Không nằm ngoài xu thế đó, phát triển bền vững, trong đó có phát triển du lịch bền vững đã được chính phủ đặc biệt quan tâm và để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam, h
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG BÌNH PHƯƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Chính sách công
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS ĐỖ PHÚ HẢI
HÀ NỘI, năm 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy, cô đang công tác, giảng dạy tại Học viện Khoa học xã hội đã quan tâm hướng dẫn tận tình trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này Đặc biệt, tôi xin gửi lời
cảm ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Đỗ Phú Hải, người đã trực tiếp hướng dẫn
Luận văn cho tôi với tất cả lòng nhiệt tình, tâm huyết và trách nhiệm
Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo các cơ quan, đơn vị , địa phương; bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc với những người thân trong gia đình luôn quan tâm, tạo điều kiện, chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và bạn bè
Trân trọng cảm ơn!
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Phú Hải; các số liệu, tư liệu được sử dụng trong Luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng; những phát hiện đưa ra trong Luận
văn là kết quả nghiên cứu của chính tác giả Luận văn
Tác giả luận văn
Đặng Bình Phương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 9
1.1 Khái niệm về chính sách phát triển du lịch bền vững 9
1.2 Chính sách phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam 13
1.3 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững 19
1.4 Vai trò, trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách 26
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 35
2.1 Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển du lịch bền vững 35
2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững 40
2.3 Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững của thành phố Đà Nẵng 58
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 66
3.1 Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững 66
3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững 68 KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
APEC Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Biểu đồ lượng khách đến Đà Nẵng giai đoạn 2011 - 2015 382.2 Các nguồn tiếp cận thông tin của du khách 46
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm qua, du lịch Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đóng góp vào sự phát triển kinh tế cũng như có những tác động tích cực về văn hóa và xã hội của nước ta Đảng và Nhà nước xác định du lịch là một ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của thời đại
Từ Đại hội lần thứ VII của Đảng năm 1991 đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến phát triển du lịch Năm 1994, khi Việt Nam bắt đầu quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW về phát triển du lịch trong tình hình mới nhằm tập trung chỉ đạo phát triển du lịch Năm 1998, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Bộ Chính trị họp chuyên đề về du lịch và ban hành Thông báo Kết luận số 179-TB/BCT, trong đó nêu rõ ý kiến chỉ đạo về tập trung đẩy mạnh phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng của đất nước Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng năm 2016 tiếp tục khẳng định rõ chủ trương
“Có chính sách phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; Khuyến khích
các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch với hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại, sản phẩm đa dạng và tính chuyên nghiệp cao” [12]
Có thể thấy, Đảng và Chính phủ luôn không ngừng quan tâm đến phát triển du lịch Việt Nam, đã và đang có những chỉ đạo, chính sách đột phá để tạo động lực cho ngành du lịch phát triển Chất lượng du lịch Việt Nam đang dần tốt lên, hình ảnh du lịch quốc gia ngày càng được nâng cao Hệ thống di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận ngày càng phong phú Nhiều điểm du lịch được các tổ chức uy tín bình chọn là địa chỉ yêu thích của đông đảo du khách quốc tế Du lịch đang ngày càng nhận được sự quan tâm của toàn xã hội
Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch trong giai đoạn qua cũng
đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan môi trường và văn hóa, xã hội Chính vì vậy những năm gần đây, phát triển du lịch xanh, du lịch thân thiện với môi trường đã trở thành xu hướng chính trong việc phát triển du lịch trên thế giới, góp
Trang 9phần đảm bảo sự cân bằng cho ngành du lịch của các quốc gia, địa phương trên cả ba yếu tố là môi trường, xã hội và kinh tế
Không nằm ngoài xu thế đó, phát triển bền vững, trong đó có phát triển du lịch bền vững đã được chính phủ đặc biệt quan tâm và để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam, hàng loạt chính sách đã được ban hành trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường cũng như thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bển vững mà Việt Nam đã ký kết
Năm 2004 Chính phủ Việt Nam đã ban hành "Định hướng chiến lược phát
triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Tiếp đó ngày
12/4/2012 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 432/QĐ-TTg về Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 Đặc biệt là Nghị
quyết 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 của Chính phủ Về một số giải pháp đẩy mạnh phát
triển du lịch việt Nam trong thời kỳ mới đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho mỗi
địa phương triển khai các chính sách phát triển du lịch
Với những đặc trưng vốn có, Đà Nẵng có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, thừa hưởng những thế mạnh hấp dẫn về du lịch biển, sinh thái, văn hóa… với nhiều địa danh du lịch nổi tiếng Thành phố Đà Nẵng không chỉ được biết đến là trung tâm du lịch nổi tiếng ở miền Trung; mà còn là một thành phố xanh, sạch, đẹp, văn minh, thân thiện và đáng sống; cộng thêm vào đó là một thành phố trẻ năng động, sáng tạo, tạo dựng được nhiều lợi thế so sánh đối với các địa phương khác
Nghị Quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XXI,
nhiệm kỳ 2015-2020 đã xác định: “ Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với tái
cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tập trung nâng cao quy mô, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, xây dựng
Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại dịch vụ, du lịch chất lượng cao, thành phố sự kiện của khu vực và cả nước” [14]
Sự đột phá trong phát triển du lịch đã giúp diện mạo thành phố phát triển vượt bậc trong thời gian qua, chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao, Đà Nẵng
tự hào khi trở thành thành phố biển có tiếng vang lớn về du lịch Tuy nhiên, đi đôi với
Trang 10sự phát triển vẫn còn nhiều tồn tại và thách thức cần khắc phục, cụ thể:
Chưa có được những sản phẩm du lịch chủ lực đặc thù; chất lượng sản phẩm
du lịch chưa cao, khả năng cạnh tranh hạn chế; nhiều khu du lịch, điểm du lịch phát triển tự phát, chưa được đầu tư đúng tầm gây ảnh hưởng, ô nhiễm môi trường tự nhiên; thiếu các khu vui chơi giải trí có quy mô lớn và sức hấp dẫn đáp ứng nhu cầu
