Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của môi trường và những tác hại do ô nhiễm môi trường đem lại, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bảo
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG THỦY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG THỦY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng của tôi
Các số liệu, tài liệu được trích dẫn trong luận văn theo nguồn đã công bố Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách bảo vệ môi trường 13
1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường 17
1.4 Chủ thể và các bên liên quan trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường 20
1.5 Chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam 25
1.6 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở một số địa phương 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 35
2.1 Chủ trương và chính sách bảo vệ môi trường của thành phố Đà Nẵng 35
2.2 Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở quận Ngũ Hành Sơn thời gian qua 37
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 63
3.1 Quan điểm và mục tiêu bảo vệ môi trường quận Ngũ Hành Sơn 63
3.2 Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn trong thời gian tới 65
KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
HĐND Hội đồng nhân dân
MT Môi trường
TNMT Tài nguyên môi trường
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Chất lượng nước ở khu vực Làng nghề đá thủ công mỹ nghệ
Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn (mẫu thu ngày 30/12/2015) 55
2.2 Tình hình thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại quận Ngũ Hành
Sơn, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2015 58
2.3
Tình hình xử phạt hành chính các vi phạm về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2015
58
2.4 Diễn biến lượng khách du lịch đến quận Ngũ Hành Sơn,
thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2015 59
Trang 72.1 Hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những thập niên gần đây, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nền kinh tế đã có bước tăng trưởng vượt bậc Tuy nhiên, cùng với đó chúng ta cũng đang đối mặt với không ít các thách thức trong phát triển theo hướng bền vững, trong đó có các vấn đề môi trường Ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn
đề hết sức bức xúc, ảnh hưởng xấu đến đời sống và sức khỏe của người, cản trở quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đe dọa nghiêm trọng sự phát triển bền vững và sự tồn tại, phát triển của các thế hệ trong hiện tại và tương lai
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của môi trường và những tác hại
do ô nhiễm môi trường đem lại, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường, điển hình là Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, năm 2005 và mới đây nhất là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ qui định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường …
Việc tổ chức thực hiện các chính sách về bảo vệ môi trường đã đem lại kết quả nhất định, giúp cho môi trường đỡ bị ô nhiễm, chất lượng môi trường được cải thiện cũng như ngăn chặn, phòng ngừa sự suy giảm chất lượng môi trường Tuy vậy, ở nhiều nơi môi trường vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; khối lượng phát sinh
và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm Trong đó,
đặc biệt là vấn đề ô nhiễm do chất thải thải ra môi trường ít qua xử lý ở hầu hết các
địa phương nước ta đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng Sự cố môi trường biển miền Trung tháng 4 năm 2016 vừa qua diễn ra trên diện rộng (4 tỉnh miền
Trang 9trung) do việc vi phạm trong hoạt động xả thải của Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa (Khu kinh tế Vũng Áng), đã gây ra hậu quả lớn về kinh tế,
xã hội, môi trường trước mắt và lâu dài; ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thuỷ, hải sản, làm muối, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch; làm xáo trộn, gây mất an ninh trật tự, tâm lý bức xúc, bất an trong nhân dân Vụ việc đang được Chính phủ tập trung chỉ đạo xử lý đối với tổ chức, cá nhân vi phạm
và khắc phục hậu quả nhưng đây là cái giá quá đắt phải trả cho việc buông lỏng quản lý, việc thiếu trách nhiệm của cá nhân, tổ chức liên quan trong tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Để ngăn ngừa tình trạng trên tái diễn, tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về bảo vệ môi trường ngày
24 tháng 8 năm 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo: “Kiên quyết không
vì lợi ích kinh tế trước mắt mà đánh đổi môi trường, cuộc sống bình yên của người dân” Tuy nhiên, để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường cũng như tác động của chính sách và luật pháp đối với công tác bảo vệ môi trường thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể, tại những địa phương cụ thể
Quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng là một địa phương có xuất phát điểm về kinh tế thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, kết cấu cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai bão lũ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn; thực hiện Kết luận số 02-KL/TU ngày 31 tháng 5 năm 2006 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng “về tình hình và phương hướng xây dựng phát triển quận Ngũ Hành Sơn trong những năm đến”, quận đã tập trung cho công tác giải tỏa đền bù triển khai các dự án, đặc biệt là các dự án phát triển du lịch, dịch vụ, xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, theo đó mạng lưới giao thông trên địa bàn quận với các tuyến đường Sơn Trà - Điện Ngọc, Lê Văn Hiến - Trần Đại Nghĩa, Mai Đăng Chơn, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Trần Hưng Đạo, Sư Vạn Hạnh, Huyền Trân Công Chúa, Nguyễn Duy Trinh, Non Nước và các tuyến đường dân sinh dần được hình thành đã làm thay đổi diện mạo đô thị của quận Song bên cạnh đó, chất lượng môi trường của quận cũng chịu nhiều sức ép do nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và
đô thị hoá đã và đang tác động mạnh đến môi trường và các hệ sinh thái
Trang 10Mặc dù các cấp chính quyền cũng như nhân dân trên địa bàn quận đã có những cố gắng nhất định trong công tác bảo vệ môi trường, tuy nhiên hiện tại quận Ngũ Hành Sơn cũng đang đối mặt với không ít thách thức, đó là việc triển khai nhiều dự án hạ tầng kinh tế, kỹ thuật đã biến quận trở thành một đại công trường đầy bụi và tiếng ồn, một số dự án triển khai nhưng tiến độ chậm dẫn đến tình trạng ngập úng cục bộ, phát sinh ruồi muỗi gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất đá mỹ nghệ xen lẫn trong khu dân cư, tình trạng ô nhiễm tại các lô đất trống, nguồn rác thải trong sinh hoạt ngày càng gia tăng,… ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khỏe và đời sống nhân dân
Để xây dựng quận Ngũ Hành Sơn trở thành quận môi trường, đô thị du lịch, dịch vụ kiểu mẫu và là trung tâm dịch vụ nghỉ dưỡng, giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao, phát triển kinh tế tri thức công nghệ cao, phát huy thế mạnh phát triển Làng nghề đá mỹ nghệ truyền thống; có môi trường tự nhiên và môi trường xã hội lành mạnh theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ quận Ngũ Hành Sơn lần thứ
V, nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra, góp phần cùng thành phố Đà Nẵng xây dựng thương hiệu “Thành phố môi trường” cần phải rà soát, đánh giá lại tình hình thực hiện các chính sách bảo vệ môi trường trong thời gian qua, những thành tựu cũng như những tồn tại, hạn chế chưa khắc phục được, từ đó đề ra các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả các chính sách bảo vệ môi trường trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn
Xuất phát từ yêu cầu đó, cùng với những kiến thức đã học, bản thân tôi chọn
đề tài “Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng
ô nhiễm môi trường, góp phần xây dựng quận Ngũ Hành Sơn trở thành quận du lịch, quận môi trường trong thời gian đến
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay đang là chủ đề nóng, được các cấp, các ngành và người dân đặc biệt quan tâm Đã có rất nhiều bài viết liên quan đến vấn đề
ô nhiễm môi trường và việc thực hiện các chính sách về bảo vệ môi trường trên các báo, tạp chí, thậm chí đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến chủ đề môi
Trang 11trường và bảo vệ môi trường, cụ thể như:
- Bài viết của Nguyễn Hữu Chí, Vụ trưởng Vụ Giáo dục, Ban Tuyên giáo
Trung ương Đảng "Về việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo vệ môi trường", bài viết đã đánh giá thực trạng ô nhiễm môi
trường ở Việt Nam, kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 41- NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và nêu ra các nhiệm vụ theo tinh thần Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/1/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 41- NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX);
- Luận án tiến sĩ Hà Văn Hòa (2015) "Quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường biển ven bờ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh" tại Học viện Hành chính Quốc
gia Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển; thực trạng ô nhiễm môi trường biển ven bờ, nguyên nhân và công tác quản lý nhà nước để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Quảng Ninh thời gian qua Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển ven bờ ở Quảng Ninh;
- Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công, Học viện Khoa học xã
hội của tác giả Đặng Thị Hà “Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”, tập trung vào việc cụ thể hóa chính sách và thực
hiện chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở thành phố Đà Nẵng và đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thài rắn sinh hoạt đô thị nói riêng ở thành phố Đà Nẵng;
- Bài viết của nhóm tác giả: Nguyễn Thế Tiến, Phùng Chí Sỹ, Viện Kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường và Huỳnh Thị Minh Hằng, Viện Môi trường và Tài
nguyên - Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh: "Các vấn đề môi trường trong quá trình
đô thị hóa - công nghiệp hóa ở thành phố Đà Nẵng", Tạp chí phát triển KH&CN,
tập 9, Môi trường và Tài nguyên - 2006, sau khi phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, cùng với kết quả khảo sát diễn biến chất lượng môi trường ở thành phố Đà Nẵng, tác giả
Trang 12đưa ra một số các giải pháp khống chế và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình
đô thị hóa và công nghiệp hóa ở thành phố Đà Nẵng;
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hồ Thị Ngọc Quyên tại Đại học Đà Nẵng
“Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trường và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại Làng nghề thủ công đá mỹ nghệ Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”; trên cơ sở đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường, tác
giả đã đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường tại Làng nghề thủ công đá mỹ nghệ Non Nước
Các nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ mới đề cập tới các lĩnh vực riêng, chưa có đề tài nào đánh giá một cách toàn diện về tình hình thực hiện các chính sách về bảo vệ môi trường trên cơ sở thực tiễn của một địa phương cụ thể là quận Ngũ Hành Sơn Do đó, tôi chọn đề tài
“Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” cho luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo
vệ môi trường
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, từ đó xác định những mặt được, những hạn chế cùng các nguyên nhân
Thứ ba, đề xuất những giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi
Trang 13trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: từ năm 2010 đến 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành, liên ngành khoa học xã hội, trong đó chú ý nhiều đến tiếp cận thực hiện chính sách có sự tham dự, tham gia của các chủ thể chính sách
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và thực tế
- Phương pháp thu thập thông tin: còn gọi là phân tích và tổng hợp, được sử
dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới chính sách bảo vệ môi trường ở nước ta nói chung và quận Ngũ Hành Sơn nói riêng Đồng thời, thu thập thông tin từ các tài liệu của các tổ chức và học giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
- Phương pháp khảo sát thực địa: nhằm quan sát và thu thập thông tin ở các
điểm đen về ô nhiễm môi trường, gồm quan sát tại chỗ kết hợp với gặp gỡ, trao đổi và phỏng vấn nhanh, đánh giá nhanh thực tế
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là phương pháp được dùng
khá phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối thoại trực tiếp với đối tượng nhằm thu thập thông tin và kiểm tra các giả định, theo đó tác giả
Trang 14tiếp xúc với một số cán bộ phụ trách quản lý môi trường, một số tổ chức, đoàn thể và người dân địa phương để tìm hiểu, phỏng vấn sâu về một số vấn đề trọng yếu của thực hiện chính sách bảo vệ môi trường với các câu hỏi đã được chuẩn
bị trước
- Phương pháp phân tích chính sách: Là đánh giá tính toàn vẹn, tính
thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách nhằm điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu và thực tế
- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số
liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định Phương pháp này được sử dụng chủ yếu phục vụ cho nội dung về thực trạng và đánh giá thwujc trạng thực hiện chính sách ở quận Ngũ Hành Sơn (chương 2)
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu và vận dụng các
lý thuyết về chính sách công và quy trình phân tích một chính sách công để làm rõ vấn đề về khoa học và thực tiễn của một chính sách cụ thể
- Kết quả đánh giá nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các thuyết liên quan đến chính sách công, từ đó hình thành các tiến trình đề xuất các giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng các lý thuyết về chính sách công, quy trình phân tích chính sách công để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn về chính sách bảo vệ môi trường ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng để từ đó nâng cao hiệu quả của chính sách trong những năm tiếp theo
