Trang 40

1.4.4 Hình thức huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ

Huy động nguồn lực cộng đồng phục vụ công tác giáo dục trẻ Tự kỷ tại các trung tâm giáo dục chuyên biệt với nội dung phong phú nên được biểu hiện dưới rất nhiều hình thức

- Tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức về giáo dục trẻ Tự kỷ cho toàn xã hội: Đây là một trong những hình thức phổ biến và được thực hiện khá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, ti vi, loa phát thanh của phường Ngoài ra còn thực hiện thông qua việc tìm kiếm tài liệu, biên soạn tờ rơi, dán các băng rôn, khẩu hiệu,áp phích quảng các tại các nơi công cộng để mọi người hiểu biết về chứng Tự kỷ Từ đó, họ có cách nhìn thấu đáo và có những hành động cụ thể trong việc chung tay vào công cuộc giáo dục trẻ Tự kỷ

- Phổ biến các chủ trương, chính sách liên quan đến trẻ Tự kỷ: Hình thức này thực sự có ý nghĩa trong việc huy động các nguồn lực cộng đồng tham gia giáo dục trẻ Tự kỷ Bởi vì khi có các chủ trương, chính sách từ trên xuống,

xã hội sẽ dễ dàng chấp nhận và thực thi tốt hơn

- Nêu gương người tốt, việc tốt trong giáo dục trẻ Tự kỷ: Hình thức này

sẽ mang lại cho tất cả mọi người có cái nhìn đúng đắn về trẻ Tự kỷ, cùng nhau

cố gắng mang lại những gì tốt đẹp cho trẻ, góp phần giảm thiểu những gánh nặng cho xã hội

- Tổ chức hội thi, chuyên đề về giáo dục trẻ Tự kỷ: Đây là hình thức thu hút sự quan tâm, tham gia của mọi người, mang lại hiệu quả cao trong công tác huy động nguồn lực cộng đồng trong giáo dục trẻ Tự kỷ

- Mở các lớp bồi dưỡng ngắn ngày về trẻ Tự kỷ: Hình thức này thực sự đóng một vai trò quan trọng và có ý nghĩa trong việc nâng cao nhận thức cho mọi người về trẻ Tự kỷ từ đó, việc huy động các nguồn lực cộng đồng tham gia giáo dục trẻ Tự kỷ sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả cao hơn

Ngày đăng: 08/06/2017, 17:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Ngô Xuân Điệp, Nghiên cứu nhận thức của trẻ Tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến sỹ, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhận thức của trẻ Tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh
2- Nguyễn Thị Thanh, Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Tự kỷ 3-4 tuổi, Luận án tiến sỹ, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Tự kỷ 3-4 tuổi
3- Trần Thị Minh Thư, Những cơ hội việc làm cho cac bạn thanh niên Tự kỷ- Một trường hợp của Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ hội việc làm cho cac bạn thanh niên Tự kỷ- Một trường hợp của Việt Nam
4- Nguyễn Thị Thanh, Phương pháp tâm, vận động trong việc chăm chữa, giáo dục cho trẻ Tự kỷ, Luận văn thạc sỹ, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tâm, vận động trong việc chăm chữa, giáo dục cho trẻ Tự kỷ
5- Nguyễn Thị Thanh Tâm, Hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ Tự kỷ thích nghi với quá trình hòa nhập tại trường tiểu học của trung tâm Hand in Hand, Luận văn thạc sỹ, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ Tự kỷ thích nghi với quá trình hòa nhập tại trường tiểu học của trung tâm Hand in Hand
6- Nguyễn Phương Thảo, Kỹ năng giao tiếp của trẻ Tự kỷ, Luận văn thạc sỹ, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giao tiếp của trẻ Tự kỷ
7- Luật giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật giáo dục
9- Phạm Hồng Trung, Thông tin khoa học xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Số 12- 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin khoa học xã hội
10- Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Giáo dục học, Nhà xuất bản giáo dục, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
11- Nguyễn Văn Hộ, Hà Thị Đức, Giáo dục học, Nhà xuất bản giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
12- Thông tư số 58/2012/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH ngày 28/12/2012 về điều kiện thành lập, giải thể trung tâm giáo dục hòa nhập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 58/2012/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH ngày 28/12/2012 về
13- Leo Kanner, Hội chúng Tự kỷ thời kì ấu nhi, 1943 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chúng Tự kỷ thời kì ấu nhi
14- Reichler, Schopler, Thang đánh giá tâm lý thời niên thiếu, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thang đánh giá tâm lý thời niên thiếu
15- Reichler, Schopler, Thang đánh giá Tự kỷ thời thơ ấu, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thang đánh giá Tự kỷ thời thơ ấu
16- Viện nghiên cứu Tự kỷ Mỹ, Hãy đẩy lùi Tự kỷ, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đẩy lùi Tự kỷ
17- Viện nghiên cứu Tự kỷ Mỹ, Phương pháp lựa chọn đánh giá lâm sàng, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp lựa chọn đánh giá lâm sàng
18- Nhóm tương trợ cha mẹ có con khuyết tật và chậm phát triển trí tuệ tại Sydne, Để hiểu chứng Tự kỷ, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu chứng Tự kỷ
19- Vũ Thị Bích Hạnh, Tự kỷ phát hiện sớm và can thiệp sớm, Nhà xuất bản Y Học, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự kỷ phát hiện sớm và can thiệp sớm
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
20- Nguyễn Văn Thành, Trẻ em tự kỷ - Phương pháp giáo dục, NXB Tôn Giáo, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ em tự kỷ - Phương pháp giáo dục
Nhà XB: NXB Tôn Giáo
21- Võ Nguyễn Tinh Vân, Tự Kỷ và Trị Liệu, NXB Bamboo, Australia, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự Kỷ và Trị Liệu
Nhà XB: NXB Bamboo

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w