đa dạng và ngày càng cao của du khách; nhiều chương trình du lịch còn đơn điệu, trùng lặp, đội ngũ nhân lực còn thiếu; sức hấp dẫn của du lịch Đà Nẵng trên thị trường du lịch quốc tế còn hạn chế
Những hạn chế nêu trên đã làm cho ngành du lịch thành phố Đà Nẵng đang đứng trước thách thức về sự phát triển thiếu bền vững
Xuất phát từ thực tiễn thiết thực và tính cấp bách của vấn đề, tôi chọn đề tài:
"Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng"
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Phát triển bền vững nói chung hay phát triển du lịch bền vững nói riêng, ngày nay trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của quốc gia, của các cấp ngành, địa phương, đã có rất nhiều tác giả tham gia nghiên cứu và viết bài trên các sách báo, tạp chí, bài luận văn, đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về chính sách phát triển
du lịch bền vững, tiêu biểu như:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước "Cơ sở khoa học và giải pháp phát
triển du lịch bền vững ở Việt Nam" do PGS.TS Phạm Trung Lương – Viện Nghiên
cứu phát triển Du lịch làm chủ nhiệm đề tài, năm 2002 [21] Đề tài đã nghiên cứu
và xác định được những vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam bao gồm: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững; tài nguyên và môi trường du lịch và những vấn
đề đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững; văn hoá - xã hội và những vấn đề đặt
ra đối với phát triển du lịch bền vững
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Các giải pháp phát triển bền vững du lịch
sinh thái tại Thừa Thiên Huế và Thành phố Đà Nẵng” do TS Nguyễn Thị Mỹ Thanh
làm chủ nhiệm đề tài, năm 2010 [26] Đề tài đã có những nghiên cứu lý luận về du
lịch sinh thái, về phát triển bền vững du lịch sinh thái và quản lý du lịch sinh thái,
Trang 11đánh giá được thực trạng hoạt động quản lý du lịch sinh thái tại Thừa Thiên Huế và
Đà Nẵng Đồng thời, nhận diện những tác động tiêu cực đối với môi trường trong các điểm du lịch sinh thái và các` tác nhân gây ra những tác động tiêu cực tại địa bàn
Nguyễn Quyết Thắng (2012), “Nghiên cứu tiềm năng và các giải pháp phát
triển du lịch sinh thái tại một số trọng điểm vùng du lịch Bắc Trung Bộ”, Luận án
tiến sỹ, Đại học Nông nghiệp Hà Nội [27] Luận án đã góp phần hệ thống hoá và
làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghiên cứu tiềm năng và phát triển
du lịch sinh thái; Nghiên cứu đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại các trọng điểm
du lịch của vùng du lịch Bắc Trung Bộ
Nguyễn Duy Mậu (2011), “Phát triển Du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sỹ, Đại học Kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh [22] Luận án đã đưa ra hệ thống các lý luận chung về DL, đề tài đi
sâu phân tích, đánh giá tiềm năng và thực trạng về DL trên địa bàn Tây Nguyên Từ
đó đề xuất quan điểm, mục tiêu, giải pháp các kiến nghị phát triển DL Tây Nguyên đến năm 2020, góp phần đưa ngành DL trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Tây Nguyên
Nguyễn Đức Tuy (2014), “Giải pháp phát triển du lịch bền vững Tây
Nguyên”, Luận án tiến sỹ, Học viện khoa học xã hội [25] Luận án đã có một số
đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn: luận án đã đưa ra định nghĩa phát triển du lịch bền vững, trên 4 trụ cột kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường Nhận định mức độ phát triển du lịch bền vững của vùng Tây nguyên; đề xuất các giải pháp nhằm phát triển vùng du lịch Tây Nguyên theo hướng bền vững, đề xuất các cơ chế chính sách đặc thù để du lịch bền vững Tây Nguyên phát triển mạnh
Ở thành phố Đà Nẵng, có một số công trình nghiên cứu về phát triển du lịch, tiêu biểu như:
Hồ Kỳ Minh (2011), “Phát triển bền vững ngành du lịch trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ [23] Đề tài tập trung vào các nội
dung như: phát triển Du lịch theo hướng bền vững; Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Đà Nẵng những năm qua; Phân tích cạnh tranh về du lịch Đà Nẵng trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế; Phân tích và dự báo nguồn
Trang 12khách du lịch đến Đà Nẵng; Xác lập quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển du lịch theo hướng bền vững; Xây dựng mô hình phát triển du lịch bền vững TP Đà Nẵng; Đề xuất các nhóm giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững trên địa bàn TP Đà Nẵng đến năm 2020 về kinh tế, văn hóa - xã hội và tài nguyên - môi trường, cùng các kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước
Ngoài ra còn một số luận văn, đề tài nghiên cứu về phát triển du lịch khác như:
Phạm Trung Lương (2007), “Phát triển du lịch biển bền vững từ góc độ môi
trường”; Tạp chí Du lịch số 7/2007
Nguyễn Thị Như Liêm & Hoàng Thanh Hiền (2010) “Thực trạng và một số
giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng”; Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại
học Đà Nẵng, Số 5/2010
Nguyễn Xuân Vinh (2010) ”Xây dựng chiến lược thương hiệu du lịch thành
phố Đà Nẵng”; Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Nguyễn Thị Thu Hiệp (2012) “Phát triển loại hình dịch vụ sinh thái tại khu du
lịch bán đảo Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng’’ Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà
Nẵng
Nguyễn Thị Ái Vân (2015) “Phát triển bền vững thương hiệu du lịch Đà
Nẵng”; Tạp chí phát triển Kinh tế-Xã hội Đà Nẵng, Số 63/2015
Qua việc tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài có thể nhận thấy đã có các công trình nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Tuy nhiên, vấn đề phát triển du lịch bền vững ở Đà Nẵng mới chỉ được đề cập ở những khía cạnh riêng biệt của nó trong một số công trình, chủ yếu chỉ tập trung vào các nội dung để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương, ví dụ như tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, quản lý nhà nước về du lịch, phát triển kinh doanh lưu trú trong du lịch… Để hình thành khung
lý thuyết phát triển du lịch bền vững; nhận định, đánh giá phát triển du lịch bền vững ở thành phố Đà Nẵng trên 3 yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và nghiên cứu các yếu tố đặc thù khác có thể tác động đến phát triển du lịch bền vững ở thành phố
Trang 13Đà Nẵng; đề xuất giải pháp và cơ chế chính sách thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống Việc nghiên cứu các giải pháp để phát triển du lịch theo quan điểm phát triển bền vững lại chưa được đề cập nhiều, đặc biệt là ở một địa bàn đặc thù và giàu tiềm năng du lịch như thành phố Đà Nẵng
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình, luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển và vận dụng những thành quả quan trọng của các đề tài liên quan trước đó để đánh giá, phân tích từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn của thành phố Đà Nẵng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách qua đó phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững ở nước ta
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án có các nhiệm vụ nghiên sau:
Nhiệm vụ thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền
vững là gì ?