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho ủy ban nhân dân quận, các phòng, ban, ngành, đoàn thể có liên quan trong quá trình thực hiện chính sách bảo vệ môi trường để chính sách có thể mang lại hiệu quả trong việc phát triển kinh
tế, xã hội, bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường của địa phương trong những
Trang 15năm đến
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
- Chương 2: Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Chương 3: Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Môi trường
Trong tiếng Anh, “environment” có nghĩa là môi trường, từ này có nguồn gốc
từ một từ tiếng Pháp “environner”, có nghĩa là bao quanh một điểm nào đấy, hay tất
cả những gì bao quanh một điểm trung tâm Theo cách hiểu như vậy, môi trường có thể được hiểu là toàn bộ điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa bao quanh có ảnh hưởng đến cuộc sống của một cá nhân hay cộng đồng Vấn đề môi trường cũng có thể được coi là bao gồm các vấn đề như tắc nghẽn giao thông, tội phạm, tiếng ồn v.v Xét về mặt địa lý, môi trường có thể hiểu là một khu vực nào đó hoặc là toàn
bộ hành tinh của chúng ta Môi trường là tổ hợp các thành phần của thế giới vật chất làm cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của thế giới sinh vật và con người
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014 định nghĩa
“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [14, tr.16] “Môi trường”
cũng có thể được hiểu là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, sinh vật ấy Như vậy, chúng ta có thể hiểu các thành tố của môi trường bao gồm:
- Môi trường tự nhiên: là những gì vốn có trong tự nhiên, là tập hợp các yếu tố
vật lý, hóa học, sinh học có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống tự nhiên
và vận động theo những quy luật của tự nhiên, ví dụ như: đất, nước, không khí,…
- Môi trường nhân tạo: là những gì con người tạo ra đưa vào môi trường như
chất thải (rắn, lỏng, khí) hoặc làm biến đổi, thay đổi các thành phần của môi trường
tự nhiên, làm cho môi trường tự nhiên (ở khu vực nhất định) trở thành một trạng thái đặc biệt, như môi trường ở khu vực đô thị hay công trường xây dựng, khu công nghiệp, …
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống
Trang 17và phát triển Môi trường có 5 chức năng sau:
- Là không gian sống: con người và các sinh vật khác chỉ có thể tồn tại và phát triển trong môi trường tự nhiên nhất định Đó là không gian sống, sinh tồn duy nhất nghĩa là môi trường tự nhiên cung cấp các điều kiện sống cơ bản cho mọi loài, trong
đó có con người
- Là nơi cung cấp đầu vào (tài nguyên): là không gian sống, sinh tồn của con người nên môi trường đồng thời cũng là nơi (nguồn) cung cấp các yếu tố vật chất như là “đầu vào” cho các quá trình lao động, sản xuất ra của cải vật chất cho cuộc sống của con người và xã hội, như khoáng sản, gỗ, nước, …
- Là nơi chứa (tiếp nhận) chất thải: chất thải là vật chất còn lại không được sử dụng tiếp tục cho hoạt động lao động, sản xuất và sinh hoạt con người, được thải ra
và môi trường là nơi duy nhất tiếp nhận mọi chất thải Trong phạm vi không gian nhất định, môi trường chỉ có thể tiếp nhận có giới hạn một lượng chất thải nhất định, được gọi là năng lực tải hay mức chịu tải của môi trường
- Giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật: hạn
chế lũ lụt, điều hòa khí hậu, chắn bão cát…
- Là nơi lưu giữ thông tin sự sống (nguồn gen, đa dạng sinh học, .): đây là chức năng mới được các nhà khoa học môi trường bổ sung, xuất phát từ những thông tin sự sống được lưu giữ trong tự nhiên được khoa học khám phá và khai thác cho phát triển xã hội Trong xã hội hiện đại, thông tin là một tài nguyên thì cũng có thể coi môi trường tự nhiên cung cấp một loại tài nguyên đặc biệt - thông tin về sự sống
1.1.2 Bảo vệ môi trường
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các
tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
Nguyên tắc về bảo vệ môi trường theo quy định tại Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì các nguyên tắc bảo vệ môi trường bao gồm:
- Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ
Trang 18gia đình và cá nhân
- Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành
- Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải
- Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; BVMT bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
1.1.3 Chính sách bảo vệ môi trường
Chính sách là một thành tố, công cụ của quản lý Chính sách công là thành tố của quản lý nhà nước, có thể được hiểu “là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá,
mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” (Vũ Cao Đàm, Quản lý học đại cương,1996)
Chính sách công cũng có thể được hiểu “là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” (Đỗ Phú Hải - Khoa Chính sách công Học Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)
Từ quan niệm trên, chính sách công được hiểu theo nghĩa rộng: là kết quả của
Trang 19việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị với mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ người dân
Chính sách bảo vệ môi trường (hay chính sách môi trường) là chính sách
công Như vậy, có thể định nghĩa Chính sách bảo vệ môi trường là tập hợp các quyết định của Nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về bảo vệ môi trường nhằm thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững của đất nước
1.1.4 Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động bảo vệ môi trường Tuy nhiên, để những chính sách và pháp luật về bảo
vệ môi trường đi vào cuộc sống và trở thành hành vi xử xự, hợp pháp của các chủ thể pháp luật về bảo vệ môi trường, phát huy tác dụng của nó trong thực tiễn, Nhà nước phải giữ vai trò trụ cột trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành của chu trình chính sách, là toàn
bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực Tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, là bước thực hiện hoá chính sách vào đời sống xã hội
Như vậy thực hiện chính sách bảo vệ môi trường là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường; bảo vệ, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành và bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững
Chính sách môi trường được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống tổ chức quản lý môi trường cùng với sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
Trang 20xã hội, tổ chức nghề nghiệp và các cộng đồng trong xã hội
Các hình thức tổ chức thực hiện chính sách môi trường rất đa dạng, phong phú, bao gồm từ các hình thức mang tính hành chính của quản lý nhà nước cho đến tuyên truyền, vận động, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cũng như các phong trào bảo vệ môi trường mang tính chất định kỳ và không định kỳ Hệ thống tổ chức quản lý môi trường của nhà nước và hệ thống các tổ chức, các cộng đồng được phối kết hợp với nhau trong tổ chức thực hiện chính sách môi trường dưới nhiều hình thức khác nhau
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách công nói chung và chính sách bảo vệ môi trường nói riêng có nhiều và được phân chia thành các nhóm khác nhau Ở đây
sử dụng cách phân chia thành: nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan
1.2.1 Các yếu tố chủ quan
1.2.1.1 Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia sẽ chi phối cả nội dung lẫn hình thức của việc xây dựng và triển khai chính sách công, nó phản ánh bản chất của chế độ chính trị xã hội của quốc gia đó Trong hệ thống chính trị thì có thể chia các yếu tố nhỏ
hơn nữa Bao gồm các yếu tố về văn hóa chính trị, hiến pháp, thế chế chính trị [7, tr.90]
Trang 21- Hiến pháp
Hiến pháp là yếu tố quan trọng thứ hai ảnh hưởng đến quá trình xây dựng chính sách công Hiến pháp năm 2013 là cơ sở pháp lý cao nhất buộc mọi chính sách công phải tuân theo Do đó, chính sách bảo vệ môi trường cũng được xây dựng
và tổ chức thực hiện trong khuôn khổ của Hiến pháp Những quy định của chính sách bảo vệ môi trường cũng phải tuân theo Hiến pháp và không được vượt qua khỏi những quy định của pháp luật
- Thể chế chính trị
Thế chế chính trị của nước ta hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
Trong giai đoạn hiện nay, cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường
và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng vẫn còn những hạn chế, bất cập Theo thống kê của Bộ Tư pháp (2014), hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành
vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, trong việc bảo vệ môi trường
1.2.1.2 Hệ thống các giá trị xã hội
Hệ thống các giá trị xã hội bao gồm sự đa dạng về văn hóa, truyền thống, thói quen, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, các nhóm lợi ích, nhóm xã hội Chính sách bảo vệ môi trường phải thể hiện sự tồn tại trong sự
đa dạng và thỏa hiệp của hệ thống các giá trị xã hội Trong điều kiện đất nước đang đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH đòi hỏi phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của cả loài người trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và đối tượng
Trang 22của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường Hiện nay, khi đề cập đến bảo vệ môi trường người ta thường nhấn mạnh đến các phẩm chất văn hóa, đạo đức và truyền thống kinh doanh như một nhân tố cấu thành quan trọng của sự phát triển bền vững
Nhận thức xã hội, đặc biệt là của mỗi người dân, về bảo vệ môi trường được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, là cơ sở cho các hành động, hành vi cũng như tuân thủ các quy định pháp luật, chính sách về bảo vệ môi trường
1.2.1.3 Năng lực của bộ máy quản lý, trong đó năng lực, trình độ nghiệp vụ
của cán bộ quản lý có vai trò quyết định
Nếu các cấp chính quyền chưa hoặc chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường thì thường dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường hạn chế thường dẫn đến không chỉ làm cho các chính sách về bảo vệ môi trường bất cập
so với thực tiễn đòi hỏi mà còn làm cho chính sách chậm hoặc khó đi vào cuộc sống, thậm chí cản trở thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường
1.2.2 Các yếu tố khách quan
- Điều kiện tự nhiên
Trong thời gian gần đây thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức Tình trạng tách rời công tác bảo
vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng
Điều đáng nói là tự nhiên vốn có sự cân bằng, nước, không khí bị ô nhiễm do
tự nhiên sẽ được quá trình tuần hoàn và thời gian trả lại nguyên vẹn, tuy nhiên với con người thì khác Khi dân số tăng quá nhanh, sự phát triển kinh tế quá mức cân bằng so với tự nhiên sẽ phá vỡ cấu trúc tự nhiên vốn có của môi trường
- Hệ thống kinh tế - xã hội
Hệ thống kinh tế - xã hội của một quốc gia có tác động rất lớn đến việc xây
Trang 23dựng chính sách bảo vệ môi trường Yếu tố kinh tế vừa là mục tiêu chính sách vừa
là phương tiện động lực của chính sách BVMT chính là để giúp cho sự phát triển kinh tế cũng như xã hội được bền vững Kinh tế - xã hội phát triển giúp chúng ta có
đủ điều kiện để đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc Điều đó lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội để kinh tế - xã hội phát triển BVMT là việc làm không chỉ có ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn, cao cả hơn là
nó có ý nghĩa cho tương lai Nếu một sự phát triển có mang lại những lợi ích kinh tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường, làm cho các thế hệ sau không còn điều kiện để phát triển mọi mặt (cả về kinh tế, xã hội, thể chất, trí tuệ con người ), thì sự phát triển không phải là bền vững, thậm chí còn
có thể triệt tiêu cả sự phát triển
- Công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và tăng trưởng kinh tế
Quá trình CNH - HĐH có tác động nhiều mặt và đặt ra những yêu cầu mới đối với việc BVMT Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội Bên cạnh những thành tựu về kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục đã đạt được thì việc phát triển nóng của nền kinh tế trong những năm gần đây
đã gây ra không ít tác động tiêu cực đến môi trường như: tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường , điều đó đã và đang ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe và cuộc sống của con người
Mặt khác, cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ và sự hình thành, phát triển vượt bậc của các ngành nghề sản xuất trong thời gian qua, một mặt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mặt khác đã làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng và cũng làm gia tăng nhanh chóng lượng chất thải rắn phát sinh Chất thải rắn tăng nhanh chóng về số lượng, với thành phần ngày càng phức tạp đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý, xử lý và BVMT Tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế "quá nóng", gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội tăng lên vì sự chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng ở nông thôn và đô thị Chính điều này là nguy cơ tiềm
ẩn nhiều yếu tố tác động xấu đến đời sống và môi trường sống của người dân Thời
Trang 24gian qua, để đạt bằng được các mục tiêu phát triển kinh tế tỉnh, các mối liên quan về môi trường sinh thái đã bị bỏ qua, thiếu sự tôn trọng khi ứng dụng khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách quá mức, dẫn đến hệ sinh thái bị mất cân đối nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường có xu hướng gia tăng
1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường thông qua 7 bước cơ bản Mỗi một bước trong tổ chức thực hiện điều cần có sự đầu tư nghiêm túc, không coi trọng bước này hay bước kia, nó có sự liên kết chặt chẻ và tương hỗ lẫn nhau
1.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường là quá trình phức tạp lại diễn
ra trong thời gian dài do đó cần phải xây dựng kế hoạch Các cơ quan từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ môi trường, gồm các kế hoạch sau:
+ Kế hoạch tổ chức điều hành, quy định cụ thể đối với các cơ quan tham gia,
cơ chế hoạt động, đội ngũ nhân sự,
+ Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực như tài chính, trang thiết bị
+ Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện;
+ Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách;
