1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp chữa lỗi chính tả cho sinh viên trường Đại học Mỏ Địa chất

119 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh viên viết đúng chính tả là thể hiện sự thống nhất các kĩ năng sử dụng tiếng Việt nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi Trường hoạt động.. Thế nhưng, với thế hệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -

NGUYỄN THỊ THỦY

BIÖN PH¸P CH÷A LçI CHÝNH T¶

CHO SINH VI£N TR¦êNG §¹I HäC Má - §ÞA CHÊT

Chuyên ngành: LL&PP dạy học bộ môn Văn

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Thị Hồng Xuân

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu này

không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thủy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại Bộ môn Lí luận và Phương pháp dạy học

bộ môn Văn, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phan Thị Hồng Xuân, người đã tận

tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo trong Bộ môn Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Văn, Khoa Ngữ Văn, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã dạy dỗ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, rèn luyện, nghiên cứu tại Trường

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, lãnh đạo Trường Đại học Mỏ - Địa chất đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn và thực nghiệm đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các sinh viên nơi tôi điều tra, phỏng vấn, lấy số liệu đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ chân thành và quý báu của bạn bè, đồng nghiệp, sự động viên của gia đình để tôi hoàn thành luận văn của mình

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 2

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Giả thuyết khoa học 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Đóng góp của luận văn 7

8 Cấu trúc đề tài 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Giới thiệu khái quát về tiếng Việt 9

1.1.2 Phương ngữ 16

1.1.3 Chính âm 21

1.1.4 Chính tả 24

1.1.5 Một số lỗi sai thường gặp và phân loại 33

1.1.6 Những mẹo chính tả hay dùng trong tiếng Việt 39

Chương 2: THỰC TRẠNG MẮC LỖI CHÍNH TẢ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT 51

2.1 Một số vấn đề chung 51

2.1.1 Lỗi chính tả 53

2.1.2 Vấn đề chọn mẫu 53

2.1.3 Vấn đề lập phiếu điều tra 53

2.2 Kết quả khảo sát 58

2.2.1 Nhận xét chung 58

2.2.2 Các lỗi sai cụ thể 59

Chương 3: NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 71

3.1 Nguyên nhân mắc lỗi 71

3.1.1 Do sinh viên không nắm vững các nguyên tắc của chính tả 71

3.1.2 Do cẩu thả 71

Trang 5

3.1.3 Do phát âm không chuẩn 72

3.1.4 Do trình độ nhận thức kém 72

3.1.5 Do sinh viên chịu ảnh hưởng từ ngôn ngữ mạng 72

3.1.6 Do sinh viên không chú ý 73

3.1.7 Sinh viên sai ngay từ nhỏ 73

3.1.8 Không biết mình đang viết sai 73

3.2 Biện pháp khắc phục 73

3.2.1 Yêu cầu đối với giảng viên 73

3.2.2 Đối với sinh viên 74

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê kết quả khảo sát tổng quát về lỗi chính tả của sinh viên

Trường Đại học Mỏ - Địa chất 59 Bảng 2.2 Kết quả chi tiết một số loại lỗi chính tả phổ biến sinh viên

thường mắc 60 Bảng 2.3 Thống kê vi phạm quy định chính tả về viết hoa, 66

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tình trạng sai lỗi chính tả của sinh viên Trường Đại học Mỏ -

Địa chất năm học 2016 - 2017 59 Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ trả lời đúng của sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất 60 Biểu đồ 2.3 Lỗi viết hoa của sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất năm

học 2016 - 2017 64 Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ sinh viên vi phạm lỗi viết hoa và lỗi viết tắt theo quy định

chính tả 66

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Viết đúng chính tả đóng vai trò rất lớn đối với mỗi người Viết đúng chính tả không chỉ là biểu hiện của một trình độ văn hoá nhất định, mà còn là biểu hiện của ý thức tôn trọng cộng đồng, của lòng yêu quí đối với tiếng nói dân tộc Chính tả còn có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Đối với các bạn sinh viên, thành thạo kĩ năng chính tả giúp sinh viên có một công cụ tốt, tạo điều kiện thuận lợi trong học tập và trong các mối quan hệ xã hội Sinh viên viết đúng chính tả là thể hiện sự thống nhất các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi Trường hoạt động Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam

1.2 Vậy mà hiện nay, có một hiện tượng đang diễn ra rất phổ biến, đó là tình trạng viết sai lỗi chính tả Hiện tượng này có thể gặp ở nhiều đối tượng khác nhau, trong đó có cả đối tượng sinh viên và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự trong sáng của tiếng Việt Tình trạng sinh viên mắc lỗi chính tả dẫn đến những hậu quả tai hại Với những người có những hiểu biết nhất định, nhất là đối với sinh viên, viết đúng hoàn toàn những Trường hợp nêu trên có thể đạt được và không phải việc quá khó khăn Thế nhưng, với thế hệ sinh viên hiện nay, trong đó có sinh viên Trường Đại học

Mỏ - Địa chất, những người trẻ, năng động, có tri thức, quyết định tương lai của đất nước thì việc viết sai chính tả lại đang trở thành một vấn đề đáng báo động Việc viết sai chính tả đối với sinh viên có thể phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như ý thức viết đúng chính tả, ảnh hưởng bởi phương ngữ, phát âm không chính xác, sự không cẩn thận, không nắm được các quy tắc về chính tả… Điều này đã, đang và sẽ gây ra rất nhiều hậu quả tai hại cho việc học tập và làm việc cho sinh viên sau này và hơn hết, nó đang ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt

1.3 Vì những tác hại như vậy, vấn để khắc phục lỗi chính tả cho sinh viên luôn là một vấn đề nổi cộm và được bàn bạc nhiều trong thời gian qua Tuy nhiên,

do đặc điểm của chữ quốc ngữ, việc rèn luyện kĩ năng viết đúng cho sinh viên không phải là vấn đề đơn giản Vấn đề khắc phục lỗi chính tả cho sinh viên dù đã đạt được một số thành tựu tốt nhưng vẫn còn nhiều điều phải bàn cãi

Vì những lí do trên chúng tôi nghiên cứu đề tài “Biện pháp chữa lỗi chính tả cho

Trang 8

sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất” nhằm chỉ ra nguyên nhân và tìm ra một số biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng đáng báo động này

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Lỗi chính tả và cách chữa lỗi chính tả là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm thực hiện Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về hai nhóm:

2.1 Những nghiên cứu về mặt lí thuyết liên quan trực tiếp đến đề tài

Chuẩn hóa tiếng Việt là vấn đề giành được sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp trong xã hội, trong đó chuẩn về chính tả có thể coi là bộ phận được chú ý đặc biệt Giáo sư Hoàng Tuệ đã nhận xét “Riêng về chuẩn chính tả và thuật ngữ tiếng Việt, thư mục Phòng tư liệu Viện Ngôn ngữ học (có cả phần trước cách mạng) lên tới gần 800 (sách, bài báo, tài liệu hội nghị )” Do vậy, trong điều kiện khách quan khó có thể có điều kiện tiếp xúc đầy đủ các tư liệu trên và cũng xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ chú ý tìm hiểu những tài liệu liên quan trực tiếp đến đề tài mà chúng tôi đang thực hiện

GS Hoàng Tuệ là người tâm huyết với vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ Trong

“Ngôn ngữ và đời sống xã hội – văn hóa”, có một loạt bài GS Hoàng Tuệ đề cập

đến chuẩn mực hóa tiếng Việt, thể hiện những ý tưởng, những mong muốn về vai trò văn hóa – xã hội của tiếng địa phương, chuẩn ngôn ngữ với những bó buộc và lựa chọn, ổn định và phát triển, một số vấn đề về chuẩn mực hóa ngôn ngữ, nhìn lại công việc chuẩn hóa tiếng Việt

Nhóm tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ trong

“Ngữ âm học Tiếng Việt hiện đại” đã đưa ra những nội dung, nguyên tắc, yêu cầu

của chính tả trong Nhà trường và một vài gợi ý về phương pháp khắc phục lỗi Là một tài liệu có tính chất giáo trình, cuốn sách cung cấp cho chúng tôi một số gợi ý khoa học

2.2 Những nghiên cứu có tính chất công cụ, đề xuất mang tính giải pháp

Những công trình thuộc dạng này trước hết phải kể đến “Chữa lỗi chính tả cho học sinh” của tác giả Phan Ngọc Cuốn sách ra đời khá sớm (1984) do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành Trong đó, ngoài phần nhận xét về phương pháp – cơ sở cho những giải pháp chữa lỗi ở phần II, tác giả đã đưa ra các phương pháp (mà tác giả gọi là “mẹo”) rất cụ thể, từ thanh điệu cho tới âm điệu, âm chính, âm cuối Phần III

và Phần IV tác giả chỉ ra cách áp dụng những kết quả của thống kê vào việc dạy

Trang 9

chính tả, các kiểu bài tập về chính tả được soạn dựa vào cách chữa lỗi ở phần II Cuốn sách có hạn chế là những lỗi chính tả và cách sửa lỗi mà tác giả nêu ra chỉ mới dựa trên cứ liệu về lỗi chính tả của miền Bắc và một số lỗi của miền Trung Còn các lỗi của miền Trung và miền Nam, như tác giả viết “không có điều kiện điều tra tại chỗ” nên “mới chỉ dừng lại ở lỗi phổ biến”, tác giả chờ đợi sự cộng tác của các giáo viên để có thể “biên soạn riêng những quyển cẩm nang chính tả cho từng vùng một”

Như để tiếp tục công việc mà tác giả Phan Ngọc chưa có điều kiện thực hiện, cuốn “Mẹo luật chính tả” của TS Lê Trung Hoa (Nxb Trẻ, 1994) ra đời Cuốn sách như tên gọi đã cố gắng “cung cấp một số hiểu biết về các hiện tượng có tính cách quy luật chi phối chính tả tiếng Việt, đồng thời nêu một số mẹo, giúp học sinh và bạn đọc phía Nam tránh được các lỗi chính tả thường mắc phải” Nhìn chung, cuốn sách mang tính chất thực hành, phù hợp với sinh viên và bạn đọc phổ thông Chúng tôi có thể tìm thấy ở cuốn sách những ngữ liệu để xây dựng biện pháp cung cấp cho sinh viên tham khảo và rèn luyện