Nhiệm vụ thứ hai: Làm rõ thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch
của thành phố Đà Nẵng như thế nào? Từ đó thấy được những thành tựu và hạn chế chính sách phát triển du lịch bền vững của thành phố
Nhiệm vụ thứ ba: Cần có những giải pháp nào nhằm tăng cường thực hiện
chính sách phát triển du lịch bền vững ở nước ta ?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
Trang 145.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính, cụ thể như sau:
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, thống kê và so sách được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách phát triển du lịch cho các cơ quan nhà nước ở nước ta nói chung và thực tế tại thành phố Đà Nẵng nói riêng Đồng thời, thu thập thông tin từ các tài liệu của các tổ chức và học giả trong nước liên quan đến đề tài trong thời gian qua
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là phương pháp được dùng khá phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối thoại trực tiếp với đối tượng nhằm thu thập thông tin Ngoài các thông tin thu thập được qua các số liệu thứ cấp tác giả đã thực hiện thêm phương pháp phỏng vấn đối với một số đối tượng để làm rõ thêm thông tin mà các phương pháp thu thập thông tin nêu trên chưa đáp ứng được
- Tham khảo và sử dụng các tài liệu từ sách, báo, tạp chí về du lịch, các website du lịch, website thông tin thành phố Đà Nẵng; các báo cáo, nghị quyết
và quy hoạch phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng; Kết quả điều tra khách
Trang 15du lịch của Dự án EU tại một số điểm du lịch
- Ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý, doanh nhân
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Đề tài này cung cấp lý luận chính sách công về nghiên cứu vấn đề chính sách phát triển du lịch bền vững cho các cơ quan nhà nước
- Hệ thống hóa một số lý luận và đánh giá thực tiễn từ thành phố Đà Nẵng từ
đó đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững cho các cơ quan nhà nước nhằm phát huy tối đa hiệu quả chính sách đã ban hành và
đề xuất đổi mới chính sách
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Quan thực tiễn nghiên cứu chính sách phát triển du lịch bền vững của thành phố Đà Nẵng, luận văn đã chỉ ra được những khó khăn, hạn chế trong việc hoạch định và thực thi chính sách, đồng thời kết quả nghiên cứu giúp cho cơ quan quản lý, doanh nghiệp, các sở, ban, ngành có liên quan, các nhà hoạch định chính sách có cơ
sở khoa học và thực tiễn để vận dụng, điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững một cách hiệu quả hơn
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững của thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững ở nước ta hiện nay
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1 Khái niệm về chính sách phát triển du lịch bền vững
William Jenkin (1978) định nghĩa: “Chính sách công là một tập hợp các quyết
định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó”
B Guy Peter (1990) cho rằng: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động
của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”
Ở Việt Nam, nhiều học giả trong nước đã tổng kết, phân tích một cách cụ thể
để chỉ rõ rằng chính sách công chính là kết quả của các quyết định của Chính phủ, các quyết định này nhằm duy trì tình trạng của xã hội hoặc giải quyết "các vấn đề xã hội" trong đó là "Vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội" theo mục tiêu tổng
thể của Đảng đã vạch ra từ trước [13] Như vậy, có thể nói trong trường hợp của
Việt Nam có thể khái niệm chính sách công như sau:
Theo PGS.TS Đỗ Phú Hải trong giáo trình Những vấn đề cơ bản của chính
sách công, Học viện KHXH, 2012 thì “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và lựa chọn các giải pháp, các công cụ nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [15]
1.1.2 Khái niệm du lịch
Ngày nay du lịch đã trở thành một trong những hình thức sinh hoạt khá phổ
Trang 17biến của con người Tuy nhiên, thế nào là du lịch xét từ góc độ của người du lịch và bản thân người làm du lịch, thì cho đến nay vẫn còn có sự khác nhau trong quan niệm giữa những người nghiên cứu và những người hoạt động trong lĩnh vực này
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải
để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,…
Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ
Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền
Theo I I Pirogionic (1985): Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày
14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [19]
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc
Trang 18Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội
1.1.3 Khái niệm phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch bền vững được Tổ chức Du lịch thế giới (United National
World Tourist Organization; UNWTO) định nghĩa như sau: “Sự phát triển bền vững
của ngành du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và của địa phương du lịch, đồng thời bảo vệ và thúc đẩy cơ hội phát triển cho tương lai Sự quản lý của ngành phải cân bằng và đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ mà vẫn duy trì được các giá trị của sinh thái, văn hóa và môi sinh”
Butler (1993) cho rằng phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển và duy trì trong một không gian và thời gian nhất định (ở đó tồn tại cộng đồng, môi trường), thêm nữa sự phát triển sẽ không làm giảm khả năng thích ứng môi trường của con người trong khi vẫn có thể ngăn chặn những tác động tiêu cực tới sự phát triển lâu dài Đây là quan điểm đã nhận được sự đồng thuận của các tác giả khác như Murphy (1994), Mowforth và Munt (1998) Trong khi đó, Machado (2003) lại nhấn mạnh đến tính bền vững của các sản phẩm trong phát triển du lịch Nghiên cứu của Tosun (1998) đề xuất phát triển du lịch bền vững là một thành phần của phát triển du lịch và nó tạo ra những đóng góp đáng kể hoặc ít hoặc phủ nhận sự duy trì các nguyên tắc của sự phát triển trong thời kỳ nhất định mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của thế hệ tương lai Bổ sung vào quan điểm này, Hens (1998) chỉ ra rằng phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự quan tâm của các bên liên quan đến việc quản lý các nguồn tài nguyên theo các cách thức khác nhau nhằm khai thác và cung cấp các sản phẩm du lịch đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, đa dạng hệ sinh thái và đảm bảo sự sống cho thế hệ mai sau
Để làm rõ hơn khái niệm phát triển du lịch bền vững như đã đề cập ở trên,
Trang 19một số nhà nghiên cứu đã luận bàn đến những tác động của du lịch đến 3 phân hệ kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường Thông qua việc so sánh đánh giá, một bản danh mục các yếu tố được coi là đóng góp và sự phát triển bền vững và không bền vững trong phát triển du lịch được hình thành
Bảng 1.1 So sánh phát triển du lịch bền vững và phát triển du lịch không bền vững
khai sau
Không có quy hoạch, triển khai tùy tiện
Nguồn: Machado (2003)
Trang 20Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005: Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai
Tuy có nhiều khái niệm về du lịch bền vững nhưng tập trung lại nó phải có những nội dung chủ yếu sau đây: Giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường
tự nhiên và môi trường nhân văn Du lịch phải thân thiện với môi trường; Đảm bảo lợi ích nhiều mặt của cộng đồng dân cư địa phương Tăng thu nhập cho địa phương; Phải có trách nhiệm về phát triển du lịch hôm nay và cả mai sau Vì vậy du lịch bền vững đồng nghĩa với du lịch trách nhiệm
Như vậy, du lịch bền vững có thể được hiểu là là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào
1.2 Chính sách phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam
1.2.1 Vấn đề chính sách
Vấn đề phát triển du lịch bền vững đã và đang trở thành nhu cầu cấp thiết đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và du lịch nói riêng Do vậy, những năm gần đây Đảng và Nhà nước cũng như các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm, điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu về du lịch và phát triển du lịch bền vững cả về thực tiễn
và chính sách nhằm khai thác có hiệu quả và lâu dài các tiềm năng to lớn về tài nguyên, môi trường nhằm phục vụ cho mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đời sống người dân không ngừng được cải thiện với nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc
Chính sách phát triển du lịch bền vững được đề cập ở đây là các quyết định của Nhà nước nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển bền vững với các mục tiêu và giải pháp thực hiện
Căn cứ lý thuyết về khoa học chính sách công và khái niệm về phát triển du lịch bền vững, có thể đưa ra khái niệm chính sách phát triển du lịch bền vững như
sau: “Chính sách phát triển du lịch bền vững là tập hợp các quyết định của Nhà
nước nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển bền vững với
Trang 21các mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề phát triển du lịch bền vững của đất nước cũng như ở các địa phương.”