+ Dự kiến nội quy, quy chế về tổ chức điều hành; về trách nhiệm, nhiệm vụ Nội dung của kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BVMT phải phù hợp, xác với tình hình thực tế của địa phương trên cơ sở Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Quy định quyền hành của cá nhân, tổ chức tham gia; tổ chức điều hành chính sách; các biện pháp khen thưởng, kỷ luật
Kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch thực thi chính sách bảo vệ môi trường phải được lãnh đạo có thẩm quyền các cấp thông qua
1.3.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ môi trường
Đây là bước quan trọng, giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách bảo vệ môi trường, về tính
Trang 25đúng đắn của chính sách bảo vệ môi trường để họ tự giác thực hiện Đồng thời, giúp cho cán bộ công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách bảo vệ môi trường nhận thức đầy đủ tính chất, quy mô, tầm quan trọng của chính sách để họ tích cực tìm kiếm các giải pháp thực hiện
Để thực hiện tốt công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ môi trường, cần phải đào tạo đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có trình độ chuyên môn, có phẩm chất tốt và có năng lực truyền thông; đầu tư trang thiết bị,
Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú như hội thảo, tập huấn, huấn luyện, họp nhóm, tham quan, khảo sát…hay tiếp cận truyền thông qua những buổi biểu diễn lưu động, tham gia hội diễn, các chiến dịch, tham gia các
lễ hội, các ngày kỷ niệm Nội dung tuyên truyền, phổ biến giáo dục phù hợp với các thành phần, đối tượng tham gia; gắn nghĩa vụ và trách nhiệm của từng đơn vị,
cá nhân trong công tác BVMT nhằm nâng cao nhận thức và giáo dục cộng đồng về sức khỏe, vệ sinh môi trường và thực hiện nếp sống vệ sinh.Tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội tham gia vào việc bảo vệ môi trường, xã hội hoá công tác BVMT
1.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Đa số các chính sách bảo vệ môi trường được triển khai thực hiện trong phạm
vi cả nước và có nhiều đơn vị tham gia, do đó cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp để đem lại hiệu quả cao hơn và duy trì sự ổn định của chính sách
1.3.4 Duy trì chính sách bảo vệ môi trường
Là hoạt động đảm bảo cho chính sách bảo vệ môi trường tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế Để duy trì được chính sách bảo vệ môi trường đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và cán bộ phụ trách môi trường ở các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở phải hiểu rõ chính sách, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để chính sách được thực thi tốt Các tổ chức, cá nhân (chủ thể chấp hành chính sách) phải có trách nhiệm tham gia thực thi chính sách một cách tích cực
để duy trì chính sách Trường hợp gặp phải khó khăn do môi trường biến động, các
Trang 26cơ quan nhà nước cần sử dụng các công cụ quản lý tác động tạo môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách bảo vệ môi trường
1.3.5 Điều chỉnh chính sách bảo vệ môi trường
Cơ quan nào ban hành chính sách bảo vệ môi trường thì cơ quan đó có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách cho phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế
Việc điều chỉnh không được làm thay đổi mục tiêu ban đầu của chính sách bảo
vệ môi trường, chỉ điều chỉnh biệp pháp, cơ chế thực hiện và các nội dung khác
1.3.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, qua đó, giúp cho các cơ quan quản lý về môi trường nắm rõ được tình hình thực thi chính sách, nội dung nào thực hiện thuận lợi, nội dung nào còn vướng mắc để kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường Đồng thời, chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách bảo vệ môi trường
Kiểm tra còn giúp phát hiện và kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp trên các vi phạm pháp luật về BVMT để các đối tượng vi phạm điều chỉnh hành
vi và tạo tính răng đe cho các đối tượng khác nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách
1.3.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Sau thời gian triển khai thực hiện các chính sách bảo vệ môi trường, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường từ trung ương đến cơ sở tiến hành được xem xét đánh giá, tổng kết về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách bảo vệ môi trường của các đối tượng thực thi chính sách Xem xét đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực thi chính sách bảo vệ môi trường (đối tượng được thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp)
Thước đo để đánh giá kết quả thực thi chính sách bảo vệ môi trường là: tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách; ý thức chấp hành các quy định về cơ chế,
Trang 27biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian
1.4 Chủ thể và các bên liên quan trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực như: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành thực hiện chức năng quản lý Nhà nước Chính sách bảo vệ môi trường cũng là một trong những chính sách công của Nhà nước Do đó, chủ thể ban hành chính sách bảo vệ môi trường gồm các cơ quan Nhà nuớc có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Bộ Tài chính Ngoài ra, các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ,
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các đơn vị sự nghiệp công lập cũng ban hành các văn bản phục vụ cho hoạt động quản lý đơn vị mình và tổ chức triển khai thực hiện
1.4.1 Chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước chuyên trách về môi trường ở nước ta được hình thành từ năm 2002 cùng với việc thành lập mới Bộ Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở tách chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường ở Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường và một số bộ ngành khác trước đó
Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường hiện nay ở nước ta gồm các cấp: Chính phủ, bộ ngành, địa phương và được khái quát qua sơ đồ sau:
Trang 28Cấp Trung ương Cấp địa phương
Hình 1.1 Hệ thống quản lý nhà nước về môi trường hiện nay ở nước ta
Chủ thể thực hiện chính sách về bảo vệ môi trường trước hết là các cơ quan Nhà nước (Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp) được quy định cụ thể tại chương XIV Luật bảo vệ môi trường năm 2014, cụ thể:
- Chính phủ thống nhất quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện Chương trình, Kế
Phòng TN&MT cấp quận/huyện
Công chức Địa chính - Môi trường cấp phường/xã
Sở TN&MT
(Chi cục BVMT)
Trang 29hoạch bảo vệ môi trường trong cả nước
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường… và có nhiệm vụ Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật về BVMT; phê duyệt chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển các ngành, lĩnh vực về BVMT; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên và môi trường
- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ: có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, ban hành thông tư, thông tư liên tịch về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực do bộ, cơ quan ngang bộ trực tiếp quản lý Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện các nhiệm vụ được quy định tại Luật bảo vệ môi trường và phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường thuộc phạm vi quản lý của mình; hằng năm báo cáo Chính phủ các hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thuộc bộ, ngành quản lý
Trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được quy định cụ thể tại điều 142, Chương XIV, Luật bảo vệ môi trường năm 2014
- Ủy ban nhân dân các cấp:
+ Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (cấp tỉnh): thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thành phố trong việc bảo vệ môi trường tại địa phương + Đối với cấp quận, huyện (cấp huyện), hoạt động quản lý nhà nước về môi trường được giao cho Phòng Tài nguyên và Môi trường thực hiện Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND quận, huyện quản lý nhà nước về môi trường và có các nhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 30Trình UBND quận, huyện ban hành quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hằng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm
vụ cải cách hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực môi trường
Tổ chức đăng ký, xác nhận và kiểm tra việc thực hiện cam kết BVMT, đề án BVMT, kế hoạch BVMT và các kế hoạch phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường trên địa bàn; thực hiện công tác BVTM làng nghề trên địa bàn; lập báo cáo hiện trạng môi trường theo định kỳ; đề xuất các giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề, các cụm công nghiệp, khu du lịch trên địa bàn
Tổ chức ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước; theo dõi, phát hiện
và tham gia giải quyết sự cố ô nhiễm nguồn nước liên quốc gia theo thẩm quyền
Tổ chức thực hiện kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu và tham gia cập nhật kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn cấp huyện
Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về BVMT, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoảng sản, bảo vệ môi trường biển
Theo dõi, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tài nguyên và môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, lãng phí về tài nguyên và môi trường theo quy định của pháp luật và phân công của UBND câp huyện
Giúp UBND quận, huyện quản lý nhà nước đối với các tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân; tham gia quản lý hoạt động tổ chức và hoạt động của các hội trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện Hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước về môi trường đối với công chức chuyên môn về môi trường thuộc UBND cấp xã
Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định ủa UBND cấp huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư
Đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quyền yêu cầu chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh,
Trang 31dịch vụ cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; tổ chức tìm hiểu thực tế về công tác bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thu thập, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền
và chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp; có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cơ sở; có quyền tham gia đánh giá kết quả bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật
Các doanh nghiệp, tổ chức có quyền được sử dụng những dịch vụ công trong hoạt động bảo vệ môi trường, được đối xử công bằng trong qúa trình thực hiện pháp luật về môi trường; đồng thời phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định về BVMT theo quy định của pháp luật trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
1.4.2 Các bên liên quan khác trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
- Trách nhiệm và quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tuyên truyền, vận động các tổ chức thành viên và nhân dân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường Tư vấn, phản biện, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Cơ quan quản lý nhà nước các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia bảo vệ môi trường
- Trách nhiệm và quyền của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
+ Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có trách nhiệm sau: tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường; tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường + Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có quyền: được cung cấp và yêu cầu cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; tham vấn đối với dự án có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tư vấn, phản biện về bảo vệ môi trường với cơ quan quản lý nhà nước và chủ
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có liên quan theo quy định của pháp luật; tham gia hoạt động kiểm tra về bảo vệ môi trường tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Trang 32có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
1.5 Chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam
1.5.1 Quan điểm, mục tiêu chính sách bảo vệ môi trường
1.5.1.1 Quan điểm chính sách bảo vệ môi trường
Môi trường là một nhân tố của phát triển do đó bảo vệ môi trường là trụ cột của phát triển bền vững mà phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong mọi quyết định phát triển Đây là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong chính sách bảo vệ môi trường của nước ta Do đó, bảo vệ môi trường là vấn đề đã được các kỳ đại hội Đảng và nhiều văn kiện quan trọng liên tục đề cập đến, các văn kiện đại hội đã định
ra các quan điểm, mục tiêu và giải pháp phù hợp, kịp thời Đáng chú ý là Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và gần đây nhất, trong bối cảnh phát triển mới (tác động biến đổi khí hậu tăng lên, hội nhập quốc tế sâu rộng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa) Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong đó đã xác định các quan điểm cơ bản sau:
- Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế -
xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội
- Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phải trên cơ sở phương thức quản lý tổng hợp và thống nhất, liên ngành, liên vùng Vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa bảo đảm lợi ích lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản Vừa bảo đảm toàn diện, vừa phải có trọng tâm,
Trang 33trọng điểm; có bước đi phù hợp trong từng giai đoạn; dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực hỗ trợ và kinh nghiệm quốc tế
- Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại trong thế kỷ 21, ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi
mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững Phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm
- Tài nguyên là tài sản quốc gia, là nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để phát triển đất nước Tài nguyên phải được đánh giá đầy đủ các giá trị, định giá, hạch toán trong nền kinh tế, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ; khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh tài nguyên Chú trọng phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu mới, tái chế
- Môi trường là vấn đề toàn cầu Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững
1.5.1.2 Mục tiêu chính sách bảo vệ môi trường
Trên cơ sở các quan điểm về bảo vệ môi trường, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 nêu trên đã chỉ ra 3 mục tiêu trong bảo vệ môi trường là:
- Không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 70% lượng nước thải ra môi trường lưu vực các sông được xử lý; tiêu huỷ, xử lý trên 85% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế; tái sử dụng hoặc tái chế trên 65% rác thải sinh hoạt
- Phấn đấu 95% dân cư thành thị và 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh Kiểm soát an toàn, xử lý ô nhiễm môi trường do hậu quả chiến
Trang 34tranh Nâng cao chất lượng môi trường không khí ở các đô thị, khu vực đông dân
cư Cải thiện rõ rệt môi trường làng nghề và khu vực nông thôn
- Quản lý khai thác hợp lý, sớm chấm dứt khai thác rừng tự nhiên, nâng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên lên trên 3 triệu ha; nâng độ che phủ của rừng lên trên 45%
Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương cũng đã cụ thể hóa thành các mục tiêu của mình
1.5.2 Các chính sách quốc gia về bảo vệ môi trường
Vấn đề bảo vệ môi trường được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển; vì vậy, các chính sách có nội hàm chủ trương, đường lối và định hướng chính là kim chỉ nam cho mọi hoạt động phát triển kinh tế xã hội, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững một cách toàn diện Đó là các chính sách môi trường quốc gia được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật (luật, văn bản dưới luật), các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển do các cấp quản lý nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện theo thẩm quyền và chức năng; nổi bật là các văn bản sau:
Ngày 17/8/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 153/2004/QĐ - TTg ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, có vai trò như một chiến lược khung bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các
bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện Năm 2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường 2005 và được áp dụng đến 31/12/2014 góp phần thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Đến năm 2014, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung và ban hành Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 với 20 chương 170 điều, quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực
để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ môi trường Điểm nổi bật cơ bản của Luật là đã xây dựng mới nội dung về quy hoạch bảo vệ môi trường; quy định cụ thể hơn về nội dung cần phải có của báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; bổ sung quy định về
Trang 35cam kết bảo vệ môi trường Luật quy định bổ sung và cụ thể về trách nhiệm của các hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại các làng nghề; các điều kiện
về bảo vệ môi trường tại các làng nghề; trách nhiệm của UBND cấp xã, cấp huyện
và cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường làng nghề Đồng thời, bổ sung trách nhiệm của người tiêu dùng và cơ quan quản lý Nhà nước bên cạnh trách nhiệm của nhà sản xuất đối với việc thu hồi các sản phẩm hết hạn sử dụng và thải bỏ; bổ sung quy định trách nhiệm của các chủ đầu tư khu công nghiệp, khu chế xuất trong quản lý chất thải…
Các nội dung cơ bản về bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 5, Luật Bảo
vệ môi trường năm 2014 gồm:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường
- Tuyên truyền, giáo dục kết hợp với các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng kỷ cương và văn hóa môi trường
- Bảo tồn đa dạng sinh học; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch và tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải
- Ưu tiên xử lý các vấn đề môi trường bức xúc, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường nguồn nước; chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư; phát triển hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường
- Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách với tỷ lệ tăng dần theo tăng trưởng chung; các nguồn kinh phí bảo vệ môi trường được quản lý thống nhất và ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực trọng điểm trong bảo vệ môi trường
- Ưu đãi, hỗ trợ về tài chính, đất đai cho các hoạt động bảo vệ môi trường, cơ
sở sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường
- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về bảo vệ môi trường
- Phát triển khoa học công nghệ môi trường; ưu tiên nghiên cứu, chuyển giao
và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường; áp dụng tiêu chuẩn môi trường đáp ứng các yêu cầu tốt hơn về bảo vệ môi
Trang 36- Nghị quyết số 35-NQ/CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ qui định về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ qui định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đề án bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ môi trường đơn giản;
- Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;
- Quyết định số 166/QĐ-TTg ngày 21/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030
Bên cạnh đó, trong hệ thống pháp luật ở nước ta có khá nhiều các văn bản liên quan đến môi trường có thể kể đến như: Luật Đa dạng sinh học, Luật Tài nguyên
Trang 37nước, Luật Kháng sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
1.6 Kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở một số địa phương
1.6.1 Kinh nghiệm thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn và cấp bách, vì môi trường ảnh hưởng lâu dài, sâu sắc đến đời sống, sản xuất, sự phát triển của từng quốc gia, dân tộc Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, thành phố Vũng Tàu đã tổ chức nhiều hoạt động phong phú và đa dạng như : trồng cây xanh vì môi trường; tổ chức treo băng rôn, panô, áp phích, khẩu hiệu về bảo vệ môi trường tại các khu vực công cộng và dọc theo bờ biển; đạp xe diễu hành, tuyên truyền cổ động bảo vệ môi trường; ra quân dọn vệ sinh bãi biển tại Bãi Trước và Bãi Sau,… đặc biệt thành phố đã tổ chức thành công Chương trình “Vì môi trường xanh quốc gia năm 2015” với chủ đề
“Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường biển” đã tạo sức lan tỏa mạnh mẽ đến toàn xã hội trong công tác bảo vệ môi trường góp phần nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường, nhất là môi trường biển; giúp cho các doanh nghiệp sản xuất hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường
Nắm bắt được xu hướng du khách muốn đến nhưng nơi có thắng cảnh đẹp, môi trường trong lành, người dân thân thiện và quan tâm bảo tồn văn hóa dân tộc, thành phố đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường cảnh quan, kết hợp giám sát chặt chẽ chất lượng môi trường tại các doanh nghiệp du lịch nhằm lan tỏa ra cộng đồng ý thức làm du lịch có trách nhiệm Và cách làm ấy