Tác giả Phan Thiều trong “Rèn luyện ngôn ngữ” (Bài tập tiếng Việt thực hành) (Nxb Giáo dục, 1998) bên cạnh các phần bài tập rèn luyện từ ngữ, luyện nói, viết đúng ngữ pháp, tác giả dành hẳn hai chương để xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện chính âm và chính tả Cuốn sách nêu lên cơ sở lí luận và thực tiễn để từ đó đưa ra những bài tập chính tả cho người học luyện tập Những bài tập này lấy phụ

âm đầu và âm cuối làm cơ sở, các âm chính dễ sai được gắn vào với các âm cuối để luyện tập luôn Bài tập về thanh điệu tập trung vào lỗi sai phổ biến thanh hỏi và thanh ngã Nhìn chung, cuốn sách cho phép sử dụng một số ngữ liệu cung cấp cho sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất tham khảo và rèn luyện

Cùng với những nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, các cơ quan nhà nước cũng ban hành nhiều quy định về chính tả nhằm mục đích thống nhất chính tả tiếng Việt Những quy định như “Quy tắc chính tả và phiên chuyển tên riêng và thuật ngữ tiếng nước ngoài” do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Trung tâm Quốc gia biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam công

bố ngày 23/01/1997 áp dụng để in “Từ điển bách khoa Việt Nam” Những quy định mang tính chất nhà nước như “Quyết định của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng

Trang 10

Chính phủ ban hành Quy định tạm thời về viết hoa trong văn bản của Chính phủ và Văn phòng Chính phủ” ban hành ngày 22/11/1998 do Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đoàn Mạnh Giao kí Ngày 30/11/1980, Bộ Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục

và Đào tạo) và Ủy ban Khoa học Xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) đã ban hành “Một số quy định về chính tả tiếng Việt” Ngày 5/3/1984,

Bộ Giáo dục có Quyết định số 240/QĐ, ban hành "Quy định về chính tả tiếng Việt

và thuật ngữ tiếng Việt" do Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình kí Quy định này áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục; các thế hệ học sinh học theo sách giáo khoa đã thực hành trong văn bản của nhiều lĩnh vực xã hội, trong văn bản hành chính, trên báo chí và mạng xã hội hiện nay Ngoài ra, bộ Giáo dục còn tổ

chức soạn cuốn “Từ điển chính tả tiếng Việt” (dùng trong Nhà trường) xuất bản

năm 1985 – cuốn từ điển trình bày một cách cụ thể về các chuẩn chính tả Đây là chỗ dựa đáng tin cậy cho giáo viên và học sinh

Giáo sư Hoàng Thị Châu trong cuốn sách “Phương ngữ học tiếng Việt” (Nxb ĐHQGHN, 2002) đã giới thiệu những biến thể địa phương của tiếng Việt, lí giải các nguyên nhân xã hội và các quy luật biến đổi ngữ âm đã tạo ra sự đa dạng đó Những biến thể của tiếng Việt trên các miền đất nước đồng thời cũng là những chặng đường biến đổi của tiếng Việt Giáo sư Hoàng Thị Châu đã vận dụng những tư liệu

về lịch sử ngôn ngữ có được để xác định niên đại cho những mốc biến đổi Do đó, các vấn đề trong sách vừa thuộc về lĩnh vực ngôn ngữ học địa lí, vừa thuộc ngôn ngữ lịch sử, vừa là đồng đại và là lịch đại Cuốn sách đã chứng minh một nét khác biệt về ngữ âm của tiếng miền Nam ở phần vần là do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng Hán Triều châu, quê hương của phần lớn người Hoa di cư bằng đường biển sang nước ta Trong cuốn sách, tác giả đã phân vùng phương ngữ tiếng Việt và chỉ

rõ, lí giải những đặc điểm của ngôn ngữ từng vùng Ðồng thời, đã tìm ra được các quy luật biến đổi và phát triển của ngôn ngữ để từ đó hướng tới việc chuẩn hóa ngôn ngữ toàn dân

Cuốn “Giáo trình tiếng Việt 2” (Nxb ĐHSP, 2006) (dành cho giáo viên và ngành Giáo dục tiểu học) của tác giả Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh là tài liệu được dùng để đào tạo cử nhân ngành Sư phạm tiểu học Cuốn giáo trình được đa số các Trường Đại học sử dụng cho Trường chính đào tạo của ngành Giáo dục tiểu học

Trang 11

Phần lớn kiến thức cơ bản về tiếng Việt trong cuốn giáo trình này khá tương hợp với kiến thức được trình bày trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học hiện hành Những kiến thức được học trong giáo trình này sẽ luôn là kiến thức nền để sinh viên làm “hành trang” cho mình khi ra dạy phổ thông

Tác giả Nguyễn Đình Cao trong “Sổ tay chính tả tiếng Việt” (Nxb Giáo dục, 2008) cung cấp công cụ giúp học sinh tra cứu để viết đúng chính tả tiếng Việt Cuốn

sổ tay thu thập những từ ngữ thuộc bốn cặp phụ âm đầu ch/tr, d/gi/r, l/n, s/x và hai cặp phụ âm cuối c/t, n/ng mà học sinh hay lúng túng khi viết và dễ sai nhất Cuối các trang là phần cung cấp các thuật nhớ hay các mẹo chính tả giúp học sinh “nhập tâm” dạng viết đúng một cách hệ thống, có ý thức Ngoài phần thống kê từ ngữ dễ viết sai – phần chính của sổ tay, cuốn sổ tay còn cung cấp thêm một số điều cần biết

về chính tả tiếng Việt nhằm giúp học sinh có thêm những hiểu biết cơ bản về tiếng

mẹ đẻ liên quan tới chữ viết Nhìn chung cuốn sách nhằm mục đích giúp học sinh viết đúng tiếng Việt trong Trường hợp gay cấn, đồng thời giúp khơi gợi ở học sinh niềm hào hứng đi sâu khàm phá những đặc điểm lí thú, những quy luật độc đáo của tiếng Việt; nhờ đó nắm chắc hơn các quy tắc chính tả một cách có định hướng, có căn cứ

Qua những tài liệu đã nêu có thể thấy, vấn đề lỗi chính tả đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đưa ra khá nhiều giải pháp nhưng chưa có giải pháp nào chiếm ưu thế tuyệt đối

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tìm ra những lỗi sai chính tả phổ biến mà các bạn sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất mắc phải, từ đó sơ bộ tìm ra nguyên nhân và đề ra các biện pháp khắc phục

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.2.1 Nghiên cứu lí thuyết về chính tả

3.2.2 Khảo sát thực trạng mắc lỗi chính tả của sinh viên Trường Đại học

Mỏ - Địa chất, tìm ra nguyên nhân

3.2.3 Đưa ra một số giải pháp phù hợp, có tính khả thi để khắc phục thực trạng mắc lỗi trên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 12

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Khảo sát, đánh giá bài viết của sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất để thống kê những lỗi sai phổ biến, tìm ra nguyên nhân và biện pháp sửa chữa

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu những lỗi chính tả phổ biến của sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất

5 Giả thuyết khoa học

Nếu đề ra được những biện pháp phù hợp để khắc phục lỗi chính tả của sinh viên Trường đại học Mỏ - Địa chất thì sẽ hạn chế tình trạng mắc lỗi chính tả của sinh viên và nâng cao hiệu quả sử dụng tiếng Việt của sinh viên Trường Đại học

Mỏ - Địa chất

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Từ những tài liệu lí thuyết đã có, phân tích và tổng hợp chúng để xây dựng

cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu, đảm bảo tính hệ thống, khách quan và chặt chẽ Những nghiên cứu lí thuyết cũng cho phép nhóm nghiên cứu xây dựng giả thuyết khoa học cho đề tài

6.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Là phương pháp giúp nhóm nghiên cứu có thể tham khảo, sử dụng kiến thức của các chuyên gia về lĩnh vực phương pháp dạy học chính tả để bổ sung kiến thức, kiểm tra những giả thuyết khoa học một cách trung thực

7 Đóng góp của luận văn

Đề tài nghiên cứu thành công sẽ giúp cho những người làm công tác giảng dạy môn “Tiếng Việt thực hành” ở Nhà trường có cơ sở thực tiễn trong việc điều chỉnh nội dung kiến thức và hệ thống bài tập thực hành khi dạy học bộ môn để phù hợp hơn với thực tiễn Với các cấp quản lí giáo dục, các giảng viên ở Trường Đại

Trang 13

học Mỏ - Địa chất, những kết quả khảo sát, những nguyên nhân mắc lỗi chính tả được lí giải sẽ giúp họ có cái nhìn cụ thể hơn, chính xác hơn về thực trạng chính tả của sinh viên trong phạm vi mình quản lí

Qua hệ thống các giải pháp mà đề tài đưa ra, các giảng viên sẽ có thêm công

cụ để giúp sinh viên rèn luyện nhằm hạn chế lỗi chính tả khi viết văn bản Điều đó

sẽ giúp hiệu quả học tập của sinh viên được nâng cao, tạo điều kiện tốt để sinh viên học tập và sinh hoạt xã hội Đồng thời góp phần khẳng định tính thực thi của việc sửa lỗi chính tả cho sinh viên Đại học, đóng góp vào công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung của luận văn gồm có ba chương:

Chương 1 Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2 Thực trạng mắc lỗi chính tả của sinh viên Trường Đại học Mỏ -

Địa chất

Chương 3 Nguyên nhân và biện pháp khắc phục

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Giới thiệu khái quát về tiếng Việt

1.1.1.1 Khái quát lịch sử phát triển của tiếng Việt

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt-Mường, tiểu chi Việt Chứt, nằm trong khối Việt Katu, thuộc khu vực phía đông của ngành Mon-Khmer, họ

Nam Á [Trích dẫn trong sách “Lược sử Việt ngữ học” tập 1, GS TS Nguyễn Thiện

Giáp chủ biên, Nxb Giáo dục, 2005, trang 15-19]