Sự tăng trưởng của Du lịch Việt Nam giai đoạn vừa qua có đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế xã hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về đảm bảo cân đối các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường đối với phát triển bền vững Thách thức từ tăng trưởng du lịch đặt ra yêu cầu cần có chính sách đảm bảo phát triển bền vững cho ngành du lịch
Ở nước ta, chính sách phát triển du lịch bền vững được thể hiện trong Luật
Du lịch Việt Nam 2005 tại các khoản mục của Điều 5 [17, tr.3] và Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 chỉ rõ: “Thực hiện
chính sách phát triển bền vững; có chính sách ưu đãi đối với phát triển du lịch sinh thái, du lịch “xanh”, du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm” [30] Chiến lược
định hướng trách nhiệm về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong tất cả các lĩnh vực từ hoạch định chính sách đến quy hoạch, khai thác tài nguyên, phát triển sản phẩm, tổ chức kinh doanh và phục vụ khách du lịch với mục tiêu chính của chính sách phát triển bền vững là để 3 trụ cột của du lịch bền vững là Môi trường, Văn hóa xã hội và Kinh tế được phát triển một cách đồng đều và hài hòa
Việc thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững nêu trên góp phần tăng trưởng kinh tế quốc gia, địa phương, đảm bảo lợi ích cho các chủ thể tham gia hoạt động du lịch Bên cạnh đó, giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc cũng như góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường du lịch Hạn chế những tác động tiêu cực của thiên nhiên đối với ngành du lịch đồng thời đảm bảo ngành du lịch có thể kiểm soát được những nguy cơ tiềm ẩn của hoạt động phát triển du lịch trong tương lai
Tuy nhiên, thực trạng phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian qua chưa phát huy được tối đa tiềm năng thế mạnh về văn hóa và sinh thái với những giá trị độc đáo của đất nước-con người Việt Nam để định vị điểm đến bằng chất lượng, hiệu quả, thương hiệu và sức cạnh tranh Những xu hướng và yếu tố tác động toàn cầu đang đặt du lịch Việt Nam trước những cơ hội và thách thức trong tiến trình đưa
du lịch thực sự phát triển bền vững trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo mục tiêu Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đề
Trang 22ra, mà trong đó có nguyên nhân thực trạng chính sách phát triển du lịch bền vững ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chính sách chưa theo kịp thời đại, có lúc chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế Điều đó thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Phải có sự tham gia đầy đủ của tất cả các bên liên quan từ cấp độ quốc gia cho đến cộng đồng địa phương trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách phát triển du lịch Cần xây dựng chiến lược và kế hoạch chi tiết, liên kết các tổ chức ban ngành liên quan để cùng nhau tham gia vào hoạt động phát triển du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Vì vậy, hệ thống cơ chế, chính sách phát triển du lịch đòi hỏi sự đồng
bộ và kết dính, nhưng hiện nay việc xây dựng các chính sách, cơ chế để vận hành mối liên kết giữa ngành Du lịch với các bộ, ngành liên quan, giữa cơ quan quản lý ở Trung ương và cơ quan quản lý ở địa phương, giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giữa địa phương và địa phương, giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp, giữa cộng đồng và doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức
Trong quá trình thực hiện chính sách, vấn đề đầu tư, triển khai các dự án phát triển du lịch đôi khi được áp đặt từ bên ngoài hoặc từ trên xuống, nói các khác tức là vấn đề “áp đặt chính sách” và điều này thường gây rủi ro trong thực thi chính sách
do không tính được một cách toàn diện đến nguồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa cũng như mối quan tâm của cộng đồng địa phương Trong những trường hợp như vậy thường nảy sinh mâu thuẫn, thậm chí đối kháng về quyền lợi của cộng đồng địa phương đối với tổ chức đầu tư Kết quả là sự phát triển của dự án sẽ không thuận lợi, thậm chí không thể thực hiện được
Hoạt động du lịch bền vững cần chú ý tới khả năng chịu tải của khu du lịch, tuy nhiên trong việc hoạch định và xây dựng chính sách phát triển du lịch hiện nay, công tác dự báo, đánh giá tác động đến môi trường trong khai thác du lịch chưa được nghiên cứu một cách toàn diện để có những dự báo kịp thời nhằm điều chỉnh hoàn thiện chính sách
1.2.2 Nguyên nhân của vấn đề chính sách
Thứ nhất, là nhận thức về công tác quản lý, đầu tư, khai thác tiềm năng du
Trang 23lịch còn hạn chế: Mặc dù, Việt Nam có tiềm năng về du lịch tuy nhiên việc quy
hoạch khai thác tài nguyên du lịch ở nước ta còn chưa tương xứng với tiềm năng ví
dụ như nhiều khu du lịch đưa vào khai thác không hiệu quả và ngược lại cũng có nhiều nơi rất có tiềm năng du lịch nhưng chưa được đầu tư, khai thác đúng và đạt hiệu quả như mong đợi Nhiều nơi việc khai thác tài nguyên du lịch còn cẩu thả, bừa bãi và thiếu sự quản lý của cơ quan ban, ngành dẫn đến tình trạng các tài nguyên du lịch bị hao mòn, suy kiệt và không phát huy được tiềm năng vốn có Việc khai thác tài nguyên du lịch vẫn chỉ 1 hướng “cho đi” mà không “nhận lại”, nghĩa là một số nơi chỉ biết khai thác và tận dụng triệt để nguồn tài nguyên du lịch
mà không có ý thức bảo vệ, phục hồi, tôn tạo Bên cạnh đó ý thức của một bộ phận
cá nhân trong ngành du lịch chưa cao, chưa quan tâm đến lợi ích chung của cộng đồng mà chỉ biết lo đến lợi ích cá nhân, trục lợi từ tài nguyên du lịch Tư duy và tầm nhìn du lịch hạn hẹp, sự liên kết trong du lịch còn lỏng lẻo, thiếu bền vững, chủ nghĩa cát cứ, cục bộ địa phương làm triệt tiêu thế mạnh của du lịch Việt Nam
Thứ hai, là sự phối kết hợp liên ngành, địa phương chưa đồng bộ, không thường xuyên cả trong nhận thức và hành động: Sự liên kết giữa các cơ quan nhà
nước ở trung ương chưa thật chặt chẽ trong xây dựng chính sách Sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành trong từng địa phương về phát triển du lịch còn rất hạn chế Phối hợp liên vùng đã bắt đầu được chú ý, nhưng còn lúng túng trong nội dung, chưa rõ ràng trong phân công, phân nhiệm và giải pháp để phát triển du lịch
Thứ ba, là tổ chức, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch còn nhiều hạn chế, bất cập: Các đơn vị, ban, ngành quản lý về du lịch có lượng nhân sự còn mỏng
Thêm vào đó, tình trạng quản lý chồng chéo; do vậy, khi xảy ra các vấn đề liên quan đến tài nguyên du lịch thì đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, không phân quyền hạn hoặc giao trách nhiệm cụ thể
Thứ tư, là chất lượng nguồn nhân lực phục vụ trong ngành du lịch chưa được quan tâm phát triển, đào tạo phù hợp với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay: Nguồn nhân lực hoạt động trong ngành dịch vụ du lịch tuy đông nhưng
về mặt trình độ chuyên môn là chưa cao, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách
du lịch, nhất là du khách quốc tế Các đơn vị lữ hành trong nước dù “sân nhà”
Trang 24nhưng có trường hợp vẫn không cạnh tranh được các công ty du lịch đa quốc gia hoặc công ty du lịch có vốn đầu tư nước ngoài, về cả trình độ chuyên môn, năng lực cạnh tranh nhất là các đường Tour quốc tế
Thứ năm, là hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch chưa được quan tâm đầu
tư bài bản: Về mảng tiếp thị, quảng cáo hình ảnh Việt Nam trên thương trường du
lịch thế giới vẫn đang là vấn đề cần được quan tâm, hiệu quả hoạt động xúc tiến quảng bá chưa cao, nguồn khách quốc tế còn phụ thuộc vào một số thị trường Việc xây dựng một chiến lược tiếp thị dài hơi và phù hợp để du khách quốc tế luôn xem Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn trong kế hoạch nghỉ dưỡng của họ chưa được đầu tư đúng mức
1.2.3 Mục tiêu chính sách
- Mục tiêu tổng quát
Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội
- Năm 2020: Việt Nam đón 10 - 10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 47 -
48 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 18 - 19 tỷ USD, đóng góp 6,5 - 7% GDP cả nước; có tổng số 580.000 buồng lưu trú với 35 - 40%