đã mang lại những kết quả nhất định Ý thức bảo vệ môi trường trong khối kinh doanh du lịch được nâng lên; không chỉ chấp hành tốt các quy định về bảo vệ môi trường, nhiều khu du lịch, khách sạn đã quan tâm đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, phân loại rác thải trước khi thải ra môi trường, thường xuyên làm sạch bãi biển, trồng mới hệ thống cây xanh, sân vườn, tạo môi trường trong lành, cảnh quan sạch đẹp, phục vụ du khách Qua đó, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế và giữ gìn cảnh quan, môi trường tự nhiên để xây dựng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói chung, thành phố Vũng Tàu nói riêng trở thành tỉnh mạnh về công nghiệp, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng và du
Trang 38lịch theo nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VI đã đề ra
1.6.2 Kinh nghiệm thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Môi trường hiện là vấn đề được thành phố Hội An quan tâm nhiều nhất và đặt lên hàng đầu trong sự phát triển Bốn đề án lớn về môi trường, trong đó tập trung vào giảm thiểu rác thải túi ni-lông mà Hội An đang từng bước học tập và vận dụng,
từ kinh nghiệm của Nhật Bản, cũng dần mang lại hiệu quả cho việc giữ gìn và bảo
vệ môi trường Chiến dịch "nói không với túi ni-lông" ở Cù Lao Chàm bắt đầu với
sự quyết liệt của chính quyền thành phố Hội An, nỗ lực của chính quyền xã Tân Hiệp và sự đồng lòng hưởng ứng của người dân Trên các đảo ở Cù Lao Chàm, hàng loạt biển hiệu cổ động cho cuộc vận động được căng khắp nơi, được dán ở các cái làn đi chợ, các gốc cây gờ đá Các hộ gia đình, đơn vị kinh doanh tại Cù Lao Chàm đều ký vào bản cam kết không sử dụng túi ni-lông trong sinh hoạt hằng ngày, không phát túi ni-lông cho người mua hàng , du khách lên đảo hiện được hướng dẫn
sử dụng túi ni-lông tự phân hủy và người dân xin lại những túi ni-lông mà khách mang theo, cấp phát miễn phí giỏ đi chợ bằng nhựa và bao túi thân thiện với môi trường cho các hộ gia đình, hộ kinh doanh.; ngoài thuyền chuyên dụng chở rác, các đảo còn được trang bị năm xe chở rác, thuyền thúng vớt rác trên biển và máy ép rác thủ công,… Với các hoạt động trên, đã đem lại nhiều kết quả tích cực, không chỉ nâng cao ý thức người dân đảo trong việc bảo tồn những giá trị thiên nhiên và văn hóa bên cạnh khai thác nguồn lợi tự nhiên, đồng thời phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa , mà còn là "thông điệp" cho du khách quốc tế về vùng biển đảo xanh, sạch và đẹp
Thành công ban đầu ở Cù Lao Chàm đã gây "hiệu ứng" cho toàn thành phố Hội An, lần đầu tại Việt Nam cũng như trên thế giới có một sự kiện "Ngày không túi ni-lông - The Nature Day" được tổ chức tại Hội An Nhiều hoạt động được tiến hành nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về tác hại của túi ni-lông đối với sức khỏe và môi trường sống và "Ngày không túi ni-lông" được tổ chức thường niên hằng năm, trở thành một phong trào xã hội rộng rãi, cổ vũ cho một lối sống không
lệ thuộc vào túi ni-lông, vận động các cơ quan công sở, gia đình, cá nhân không sử dụng túi ni-lông để từng bước hình thành thói quen không sử dụng túi ni-lông vào
Trang 39các ngày còn lại trong năm Là điểm khởi đầu sự kiện "Ngày không túi ni-lông", Hội An cũng là thành phố thứ hai ở Việt Nam thực hiện dự án 3R (giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng) bằng việc phân loại rác thải tại nguồn Thực tế cho thấy, con đường "Nói không với túi ni-lông" và "3R", mới có thể giúp môi trường nhanh chóng được cải thiện và là bước đi trong phát triển du lịch một cách bền vững
1.6.3 Kinh nghiệm thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
Trong những năm qua, UBND thành phố Quảng Ngãi chỉ đạo kịp thời các ngành, các cấp tổ chức thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường; ban hành các văn bản để triển khai các kế hoạch hành động về bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Trong quá trình xây dựng, ban hành và triển khai các Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, luôn lồng ghép với nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo quan điểm phát triển bền vững, đồng bộ trên cả ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường, trong đó đặc biệt quan tâm đến các chỉ tiêu về môi trường Trong các chương trình, kế hoạch hành động của thành phố đều xác định rõ trách nhiệm và phân công, phân cấp hợp
lý giữa các ngành, các cấp để làm tốt công tác quản lý về môi trường thuộc địa bàn
và phạm vi quản lý
Bên cạnh việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật và các nhiệm vụ liên quan đến công tác bảo vệ môi trường; các ngành, các cấp trong tỉnh cũng thường xuyên phối hợp tổ chức học tập, quán triệt
và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục những chủ trương, chính sách, pháp luật này đến tất cả cán bộ, nhân dân Qua học tập, quán triệt: tất cả cán bộ đảng viên, công chức đã nhận thức cao, đầy đủ về ý nghĩa, vai trò, cũng như tầm quan trọng đối với nhiệm vụ bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật luôn được tăng cường và đổi mới; nhận thức về công tác BVMT của các tổ chức, doanh nghiệp đã
có những chuyển biến rõ rệt: đầu tư cho lĩnh vực môi trường được quan tâm hơn với nhiều dự án, công trình triển khai hiệu quả
Hàng năm, thực hiện tốt công tác phổ biến, tuyên truyền các nội dung về BVMT đến 100% cán bộ, đảng viên trong toàn ngành và cơ sở sản xuất, kinh
Trang 40doanh, dịch vụ trên địa bàn thành phố bằng nhiều hình thức và biện pháp như: phổ biến, thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức hội thảo, tập huấn triển khai các văn bản pháp luật về BVMT
Tổ chức thực hiện các chuyên mục tài nguyên và môi trường; ký kết với các tổ chức đoàn thể như Thành đoàn Quảng Ngãi, Đài Truyền thanh thành phố Quảng Ngãi về phối hợp truyền thông BVMT và duy trì thường xuyên nội dung các chương trình truyền thông về TN&MT trên hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng Qua đó, các nội dung về BVMT từng bước đi vào cuộc sống và phát huy hiệu lực Kết quả các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn thành phố ngày càng quan tâm hơn đến hoạt động BVMT như lập báo cáo đánh giá tác động MT, cam kết BVMT hoặc đề án BVMT; các nhà máy, Công ty trước đây gây ô nhiễm đã chủ động vay hoặc cân đối nguồn vốn để đầu tư xây dựng hệ thống
xử lý chất thải; các nhà máy, công ty xây dựng mới đều phải có hệ thống xử lý ô nhiễm ngay khi sản xuất ra sản phẩm đầu tiên…
1.6.4 Bài học kinh nghiệm
Qua nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách BVMT trên địa bàn thành phố Hội An, Vũng Tàu và Quảng Ngãi, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ các nỗ lực BVMT trong xã hội thông qua các chính sách, cơ chế đúng đắn, phù hợp nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện và đạt được các mục tiêu BVMT
- Nhận thức, ý thức của các cộng đồng và từng người dân về MT và BVMT có vai trò quan trọng trong thực hiện chính sách BVMT Công tác giáo dục, nâng cao nhận thức
về BVMT cần được tiến hành thường xuyên và liên tục
- Các mục tiêu BVMT cần được xác định rõ ràng, cụ thể với lộ trình tổ chức thực hiện huy động, lôi kéo được toàn thể mọi người dân, các tổ chức, đoàn thể và các cộng đồng trong xã hội cùng tham gia
- Tôn trọng phương châm “lấy phòng ngừa là chính”, đồng thời phải xử lý điểm nóng về môi trường đã được xác định, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thông qua cơ quan chuyên ngành, giám sát HĐND và phát huy vai trò của Ủy ban