Sự tiếp xúc với người Hán, tiếng Hán, văn hoá Hán đã xảy ra trước khi người Hán xâm lược, nhưng để lại dấu ấn sâu đậm vẫn là sự tiếp xúc trực tiếp trong suốt

1000 năm Bắc thuộc

Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập tự chủ Mối quan hệ với tiếng Hán không còn là quan hệ trực tiếp như trước nữa Mặc dù nhà nước phong kiến Việt Nam vẫn duy trì việc sử dụng chữ Hán, coi chữ Hán là văn tự chính thức, việc

tổ chức học hành, thi cử bằng chữ Hán ngày càng có quy mô nhưng tiếng Hán không còn là sinh ngữ như trước nữa Từ đây tiếng Việt diễn biến theo quy luật nội tại, nó còn Việt hóa cả kho từ ngữ gốc Hán diễn biến theo quy luật của mình

Khi nước nhà giành được độc lập, người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi lại tiếng nói Đây là một loại chữ được tạo ra theo nguyên tắc và trên cơ sở của tiếng Hán Bên cạnh nền văn hiến dân tộc viết bằng chữ Hán, theo truyền thống Hán, còn có một nền văn hiến dân tộc viết bằng chữ Nôm ngày càng phát triển Cũng từ đó, vai trò của tiếng Việt ngày càng phát triển mạnh mẽ

Sự hình thành chữ quốc ngữ: [Trích dẫn trong sách “Giáo trình tiếng Việt

2”, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh, Nxb ĐHSP, 2006]

Là hệ thống chữ viết ghi âm vị, xây dựng dựa trên cơ sở chữ cái Latin

Chữ Việt được sáng chế khoảng nửa đầu thế kỉ XVII, có lẽ do các giáo sĩ Bồ Đào Nha mà người đầu tiên có thể là Francisco de Pina Trong bài tựa cuốn từ điển

Bồ - La in tại Roma năm 1651, Alexandre de Rhodes có viết như sau: “Ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai

Trang 15

năm, thời gian mà tôi lưu trú tại hai xứ Cô-sinh và Đông Kinh, thì ngay từ đầu tôi

đã học với cha Francisco de Pina người Bồ Đào Nha thuộc dòng hội Giê-su rất nhỏ

bé, chúng tôi là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này và cũng là người thứ nhất bắt đầy giảng thuyết bằng ngôn ngữ đó mà không dùng thông ngôn”

Tiếc rằng Pina (ở nước ta từ 1617 đến khi mất là 1625) không để lại một tài liệu nào về chữ Việt trong thời kì phôi thai này, mà ta chỉ có thể biết qua đôi điều nhờ các văn bản của các giáo sỹ người Ý như F.Busomi (1624), Baldinotte (1629)

và Ch.Bỏi (1631)

- Chữ Việt chưa có các dấu thanh: chiam (chẳng), muon (muốn), biet (biết),

doy (đói), caij (cái), saij (sãi), guoo (nhỏ), nua (nửa), nuoee (nước), laom (lòng)

- Chưa có các con chữ ă, ô, ư, ê

- Có một số yếu tố Ý (sein, gnoo), nhưng về căn bản thì chịu ảnh hưởng rõ rệt Bồ Đào Nha

Từ năm 1963, cả hai giáo sĩ Bồ Đào Nha khác đến nước ta: Gaspan de Amrral (mất năm 1646) và Antonio de Barbosa (mất năm 1647), người thì soạn từ điển Việt - Bồ, người thì soạn từ điển Bồ - Việt Hai công trình này (viết tay) đã được A de Rhodes lấy làm nền tảng cho tác phẩm nối tiếng của mình, như lời tự nhận của ông làm bài tựa

Năm 1645, có một bản tường trình của giáo sĩ Marini về một cuộc hội thảo quy tụ 35 giáo sĩ ở ba nước: Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản trong đó có cả Amrral, Barbosa và Rhodes Qua đó ta thấy chữ Việt thời này có những đặc điểm:

- Có thêm các con chữ mới: ă, â, ê, ô, ơ, ư

- Ảnh hưởng Bồ Đào Nha át hẳn ảnh hưởng Ý: ch thay cho ei – (cha, chăng),

nh thay cho nguồn gốc – (nhận), x thay cho se (xác)

- Một yếu tố vẫn chưa ổn định: các âm cuối: -I, -y, -ng, âm đầu v/u…

Năm 1651, A de Rhodes cho nhà in ở Roma đúc chữ Việt Nam lần đầu tiên

để in cuốn từ điển Việt – Bồ - Latin, “tờ giấy khai sinh” của chữ Việt Thời này chữ Việt có các đặc điểm:

- Có thêm con chữ mới đ và dấu hỏi

- Có những cách viết khác ngày nay, có thể do có âm vần tiếng Việt thời ấy hoặc do cách phiên âm thời ấy

Trang 16

bl- :blời (trời), blăng (trăng), blúc blắc (lúc lắc)…

tl- : tle (tre), tlâu (trâu), tlên (trên)…

ml- : mlẽ (lẽ), mlát (lát), mlời (lời)…

-ão : ão (ong), são (song), tlão (trong)…

-oũ : oũ (ông), doũ (đồng), tloũ (brông)…

uâ: tuẩy (tuổi), muấn (muốn), ruầi (ruồi)…

ưâ: xưâng (xương), tưầng (tường), nhưầng (nhường)…

êy: ếy (ấy), lếy (lấy)…

êo: nhềo (nhiều)…

oên: coên (quên)…

uên: cuên (quân)…

Vào cuối thế kí XVIII Pigneau de Béhaine soạn một từ điển Việt – Latin (1772): hình thức chữ Việt ngày nay là do Béhaine tu sửa mà thành, về sau, đầu thế

kỉ XIX, Taberd một giám mục Pháp khác sử dụng thành quả của Béhaine để soạn cuốn Nam Việt dương hiệp tự vị là từ điển Việt – Latin (1838), trong đó cách viết chữ Việt giống hệt ngày nay

Trong khoảng thời gian hai thế kỉ, từ khi xuất hiện cho đến khi hoàn chỉnh chữ Việt chỉ khi được dùng trong phạm vi nhà thờ Thiên chúa giáo Cuối thế kỉ XIX, sau khi xâm lược nước ta Pháp khuyến khích phổ biến chữ Việt với mục đích thực dân Năm 1865, tờ báo đầu tiên dùng chữ Việt là Gia Định báo (công báo của chính quyền Pháp ở Nam Kỳ) Chữ “Quốc ngữ” được đem ra dạy ở các Trường học, khoảng năm

1878 Từ năm 1882 thống đốc Nam Kỳ kí một nghị định bắt buộc dùng chữ Việt trong các công văn Trong khi đó, các nho sĩ Việt Nam lạnh nhạt với chữ “Quốc ngữ”, coi đó như một chữ “ngoại lai”

Đầu thế kỉ XX, tình hình đổi ngược: trong khi người Pháp tính cách hạn chế phạm vi sư dụng của chữ Việt thì các nhà nho yêu nước bắt đầu ý thức được tầm quan trọng của chữ “quốc ngữ” trong công cuộc chống ngoại xâm, nên đã vận động truyền bá chữ “quốc ngữ” (Phong trào Đông Kinh nghĩa thục) Báo chí bằng chữ Việt ngày càng nhiều và sau kì thi Hương cuối cùng 1919, chữ Việt trở thành chữ chính thức và thông dụng của nước ta, một địa vị mà chữ Hán đã chiếm lĩnh từ xưa cho đến bây giờ Nhờ sử dụng chữ Việt mà từ đầu thế kỉ XX, một nền văn chương học thuật mới được thành lập và phát triển cực kì nhanh chóng: số lượng tác giả và tác phẩm có

Trang 17

giá trị viết bằng tiếng Việt ngày càng tăng mau; tiếng Việt ngày càng điêu luyện, phong phú và cho đến nay nó đủ năng lực để sử dụng trong tất cả các ngành khoa học

kĩ thuật

Chữ Việt so với chữ Nôm cũng như các thứ chữ khác có những ưu điểm nổi bật Đó là thứ chữ ghi âm vị, một loại hình chữ viết tiến bộ nhất; cơ sở của nó dựa trên những con chữ Latin phổ biến rộng rãi nhất trên thế giới; về hiệu quả ghi âm thì hiện nay chữ Việt còn theo gần sát với ngữ âm tiếng Việt Nó dễ học, dễ viết và có thể giúp ta dễ dàng tiếp thu các ngoại ngữ quan trọng nhất cùng một hệ chữ Latin

Tuy nhiên, chữ Việt chưa phải là hoàn thiện Do những nguyên nhân lịch sử

nó có những nhược điểm sau đây:

- Không đảm bảo sự tương ứng một – đối – một giữa âm và chữ Âm vị /k/ ghi bằng một trong ba con chữ c, k, q; con chữ g ghi lại một trong hai âm vị /ɤ,Z/…

- Có những nhóm hai ba con chữ không cần thiết để ghi âm vị: ph, ngh…

Nhược điểm đó gây nên những hiệu quả không tốt: việc dạy và học gặp những khó khăn vô ích, việc in sách báo tạo những tốn kém (công của và thời gian) không đáng có Do đó, từ lâu, từ cuối thế kỉ XIX, vấn đề cải tiến chữ Việt đã được đặt ra Và xưa nay, cứ cách ít lâu lại có đề nghị sửa đổi chữ viết về một mặt nào đó, tổng cộng số người đề nghị chừng khoảng hai mươi người kể cả các hội nghị chuyên bàn về vấn đề này (1902, 1906, 1960, 1978) thì số người tham gia ý kiến còn đông hơn gấp bội Mặc dù vậy, cho đến nay vấn đề này vẫn chưa được giải quyết

Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn căn cứ vào tình thế ngôn ngữ, tức là thế tương quan giữa các ngôn ngữ, văn tự có sự tiếp xúc với nhau đã phân kì lịch sử phát triển của tiếng Việt như sau:

A

Giai đoạn proto

Việt

- Có 2 ngôn ngữ: tiếng Hán (khẩu

ngữ của lãnh đạo) và tiếng Việt

- 1 văn tự: chữ Hán

Vào khoảng thế kỉ VIII, X

B

Giai đoạn tiếng

Việt tiền cổ

- Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt (khẩu

ngữ của lãnh đạo) và văn ngôn Hán

- 1 văn tự: chữ Hán

Vào khoảng thế kỉ X–XII

D Giai đoạn tiếng - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn Vào khoảng thế kỉ

Trang 18

Việt trung đại ngôn Hán

- Có 3 ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng

Việt và văn ngôn Hán

- 4 văn tự: Pháp, Hán, Nôm, quốc

ngữ

Vào thời Pháp thuộc

F Giai đoạn tiếng

Việt hiện đại

- Có 1 ngôn ngữ: tiếng Việt

- Ngôn ngữ có sự hài hòa ngữ âm, nhạc điệu câu văn

Ví dụ: Long lanh đáy nước in trời

Ví dụ: Tôi là sinh viên: C-V, P

- Phương thức hư từ cũng là phương thức ngữ pháp quan trọng trong tiếng Việt

Ví dụ: Trời xanh mây trắng, ô kìa

1.1.1.3 Ngữ âm tiếng Việt

* Âm tiết tiếng Việt và đặc điểm của âm tiết tiếng Việt:

Âm tiết tiếng Việt là âm đoạn tự nhiên nhỏ nhất trong chuỗi lời nói Việt ngữ

Âm tiết tiếng Việt có đặc điểm: (Trích dẫn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”,

Trang 19

- Cấu trúc chặt chẽ:

Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ, nhƣng có thể tách ra từng phần Ví dụ: Trời: tr-ơi-huyền-tr/ời

- Cấu trúc âm tiết tiếng Việt có năm phần: Phụ âm đầu, âm chính, âm đệm,

âm cuối, thanh điệu

* Âm tố tiếng Việt:

Âm tố tiếng Việt là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, không thể phân chia đƣợc

Âm tố tiếng Việt phân loại thành: nguyên âm, phụ âm, bán âm

* Âm vị tiếng Việt

Âm vị (phoneme) tiếng Việt là đơn vị tối thiểu của hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ dùng để cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các đơn vị có nghĩa của tiếng Việt (a,b,c, )

Phân biệt âm vị với âm tố: âm vị là đơn vị trừu tƣợng, âm tố là đơn vị cụ thể

Âm vị đƣợc thể hiện bằng âm tố, âm tố là sự hiện diện của âm vị Âm vị chỉ gồm đặc trƣng khu biệt, âm tố có cả đặc trƣng, đặc trƣng khu biệt lẫn đặc trƣng không khu biệt

Trang 20

/u/: khi đi trước các nguyên âm còn lại (huy, huệ, thuở )

Đi sau phụ âm │k│ khi viết "q" âm đệm W│viết thành "u" (quê, que )

Âm chính:

Tiếng Việt có 13 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi là âm chính: │i, e, ε, ɤ,

ɤˇ, a, ɯ, ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ, ie, ɯɤ, uo│Thể hiện bằng chữ viết

Âm cuối

Tiếng Việt có 8 âm cuối gồm sáu phụ âm: │m, n, ŋ, p, t, k│và hai bán âm:

│-w, -j│, ngoài ra còn có âm cuối zéro

Thể hiện bằng chữ viết: m, n, ng, p, c, t

Quy luật biến dạng âm cuối:

Tất cả phụ âm cuối là những phụ âm đóng

Thanh điệu tiếng Việt:

 Ðịnh nghĩa :

Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một âm tiết có tác dụng khu biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị Tiếng Việt hiện đại bao gồm 6 thanh điệu

 Những nét khu biệt của thanh điệu:

Nét khu biệt dựa vào đặc trưng điệu tính:

Ðặc trưng Âm vực

Ðặc trưng âm điệu

Nét khu biệt dựa vào đặc trưng phi điệu tính: Ðó là những đặc trưng còn lại như: cường độ , trường độ, hiện tượng yết hầu hóa

 Thanh điệu trong phương ngữ Bắc Bộ

Thanh 1: Không dấu

Thanh 2: Dấu huyền

Thanh 3: Dấu ngã

Thanh 4: Dấu hỏi

Thanh 5: Dấu sắc

Thanh 6: Dấu nặng

 Thanh điệu trong các phương ngữ khác:

Trong phương ngữ Trung Bộ thanh điệu bao gồm 5 thanh (thanh 3 và thanh

Trang 21

4 trùng nhau), riêng vùng Nghệ An thường có 4 thanh (Thanh 2 và thanh 5 trùng nhau; thanh 3 và thanh 6 trùng nhau)

Trong phương ngữ Nam Bộ có 5 thanh điệu (thanh 3 và thanh 4 trùng làm một)

 Sự phân bố thanh điệu trong các loại hình âm tiết:

Sự phân bố thanh điệu trong các loại hình âm tiết có thể tóm tắt trong sơ đồ sau:

Thanh điệu Không dấu Huyền Ngã Hỏi Sắc Nặng

Trước đây, trong các sách thường dùng từ “phương ngôn” theo cách dùng của Trung Quốc Nhưng vì từ “phương ngôn” ở trong tiếng Việt đã được dùng để chỉ “tục ngữ ở địa phương”, cho nên dùng từ này dễ gây hiểu lầm từ “tiếng địa phương” cũng

có thể dùng được, nhưng hình thức cấu tạo không mang tính chặt chẽ như từ “phương ngữ” Từ ngữ “thổ âm” hay từ “giọng địa phương” chỉ nhấn mạnh khía cạnh ngữ âm hoặc giọng nói địa phương

Trong một nước có thể có một hoặc nhiều phương ngữ bên cạnh một ngôn ngữ toàn dân Sự ra đời của phương ngữ trong lòng ngôn ngữ toàn dân là kết quả của hai tác động:

- Tác động thứ nhất: do từ bên trong, từ cấu trúc ngôn ngữ, đó là ngôn ngữ thay đổi ở trong hoạt động giao tiếp với tính cách một tập hợp những tập quán nói năng Đây là mặt ngôn ngữ học của vấn đề

- Tác động thứ hai: là sự tác động của những nhân tố bên ngoài ngôn ngữ Trước tiên sự phân bố tách biệt khác nhau về mặt địa lí, là điều ai cũng nhìn thấy

Trang 22

Nhưng cái thực chất trái lại chỉ những nhà ngôn ngữ học mới có thể nhìn ra được chính là lịch sử phát triển của ngôn ngữ ảnh xạ lên sự phân bố địa lí

1.1.2.1 Ba vùng phương ngữ chính tiếng Việt

Một phương ngữ được được xác định bằng một tập hợp những đặc trưng ở nhiều mặt: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng ngữ nghĩa đối lập với các phương ngữ khác Nếu tạm gác lại các nét dị biệt không căn bản ở những địa phương hẹp, chúng ta có thể phân chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ là: Phương ngữ Bắc dùng trong giao tiếp ở Bắc Bộ, phương ngữ này là cơ sở hình thành nên ngôn ngữ văn học; phương ngữ Trung bao gồm các tỉnh Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến đèo Hải Vân Đây là phương ngữ bảo lưu nhiều yếu tố của tiếng Việt; phương ngữ Nam trải dài từ đèo Hải Vân đến miền cực nam đất nước là một phương ngữ mới, được hình thành dần dần trong vòng năm thập ki gần đây

- Trong số 20 âm vị trên, không có những phụ âm ghi trong chính tả là s, r,

gi, tr Tức là không phân biệt giữa: s/x, r/d/gi, tr/ch

* Hệ thống âm cuối

- Số lượng: Có đủ các âm cuối ghi trong chính tả

- Có 3 cặp âm cuối nằm trong thế phân bố bổ sung là:

+ [-nh, -ch] đứng sau nguyên âm dòng trước: /i, e, ê/;

+ [-ng, -k] đứng sau nguyên âm dòng giữa (hàng sau không tròn môi – theo cách gọi của GS Đoàn Thiện Thuật): /ư, ơ, â, a/

+ [-ngm, kp] đứng sau nguyên âm dòng sau tròn môi: /u, ô, o/

Trong chính tả, đôi phụ âm thứ 3 này không được thể hiện phân biệt với đôi phụ âm thứ 2, mặc dù chúng được phát âm khác nhau (cặp thứ 2 là các âm cuối mở, còn cặp thứ 3 lại là các âm cuối ngậm môi)

* Phương ngữ Bắc lại có thể được chia thành 3 vùng nhỏ hơn:

Trang 23

- Phương ngữ vòng cung biên giới phía Bắc nước ta

Phần lớn người Việt ở khu vực này đều mới đến từ các tỉnh đồng bằng có mật độ cao như Thái Bình, Hà Nam Ninh (cũ) Do quá trình cộng cư xảy ra gần đây nên phương ngữ này phát triển theo hướng thống nhất với ngôn ngữ văn học, mang những nét khái quá chung của phương ngữ Bắc, và không chia manh mún thành nhiều thổ ngữ làng xã như phương ngữ Bắc ở các vùng đồng bằng – cái nôi của người Việt cổ

- Phương ngữ vùng Hà Nội và các tỉnh xung quanh (Hà Bắc (Bắc Ninh, Bắc

Giang), Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc, Phú Thọ), Hà Sơn Bình (Hà Tây, Hoà Bình), Hải

Hưng (Hải Dương, Hưng Yên), Hải Phòng)

Đây là vùng mang những đặc trưng tiêu biểu của phương ngữ Bắc

- Phương ngữ miền hạ lưu sông Hồng và ven biển (Thái Bình, Hà Nam Ninh,

Quảng Ninh)

Vùng này còn lưu giữ lại cách phát âm khu biệt

Ví dụ: d với gi/r; s với x; tr với ch mà các phương ngữ Bắc khác không

phân biệt nữa

b Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Trung

- Trong số 23 phụ âm trên, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi /ş, z, /

(chữ quốc ngữ ghi bằngs, r, tr) Trong nhiều thổ ngữ có 2 phụ âm bật hơi [ph, kh]