Trang 25đạt chuẩn từ 3 đến 5; tạo ra 3 triệu việc làm trong đó có 870.000 lao động trực tiếp
du lịch
- Năm 2030: Tổng thu từ khách du lịch tăng gấp 2 lần năm 2020
1.2.4 Giải pháp và công cụ chính sách phát triển du lịch bền vững
Từ những vấn đề chính sách nêu trên có thể thấy chính sách phát triển du lịch
bền vững hướng đến một số nhóm giải pháp cơ bản sau:
- Nhóm giải pháp ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch: Tập trung theo thứ tự
ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch liên quan đến các loại hình du lịch có thế mạnh của Việt Nam như du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng như quan điểm phát triển đã xác định, trên cơ sở đó, hình thành các sản phẩm đặc trưng của từng loại hình và theo thứ tự ưu tiên để phát triển có trọng tâm Các sản phẩm du lịch đặc trưng cần được đầu tư phát triển thành các sản phẩm có thương hiệu quốc gia được bạn bè quốc tế biết đến Phát triển du lịch theo vùng với không gian và quy mô phù hợp, có đặc điểm thuần nhất về tài nguyên, địa lý và hiện trạng phát triển du lịch; tăng cường khai thác yếu tố tương đồng và bổ trợ trong vùng, yếu tố đặc trưng của vùng và liên kết khai thác yếu tố liên vùng để phát triển mạnh sản phẩm đặc thù, tạo các thương hiệu du lịch theo vùng Quy hoạch và đầu
tư phát triển du lịch có trọng tâm , trọng điểm theo vùng lãnh thổ
- Nhóm giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
du lịch: Phối hợp trong xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển các ngành liên
quan, tạo điều kiện thuận lợi thực hiện phát triển du lịch Nâng cấp, cải tạo bến xe, bến tàu, cầu cảng đảm bảo yêu cầu chất lượng phục vụ khách du lịch Thực hiện quy hoạch, và đầu tư xây dựng hệ thống khu, điểm du lịch quốc gia và địa phương Đầu tư xây dựng một số trung tâm du lịch dịch vụ chất lượng cao, đảm bảo khả năng cạnh tranh quốc tế tại một số đô thị du lịch chính
- Nhóm giải pháp phát triển nhân lực du lịch: Phát triển mạng lưới cơ sở đào
tạo chuyên ngành du lịch mạnh, đảm bảo đáp ứng yêu cầu hội nhập; tăng cường đào tạo đại học, trên đại học và đào tạo quản lý về du lịch, quan tâm tới đào tạo kỹ năng nghề du lịch Tăng cường liên kết, hợp tác quốc tế về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch Gắn kết đào tạo với sử dụng trên cơ sở vừa đáp ứng yêu cầu ngành vừa
Trang 26thực hiện liên kết vùng và xuất khẩu lao động Khuyến khích đẩy mạnh đào tạo tại chỗ, tự đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp, nhu cầu xã hội
- Nhóm giải pháp về phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và xây dựng
thương hiệu du lịch: Phát triển mạnh thị trường nội địa, chú trọng khách nghỉ
dưỡng, vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần, mua sắm Thu hút, phát triển mạnh thị trường khách quốc tế gần và mở rộng thị trường mới Chuyên nghiệp hóa, tập trung quy mô lớn cho hoạt động xúc tiến quảng bá Nhà nước có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp thực hiện xúc tiến quảng bá du lịch; gắn kết giữa quảng bá hình ảnh, thương hiệu quốc gia với quảng bá thương hiệu sản phẩm, doanh nghiệp; có cơ chế phối hợp, chia xẻ lợi ích và trách nhiệm hợp lý
- Nhóm giải pháp đầu tư và chính sách phát triển du lịch: Nhà nước tập
trung đầu tư cho thương hiệu du lịch quốc gia và các thương hiệu du lịch quan trọng có ý nghĩa quyết định đến hình ảnh du lịch Việt Nam; tăng cường đầu tư theo chương trình, chiến dịch xúc tiến quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam Đầu tư phát triển các khu, điểm du lịch trọng điểm; thu hút đầu tư vào các khu du lịch nghỉ dưỡng và thể thao biển; đầu tư các khu nghỉ dưỡng núi cho các địa bàn vùng sâu, vùng xa và thu hút đầu tư những khu du lịch tổng hợp, giải trí chuyên đề, kết hợp trung tâm thương mại, mua sắm, hội nghị hội thảo tại các trung tâm đô thị
- Nhóm giải pháp quản lý Nhà nước về du lịch: Tăng cường năng lực cơ quan
quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương đến địa phương đủ mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn Xây dựng năng lực tập trung cho cơ quan xúc tiến du lịch quốc gia; phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về du lịch với chức năng tổ chức thực hiện hoạt động xúc tiến du lịch quốc gia Hình thành hệ thống kiểm soát chất lượng trong ngành du lịch, đảm bảo duy trì chất lượng và sức cạnh tranh cho sản phẩm, dịch vụ du lịch thể hiện qua thương hiệu du lịch
1.3 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
1.3.1 Việc ban hành các văn bản thực hiện chính sách
Việc ban hành các văn bản thực hiện chính sách là một khâu cấu thành trong chu trình chính sách, là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành
Trang 27hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định
Chính sách công ở Việt Nam nói chung hay chính sách phát triển du lịch bền vững nói riêng thường được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc thi hành, trong đó có thể bao gồm những phương
án hành động không mang tính bắt buộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển
Để thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương cần có hệ thống văn bản thực hiện chính sách phù hợp bao gồm chính sách dài hạn và chính sách cấp bách và thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, các chương trình, đề án phát triển du lịch Chính sách phải đảm bảo khuyến khích, huy động tập trung nguồn lực, khai thác tối ưu tiềm năng, thế mạnh của đất nước; bảo tồn và phát huy được những giá trị truyền thống; nâng cao chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội
Thực tiễn, việc ban hành các văn bản thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững trong giai đoạn vừa qua đã đáp ứng về cơ bản yêu cầu phát triển và mục
tiêu của chính sách Theo đó, sau khi Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, các bộ ngành, địa phương đã ban
hành hàng loạt hệ thống văn bản thực hiện chính sách để đảm bảo mục tiêu phát triển du lịch bền vững như: chính sách kích cầu, đầu tư phát triển sản phẩm du lịch, bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực du lịch, phát triển du lịch cộng đồng, chính sách gia hạn miễn thị thực cho công dân các nước, chính sách tăng cường hợp tác đối tác Công-Tư …
Các chính sách để thực hiện mục tiêu phát triển du lịch bền vững thường mang tính ưu tiên, có mối liên quan hữu cơ với nhau được ban hành và thực hiện đồng bộ gắn với những điều kiện tiên quyết cùng với sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, các địa phương có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của chính sách
1.3.2 Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
Có rất nhiều phương pháp tiếp cận chính sách phát triển du lịch bền vững,
Trang 28trong đó phương pháp tiếp cận được dùng nhiều nhất là phương pháp “từ trên xuống” Ưu điểm của cách tiếp cận này là đảm bảo được tính thống nhất khi ban hành chính sách, đảm bảo chính sách được triển khai nhanh gọn và tránh được sự chồng chéo, thiếu tập trung khi thực thi chính sách Tuy nhiên, cách tiếp cận này được thực hiện chủ yếu dựa theo ý chí, định hướng, chỉ đạo từ cấp trên và đôi khi bắt đầu từ ý kiến thiếu khách quan của cơ quan, cán bộ tham mưu xây dựng chính sách, do vậy, nhược điểm của phương pháp này có thể nhận thấy là không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cơ sở và chưa thật sự phù hợp với hoàn cảnh, tình hình kinh tế xã hội của từng địa phương thực hiện Bên cạnh cách tiếp cận truyền thống nêu trên, còn có phương pháp tiếp cận “từ dưới lên” tuy khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” nhưng vẫn có một số hạn chế nhất định khi thực hiện bởi vì chịu ảnh hưởng mang tính chủ quan của các
cơ quan, cán bộ trong quá trình thực hiện chính sách Ngoài ra phương pháp này chưa thật sự huy động được sự tham gia của người dân
Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình hình mới cũng như mục tiêu hướng đến cộng đồng, địa phương phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách
là tiếp cận theo chiều dọc (Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, Bộ Văn hoá, Thể thao
và Du lịch , UBND các cấp, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp tỉnh, thành phố), theo chiều ngang (có sự phối hợp giữa các Bộ, UBND tỉnh, thành, các cơ quan ban ngành) và sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng, người dân, các tổ chức trong nước và quốc tế
Như vậy, có thể thấy cách tiếp cận đối với chính sách phát triển du lịch bền vững của nước ta là do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội thông qua cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách Quốc Hội thực hiện vai trò giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước trong thực thi chính sách Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, Mặt trận, Đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội, chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền, tổ chức và thực thi chính sách phát triển du lịch bền vững của quốc gia
Trang 291.3.3 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
Kế hoạch thực hiện chính sách là cơ sở, công cụ quan trọng triển khai đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống Trong xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách phải xác định được chính xác, cụ thể các nội dung, nhiệm vụ trong kế hoạch tổ chức điều hành, kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực cho việc thực hiện chính sách, kế hoạch kiểm tra đôn đốc thực thi chính sách và trong việc xác định hợp lý thời gian thực hiện chính sách Cùng với bản kế hoạch thực hiện chính sách phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách Trên cơ sở đó xác định mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, nguồn lực, thời gian và các giải pháp tổ chức thực
hiện chính sách [16]
Kế hoạch triển khai thực thi chính sách phát triển du lịch bền vững được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Tổ chức điều hành: Các chủ thể, cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách công, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực để tham gia thực thi chính sách cơ chế trách nhiệm của các bên tham gia…
- Dự kiến các nguồn lực: Tài chính, cơ sở vật chất, máy móc, xe cộ, phương tiện, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật…
- Thời gian triển khai thực hiện: thời gian duy trì chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm
- Kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực thi chính sách: Tiến độ, hình thức, phương thức kiểm tra giám sát tổ chức thực thi chính sách, trách nhiệm, nhiệm vụ,
và quyền hạn của các bên tham gia, biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong thực thi chính sách…
1.3.4 Phổ biến, tuyên truyền chính sách phát triển du lịch bền vững
Công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng
Trang 30thực thi chính sách
Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách
và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách Qua đó để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
Do vậy, cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vai trò, vị trí động lực của ngành Du lịch trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân đối với doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân để tạo sự đồng thuận xã hội về phát triển kinh tế du lịch trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Phải xác định, lựa chọn các kỹ năng, phương pháp phổ biến, tuyên truyền chính sách phù hợp cho từng loại đối tượng Tùy từng đối tượng mà tổ chức các hình thức phổ biến, tuyên truyền và quán triệt thực hiện chính sách phù hợp như: mở các lớp tập huấn tập trung, hội thảo chuyên ngành, họp báo để quán triệt nghiên cứu các nội dung chính sách, bàn các giải pháp và phân công thực hiện
Tổ chức các cuộc họp báo tuyên truyền chính sách cho các cơ quan thông tin đại chúng, công chức và viên chức làm công tác tuyên truyền; xây dựng văn bản hướng dẫn phổ biến cụ thể việc thực hiện chính sách gửi cho các cơ quan, đơn vị để họ tự nghiên cứu xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách Ngoài ra, có thể tuyên truyền bằng cách đăng tải trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử để các đối tượng được thụ hưởng chính sách và mọi người dân biết để thực hiện
1.3.5 Trách nhiệm giải trình và phân công phối hợp thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
Chính sách phát triển du lịch bền vững được thực thi trên phạm vi không gian rộng lớn vì thế số lượng các đối tượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Vì vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả phải tiến
Trang 31hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, quá trình, phân công, phối hợp thực hiện chính sách cần thực hiện chặt chẽ, khoa học và hợp lý, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và không rõ trách nhiệm
Việc thành công của một chính sách do nhiều yếu tố cấu thành, nhân tố cấu thành Do đó, để cho việc thực thi chính sách thực hiện được đúng mục tiêu quản lý thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động và liên quan Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách
Để thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững, Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo nhà nước về du lịch là cơ quan có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các hoạt động du lịch trong phạm vi cả nước; Chỉ đạo việc phối hợp hoạt động của các Bộ, ngành và địa phương liên quan trong việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các chương trình quốc gia về phát triển du lịch trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Nghiên cứu,
đề xuất với Thủ tướng Chính phủ giải pháp, cơ chế, chính sách về phát triển du lịch
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chủ trì, tham mưu cho Đảng, Nhà nước về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách Ngoài ra còn có một số cơ quan nhà nước có liên quan đến việc thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững gồm:
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Bộ Tài chính
- Bộ Thông tin và Truyền thông
- Đài truyền hình Việt Nam, TTX Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam
Trang 32- Bộ Giao thông -Vận tải
- Bộ Xây dựng
- Bộ Công Thương
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
- Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
1.3.6 Duy trì chính sách phát triển du lịch bền vững
Duy trì chính sách là các giải pháp, biện pháp bảo đảm cho chính sách được duy trì, tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Muốn cho chính sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự nhất trí và quyết tâm cao của các người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại
Trong quá trình thực hiện chính sách nếu không có các giải pháp, biện pháp duy trì và phát triển thì sẽ dẫn đến hiệu quả thực hiện chính sách thấp, gây lãng phí, không đáp ứng được yêu cầu quản lý, yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước Do vậy, để duy trì chính sách cần phải đảm bảo đầy đủ yêu cầu về nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật để thực thi chính sách
Đối với các cơ quan nhà nước, là chủ thể tổ chức thực thi chính sách công, phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách Nếu việc thực thi chính sách gặp phải những khó khăn do môi trường thực tế biến động, thì các cơ quan nhà nước sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách Đồng thời chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, các cơ quan nhà nước có thể kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính để duy trì chính sách
1.3.7 Điều chỉnh chính sách phát triển du lịch bền vững
Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững việc điều chỉnh chính sách là hoạt động diễn ra thường xuyên nếu gặp khó khăn do môi trường thực tế thay đổi hay do chính sách còn những bất cập, hạn chế chưa phù hợp với thực tiễn thì cần phải có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu quản lý