(giống như chữ viết đã ghi lại) thay cho 2 phụ âm xát /f, χ/ trong phương ngữ Bắc

* Hệ thống âm cuối

Phụ âm /-ŋ, -k/ có thể kết hợp được với nguyên âm ở cả 3 hàng Tuy vậy, trong những từ chính trị-xã hội mới xuất hiện gần đây vẫn có các cặp âm cuối [-nh, ch] và [-ngm, kp]

* Phương ngữ Trung cũng có thể chia thành 3 phương ngữ nhỏ hơn

Cơ sở của sự phân chia này là sự khác nhau về thành điệu giữa 3 khu vực

- Phương ngữ Thanh Hoá

Trang 24

+ Lẫn lộn thanh hỏi với thanh ngã (phát âm không phân biệt)

+ Các thanh còn lại giống với phương ngữ Bắc

- Phương ngữ vùng Nghệ Tĩnh

+ Không phân biệt thanh ngã với thanh nặng

+ Cả 5 thanh tạo thành một hệ thống thanh điệu khác với phương ngữ Bắc do

có độ trầm lớn hơn

- Phương ngữ vùng Bình Trị Thiên

+ Không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã

+ Về mặt điệu tính lại giống với thanh điệu Nghệ Tĩnh Riêng vùng Thừa Thiên-Huế có hệ thống vần và âm cuối giống phương ngữ Nam Điều này có nguồn gốc lịch sử -xã hội Vì vậy, do sự pha trộn phương ngữ Trung và phương ngữ Nam trong phương ngữ Thừa Thiên-Huế, nên nó không tiêu biểu cho cả vùng Tiêu biểu cho phương ngữ Trung là dải phương ngữ từ Nghệ Tĩnh đến sông Bến Hải

c Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Nam

* Hệ thống thanh điệu

- Số lượng: 5 thanh

- Thanh ngã với thanh hỏi trùng làm một

- Xét về mặt điệu tính thì đây là một hệ thống khác với phương ngữ Trung và phương ngữ Bắc

* Hệ thống phụ âm đầu

- Số lượng: 23 phụ âm

- Có các phụ âm uốn lưỡi /ş, z, / (chữ viết ghi là s, r, tr) Ở Nam Bộ, có thể

phát âm rung lưỡi [r] So với các phương ngữ khác, phương ngữ Nam thiếu phụ âm /v/, nhưng lại có thêm âm [w] bù lại; không có âm /z/ và được thay thế bằng âm [j]

* Âm đệm /-w-/ đang biến mất dần trong phương ngữ Nam

Phương ngữ Nam cũng mất đi nhiều vần so với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung Và nó cũng thiếu cặp âm cuối /-ŋ, k/ Trong khi đó, cặp âm cuối [-

ngm, kp] lại trở thành những âm vị độc lập

* Phương ngữ Nam có thể chia thành 3 vùng nhỏ hơn

- Vùng phương ngữ Quảng Nam - Quảng Ngãi:

Vùng này khác các nơi khác ở sự biến động đa dạng của âm /a/ và /ă/ trong kết hợp với các âm cuối khác nhau

Trang 25

- Các phương ngữ Quy Nhơn đến Thuận Hải mang đặc trưng chung nhất của phương ngữ Nam

- Phương ngữ Nam Bộ đồng nhất các vần:

-in, -it với -inh, -ich

-un, -ut với -ung, -uc

Vùng này cũng có khuynh hướng lẫn lộn s/x và tr/ch như phương ngữ Bắc

Nhưng trong ngôn ngữ thông tin đại chúng, trong các hoạt động văn hoá giáo dục,

sự phân biệt các phụ âm này lại được duy trì rất có ý thức

Phương ngữ Bắc Phương ngữ Trung Phương ngữ Nam

này ni, nì, này nầy

thế này ri này vầy, như vầy

Phương ngữ Bắc Phương ngữ Trung Phương ngữ Nam

tôi tôi, tui tui

chúng tôi bọn tui tụi tui

chúng tao choa, bọn choa, bọn tau tụi tao

Trang 26

1.1.2.2 Vùng phương ngữ chuyển tiếp

Đây là những vùng có nhiều đồng ngữ tuyến chạy qua là ranh giới của phương ngữ Chẳng hạn: Vùng Thừa Thiên - Huế là vùng chuyển tiếp giữa phương ngữ Trung và phương ngữ Nam Và Thanh Hóa là vùng chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung

Tiếng địa phương Thanh Hóa được coi là "một thổ ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ", vừa có yếu tố giống phương ngữ Trung, lại vừa có yếu tố giống phương ngữ Bắc Một số tác giả còn cho rằng tiếng Thanh Hóa

là "nguồn cội", "điểm xuất phát" của phương ngữ Nam Trung Bộ gắn với quá trình

mở cõi vào Nam của chúa Nguyễn Phương ngữ Thanh Hóa còn bảo lưu nhiều yếu

tố cổ của tiếng Việt

1.1.3 Chính âm

1.1.3.1 Khái niệm chính âm

Chính âm là chuẩn mực phát âm một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực về mặt

Trang 27

xã hội [Trích dẫn trong sách “Giáo trình tiếng Việt 2”, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu

Tỉnh, Nxb ĐHSP, 2006]

Vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ thường được đặt ra đối với những thứ tiếng đã phát triển đến trình độ ngôn ngữ của toàn dân tộc, chính âm là một mặt quan trọng của việc tiêu chuẩn hóa ấy

1.1.3.2 Yêu cầu cơ bản của chính âm

Là xây dựng hệ thống ngữ âm chuẩn và xác định cách phát âm chuẩn tương ứng với hệ thống ngữ âm ấy, thống nhất trong phạm vi toàn dân để ngôn ngữ có thể thực hiện thuận lợi chức năng làm công cụ giao tiếp của mình

Việc xây dựng hệ thống ngữ âm chuẩn và phát âm lâu nay gặp nhiều khó khăn vì còn nhiều vùng phương ngữ với những cách phát âm khác nhau Hiện nay, vấn đề thống nhất ngôn ngữ trên toàn quốc được đặt ra cấp bách hơn Vì vậy, việc xây dựng hệ thống ngữ âm chuẩn cần phải được quan tâm để xã hội, đặc biệt là Nhà trường có cơ sở thực hiện

1.1.3.3 Nội dung cơ bản của công tác chính âm

Gồm hai điểm: xác định hệ thống ngữ âm chuẩn, phổ biến rộng rãi hệ thống

ấy và lựa chọn cách phát âm đúng nhất cho các từ có biến âm

* Hệ thống ngữ âm chuẩn của ngôn ngữ được hình thành từ tiếng địa phương – tiếng địa phương đó thường (nhưng không nhất thiết) là của thủ đô và do yếu tố chính trị quyết định Hệ thống âm chuẩn này được xác lập qua một quá trình tự nhiên, lâu dài hàng thế kỉ

Tiếng Việt là ngôn ngữ chung cho toàn dân tộc Việt Nam, nhưng cũng như các ngôn ngữ khác, do sự phát triển theo chiều dài lịch sử từ xưa đến nay, ngữ âm tiếng Việt không phải hoàn toàn thống nhất từ Bắc chí Nam, vẫn có những sai biệt địa phương Hiện nay tiếng Việt có ba phương ngữ: miền Bắc, miền Trung (từ Nghệ

An đến Huế) và miền Nam (từ Quảng Nam trở vào) Trong từng phương ngữ lại có những thổ ngữ khác nhau Bức tranh thổ ngữ tiếng Việt thực ra còn phức tạp hơn nhiều bởi trong thổ ngữ còn có những thổ ngữ nhỏ Như vậy, cách phát âm tiếng Việt giữa các miền còn nhiều điểm khác nhau, do đó, khó xác định hệ thống ngữ âm chuẩn Bên cạnh việc coi trọng tính hệ thống (đã được phổ biến rộng rãi) ta cần phải chú ý đến thói quen phát âm mang tính địa phương và khả năng tác động của con

Trang 28

người đến ngôn ngữ cụ thể Phương ngữ các vùng ở miền Trung và Nam Bộ so với miền Bắc (lấy Hà Nội làm trung tâm) có cách phát âm khác nhiều: khác về từ vựng, thanh điệu và khác về âm đầu, âm chính âm cuối… Cách phát âm khác nhau này dẫn đến sự viết sai chính tả (vì chữ viết là chữ ghi âm) ảnh hưởng đến nhu cầu giao tiếp chung của xã hội, tình hình đó phần nào tác động đến hệ thống ngữ âm chuẩn

Vì vậy, khi xét tiêu chuẩn ngữ âm của tiếng Việt cần phải thấy được mặt vật chất (được cố định trên chữ ciết và trong từ điển) và mặt lí tưởng (chỉ được nhận thức tương đối qua những lệch lạc trong phát âm), tức là phải phân biệt sự khác nhau giữa hệ thống âm chuẩn và hệ thống âm địa phương

Quan niêm về hệ thống ngữ âm chuẩn tiếng Việt: từ trước tới nay, có rất nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề chính âm tiếng Việt, song tựu chung đều tán thành

hệ thống ngữ âm chuẩn tiếng Việt như sau:

+ Số lượng thành phần vị âm trong kết cấu âm tiết ở dạng đầy đủ nhất là 4 (chưa kể thanh điệu)

Thanh điệu

+ Số lương thanh điệu là 6: thanh không dấu (thanh ngang), thanh huyền, thanh ngã, thanh hỏi, thanh sắc, thanh nặng

+ Có hệ thống phụ âm đầu (đối lập với các phụ âm cuối) Trong hệ thống phụ âm cuối có các âm / n, t / đối lập với / ng, c /

Hiện nay chỉ có vấn đề phát âm mà chữ viết phân biệt d/ gi là còn nhiều ý kiến tranh cãi Trong thực tế, hiện tượng phát âm lẫn lộn giữa một số từ trong hệ thống ngữ âm vẫn được xác định bằng hệ thống chữ viết từ lâu vốn quen thuộc với nhiều người trong cả nước Vì thế, dựa vào nguyên tắc chính âm và căn cứ tác động tích cực vào chữ Việt, chúng ta quan niệm: Hệ thống ngữ âm chuẩn của tiếng Việt hiện đại là hệ thống ngữ âm đã được cố định trên chữ viết với sự phát triển của tiếng Việt hiện nay (có sự pha trộn lớn về ngữ âm giữa các vùng, dùng nhiểu hơn các vần “oong, ooc”… xuất hiện thêm 2 âm vị phụ âm đầu /p/ và /r/ và các phụ âm kép)

* Lựa chọn phát âm chuẩn nhất cho các từ có biến âm: Phát âm đúng tức là

Trang 29

phát âm theo quy định của chính âm, như vậy là phải bảo đảm việc đọc đúng các phụ âm đầu, các vần và các thanh điệu Biến âm là những biến đổi về âm thanh theo những quy luật nhất định (VD Các biến âm địa phương) Khi lựa chọn cách phát

âm đúng nhất cho các từ biến âm, người ta thường căn cứ theo nguyên tắc sau:

- Coi trọng tính hệ thống và tôn trọng thói quen

- Coi trọng uy tín của nguồn tài liệu khi nó có mức độ sử dụng rộng rãi và có tác động tích cực về mặt giao tiếp trong xã hội

- Chú ý đến chiều hướng phát triển

1.1.4 Chính tả

1.1.4.1 Khái niệm

Chính tả [theo “Từ điển tiếng Việt”] là “Cách viết chữ được coi là chuẩn”

Chính tả là tổng hợp các quy tắc chung được toàn xã hội công nhận và sử dụng về chữ viết (để ghi tiếng nói)

Trong ngôn ngữ học, chính tả (chữ Hán: 正寫) của một ngôn ngữ là một hệ thống các quy tắc ghi chép lại lời nói được cộng đồng người sử dụng chấp nhận một cách chính thức (qua các thể chế của nhà nước) hoặc rộng rãi

"Chính tả" là một từ Hán Việt, trong đó "chính" 正 có nghĩa là đúng, "tả" 寫 có nghĩa là viết, "chính tả" 正寫 dịch sát nghĩa từng chữ là "viết đúng"

- Thay đổi theo văn hóa: trong các cộng đồng văn hóa khác nhau Ví

dụ ngào (Nghệ An) hay nhào trộn (phổ biến) trong me ngào muối ớt, té (miền Bắc) hay chuồn, trốn (phổ biến), chế, ché (tiếng Mường)

- Thay đổi theo ngữ cảnh và không gian

1.1.4.3 Ba kiểu chính tả thường gặp trong các ngôn ngữ

Chính tả của một thứ tiếng nào đó thường tuân theo một vài nguyên tắc, trong đó có một vài nguyên tắc chỉ đạo Ba nguyên tắc thường gặp trong chính tả là:

Trang 30

ngữ âm (hay ghi âm), lịch sử (hay truyền thống) và hình thái

* Chính tả ngữ âm (kiểu chữ ghi âm):

Là loại chính tả mỗi âm ghi bằng một chữ và mỗi chữ ghi một âm Theo nguyên tắc này, cách đọc và cách viết thống nhất với nhau Đọc như thế nào viết như thế ấy Trong những giờ chính tả theo nguyên tắc ngữ âm, học sinh sẽ xác định được cách viết đúng bằng việc tiếp nhận chính xác âm thanh của lời nói Cơ chế của cách viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa ngữ âm và chữ Nếu phân tích âm thanh nghe đọc một cách chính xác và nhớ được bằng chữ cái thì việc viết đúng sẽ không quá khó khăn đối với học sinh, sinh viên Trong Trường hợp này quy tắc thường được nêu lên là: hãy viết như đã nghe

* Chính tả lịch sử:

Là loại chính tả dựa vào cách phân loại cổ truyền hoặc âm xa xưa, không kể ngày nay phát âm như thế nào Chính vì vậy, không thể dựa vào âm thanh để xác định cách viết trong chính tả lịch sử Ở đây để viết đúng chính tả theo nguyên tắc lịch sử, học sinh cần phải ghi nhớ các từ Khác chính tả ngữ âm (mẫu âm thanh rất quan trọng), chính tả lịch sử lấy mẫu thị giác làm chỗ dựa

* Chính tả hình thái:

Là loại chính tả dựa vào dạng gốc của từ hay của một yếu tố cấu tạo từ, không kể cách phát âm thực tế như thế nào Chính tả hình thái chữ quy định cách viết của một số hành vi nhất định nên việc phân tích bản chất ngữ pháp của các hiện tượng chính tả là quan trọng và cần thiết (vì chỉ ra mối quan hệ giữa hình thức và nội dung ý nghĩa)

Chính tả tiếng Việt về cơ bản là chính tả ngữ âm học Do dựa vào nguyên tắc ghi âm nên chữ viết tiếng Việt tương đối thuận tiện và đơn giản Tuy vậy, trong chính tả tiếng Việt cần chú ý một vài điểm sau:

Chính tả tiếng Việt không dựa hoàn toàn vào cách phát âm thực tế của một vùng nhất định nào Bởi lẽ, mỗi địa phương đều có những điểm chưa chuẩn trong cách phát

âm Vì vậy, không thể dựa vào việc “nghe như thế nào, viết như thế nấy được” Chẳng hạn, không thể viết là lo (trong từ ấm no) khi nghe một người vùng Hải Hưng nói; Còn

ở vùng Nghi Lộc tỉnh Nghệ An, không chỉ học trò mà cả người dân trong các vùng khi nghe phát âm sẽ khó phân biết được đâu là tiếng mang thanh huyền, đâu là tiếng mang

Trang 31

thanh sắc Do vậy, mới có câu hài hước rằng “cà có cuống (quả cà) và cà có đuôi (con cá)”! Và khi nghe người phía Nam phát âm “dzỗ dề” không thể cứ viết y như vậy

Trong chính tả tiếng Việt còn một số điều bất hợp lí Chẳng hạn cũng phát

âm là “ngờ” nhưng cách viết lại có chỗ khác nhau: nga (ng) nhưng nghe (ngh); cùng đọc là “cờ” nhưng lại có tới ba cách viết khác nhau: nông cạn (c), kinh ngạc (k) và quốc gia (q)… Sự bất hợp lí tồn tại ngay từ khi mới xây dựng chữ quốc ngữ cho đến tận ngày nay Có những hiện tượng như trên là vì việc xây dựng chữ quốc ngữ của

ta dựa theo chính tả của một số nước Tây Âu cách đây đã rất nhiều năm mà đến ngày nay hình thức ngữ âm đã khác xưa rất nhiều Cũng có những Trường hợp như

d / gi (gìn giữ, hiền dữ), cũng thật sự gây khó khăn cho người viết Những Trường hợp này có thể lí giải là do sự phát triển của hệ thống ngữ âm tiếng Việt

Chữ viết của chúng ta được viết tách rời từng âm tiết Mỗi âm tiết là một chữ dù cho âm tiết đó có nghĩa hay không Mỗi âm tiết đều mang một thanh điệu vì vậy dấu thanh ở chữ viết là điều bắt buộc đối với chính tả tiếng Việt

Mặc dù chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhưng trong thực tế của việc dạy viết đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ là rất quan trọng, trong những Trường hợp cụ thể việc nắm nghĩa của từ nhiều khi quyết định cách viết đúng

1.1.4.4 Chuẩn chính tả hiện hành

Vấn đề chính tả đã được bàn bạc khá nhiều và đạt được nhiếu thành tựu đáng

kể, song cho đến nay chưa phải là vấn đề được giải quyết hoàn toàn Tình trạng không thống nhất về chính tả vẫn tồn tại ở cách viết trong Nhà trường và trên các cơ quan truyền thông

Trong Nhà trường: Ngay từ bậc Mầm non và Tiểu học, các em đã bắt đầu được học về hệ thống chữ cái tiếng Việt, cách phát âm và ghép vần tiếng Việt Vì vậy, ngay từ lúc này việc dạy cho các em nói đúng chính âm rất quan trọng, cần phải được Nhà trường quan tâm triệt để, đặc biệt đối với đội ngữ giáo viên trực tiếp giảng đạy Bên cạnh việc rèn cho các em cách phát âm chuẩn, giáo viên cũng cần tạo cho các em hình thành thói quen, ý thức viết đúng chính tả Nhiệm vụ này không chỉ đặt ra ở các Trường tiểu học mà còn phổ biến ở các Trường trung học cơ

sở, trung học phổ thông và đại học

Các cơ quan truyền thông bao gồm báo chí, nhà xuất bản, đài phát thanh, đài

Trang 32

truyền hình… của trung ương và địa phương Những người tham gia công tác trong lĩnh vực này như biên tập viên, phát thanh viên, người biên soạn… đòi hỏi phải nắm vững chuẩn chính tả và chính âm, bởi đối tượng tiếp nhận thông tin này là quần chúng nhân dân, do đó việc viết đúng chính tả trên sách báo, tạp chí… hay nói đúng chính âm khi đọc bản tin của các biên tập viên, phát thanh viên sẽ có tác động mạnh

mẽ, ảnh hưởng trực tiếp đến số đông mọi người Nếu như đối tượng được tiếp xúc thường xuyên với chuẩn chính tả và chuẩn phát âm thì hiển nhiên cách viết đúng chính tả và cách nói đúng chính âm sẽ dần dần hình thành trong ý thức, trong thói quen của người tiếp nhận Như vậy việc khắc phục vấn đề viết sai chính tả ở mỗi người sẽ trở nên đáng kể, bởi không có lí do gì mà một người luôn luôn nói đúng chính âm lại viết sai chính tả, ngược lại, khi người ta đã nắm vững chuẩn chính tả thì người đó sẽ cố gắng điều chỉnh những lỗi phát âm