Trang 33và phù hợp với tình hình thực tế Về nguyên tắc, thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách là của cơ quan, tổ chức ban hành chính sách Nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp, các cơ chế chính sách diễn ra rất năng động và linh hoạt trong thực hiện chính sách Do đó, các bên tham gia thực thi chính sách cần phải có những đề xuất điều chỉnh về giải pháp, biện pháp, cơ chế để chính sách thực hiện có hiệu quả, bảo đảm mục tiêu chính sách đã đề ra
Việc điều chỉnh chính sách phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo các nguyên tắc nhất định, tức là chỉ thực hiện điều chỉnh về các biện pháp, giải pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu chính sách theo yêu cầu thực tế của bộ, nghành, địa phương, các bên tham gia Nếu việc điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách đó bị thất bại
1.3.8 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc chính sách phát triển du lịch bền vững
Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng trong thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững Việc tổ chức theo dõi, kiểm tra, đôn đốc chính sách chủ yếu được thực hiện với các nội dung cơ bản như: kết quả thực hiện mục tiêu của chính sách, đối tượng chính sách và các quy định, các công cụ, các giải pháp thực hiện, trách nhiệm của các bên tham gia
Trên cơ sở đó, phân tích xử lý thông tin, đối chiếu so sánh với các quy định trong chính sách, các quy định trong kế hoạch, quy chế, nội quy thực hiện chính sách để có cơ sở phát hiện, phòng ngừa và xử lý vi phạm (nếu có); phát hiện sơ hở trong quản lý, trong tổ chức thực hiện, đề xuất các giải pháp chấn chỉnh việc thực hiện, điều chỉnh các biện pháp, cơ chế góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
1.4 Vai trò, trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách
Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh đạo của Ðảng là hạt nhân của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Bằng những hình thức và phương pháp lãnh đạo của mình, Ðảng cộng sản giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của nhà nước trên mọi lĩnh vực; sự lãnh đạo của Ðảng đối với nhà nước mang tính toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội Sự lãnh đạo đó chính là
Trang 34việc định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối, phương châm, chính sách, công tác tổ chức thực hiện trên từng lĩnh vực nghành mà trong đó có ngành du lịch
Ngành Du lịch ngày càng nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, dần từng bước khẳng định được vị thế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Đối với chính sách phát triển du lịch, Đảng ta, từ lâu cũng đã chỉ rõ: "Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao" Chính vì vậy, để định hướng, lãnh đạo trong thực hiện chính sách phát triển du lịch ở nước ta Đảng đã đề ra hàng loạt chủ trương, giải pháp làm cơ sở cho nhà nước triển khai thực hiện như:
Kết luận tại Thông báo số 179/TB-TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trong tình hình mới năm 1998, Các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX,
X, XI và Nghị quyết của Ban Chấp hành TW đều xác định mục tiêu phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng năm 2016 tiếp tục khẳng định rõ chủ trương “Có chính sách phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”
Có thể thấy, qua mỗi kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, vai trò định hướng, lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển của ngành Du lịch ngày càng được quan tâm sâu sắc hơn, đây là nền tảng cơ bản và có vai trò quan trọng nhất để ngành Du lịch cũng như các địa phương trong cả nước xác định rõ phương hướng để xây dựng chính sách phát triển du lịch bền vững
Bên cạnh đó, Quốc hội với vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
với các quyền hạn: lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước [20] Thông qua các cơ
quan chuyên môn của quốc hội (Ủy ban, Tiểu ban) có nhiệm vụ xem xét các dự án chính sách đã được các bộ, ngành đệ trình và một trong những quyền hạn và nghĩa
vụ của Quốc hội là: “Quyết định kế hoạch kinh tế-xã hội của đất nước” trong đó có lĩnh vực du lịch dưới hình thức Nghị quyết của Quốc hội
Ngoài ra, với vai trò là cơ quan lựa chọn chính sách và giám sát việc thực hiện chính sách của Chính phủ, Bộ, ngành và địa phương, Quốc hội có thể nắm bắt được tình hình triển khai thực thi chính sách do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc
Trang 35hội ban hành, từ đó kịp thời phát hiện những vướng mắc để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách nhằm đảm bảo chính sách đó đáp ứng được lợi ích công dân và đáp ứng các mục tiêu đã đề ra
Chính phủ với chức năng quản lý, điều hành mọi hoạt động của đời sống xã hội cùng với Bộ, ngành, UBND các cấp tham gia vào chính sách với tư cách là chủ thể quan trọng nhất và chịu trách nhiệm chính về việc thực hiện có hiệu quả hay không hiệu quả mục tiêu chính sách chính sách phát triển du lịch bền vững trong thực tiễn
Để cụ thể hóa chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội về chính sách phát triển du lịch bền vững Trong thời gian qua, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch, ngành du lịch và các ngành có liên quan, đã xây dựng và ban hành hàng loạt các văn bản pháp quy, kế hoạch, đề án, chiến lược, chương trình hành động, như:
- Luật Du lịch 2005 được Quốc hội Khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006
- Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch
- Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) được ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ
- Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012
- Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn
2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011
- Quyết định Số 297/QĐ-BVHTTDL ngày 6/2/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phê duyệt Chương trình phối hợp chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030"
Trang 36- Chỉ thị 18/CT-BVHTTDL ngày 6/2/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”
- Thông tư 44/2011/TT/BCA ngày 29/06/2011 của Bộ Công an về việc Hướng dẫn cấp giấy phép tham quan, du lịch Việt Nam cho người nước ngoài quá cảnh
- Thông tư liên tịch 01/2012/TTLT/BCA-BNG 03/01/2012 của của Bộ Công
an - Bộ Ngoại giao trong lĩnh vực xuất nhập cảnh
- Quyết định 2292/QĐ-BKHCN ngày 28/8/2012 của Bộ KHCN công bố Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9372:2012 Tàu thủy lưu trú du lịch - Xếp hạng
- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013
- Quyết định 321/QĐ-TTg ngày 18/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2013-2020
- Chỉ thị 18/CT-TTg ngày 4/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý môi trường du lịch, đảm bảo an ninh an toàn cho khách du lịch
- Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT ngày 30/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc Hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích
- Nghị quyết số 92/NQ-CP về một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới được Chính phủ ban hành ngày 8/12/2014
Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 02/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch
Dựa trên quan điểm về phát triển bền vững và kế thừa những tư tưởng và kết quả đạt được trong việc thực hiện chính sách phát triển du lịch trong thời qua, các văn bản chiến lược, nghị quyết của chính phủ đã phân định rõ vai trò, trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách phát triển du lịch bền vững và đề ra các nhóm
Trang 37nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ gắn với trách nhiệm cụ thể của từng Bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp, theo đó:
Ban Chỉ đạo nhà nước về du lịch có trách nhiệm: Chỉ đạo các hoạt động của
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các Bộ, ngành liên quan trong việc giải quyết những vấn đề liên ngành trong thực hiện chính sách phát triển du lịch
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Chủ trì tổ chức triển khai thực hiện chính