Vấn đề chính tả chữ Việt vừa đơn giản lại vừa phức tạp Đơn giản vì chữ quốc ngữ là chữ viết ghi âm, ở dạng ổn định, căn bản hợp lí, nhìn chung theo sát cách phát âm phức tạp, vì cách phát âm tiếng Việt giữa các miền đang có những điểm khác nhau Trong khi đó hệ thống ngữ âm tiêu chuẩn của tiếng Việt đương đại lại chưa được xác định một cách chính thức Do đó, sự phổ biến rộng rãi của hệ thống ấy chưa được tiến hành tích cực hơn thế nữa, trong tiếng Việt hiện đại, bên cạnh hiện tượng phát âm không phù hợp.với tiêu chuẩn lại có Trường hợp trong đó

một từ đồng thời mang hai biến thể phát âm (VD: trời- giời, nhanh – lanh…) chưa

được khẳng định rõ ràng, đó là, chưa kể những Trường hợp nan giải, tập trung vào cặp con chữ d/ gi

Trước mắt chính tả tiếng Việt cần đưa ra những quy ước cụ thể tiện dùng và hợp lí về các vấn đề sau:

- Cách viết thống nhất cho những từ có cách viết khác nhau bắt nguồn từ hiện tượng phát âm khác nhau

- Cách viết không thống nhất cho những từ được phát âm thống nhất song không hiểu tại sao lại có cách viết khác nhau

- Cách viết thống nhất cho những từ mang con chữ đầu là d/ gi

- Cách viết thống nhất cho từng Trường hợp viết hoa

- Cách dùng dấu gạch nối

Trang 33

- Cách phiên âm các tiếng nước ngoài

Vấn đề đặt ra là muốn thống nhất được chính tả thì phải có chuẩn chính tả Chuẩn chính tả là phải được quy định rõ ràng, chi tiết tới từng từ của tiếng Việt và phải được mọi người tuân theo Về mặt này, các nhà nghiên cứu tiếng Việt nói chung và các nhà nghiên cứu chính tả tiếng Việt nói riêng đã có rất nhiều cố gắng trong việc suy nghĩ, xây dựng chuẩn chính tả cho tiếng Việt sao cho hợp lí, có độ tin cậy và thuyết phục cao Nội dung của chuẩn chính tả bao gồm:

- Đặc điểm đầu tiên là tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối của chính tả, đòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Chữ viết có thể chưa hợp lí nhưng khi đã được thừa nhận là chuẩn chính tả thì người cầm bút không thể tự ý

viết khác đi Chẳng hạn, ai cũng biết rằng “nghe”, “ghen” không hợp lí và tiết kiệm bằng “nge”, “gen” nhưng chỉ có cách viết thứ nhất mới được coi là viết đúng

chính tả Vì vậy nói đến chuẩn chính tả là nói đến tính chất pháp lệnh Đối với chính tả, yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất trong mọi văn bản, cho mọi người, mọi địa phương

- Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối nên nó ít bị thay đổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ (như chuẩn ngữ âm, chuẩn từ vựng, chuẩn ngữ pháp …) mà nó có tính chất ổn định, tính cố hữu khá rõ Sự tồn tại thống nhất hàng thế kỉ của nó đã tạo nên ấn tượng về một cái gì “bất di bất dịch”, một tâm

lí rất bảo thủ Chinh vì thế, mặc dù biết rằng cách viết “iên ngỉ” hợp lí hơn nhưng đối với chúng ta nó rất gai mắt, khó chịu vì trái với cách viết từ bao đời nay Mặt khác, do tính chất “Trường tồn” này mà chính tả thường lạc hậu so với sự phát triển của ngữ âm Sự mâu thuẫn giữa ngữ âm “hiện đại” và chính tả “cổ hủ” là một trong những nguyên nhân chính làm cho chính tả trở nên rắc rối

- Cũng như những nguyên nhân ngôn ngữ khác, chuẩn chính tả là kết quả của

một sự lựa chọn – lựa chọn giữa nhiều hình thức chính tả đang cùng tồn tại (VD:

trưng bày – chưng bày, chọn trưng bày; hy sinh – hi sinh, chọn hi sinh; cao quí – cao quý, chọn cao quý…) Dù có tính ổn định cao, chuẩn chính tả không phải là bất

biến, những chuẩn chính tả lỗi thời không phù hợp nữa sẽ dần thay thế bằng những

chuẩn chính tả mới (VD: chuẩn cũ: đày tớ - trằm trồ -> chuẩn mới: đầy tớ - trầm

trồ)

Trang 34

1.1.4.5 Mối quan hệ giữa chính âm và chính tả

“Chính âm và chính tả có mối quan hệ với nhau Chính âm là cơ sở cho chính tả vả chính tả phản ánh chính âm”

Giữa phát âm và chính tả có mối quan hệ trực tiếp với nhau, bởi tiếng Việt là loại hình chữ ghi âm vị, về cơ bản “phát âm như thế nào thì viết thế ấy” Do đó, nếu lấy phát âm làm cơ sở cho chính tả tiếng Việt thì phát âm đó không phải là phát âm thuần túy của một phương ngữ nào, mà phải là phát âm thống nhất của tiếng Việt; hiểu theo cách khác là cách phát âm chuẩn, là chính âm của tiếng Việt Ta trở lại ví

dụ “tràn về” trong cách phát âm của người miền Nam và người miền Bắc Trong Trường hợp này, khi người miền Nam phát âm “tràn” thành “tràng” còn người miền Bắc phát âm “tràn” thành “chàn” thì cả hai cách phát âm này đều không hợp chuẩn, chỉ có phát âm “tràn” mới là phát âm chuẩn – nó vừa phân biệt phụ âm đầu “tr” với

“ch”, vừa phân biệt âm cuối “-n” với “-ng” Bởi vì khi người ta đã mặc nhiên chấp nhận chỉ có viết “tràn” (trong “tràn về”) mới đúng chính tả thì chúng ta cũng phải mặc nhiên thừa nhận chỉ có phát âm “tràn” mới đúng chính âm

1.1.4.6 Quy định về chính tả tiếng Việt hiện hành

[Theo "Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt" do Bộ Giáo dục có Quyết định số 240/QĐ, ban hành ngày 5/3/1984, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình kí]

* Quy định về chính tả tiếng Việt:

Ở Trường hợp chưa xác định được chuẩn chính tả thì nên chấp nhận biến thể

* Đối với tên riêng không phải tiếng Việt thì nguyên tắc chung là:

Trang 35

Về chính tả, cần tôn trọng nguyên hình theo chữ viết Latin hay chuyển tự Latin trong nguyên ngữ

Về phát âm, phải hướng dẫn để dần dần có được cách phát âm thích hợp, thống nhất

+) Quy định cụ thể:

* Về những từ tiếng Việt mà chuẩn chính tả hiện nay chưa rõ, có thể nhận thấy những Trường hợp chủ yếu sau đây, và đối với mỗi Trường hợp, nên dùng tiêu chí thích hợp Cụ thể là:

- Dùng tiêu chí thói quen phát âm của đa số người trong xã hội, mặc dù thói quen này khác với từ nguyên (gốc Việt hay gốc Hán)

Thí dụ: chỏng gọng (tuy là chổng gọng theo từ nguyên)

đại bàng (tuy là đại bằng theo từ nguyên)

- Dùng tiêu chí từ nguyên khi thói quen phát âm chưa làm rõ một hình thức ngữ âm ổn định

Thí dụ: trí mạng (tuy cũng có gặp hình thức phát âm chí mạng)

- Khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả mà chưa xác định được một chuẩn duy nhất, thì có thể tạm thời chấp nhận cả hai hình thức ấy, cho đến khi nào thói quen sử dụng nghiêng hẳn về một hình thức

Thí dụ: eo sèo và eo xèo, sứ mạng và sứ mệnh

Trong khi chờ đợi có từ điển chính tả, tạm dùng cuốn “Từ điển chính tả phổ

thông” do Viện văn học xuất bản năm 1963

* Về tên riêng không phải tiếng Việt, cần chú ý đến những Trường hợp chính với quy định sau đây đối với mỗi Trường hợp

- Nếu chữ viết của nguyên ngữ dùng chữ cái Latin thì giữ đúng nguyên hình

trên chữ viết của nguyên ngữ; kể cả các chữ cái f, j, w, z như trong nguyên ngữ; dấu

phụ ở một số chữ cái trong nguyên ngữ có thể lược bớt

Thí dụ: Shakespeare, Paris, Wrocaw (có thể lược dấu phụ ở chữ cái)

Petõfi (có thể lược dấu phụ ở chữ cái õ)

* Nếu chữ viết của nguyên ngữ thuộc một hệ thống chữ cái khác thì dùng lối chuyển tự chính thức sang chữ cái Latin

Thí dụ: Lomonosov, Moskva, Abdel

Trang 36

- Nếu chữ viết của nguyên ngữ không phải là chữ viết ghi từng âm bằng chữ cái thì dùng lối phiên âm chính thức bằng chữ cái Latin (thường là cách phiên âm đã

có tính chất phổ biến trên thế giới)

Thí dụ: Tokyo

- Đối với Trường hợp tên riêng mà trong thực tiễn sử dụng rộng rãi trên thế giới đã quen dùng một hình thức viết bằng chữ cái Latin khác với nguyên ngữ (thường đó là tên một số nước, thành phố) thì dùng hình thức tên riêng phổ biến đó

Thí dụ: Hungary (tuy trong nguyên ngữ là Magyarorszag)

Bangkok (tuy trong nguyên ngữ là Krung Thep hoặc Krung Rattanakosin)

- Đối với Trường hợp những sông, núi thuộc nhiều nước (và do đó có những tên riêng khác nhau) thì dùng hình thức tương đối phổ biến trên thế giới và trong nước; tuy vậy trong những văn bản nhất định, do yêu cầu riêng, có thể dùng hình thức dựa theo ngôn ngữ của địa phương

Thí dụ: sông Danube (có thể dùng Donau theo tiếng Đức, Duna theo tiếng Hungary, Dunares theo tiếng Rumania)

- Đối với những tên riêng hay bộ phận của tên riêng (thường là địa danh) mà

có nghĩa thì dùng lối dịch nghĩa phù hợp với chủ trương chung có thể nhận thấy qua các ngôn ngữ trên thế giới

Thí dụ: Biển Đen, Guinea xích đạo

- Những tên riêng đã có hình thức phiên âm quen thuộc trong tiếng Việt thì hiện nay nói chung, không cần thay đổi, trừ một số Trường hợp đặc biệt có yêu cầu riêng thì phải thay đổi

Thí dụ: Pháp, Hy Lạp, Bắc Kinh, Lỗ Tấn; nhưng Italia (thay cho Ý), Astralia (thay cho Úc)

Tuy vậy cũng có thể chấp nhận sự tồn tại những hình thức khác nhau của một số tên riêng trong những phạm vi sử dụng khác nhau

Thí dụ: La Mã (thành phố La Mã, đế quốc La Mã, chữ số La Mã)

Roma (thủ đô Italia ngày nay)

- Tên riêng trong các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng thuộc Trường hợp tên riêng không phải tiếng Việt: theo các quy định về chính tả của Bộ Giáo dục và Ủy ban Khoa học Xã hội ngày 30-11-1980

Trang 37

Những quy định mới trên đây về tên riêng không phải tiếng Việt có thể thực hiện từng bước để tránh bỡ ngỡ lúc đầu, như vừa dùng nguyên hình theo nguyên ngữ, vừa có chú thích phát âm lối phiên âm Nhưng cần phải tiến hành sự thực hiện từng bước này một cách khẩn trương và đặc biệt phải theo tinh thần tôn trọng nguyên tắc nói trên

Để thực hiện một cách nhất quán những quy định này, cần có từ điển nhân danh, địa danh Công việc biên soạn, xuất bản, phát hành các loại từ điển này cần được tiến hành khẩn trương Trong khi chờ đợi, có thể tham khảo từ điển nhân danh, địa danh nước ngoài và khi cần, đặc biệt khi biên soạn sách, nên tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn

* Về tên riêng tiếng Việt, theo các quy định của Bộ giáo dục và Ủy ban khoa học xã hội ngày 30-11-1980:

* Đối với tên người và tên nơi chốn, viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết, không dùng gạch nối

Thí dụ: Trần Quốc Toản, Quang Trung, Hà Nội, Bình Trị Thiên, Vũng Tàu

* Đối với tên tổ chức, cơ quan, chỉ viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu trong

Ðây là cách viết tắt phổ biến hiện nay

Khi viết tắt, cần lưu ý mấy điểm:

Trang 38

- Phải dùng mẫu chữ in hoa, trừ chữ cái viết phụ

Ví dụ: TT (Tổng thống), Ttg (Thủ tướng), TBT (Tổng bí thư)

- Sau chữ cái viết tắt không dùng dấu chấm, trừ Trường hợp chữ viết tắt chỉ

có một chữ cái hay chữ viết tắt họ tên người

1.1.5 Một số lỗi sai thường gặp và phân loại

Lỗi chính tả là lỗi viết sai chuẩn chính tả Khi sử dụng chữ quốc ngữ, các lỗi chính tả thường mắc là do bất hợp lí trong nội bộ của chữ quốc ngữ:

- Do một âm được thể hiện bằng nhiều chữ:

Ví dụ: Âm /k/ được thể hiện bằng các chữ c, k, q

Âm /z/ được thể hiện bằng các chữ d, gi, g

Âm /ɤ/ được thể hiện bằng các chữ g, gh

Âm /ŋ/ được thể hiện bằng chữ ng, ngh

- Ngược lại, một chữ lại có thể ghi được nhiều âm:

Ví dụ: chữ g ghi được âm /z/ và âm /ɤ/

Từ những bất hợp lí này trong nội bộ chữ quốc ngữ làm cho mọi người dễ viết sai chính tả khi sử dụng chữ quốc ngữ Vì vậy, người Việt hay mắc lỗi

Ví dụ những lỗi hay gặp: ngành viết là nghành, ghế viết là gế

Phân loại lỗi chính tả: có thể phân theo hình thức hoặc phân theo nguyên nhân

1.1.5.1 Phân loại theo hình thức

* Hiện tượng vi phạm các quy định chính tả:

Hiện tượng này bao gồm các hiện tượng vi phạm các quy định chính tả về viết hoa, viết tắt, dùng số và biểu thị chữ số

+ Lỗi viết hoa:

Trừ kiểu viết hoa tuỳ tiện, có thể phân chia lỗi viết hoa thành các nhóm sau:

Trang 39

Một là: Không viết hoa bộ phận tên đệm trong tên người (Việt), chẳng hạn:

Trần Nguyễn mai Hoa, Tôn nữ nguyệt Minh, Thái thị Thanh Huyền Hay viết hoa

sai nhóm tên người dân tộc thiểu số, như Vừ a Dính, Nông văn Dền, 1 pa-kLơng, Y

ngông niêKdăm… Hoặc lỗi viết hoa tên người nước ngoài (thường gặp ở nhóm

những tên riêng phiên âm theo âm Latin): dạng viết như viết tên người Việt, Ăng

Ghen, Lê Nin, v.v

Phạm phải loại lỗi này do không nắm được quy tắc viết hoa tên người Chữa

và phòng tránh loại lỗi này không khó, chỉ cần nắm quy tắc và rèn luyện theo quy tắc

Hai là: Không viết hoa chữ thứ hai và hoặc n trong tổ hợp tên riêng chỉ đất

đai sông núi (nhất là những tên riêng gồm ba chữ trở tên), chẳng hạn Điện biên phủ,

Hà giang, Tân quy đông, Ngũ hành sơn v.v Một số địa danh vùng Tây Nguyên

cũng thường bị viết sai, như KRông-Pách, Krông ana, PRenn…

Viết sai địa danh thường do không nắm vững quy tắc viết hoa Thêm vào đó, cũng có những Trường hợp vì không phân biệt tên chung và tên riêng; dạng này thường gặp ở những tên riêng địa lí có nguồn gốc từ những danh từ chỉ phương

hướng, như biển Đông, vùng duyên hải miền Trung, đồng bằng Bắc Bộ, vịnh Bắc

Bộ,… Và những Trường hợp tên riêng có yếu tố Hán Việt thường được dùng trong

những tổ hợp tên chung như giang, sơn, kiểu như sông Hồng Hà, dòng Lam Giang,

dãy Trường Sơn, núi Thất Sơn…

Ba là: Không viết hoa tên tác phẩm Nhóm lỗi này thường gặp ở hai dạng: không viết hoa, hoặc viết hoa tất cả các chữ cái đầu của tên tác phẩm, chẳng

hạn: bài “côn sơn ca”, truyện “cây tre trăm đốt”, tuỳ bút “người lái đò trên sông

Đà”, luật giáo dục, luật lao động v.v

Bốn là: Không biết viết hoa tên cơ quan, tổ chức Những lỗi như Trường tiểu

học đốc binh Kiều, Trường trung học cơ sở Nguyễn Thị Lựu, hội liên hiệp khoa học

kĩ thuật tỉnh Bắc Ninh… không hiếm trong các bài viết của học sinh, sinh viên, học

viên

Tình trạng xưa nay nhiều người không biết viết hoa tên tác phẩm, tên cơ quan tổ chức, ngoài nguyên do không nắm quy tắc hoặc không hề … được học (Hệ thống ngữ liệu và bài tập thực hành cho học sinh khi học bài “Danh từ riêng” xưa

Trang 40

nay thường chỉ đề cập đến tên người và tên đất Trong các bài rèn luyện kĩ năng viết hoa, thường chỉ dừng lại ở nội dung viết hoa tên người Việt, địa danh Việt, viết hoa chữ đầu câu) (Thử kiểm tra kĩ năng nhận diện tên chung và tên riêng ở một số lớp tại chức (trong đó hầu hết là những người đang làm công tác giảng dạy những tri thức về tiếng Việt ở Nhà trường phổ thông), phần lớn những người được hỏi đều trả lời rằng “tên riêng gồm tên người và tên đất đai, sông núi”, không đến 25% số người được hỏi kể thêm được tên cơ quan tổ chức và tên tác phẩm

Năm là: Loại lỗi viết hoa những danh từ (chung) vốn là tên riêng nhưng theo thời gian đã mất tính chất tên riêng, đã chuyển loại thành danh từ chung chỉ chủng

loại Thường gặp ở những Trường hợp như: thỏi mực Tàu, gà Tàu, bút Bi, cá trê

Phi, dừa Xiêm

Phạm phải loại lỗi này, do nhầm tưởng các danh từ chỉ chủng loại như tàu,

bi, phi, xiêm là danh từ riêng

Sáu là: Không viết hoa tên các danh hiệu, giải thưởng, chức danh… Hầu hết,

học sinh không biết viết hoa những từ ngữ loại này, chẳng hạn: anh hùng lao động,

nghệ sĩ nhân dân (ĐTS), nhà giáo ưu tú (PVH), được thưởng huân chương quân công, huân chương lao động hạng nhất, đạt giải nhất, tổng giám đốc… Hoặc viết

hoa tất cả các chữ (dạng này chủ yếu tập trung vào mảng những từ ngữ chỉ chức

danh), như Hồ Chủ Tịch, Mao Chủ Tịch (những Trường hợp như Chủ tịch Hồ Chí

Minh, Chủ tịch Nguyễn Văn An… hầu như lại không bị viết sai chữ tịch Điều này

có nguyên do từ việc nhận diện tên riêng, từ hình thức của tổ hợp tên)

Loại lỗi này cũng gồm hai kiểu: không viết hoa chữ nào (thường gặp hơn), hoặc viết hoa tất cả các chữ

Thường ít gặp hiện tượng không viết hoa chữ đầu câu

Ngày đăng: 08/06/2017, 16:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Kết quả chi tiết một số loại lỗi chính tả phổ biến - Biện pháp chữa lỗi chính tả cho sinh viên trường Đại học Mỏ  Địa chất
Bảng 2.2. Kết quả chi tiết một số loại lỗi chính tả phổ biến (Trang 65)
Bảng 2.3. Thống kê vi phạm quy định chính tả về viết hoa, - Biện pháp chữa lỗi chính tả cho sinh viên trường Đại học Mỏ  Địa chất
Bảng 2.3. Thống kê vi phạm quy định chính tả về viết hoa, (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w