sách phát triển du lịch; phân công cụ thể cho Tổng cục Du lịch và các đơn vị thuộc
Bộ tổ chức thực hiện chiến lược phát triển du lịch; tổ chức công bố và phổ biến chiến lược trong toàn quốc; Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển du lịch 5 năm và hàng năm phù hợp với Chiến lược phát triển du lịch và định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện Chiến lược; Hướng dẫn các địa phương xây dựng chiến lược phát triển du lịch của địa phương
Chủ trì phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức triển khai các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án tầm quốc gia; Kịp thời đề xuất các chính sách phù hợp và điều chỉnh kịp thời các mục tiêu, biện pháp thực hiện
Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch và các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch, huy động các nguồn vốn, tài trợ trong và ngoài nước cho phát triển du lịch Gắn xúc tiến đầu tư với xúc tiến du lịch
Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
và các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế, chính sách hoàn thuế VAT cho khách du lịch, khuyến khích khách du lịch tiêu thụ hàng hóa trong nước sản xuất
Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài truyền hình Việt Nam, Thông Tấn Xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch trong việc thông tin, tuyên truyền, quảng bá về đất nước, con người Việt Nam trên các phương tiện thông tin đại chúng
Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng có trách nhiệm xây dựng cơ
chế, chính sách tạo thuận lợi về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, an ninh, an
Trang 38toàn; phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc xúc tiến quảng bá du lịch ở nước ngoài, phát triển các loại hình du lịch vùng biên giới, hải đảo
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Y tế có trách
nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc quy hoạch sử dụng đất cho du lịch; bảo vệ môi trường du lịch, ứng phó với biến đổi khí hậu, các tiêu chuẩn, quy chuẩn, đo lường chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm
Bộ Giao thông-Vận tải, Bộ Xây dựng có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch trong việc gắn quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng giao thông với phát triển du lịch
Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có trách nhiệm
phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc phát triển các làng nghề truyền thống, các sản phẩm và hàng hóa, dịch vụ đặc trưng của các vùng, miền và của các dân tộc để phục vụ phát triển du lịch; gắn xúc tiến thương mại với xúc tiến
du lịch
Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội có trách nhiệm
phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc phát triển nguồn nhân lực du lịch, nâng cao năng lực cơ sở đào tạo nhân lực du lịch; chế độ làm việc, nghỉ ngơi của người lao động, nghỉ lễ, nghỉ phép, nghỉ hè gắn với “tuần lễ vàng” du lịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ
đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các sở, ngành liên quan trong việc thực hiện Chiến lược phát triển du lịch trên địa bàn; kiện toàn Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch và nâng cao năng lực tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn
Phân cấp mạnh cho chính quyền cấp cơ sở về quản lý phát triển du lịch trên địa bàn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, hiệu quả
Thực hiện quy hoạch phát triển du lịch 10 năm, kế hoạch phát triển 5 năm và
kế hoạch hàng năm phù hợp với chiến lược phát triển du lịch của tỉnh và trên cơ sở
cụ thể hóa Chiến lược phát triển du lịch quốc gia và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; chỉ đạo tổ chức xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển du lịch;
Trang 39Ban hành các cơ chế chính sách theo thẩm quyền tại địa phương về khuyến khích hoạt động du lịch, hỗ trợ thúc đẩy phát triển doanh nghiệp trên địa bàn; tăng cường nhận thức du lịch cho các ngành, các cấp và cộng đồng dân cư
Hiệp hội du lịch và các hội nghề nghiệp có trách nhiệm tuyên truyền phổ
biến đến hội viên và cộng đồng doanh nghiệp về nội dung chính sách phát triển du lịch; huy động cộng đồng doanh nghiệp tham gia tích cực trong việc triển khai thực hiện
Chủ động trong việc hình thành tổ chức phát triển du lịch vùng để thực hiện nhiệm vụ điều phối và tư vấn định hướng phát triển du lịch tại các vùng, liên kết phát triển nội vùng và liên vùng, tổ chức xúc tiến quảng bá du lịch chung của vùng
Doanh nghiệp du lịch và tổ chức, đơn vị liên quan có trách nhiệm xây dựng
và thực hiện chiến lược, kế hoạch kinh doanh ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bám sát quan điểm, mục tiêu, định hướng trong chính sách phát triển du lịch quốc gia; Phát huy tính năng động, tự chủ, chủ động tham gia hoạt động trong khuôn khổ tổ
chức phát triển du lịch vùng và các hội nghề nghiệp du lịch
Các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ chức, đơn vị liên quan và cộng đồng dân
cư có trách nhiệm tích cực và không ngừng nâng cao nhận thức, hiểu biết, kiến
thức, công nghệ gắn với hoạt động du lịch, tham gia tích cực các sự kiện du lịch
quốc gia [30]
Như vậy, có thể thấy với việc phân định rõ vai trò, trách nhiệm của các chủ thể chính sách, Chính phủ với vai trò là chủ thể quan trọng nhất đã định hướng cho các ngành, các cấp, các thành phần kinh tế - xã hội, trong đó ngành Du lịch là hạt nhân trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững ở nước ta
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững
1.5.1 Các yếu tố bên ngoài
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang
là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại và ngày nay, du lịch đã là một xu hướng phổ biến trên toàn cầu, trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát
Trang 40triển nhanh nhất và lớn nhất trên bình diện thế giới, góp phần vào sự phát triển và thịnh vượng của các quốc gia
Trong xu thế phát triển du lịch chung, du lịch Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen Hội nhập quốc tế về du lịch đã tạo ra cơ hội cho ngành
du lịch Việt Nam gia tăng tiếp cận nguồn khách quốc tế khi Viêt Nam hội nhập sâu
và toàn diện với khu vực và thế giới, qua đó tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của các nước thông qua các chương trình, dự án cụ thể và các cam kết mở cửa tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch trong các khuôn khổ WTO, ASEAN, APEC, GMS tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển bền vững
Bên cạnh những cơ hội là những thách thức không nhỏ của nghành du lịch trong xu thế hội nhập khi thị trường thế giới biến động khó lường; hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động mạnh tới quy mô, tính chất của thị trường gửi khách đến Việt Nam Năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch còn non yếu, chất lượng, hiệu quả thấp, thiếu bền vững trong khi môi trường cạnh tranh giữa các quốc gia, khu vực và giữa các ngành, các vùng, sản phẩm ngày càng gay gắt khi hội nhập sâu và toàn diện vào khu vực và toàn cầu
Xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, cạnh tranh khốc liệt và những biến động khó lường hiện nay của tình hình quốc tế có ảnh hưởng rất lớn đối với chính sách phát triển du lịch bền vững của nước ta, điều đó đòi hỏi ngành du lịch cần phải thực sự đổi mới để đón nhận cơ hội và vượt qua thách thức
1.5.2 Các yếu tố bên trong
Sự ổn định chính trị quốc gia, chính sách ngoại giao rộng mở, đa dạng hóa,
đa phương hóa đã nhận được sự hợp tác, hỗ trợ tích cực của cộng đồng quốc tế, thu hút đầu tư vốn và công nghệ vào Việt Nam nói chung và đầu tư du lịch nói riêng tạo điều kiện cho du lịch phát triển
Kinh tế trong nước phát triển, thu nhập và đời sống của đại bộ phận tầng lớp trung lưu trở lên ở nước ta ngày càng gia tăng tạo ra động lực kích cầu du lịch mạnh
mẽ Số lượng khách du lịch nội địa đông đảo đã trở thành động lực tạo cơ hội cho ngành Du lịch mở rộng quy mô và thúc đẩy tăng trưởng các lĩnh vực dịch vụ về mọi phương diện và loại hình du lịch đa dạng